Công ty Cổ phần Xây dựng và phát triển Đô thị Hòa Phát- thành viên trực thuộc tập đoàn Hòa Phát một tập đoàn sản xuất công nghiệp đa ngành, là một trong những công ty kinh doanh trong l
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là chuyên đề do em tự viết, có sự tham khảo các tài liệu sách, báo, và tài liệu trên các Website đã được chú giải trong danh mục tài liệu tham khảo Ngoài ra không sao chép bất kỳ tài liệu nào, luận văn, hay chuyên đề nào khác
Hà nội, ngày 11 tháng 05 năm 2012;
Chữ ký của Sinh viên
Trang 2DANH MỤC HÌNH VẼ, BÀNG BIỂU Hình 1: Các yếu tố nền tảng của chiến lược kinh doanh.
Hình 2: Các yếu tố xác định tầm nhìn của doanh nghiệp
Hình 3: Mô hình năm áp lực cạnh tranh của M.Porter
Hinh 4: Mối liên hệ giữa môi trường vĩ mô và môi trường ngành.
Hình 5: Cơ cấu tài sản của Tập đoàn phân bổ theo nhóm ngành
Hình 6: Cơ cấu tài sản của tập đoàn Hòa Phát theo loại hình
Hình 7: Hệ số tài sản ngắn hạn/ nợ ngắn hạn.
Hình 8: Hệ số nợ.
Bảng 1: Dân số , tốc độ tăng dân số và cơ cấu thèo khu vực, độ tuổi.
Bảng 2: Ma trận đánh giá tác động của các yếu tố môi trường kinh doanh lên hoạt
động của doanh nghiệp
Bảng 3: Bảng kê lao động của Công ty qua các năm:
Bảng 4: Doanh thu, lợi nhuận, tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của Công ty.
Bảng 5: vốn điều lệ của Công ty và tỷ lệ tham gia của Công ty mẹ.
Bảng 6: Tóm tắt chỉ số tài chính của Tập đoàn Hòa Phát trong những năm gần đây Bảng 7: Hệ số khả năng thanh toán:
Bảng 8: Đòn bẩy tài chính của Công ty
Bảng 9: Hệ số vòng quay tài sản;
Bảng 10: Chỉ số lãi vay
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Thời gian qua nền kinh tế đã chứng kiến cuộc suy thoái nặng của thị trường BĐS, đặc biệt là trong lĩnh vực nhà ở Thị trường BĐS đang trong giai đoạn cuối của chu kỳ suy thoái Đã có rất nhiều doanh nghiệp phải rời bỏ ngành Hiện nay việc đầu tư vào thị trường BĐS được xem là một kênh đầu tư mạo hiểm, tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường Tuy nhiên với kỳ vọng bước vào chu kỳ mới của thị trường, thì việc tham gia vào thị trường cũng mang lại những cơ hội lớn cho những doanh nghiệp có năng lực thực sự khẳng định vị thế của mình trong ngành Công ty Cổ phần Xây dựng và phát triển Đô thị Hòa Phát- thành viên trực thuộc tập đoàn Hòa Phát ( một tập đoàn sản xuất công nghiệp đa ngành), là một trong những công ty kinh doanh trong lĩnh vực hạ tầng KCN và mới tham gia vào lĩnh vực nhà ở do có lợi thế rất mạnh từ nền tảng vững chắc của Tập đoàn Qua quá trình thực tập ở Công
ty em thấy có một số vấn đề nổi cộm ở công ty đó là: hoạt động xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty chưa được chú trọng, quan tâm đúng mức, biểu hiện là
có nhiều dự án đã có kế hoạch thực hiện nhưng do chưa lường hết được diễn biến của thị trường nên khi diễn biến có thay đổi thì Công ty đã phải hủy để chuyển sangphương án khác , việc này đã gây ra những thời gian gián đoạn, không sử dụng tối
ưu nguồn vốn, gây tổn thất không nhỏ cho Công ty Vì vậy công tác đánh giá đúng thực trạng và tìm ra định hướng kinh doanh trong dài hạn cho công ty là rất cần thiết, nó càng có vai trò quan trọng hơn khi kỳ vọng của Công ty là trở thành Công
ty hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh BĐS Xuất phát từ thực tiễn đó, trong thời
gian thực tập ở Công ty, em đã chọn đề tài: “Định hướng Chiến lược kinh doanh
của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đô thị Hòa Phát” làm chuyên đề
thực tập tốt nghiệp
Nội dung của chuyên đề bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý thuyết của việc định hướng chiến lược kinh doanh cho Doanh nghiệp.
Chương II: Phân tích môi trường hoạt động của Công ty Cổ phần X D
và PT đô thị Hòa Phát
Ch
PT đô thị Hòa Phát giai đoạn 2012-2015.
Trang 4Hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh bất động sản nói riêng là lĩnh vực kinh tế rất phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố trong nền kinh tế Vĩ mô; phân tích thị trường này đòi hỏi phải có am hiểu sâu,rộng về nhiều lĩnh vực trênthị trường Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Kế Hoạch và Phát Triển đã trang bị những cơ sở kiến thức cần thiết cho em trong suốt những nămhọc qua;Và đặc biệt là PGS.TS Phạm Văn Vận đã nhiệt tình hướng dẫn để em hoànthành chuyên đề này Mặc dù đã cố gắng xong do trình độ bản thân còn hạn chế nênkhông thể tránh khỏi những thiết sót Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của Thầy, Cô để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn!
Trang 5Chương I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN
LƯỢC KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
1.1 Khái niệm chiến lược
Khái niệm “ chiến lược” xuất phát từ tiếng Hy Lạp Ban đầu nó có ý nghĩa trong quân sự, đó là “ nghệ thuật của tướng lĩnh” để tìm ra con đường đúng đắn nhất nhằm giành được chiến thắng, hay noi cách khác, “Chiến lược là khoa học và nghệ thuật quản lý quân sự được áp dụng vào việc lập kế hoạch và thực hiện trên phạm vitổng thể nhằm giành thắng lợi cuối cùng”
Theo từ điển Oxford Dictionary: “Chiến lược là nghệ thuật triển khai các công cụ chiến tranh( binh lính, tàu chiến, máy bay, tên lửa) nhằm áp đặt thời điểm và điều kiện chiến đấu mà ta muốn với kẻ địch”
Ngày nay chiến lược đã được áp dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội từ chiến lược quốc gia(chiến lược phát triển kinh tế-xã hội) chiến lược phát triển ngành, chiến lược vùng và chiến lược kinh doanh hay chiến lược của doanh nghiệp Trong kinh doanh người ta thường ví “thương trường” là chiến trường, do đó muốn giành được thắng lợi trong kinh doanh cần phải có chiến lược Chiến lược không phải từ mong muốn mà được xuất phát từ khả năng phát triển thực tế của doanh nghiệp Vì vậy, chiến lược trước hết đó là phản ứng của tổ chức đối với bối cảnh khách quan bên trong và bên ngoài của hoạt động doanh nghiệp
1.2 Khái niệm chiến lược kinh doanh
Trang 6Một cách đơn giản nhất, chiến lược kinh doanh được hiểu là những kế hoạch được thiết lập hoặc những chương trình hành động được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Theo Alfred Chander (Harvard University) , chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của một doanh nghiệp, và thực hiện chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu ấy
Theo Boston Consulating Group (BCG) thì: “Chiến lược xác định việc phân bổ các nguồn lực sẵn có với mục đích làm thay đổi thế cân bằng cạnh tranh và chuyển lợi thế cạnh tranh về phía mình”
Theo M.porter thì: “Chiến lược, để đương đầu với cạnh tranh, là sự kết hợp giữa mục tiêu cần đạt tới và các phương tiện mà doanh nghiệp cần tìm để thực hiện các mục tiêu”
2 Các yếu tố nền tảng của chiến lược
Các yếu tố nền tảng của chiến lược kinh doanh bao gồm ba yếu tố:
- Một là, giá trị doanh nghiệp được thể hiện thông qua tầm nhìn, cam kết và văn hóa doanh nghiệp hay văn hóa kinh doanh;
- Hai là, biết mình, thể hiện ở việc xây dựng các năng lực cốt lõi, nhận thức được các điểm yếu dễ bị tổn thương và các nguồn lực;
- Ba là, hiểu môi trường bên ngoài để nắm bắt các cơ hội và đẩy lùi các nguy cơ
Biết mình
Các năng lực cốt lõi
Giá trị doanh nghiệp
Tầm nhìn Cam kết Văn hóa
Hiểu môi trường bên ngoài
Các cơ hội
Trang 7Hình 1: Các yếu tố nền tảng của chiến lược kinh doanh.
Các đặc tính của chiến lược:
- Đặc tính tổng thể: Chiến lược bao trùm lên tất cả các hoạt động của doanh nghiệp và các cấp quản trị khác nhau bao gồm cấp doanh nghiệp, cấp đơn vị kinh doanh chiến lược và cấp chức năng
- Đặc tính dài hạn: Chiến lược được xem là những kế hoạch cho tương lai về viễncảnh phát triển của doanh nghiệp Do đó, chiến lược phải mang tính chất dài hạn thì mới có thể chèo lái con đường phát triển của doanh nghiệp trong tương lai
- Đặc tính sáng tạo: Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trí và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt Cốt lõi của việc thiết lập chiến lược là việc lựa chọn hoạt động khác với các nhà cạnh tranh, do đó sáng tạo là tiền đề quan trọng nhất cho các hoạt động khác biệt đó
- Đặc tính động: Môi trường kinh doanh luôn thay đổi, do đó chiến lược cũng phải linh hoạt để ứng phó được với các biến động của môi trường bên ngoài
3 Các cấp mục tiêu
3.1 Tầm nhìn chiến lược
3.1.1 Khái niệm tầm nhìn chiến lược
Tầm nhìn là bức tranh tổng thể về viễn cảnh tương lai mà doanh nghiệp hướng tới Tầm nhìn là ý tưởng mục tiêu của doanh nghiệp, là trạng thái mà doanh nghiệp có thể đạt được trong điều kiện thuận lợi nhất
Tầm nhìn đóng vai trò quan trọng trong quy trình hoạch định chiến lược của doanh nghiệp:
- Một là, tầm nhìn dẫn dắt chiến lược và gợi mở những con đường chiến lược chodoanh nghiệp;
Chiến lược
Trang 8- Hai là, nó gìn giữ cái cốt lõi của doanh nghiệp và duy trì những năng lực cốt lõi đó.
- Ba là, nó hướng mọi người trong tổ chức về một mục tiêu xứng đáng và cao cả hơn cả mục tiêu tối đa lợi nhuận
Tầm nhìn chiến lược ngày càng trở nên phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh Vai trò ngày càng tăng của tầm nhìn chiến lược được thể hiện ở chỗ:
- Thứ nhất, tầm nhìn chiến lược là phương tiện tốt để kích thích hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, phi tập trung, nó hỗ trợ việc liên kết hoạt động của con người theo một hướng duy nhất.Trong tầm nhìn chiến lược thường không đề cập đến mong muốn nhận được lợi nhuận, nó liên kết các lý tưởng của các nhân viên trong doanh nghiệp vào một khung giá trị Trên quan điểm đó tầm nhìn liên kết với văn hóa doanh nghiệp,
mà thành phần cơ bản là hệ thống các giá trị của doanh nghiệp
- Thứ hai, tầm nhìn chiến lược tạo ra viễn cảnh trong hoạt động củ doanh nghiệp Một mục tiêu bất kỳ sẽ giới hạn khung hoạt động của doanh nghiệp, còn trong tầm nhìn chiến lược không có đặc tính giới hạn này, nó tạo ra động lực thúc đẩydoanh nghiệp phát triển
3.1.2 Các yếu tố xác định tầm nhìn
Theo James Collins và Jerry Porras có ba yếu tố xuyên suốt tầm nhìn là: giá trị cốt lõi, một mục tiêu cốt lõi, và một hay nhiều mục tiêu lớn khó khăn và táo bạo
(BHAGs-Big, Hardy, Audaciuos Goals) Trong đó:
Giá trị cốt lõi là những nguyên tắc hướng dẫn hay định hướng một doanh nghiệp, chúng không có giới hạn về thời gian và được trân trọng gìn giữ
Mục tiêu cốt lỡi là lý do hiện hữu của doanh nghiệp, nó vượt ra ngoài những sản phẩm và dịch vụ hiện tại và có thể tồn tại hàng trăm năm
BHAGs cho thấy khát vọng và thách thức của doanh nghiệp Việc đề ra một hay nhiều mục tiêu lớn, khó khăn và táo bạo sẽ giúp khuyến khích tinh thần phấn đấu vàphát huy khả năng sáng tạo của nhân viên trong doanh nghiệp
Tầm nhìn doanh
Trang 9Hình 2: Các yếu tố xác định tầm nhìn của doanh nghiệp
3.2 Sứ mạng chiến lược
3.2.1 Khái niệm sứ mạng
Sứ mạng (hay nhiệm vụ chiến lược) là những tuyên bố của doanh nghiệp thể hiện triết lý kinh doanh, mục đích ra đời và tồn tại của doanh nghiệp Sứ mạng được hiểu
là lý do tồn tại, ý nghĩa của sự tồn tại và các hoạt động của tổ chức
Sứ mạng thường mang tính ổn định và duy trì trong một thời gian dài Khi điều kiện
và bối cảnh thay đổi, có thể điều chỉnh sứ mạng chiến lược Sứ mạng chiến lược là
cơ sở để xác định mục tiêu
Một trong những nguyên lý thông dụng khi xác định sứ mạng của một doanh nghiệp
là nguyên tắc 3C ( customers, competitions, copany itself)
Nguyên lý 3C hay còn gọi là nguyên lý Abell xác định mối tương quan giữa 3 nhân
3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sứ mạng của doanh nghiệp
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến xách định sứ mạng của doanh nghiệp Các yếu tố
cơ bản nhất bao gồm:
Giá trị
BHAGs
Trang 10Thứ nhất, triết lý kinh doanh thể hiện doanh nghiệp kinh doanh cái gì?Cho ai? Và
việc chấp nhận thách thức như thế nào?
Thứ hai, văn hóa của doanh nghiệp, đó là nhwgnx giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu
được hình thành và tồn tại trong doanh nghiệp và được các thế hệ lãnh đạo và nhân viên trong doanh nghiệp chia sẻ Van hóa của doanh nghiệp có ảnh hưởng và chi phối đến suy nghĩ và hành động của mọi thành viên
Thứ ba, các đối tượng hữu quan là những đối tượng có liên quan trong việc đòi hỏi
những yêu sách Trước đây, các doanh nghiệp chỉ chú trọng đến cổ đông
(shareholder), nhưng đến nay các doanh nghiệp cần phải chú trọng đến đối tượng hữu quan (stakeholder) Các đối tượng hữu quan khi xác định sứ mạng chiến lược bao gồm đối tượng hữu quan bên trong (cổ đông, nhân viên…) và đối tượng hữu quan bên ngoài (nhà cung cấp, khách hàng, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư)
Trong môi trường kinh doanh hiện đại người ta chú trọng vào nguyên tắc Win-Win theo công thức:
W= W1+W2+W3+….+Wn
W1 là doanh nghiệp: kinh doanh như cược chơi, đã tham gia vào cuộc chơi doanh nghiệp phải chiến thắng
W2 Là khách hàng, trong cuộc chơi này họ cũng phải chiến thắng Điều này chứng
tỏ doanh nghiệp cần lấy khách hàng làm trung tâm cho các hoạt động kinh doanh của mình
W3 là nhà cung cấp: Cũng giống như khách hàng trong kinh doanh nhà cung cấp cho doanh nghiệp cũng cảm nhận được hương vị chiến thắng trong cuộc chơi
W4 nhà nước cũng sẽ nhận đượcnhững đóng góp từ phía doanh nghiệp như thuế hoặc các khoản đóng góp khác
Cuối cùng đó là cộng đồng dân cư cũng được lợi từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 11Thứ tư, môi trường kinh doanh bao gồm các yếu tố vĩ mô( kinh tế, dân cư, văn
hóa-xã hội, chính trị pháp luật, tự nhiên) và môi trường ngành ( chu kỳ ngành, cơ cấu ngành, đối thủ tiềm ẩn…)
Thứ năm, trách nhiệm xã hội: trước đây một sản phẩm có thể nổi tiếng chỉ cần nhờ
vào chất lượng Ngày nay, yếu tố trách nhiệm xã hội ngày càng trở nên quan trọng Một doanh nghiệp muốn thành công cần phải xây dựng được danh tiếng và uy tín của mình trong việc thực hiện trách nhiệm của mình với cộng đồng và với xã hội
Tuyên bố sứ mạng
Sứ mạng được hiểu là lý do tồn tại, ý nghĩa của sự tồn tại và các hoạt động của doanh nghiệp Sứ mạng được thể hiện dưới một bảng tuyên bố vê sứ mạng của doanh nghiệp, nó thể hiện tới những niềm tin và hướng tới tầm nhìn của doanh nghiệp Một tuyên bố sứ mạng bao gồm 9 nội dung:
- Quan tâm đến nhân viên
3 nội dung đầu là bắt buộc phải có trong bất kỳ bản tuyên bố sứ mạng nào Tuyên
bố sứ mạng thường được cô đọng thông qua Slogan
Như vậy, tầm nhìn, sứ mạng chiến lược chính là cơ sở để xác định các mục tiêu và đưa ra các hành động để hướng tới tầm nhìn mà doanh nghiệp đã lựa chọn
3.3 Mục tiêu chiến lược
3.3.1 Khái niệm
Thực chất việc xác định mục tiêu chiến lược là việc xác định điểm mốc cần đạt được trong từng khoảng thời gian nhất định để từng bước biến tầm nhìn và sứ mạng
Trang 12thành hiện thực Mục tiêu là đích mà doanh nghiệp muốn đạt đến trong một khoảng thời gian nhất định.
3.3.2 Các căn cứ để xác định mục tiêu chiến lược
Mục tiêu thể hiện các kết quả công việc cơ bản và được thể hiện thông qua các KPI ( Keys Performance Indicators), Việc xác định các KPI và các mục tiêu cần dựa vào nguyên tắc SMART:
Thứ nhất, các chỉ số KPI phải cụ thể để nắm bắt một cách rõ ràng nhất kết quả hoạt
động kinh doanh củ doanh nghiệp, Của các đơn vị kinh doanh và của các phòng bancũng như cá nhân trong doanh nghiệp Mục tiêu đạt được cần phải rõ ràng bằng cách:
- Bắt đầu các mục tiêu rõ ràng
- Nêu bật nhiệm vụ chính cần phải làm
- Mô tả hoạt động cần phải tiến hành
Thứ hai, các chỉ số KPI cần phải lượng hóa và kiểm nghiệm được Đối với mục tiêu
không nhất thiết lúc nào cũng đo lường được bằng các phương pháp định lượng Các mục tieu có thể đo lường được thông qua các kết quả đã được thỏa thuận trước
Thứ ba, đật ra mục tiêu để phát huy năng lực tối đa và khuyến khích sự tự tin Bên
cạnh đó, cugnx nên đặt ra một số mục tiêu đòi hỏi sự vượt lên thách thức Tuy nhiên, lãnh đạo doanh nghiệp cũng cần phải hạn chế mục tiêu tới con số mà cá nhânngười lao động, phòng ban và toàn bộ doanh nghiệp có thể hoàn thành và vui vẻ chấp thuận
Thứ tư, chỉ số và các mục tiêu phải liên quan trực tiếp đến phần mô tả công việc của
cá nhân người lao động, chức năng và phạm vi công việc của phòng ban hay đối với
cá nhân người lao động Các mục tiêu đặt ra cần giới hạn ở những công việc có tầm
Trang 13quan trọng đối với các phòng ban và cá nhân người lao động Cần đảm bảo các
nhân viên hoàn toàn hiểu và chấp thuận các mục tiêu này là quan trọng
Thứ năm, các chỉ số KPI và mục tiêu nên có khung thời gian thích hợp Khung thời
gian này đảm bảo răng, các dữ liệu và thông tin được đánh giá hữu ích nhất và có
hiệu quả nhât strong việc giúp cho cá nhân người lao động, phòng ban và toàn bộ
doanh nghiệp hiểu được tiến độ, điểm mạnh và điểm yếu của họ trong những nỗ lựcnhằm đạt được và duy trì thành tích cao
Hình 3: Mô hình năm áp lực cạnh tranh của M.Porter
Căn cứ để xác định mục tiêu, bao gồm:
Thứ nhất, xác định mục tiêu cần phải dựa vào các yếu tố, điều kiện của môi trường
kinh doanh bên ngoài như tình hình phát triển kinh tế- xã hội, chu kỳ nền kinh tế,
lạm phát… Ví dụ, nếu nền kinh tế đang rơi vào suy thoái nhưng doanh nghiệp lại
đặt ra các mục tiêu quá táo bạo thì mục tiêu đó khó có thể được thực hiện;
Thứ hai, xác định mục tiêu phải dựa vào các nguồn lực và khả năng của doanh
nghiệp Hiển nhiên là việc đặt ra mục tiêu qus cao trong khi nguồn lực và khẳ năng
có hạn thì mục tiêu sẽ khó thực hiện; hoặc ngược lại, khi khả năng và nguồn lực dồi
Quan điểm và mong muốn của lãnh đạo doanh nghiệp
Các yếu tố, điều kiện
thuộc môi trường kinh
doanh bên ngoài
doanh nghiệp
Các nguồn lực và khả năng của doanh nghiệp
Tình hình kinh doanh trong quá khứ của doanh nghiệp
Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp
Trang 14dào mà đặt ra mục tiêu quá khiêm tốn thì sẽ làm lãng phí nguồn lực và không khuyến khích được nỗ lực của nhân viên trong doanh nghiệp.
Thứ ba, xác định mục tiêu cần phahir dựa vào tình hình kinh doanh trong quá khứ
của doanh nghiệp Điều này là hết sức quan trọng vì nó phản ánh khả năng đạt đượccác mục tiêu cũng nhu việc huy động các nguồn lực trong doanh nghiệp để đạt đượccác mục tiêu này
Thứ tư, xác định mục tiêu không thể không tính đến quan điểm và mong muốn của
lãnh đạo daonh nghiêp, bở vì ban lãnh đạo là người chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả hoạt động kinh doanh của doan nghiệp và là linh hồn của doanh nghiệp
3.3.3 Các dạng mục tiêu chiến lược
Tuy theo cách tiếp cận mà mục tiêu chiến lược được chia thành nhiều loại khác nhau Có thể sử dụng các tiêu thức sau để phân loại: Cấp quản lý, thời gian, hình thức của mục tiêu và theo quá trình quản lý…
Căn cứ theo cấp bậc quản lý
Phân theo cấp bậc quản lý mục tiêu được chia thành: mục tiêu cấp doanh nghiệp, mục tiêu cấp đơn vị kinh doanh chiến lược và mục tiêu cấp chức năng
Căn cứ theo hình thức của mục tiêu
Phân theo khả năng lượng hóa được của mục tiêu, mục tiêu được phân thành: mục tiêu định tính và mục tiêu định lượng
Mục tiêu định tính là những mục tiêu biển hiện dưới dạng xu hướng, tính chất mà không ấn định bằng con số cụ thể
Mục tiêu định lượng là những mục tiêu được ấn định bằng các con số cụ thể
Căn cứ theo thời gian
Theo thời gian mục tiêu được phân thành: mục tiêu dài hạn, mục tiêu trung hạn và mục tiêu ngăn hạn tương ứng với các chiến lược (hoặc kế hoạch) dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
Trang 15Mục tiêu dài hạn: thường là những mục tiêu đòi hỏi thực hiện trong thời gian dài thường từ 3 năm trở lên Những mục tiêu dài hạn thường gắn với các quyết định có tính chất chiến lược và phạm vi rộng hơn so với mục tiêu trung hạn và ngắn hạn.Mục tiêu trung hạn là mục tiều trung gian giữa mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn, thường là từ 1 năm đến 3 năm.
Mục tiêu ngăn hạn thường là những mục tiêu tác nghiệp có thời gian dưới 1 năm Mục tiêu ngăn hạn có tính cụ thể và định lượng cao
Căn cứ vào quá trình quản lý
Phân theo quá trình quản lý đặc biệt là đối với các kế hoạch mục tiêu được phân biệt và thể hiện thành bốn cấp mục tiêu cơ bản:
- Mục tiêu cuối cùng (còn gọi là tác động) là mục tiêu cao nhất Mục tiêu này chobiết tác động dài hạn mà việc thực hiện thành công chiến lwocj sẽ góp phần đạt đến vì thế, thực hiện được mục tiêu cuối cùng còn được coi là kế hoạch đã có được những tác động như mong muốn
- Mục tiêu trung gian ( còn gọi là kết quả) là cái đích mà chiến lược trục tiếp vươn tới, và việc có đạt được mục tiêu trung gian hay không sẽ quyết định mức
độ thành công của chiến lược Đạt được mục tiêu trung gian cso thể chưa xuất hiện ngay khi kỳ kế hoạch kết thúc, mà cần một thời gian nhát định thì những tác động dự kiến mới thành hiện thực Đạt được mục tiêu trung gian thì kế hoạch mới được coi là đã đạt được kết quả thực sự như mong muốn Do đó, mục tiêu trung gian còn được gọi là kết quả của kế hoạch
- Mục tiêu đầu ra (hay còn gọi là sản phầm) trực tiếp của kế hoạch những sản phẩm hững hình cụ thể mà kế hoạch tạo ra được (hàng hóa, dịch vụ, các công trình đầu tư…), nhằm góp phần trực tiếp đạt được mục tiêu trung gian
- Hoạt động là những công việc cụ thể mà kế hoạch phải tiến hành để có được đầu ra dự kiến Hoạt đọng chỉ diễn ra trong kỳ kế hoạch Khi kỳ kế hoạch kết thúc thì các hoạt động trong kỳ đó cugnx chấm dứt Như vậy có thể coi hoạt động là kế hoạch hành động cụ thể được thiết kế để tạo ra đầu ra dự kiến củ kế hoạch
Trang 16Các mục tiêu trong doanh nghiệp tạo nên một hệ thống mục tiêu phân taagn và là cơ
sở cho sự lựa chọn, đánh đổi Quản trị doanh nghiệp được thực hiện trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Hơn nữa, các mục tiêu không thể đạt được cùng một lúc
và không phải luôn có sự nhất quán và thống nhất với nhau Do đó, nghệ thuật quảntrị thể hiện ở chỗ biets lựa chòn và đánh đổi trong quá trình đạt tới các mục đích của
tổ chức Điểu này dựa trên sự xác định các thứ tự ưu tiên các các mục tiêu trong hệ thống các mục tiêu
II CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
Lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau có những đặc điểm khác nhau, mức độ chịu ảnh hưởng từ các yếu tố môi trường vĩ mô là khác nhau; đặc thù của môi trường ngành cũng khác Do đó việc xác định chiến lược phù hợp sẽ không giống nhau
Mục tiêu chiến lược có ý nghĩa rất quan trong trong việc xây dựng chiến lược trongdoanh nghiệp, doanh nghiệp khác nhau thì có khả năng và đặc điểm riêng khác nhau, dó đó mục tiêu chiến lược mà các doanh nghiệp đặt ra cũng khác nhau Việc xây dựng chiến lược cần phù hợp với mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra để tăng khả năng đạt được mục tiêu
3.1 Khái niệm về môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp tác động và ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường kinhdoanh là giới hạn không gian mà ở đó doanh nghiệp tồn tại và phát triển
Phân tích môi trường kinh doanh nhằm xác định cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp
3.2 Các yếu tố của môi trường kinh doanh
Trang 17Môi trường kinh doanh bao gồm: môi trường vĩ mô ( môi trường tổng quát), và môitrường ngành (môi trường cạnh tranh), môi trường đặc thù (môi trường nội bộ).
Môi trường vĩ mô có ảnh thưởng rõ rệt đến môi trường cạnh tranh
Hinh 4: Mối liên hệ giữa môi trường vĩ mô và môi trường ngành.
3.2.1 Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp
a) Môi trường chính trị, pháp luật
Môi trường chính trị, pháp luật có ảnh hưởng lớn trong việc tạo ra các cơ hội cũng như các nguy cơ đe dọa Trong phân tích tác động của môi trường chính trị và pháp luật cần trú trọng đến các yếu tố sau
- Hệ thống chính trị, xu hướng đối ngoại
- Chính phủ, hiệu năng của bộ máy hành chính công, thủ tục hành chính
- Hệ thống luât pháp và sự chấp hành pháp luật
- Môi trường pháp lý trong kinh doanh
b) Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế vĩ mô là yếu tố hết sức quan trọng mà các nhà hoạch định chiến lược không thể bỏ qua Sự thay đổi của nó tạ ra các cơ hội cũng như các nguy cơ khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau Các yếu tố quan trọng nhất trong lĩnh vực này là:
Môi trường vĩ mô
Tác động lâu dài, ảnh hưởng đến tính chất và đặc điểm của môi trường
Trang 18+ Chu kỳ nền kinh tế,
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế,
+ Cơ cấu kinh tế, lãi suất,
+Tỷ giá hối đoái
+ Lạm phát
c) Môi trường xã hội
Giống như sự thay đổi về chính trị-pháp luật thay đổi, môi trường xã hội cũng tạo
ra các cơ hội cũng như các nguy cơ đối với hoạt động của doanh nghiệp.Các vấn đề
xã hội có ảnh hưởng quan trong đến chiến lược của doanh nghiệp là:
+ Dân số
+ Truyền thống văn hóa, phong tục tập quán
+ Xu hướng hay trào lưu mới
+ Quá trình đô thị hóa
d) Môi trường công nghệ
Thay đổi công nghệ có thể tạo ra sự làm chủ các sản phẩm mới Như vậy, nó vừa tạo ra, vừa là phá bỏ- cả hai vừa là cơ hội, vừa là mối đe dọa Thay đổi công ngệ có thể ảnh hưởng tới rào cản nhập ngành và sự định hình lại một các triệt để cấu trúc ngành cũng như trong việc tạo ra những ngành nghề mới
Một công nghệ là quan trọng đối với cạnh tranh nếu như nó tác động mạnh đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp hoặc đến cấu trúc ngành
e) Môi trường tự nhiên
Tác động của yếu tố tự nhiên rất khó dự báo Sự biến động của các yếu tố tự nhiên như biến đổi khí hậu, bão lụt hay thiên tai luôn là các nguy cơ tiềm ẩn đối với các doanh nghiệp Các điểm cần chú ý phân tích trong môi trường tự nhiên là:
- Địa lý kinh tế và hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông;
Trang 19- Tài nguyên, khoáng sản;
- Khí hậu, thời tiết;
f) Môi trường quốc tế (toàn cầu hóa)
Các vấn đề toàn cầu hóa tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp của các doanh nghiệp trên tất cả các mặt của hoạt động như thị trườngđầu ra, nguồn cung ứng đầu vào, tài chính, nguồn nhân lực…Toàn cầu hóa mang lạinhiều lợi ích to lớn cho doanh nghiệp, song cũng có nhiều điểm phức tạp do quy môđịa lý và những khác biệt về văn hóa xã hội và chính trị
Phân tích môi trường quốc tế cần chú trọng các yếu tố sau:
- Phạm vi cạnh tranh (đa quốc gia hay toàn cầu)
- Các hiệp định hay hiệp ước song phương và đa phương;
- Văn hóa, phong tục tập quán của thị trường các nước;
- Xu hướng tiêu dùng ở các nước;
- Tình hình phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia trên thế giới;
- Văn bản, quy pham pháp luật hay luật quốc tế
g) Lượng hóa tác động của yếu tố môi trường
Việc lượng hóa các yếu tố tác động của môi trường giúp xác định rõ đâu là cơ hội, đâu là thách thức của doanh nghiệp.Có thể lượng hóa tác động của yếu tố môi trường thông qua ma trận đánh giá tác động của các yếu tố môi trường kinh doanh lên hoạt động của doanh nghiệp theo bảng sau:
Yếu tố tác
động
Mức độ quan trọngđối với ngành
Mức độ quan trọng đối với doanh nghiệp
Tính chất tác động
Trang 20-Trong đó:
X1,X2,…,Xn : Các yếu tố tác động đến môi trường mà doanh nghiệp quan tâm
Dấu (+): Tác động tích cực
Dấu (-): Tác động tiêu cực
3.2.2 Phân tích môi trường ngành
So với môi trường vĩ mô, môi trường cạnh tranh nội bộ ngành có pham vi nhở hơn nhưng lại có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp Môi trường ngành chứa đựng những cơ hội và thách thức trực tiếp có ảnh hưởng quyết định đếnkhả năng thành công của doanh nghiệp
Trong bài này em áp dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh do giáo sư của trường Harvad- M.Porter và chuyên gia tư vấn doanh nghiệp đã đưa ra để phân tích môi trường ngành của công ty
Theo Mô hình này, mỗi doanh nghiệp hoạt động trong một ngành bất kỳ sẽ phải chịu áp lực của 5 đối tượng sau:
Trang 21 Sức ép của khách hàng phụ thuộc vào các nhân tố sau:
Thứ nhất, mức độ tập trung của khách hàng: ở một lĩnh vực càng có nhiều khách
hàng thỉ ở đó sự cạnh tranh của các hãng trong ngành càng gay gắt Nếu khách hàng
là tập trung còn các doanh nghiệp trong ngành phân tán thì khách hàng sẽ có quyền đàm phán lớn hơn so với doanh ngiệp Nược lại, nếu khách hàng mà phân tán, doanh nghiệp tạp trung thì khách hàng sẽ có ít quyền đàm phán hơn
Thứ hai, tỷ trọng của các hoạt động mua sắm do khách hàng thực hiện trong một
ngành nào đó, tỷ trọng này được đo bằng tỷ lệ giữa số tiền mua sắm và tổng chi phí của khách hàng Nếu tỷ trọng này càng lớn quyền đàm phán hay sức ép của khách hàng lên doanh nghiệp càng cao
Thứ ba, sự khác biệt của các sản phẩm và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp này tới
nhà cung cấp khác mà khách hàng phải bỏ ra Khi chi phí chuyển đổi càng lớn thì sức ép của khách hàng lên doanh nghiệp càng nhỏ
Thứ tư, mức độ thông tin về sản phẩm dịch vụ của khách hàng, đây là các chiêu
thức mà các công ty lớn thường dùng Họ tăng cường tư vấn, cung cấp thông tin để tạo áp lực cạnh tranh và mục tiêu là làm cho các đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn bất lợi trong cạnh tranh
Thứ năm, nguy cơ sáp nhập: nguy cơ sáp nhập ngược theo chiều dọc của các doanh
nghiệp Các doanh nghiệp này phải ngăn cản khách hàng không cho họ tiến hành chiến lược sáp nhập
b) Sức ép từ phía nhà cung cấp
Nhà cung cấp là những doanh nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sảnxuất (nguyên liệu, vốn, nguồn nhân lực…) họ có thể tạo ra áp lực lên doanh nghiệp thông qua giá cung cấp, chất lượng hay phương thức thanh toán
Nhà cung cấp có thể tạo ra mối đe dọa đối với doanh nghiệp khi họ có khả năng tăng giá hàng bán hoặc giảm chất lượng hàng cung cấp Đối với nhà cung cấp ít khảnăng, doanh nghiệp sẽ có cơ hội giảm giá hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn Các nhà cung cấp lớn, bán các sản phẩm khác biệt hóa và khó thay thế, coi khách hàng của
Trang 22mình là đối tượng cho sự phát triển thông qua sự sáp nhập theo chiều dọc, họ có thể tạo ra sức ép với khách hàng của mình.
Quyền lực nhà cung cấp phụ thuộc vào:
+ Số lượng nhà cung cấp: Nếu nhà cung cấp tập trung mà các doanh nghiệp trong ngành phân tán thì sức ép từ nhà cung cấp lên doanh nghiệp càng lớn.+ Số lượng sản phẩm thay thế cho các sản phẩm, dịch vụ của nhà cung cấp: càng nhiều sản phẩm thay thế thì sức ép của nhà cung cấp lên doanh nghiệp càng giảm
+ Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp: Chi phí này càng cao thì sức ép từ nhà cungcấp lên doanh nghiệp càng lớn
+ Khả năng hội nhập dọc xuôi chiều càng lớn thì sức ép của nhà cung cấp lên doanh nghiệp càng cao
c) Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là những doanh nghiệp hiện tại chưa có mặt trong ngành nhưng họ có khả năng tham gia vào ngành Càng nhiều doanh nghiệp mới gianhập ngành, thì các doanh nghiệp sẽ càng gặp nhiều khó khăn trong việc nắm giữ thị phần và tìm kiếm lợi nhuận Do đó, khi mức độ nguy hiểm từ sự gia nhập của đối thủ tiềm ẩn càng cao, mối đe dọa tới lợi ích của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại
Mối đe dọa của đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc vào:
+ Sự trung thành với nhãn hiệu của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 23+ Khả năng tiệp cận kênh phân phối cũng là mộ rào cản gia nhập ngành Nếu doanhnghiệp mới không tiếp cận được các kênh phân phối mới, điều này là rất tốn kém vàrủi ro cao.
+ Bí quyết công nghệ (know-how) luôn là một rào cản hữu hiệu đối với các doanh nghiệp khác Các bí quyết công nghệ có thể được bảo hộ quyền công nghiệp, điều này làm cho rào cản về công nghệ là rất lớn
+ Chính sách của Nhà nước: các chính sách này có thể là rào cản nhập ngành đối với các đối thủ tiềm ẩn thông qua các chính sách hạn chế đầu tư vào một số ngành hoặc do sự vận động hành lang của các doanh nghiệp trong ngành
+ Tiếp cận nguồn nguyên liệu cũng có thể là yếu tố ngăn cản sự gia nhập ngành, đặcbiệt là các ngành xi măng, công nghiệp chế biến, khai thác…
Nhìn chung , nếu các yếu tố trong rào cản nhập ngành càng lớn thì càng gâp khó khăn cho mục tiêu thâm nhập ngành của các đối thủ tiềm ẩn
d) Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành
Phân tích dựa trên các đối thủ cạnh tranh mạnh của Hòa Phát:
1-HUD (Tập đoàn phát triển nhà và đô thị)
2-Vinaconex (TCT Cổ Phần xuất nhập khẩu và xây dựng)
3-UDIC (TCT Đầu tư và phát triển hạ tầng đô thị)
4-Tập đoàn Nam Cường)
5- Tập đoàn Vincom
6-Tập đoàn Bitexco
7-Viglacera (TCT Thủy tinh và gốm xây dựng)
8- Sudico ( Công ty CP đầu tư và Phát triển Đô thị và KCN Sông Đà)
9- Geleximco (Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tổng hợp Hà Nội)
Trang 2410-Tập đoàn Keangnam Enterperise.
e) Sự đe dọa của sản phẩm thay thế
Nhân tố cuối cùng trong mô hình năm áp lực cạnh tranh của M.Porter là sự đe dọa của sản phẩm thay thế Đó là những hàng hóa có thể phục vụ nhu cầu của khách hàng cũng tương tự như sản phẩm của các doanh nghiệp trong ngành Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của doanh nghiệp thì mối đe dọa với doanh nghiệp càng lớn
3.2.3 Môi trường nội bộ doanh nghiệp
Phân tích môi trường nội bộ giúp xác định được điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiêp.Trong giới hạn bài nghiên cứu em sử dụng phương pháp chuỗi giá trị phân tích nội bộ doanh nghiệp
a) Khái niệm chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị là một quá trình biến một sản phẩm, dịch vụ phát triển từ ý tưởng qua nghiện cứu thử nghiệm đến sản xuất rồi đến tay người tiêu dùng và cuối cùng là dịch vụ bán hàng và sau bán hàng
Chuỗi giá trị của doanh nghiệp là tập hợp các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp, hiệu quả của từng yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố trong chuỗi giá trị đó tạo rasức mạnh của doanh nghiệp
Theo Michael Porter chuỗi giá trị thể hiện tổng giá trị, gao gồm các hoạt động giá trị và lợi nhuận Hoạt động giá trị là những hoạt động đặc trừng về phương diện vật
lý và công nghệ của doanh nghiệp Đây là những hoạt động cấu thành để tạo ra các sản phẩm có giá trị cho người mua Lợi nhuận được đo bằng sự chênh lệch giữa tổng giá trị và tập hợp cá chi phí cho việc thực hiện các hoạt động giá trị Các hoạt động giá trị có thể chia ra làm hai loại Các hoạt động sơ cấp và hoạt động tập trung
Các hoạt động sơ cấp (gián tiếp)
Là những hoạt động mang tính vật chất liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ, bán và chuyển giao cho khách hàng cũng như dịch vụ sau bán hàng Các hoạt động sơ cấp chia làm 5 loại chính là:
Trang 25+Nguyên vật liệu đầu vào,
+Sản xuất ( vận hành);
+Sản phẩm đầu ra;
+Marketing ,bán hàng
+ Dịch vụ sau bán hàng
Các hoạt động hỗ trợ (gián tiếp)
Bổ sung cho hoạt động sơ cấp và tự chúng cũng hộ trợ lân nhau thông qua việc cung ứng mua hàng đầu vào, công nghệ (R&D), quản trị nhân lực và tài chính
Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp không liên kết với một hoạt động sơ cấp riêng việt nào mà chỉ hỗ trợ cho toàn bộ chuỗi giá trị
Trong phân tích các hoạt động hỗ trợ em tập trung phân tích 3 lĩnh vực:
+ Quản trị nhân lực;
+ Nghiên cứu phát triển;
+ Hoạt động tài chính
Công cụ phân tích hoạt động tài chính trong chuỗi giá trị
Phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp là đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên ba khía cạnh bao gồm: Khả năng thanh toán, khả năng quản lý tàisản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Phân tích tài chính được thể hiện qua nhóm chỉ tiêu sau:
+ Các chỉ số về khả năng thanh toán;
+ Các chỉ số về đòn cân nợ;
+ Các chỉ số về năng lực hoạt động;
+ Các chỉ số về doanh lợi;
+Các chỉ số phản ánh các quyết định đầu tư
Nhóm các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng của doanh nghiệp đương đầu với các khoản nợ đã đến hạn Nếu như khả năng thanh toán của doanh nghiệp thấp có nghĩa là vị thế tài
Trang 26chính của doanh nghiệp yếu kém và ít có khả năng giải quyết được các vấn đề trongkinh doanh của doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xem xéttrên hai khía cạnh: khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán dài hạn.
Khả năng thanh toán ngắn hạn ( hiện hành) =
- Các khoản tiền phải trả cho người bán, người cung cấp, người nhận thầu;
- Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước;
- Tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng phải trả cho người lao động;
- Các khoản chi phí phải trả;
- Các khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn;
- Các khoản phải trả ngắn hạn khác
Khả năng thanh toán hiện hành phải ≥ 1 doanh nghiệp có khả năng thanh toán.Giá trị tối ưu của tỷ số khả năng thanh toán hiện hành theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế từ 2-2,5
Chỉ tiêu phân tích chất lượng của các yếu tố tài sản lưu động của công ty qua các chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân, vòng quay hàng tồn kho…
Trang 27Hệ số khả năng thanh toán =
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng doanh nghiệp có thể thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn đến mức độ nào, căn cứ vào những tài sản lưu động có khả năng chuyển thành tiền nhanh nhất
Nhóm các chỉ tiêu về doanh lợi
Hệ số doanh lợi doanh thu =
Hệ số sinh lời tài sản (ROA) =
ROA phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời đây còn là
cơ sở quan trọng để những người cho vay cân nhắc xem công ty có thể tạo ra mức sinh lời cao hơn chi phí sử dụng nợ không và là cơ sở để chủ sở hữu đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định sử dụng vốn
Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) =
ROE cho thấy kết quả của việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu ROE là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vống của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính
Nhóm các chỉ tiêu về hoạt động thị trường
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh giá trị của cổ phiếu và cổ tức của cổ phiếu của công ty
Trang 28+ Thu nhập cổ phiếu (EPS) =
Thu nhập cổ phiếu cho biết phần lợi nhuận ròng là bao nhiêu của một cổ phiếu trên thị trường
+ Tỉ số giá thị trường so với lợi tức trên một cổ phiếu ( P/E)
Chỉ số P/E thường được dùng để đánh giá xem để có một đồng lợi nhuận của công ty, các cổ động thường phải đầu tư bao nhiêu
P/E thấp có nghĩa là lợi nhuận trên một cổ phiếu của công ty cao hoặc giá thị trường của cổ phiếu thấp
+ Giá sổ sách của mỗi cổ phiếu =
Giá trên sổ sách của mỗi cổ phiếu chỉ ra giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp tương ứng với sổ sách kế toán và các báo cáo tài chính
Chỉ tiêu sử dụng đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính là cách thức để tăng khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu bằng cách sử dụng nguồn vốn tín dụng Để xem xét hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính người ta thường sử dụng chỉ số nợ và chỉ số chi trả lãi vay
+ Chỉ số nợ =
Chỉ số này càng thấp thì các khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản
Chỉ số này càng cao thì lợi nhuận gia tăng càng nhanh trên một đồng vốn sở hữu
+ Chỉ số trả lãi vay TIE
Trang 29TIE =
TIE càng lớn thì khả năng đảm bảo cho việc thanh toán các khoản lãi vay từ lợi
nhuận càng đảm bảo cho việc thanh toán
Có nhiều công cụ để xây dựng chân dung chiến lược của doanh nghiệp Trong giới
hạn bài nghiên cứu em lựa chọn phương pháp dùng ma trận SWOT của M.Porter để
xây dựng các kịch bản chiến lược có thể Đây là ma trận phân tích cơ hội và thách
thức của môi trường bên ngoài đối với hoạt động của doanh nghiệp và điểm mạnh,
điểm yếu của chính doanh nghiệp
Các điểm mạnh (S)
Những điểm mạnh quan trọng nhất từ bảng tổng hợp môi trường nội bộ tổ chức
Các điểm yếu (W)
Những điểm yếu quan trọng nhất
từ bảng tổng hợp môi trường nội
bộ doanh nghiệp
Các cơ hội (O)
Những cơ hội quan
Các kết hợp chiến lược WO
Tận dụng các cơ hội bên ngoài
để khắc phục điểm yếu bên trongdoanh nghiệp
Các kết hợp từ chiến lược WT
Những kết hợp chiến lược mang tính “phòng thủ” cố gắng khắc phục điểm yếu và giảm tác động ( hoặc tránh) nguy cơ bên ngoài
Môi trường nội bộ
Môi
trường
bên ngoài
Trang 30Chương II: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN XD & PT ĐÔ THỊ HÒA PHÁT
1 Quá trình hình thành và phát triển
Tên công ty: Công ty cổ phần Xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát – thành viên
trực thuộc tập đoàn Hòa Phát
Tên tiếng anh: Hoa Phat Urban Development and Contruction JSC
Trụ sở chính: Số 39 – Nguyễn Đình Chiểu – P.Lê Đại Hành – Q.Hai Bà Trưng –
Ban đầu công ty được thành lập nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về việc xây dựng các nhà máy mới và mở rộng quy mô của các nhà máy hiện có của các Công ty trong Tập đoàn Hòa Phát, Công ty nhận thấy nhu cầu về mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp ngày càng tăng mạnh, đặc biệt là mặt bằng sẵn có với hạ tầng kỹ thuật đồng bộ Từ năm 2003, Công ty đã đề nghị được chính phủ chấp thuận là chủ đầu tư dự án khu công nghiệp Phố Nối A tại tỉnh Hưng Yên với quy
mô 390 ha và tổng vốn đầu tư hơn 500 tỷ đồng VND Bắt đầu triển khai xây dựng
hạ tầng từ cuối năm 2004 và được phân kỳ đầu tư theo từng giai đoạn
Trang 31Bên cạnh là chủ đầu tư khu công nghiệp Phố Nối A, Công ty đã được UBND tỉnh Hưng Yên chấp thuận là chủ đầu tư dự án Khu Đô Thị Phố Nối với quy mô 300 ha
từ tháng 02/2005 Việc xây dựng Khu Đô Thị Phố Nối nhằm mục đích đáp ứng nhucầu về nhà ở của cán bộ, công nhân các doanh nghiệp trong Khu Công Nghiệp và phát triển Phố Nối thành một đô thị vệ tinh của Hà Nội theo quy hoạch vùng Thủ đô
Đứng trước tiềm năng và cơ hội kinh doanh lớn trong lĩnh vực đầu tư bất động sản, công ty cổ phần Xây dựng và Phát triển Đô thị Hòa Phát đã xác định lĩnh vực hoạt động chính trong các năm sau là “Đầu tư Xây dựng và kinh doanh bất động sản”
2 Các lĩnh vực kinh doanh và đặc điểm
2.1 Lĩnh vực kinh doanh
Đến nay, sau nhiều năm phát triển, công ty đã mở rộng lĩnh vực hoạt động của mình, hiện tại các lĩnh vực hoạt động chính của công ty bao gồm:
- Xây dựng dân dụng và công nghiệp
- Kinh doanh BĐS, cho thuê nhà, văn phòng
- Đầu tư và xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật
- Khai thác cát, đá, sỏi
- Kinh doanh vật liệu xây dựng
- Thiết kế quy hoạch và mặt bằng, kiến trúc nội thất công trình xây dựng và công nghiệp
- Thiết kế công trình xây dựng cầu đường
- Thiết kế kết cấu đối với công trình xây dựng công nghiệp phục vụ ngành hóachất
- Thiết kế cấp thoát nước đối với công trình dân dụng công nghiệp, mạng lưới cấp thoát nước đô thị, nông thôn, thiết kế xử lý nước
- Thiết kế điện công trình dân dụng, công nghiệp ( nhà xưởng, kho, công trình
kỹ thuật phụ trợ); công trình điện năng ( nhà máy điện, đường dây, trạm biếnáp)
2.2 Đặc điểm đặc thù lĩnh vực kinh doanh của công ty
2.2.1 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng
Trang 32a) Một số khái niệm về sản phẩm xây dựng
Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng
- Chỉ bao gồm kiến trúc, kết cấu làm chức năng nâng đỡ, bao che, lắp đặt máy móc thiết bị
- Đơn vị đo sản phẩm xây dựng của doanh nghiệp xây dựng:
+ Tính theo hiện vật: m2 hay m3 khối tích xây dựng đã hoàn thành bàn giao
+ Tính theo giá trị: giá trị dự toán đã hoàn thành bàn giao
- Sản phẩm xây dựng trung gian: các gói công việc, các giai đoạn hay đợt xây dựng
đã hoàn thành bàn giao thanh toán
- Sản phẩm xây dựng cuối cùng: là công trình hay hạng mục công trình xây dựng đãhoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng
- Giá trị sản phẩm thuần tuý của doanh nghiệp XD đóng góp vào nền kinh tế: là phần mà doanh nghiệp sáng tạo ra
+ Mang tính đơn chiếc, sản xuất theo đơn đặt hàng
+ Chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện địa phương, mang tính cá biệt cao về công
Trang 33+ Chủ yếu nằm ngoài trời hay trong lòng đất
+ Có quy mô lớn, thời gian hình thành sản phẩm dài
+ Sản phẩm được tạo thành do sự hợp tác của nhiều đơn vị
+ Là sản phẩm tổng hợp liên quan đến cảnh quan, môi trường, ý nghĩa công trình, KT-XH và an ninh quốc phòng
2.2.2 Đặc điểm của sản xuất xây dựng
+ Mang tính di động
+ Sản xuất theo đơn đặt hàng, phụ thuộc vào khả năng thắng thầu của nhà thầu + Khó thiết kế và xây dựng hàng loạt
+ Chi phí xây dựng tăng
+ Khó định định giá thống nhất trước cho công trình
+ Chu kỳ xây dựng dài
+ Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, địa phương
+ Khó áp dụng quá trình tự động hoá, tốc độ phát triển khoa học công nghệ trong xây dựng chậm hơn so với các ngành sản xuất khác
2.3 Đặc điểm của bất động sản và thị trường bất động sản
2.3.1 Các đặc điểm của bất động sản
a) Tính cá biệt và khan hiếm, cố định
Đặc điểm này của BĐS xuất phát từ tính cá biệt và tính khan hiếm của đất đai Tính khan hiếm của đất đai là do diện tích bề mặt trái đất là có hạn Tính khan hiếm cụ thể của đất đai là giới hạn về diện tích đất đai của từng miếng đất, khu vực, vùng, địa phương, lãnh thổ v.v Chính vì tính khan hiếm, tính cố định và không di dời được của đất đai nên hàng hoá BĐS có tính cá biệt
Tính cố định tạo hàng hoá BĐS mang “tính địa điểm” và “tính địa phương” rất cao.Cùng một loại BĐS nhưng ở những địa điểm khác nhau thì có giá trị khác nhau.Trong cùng một khu vực nhỏ kể cả hai BĐS cạnh nhau đều có những yếu tố không giống nhau Trên thị trường BĐS khó tồn tại hai BĐS hoàn toàn giống nhau
vì chúng có vị trí không gian khác nhau kể cả hai công trình cạnh nhau và cùng xây
Trang 34theo một thiết kế Ngay trong một toà cao ốc thì các căn phòng cũng có hướng và cấu tạo nhà khác nhau Ngoài ra, chính các nhà đầu tư, kiến trúc sư đều quan tâm đến tính dị biệt hoặc để tạo sự hấp dẫn đối với khách hàng hoặc thoả mãn sở thích
+ Hàng hoá BĐS không thể đem ra thị trường (siêu thị – chợ) để trưng bày như các loại hàng hoá khác mà phải giới thiệu thông qua mô tả bằng mô hình, hình ảnh, bản
vẽ, hoặc các mô tả khác
b) Tính bền lâu
Do đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài nguyên được xem như không thể bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lấp Đồng thời, các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một thời gian sử dụng được cải tạo nâng cấp có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa.Vì vậy, tính bền lâu của BĐS là chỉ tuổi thọ của vật kiến trúc và công trình xây dựng
Cần phân biệt “tuổi thọ vật lý” và “tuổi thọ kinh tế” của BĐS:
+ Tuổi thọ kinh tế: chấm dứt trong điều kiện thị trường và trạng thái hoạt động bình thường mà chi phí sử dụng BĐS lại ngang bằng với lợi ích thu được từ BĐS đó
+ Tuổi thọ vật lý: dài hơn tuổi thọ kinh tế khá nhiều vì nó chấm dứt khi các kết cấu chịu lực chủ yếu của vật kiến trúc và công trình xây dựng bị lão hoá và hư hỏng, không thể tiếp tục an toàn cho việc sử dụng Trong trường hợp đó, nếu xét thấy tiến hành cải tạo, nâng cấp BĐS thu được lợi ích lớn hơn là phá đi và xây dựng mới thì
có thể kéo dài tuổi thọ vật lý để “chứa” được mấy lần tuổi thọ kinh tế
Thực tế, các nước trên thế giới đã chứng minh tuổi thọ kinh tế của BĐS có liên quan đến tính chất sử dụng của BĐS đó Nói chung, tuổi thọ kinh tế của nhà ở,
Trang 35khách sạn, nhà hát là trên 40 năm; của tuổi thọ kinh tế nhà xưởng công nghiệp, nhà
ở phổ thông là trên 45 năm v.v Chính vì tính chất lâu bền của hàng hoá BĐS là do đất đai không bị mất đi, không bị thanh lý sau một quá trình sử dụng, lại có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, nên hàng hoá BĐS rất phong phú và đa dạng, không bao giờ cạn
c) Tính chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau
BĐS chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn, giá trị của một BĐS này có thể bị tác độngcủa BĐS khác Đặc biệt, trong trường hợp Nhà nước đầu tư xây dựng các công trìnhkết cấu hạ tầng sẽ làm tăng vẻ đẹp và nâng cáo giá trị sử dụng của BĐS trong khu vực đó Trong thực tế, việc xây dựng BĐS này làm tôn thêm vẻ đẹp và sự hấp dẫn của BĐS khác là hiện tượng khá phổ biến
d) Các tính chất khác
Tính thích ứng
Lợi ích của BĐS được sinh ra trong quá trình sử dụng BĐS trong quá trình sử dụng
có thể điều chỉnh công năng mà vẫn giữ được những nét đặc trưng của nó, đồng thờivẫn đảm bảo yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng trong việc thoả mãn nhu cầu sinhhoạt, sản xuất-kinh doanh và các hoạt động khác
Tính phụ thuộc vào năng lực quản lý
Hàng hoá BĐS đòi hỏi khả năng và chi phí quản lý cao hơn so với các hàng hoá thông thường khác.Việc đầu tư xây dựng BĐS rất phức tạp, chi phí lớn, thời gian dài Do đó, BĐS đòi hỏi cần có khả năng quản lý thích hợp và tương xứng
Mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội
Hàng hoá BĐS chịu sự chi phối của các yếu tố này mạnh hơn các hàng hoá thông thường khác.Nhu cầu về BĐS của mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia là rất khác nhau, phụ thuộc vào thị hiếu, tập quán của người dân sinh sống tại đó Yếu tố tâm lý
xã hội, thậm chí cả các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh v.v chi phối nhu cầu
và hình thức BĐS
Trang 362.3.2 Điều kiện để bất động sản trở thành hàng hóa trên thị trường
BĐS chỉ được coi là hàng hoá của thị trường khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:
BĐS phải có chủ sở hữu cụ thể, phải được pháp luật cho phép và phải có đủ điều kiện để giao dịch Cụ thể như có xác nhận quyền sở hữu (có giấy chứng nhận), không thuộc vùng cấm sử dụng, không nằm trong vùng quy hoạch phải di dời hoặc thay đổi mục đích sử dụng theo kế hoạch của Nhà nước và không gây ô nhiễm môi trường
2.3.3 Đặc điểm của thị trường bất động sản
a) Hình thành và phát triển qua 4 cấp độ
Thứ nhất, cấp độ sơ khởi: Đó là giai đoạn của tất cả mọi người đều có thể tạo lập
được nhà của mình Giai đoạn này chỉ cần có một mảnh đất là có thể hình thành nênmột cái nhà và được coi là BĐS Trong cấp độ này, các chính sách về đất đai, các chủ đất và các cơ quan quản lý đất đai đóng vai trò quyết định
Thứ hai, cấp độ tập trung hoá: Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây dựng
Trong giai đoạn này, do hạn chế về đất đai, do hạn chế về năng lực xây dựng, khôngphải ai cũng có thể hình thành và phát triển một toà nhà, một BĐS lớn, một dự án BĐS Trong cấp độ này, các chính sách về xây dựng và các doanh nghiệp, cơ quan quản lý xây dựng đóng vai trò quyết định
Thứ ba, cấp độ tiền tệ hoá: Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây dựng Lúc
này, sự bùng nổ của các doanh nghiệp phát triển BĐS, do hạn chế về các điều kiện bán BĐS, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ tiền để phát triển BĐS cho tới khi bán ra được trên thị trường Trong cấp độ này, các ngân hàng đóng vai trò quyết định trong việc tham gia vào dự án này hoặc dự án khác Các chính sách ngân hàng,các ngân hàng và các cơ quan quản lý về ngân hàng đóng vai trò quyết định
Thứ tư, cấp độ tài chính hoá: Khi quy mô của thị trường BĐS tăng cao và thị
trường phát triển mạnh, do những hạn chế về nguồn vốn dài hạn tài trợ cho thị trường BĐS, các ngân hàng hoặc không thể tiếp tục cho vay đối với BĐS hoặc sẽ
Trang 37đối mặt với các rủi ro Lúc này, các ngân hàng phải tài chính hoá các khoản cho vay, các khoản thế chấp cũng như các khoản tài trợ cho thị trường nhằm huy động
đa dạng hoá các nguồn vốn Trong cấp độ, các thể chế tài chính, các chính sách tài chính, các tổ chức tài chính và các cơ quan quản lý tài chính là những chủ thể có vaitrò quyết định
Có thể thấy rằng, không nhất thiết mỗi một nền kinh tế, mỗi một thị trường BĐS đều tuần tự trải qua từng nấc, từng cung bậc như trên.Cũng không nhất thiết các cấp
độ phát triển thị trường phải có giai đoạn như nhau về thời gian Cũng không nhất thiết, các cấp độ phát triển của thị trường phải là kết thúc giai đoạn này rồi mới chuyển sang giai đoạn khác Các nền kinh tế, nhất là các nền kinh tế đã phát triển qua cả 4 cấp độ từ rất lâu.Chẳng hạn như Úc và New Zealand, các tài sản BĐS đã được chứng khoán hoá với tỷ lệ rất cao Các nước có nền kinh tế chuyển đổi đều áp dụng chủ yếu là liệu pháp “sốc”, tức là áp dụng đồng loạt tất cả các cơ chế, chính sách theo chuẩn của các nền kinh tế thị trường nên hiện nay, thị trường BĐS cũng
đã ở cấp độ tài chính hoá Trung Quốc cũng đang chuẩn bị chuyển qua giai đoạn tài chính hoá thị trường BĐS
b) Mang tính vùng, tính khu vực sâu sắc
BĐS là một loại hàng hoá cố định và không thể di dời về mặt vị trí và nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố tập quán, tâm lý, thị hiếu.Trong khi đó, tâm lý, tập quán, thị hiếu của mỗi vùng, mỗi địa phương lại khác nhau.Chính vì vậy, hoạt động của thị trường BĐS mang tính địa phương sâu sắc
Mặt khác, thị trường BĐS mang tính không tập trung và trải rộng ở mọi vùng miền của đất nước.Sản phẩm hàng hoá BĐS có “dư thừa” ở vùng này cũng không thể đem bán ở vùng khác được Bên cạnh đó, mỗi thị trường mang tính chất địa phươngvới quy mô và trình độ khác nhau do có sự phát triển không đều giữa các vùng, các miền, do điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội khác nhau dẫn đến quy mô và trình độ phát triển của thị trường BĐS khác nhau Thị trường BĐS ở các đô thị có quy mô và trình độ phát triển kinh tế cao thì hoạt động sôi độnghơn thị trường BĐS ở nông thôn, miền núi v.v
c) Chịu sự chi phối của yếu tố pháp luật
Trang 38BĐS là tài sản lớn của mỗi quốc gia, là hàng hoá đặc biệt, các giao dịch về BĐS tác động mạnh mẽ đến hầu hết các hoạt động kinh tế-xã hội Do đó, các vấn đề về BĐS đều sự chi phối và điều chỉnh chặt chẽ của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật riêng về BĐS, đặc biệt là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai
và nhà ở Đặc điểm này đặc biệt đúng ở nước ta do thị trường đất đai cấp I (thị trường sơ cấp- giao đất và cho thuê đất) là chịu tác động nhất bởi các quyết định củaNhà nước Chính phủ các nước trên thế giới đều quan tâm đến BĐS và thị trường BĐS, luôn điều chỉnh chính sách về BĐS và thị trường BĐS nhằm huy động các nguồn lực về BĐS phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội
d) Thị trường không hoàn hảo
Thị trường bất động sản là một dạng thị trường không hoàn hảo: thông tin không đầy đủ, thiếu 1 số tổ chức của thị trường
Đặc điểm này xuất phát từ những đặc trưng riêng của mỗi vùng, chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên cũng như truyền thống và tập quán, thị hiếu, tâm lý xã hội trong quá trình sử dụng BĐS
Thậm chí, ngay trong bản thân các thị trường địa phương, sự hiểu biết về các giao dịch cũng không hoàn hảo, người mua và người bán thường thiếu thông tin liên quan đến những giao dịch trước
Sự tác động của Nhà nước là một trong các yếu tố tạo nên tính không hoàn hảo của thị trường BĐS Bất kỳ Nhà nước nào cũng đều có sự can thiệp vào thị trường BĐS
ở các mức độ khác nhau, trong đó chủ yếu là đất đai để thực hiện các mục tiêu phát triển chung BĐS có tính dị biệt, tin tức thị trường hạn chế, đất đai trên thị trường sơcấp phụ thuộc vào quyết định của Nhà nước nên thị trường BĐS là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Mặt khác, thị trường BĐS không hoàn hảo còn do tính chất không tái tạo được của đất, nên thị trường BĐS mang tính độc quyền, đầu cơ nhiều hơn các thị trường hànghoá khác
e) Có mối liên hệ mật thiết với thị trường vốn và tài chính
Trang 39Thị trường BĐS có mối liên hệ mật thiết với thị trường vốn và tài chính.Động thái phát triển của thị trường này tác động tới nhiều loại thị trường trong nền kinh tế.
BĐS là tài sản đầu tư trên đất bao gồm cả giá trị đất đai sau khi đã được đầu tư Mà đầu tư tạo lập BĐS thường sử dụng một lượng vốn lớn với thời gian hình thành BĐS cũng như thu hồi nguồn vốn dài Khi BĐS tham gia lưu thông trên thị trường BĐS, các giá trị cũng như các quyền về BĐS được đem ra trao đổi, mua bán, kinh doanh v.v giải quyết vấn đề lưu thông tiền tệ, thu hồi vốn đầu tư và mang lại lợi nhuận cho các bên giao dịch Điều này chứng tỏ thị trường BĐS là đầu ra quan trọng của thị trường vốn
Ngược lại, thị trường BĐS hoạt động tốt là cơ sở để huy động được nguồn tài chính lớn cho phát triển kinh tế thông qua thế chấp và giải ngân (Theo thống kê, ở các nước phát triển lượng tiền ngân hàng cho vay qua thế chấp bằng BĐS chiếm 80% trong tổng lượng vốn cho vay)
Ngoài ra, thị trường BĐS còn có quan hệ trực tiếp với thị trường xây dựng và qua
đó mà bắc cầu tới các thị trường vật liệu xây dựng và đồ nội thất, thị trường lao động v.v dao động của thị trường này có ảnh hưởng lan toả tới sự phát triển ổn địnhcủa nền kinh tế quốc dân
3 Các dự án đã và đang thực hiện.
3.1 Dự án KCN Phố Nối A- Hưng Yên.
Khu công nghiệp Phố Nối được phê duyệt theo quyết định số 106/QĐ-UB của UBND tình Hưng Yê và quyết định số 1500/QĐ-UB ngày 30/06/2004 của UBND tỉnh Hưng Yên về việc thu hồi đất, giao đất cho Công Ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đô thị Hòa Phát để đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN Phố Nối A
Khu công nghiệp Phố Nối A- Hưng Yên do công ty quản lý khai thác KCN Phố Nối
A ( đơn vị thành viên của công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Hòa Phát tạiHưng Yên) là đơn vị thực hiện, quản lý và kinh doanh kết cấu hạ tầng với quy mô
390 ha
Trang 40Hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ trong KCN: Ngày 14/08/2006 Công ty quản lý khai thác KCN Phố Nối A thành lập xí nghiệp dịch vụ và quản lý hạ tầng với chức năng:
Quản lý duy tu bảo dưỡng hạ tầng kỹ thuật KCN, vệ sinh và môi trường, dịch vụ cấp nước, cấp điện, dịch vụ bảo vệ nhằm cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp trong KCN một cách tốt nhất
Về thu gom và xử lý rác thải KCN tổ chức hệ thống thu gom rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp của các doanh nghiệp trong KCN về một địa điểm tập trung trong KCN, đồng thời, KCN đã ký hợp đồng thu gom và vận chuyển rác với Công
ty cổ phần dịch vụ môi trường bình minh là đơn vị có chức năng về xử lý rác thải theo quy định
Về dịch vụ bưu chính viễn thông: cho đến nay việc cung cấp dịch vụ bưu chính viễnthông trong KCN do bưu điện tỉnh Hưng Yên đảm nhiệm KCN đã làm việc thống nhất về nguyên tắc với bưu điện tỉnh Hưng Yên về việc thuê văn phòng tại Trung tâm điều hành KCN.Để làm văn phòng giao dịch tại KCN.Hiện nay, Bưu điện HưngYên đã đi vào hoạt động
Về dịch vụ ngân hàng: chủ đầu tư đã thỏa thuận với hai ngân hàng VCB và TCB về dịch vụ cung cấp cho KCN
3.2 Khu Đô thị Phố Nối, bắc đường 5- Mỹ Hào – Hưng Yên.
Quy mô dự án: Khu đô thị Bắc Quốc lộ 5 thuộc đô thị Phố Nối được phê duyệt theo quyết định số 2522/ QĐ-UB ngày 19/10/2004 của UBND tỉnh Hưng Yên, khu đô thị có quy mô diện tích là 831,85 ha được phân ra làm 3khu quy hoạch:
+ Khu A: 447,34 ha
+ Khu B: 271,10 ha
+ Khu C: 113,41 ha
Khu A với diện tích: 447,34 ha theo quy hoạch bao gồm:
+ 133,6 ha là hiện trạng các khu dân cu hiện có và các dự án do UBND tỉnh đã cấp đất hoặc chấp thuận đầu tư