1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

50 525 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Tác giả Trần Anh Tú
Trường học University of Economics and Law, Vietnam Academy of Social Sciences
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại đề án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCPhần mở đầu1Chương 1: Cơ sở lý luận về ngoại thương và vai trò của ngoại thương trong nền kinh tế21.1. Khái niệm ngoại thương.21.1.1. Định nghĩa21.2. Đặc điểm của ngoại thương.21.3. Vai trò của ngoại thương trong nền kinh tế.3Chương 2: Ngoại thương và tầm quan trọng của nó với phát triển kinh tế Hồng Kông42.1. Khái quát về Hồng Kông.42.1.1. Địa lý.42.1.2. Con người.52.1.3. Chính phủ.62.1.4 Kinh tế.72.1 Chiến lược ngoại thương của Hồng Kông.92.1.1 Chiến lược hướng ngoại92.2.2. Các chính sách thúc đẩy chiến lược hướng ngoại của Hồng Kông92.2.3.Tác động của chiến lược hướng ngoại đến phát triển kinh tế Hồng Kông.112.3. Thực trạng hoạt động ngoại thương Hồng Kông132.3.1 Nhập khẩu.132.3.1.1.Chính sách nhập khẩu.132.3.1.2.Cấu trúc nhập khẩu.152.3.1.3.Đối tác nhập khẩu.182.3.2. Xuất khẩu.202.3.2.1.Cấu trúc xuất khẩu.202.3.2.2.Thị trường xuất khẩu.272.3.2.3.Thực trạng và những vấn đề hiện tại của xuất khẩu Hồng Kông.312.4. Đóng góp của ngoại thương vào sự phát triển của nền kinh tế Hồng Kông.332.4.1. Kết quả hoạt động của ngoại thương Hồng Kông332.4.2. Tác động của ngoại thương đến phát triển kinh tế Hồng Kông36Chương 3: Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam403.1. Giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương của Hồng Kông403.2. Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.41Kết luận44Tài liệu tham khảo45

Trang 1

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển kinh tế của các nước đặc biệt là các nước đangphát triển, ngoại thương là con đường chính để hướng tới nhằm thu hút nguồn lực từbên ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cũng nhưgóp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi quốc tế,nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới và khu vực Hồng Kông, vớimột vị trí chiến lược, nền công nghiệp thương mại dịch vụ phát triển mạnh mẽ và hệthống tài chính tinh vi đã và đang trở thành một trung tâm thương mại quan trọngcủa thế giới Bị ảnh hưởng bởi chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh lạnhnhưng chỉ sau hơn hai thập kỷ phát triển, với sự dẫn dắt chủ yếu của ngoại thương,Hồng Kông từ một nền kinh tế nhỏ bé đã vươn lên trở thành một trong bốn con hổChâu Á và là một trong những nền kinh tế năng động nhất thế giới

Việc phân tích và tìm hiểu vai trò của ngoại thương với sự phát triển kinh tếHồng Kông giúp chúng ta có được cái nhìn rõ hơn về vai trò to lớn của ngoạithương đối với con đường phát triển của các nước đang phát triển nói chung và ViệtNam nói riêng qua đó rút ra được những bài học kinh nghiệm trong hoạt động ngoạithương nhằm vạch ra được một con đường đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh, tìnhhình mỗi nước để phát triển ngoại thương trở thành một động lực chính của nềnkinh tế

2 Kết cấu của đề tài.

Đề tài được viết theo phong cách cổ điển, ngoài phần mở đầu, kết luận, mụclục, danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung của đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về ngoại thương và vai trò của ngoại thương trongnền kinh tế

Chương 2: Ngoại thương và tầm quan trọng của nó với phát triển kinh tếHồng Kông

Chương 3: Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương của Hồng Kông

và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trang 2

Chương 1: Cơ sở lý luận về ngoại thương và vai trò của ngoại thương

Nội dung của ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, thuê

nước ngoài gia công tái sản xuất, trong đó xuất khẩu là huớng ưu tiên và là trọngđiểm của hoạt động kinh tế đối ngoại ở các nước nói chung và ở nước ta nói riêng

1.2 Đặc điểm của ngoại thương

Mấy thập kỷ gần đây, dưới tác động của các mạng khoa học - công nghệ và

xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, thương mại quốc tế có những đặc điểm mớisau đây:

Tốc độ tăng trưởng của ngoại thương quốc tế tăng nhanh hơn tốc độ tăng

trưởng của tổng sản phẩm quốc dân

Tốc độ tăng trưởng ngoại thương hàng hoá “vô hình” có xu hướng nhanh

hơn tốc độ tăng trưởng ngoại thương hàng hoá “hữu hình” Đièu đó bắt nguồn từ sựthay dổi cơ cấu kinh tế giưũa ngành sản xuất vật chất và ngành dịch vụ trong mỗiquốc gia và quốc tế

Cơ cấu mặt hàng có sự biến đổi sâu sắc theo hướng hàng hoá nhu cầu tầng 1

(nhu cầu về đời sống vật chất) giảm xuống và hàng hoá nhu cầu tầng 2 (nhu cầu vềđời sống văn hoá tinh thần) tăng nhanh; tỷ trọng xuất khẩu hàng thô, nguyên liệugiảm xuống, còn hàng dầu mỏ khí đốt, sản phẩm công nghệ chế biến nhất là cácmáy móc thiết bị lại tăng nhanh

Phạm vi, phương thức và công cụ cạnh tranh của thương mại quốc tế diễn ra

rất phong phú và đa dạng, không chỉ về mặt chất lượng, giá cả, mà còn về điều kiệngiao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng Phạm vithị truờng ngày một mở rộng không chỉ hàng hoá, dịch vụ thông thường mà còn mởrộng sang lĩnh vực tài chính, tiền tệ - lĩnh vực này ngày càng đóng vai trò quan

Trang 3

Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng rút ngắn lại Các hàng hoá

có hàm lượng khoa học – công nghệ cao có sức mạnh cạnh tranh hơn so với cáchàng hoá truyền thống

Quá trình phát triển thuơng mại quốc tế đòi hỏi, một mặt phải tự do hoá

thương mại, mặt khác phải thực hiện bảo hộ mậu dịch một cách hợp lý

Cần nhấn mạnh rằng, muốn biến ngoại thương thành đòn bẩy có sức mạnhphát triển nền kinh tế quốc dân cần phải nắm đuợc lợi thế so sánh (là lợi thế về sựchênh lệch tiền công và năng suất lao động hoặc chi phí cơ hội đới với một loạihàng hoá của một quốc gia so với quốc tế) Đương nhiên, lợi thế so sánh cũngkhông ở trạng thái tĩnh mà sẽ thay đổi, vì có khả năng nước đi sau sẽ đuổi kịp vàvượt lên do tác động của quy luật phát triển không đồng đều về công nghệ và trí

thức

1.3 Vai trò của ngoại thương trong nền kinh tế.

Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí trung tâm và

có tác dụng to lớn:

Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi

quốc tế; nối liền thị truờng trong nước với thị trường thế giới và khu vực, làm giatăng sức mạnh tổng hợp

Góp phần làm tăng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so

sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế

Là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; “điều tiết thừa thiếu” trong mỗi

nước, nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước

Tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định

và nâng cao đời sống người lao động nhất là trong các ngành xuất khẩu

Trang 4

Chương 2: Ngoại thương và tầm quan trọng của nó với phát triển

kinh tế Hồng Kông

2.1 Khái quát về Hồng Kông.

Hồng Kông là một đặc khu hành chính thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa(CHNDTH), nằm trên bờ biển Đông Nam của Trung Quốc Hồng Kông từng là một lãnhthổ phụ thuộc của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland từ năm 1842 đến khichuyển giao chủ quyền cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997 Tuyên bố chungTrung-Anh và Luật Cơ bản của Hồng Kông quy định rằng Hồng Kông được hưởng mộtquy chế tự trị cao cho đến ít nhất là năm 2047 - 50 năm sau khi chuyển giao chủ quyền.Dưới chính sách một quốc gia, hai chế độ, Chính quyền Nhân dân Trung ương chịutrách nhiệm về mặt quốc phòng và ngoại giao của lãnh thổ này còn Hồng Kông thì duytrì hệ thống pháp luật, lực lượng cảnh sát, chế độ tiền tệ, chính sách hải quan, chínhsách nhập cư của Anh, và các đại biểu trong các tổ chức và sự kiện quốc tế

2.1.1 Địa lý.

Với diện tích là 1104 km2, Hồng Kông chủ yếu bao gồm đảo Hồng Kông, đảoLạn Đầu, bán đảo Cửu Long và Tân Giới Bán đảo Cửu Long gắn liền với Tân Giới vềphía Bắc và Tân Giới nối về phía Bắc và cuối cùng nối với Trung Hoa Đại Lục qua consông Thâm Quyến Tổng cộng, Hồng Kông bao gồm một tập hợp 262 hòn đảo ở biểnNam Trung Hoa, trong đó Lạn Đầu là đảo lớn nhất Đảo Hồng Kông là đảo lớn thứ hai

và đông dân nhất Ap Lei Chau là đảo có mật độ dân số cao nhất thế giới Vùng nước hẹptách Đảo Hồng Kông và Bán đảo Cửu Long là bến cảng Victoria, một trong những hảicảng tự nhiên sâu nhất thế giới

Phần lớn sự phát triển đô thị của lãnh thổ hiện hữu ở Bán đảo Cửu Long, dọctheo các bờ biển phía Bắc của Đảo Hồng Kông và ở khu định cư rải rác khắp TânGiới Bờ biển dài và không thẳng của Hồng Kông đã tạo cho lãnh thổ này nhiềuvịnh, sông và bãi biển

Hồng Kông cách Macau 60 km về phía Đông, về phía đối diện của Đồng bằngchâu thổ Châu Giang và giáp với thành phố đặc khu Thâm Quyến thuộc tỉnh QuảngĐông về phía Bắc Đỉnh cao nhất của lãnh thổ này là Tai Mo Shan, với độ cao 958 mtrên mực nước biển Các vùng đất thấp nằm ở phần Tây Bắc của Tân Giới

Trang 5

Hình 2.1 Bản đồ tổng thể Hồng Kông

2.1.2 Con người.

Dân số Hồng Kông tăng nhanh chóng trong thập niên 1990, đạt 6,99 triệu

vào năm 2006 Khoảng 95% dân Hồng Kông là gốc Trung Hoa, đa số dân của HồngKông là Quảng Đông hoặc từ các nhóm dân tộc như Người Khách gia và TriềuChâu Tiếng Quảng Đông, một ngôn ngữ Trung Quốc được sử dụng phổ biến ở phíaNam Trung Quốc là phương ngữ chính thức của Hồng Kông Tiếng Anh cũng làmột ngôn ngữ chính thức được sử dụng rộng rãi bởi hơn 1⁄3 dân số Phần còn lại 5%dân số bao gồm các dân tộc không phải là người Hoa là một nhóm dân cư có thểthấy rất rõ dù số lượng nhỏ Một cộng đồng Nam Á bao gồm người Ấn Độ, Nepal.Dân tị nạn người Việt đã trở thành các cư dân thường trú của Hồng Kông Khoảng140.000 người Philippines làm việc ở Hồng Kông với những công việc như nhữngngười giúp việc nhà Một số công nhân cũng đến từ Indonesia Có một số ngườichâu Âu, người Mỹ, người Úc, người Canada, người Nhật, và người Triều Tiên làmviệc trong các lĩnh vực tài chính và thương mại

Hồng Kông là một trong quốc gia/lãnh thổ phụ thuộc có mật độ dân dày đặcnhất, với mật độ chung hơn 6200 người trên km² Hồng Kông có tỷ lệ sinh 0,95 trẻtrên một người phụ nữ, một trong những nơi thấp nhất thế giới và thấp xa so với tỷ

lệ 2,1 trẻ em trên một phụ nữ cần để duy trì mức dân số hiện hữu Tuy nhiên, dân sốcủa Hồng Kông tiếp tục tăng do làn sóng dân di cư từ Trung Hoa Đại Lục khoảng45.000 người mỗi năm Tuổi thọ trung bình của dân Hồng Kông là 81,6 năm năm

2006, cao thứ 5 thế giới

Trang 6

Dân số Hồng Kông tập trung cao độ vào một khu vực trung tâm bao gồmCửu Long, Hồng Kông Cửu Long và phía Bắc Đảo Hồng Kông Phần còn lại dân cưthưa thớt với hàng triệu dân rải rác không đều khắp Tân Giới, phía Nam Đảo HồngKông và Đảo Lantau.

Tôn giáo: khoảng 43% tham gia vào một số hình thức tôn giáo thực hành

Đạo Cơ Đốc chiếm khoảng 9,6% Tất cả các tôn giáo chính được thực hiện tự dotôn giáo ở Hồng Kông

Giáo dục: Là một thuộc địa Anh, hệ thống giáo dục của Hồng Kông gần như

theo hệ thống giáo dục của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và đặc biệt

là hệ thống giáo dục Anh Tỷ lệ biết chữ ở Hồng Kông là 97,1% (trong đó ở nam là98,7% và ở nữ là 95,4%)

Lực lượng lao động (2008): 3,66 triệu người trong đó bán buôn, bán lẻ, kinh

doanh xuất nhập khẩu, nhà hàng và khách sạn chiếm 29,0%; tài chính, bảo hiểm, bấtđộng sản, kinh doanh và dịch vụ chiếm 14,3% và sản xuất chiếm 4,2%

Hình 2.2 Bảng số liệu về thu nhập bình quân đầu người của Hồng Kông

trong những năm gần đây.

Trang 7

Nguồn: World Development Indicator Database

2.1.3 Chính phủ.

Hồng Kông là một khu vực hành chính đặc biệt của Cộng hoà dân chủ nhândân Trung Hoa duới chính sách "Một Quốc gia, hai chế độ" Theo Luật Cơ bản vàvăn bản hiến pháp của Hồng Kông, chính quyền địa phương Hồng Kông nắm giữchủ quyền lãnh thổ ngoại trừ lĩnh vực quốc phòng và ngoại giao với Hiến phápriêng của mình Chỉ có Trưởng Đặc khu, người đứng đầu lãnh thổ và là người đứngđầu chính quyền là được bầu chọn bởi Ủy ban Bầu cử Trưởng Đặc khu bao gồm

800 thành viên Tất cả các viên chức khác của chính quyền, bao gồm các thành viêncủa các cơ quan hành pháp và lập pháp đều hoặc là được Trưởng Đặc khu bổ nhiệm(trực tiếp hay ủy nhiệm) hoặc được cử tri bầu ra Trên lý thuyết, việc quy định nàyđảm bảo Hồng Kông được quản lý hầu như độc lập khỏi Cộng hòa Nhân dân TrungHoa và có thể gìn giữ được hạ tầng cơ sở kinh tế, pháp luật, văn hoá độc nhất củamình Donald Tsang hiện đang giữ chức Trưởng Đặc khu sau khi ông được bầu cửngày 16 tháng 6 năm 2005 bởi một hội đồng bầu cử được bổ nhiệm bởi Bắc Kinh

Trong khi tiếp tục duy trì những luật lệ và thông lệ của chính quyền Anhtrước đây, chính quyền Hồng Kông nhường quyền điều khiển thị trường cho các lựclượng thị trường và khu vực tư nhân Kể từ năm 1980, nhìn chung, chính quyền đãđóng một vai trò thụ động theo “chủ nghĩa tích cực nhưng không can thiệp” ( làchính sách kinh tế của Hồng Kông từ thời kỳ là thuộc địa của Anh, được chính thứctriển khai thực hiện vào năm 1971), Hồng Kông thường xuyên được xem như làmột hình mẫu của “chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh” về mặt thực tiễn

2.1.4 Kinh tế.

Kinh tế Hồng Kông là một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển được xâydựng trên nền kinh tế thị trường, thuế thấp và ít có sự can thiệp kinh tế của chínhphủ Hồng Kông là một trong những nền kinh tế mở và năng động nhất thế giới,đây là một trung tâm tài chính, thương mại quan trọng và là nơi tập trung nhiều đạibản doanh công ty của khu vực châu Á-Thái Bình Dương Nếu tính về GDP bìnhquân đầu người và tổng sản phẩm nội địa, Hồng Kông là trung tâm đô thị giàu nhất

ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hồng Kông được xếp hạng nhất thế giới về tự dokinh tế trong 13 năm liên tục, kể từ khi có chỉ số này vào năm 1995 Thành phố nàycũng nằm ở vị trí thứ nhất trong Báo cáo Tự do Kinh tế của Thế giới Cùng với

Trang 8

Singapore, Hàn Quốc, và Đài Loan, Hồng Kông được gọi là một trong “Bốn con hổchâu Á” do tốc độ tăng trưởng cao và công nghiệp hóa nhanh chóng trong thời kỳ từthập niên 1960 đến thập niên 1990.

Kinh tế Hồng Kông chủ yếu là dịch vụ Tỷ trọng của khu vực này trong GDPcủa Hồng Kông lên đến 90% Hồng Kông có được một nền kinh tế mạnh mẽ, baogồm hệ thống ngân hàng vững chắc, hầu như không có nợ công, một hệ thống phápluật bền vững, dự trữ ngoại tệ phong phú, chính sách chống tham nhũng khắt khe vàrất có hiệu quả Hệ thống kinh tế tự do của Hồng Kông có khả năng phản ứng nhanhchóng với những trường hợp dễ thay đổi và vẫn đang tiếp tục những biện phápnhằm nâng cao tính hấp dẫn của nền kinh tế như là một trung tâm thương mại củathế giới, đặc biệt là sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới(WTO), và vẫn không ngừng cải tiến cấu trúc tài chính

Hồng Kông đã thiết lập các quan hệ thương mại và đầu tư sâu rộng vớiTrung Hoa đại lục từ trước khi chuyển giao chủ quyền cho Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa và Chính phủ Hồng Kông đang cố gắng mở rộng liên kết kinh tế với khuvực Châu thổ sông Châu ( Pearl River Delta ) nhằm duy trì vị trí cửa ngõ của HồngKông với Trung Quốc, những nỗ lực này còn bao gồm việc ký kết về tự do thươngmại với Trung Quốc “The Closer Economic Partnership Arrangement” (CEPA),theo đó tất cả những hàng hoá có xuất xứ từ Hồng Kông sẽ được miễn thuế hoàntoàn và có những ưu đãi trong 40 khu vực dịch vụ

Đơn vị tiền tệ của Hồng Kông là Dollar Hồng Kông Kể từ năm 1983, đồngtiền này đã được neo chặt vào Dollar Mỹ Đồng tiền này được phép trao đổi với mộtdải tỷ giá từ 7,75 và 7,85 dollar Hồng Kông ăn một dollar Mỹ Sở giao dịch chứngkhoán Hồng Kông lớn thứ 6 thế giới, với giá trị vốn hóa thị trường khoảng 1.710 tỷUSD Năm 2006, giá trị các cuộc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thựchiện ở Hồng Kông xếp thứ 2 thế giới chỉ sau thị trường chứng khoán Luân Đôn

Hình 2.3 Bảng số liệu về Tổng sản phẩm quốc nội của Hồng Kông trong

những năm gần đây.

2004 165,840,800 32

Trang 10

2.1 Chiến lược ngoại thương của Hồng Kông.

2.1.1 Chiến lược hướng ngoại

Hồng Kông là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giớithời kỳ hậu chiến Sau Thế chiến thứ hai, sự hồi phục nền kinh tế Hồng Kông dưới

sự kiểm soát của Anh và Bắc Ireland thời hậu chiến chỉ diễn ra từ từ và có phầnchậm lại sau khi Liên Hợp Quốc ra lệnh cấm vận thương mại với Trung Quốc trongChiến tranh Triều Tiên, khi đó Hồng Kông buộc phải phát triển các ngành côngnghiệp nội địa, dựa vào lợi thế của các nguồn lực trong nước, để tiếp tục phát triểnnhưng do có ít tài nguyên thiên nhiên trong khi đó thị trường trong nước lại nhỏ hẹpnên chiến lược hướng nội trên đã gặp phải nhiều hạn chế đặc biệt là sự gia tăng củacác khoản nợ nước ngoài Do đó, ngay từ đầu những năm 60, Hồng Kông đã tìmcách chuyển hướng chiến lược, sử dụng chính sách hướng ngoại, công nghiệp hoátheo hướng xuất khẩu nhằm khắc phục những hạn chế vốn có bằng cách dựa vào thịtrường quốc tế rộng lớn Chính sách hướng ngoại này đã chứng tỏ sự thành côngkhông chỉ ở Hồng Kông mà sau đó còn ở môt số nền kinh tế Châu Á khác như HànQuốc, Singapore, Đài Loan và một thời gian ở Brazil và Mexico

Nội dung chiến lược hướng ngoại:

Mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, xây dựng Hồng Kông trởthành một cảng quốc tế với thuế thấp và có ít hàng rào thương mại

Sản xuất những mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều nhất những yếu tố có sẵntrong nước

Thực hiện nhất quán chính sách giá cả: giá hàng trong nước phải phản ánhsát với hàng trên thị truờng quốc tế và phản ánh được sự khan hiếm của các yếu tốtrong nước

Trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược hướng ngoại, tập trung vào sản xuấthàng công nghiệp và dịch vụ sử dụng nhiều lao động nhằm tận dụng lợi thế về giánhân công làm cho chi phí sản xuất sẽ tương đối thấp hơn so với thị trường quốc tế

2.2.2 Các chính sách thúc đẩy chiến lược hướng ngoại của Hồng Kông

Chính phủ Hồng Kông nói chung theo đuổi chính sách không can thiệp vàocác quyết đinh thương mại, thuế thấp và có thể dự báo Ngoài một số ngoại lệ, chínhphủ cho phép tác động thị trường quyết định tiền công và giá cả, không giới hạn

Trang 11

lượng vốn và đầu tư nước ngoài chảy vào Hồng Kông Hồng Kông là một cảngmiễn thuế với một số rào cản thương mại đối với hàng hoá và dịch vụ.

Thuế lợi nhuận doanh nghiệp là 16%, thuế thu nhập cá nhân cao nhất là 15%.Bất động sản bị đánh thuế nhưng tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận đầu tư và doanh thu thìkhông

Cấu trúc chính sách: Chính phủ Hồng Kông không có những chính sách về

giá cả, trừ một số ngành như năng lượng, là ngành chỉ có 2 công ty độc quyền thịtrường Thậm chí ngay cả trong những khu vực quản lý, chính phủ cũng tiếp tụccho phép sự liên kết tự do giữa các ngành với nhau Mức thuế đối với cá nhân vàdoanh nghiệp của Hồng Kông vẫn duy trì ở mức thấp và không đánh thuế nhậpkhẩu cũng như xuất khẩu Lãi suất đối với tất cả các loại tiền gửi được quyết địnhbởi tác động của thị trường

Chính sách tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ chuyển đổi đơn vị tiền tệ

từ nước này ra những đơn vị tiền tệ của nước khác, tỷ giá này phản ánh giá trị đồngtiền một nước so với giá trị đồng ngoại tệ trong từng thời kỳ, tỷ giá hối đoái có tácđộng lớn tới quan hệ ngoại thương, khi đồng tiền trong nước giảm giá thì hàng hoánhập khẩu vào nước đó sẽ đắt đỏ hơn và trái lại hàng hoá xuất khẩu sang nước khác

sẽ rẻ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoá Ngược lại nếu đồng tiềntrong nước lên giá, hàng hoá nước ngoài nhập vào sẽ rẻ hơn và hàng hoá xuất khẩu

sẽ đắt đỏ hơn, tạo cơ hội cho các nhà nhập khẩu Do đó, khi thực thi chiến lướchướng ngoại điều cần thiết là duy trì tỷ giá hối đoái sao cho các nhà sản xuất trongnước có lãi khi bán các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của họ trênthi trường quốc tế

Đơn vị tiền tệ của Hồng Kông là Dollar Hồng Kông Kể từ năm 1983, đồngtiền này đã được neo chặt vào Dollar Mỹ Đồng tiền này được phép trao đổi với mộtdải tỷ giá từ 7,75 và 7,85 dollar Hồng Kông ăn một dollar Mỹ Hồng Kông luônluôn duy trì mức tỷ giá như vậy một các chắc chắn nhằm đảm bảo sự ổn định củađồng tiền, đây chính là nền tảng trong chính sách tiền tệ của Chính phủ Hồng Kông

Có thẩm quyền trong việc duy trì tỷ giá của Dollar Hồng Kông cũng như sự ổn định

và tình trạng nguyên vẹn của hệ thống tài chính và tiền tệ là Hong Kong MonetaryAuthority

Trang 12

Dưới sự liên kết về tỷ giá,nhìn chung giá trị hối đoái của Dollar Hồng Kông

bị ảnh hưởng phần lớn bởi sự vận động của Dollar Mỹ so với các loại tiền chínhkhác

Chính sách hàng rào thương mại: như đã nói ở trên, Hồng Kông là một

cảng miễn thuế, không có hạn ngạch, hàng rào thuế quan cũng như luật bán phá giá.Chỉ có một số hàng rào đối với số ít các hàng hoá nhập khẩu như dệt, gạo, thịt, thựcvật và vật nuôi Chính phủ Hồng Kông yêu cầu giấy phép nhập khẩu đối với cácloại hàng hoá trên chủ yếu bởi vì chúng có liên quan đến tiêu chuẩn về sức khoẻnhưng những yêu cầu trên không phải là những ảnh hưởng lớn đến những nhà đầu

tư, xuất khẩu Ngoài ra còn có một số hàng rào đối với khu vực dịch vụ nhưng cóthể nói các công ty nước ngoài hoàn toàn có khả năng cạnh tranh trong thị trườngđầy sôi động của Hồng Kông

Chính sách trợ cấp xuất khẩu: chính phủ Hồng Kông không bảo vệ cũng

không trợ cấp trực tiếp cho những nhà sản xuất xuất khẩu Chính phủ cũng khônggiúp đỡ những nhà xuất khẩu về các ưu đãi tài chính, mức thuế đặc biệt hay miễnthuế cho việc nhập khẩu nguyên liệu, vật tư phục vụ cho việc sản xuất hàng xuấtkhẩu

Với những chính sách tự do thương mại nêu trên, Hồng Kông được đánh giá

là nền kinh tế tự do nhất thế giới kể từ năm 1996 đến nay và là một trong 10 nềnkinh tế cạnh tranh nhất thế giới

2.2.3 Tác động của chiến lược hướng ngoại đến phát triển kinh tế Hồng Kông.

Chiến lược hướng ngoại đã tạo ra cho Hồng Kông một cơ cấu kinh tế mới,năng động hơn Sự phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tác độngđến các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào cho các ngành xuất khẩu tạo ra “mốiquan hệ ngược” thúc đẩy sự phát triển của các ngành này Bên cạnh đó khi vốn tíchluỹ của nền kinh tế được nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo ra “mối liên hệ xuôi” lànguyên liệu cung cấp đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến và “mối liên hệxuôi” này được tiếp tục mở rộng Sự phát triển của tất cả các ngành này sẽ làm tăngthu nhập của những người lao động, tạo ra “mối liên hệ gián tiếp” cho sự phát triểncông nghiệp hàng tiêu dùng và dịch vụ

Trang 13

Hình 2.4 Đóng góp của các nhân tố vào GDP của Hồng Kông

(1980 – 2001)

Nguồn: HK Census and Statistics Department

Chiến lược hướng ngoại của Hồng Kông đã tạo điều kiện cho các doanhnghiệp trong nước ngày càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trườngquốc tế Bởi vì chiến lược này làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào thị trườngthế giới nhiều hơn là thị trường trong nước, do vậy các doanh nghiệp muốn đứngvững trong cạnh tranh phải dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế Thời kỳ đầu có thể có sựtrợ giúp của Nhà nước, song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định được vị trícủa mình Mặt khác thị trường thế giới rộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các doanhnghiệp thu được hiệu quả nhờ quy mô sản xuất lớn

Chiến lược hướng ngoại của Hồng Kông còn tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệđáng kể Nguồn thu nhập này vượt xa các nguồn thu nhập khác cả vốn vay và đầu tưcủa nước ngoài Đối với nhiều nước đang phát triển, ngoại thương đã trở thànhnguồn tích luỹ vốn chủ yếu trong giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá.Đồng thời có ngoại tệ đã tăng được khả năng nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết

bị và nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển của ngành công nghiệp

Trang 14

Hình 2.5 Xếp hạng các nuớc có lượng dữ trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới

Nguồn: IMF and CEIC Data Company database

2.3 Thực trạng hoạt động ngoại thương Hồng Kông

Trang 15

Hải quan Hồng Kông ước định thuế dựa trên giá trị của hàng hoá, thuế nhập khẩuphải được nộp trước khi hàng hoá đến nơi.

Chống bán phá giá: không

Thuế phụ thu (Additional Duties): không

Phí hải quan: không

Kiểm soát ngoại hối (Exchange Controls): không

Phí lãnh sự (Consular Fees): không

o Cacbon đioxyt đậm đặc (Dry Ice)

o Thuốc cá nhân (Personal Drugs)

o Thuốc nguy hiểm

o Hoá chất bị kiểm soát

o Hoá chất nguy hiểm

Hạn chế nhập khẩu.

Hồng Kông có rất ít các hạn chế thương mại, giấy phép nhập khẩu được yêu cầuchỉ để Hồng Kông thực hiện các cam kết quốc tế Những sản phẩm dưới đây bắtbuộc phải có giấy phép xuất khẩu:

o Thuốc nguy hiểm và dược phẩm

o Thực vật, động vật gây nguy hiểm và các sản phẩm có nguồn gốc từchúng

o Động vật sống và các sản phẩm động vật như da chó (dog skin), răngnănh

o Thực vật và các loài phá hoại cây trồng

Trang 16

o Thuốc trừ sâu.

o Chất phóng xạ và các dụng cụ chiếu xạ

o Các sản phẩm chiến lược như thiết bị viễn thông hay các sản phẩm quân sự

o Chất nổ, pháo hoa, súng cầm tay các loại và đạn, vũ khí

o Vải sợi

o Gạo, thịt, gia cầm

o Máy truyền phát sóng (bao gồm cả điện thoại di động)

o Chất ảnh hưởng môi trường

2.3.1.2.Cấu trúc nhập khẩu.

Nhu cầu nhập khẩu của Hồng Kông tăng liên tục trong những năm qua trong

đó bao gồm 2 loại hình:

 Nhập khẩu hữu hình: là việc nhập khẩu các loại hàng hoá thông thường

 Nhập khẩu vô hình ( hay còn gọi là nhập khẩu dịch vụ): là việc nhập khẩu cácloại hàng hoá vô hình, mang tính chất dịch vụ như vận tải, du lịch, bảo hiểm, tàichính…vv…

Nhập khẩu hữu hình (hàng hoá)

Hàng hoá nhập khẩu của Hồng Kông chủ yếu gồm 5 nhóm hàng chính:

 Thực phẩm

 Hàng tiêu dùng

 Nguyên liệu thô và bán sản phẩm

 Chất đốt

 Tư liệu sản xuất

Hàng hoá nhập khẩu hoặc được giữ lại tiêu dùng trong nuớc hoặc được tái xuấtkhẩu trong đó hàng hoá dành cho tiêu dùng trong nước chỉ chiếm khoảng ¼ tổng sốhàng hoá nhập khẩu

Những nhóm mặt hàng chủ yếu dùng để tái xuất khẩu là hàng tiêu dùng, nguyênliệu thô và bán sản phẩm, tư liệu sản xuất trong đó nhóm hàng thực phẩm và chấtđốt được nhập khẩu phục vụ chính cho tiêu dùng trong nước

Những năm trước đây, hàng tiêu dùng chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong giá trị nhậpkhẩu của Hồng Kông nhưng những năm gần đây, nguyên liệu thô và bán sản phẩm

Trang 17

cung với tư liệu sản xuất đã chiếm phần lớn tỉ trọng nhập khẩu qua đó nói lên được xuhướng phát triển mới của Hồng Kông nói chung cũng như xuất khẩu lại nói riêng.

Nhập khẩu vô hình (dịch vụ)

Nhập khẩu dịch vụ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng giá trị nhập khẩu của HồngKông, chủ yếu là các dịch vụ song song trong quá trình nhập khẩu hàng hoá

Do nền kinh tế phát triển nhanh và thu nhập của người dân khá cao nên nhu cầu

du lịch của Hồng Kông là khá lớn làm cho dịch vụ du lịch chiếm tỉ trọng cao nhấtkhoảng 40% tổng giá trị nhập khẩu bên cạnh đó do nhu cầu nhập khẩu tăng caotrong những năm gần đây cũng làm cho nhu cầu nhập khẩu dịch vụ vận tải tăng lênbên cạnh đó là các dịch vụ như bảo hiểm, tài chính và các dịch vụ liên quan khác

Hình 2.6 Phân bổ giá trị nhập khẩu của Hồng Kông qua các nhóm hàng hoá chính

Đơn vị: tỷ $HK

Trang 18

Nguồn: HK Census and Statistics Department

Import: Nhập khẩu

Retained Import: Nhập khẩu giữ lại

Re-export: Xuất khẩu lại

Trang 19

Hình 2.7 10 sản phẩm nhập khẩu chính của Hồng Kông (1993-2007)

Máy văn phòng và máy dữ liệu

Tạp phẩm Quần áo Vải sợi Phi kim Chất dẻo

Chất đốt

và các sp liên quan

Dụng cụ quang học, đồng hồ

Tất cả các sản phẩm

Trang 20

2.3.1.3.Đối tác nhập khẩu.

10 thị trường nhập khẩu chính của Hồng Kông bao gồm: Trung Quốc đại lục,Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Singapore, Hàn Quốc, Malaysia, Đức, Thái Lan vàPhilippines

Những năm 60 và 70 trước đây, Nhật Bản luôn đóng vai trò là thị trườngnhập khẩu chính của Hồng Kông với giá trị nhập khẩu chiếm từ 20-25% tổng giátrị nhập khẩu Nhưng từ những năm 80 trở lại đây, với sự bùng nổ phát triển củakinh tế kèm theo đó là sự đi lên của chất lượng sản phẩm và dịch vụ, cùng với lợithế về địa lý cũng như giá cả, Trung Quốc đại lục đã trở thành đối tác nhập khẩu lớnnhất của Hồng Kông khi chiếm khoảng 45-50 % tổng giá trị nhập khẩu

Trong khi đó, Mỹ cũng là một thị trường nhập khẩu lớn của Hồng Kông từtrước đến nay khi giá trị nhập khẩu từ Mỹ luôn chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng giá trịnhập khẩu của Hồng Kông tuy nhiên mức tăng của nhập khẩu từ Mỹ đang có xuhướng chậm lại

Có thể thấy xu hướng nhập khẩu mới của Hồng Kông là chú trọng đến cácthị trường có khoảng cách địa lý gần, có sự cạnh tranh về giá cả hơn nhằm giảm bớtcác chi phí liên quan, tạo thêm sức cạnh tranh cho tái xuất khẩu Bằng chứng là việcĐài Loan, Singapore và Hàn Quốc đang dần dần thay thế 3 thị trường nhập khẩu lớnnhất của Hồng Kông trước đây là Nhât Bản, Mỹ và Đức cùng với đó là giá trị nhậpkhẩu ngày càng tăng từ thị trường Thái Lan và Philippines

Trang 21

Hình 2.8 Giá trị nhập khẩu từ 10 đối tác chính của Hồng Kông (1979-2007)

Trang 22

2.3.2 Xuất khẩu.

2.3.2.1.Cấu trúc xuất khẩu.

Hàng tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp nhẹ là những mặt hàng xuất khẩuchủ yếu của Hồng Kông, cũng giống như nhập khẩu, xuất khẩu của Hồng Kôngbao gồm 2 loại hình chính:

Xuất khẩu hữu hình (hay xuất khẩu hàng hoá): là việc xuất khẩu các hàng

hoá thông thường Xuất khẩu hữu hình bao gồm 2 phương thức chính:

 Xuất khẩu nội địa

 Tái xuất khẩu

Xuất khẩu vô hình ( hay xuất khẩu dịch vụ): là việc xuất khẩu các loại hànghoá vô hình mang tính chất dịch vụ như du lịch, vận tải, bảo hiểm, tài chính…vv…

Xuất khẩu nội địa.

Xuất khẩu nội địa là việc xuất khẩu những sản phẩm được sản xuất tronglãnh thổ Hồng Kông

Sản phẩm chủ yếu của xuất khẩu nội địa là hàng tiêu dùng bao gồm quần áo,vải sợi và tạp phẩm trong đó quần áo chiếm tỉ trọng lớn nhất trong xuất khẩu nội địavới khoảng 40% tổng giá trị xuất khẩu

Với sự phát triển của xuất khẩu lại cũng như công nghiệp chế biến, các sảnphẩm công nghiệp nhẹ của nội địa đã không còn phát triển như những năm 60-70trước đây và đóng góp rất ít vào tỉ trọng của xuất khẩu nội địa

Thị trường xuất khẩu chủ yếu của hàng hoá nội địa là Mỹ, Trung Quốc đạilục, Anh, Đức, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Hà Lan, Macao và Úc trong đóTrung Quốc đại lục là thị trường lớn nhất

Nếu như những năm 60 – 70 và giữa những năm 80, hàng nội địa HồngKông chủ yếu xuất khẩu sang Mỹ, Anh và Đức trong khi hầu như không xuất khẩusang Đại lục thì từ cuối những năm 80 đến nay thị trường Đại lục phát triển mạnh

mẽ và chiếm phần lớn tỷ trọng xuất khẩu của hàng nội địa Hồng Kông, trong khi thịtrường Mỹ và các thị trường Châu Âu đang có xu hướng giảm do ảnh hưởng củaviệc đi xuống của nền kinh tế thế giới, bên cạnh đó có thể thấy xu hướng đa dạngthị trường xuất khẩu của Hồng Kông mà điển hình là thị trường Đài Loan và

Trang 23

Singapore khi tỉ trọng xuất khẩu sang hai thị trường này đã vượt qua các thị trườngChâu Âu khác như Đức.

Tuy nhiên, có thể thấy giá trị xuất khẩu của hàng hoá nội địa tăng lên mạnh

mẽ vào những năm 80-90 nhưng đang có xu hướng giảm dần những năm gần đây

và không còn đóng góp nhiều vào tăng trưởng kinh tế của Hồng Kông

Hình 2.9 Bảng thống kê 10 sản phẩm xuất khẩu nội địa chính của Hồng Kông

dữ liệu

Tạp phẩm

Máy điện và các dụng cụ điện

Chất dẻo

Vải sợi

Kim loại Điện

Kim loại màu

Thuốc lá

Tất cả các sản phẩm

Trang 24

Hình 2.10 Bảng thống kê giá trị xuất khẩu hàng hoá nội địa tới 10 thị trường chính của Hồng Kông (1987-2007)

Trang 25

Tái xuất khẩu.

Tái xuất khẩu là việc những sản phẩm sản xuất bên ngoài lãnh thổ HồngKông, đặc biệt ở Trung Hoa đại lục, đầu tiên được nhập khẩu vào Hồng Kông Sau

đó, lại được xuất khẩu đi nơi khác mà không có bất cứ sự thay đổi nào

3 nhóm mặt hàng chính cho xuất khẩu lại của Hồng Kông bao gồm: hàngtiêu dùng, sản phẩm công nghiệp nhẹ và các sản phẩm chế biến từ nguyên liệu thô

Các sản phẩm xuất khẩu lại chính trong nhóm hàng tiêu dùng bao gồm quần

áo, vải sợi, giầy dép, tạp phẩm

Các sản phẩm xuất khẩu lại chính trong nhóm hàng sản phẩm công nghiệpnhẹ bao gồm: các máy điện và các dụng cụ điện, thiết bị viễn thông, máy văn phòng

và máy dữ liệu, dụng cụ quang học và đồng hồ

Các sản phẩm xuất khẩu lại chính trong nhóm hàng sản phẩm chế biến từnguyên liệu thô bao gồm: chất dẻo và phi kim

Những năm trước đây, hàng tiêu dùng là nhóm hàng chủ lực đối với xuấtkhẩu lại của Hồng Kông khi đóng góp tới gần ½ giá trị xuất khẩu lại của HồngKông nhưng trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghiệp chếbiến thì nhóm sản phẩm công nghiệp nhẹ đã dần dần thay thế hàng tiêu dùng để trởthành nhóm hàng chủ lực của xuất khẩu lại khi chiếm tới gần 2/3 tổng giá trị xuấtkhẩu lại

10 thị trường chính của tái xuất khẩu Hồng Kông bao gồm: Trung Quốc đạilục, Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Hà Lan và Pháp

Những năm 60-70, Nhật Bản, Mỹ, Singapore và Đài Loan là những thịtrường xuất khẩu chính của tái xuất khẩu Hồng Kông khi chiếm tới gần 50% tổnggiá trị xuất khẩu nhưng từ những năm 80 đến nay, thị trường Đại lục trở thành đốitác xuất khẩu quan trọng nhất của Hồng Kông do nhu cầu phát triển cũng như sựbùng nổ về kinh tế, khi luôn chiếm từ 40-50% tổng giá trị xuất khẩu lại Trong khi

đó, có thể thấy sự thay thế của thị truờng Anh, Đức và Hàn Quốc đối với thị trườngĐài loan, và Singapore khi giá trị xuất khẩu đến những thị trường trên có sự tăngtrưởng mạnh mẽ trong những năm vừa qua

Nhìn chung, tái xuất khẩu là một vũ khí chiến lược của xuất khẩu nói riêng cũngnhư nền kinh tế Hồng Kông nói chung khi giá trị của nó liên tục tăng nhanh trong

Ngày đăng: 22/04/2014, 13:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Wikipedia tiếng Việt (http://vi.wikipedia.org) Link
4. Wikipedia, the free encyclopedia (http://en.wikipedia.org) Link
5. HK Census and Statistics Department (http://www.censtatd.gov.hk) Link
6. Hong Kong Government Website (http://www.gov.hk) Link
7. Hong Kong Economy Website (http://www.hkeconomy.gov.hk) Link
8. Development And Contribution Of Hong Kong’s Manufacturing And Trading Sector (http://info.hktdc.com/econforum/tdc/tdc061103.htm) Link
9. Country Reports On Economic Policy And Trade Practices (http://foreignaffairs.house.gov/archives/107/77259.pdf) Link
10. Export Performance In Hong Kong – Offshore Trade And Re-exports (http://www.info.gov.hk/hkma/eng/public/qb200306/fa1.pdf) Link
11. External Trade Sector Of Hong Kong (http://www.hkeconomy.gov.hk/en/pdf/er_08q2_ch2.pdf) Link
16. Encyclopedia Of The Nations - Hong Kong International Trade (http://www.nationsencyclopedia.com/economies/Asia-and-the-Pacific/Hong-Kong-INTERNATIONAL-TRADE.html) Link
17. Hong Kong: Economic Policy Analysis (http://www.mkeever.com/hongkong.html) Link
1. Giáo trình kinh tế phát triển trường ĐHKTQD Khác
2. Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin dùng cho khối ngành kinh tế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Bản đồ tổng thể Hồng Kông - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.1 Bản đồ tổng thể Hồng Kông (Trang 5)
Hình 2.2. Bảng số liệu về thu nhập bình quân đầu người của Hồng Kông  trong những năm gần đây. - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.2. Bảng số liệu về thu nhập bình quân đầu người của Hồng Kông trong những năm gần đây (Trang 6)
Hình 2.3. Bảng số liệu về Tổng sản phẩm quốc nội của Hồng Kông trong  những năm gần đây. - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.3. Bảng số liệu về Tổng sản phẩm quốc nội của Hồng Kông trong những năm gần đây (Trang 8)
Hình 2.4. Đóng góp của các nhân tố vào GDP của Hồng Kông (1980 – 2001) - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.4. Đóng góp của các nhân tố vào GDP của Hồng Kông (1980 – 2001) (Trang 13)
Hình 2.5. Xếp hạng các nuớc có lượng dữ trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới   ( 1995 – 2005) - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.5. Xếp hạng các nuớc có lượng dữ trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới ( 1995 – 2005) (Trang 14)
Hình 2.7. 10 sản phẩm nhập khẩu chính của Hồng Kông (1993-2007) - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.7. 10 sản phẩm nhập khẩu chính của Hồng Kông (1993-2007) (Trang 19)
Hình 2.8. Giá trị nhập khẩu từ 10 đối tác chính của Hồng Kông (1979-2007) - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.8. Giá trị nhập khẩu từ 10 đối tác chính của Hồng Kông (1979-2007) (Trang 21)
Hình 2.9. Bảng thống kê 10 sản phẩm xuất khẩu nội địa chính của Hồng Kông  (1993-2007) - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.9. Bảng thống kê 10 sản phẩm xuất khẩu nội địa chính của Hồng Kông (1993-2007) (Trang 23)
Hình 2.10.  Bảng thống kê giá trị xuất khẩu hàng hoá nội địa tới 10 thị trường  chính của Hồng Kông (1987-2007) Đơn vị: triệu $ HK - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.10. Bảng thống kê giá trị xuất khẩu hàng hoá nội địa tới 10 thị trường chính của Hồng Kông (1987-2007) Đơn vị: triệu $ HK (Trang 24)
Hình 2.11.  Bảng thống kê 10 sản phẩm xuất khẩu lại  chính của Hồng Kông (1997-2007) - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.11. Bảng thống kê 10 sản phẩm xuất khẩu lại chính của Hồng Kông (1997-2007) (Trang 26)
Hình 2.13. Biểu đồ miêu tả xuất khẩu dịch vụ của Hồng Kông năm 2007 - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.13. Biểu đồ miêu tả xuất khẩu dịch vụ của Hồng Kông năm 2007 (Trang 28)
Hình 2.14. Giá trị xuất khẩu dịch vụ tới những thị trường chính của Hồng   Kông (1995-2006) - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.14. Giá trị xuất khẩu dịch vụ tới những thị trường chính của Hồng Kông (1995-2006) (Trang 29)
Hình 2.17.  Biểu đồ xuất khẩu của Hồng Kông đến thị trường Singapore Đơn vị: % - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.17. Biểu đồ xuất khẩu của Hồng Kông đến thị trường Singapore Đơn vị: % (Trang 31)
Hình 2.18.  Biểu đồ xuất khẩu của Hồng Kông đến thị trường Mỹ - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.18. Biểu đồ xuất khẩu của Hồng Kông đến thị trường Mỹ (Trang 31)
Hình 2.19. Biểu đồ miêu tả xuất khẩu Hồng Kông đối với thị trường EU Đơn vị: % - Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngoại thương  của Hồng Kông và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Hình 2.19. Biểu đồ miêu tả xuất khẩu Hồng Kông đối với thị trường EU Đơn vị: % (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w