Tô Hoài sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920 trong một gia đình làm nghề thủ công, tên thật là Nguyễn Sen. Ông sinh ra, lớn lên và thực sự gắn bó với quê ngoại là làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội). Thời thanh niên, Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau. Ông đến với nghề văn ở tuổi mười tám, đôi mươi và lấy bút danh là Tô Hoài. Cho đến nay, Tô Hoài đã viết trên 150 tác phẩm văn xuôi với nhiều thể loại, đề cập tới nhiều đề tài khác nhau, trong đó có khoảng 60 đầu sách cho trẻ em. Truyện đồng thoại là một thể loại đặc biệt của văn học, nhân vật chính thường là loài vật, thực vật và những vật vô tri, cũng có khi là con người. Đó là những câu chuyện sinh động về thế giới loài vật cũng như con người như những ẩn dụ về xã hội con người. Có thể nói, những tác phẩm viết về loài vật của ông có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì, truyện loài vật của ông “xét đén cùng, lại vẫn là hình ảnh phản chiếu thế giới loài người, hay nói cụ thể hơn, thế giới những nông dân nghèo và những người thợ dệt làng Nghĩa Đô đang trén đà sa sút, bần cùng hoá dưới chê độ thực dân” (Nguyễn Đãng Mạnh). Qua những tác phẩm này, ông cũng đã thể hiện rất rõ tâm hồn, lý tưởng của một người thanh niên khao khát tự do, mong muốn lật đỗ ách áp bức, bóc lột để giành độc lập dân tộc. Thể loại đặc biệt đó đã được nhà văn Tô Hoài sáng tạo một cách đặc sắc về nội dung và nghệ thuật qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
TÊN ĐỀ TÀI:
NHÀ VĂN TÔ HOÀI GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRUYỆN ĐỒNG THOẠI QUA DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ
SINH VIÊN: TRẦN THỊ THI THI
MÃ SV: 572
LỚP: ĐHGDTH
KÝ TÊN………
ĐỒNG THÁP, NĂM 2022
Trang 2ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Giảng viên chấm 2
(ký và ghi rõ họ tên)
Đồng Tháp, ngày ……tháng … năm 2022
Giảng viên chấm 1
(ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3MỞ ĐẦU
Tô Hoài sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920 trong một gia đình làm nghề thủ công, tên thật là Nguyễn Sen Ông sinh ra, lớn lên và thực sự gắn bó với quê ngoại là làng Nghĩa
Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội) Thời thanh niên,
Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau Ông đến với nghề văn ở tuổi mười tám, đôi mươi và lấy bút danh là Tô Hoài Cho đến nay, Tô Hoài đã viết trên 150 tác phẩm văn xuôi với nhiều thể loại, đề cập tới nhiều đề tài khác nhau, trong đó có khoảng 60 đầu sách cho trẻ em
Truyện đồng thoại là một thể loại đặc biệt của văn học, nhân vật chính thường là loài vật, thực vật và những vật vô tri, cũng có khi là con người Đó là những câu chuyện sinh động về thế giới loài vật cũng như con người như những ẩn dụ về xã hội con người
Có thể nói, những tác phẩm viết về loài vật của ông có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì, truyện loài vật của ông “xét đén cùng, lại vẫn là hình ảnh phản chiếu thế giới loài người, hay nói cụ thể hơn, thế giới những nông dân nghèo và những người thợ dệt làng Nghĩa Đô đang trén đà sa sút, bần cùng hoá dưới chê độ thực dân” (Nguyễn Đãng Mạnh) Qua những tác phẩm này, ông cũng đã thể hiện rất rõ tâm hồn, lý tưởng của một người thanh niên khao khát tự do, mong muốn lật đỗ ách áp bức, bóc lột để giành độc lập dân tộc Thể loại đặc biệt đó đã được nhà văn Tô Hoài sáng tạo một cách đặc sắc về nội dung
và nghệ thuật qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trang 4NỘI DUNG
Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài trải qua ba giai đoạn
Thời kì trước năm 1945, tác phẩm của Tô Hoài tập trung vào hai loại chính:
Truyện đồng thoại về loài vật, ví dụ: Dế Mèn phiêu lưu ký, Đám cưới Chuột, Dê và Lợn,
Trê và Cóc, Võ sĩ Bọ Ngựa và truyện về vùng ven đô, với cuộc sống lầm than của bà
con xóm thợ quê ông, tiêu biểu như tiêu biểu như: Giăng thề (truyện, 1941) Quê người (tiểu thuyêt, 1942); Nhà nghèo (tập truyện ngắn 1943; Xóm Giếng ngày xưa (truyện, 1943); cỏ dại (hồi kí 1943 )
Những năm kháng chiến tác phẩm về đề tài miền núi: Núi cứu quốc (tập truyện ngắn, 1949); Truyện Tây Bắc (1954)
Từ 1954 đến nay, sáng tác của ông ngày càng phong phú về đề tài và thể loại: truyện ngắn, truyện dài, hồi kí, bút kí, tiểu thuyết… nhưng có thể nói những sáng tác
Trang 5trong mảng truyện đồng thoại đã gây được tiếng vang lớn cho Tô Hoài và để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng bạn đọc, nhất là bạn đọc tuổi thơ Trong đó nổi bật nhất là truyện
Dế mèn phiêu lưu ký
Dế Mèn phiêu lưu ký ra đời năm 1941 Đó là thời kì đen tối nhất của xã hội Việt
Nam Dân ta bị “Thân một cổ ba tròng áp bức”, lầm than cơ cực không kể đâu cho hết Tô Hoài nằm trong số những thanh niên lúc bấy giờ sớm giác ngộ cách mạng, yêu hoà bình, ghét chiến tranh, mơ ước một cuộc sống tự do, bình đẳng và bác ái Khao khát được thể hiện lí tưởng, nhưng trong sự kiểm duyệt gắt gao của thực dân Pháp, Tô Hoài đành gửi gắm giấc mơ của mình vào các tác phẩm đồng thoại
Dế Mèn phiêu lưu ký là tác phẩm xuất sắc nhất trong nhiều tác phẩm ấy Tác phẩm không chỉ thể hiện ước mong đổi thay hoàn cảnh, khát vọng về một thế giới đại đồng mà còn bộc lộ thiên hướng văn chương của Tô Hoài qua khả năng quan sát tinh tế, hóm hỉnh; trí tưởng tượng phong phú, bay bổng; vốn từ ngữ giàu có, chính xác và một bút pháp miêu
tả độc đáo tài tình Đây cũng là tác phẩm có giá trị của văn học thiếu nhi Việt Nam
Truyện Dế Mèn phiêu lưu ký được nhà văn Tô Hoài xây dựng rất đặc sắc về nội dung Tác phẩm đã tái hiện được cuộc sống xã hội loài người trước cách mạng Tám với
sự thiếu hiểu biết hay phô trương, kiêu căng (như nhân vật thầy bói Cóc, chim Trả, võ sĩ
Bọ ngựa); yếu đuối, nhút nhát, sợ kẻ mạnh, sợ sự va chạm với mọi thứ chung quanh (như nhân vật Dế anh Hai, Dế Choắt); những con người có tính cố thủ, cố hủ (như nhân vật Dế anh cả); tự đắc một cách dở hơi như ếch Cốm đại vương; lười biếng, ăn chơi như Bướm
và Ve sầu; gặp khó rồi chán đòi đâm ra lẩm cẩm như Xiến Tóc; thẳng thắn ngay thật, sẵn
Trang 6sàng xả thân vì việc nghĩa như Dế Trũi; tốt bụng và có lí tưởng cao đẹp như Châu Chấu Voi,…Tất cả những đặc điểm nói về những nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện đúng với bản chất của xã hội nước ta trước năm 1945
Với việc chung sống trong môi trường hòa bình, đoàn kết với mọi người xung quanh Điều đó, thể hiện qua cách xây dựng nhân vật Dế Mèn chuyển biến tích cực qua từng giai đoạn
Thể hiện qua sự phát triển tính cách của Dế Mèn khi còn trẻ yêu lao động biết làm nhà nhiều ngách, thích vui chơi ca hát với mọi người xung quanh yêu đời, đoàn kết chan hòa với người dân(qua việc Mèn luôn có ý thức ăn uống điều độ cho cơ thể cường tráng, khoẻ mạnh; Mèn sửa sang nhà cửa thật khang trang, thoáng mát và luôn mong muốn tìm hiểu khám phá thế giới, luôn cảm thấy “ngày nào đêm nào, sớm và chiều nào cũng ngần
ấy thứ việc, thứ chơi Kể đời mà được như thế cũng khá an nhàn, nhưng mới đầu còn thấy hay hay, về sau cũng nhàm dần” ) Bên cạnh đó Mèn có ý thức hơn trong cuộc sống tự tin hơn và sống tự lập đó là khi còn trẻ và ngày càng lớn tính cách của Mèn thay đổi lúc này nhiễm nhiều thói xấu: hiếu thắng, ngông cuồng, táo tợn hơn nghĩ mình có sức mạnh
ức hiếp kẻ yếu thể hiện việc Mèn từ chối không giúp đỡ Dế Choắt đào hang, bắt nạt chị Cào Cào và gây ra cái chết cho chị Dế Choắt
Rồi với câu nói của Dế Choắt ở đời mà có thói hung hảng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đây” đã làm Mèn suy nghĩ rất nhiều, nhưng cái tính ngỗ ngược của Mèn không phải bỗng chóc đã sửa ngay được Khi Mèn bị bọn trẻ con bắt làm đồ chơi thì thói ngông cuồng của Mèn càng được dịp phát triển Sau vài trận chọi nhau và được công nhận là “nhà vô địch”, Mèn ngày càng tha hóa, biến chất dấn sâu vào tội ác và sự ngu muội không có ý thức được những việc nó làm Những lời
Trang 7tung hô chiến thắng đã đẩy Mèn tới đỉnh điểm của thói bất nhân Mèn đã bỏ ngoài tai mọi lời van xin của một chú dế con vừa mới ra đời ít hôm và đánh chú ta suýt chết
Sau khi bị bác Xiến Tóc nghiêm khắc cảnh cáo bằng lời và cắt cụt hai sợi râu, Mèn hoàn toàn tỉnh ngộ, thực sự tự vấn lại lương tâm mình Mèn kinh hoàng nhận ra rằng:
“Tôi chỉ làm ác mà tôi không biết”, “Cuộc đời đã nửa thời xuân mà chưa làm nổi điều gì gọi là có ích” Mèn tự thấy phải thay đổi nếp sống, nếp nghĩ: “Mới biết đời này hồ dễ ai bắt nạt nổi ai Ta đánh kẻ yếu hơn ta thì kẻ khác mạnh hơn ta đánh ta ”, Mèn đã tìm cách thoát khỏi bọn trẻ Trên đường về nhà, Mèn đã lập được chiến công mới là bảo vệ cô Nhà Trò yếu đuối tránh khỏi lũ nhện ăn thịt Mèn đã nêu cao một lẽ sông mới: “ở đời thương nhau là hơn, thù hằn độc ác làm gì” Cũng bắt đầu từ đó, Mèn luôn tâm niệm lời dạy của
mẹ phải rèn cho được tấm lòng chín chắn để mà đối nhân xử thế trong những cảnh ngộ khác nhau
“Tôi chỉ làm ác mà tôi không biết’’, “Cuộc đời nửa thời xuân mà chưa làm nổi điều
gì gọi là có ích’’ Mèn tự thấy phải thay đổi nếp sống, nếp nghĩ sống sao cho có ích với cuộc sống với mọi người và Mèn đã làm việc có ý nghĩa là cứu chị Nhà Trọ thoát khỏi lũ nhện ăn thịt Từ việc làm đó Mèn nêu cao lẽ sống mới “ Ở đời thương nhau là hơn, thù hằn độc ác làm gì’’.Cũng từ đó Mèn về quê để cảm nhận tình thương của mẹ lời dạy của
mẹ làm động lực cho mèn sau này nhưng khi về nhà gặp hai người anh nhưng anh cả thì
cổ hủ, lạc hậu, còn anh hai thì hèn nhát khiến Mèn quá thất vọng đã thất vọng với những tâm trạng và hoài bảo của thanh niên muốn chu du thiên hạ để khám phá thế giới bên ngoài
Trên đường đi Mèn gặp Dế Trũi và đã kết tình anh em và bắt đầu chuyến phiêu lưu Cũng trong thời gian này, Mèn gặp nhiều bạn tốt Mèn đã khám phá ra ý nghĩa thật của cuộc đời chính là lí tưởng mà đoàn Châu Chấu Voi đang ra sức phấn đấu thực hiện:
“Chúng ta cùng nhau đi khắp thế giới kết làm anh em” Mèn vượt qua mọi gian khổ, khó khan và chiến thắng mọi đối thủ Trải qua nhiều thăng trầm Mèn va chạm nhiều người, nhiều tính cách Mèn dần rèn cho mình phẩm chất và tính cách mới: khát khao hiểu biết, ham hành động, trọng tình nghĩa và coi thường danh lợi và dần hoàn thiện nhân cách của mình Đồng thời thể hiện tình cảm gắng bó, lý tưởng đoàn kết, chung sống hòa bình
Trang 8Tính cách của Mèn được định hình sau khi đã trải qua rất nhiều cảnh ngộ và va chạm, tiếp xúc với rất nhiều hạng người khác nhau
Trong cuộc đời, Mèn gặp không ít những tình huống éo le, ví dụ: một lần vì đùa ác
mà gây ra cái chết thảm thương cho Dê Choắt, hai lần bị cầm tù, một lần bị Xiến Tóc trừng phạt, một lần trôi dạt trên sông suýt chết, hai lần vì nóng nảy đã gây nên hai cuộc chiến không cần thiết với Châu Chấu Voi và với Kiến Sau mỗi lần va vấp, Mèn đều dành thời gian suy ngẫm, tự vấn lại lương tâm mình Mèn có ý thức sửa chữa lỗi lầm nên rất nhanh tiến bộ Hãy nghe suy nghĩ của Mèn: “Đường đời nhiều bài học, mỗi bài học một kiểu, chịu nghĩ thì học được, học giỏi, bằng không thì Nhưng cũng vì thế mà tôi tỉnh ngộ ”
Nói về tính cách của Dế Mèn, nhà văn Tô Hoài viết: “Dế Mèn yêu lao động, thích vui chơi, biết mơ ước, rất ghét đứa làm ác, cho nên khi gặp lý tưởng thì Dế Mèn giác ngộ
và có lý tưởng Đời hoạt động cho lý tưởng phải trải qua những cảnh ngộ éo le, gian khổ,
Dế Mèn và các bạn đã vượt qua và chiến thắng, vì vậy mới thành ra câu chuyện sóng gió
kì thú này” Nhưng tính cách ấy không phải ngẫu nhiên mà có Đó là kêt quả của cả một quá trình tôi luyện, thử thách và phấn đấu không mệt mỏi của Dế Mèn
Ngoài những nội dung đặc sắc tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký tác giả bộc lộ khả năng quan quát miêu tả tinh tế dí dỏm và tài hoa tác phẩm mang đến cho người đọc những trang kì thú về cuộc sống và những tính chất cơ bản của thế giới côn trùng, loài vật như một Dế Mèn cường tráng, một Dế Choắt gầy gò, một bác Xiến Tóc oai nghiêm, độ lượng Những cảnh miêu tả thiên nhiên một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế Tô Hoài đã cho bạn đọc tiếp xúc với những trang miêu tả thiên nhiên thật gợi cảm Tác giả đã bộc lộ một khả năng nhạy cảm và nắm bắt chính xác cái hồn của cảnh vật đó là một chút đổi thay của trời đất trong bồn mùa xuân, hạ, thu, đông; một nét vẽ tài hoa, lột tả cái hồn của cảnh vật ở những miền quê nơi Dê Mèn đặt chân tới Nếu không phải là người nhạy cảm và say
Trang 9đắm với thiên nhiên, khó có thể viết được những trang lôi cuốn lòng người như vậy Nghệ thuật miêu tả nhân vật về ngoại hình và tính cách nhân vật Dế Mèn kêu căng ngổ ngáo
“Tôi tợn lắm, dám cà khịa với tất cả bà con trong xóm Khi tôi to tiếng thì ai cũng nhịn Tôi đã quát mấy chị Cào Cào ngụ ngoài đầu bò Thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái, ghẹo anh Gọng Vó lấm láp vừa ngơ ngác dưới đầm lên ”
Tiếp theo là phép nhân cách hóa và tính chất biểu tượng về con người qua thế giới loài vật: Dế Choắt nhút nhát, thầy đồ Cóc văn vẻ khoe chữ, Bướm và Ve Sầu lời biếng
Tác giả còn sử dụng ngôn ngữ giàu có và sáng tạo độc đáo ngôn ngữ miêu tả so sánh đầy ấn tượng Người Dế Choắt với dáng người gầy gò, dài lêu nghêu, cánh ngắn củn, râu ria cụt lủn, mặt mũi ngân ngơ
“Óc bác Xiến Tóc dễ đã mủn ra thành miếng bột, không gợn một nếp nghĩ."
“Đã thanh niên rồi mà cánh chỉ ngắn củn đến giữa lưng, hở cả mạng sườn như người cởi trần mặc áo gi lê.”
Tô Hoài còn rất sáng tạo khi đưa lời ăn tiếng nói hàng ngày vào trong tác phẩm Có
thể tìm thấy trong Dế Mèn phiêu lưu kí rất nhiều những câu thành ngữ, tục ngữ (Đi một
ngày đàng học một sàng khôn, Tối lửa tắt đèn, Cá chậu chim lồng, Giá áo túi cơm, Ngựa non háu đá ), điều đó làm cho hệ thống ngôn ngữ của ông càng thêm phong phú, đa dạng, vừa giàu sắc thái biểu cảm của ngôn ngữ nghệ thuật, lại vừa có sự dung dị của ngôn ngữ đời thương
Sự hấp dẫn của ngôn ngữ còn thể hiện ở giọng kể chuyện luôn luôn thay đổi: có lúc thì duyên dáng, hóm hỉnh, có khi thì châm biếm hoặc nhạo báng sâu cay và có chỗ là ngòi bút trữ tình đằm thắm tạo nên sự xúc động sâu xa trong lòng người đọc Giọng điệu ấy luôn gắn liền với thái độ và tâm trạng của tác giả Nó bộc lộ sự yêu ghét, đồng tình hay phản đối rất rõ ràng Chính vì vậy, ở đây người đọc bắt gặp một cảm hứng nhân đạo sâu sắc của nhà văn cũng như của tác phẩm
Trang 10KẾT LUẬN
Qua tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký đã làm rõ đặc sắc về nội dung và nghệ thuật truyện đồng thoại của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám 1 945 ông đã mượn thế giới loài vật để nói lên những mong ước của con người trong thời kỳ đen tối nhất của xã hội Việt Nam, thể hiện rõ tâm hồn của một thanh niên khát khao tự do, mong muốn lật đổ ách
áp bức bóc lột để giành độc lập và ông đã thành công qua hình ảnh Dế Mèn Với tác phẩm này Tô Hoài đã khẳng định tiếng nói đặc sắc cũng như vị trí văn học độc đáo của Tô Hoài trong văn học Việt Nam nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Phạm Đăng Dư (chủ biên), Lê Lưu Oanh (2001), Giáo trình lý luận văn học, NXB
Giáo dục
2 Bài giảng: Văn học 1 – Hồ Thị Thu Hà, Lê Thanh Hằng
3 Trần Đức Ngôn, Dương Thu Hương (2001), Giáo trình Văn học thiếu nhi Việt Nam,
NXB GD
4 Vân Thanh (chủ biên), Nguyên An (2002), Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt
Nam (Tập 1), NXB Từ Điển Bách Khoa.