Đặc điểm chung của ô nhiễm hóa học Độc tính Ngộ độc cấp tính và mạn tính, gây ung thư Hành vi Không tự nhân lên như VSV Vi nấm: bảo quản thực phẩm không đúng cách Liên quan tới VSV: qu
Trang 1Chương 3: Ô nhiễm thực phẩm
bởi các tác nhân hóa học
Bộ môn Công nghệ Thực phẩm
1
Trang 3Đặc điểm chung của ô nhiễm hóa học
Độc tính Ngộ độc cấp tính và mạn tính, gây ung thư
Hành vi Không tự nhân lên như VSV
Vi nấm: bảo quản thực phẩm không đúng cách Liên quan tới VSV: quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm
3
Trang 4Nguồn gốc hóa học
Chất độc hóa học thường tích lũy vào trong mô tế bào gây bệnh
mãn tính và cấp tính
b) Các chất hóa học công nghiệp
ứng hệ thống thần kinh trung ương và nếu nồng độ cao sẽ gây chết người
d) Độc tố tự nhiên trong thực phẩm: Trong nhiều loài nấm độc có
độc tố gây chết người, độc tố ciguatera của cá được coi là độc
tố tự nhiên rất nguy hiểm
nhiễm thực phẩm như các chất phụ gia, các vật liệu bao gói, các chất tẩy rửa, làm sạch, chống gỉ
Trang 5Mối nguy hóa học
Hóa chất tẩy rửa Dầu Tảo độc
Kháng sinh Thuốc BVTV
Trang 6Ô nhiễm hóa học
1 Ô nhiễm do nguồn gốc tự nhiên
2 Độc tố hình thành trong quá trình bảo quản và chế biến
3 Hóa chất nông nghiệp, kim loại nặng
4 Ô nhiễm do phụ gia thực phẩm không đúng quy định
Trang 7Chương 3: Ô nhiễm thực phẩm
bởi các tác nhân hóa học
1 Ô nhiễm do Độc tố có nguồn gốc tự nhiên
Bộ môn Công nghệ Thực phẩm
7
Trang 8ĐỘC TỐ CÓ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN (biotoxin) Các chất độc của thực phẩm:
• Độc tính của một chất là khả năng sản sinh ra những hiệu ứng độc
hại cho cơ thể
• Gây tác động độc cho cơ thể, cấp tính ,bán cấp tính hoặc trường
diễn
• Gây độc ở một cơ quan hoặc nhiều cơ quan khác nhau trong cơ thể
Các chất phản dinh dƣỡng
• Tác động tới quá trình tiêu hóa hoặc trao đổi chất
• Các chất cạnh tranh với sự đồng hóa của các chất vô cơ
• Các chất làm vô hoạt các vitamin hoặc làm tăng nhu cầu vitamin
• Một chất phản dinh dưỡng có thể liên quan tới một hoặc với cả 3
nhóm
Trang 9• Hải sản : hàm lượng năng lượng thấp, giàu protein, chứa ít mỡ
(nhưng giàu mỡ không bão hoà), cholesterol gần như không đáng
kể (trừ tôm, mực), vitamin và chất khoáng phong phú…
• Hàng năm, tại Mỹ có 3, 3 đến 12, 3 triệu trường hợp ngộ độc, dẫn
đến 3.900 trường hợp tử vong do bảy tác nhân gây bệnh bắt nguồn
từ hải sản (nhưng những tác nhân thật sự không chỉ dừng ở con số bảy)
• Ở các nước đang phát triển: Chỉ riêng các tác nhân gây bệnh phổ
biến như cholera, campylobacter, E.coli, brucella, salmonella và
virus viêm gan A đã khiến 1, 5 tỷ người bị tiêu chảy và hơn 3
triệu trẻ em chết vì chứng bệnh này hàng năm
• Tại Việt Nam chưa có thống kê chính xác các trường hợp ngộ độc
hải sản Viện Hải dương học quốc gia đã công bố 39 loài hải
sản ở các vùng biển Việt Nam mang độc tố
1.1 Độc tố tự nhiên hải sản
Trang 10• Tảo biển như loài dinoflagellate và diatom Khi cá và các loài giáp xác ăn vào, độc chất sẽ tập trung vào nội tạng của chúng và gây ngộ độc khi con người ăn phải Bệnh do độc tố biển được xếp làm hai nhóm, phụ thuộc vào vật trung gian truyền bệnh là cá hay giáp xác
• Những độc tố gây tê liệt thần kinh, tiêu chảy và mất trí nhớ:
ciguatera, tetrodotoxin thường có trong cá, như cá nó hay một số
loài mực, bạch tuộc Chúng không mùi, không vị, không bị phân hủy khi gia nhiệt, đông lạnh, ướp muối, sấy khô hay xông khói và cũng không ảnh hưởng đến mùi vị của thực phẩm biển
• Ngộ độc ciguatera thường gặp ở Mỹ, Canada, vùng Caribbean, các
đảo Nam Thái Bình Dương… Có tới hơn 400 loài cá mang độc tố này như cá nhồng, cá song, cá trình, cá vẹt, cá hanh đỏ, cá voi, cá đối
• Các vi khuẩn cộng sinh trong một số loài cá (hơn 100 loài cá
nóc), bạch tuộc vòng xanh (mực vòng xanh) đã sản sinh ra độc tố
tetrodotoxin Nó tập trung nhiều ở gan, buồng trứng và ruột
Trang 12Các vi khuẩn cộng sinh trong một số loài cá (hơn
100 loài cá nóc), bạch tuộc vòng xanh (mực vòng xanh) đã sản ính ra độc tố tetrodotoxin Nó tập trung nhiều ở gan, buồng trứng và ruột
Chỉ cần 10 - 40 phút sau khi ăn cá nóc hay bạch tuộc xanh, người ăn sẽ ngứa ran vùng mặt, tê môi, lưỡi, miệng, tay, chân, đau đầu, vã mồ hôi, đau bụng, buồn nôn, nôn Trường hợp nặng sẽ gây khó nói, mất phối hợp, yếu cơ, mệt lả, tím tái, liệt hô hấp, ngừng thở… và tử vong trong 4 - 24 giờ
Bufotoxin
- Bufidin
- Bufonin
Gan cóc Trứng cóc Phủ tạng cóc
Phủ tạng cóc
Trang 1313
1.1 Độc tố hải sản
Tetrodotoxin
• Tetrodotoxin (TTX) C11H17O8N3
• Là bazơ yếu, không phải là protein
• Là chất độc thần kinh, rất độc, gây tử vong
cao
Trang 1414
1.1 Độc tố hải sản
• Độc tố cỏ núc Cỏ núc Puffer fish, cỏ núc Tetraodon sp
• Chất độc thần kinh (tỷ lệ tử vong gấp 10000 lần so với cyanure) mạnh nhất ức chế hoạt động bơm kênh K+ và Na+qua màng tế bào thần kinh cơ, ngừng dẫn truyền xung thần kinh-cơ, gây liệt cơ xơng, cơ hô hấp,…
• Độc tố cú bản chất phi protein, rất bền nhiệt (200 o C trong
10 phỳt); Gia nhiệt ở 100oC-6h mới giảm 50%
• Tan trong nước, khụng bị phỏ hủy bởi nhiệt
• Liều gõy độc: 1-4mg/50 kg thể trọng
• Độc chất tập trung ở buồng trứng, gan, ruột, mỡ cỏ
• Triệu chứng xuất hiện từ 0,5-3h sau khi ăn phải: mặt đỏ, tờ
bỡ chõn tay, mệt mỏi, gión đồng tử, đau bụng buồn nụn, liệt chi, liệt toàn thõn tử vong
Tetrodotoxin
Trang 15CHƯƠNG 1: ĐỘC TỐ CÓ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN
• Bạch tuộc đốm xanh ở Úc chứa tetrodotoxin do vi khuẩn sống cộng sinh ở tuyến nứơc bọt sản sinh ra; tích lũy độc
Trang 1818
• Độc tố ở cá và nhuyễn thể (hơn 400 loài)
khuẩn ký sinh tích lũy độc tố
• Triệu chứng xuất hiện từ 1-4h sau khi ăn phải: buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, gây độc hệ thần kinh, liệt tay chân tử vong
Ciguatoxin
Trang 1919
Ciguatoxin
Trang 2020
• Chất độc có trong gan, trứng, da, mủ (dịch tiết màu trắng đục từ các tuyến dưới da và mang tai), mắt và hạch thần kinh (dọc hai sống lưng) của một số loài cóc
• Triệu chứng: sau vài phút đến 1h: chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, rối loạn tiêu hóa, tim mạch, liệt hô hấp tử vong
Bufotoxin
Trang 21Ngộ độc Loại tảo gây độc Độc tố, theo FDA Triệu chứng TP
Độc tố gây tê liệt
( Paralytic shellfish
poisoning ,PSP )
Alexandrium, Pyrodinium and Gymnodinium
18 loại,phụ thuộc vào loài tảo, đặc điểm địa
lý và loài nhuyễn thể
mà mức độ gây độc khác nhau
0.8 ppm (80ug/100g) saxitoxin equivalent
- gây tê liệt tay, chân, hoa mắt,
mù tạm thời.Nặng hơn có thể liệt hô hấp gây tử vong
nhuyễn thể, điệp,vem
do nhuyễn thể, điệp (clam), trai,sò,vẹm (mussel) ăn tảo trong thời kỳ nở hoa
- độc tố do bản thân
cá và nhuyễn thể sinh
ra do chuyển hóa chất độc từ tảo
saxitoxins neurotoxins
0.8 ppm (20 mouse units/100g)
brevetoxin-2 equivalent
- Tê liệt hô hấp
- Bền nhiệt
- Tan trong nước
nhuyễn thể
Độc tố gây tiêu chảy
A forti
okadaic acid và các dẫn xuất của nó
0.2 ppm okadaic acid plus 35-methyl
okadaic acid
- Tiêu chảy, buồn nôn, không chết người
- Bền nhiệt
- Phân cưc cao
nhuyễn thể
nhuyễn thể
Ciguatera fish
poisoning (CFP
Gambierdiscus toxicus
four known toxins Cá Cá ăn phải tảo độc
hoăc cá ăn cá đã bị độc
Trang 2222
• Độc tố gây tê liệt do nhuyễn thể
ăn phải tảo độc (Dinoflagellate)
• Độc tố Sacideoxin sinh ra trong giai đoạn tảo nở hoa
• Triệu chứng: sau vài phút đến 3h:
tê liệt tay chân, hoa mắt, chảy nước bọt, mù tạm thời tử vong
• Không sử dụng nhuyễn thể đã chết
Độc tố tê liệt do nhuyễn thể (PSP)
Trang 2323
• Một số loài nhuyễn thể hai mảnh như vẹm, điệp bị nhiễm độc tố từ tảo
• Triệu chứng: sau khoảng 15ph đến 38h: nôn, tiêu chảy, đau đầu, hôn mê, mất trí nhớ tạm thời
Axit domoic (Độc tố mất trí nhớ do
nhuyễn thể ASP)
Trang 24Tảo biển
• Tảo biển có khoảng 25 ngàn loài Phân chia các ngành các
lớp tảo dựa vào chủ yếu là màu sắc mà chúng mang
Cyanophyta mang màu lam nên gọi là ngành lam tảo
Rhodophyta có màu đỏ nên gọi là ngành hồng tảo
Chlorophyta có màu xanh lá cây nên gọi là ngành lục tảo Chrysophyceae có màu vàng nên gọi là lớp kim tảo
Phaecophyceae có màu nâu nên gọi là lớp lục tảo
Trang 25Tảo biển
• Phycology hoặc Algology là ngành học nghiên cứu về tảo Thuật ngữ
Phycology xuất phát từ chữ phykos trong tiếng Hy Lạp nghĩa là
"seaweed"
• Tảo, được gọi là thallophytes, tản thực vật, là những thực vật thiếu
rễ, thiếu lá và thiếu cả thân(tảo không có hoa, còn thân, rễ của chúng
là các mô thẩm thấu, chứa trên 80% nước khoáng từ biển), chúng có chlorophyll đóng vai trò như sắc tố quang hợp sơ cấp và chúng thiếu lớp tế bào bất thụ đóng vai trò như lớp tế bào trợ dưỡng có nhiệm vụ bao quanh lớp tế bào sinh dục
• Các yếu tố tạo nên tảo gồm 75% là chất hữu cơ (lipid, protid, glucid, vitamin) và 25% là khoáng chất, các nguyên tố vi lượng như iốt,
magiê, fluo, kali nên rất có giá trị trong các lĩnh vực sức khỏe, dinh dưỡng
Trang 26Cyanoginosin Microcystis aeruginosa Gây đau gan
Liguatoxin Gram bierdiscus
Trang 27Khi “tảo biển nở hoa” hay thủy triều đỏ
• "Thủy triều đỏ" hay sự "nở hoa" của tảo là cách gọi để chỉ
hiện tượng bùng nổ về số lượng của tảo biển Sự "nở hoa" của
tảo có khi làm nước biển màu đỏ, có khi màu xanh, màu xám
hoặc như màu cám gạo
• Mầm mống của tảo sẵn có trong nước biển nên có thể "nở hoa"
bất cứ ở đâu khi gặp điều kiện thuận lợi, chẳng hạn như nhiệt độ tăng, việc trao đổi nước kém, hoặc điều kiện dinh dưỡng trong môi trường tăng, hay ô nhiễm môi trường biển
• Nước biển bỗng đỏ rực, sau chuyển sang xanh thẫm, rồi đen
ngòm như nước cống Cua, cá chết la liệt, san hô chết bạc trắng; rong biển, cỏ biển cũng chết Hầu hết sinh vật biển bị tiêu diệt Những ngày sau đó mùi hôi thối bốc lên… Đó là cảnh tượng
thường gặp do "thủy triều đỏ“ gây nên
Trang 28• Hiện tượng "nở hoa" thường đồng hành với sự giảm thiểu nhanh
chóng hàm lượng ô-xy trong nước tổn thưởng nhiều loài sinh vật biển trong tự nhiên và nuôi trồng (động vật biển giáp xác & thân mềm như cua, tôm, trai, sò, vẹm.)
• Nguy hiểm cho con người khi ăn phải những động vật đã bị nhiễm
độc này.
• Ven biển VN có khoảng 70 loài tảo có thể gây hại Thảm họa "thủy
triều đỏ" ở Bình Thuận trung tuần tháng 7/2002 làm 90% sinh vật
trong vùng triều bị tiêu diệt, ô nhiễm môi trường; 82 người phải nhập viện do tắm biển, với các triệu chứng ngứa, phồng rộp vùng da nhạy cảm; do loài tảo xanh lam "nở hoa", tiết độc tố vào nước biển
• Sự "nở hoa" của tảo xanh lam (vi khuẩn lam) còn xảy ra ở nhiều hồ
chứa nước ngọt, đe dọa sức khỏe người sử dụng nguồn nước
Trang 29Đợt tảo biển bùng phát nở hoa tại Leigh, gần Cape
Rodney, New Zealand (Ảnh: M Godfrey, NIWA)
Trang 30Chỉ có 12 nhóm tảo đƣợc dùng trong ẩm thực (Tảo rong nho, Tảo đỏ Dulse ,Tảo Spirulina …)
Trang 31Thủy triều đỏ
Công nghiệp chế biến sò, vẹm của bang New England
(Mỹ) chịu thiệt hại hàng triệu đô la trong suốt đợt bùng phát năm 2005, thủy triều đỏ đã giết chết 30 con lợn biển dọc theo bờ biển bang Florida trong mùa xuân
Trang 32• Cũng có những loài tảo không "nở hoa" nhƣng sản sinh độc tố;
cá và các loài hai mảnh vỏ ăn tảo sẽ tích lũy độc tố trong cơ thể
• 6 triệu chứng ngộ độc ở người do ăn phải những loài có tích lũy độc
tố tảo Những độc tố này không bị phá hủy trong quá trình đun nấu ỞVN, Trung tâm An toàn thực phẩm và vệ sinh thú y thủy sản (thuộc
Bộ Thủy sản) có trách nhiệm giám sát an toàn thực phẩm biển (chủ yếu là thân mềm hai mảnh vỏ) xuất khẩu sang thị trường châu Âu Tuy nhiên, nhiều địa phương nuôi vẹm xanh và các loài thân mềm hai mảnh vỏ khác lại chưa chú trọng vấn đề này
• Việc giám sát tảo gây hại ở một khu vực nhỏ (ví dụ như vịnh
Florida) của Mỹ tốn cả triệu USD mỗi năm Hằng năm, Trung Quốc cũng bỏ ra một ngân sách lớn để nghiên cứu và giám sát tảo gây hại
Ở nước ta, đầu tư cho lĩnh vực này còn rất khiêm tốn
Trang 33
SAM Dung nhan “thần chết”
• Ở Việt Nam hiện nay có hai loài sam, trong đó "sam so" hoặc "sam nhỏ", có độc tố tetrodotoxins, là một độc tố thần kinh mạnh, có khả năng gây liệt cơ hô hấp, ngưng thở, gây tử vong nhanh với liều độc rất thấp, hiện nay chưa có thuốc giải độc
• Loài này có đặc điểm: thường đi đơn lẻ, kích thước nhỏ không quá 20-25cm, toàn thân màu xanh nâu đậm, đuôi không có gờ mặt lưng và thường không có gai, tiết diện cắt ngang đuôi có
hình tròn hay hình trưng Đặc điểm này khác hoàn toàn so với loài
sam không có độc tố, thường đi cõng nhau từng đôi, kích thước lớn, đuôi thường có gai, tiết diện cắt ngang đuôi có hình tam giác Triệu chứng chung của các trường hợp này là li bì, lơ mơ, mệt, khó thở, tê
tứ chi và quanh vùng môi miệng Diễn tiến bệnh tình xảy ra rất
nhanh, thường chỉ sau 1- 2 giờ (tuỳ thể trạng từng người) là bệnh
nhân đã cận kề cái chết
• Trong năm 2004 - 2005, trên địa bàn cả nước cũng thống kê được 2
vụ ngộ độc với 5 người chết ở Trà Vinh (3/2004) và Cà Mau
(5/2005)
Trang 34
ĐỘC TỐ HẢI SẢN DO NHIỄM ĐỘC HÓA HỌC
• Các hoạt động công nghiệp thải ra đất những kim loại
nặng, từ đất ngấm vào các nguồn nước ngọt, nước đổ ra đại dương rồi gây ngộ độc cho con người khi ăn hải sản bị ô nhiễm Thường gặp nhất là các kim loại nặng (chì, kẽm, thủy ngân…), các hoá chất như thuốc trừ sâu, trừ nấm, diệt
cỏ, phân hoá học, kháng sinh, hormone tăng trưởng…
• Ví dụ về mức độ tích lũy DDT: Khi trong nước hồ là
0.02ppm thì trong động vật thủy sinh ở hồ là 10ppm,
trong cá ăn động vật thủy sinh này là 103ppm, còn trong
cá lớn ăn thịt và trong chim bói cá là 2000ppm
• Con hàu có thể tích lũy DDT gấp từ 10.000 đế 70.000 lần lượng DDT trong nước biển
Trang 35Cá hồi nuôi nông nghiệp thường béo hơn cá hồi hoang dã Nguyên nhân là do,
những người nuôi cá hồi cho rằng càng nhiều chất độc, càng nhiều chất béo thì cá được phát triển nhanh hơn và cũng bảo quản được lâu hơn trong quá trình lưu
chuyển
Con trai
• Trung bình, cứ 8 ounce (mỗi ounce bằng khoảng 28,35g) con trai lại chứa 299 calo, 100 trong số đó là từ các chất béo, nghĩa là khoảng 43% số calo là calo béo Ngoài lượng calo béo, loài trai còn chứa 910 mg natri và 13% lượng cholesterol (dựa trên một chế độ ăn 2.000 calo
Con hàu cũng chứa nhiều độc tố nguy hiểm Ăn hàu sống chứa hàm lượng cao
purines (các thành tố hữu cơ có trong những cơ quan có nhiệm vụ lọc chất độc như thận và gan) Hơn nữa, ăn con hàu có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh gout ở nam
Tôm nuôi nông nghiệp thường gồm số lượng lớn thuốc kháng sinh và hóa chất như
thuốc trừ sâu có thể gây ra hủy hoại hệ thần kinh ở loài tôm và khi tôm được dùng làm thực phẩm thì lại nguy hại cho sức khỏe con người
Trang 36Cá hồi,tôm nông nghiệp,hàu,cá
Trang 37Case study in Vietnam
• Qua thí nghiệm trên nghêu sò, cua, tôm được thu nhận từ các thuỷ vực như: Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà,
Sóc Trăng, Tiền Giang, Kiên Giang , những sinh vật biển này ăn độc tố tảo phycotoxins mà không ảnh hưởng đến sức khoẻ của chúng
• Độc tố được tích lũy trong cơ thể hải sản, con người ăn vào
sẽ bị ngộ độc đun, nấu, chế biến những nghêu, cua, tôm… này và kết quả là độc tố tảo phycotoxins không hề bị phá huỷ hoặc tiêu giảm, mùi vị, màu sắc thức ăn không có gì khác thường