1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương

85 392 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương
Tác giả Võ Thị Ánh Hằng
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thanh Hải
Trường học Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần An Bình - PGD Nguyễn Tri Phương
Chuyên ngành Nghiệp vụ Thanh toán Không Dùng Tiền Mặt
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 656,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương

Trang 1

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 1

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Ngân hàng thương mại và việc tổ chức thanh toán giữa các NHTM

1.1.1 Vài nét khái quát về Ngân hàng thương mại (NHTM)

Ngân Hàng (NH) được hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau Trong thời kỳ đầu vào khoản thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XVIII, các NH còn hoạt động độc lập với nhau Đó là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán cho nền kinh tế và phát hành giấy bạc cho NH

Sang thế kỷ XVIII, lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển Việc các NH cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc NH làm cho lưu thông có nhiều loại giấy bạc khác nhau đã cản trở cho quá trình lưu thông hàng hóa phát triển kinh tế Chính điều này đã dẫn đến phân hóa hệ thống NH Lúc này hệ thống NH đã phân làm hai nhóm: thứ nhất là nhóm các NH được phép phát hành tiền, được gọi là NH phát hành sau đổi thành NHTW Thứ hai là các NH không được phép phát hành tiền, chỉ làm trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế được gọi là NH trung gian Đây là một mắt xích cực kỳ quan trọng nối giữa NHTW với nền kinh tế, cũng như là cầu nối

để những người có vốn và những người cần vốn gặp nhau

Thời kỳ đầu khi mới thực hiện sự phân hóa hệ thống NH, các NH trung gian thực hiện tất cả các hoạt động của nó như nhận tiền gửi, cho vay và làm các dịch vụ thanh toán Ban đầu, các NH chủ yếu nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn ngắn và cho vay ngắn hạn Về sau, nó thực hiện cả cho vay trung hạn, dài hạn bằng nguồn vốn trung hạn, dài hạn do huy động tiền gửi trung hạn, dài hạn

Hoạt động NH ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán đòi hỏi hình thành nên những NH, những trung gian tài chính chuyên hoạt động trong một lĩnh vực nào đó, phân chia NH trung gian thành các NH hoạt động trong lĩnh vực riêng: NHTM, NH đầu tư, NH phát triển …

Đặc trưng NH được thể hiện rõ nhất thông qua các chức năng sau:

- Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội

- Chức năng trung gian thanh toán

- Chức năng làm trung gian tín dụng

Trang 2

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 2

- Chức năng “tạo tiền”

NH làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như: Trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng, tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ

NH thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở nó thực hiện chức năng làm thủ quỹ cho xã hội Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để NH thực hiện vai trò trung gian thanh toán Mặt khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế như rủi ro do phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau

Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế

Trước hết, TTKDTM qua NH góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn Khả năng lựa chọn hình thức thanh toán thích hợp cho phép khách hàng thực hiện thanh toán chính xác hiệu quả Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội

Mặt khác, việc cung ứng một dịch vụ TTKDTM có chất lượng làm tăng uy tín cho NH và do đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi

Chu chuyển tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM và do vậy, chỉ khi chức năng trung gian thanh toán được hoàn thiện thì vai trò của NHTM mới được nâng cao hơn với tư cách là người thủ quỹ cho xã hội

1.1.2 Khái niệm, sự cần thiết và ý nghĩa thanh toán giữa các NHTM

1.1.2.1 Khái niệm

Thanh toán giữa các NH là việc thanh toán vốn tiền tệ giữa các chi nhánh NH trong cùng hệ thống hoặc giữa các NH khác hệ thống phát sinh trên cơ sở đáp ứng yêu cầu thanh toán hàng hóa, dịch vụ và điều chuyển của các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân và nghiệp vụ điều chuyển tiền của chính bản thân NH

1.1.2.2 Sự cần thiết thanh toán giữa các NH

Hoạt động kinh tế ngày càng phát triển, theo đó là sự phát triển của thanh toán tiền tệ trong nước và quốc tế Mối quan hệ ngày càng đa dạng, điều đó không chỉ đòi

Trang 3

Do đó, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ giữa người mua và người bán qua hai NH khác nhau là rất cần thiết Nó giúp cho việc thanh toán các khoản nợ giữa các tác nhân trong nền kinh tế một cách dễ dàng, nhanh chóng, đem lại hiệu quả to lớn cho kinh tế-

xã hội

Việc cấp chuyển vốn, kinh phí, chuyển tiền thực hiện nghĩa vụ ngân sách diễn ra thường xuyên, liên tục đòi hỏi phải có nghiệp vụ thanh toán giữa các NH để đáp ứng yêu cầu của việc chuyển vốn trong nền kinh tế

Ngân hàng, tổ chức tín dụng không chỉ là nơi cung ứng các dịch vụ thanh toán

mà còn là chủ thể tổ chức tham gia vào hệ thống thanh toán, thực hiện việc thanh toán trong phạm vi nội bộ của chính hệ thống các NH như: Điều chuyển vốn, cấp vốn, chuyển nhượng tài sản, nộp khấu hao, chuyển lãi lỗ đảm bảo cho việc quản lý và sử dụng vốn được khép kín trong toàn hệ thống NHTM

Để làm tốt các nghiệp vụ trên, thanh toán giữa các NH ra đời là một tất yếu

1.1.2.3 Ý nghĩa

Thanh toán giữa các NH là hành lang cho TTKDTM phát triển

Thanh toán giữa các NH góp phần phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển, bởi nếu tổ chức tốt nghiệp vụ thanh toán giữa các NH sẽ đảm bảo cho thanh toán nhanh, chính xác, an toàn Từ đó giúp cho các doanh nghiệp, cá nhân thu hồi vốn nhanh, đầy đủ để tiếp tục chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo

Thể hiện chức năng tập trung vốn trong thanh toán của NH trong nền kinh tế quốc dân là NH đã phát huy được vai trò giám đốc đối với nền kinh tế, nâng cao uy tín, góp phần tăng cường vai trò làm trung gian thanh toán cho nền kinh tế

Thực hiện thanh toán giữa các NH giúp cho NH và các TCTD thu hút được lượng vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư để cho vay phục vụ phát triển kinh tế, tăng trưởng nguồn vốn cho NH Ngoài ra, thông qua các

Trang 4

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 4

dịch vụ thanh toán, NH đã tiết kiệm được chi phí trong lưu thông, chi phí bảo quản, hạn chế tham ô, lợi dụng, bảo vệ an toàn tài sản Trong quá trình thanh toán, người mua không phải mang một lượng tiền mặt rất lớn để thanh toán cho người bán mà thực hiện thanh toán thông qua các dịch vụ thanh toán qua NH

Thanh toán giữa các NH không chỉ tạo điều kiện cho các NH tổ chức quản lý vốn

và điều hòa vốn có hiệu quả trong cả nước mà còn tạo điều kiện nối liền các cơ sở NH thành một hệ thống chặt chẽ và điều hòa vốn trong nội bộ hệ thống NH Điều đó làm tăng tốc độ vòng quay vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn, tránh tình trạng có NH thừa vốn mà vẫn phải trả lãi tiền gửi cho khách hàng, trong khi đó lại có NH thiếu vốn phục

vụ sản xuất kinh doanh, bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh có thể thu được nguồn lợi lớn Thông qua điều chuyển vốn, NH thiếu vốn vẫn giữ được khách hàng và tiến hành hoạt động kinh doanh trôi chẩy, chi nhánh thừa vốn vẫn có thu nhập từ nguồn vốn thừa do hưởng lãi suất điều hòa

1.1.3 Điều kiện thanh toán giữa các NH

Như ta đã biết, thanh toán giữa các NH là việc thanh toán vốn tiền tệ giữa các chi nhánh NH trong cùng hệ thống hoặc giữa các NH khác hệ thống phát sinh trên cơ

sở đáp ứng yêu cầu thanh toán hàng hóa, dịch vụ và điều chuyển của các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân và nghiệp vụ điều chuyển tiền của chính bản thân NH Vì vậy, điều kiện thanh toán giữa các NH là:

Điều kiện pháp lý: Phải xây dựng được hệ thống pháp lý ổn định và tin cậy,

thể lệ và chế độ đồng bộ, tạo cơ sở vững chắc để tổ chức nghiệp vụ thanh toán Hệ thống pháp lý chặt chẽ là cơ sở để giải quyết các tranh chấp nẩy sinh và ngăn ngừa các sai phạm trong thanh toán

Thực hiện thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại NH khác phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của hai NH chủ quản, đồng thời, phải theo đúng nguyên tắc mở và

sử dụng tài khoản Thanh toán kịp thời, cập nhật chính xác, an toàn tài sản, không được chiếm dụng vốn lẫn nhau

Đối với ủy nhiệm chi hộ, thu hộ phải có văn bản thỏa thuận và cam kết chặt chẽ giữa hai NH bảo đảm sự tín nhiệm trong thanh toán Định kỳ, hai bên phải đối chiếu, thanh toán sòng phẳng với nhau

Trang 5

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 5

Đối với thanh toán bù trừ: Các NHTM, TCTD, Kho Bạc Nhà Nước muốn tham gia thanh toán bù trừ phải có đơn xin tham gia thanh toán bù trừ, phải chấp hành nội quy trong thanh toán như: Giới thiệu người giao dịch, mẫu chữ ký, chấp hành giờ truyền nhận dữ liệu hay phiên giao dịch

Điều kiện về tổ chức và kỹ thuật: Thanh toán giữa các NH phải được tổ chức

một cách khoa học, áp dụng kỹ thuật hiện đại đảm bảo thanh toán chính xác, nhanh chóng, an toàn, chi phí thấp, phải có trung tâm xử lý thông tin nhanh, thông suốt theo các chuẩn mực quy định của NHNN nhằm đáp ứng được các phương thức thanh toán giữa các NH Thông tin phải được cập nhật và lưu trữ, bảo quản cẩn trọng, đảm bảo tính bảo mật cao Phải bố trí những người có trách nhiệm cao, trung thực và thành thạo nghiệp vụ thanh toán giữa các NH, đẩy nhanh tốc độ và sự an toàn trong thanh toán

Điều kiện về vốn: Các NHTM thực hiện thanh toán giữa các NH phải có đủ

khả năng cân đối nguồn và sử dụng vốn, phải chuẩn bị được đủ lượng vốn đảm bảo khả năng thanh khoản, đáp ứng nhu cầu về vốn trong thanh toán Trường hợp làm mất khả năng thanh toán phải chịu phạt theo quy định

Các NHTM khi thực hiện thanh toán qua thanh toán bù trừ phải luôn duy trì tồn quỹ tiền mặt và số dư trên tài khoản tiền gửi cần thiết tại NHNN để đảm bảo cho khả năng thanh toán, sẵn sàng chi trả cho khách hàng Trường hợp thiếu vốn thanh toán thì vay NH chủ trì hoặc NH thành viên

1.2 Nội dung các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt

Theo nghị định 64/CP của chính phủ và quyết định 226/2002/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN thì có 5 hình thức thanh toán được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ là:

+ Hình thức thanh toán bằng séc

+ Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm chi - Lệnh chi

+ Hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu - Nhờ thu

+ Hình thức thanh toán thư tín dụng

+ Hình thức thanh toán thẻ Ngân hàng

Mỗi hình thức có nội dung kinh tế và cách thức thanh toán khác nhau

Trang 6

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 6

1.2.1 Thanh toán bằng Séc

Séc là lệnh trả tiền vô diều kiện của người phát hành lập trên mẫu in sẵn do NHNN Việt Nam quy định, yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiển gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc trả cho người cầm séc

Séc là công cụ lưu thông tín dụng được sử dụng rộng rãi( tổ chức và các cá nhân)

ở tất cả các nước trên thế giới, quy tắc sử dụng séc đã được chuẩn hóa trên luật thương mại quốc gia và trên công ước quốc tế

Nghị định 30/CP của Chính phủ ban hành về quy chế phát hành sử dụng séc do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 09/05/1996 và tiếp đến là nghị định 159/CP quy định rõ

ở Việt Nam được phép lưu hành loại séc vô danh và séc ký danh, trong đó séc vô danh được chuyển nhượng tự do, còn séc ký danh được phép chuyển nhượng thông qua thủ tục ký hậu chuyển nhượng Trừ trường hợp người phát hành séc đã ghi cụm từ “không được phép chuyển nhượng” hoặc trên tờ séc ghi “không tiếp tục chuyển nhượng” Nghị định 30/CP và nghị định 159/CP ra đời đã đánh dấu một bước chuyển biến có ý nghĩa kinh tế lớn trong việc sử dụng séc ở Việt Nam Theo Nghị định này, séc không còn là một công cụ chuyển khoản đơn thuần mà còn phát huy được vai trò là công cụ lưu thông

Séc được dùng để thanh toán trực tiếp tiền hàng hoá, dịch vụ giữa người mua (người chi trả) và người bán (người thụ hưởng), nộp thuế trả nợ hoặc để rút tiền mặt tại các chi nhánh Ngân hàng Tất cả khách hàng mở tài khoản tại Ngân hàng đều có quyền sử dụng séc để thanh toán Trong hình thức thanh toán bằng séc, việc trả tiền do người trả tiền khởi xướng và kết thúc bằng việc ghi số tiền trên tờ séc vào tài khoản của người nhận tiền

Thời hạn hiệu lực của séc là 30 ngày kể từ ngày chủ tài khoản phát hành séc đến ngày người thụ hưởng nộp séc vào Ngân hàng (gồm cả ngày chủ nhật và ngày lễ) Nếu ngày kết thúc của thời hạn là ngày chủ nhật, ngày lễ thì thời hạn được lùi vào ngày làm việc tiếp theo sau ngày chủ nhật, ngày lễ đó

Một tờ séc đủ điều kiện thanh toán là tờ séc, đảm bảo các yếu tố sau đây:

- Tờ séc phải có đủ các yếu tố và nội dung quy định, không bị tẩy xóa, sửa chữa,

số tiền bằng chữ và bằng số phải khớp nhau

Trang 7

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 7

- Được nộp trong thời hạn hiệu lực thanh toán

- Không có lệnh đình chỉ thanh toán

- Chữ ký và dấu (nếu có) của người phát hành séc phải khớp đúng với mẫu đã đăng ký tại Ngân hàng

- Không ký phát hành séc vượt quá thẩm quyền quy định tại văn bản ủy quyền

Séc chuyển khoản được dùng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng Nếu thanh toán khác chi nhánh Ngân hàng thì các chi nhánh Ngân hàng đó phải tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố

Về nguyên tắc, séc thanh toán chuyển khoản phải được phát hành trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi hiện có tại Ngân hàng Trường hợp có nhiều tờ séc nộp vào Ngân hàng tại cùng một thời điểm nhưng số dư tài khoản tiền gửi không đủ để thanh toán tất

cả những tờ séc đó thì Ngân hàng phải ưu tiên thanh toán theo thứ tự các tờ séc phát hành trước sẽ được thanh toán trước Nếu tài khoản tiền gửi không đủ tiền để thanh toán (séc phát hành quá số dư tài khoản tiền gửi), séc sẽ bị Ngân hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm thanh toán tờ séc đó và những khoản tiền phạt chi phí phát sinh liên quan đến việc khiếu nại và khởi kiện

Phạm vi thanh toán séc chuyển khảon gồm thanh toán cùng một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (hai bên chi trả và thụ hưởng cùng mở tài khoản tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán) và thanh toán khác tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (hai bên chi trả và thụ hưởng mở tài khoản ở hai tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác nhau có tham gia thanh toán bù trừ)

Trang 8

1a- Người chi trả tiền phát hành séc và giao cho người thụ hưởng séc

1b- Người thụ hưởng séc trao hàng cho người chi trả

2 - Người thụ hưởng tiếp nhận séc, sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc, lập 3 liên bảng lê nộp séc vào tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán xin thanh toán 3- Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán kiểm tra tờ séc, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tài khoản tiền gửi của người trả tiền và báo có cho người thụ hưởng séc + Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại hai Ngân hàng khác nhau

có tham gia thanh toán bù trừ:

 NH phục vụ người thụ hưởng

Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

(1b)

(2)

(3)

2b

3

Trang 9

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 9

Chú thích:

1- Người trả tiền phát hành séc và giao cho người thụ hưởng

2a- Người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp lệ của tờ séc lập 3 liên bảng kê nộp séc cùng các tờ séc nộp vào Ngân hàng phục vụ mình xin thanh toán

2b - Cũng có thể người thụ hưởng nộp séc trực tiếp vào tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phục vụ người chi trả

3 - Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán chuyển séc và bảng kê nộp séc sang

tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (Ngân hàng ) phục vụ người chi trả trong phiên giao hoán chứng từ thanh toán bù trừ

4- Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc và số dư tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản sẽ tiến hành trích tài khoản của người trả tiền để chuyển sang ngân hàng phục vụ bên bán qua TTBT

5- Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng nhận chuyển tiền qua TTBT từ Ngân hàng phục vụ người trả tiền sẽ hạch toán thu tiền cho người bán và gửi báo có cho người bán

1.2.1.2 Séc bảo chi

Trong quá trình thanh toán, nếu các chủ thể thanh toán không tín nhiệm lẫn nhau

về khả năng chi trả, hoặc người trả tiền đã có Quyết định xử phạt của Ngân hàng về việc phát hành séc chuyển khoản quá số dư thì người thụ hưởng có quyền yêu cầu người trả tiền sử dụng séc bảo chi để thanh toán

Séc bảo chi là một loại séc thanh toán được Ngân hàng đảm bảo khả năng chi trả bằng cách trích số tiền trên séc từ tài khoản tiền gửi của người trả tiền sang tài khoản riêng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho tờ séc đó, hoặc bảo chi séc không cần lưu kí

Séc bảo chi có phạm vi thanh toán rộng hơn séc chuyển khoản Ngoài việc được

sử dụng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng, hoặc hai chi nhánh Ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố, séc bảo chi còn được sử dụng để thanh toán giữa khách hàng mở TK tại các chi nhánh Ngân hàng trong cùng hệ thống trong phạm vi cả nước

Trang 10

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 10

Do séc đã được Ngân hàng đảm bảo chi trả nên khi khách hàng nộp séc vào Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng thì Ngân hàng này sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc có thể ghi Có ngay vào tài khoản của người thụ hưởng Nếu do sơ suất khi kiểm tra, sau này phát hiện tờ séc không hợp lệ thì Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng phải chịu trách nhiệm

Quy trình thanh toán séc bảo chi

+ Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng

Chú thích:

1- Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc

- Người trả tiền lập 2 liên giấy “yêu cầu bảo chi séc kèm tờ séc đã ghi đầy đủ các yếu tố nộp vào Ngân hàng để xin bảo chi séc

- Ngân hàng đối chiếu giấy “yêu cầu bảo chi séc” và tờ séc, số dư tài khoản của người phát hành, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tiền từ tài khoản gửi chuyển vào tài khoản đảm bảo thanh toán séc Sau đó đóng dấu “bảo chi” lên tờ séc và giao séc cho khách hàng

2- Người trả tiền giao séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hóa, dịch vụ

3- Người thụ hưởng lập bảng kê kèm các tờ séc nộp vào Ngân hàng xin thanh toán

4- Ngân hàng kiểm tra ký hiệu mật trên séc và các yếu tố cần thiết khác tiến hành ghi Có vào tài khoản tiền gửi của người thụ hưởng và báo Có cho họ

Ngân hàng

Trang 11

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 11

1.2.2 Thanh toán bằng ủy nhiệm chi - Lệnh chi

Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng

ủy nhiệm chi và ký tên đóng dấu lên tất cả các liên ủy nhiệm chi (phần chữ kí chủ tài khoản và kế toán trưởng)

Khi nhận được ủy nhiệm chi, trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng phục vụ người trả tiền phải hoàn tất lệnh chi hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoản của khách hàng không đủ tiền hoặc lệnh chi lập không hợp lệ

- Quy trình thanh toán:

+Uỷ nhiệm chi thanh toán cùng Ngân hàng

Ngân hàng

1

4

Trang 12

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 12

2 - Người bán giao hàng cho người mua

3 - Ngân hàng gửi báo nợ cho người mua

4 - Ngân hàng gửi báo có cho người bán

+ Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở TK ở hai Ngân hàng khác nhau, ủy nhiệm chi (UNC) trở thành phương tiện chuyển tiền

Chú thích:

1a – Người bán giao hàng cho người mua

1b- Người trả tiền lập 4 liên UNC nộp vào Ngân hàng phục vụ mình để trích TK của mình trả tiền cho người thụ hưởng

2ab- Ngân hàng kiểm tra thủ tục lập UNC, số dư TKTG của người mua, nếu đủ điều kiện thanh toán thì tiến hành trích TKTG của người trả tiền, báo Nợ cho họ và chuyển tiền sang Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán cho người thụ hưởng

3-Khi nhận được chứng từ thanh toán do Ngân hàng phục vụ người trả tiền chuyển đến, Ngân hàng phục vụ ngườu thụ hưởng dùng các liên UNC để ghi Có TK người bán và báo Có cho người bán

Trường hợp bên thụ hưởng không có TKTG thì Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng ghi Có TK chuyển tiền phải trả và báo cho bên thụ hưởng đến nhận tiền

 NH phục vụ người thụ hưởng

3

2b 1a

Trang 13

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 13

1.2.3 Thanh toán bằng ủy nhiệm thu – Nhờ thu

Uỷ nhiệm thu là giấy ủy nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi vào Ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu hộ số tiền theo lượng hàng hóa đã giao, dịch vụ đã cung ứng cho người mua

- Điều kiện áp dụng và nội dung thanh toán:

Uỷ nhiệm thu được áp dụng thanh toán tiền hàng, dịch vụ giữa các chủ thể mở

TK trong cùng một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng cùng hệ thống hay khác hệ thống Các chủ thể thanh toán phải thoả thuận thống nhất dùng hình thức thanh toán ủy nhiệm thu với những điều kiện thanh toán cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng phục

vụ chủ thể thanh toán biết để làm căn cứ thực hiện các ủy nhiệm thu

Sau khi đã giao hàng hoặc hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên thụ hưởng lập 4 liên ủy nhiệm thu kèm theo hóa đơn giao hàng, cung ứng dịch vụ nộp vào Ngân hàng phục vụ mình hay nộp trực tiếp vào Ngân hàng phục vụ bên trả tiền để yêu cầu thu hộ tiền Bên thụ hưởng phải ghi đầy đủ các yếu tố quy định và ký tên, đóng dấu đơn vị lên tất cả các liên ủy nhiệm thu Để thu nhanh tiền hàng, dịch vụ, bên thụ hưởng có thể ghi rõ trên UNT yêu cầu Ngân hàng phục vụ bên trả tiền chuyển tiền bằng điện hay Fax và bên thụ hưởng chịu phí tổn

Khi nhận được giấy UNT, trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng phụ vụ bên trả tiền phải trích tài khoản của bên trả tiền để trả ngay cho bên thụ hưởng để hoàn tất việc thanh toán

- Quy trình thanh toán uỷ nhiệm thu:

+ Uỷ nhiệm thu thanh toán cùng Ngân hàng

Trang 14

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 14

Chú thích:

1 - Người bán giao hàng cho người mua

2 - Người bán lập uỷ nhiệm thu gửi Ngân hàng

3 - Ngân hàng gửi báo nợ cho người mua

4 - Ngân hàng gửi báo có cho người bán

+Uỷ nhiệm thu thanh toán giữa hai Ngân hàng cùng hệ thống

Chú thích:

1a- Người bán giao hàng cho người mua theo hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng 1b- Sau khi giao hàng, cung ứng dịch vụ người thụ hưởng lập 4 liên ủy nhiệm thu kèm chứng từ giao hàng nộp vào Ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền

(Bên thụ hưởng có thể nộp trực tiếp ủy nhiệm thu vào Ngân hàng phục vụ bên trả tiền để đòi tiền)

2- Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sau khi nhận được bộ chứng từ do người thụ hưởng gửi đến sẽ tiền hành ký tên đóng dấu ghi vào sổ theo dõi ủy nhiệm thu và gửi bộ chứng từ này cho Ngân hàng phục vụ người trả tiền

 NH phục vụ người thụ hưởng

1a

5 1b

3

2

4

Trang 15

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 15

3- Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi nhận được bộ chứng từ sẽ kiểm tra các yếu tố cần thiết là làm thủ tục trích TKTG của bên trả tiền và báo Nợ cho họ 4- Ngân hàng phục vụ người trả tiền chuyển tiền đến Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán cho người thụ hưởng

5- Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng ghi Có vào TK của người thụ hưởng và báo Có cho họ

Hình thức thanh toán UNT có thể xảy ra tình trạng chậm trả Đó là trường hợp khi UNT về đến Ngân hàng phục vụ người trả tiền nhưngTK của người trả tiền không

có hoặc không đủ số dư để thanh toán Khi đó Ngân hàng phục vụ chủ thể trả tiền sẽ lưu UNT vào hồ sơ giấy UNT quá hạn chưa thanh toán để theo dõi thanh toán Khi TKTG của bên trả tiền có đủ tiền để thanh toán thì ghi ngày thanh toán lên trên UNT

để thực hiện thanh toán và tiến hành tính phạt chậm trả đối với người trả tiền

1.2.4 Hình thức thanh toán thư tín dụng

Thư tín dụng là lệnh của người trả tiền yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định theo đúng những điều khoản đã ghi trên thư tín dụng

So với các chứng từ thanh toán khác như séc, UNC, UNT các điều kiện ghi trên thư tín dụng tương đối chặt chẽ, hầu như phản ánh đầy đủ những cam kết thanh toán trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng đã ký

- Điều kiện áp dụng:

Thư tín dụng được dùng để thanh toán tiền hàng dịch vụ giữa hai bên mua bán

mở tài khoản ở hai Ngân hàng cùng hệ thống trong trường hợp thiếu tín nhiệm lẫn nhau về mặt tài chính, hoặc việc mua bán không xảy ra một cách thường xuyên

Trang 16

“TK đảm bảo thanh toán thư tín dụng”

2 - Ngân hàng phục vụ bên trả tiền mở thư tín dụng cho người trả tiền và chuyển ngay 2 liên thư tín dụng cho Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để báo cho người thụ hưởng biết

3 - Khi nhận được 2 liên giấy mở thư tín dụng do Ngân hàng phục vụ bên trả tiền gửi đển, Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng tiến hành kiểm tra thủ tục mở thư tín dụng

ký hiệu mật, dấu, chữ ký của Ngân hàng mở thư tín dụng Sau đó ghi ngày nhận, ký tên đóng dấu đơn vị lên các liên giấy mở thư tín dụng và gửi một liên cho bên thụ hưởng để làm căn cứ giao hàng (còn một liên lưu lại và mở sổ theo dõi thư tín dụng đến)

4a Bên thụ hưởng phải đối chiếu với hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng nếu đầy

đủ các yếu tố cần thiết thì giao hàng và yêu cầu người nhận hàng ký vào hóa đơn giao hàng

4b Căn cứ vào hóa đơn, chứng từ giao hàng, bên thụ hưởng lập 4 liên bảng kê hóa đơn, chứng từ giao hàng nộp vào Ngân hàng phục vụ mình để xin thanh toán

Trang 17

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 17

5 - Khi nhận được bộ chứng từ do bên thụ hưởng nộp vào, Ngân hàng kiểm tra thủ tục lập bảng kê hóa đơn chứng từ giao hàng, kiểm tra thời hạn hiệu lực của thư tín dụng, số tiền bên thụ hưởng đề nghị thanh toán, sau đó tiến hành ghi có vào TK và báo

Có cho người thụ hưởng

6 - Căn cứ bảng kê hóa đơn, chứng từ giao hàng, Ngân hàng bên thụ hưởng lập lênh chuyển Nợ chuyển tiền điện tử để ghi Nợ TK chuyển tiền điên tử đi và gửi cho Ngân hàng phục vụ bên trả tiền để thanh toán

7 - Ngân hàng phục vụ bên trả tiền tất toán tài khoản thư tín dụng

Trường hợp các chủ thể thanh toán mở TK ở hai Ngân hàng khác hệ thống thì thư tín dụng chỉ được thực hiện trong trường hợp trên địa bàn của người thụ hưởng có Ngân hàng cùng hệ thống với Ngân hàng mở thư tín dụng và các Ngân hàng này có tham gia thanh toán bù trừ với nhau

1.2.5 Thanh toán bằng thẻ Ngân hàng (thẻ thanh toán)

Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán do Ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các máy trả tiền mặt tự động( ATM) Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn với kỹ thuật tin học ứng dụng trong Ngân hàng Thẻ thanh toán có nhiều loại, nhưng có một số loại thẻ được sử dụng phổ biến ở Việt Nam

1.2.5.1 Thẻ ghi nợ

Người sử dụng thẻ này không phải lưu ký tiền vào tài khoản đảm bảo thanh toán thẻ Căn cứ để thanh toán thẻ là số dư TKTG của chủ sở hữu thẻ tại Ngân hàng và hạn mức thanh toán tối đa do Ngân hàng phát hành thẻ quy định

Thẻ này được áp dụng đối với những khách hàng có quan hệ tín dụng thanh toán thường xuyên, có tín nhiệm với Ngân hàng, do Giám đốc Ngân hàng phát hành thẻ xem xét và quyết định

Trang 18

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 18

1.2.5.2 Thẻ ký quỹ thanh toán

Để được sử dụng thẻ, khách hàng phải lưu ký một số tiền nhất định vàoTK đảm bảo thanh toán thẻ thông qua việc trích TKTG hoặc nộp tiền mặt, số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và được ghi vào bộ nhớ của thẻ Loại thẻ này áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng

1.2.5.3 Thẻ tín dụng

Áp dụng đối với khách hàng đủ điều kiện được Ngân hàng đồng ý cho vay Mức tiền vay được coi như hạn mức tín dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ, khách hàng chỉ được thanh toán số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng chấp thuận

Các chủ thể tham gia thanh toán thẻ, gồm có:

- Ngân hàng phát hành thẻ: Là Ngân hàng bán thẻ cho khách hàng chịu trách nhiệm thanh toán số tiền do người sử dụng thẻ trả cho người thụ hưởng Ngân hàng phát hành thẻ có thể ủy nhiệm cho một số chi nhánh Ngân hàng phát hành và quản lý thẻ

- Người sử dụng thẻ là người trực tiếp mua thẻ tại Ngân hàng và dùng thẻ để mua hàng hóa, dịch vụ hay lĩnh tiền mặt tại ATM

- Người tiếp nhận thẻ là các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người

sử dụng thẻ

- Ngân hàng đại lý thanh toán là các chi nhánh Ngân hàng làm đại lí thanh toán thẻ cho Ngân hàng phát hành thẻ và do Ngân hàng phát hành thẻ lựa chọn, Ngân hàng đại lý thanh toán có trách nhiệm thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ khi nhận được biên lai thanh toán

Trang 19

1b - Căn cứ giấy đề nghị phát hành thẻ của khách hàng, sau khi kiểm tra thủ tục lập chứng từ và các điều kiện sử dụng thẻ của khách hàng, nếu đủ điều kiện Ngân hàng phát hành thẻ làm thủ tục để cấp thẻ cho khách hàng và hướng dẫn khách hàng sử dụng thẻ khi thanh toán

Ngân hàng phát hành thẻ phải quản lý và giữ bí mật tuyệt đối về mật mã sử dụng thẻ của khách hàng

2 - Chủ sở hữu thẻ giao thẻ cho cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ để kiểm tra, đưa thẻ vào máy thanh toán thẻ, máy tự động ghi số tiền thanh toán và in biên lai thanh toán (gồm 3 liên) Nếu chủ thẻ rút tiền mặt thì sẽ rút tại các máy ATM

3 - Cơ sở tiếp nhận trả thẻ và 1 liên biên lai thanh toán cho chủ sở hữu thẻ

4 - Cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ lập bảng kê biên lai thanh toán và gửi cho Ngân hàng đại lý thanh toán để thanh toán

5 - Nhận được biên lai thanh toán kèm theo bảng kê biên lai thanh toán do cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ gửi đến sau khi kiểm tra đủ điều kiện thanh toán, Ngân hàng

 NH đại lý thanh toán thẻ

2

 1a1 a)

 5 5

3

 4 )1b

6

Trang 20

Nếu mất thẻ, người sử dụng thẻ phải thông báo ngay bằng văn bản cho Ngân hàng phát thẻ biết để thông qua Ngân hàng đại lý thanh toán báo cho cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ biết

Khi sử dụng hết hạn mức hoặc hết thời hạn sử dụng của thẻ, nếu có nhu cầu, người sử dụng thẻ phải đến Ngân hàng phát hành thẻ để làm thủ tục sử dụng tiếp Trong phạm vi 10 ngày làm việc, kể từ ngày viết hóa đơn cung ứng hàng hóa dịch vụ, người tiếp nhận thanh toán thẻ phải nộp biên lai vào Ngân hàng đại lý để đòi tiền Quá thời hạn trên, Ngân hàng không nhận thanh toán

Trong phạm vi 1 ngày làm việc kể từ khi nhận được biên lai thanh toán Ngân hàng đại lý phải thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán thẻ

1.3 Các phương thức thanh toán qua NH (Mode of payments)

Tùy vào trình độ phát triển của công nghệ NH cũng như đặc điểm tổ chức hệ thống NH, các nước có các phương thức thanh toán qua NH khác nhau Ở Việt Nam,

từ khi hệ thống NH được tổ chức theo hệ thống hai cấp, các phương thức thanh toán vốn giữa các NH bao gồm:

1.3.1 Phương thức thanh toán liên hàng

Thanh toán liên hàng là quan hệ thanh toán nội bộ giữa các NH trong cùng hệ thống phát sinh trên cơ sở các nghiệp vụ TTKDTM giữa các khách hàng có mở tài khoản ở các chi nhánh NH khác nhau trong cùng hệ thống hoặc các nghiệp vụ chuyển tiền, điều hòa vốn trong nội bộ một hệ thống

Trang 21

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 21

Thanh toán liên hàng là một bộ phận không thể thiếu được trong công tác thanh toán của NH Làm tốt công tác thanh toán liên hàng sẽ có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và với ngành NH nói riêng Cụ thể :

Thanh toán liên hàng thúc đẩy quá trình thanh toán nhanh chóng, chính xác Thay

vì khách hàng phải mang tiền mặt từ NH mua đến thanh toán cho người bán hàng, khách hàng chỉ cần ủy nhiệm cho NH phục vụ mình trích tài khoản để thanh toán cho người bán thông qua NH phục vụ người bán

Thanh toán liên hàng góp phần nâng cao tốc độ luân chuyển vốn tiền tệ phục vụ quá trình tái sản xuất mở rộng, do thời gian thanh toán nhanh, rút ngắn quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa dịch vụ

Thanh toán liên hàng tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển TTKDTM, góp phần khuyến khích cá nhân, tổ chức mở tài khoản tại các NH, ổn định và mở rộng khách hàng

Thanh toán liên hàng góp phần giảm chi phí lưu thông do không phải vận chuyển tiền mặt từ nơi này đến nơi khác để thanh toán, đồng thời, hạn chế được mất mát tham

ô trong thanh toán

Tuy nhiên, thanh toán liên hàng chỉ áp dụng với những ngân hàng trong cùng hệ thống Việc xử lý chứng từ vẫn mang tính thủ công, phát hiện sai lầm chậm, khó bảo toàn, bảo mật thông tin, đặc biệt là việc quyết toán cuối năm rất vất vả, công việc quá nhiều, sang năm sau công việc năm trước vẫn chưa giải quyết xong

1.3.2 Phương thức thanh toán bù trừ

Thanh toán bù trừ là một phương thức thanh toán giữa các NH khác hệ thống trên cùng một địa bàn do NHNN chủ trì Thông qua nghiệp vụ này, các NH thực hiện thu

hộ chi hộ cho NH khác và sẽ thanh toán quyết toán ngay trong ngày khi quyết toán bù trừ

Thanh toán bù trừ thực hiện theo quyết định 181/NH-QĐ ngày 10/10/1991 về

“Quy tắc tổ chức và kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán bù trừ giữa các NH” và Công văn 637/Kinh tế ngày 28/10/1991 về hướng dẫn thực hiện quyết định 181/NH-QD

Để được tham gia thanh toán bù trừ, các thành viên phải tuân thủ đầy đủ các quy định do NH chủ trì quy định, phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán bù trừ tại NH chủ trì Cán bộ đi giao dịch thanh toán bù trừ phải có đủ năng lực, trình độ và đảm bảo đủ

Trang 22

1.3.3 Phương thức thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN

Phương thức thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN là phương thức thanh toán giữa các NH khác hệ thống khác địa bàn, đều mở tài khoản tại NHNN

Để áp dụng phương thức thanh toán này phải có các điều kiện sau:

- Hai NH phải mở tài khoản tại một hay hai chi nhánh NHNN và làm đầy đủ các thủ tục về mở tài khoản tiền gửi theo quy định

- Tài khoản tiền gửi của các NH phải thường xuyên có số dư để đảm bảo khả năng thanh toán kịp thời

- Dấu và chữ ký trên chứng từ và bảng kê chứng từ thanh toán qua NHNN phải đúng với mẫu dấu, chữ ký đã đăng ký

- Việc thanh toán phải kịp thời, đầy đủ, chính xác Nếu NH nào để chậm trễ thì NH đó sẽ bị phạt

Thanh toán qua mở tài khoản tiền gửi tại NHNN đáp ứng nhu cầu thanh toán đối với các khách hàng mở tài khoản tiền gửi tại các NH khác hệ thống khác địa bàn, thúc đẩy quá trình trao đổi và sản xuất hàng hóa Tuy nhiên, phương thức này ít được áp dụng do tốc độ thanh toán chậm

1.3.4 Phương thức thanh toán qua tài khoản tiền gửi ở NH khác

Khi các NHTM không cùng hệ thống, không cùng địa phương có tần suất thanh toán trực tiếp với nhau cao, nếu thanh toán từng lần qua tài khoản tiền gửi tại NHNN thì tốc độ chậm Để khắc phục nhược điểm này, NHNN cho phép các NHTM mở tài khoản tại nhau để thanh toán trực tiếp Định kỳ, các NHTM thanh quyết toán với nhau thông qua tài khoản tiền gửi tại NHNN Theo phương thức này, các NHTM có thể đều

mở tài khoản tiền gửi ở NH khác để ủy quyền thu hộ cho khách hàng Việc thu hộ, chi

hộ chỉ tiến hành trong phạm vi những khoản thanh toán đã thỏa thuận và quy định trong hợp đồng ủy thác thanh toán giữa các NH Mỗi khi phát sinh các khoản thanh

Trang 23

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 23

toán thu hộ chi hộ, NH mới phát sinh phải gửi các chứng từ thanh toán cho NH có quan hệ hạch toán sổ sách Định kỳ thanh toán, các NH phải đối chiếu số liệu với nhau, quyết toán số tiền đã thu hộ, chi hộ và thanh toán với nhau số chênh lệch phải thu, phải trả

1.3.5 Phương thức thanh toán ủy nhiệm thu hộ, chi hộ giữa các NHTM

Để khắc phục những hạn chế của phương thức mở tài khoản tại nhau, NHNN cho phép các NHTM có thể ký hợp đồng thanh toán song biên trên cơ sở sự tín nhiệm giữa hai NHTM và hợp đồng thanh toán có quy định rõ nội dung thanh toán, số tiền tối đa cho một món thanh toán, tổng số tiền thanh toán, kỳ hạn thanh quyết toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN

1.4 Sự cần thiết khách quan và vai trò của thị trường kinh doanh tiền mặt trong nền kinh tế thi trường

1.4.1 Sự cần thiết khách quan của TTKDTM trong nền kinh tế

Thanh toán là khâu mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa Chính vì vậy mà các phương tiện thanh toán luôn luôn được đổi mới hiện đại để phù hợp với nhịp độ tăng trưởng không ngừng của sản xuất-lưu thông hàng hóa

Nền sản xuất hàng hóa càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao

và khối lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng cả về khối lượng và chất lượng, các quan hệ thương mại được mở rộng ra trên phạm vi quốc tế thì việc thanh toán bằng tiền mặt gặp nhiều trở ngại và bộc lộ những hạn chế nhất định Trước hết là thanh toán dùng tiền mặt có độ an toàn không cao, với khối lượng hàng hóa, dịch vụ giao dịch lớn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt sẽ không an toàn cho cả người trả tiền và người nhận tiền do trong quá trình thanh toán phải có sự kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền Tiếp đó, khi quan hệ thanh toán mở rộng ra phạm vi quốc tế thì chi phí về thủ tục chuyển đổi tiền để thanh toán chi trả sẽ rất lớn vì khoảng cách giữa người mua

và người bán nhiều khi ở rất xa nhau trong khi thời gian để người mua mang tiền đến trả bị khống chế, điều này dẫn đến sự kìm hãm sản xuất-lưu thông hàng hóa Hơn nữa, TTKDTM hạn chế khả năng tạo tiền của NHTM, gây ra nạn làm tiền giả Nền kinh tế luôn có nhu cầu tiền mặt để thanh toán, chi tiêu gây sức ép giả tạo về sự khan hiếm tiền mặt trong nền kinh tế, làm cho giá cả của hàng hóa có khả năng tăng cao (không

Trang 24

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 24

phản ánh giá trị thực của hàng hóa) gây khó khăn cho ngân hàng nhà nước (NHNN) trong việc điều hành chính sách tiền tệ Ngoài ra, còn một vấn đề quan trọng nữa là chi phí rất lớn mà NHNN phải bỏ ra để in tiền, vận chuyển, bảo quản tiền mặt

Từ thực tế khách quan này, và trong thời kỳ nền kinh tế chuyển sang một giai đoạn phát triển mạnh mẽ tiền mặt không thể đáp ứng nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế đòi hỏi phải có những hình thức thanh toán mới ra đời tiên tiến hơn, hiện đại hơn phù hợp đáp ứng nhu cầu sản xuất lưu thông hàng hóa Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) ra đời đã khắc phục những hạn chế của thanh toán dùng tiền mặt, đồng thời thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế.Vậy TTKDTM là gì ?

“ TTKDTM là cách thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích từ tài khoản của người chi trả để chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng mở tại NH, hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của NH”

1.4.2 Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế

TTKDTM ra đời và phát triển cho đến ngày nay cũng là nhờ nó có những vai trò

to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế:

TTKDTM cung cấp cho các chủ thể thanh toán những công cụ thanh toán nhanh chóng, thuận tiện, hiện đại Khi thực hiện thanh toán, họ không phải mang theo tiền mặt mà chỉ cần sử dụng một số những hình thức TTKDTM, do vậy sẽ tránh được rủi

ro mất trộm, giảm chi phí vận chuyển, kiểm đếm, bảo quản tiền mặt Nhờ đó, chất lượng của hoạt động thanh toán ngày càng nâng cao, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất lưu thông hàng hóa mang lại hiệu quả kinh tế cao và hạn chế được hoạt động rửa tiền

TTKDTM giúp cho NH tập trung được nguồn vốn trong xã hội phục vụ cho quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước TTKDTM qua NH tạo điều kiện cho NH có thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong thanh toán cho đầu tư, cho vay sản xuất sau khi đã tính toán dự trữ một lượng vốn nhất định đảm bảo được tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khoản dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán của mình Khi TTKDTM qua NH được nhanh chóng, thuận tiện sẽ tạo điều kiện thu hút các đơn vị cá nhân đến mở tài khoản thanh toán hoặc gửi tiền

Trang 25

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 25

TTKDTM góp phần làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông qua đó tiết kiệm được chi phí lưu thông như: In ấn tiền mặt, bảo quản, vận chuyển… kìm hãm và đẩy lùi lạm phát, đảm bảo an toàn cho việc dự trữ tiền và tài sản của xã hội, đẩy mạnh tốc

độ lưu chuyển tiền tệ TTKDTM góp phần giải quyết được tình trạng thiếu tiền mặt trong ngân quỹ làm cho hoạt động của NH được thực hiện trong suốt, hoàn thiện chức năng trung gian thanh toán của NHTM

TTKDTM tạo điều kiện cho NHTM thực hiện chức năng “tạo tiền” TTKDTM sử dụng tiền ghi sổ, thực hiện thanh toán bằng cách trích chuyển từ tài khoản người phải trả sang tài khoản người thụ hưởng hoặc bù trừ giữa các NHTM với nhau Do đó, TTKDTM luôn tạo ra một lượng tiền nhàn rỗi mà NH có thể sử dụng cho vay Đây chính là cơ sở để NH thực hiện chức năng tạo tiền của mình

TTKDTM giúp NH có thể kiểm soát một phần lượng tiền trong nền kinh tế, nắm bắt được tình hình biến động số dư tài khoản của khách hàng, tình hình thu nhập, tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng tài chính… để cung ứng các dịch vụ, cho vay, tư vấn…Đồng thời, thông qua các thông tin từ tài khoản thanh toán của khách hàng, NH

sẽ có được những quyết định cho vay đúng đắn, đảm bảo thu gốc và lãi đúng hạn, giảm tỷ trọng nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ xấu, tăng dư nợ tín dụng, mở rộng và phát triển nghiệp vụ tín dụng

TTKDTM nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các NHTM và thúc đẩy các dịch vụ khác phát triển Hiện nay ngoài sự có mặt của các NHTM quốc doanh còn có sự góp mặt của rất nhiều của các tổ chức NH nước ngoài, các tổ chức phi NH như bảo hiểm, bưu điện cũng cung cấp một số dịch vụ NH cho khách hàng Khách hàng ngày càng có nhiều cơ hội lựa chọn dịch vụ NH sao cho thỏa mãn nhu cầu tốt nhất, chi phí thấp nhất, độ an toàn cao nhất, nhanh chóng và thuận tiện Do vậy, để thu hút khách hàng đến sử dụng dịch vụ của mình (nhất là TTKDTM) các NH phải không ngừng cải tiến dịch vụ để thắng trong cạnh tranh, tích cực áp dụng công nghệ hiện đại, đổi mới phong cách giao dịch

TTKDTM còn có vai trò đối với quản lý vĩ mô của nhà nước Việc TTKDTM qua NH đòi hỏi hoạt động thanh toán của khách hàng phải qua NH hoặc phải mở tài khoản tại NH Vì vậy, thông qua hoạt động TTKDTM nhà nước có thể kiểm soát được lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường để có biện pháp quản lý lạm phát, quản lý sự

Trang 26

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 26

biến động của thị trường, thiết lập các chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia Bên cạnh

đó việc thanh toán qua NH sẽ kiểm soát được tình trạng thu chi của các doanh nghiệp hạn chế tình trạng tham ô, chi tiêu mờ ám, trốn thuế, rửa tiền…

Tóm lại, TTKDTM trong nền kinh tế thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các chủ thể thanh toán, các trung gian thanh toán, các đối tượng cơ quan quản lý nhà nước Đứng trên góc độ ngành nó phản ánh khá trung thực bộ mặt hay trang thiết

bị cơ sở vật chất của ngành Ở tầm vĩ mô TTKDTM phản ánh trình độ phát triển kinh

tế và dân trí của một nước Bên cạnh đó, việc áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào công tác TTKDTM làm cho hệ thống NH ngày càng trở nên hiện đại góp phần ổn định và phát triển hệ thống tài chính quốc gia, đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế

Trang 27

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 27

CHƯƠNG II GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH VÀ

PHÒNG GIAO DỊCH NGUYỄN TRI PHƯƠNG

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NHTMCP AN BÌNH (ABBANK)

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng An Bình (ABBANK) là một trong những NHCP hàng đầu và một trong mười NH có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam Sau hơn 15 năm phát triển và trưởng thành từ năm 1993, ABBank có sự bứt phá mạnh mẽ trong 3 năm gần đây, với

sự liên kết với các tập đoàn kinh tế lớn mạnh trong và ngoài nước như :

- Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) - Cổ đông chiến lược của ABBank với tỷ lệ

góp vốn điều lệ khoảng 27%

- Maybank, Ngân hàng lớn nhất Malaysia – Cổ đông chiến lược nước ngoài, hiện

đang sở hữa 15% cổ phần của ABBank

 Các cột mốc phát triển của ABBANK

Ngân hàng TMCP An Bình được thành lập theo giấy phép số 535/GP-UB do UBND TP.HCM cấp ngày 13 tháng 5 năm 1993

- Năm 1993: NH TMCP An Bình được thành lập vào tháng 4/1993 với số vốn điều lệ

ban đầu 1 tỷ VND, đặt tại trụ sở 138 Hùng Vương, thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh TP.HCM

- Năm 2002: Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong nền kinh tế

ngày càng phát triển, NH An Bình tiến hành cải cách mạnh mẽ về cơ cấu và nhân sự

để tập trung vào chuyên nghành kinh doanh NH Thương mại và NH Đầu tư

- Năm 2004: NH TMCP An Bình tăng vốn điều lệ lên 70,04 tỷ đồng

- Năm 2005: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) trở thành cổ đông chiến lược của

Việt Nam

- Ngày 7/11/2006: ABBank đã phát hành công phiếu của EVN cùng với ngân hàng

Deustch Bank và quỹ đầu tư Vina Capital

-Ngày 6/12/2006: Ký hợp đồng triển khai Core banking solutions và Temenos và khai

trương Trung tâm thanh toán quốc tế tại Hà Nội

- Tháng 1/2007: Tạp chí Asia Money bình chọn ABBank là nhà phát hành trái phiếu

công ty bản tệ tốt nhất Châu Á

Trang 28

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 28

- Tháng 3/ 2007: ABBank kí hợp đồng liên kết chiến lược với Agribank

- Tháng 4/2007: ABBank trở thành thành viên của mạng Thanh toán PAYNET

- Tháng 5/2007: ABBank được ban tổ chức Hội chợ Tài chính – Ngân hàng Bảo hiểm

Banking Expo 2007 trao giải thưởng Quả Cầu Vàng - The Best Banker cho ngân hàng

“Cho ngân hàng phát triển nhanh các sản phẩm dịch vụ công nghệ cao”

- Tháng 10/2007: Tăng vốn điều lệ lên 2.300 tỷ đồng

- Tháng 3/2008: ABBank kí kết hợp tác chiến lược với Maybank – Ngân hàng lớn

nhất Malaysia

- Tháng 4/2008: ABBank được trao giải “Ngân hàng thanh toán quốc tế năm 2007”

do Wachoviabank – Một trong bốn ngân hàng lớn nhất của Mỹ trao tặng

+ ABBank được trao giải “ Nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia 2008” do Hội sở hữu trí tuệ Việt Nam trao tặng

- Tháng 9/2008: Maybank chính thức trở thành cổ đông chiến lược nước ngoài của

ABBank với tỉ lệ sở hữa là 15%

- Tháng 12/2009: ABBank chính thức tăng vốn điều lệ lên 3.482 tỷ đồng

- Tháng 1/2010: ABBank và tổng CT bưu chính Việt Nam (VNPost) ký kết hợp đồng

cung cấp dịch vụ thu tiền điện qua mạng bưu chính ABBank tiếp tục mở rộng hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước như EVN, SPC, Prevoir VN…

- Năm 2010: Mạng lưới NH An Bình đặt trên 115 điểm giao dịch phủ khắp 29 tỉnh

thành trên toàn quốc

NH An Bình thành lập trung tâm tài trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và tham gia

dự án tài trợ DN nhỏ và vừa giai đoạn III (SMEFP III)

ABBank phát hành thành công 600.000 trái phiếu chuyển đổi và 390.000 trái phiếu thường choTổ chức tài chính quốc tế (IFC) và NH Maybank

Tháng 12/2010: ABBank tăng vốn điều lệ lên 3.831 tỷ đồng

Trang 29

Khối nguồn vốn

Trung tâm thẻ

Trung tâm công nghệ thông tinPhòng đầu tư

Phòng thanh toán và quản lý

tiền tệ

Phòng hành chánh

Phòng kiểm tra nội bộ

Sở giao dịch

CN Bình Dương

CN Cần Thơ

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ

Trung tâm thanh toán

quốc tế

CN Đà Nẵng

CN

Hà Nội

CN Vũng Tàu

Khối MarketingKhối nhân sựKhối hỗ trợ pháp lýKhối quản trị rủi roKhối phát triển mạng lưới

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

Ban Thư

Kí HĐQT

Phòng Kế Toán

Trang 30

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 30

2.1.3 Mạng lưới hoạt động

Với tầm nhìn chiến lược ABBank đang hướng đến trở thành một NH TMCP hàng đầu Việt Nam, hoạt động đa năng theo mô hình một Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng, hoạt động chuyên nghiệp theo những thông lệ quốc tế tốt nhất với năng lực hiện đại, đủ năng lực cạnh tranh với các NH trong nước và quốc tế hoạt động tại Việt Nam Do vậy ABBank không ngừng phát triển mở rộng hệ thống giao dịch, chi nhánh trên toàn quốc

để đáp ứng nhu cầu phục vụ tốt nhất cho mọi người Tính đến thời điểm hiện nay

ABBank có Chi nhánh/ Phòng giao dịch phủ khắp trên toàn quốc

Năm 2009, Phòng giao dịch lên cấp Chi nhánh và thành lập thêm PGD Với việc tiếp tục mở rộng mạng lưới giao dịch của ABBank trên toàn quốc cũng như địa bàn Hà Nội, ABBank hy vọng sẽ nâng cao năng lực phục vụ khách hàng với việc cung cấp nhanh chóng và đầy đủ chuỗi sản phẩm tín dụng tiêu dùng và các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt dành cho khách hàng cá nhân (sản phẩm cho vay mua nhà, mua xe….)

Đối với khách hàng là doanh nghiệp, ABBank sẽ cung ứng các sản phẩm dịch

vụ tài chính NH trọn gói như: Sản phẩm cho vay, sản phẩm bao thanh toán, sản phẩm bảo lãnh, sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu, sản phẩm tài khoản, dịch vụ thanh toán quốc tế

2.1.4 Nội dung hoat động

Với vốn điều lệ trên 2.700 tỉ đồng, mạng lưới gần 70 điểm giao dịch tại 20 tỉnh thành trên toàn quốc vào cuối năm 2008, ABBank đang phục vụ hàng ngàn khách hàng doanh nghiệp và hàng vạn khách hàng cá nhân Tổng tài sản, doanh thu và lợi nhuận của ABBank đã tăng trưởng liên tục hơn 300% trong hai năm gần đây

Các nhóm khách hàng mục tiêu hiện nay của ABBank bao gồm: Nhóm khách

hàng doanh nghiệp, nhóm khách hàng cá nhân và nhóm khách hàng đầu tư

 Đối với khách hàng là doanh nghiệp: ABBank sẽ cung ứng sản phẩm dịch

vụ tài chính NH trọn gói như: Sản phẩm cho vay, sản phẩm bao thanh toán, sản phẩm bảo lãnh, sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu, sản phẩm tài khoản, dịch vụ thanh toán quốc tế

 Đối với các khách hàng là cá nhân: ABBank cung cấp nhanh chóng và đầy

đủ chuỗi sản phẩm tín dụng tiêu dùng và các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt Ví dụ: Cho vay trả góp mua nhà, đất, xây sửa nhà, cho vay trả góp mua nhà, đất 30 năm và có bảo

Trang 31

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 31

hiểm nhân thọ cho người vay, cho vay trả góp mua ô tô, cho vay tiêu dùng tín chấp, cho vay sản xuất kinh doanh trả góp, cho vay bổ sung vốn lưu động, cho vay tiêu dùng thế chấp linh hoạt, các sản phẩm tiết kiệm YOUsaving: Tiết kiệm theo thời gian thực gửi, tiết kiệm bậc thang và các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong và ngoài nước

 Với các khách hàng đầu tư: ABBank thực hiện các dịch vụ ủy thác và tư

vấn đầu tư cho các khách hàng công ty và cá nhân Riêng với các khách hàng công ty, ABBank cũng cung cấp thêm các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn phát hành và bảo lãnh phát hành trái phiếu, đại lý thanh toán cho các đợt phát hành trái phiếu Định vị

và sự khác biệt của ABBank với các ngân hàng khác là việc cung ứng các giải pháp tài chính linh hoạt, hiệu quả và an toàn với dịch vụ thân thiện, lấy nhu cầu và sự hài lòng của khách hàng là trọng tâm của mọi mô hình kinh doanh và cơ cấu tổ chức, bảo đảm chất lượng phục vụ tốt và đồng nhất trên nền tảng công nghệ, quy trình chuẩn, và sự chuyên nghiệp của nhân viên

2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của NH trong thời gian qua

Bảng 1: Tình hình kinh doanh tại NH An Bình-PGD Nguyễn Tri Phương từ năm 2008

đến năm 2010

Đơn vị tính: Triệu đồng

Doanh thu 12,700 13,200 26,100 103.94% 197.72% Chi phí lãi 9,400 8,600 18,900 91.49% 219.77% Lợi nhuận thuần 3,300 4,600 7,200 139.40% 156.51% Doanh thu khác 800 1,700 1,900 212.25% 111.75% Chi phí hoạt động 1,800 2,400 3,100 133.33% 129.17%

Lợi nhuận ròng 2,000 3,200 5,510 160% 172.19%

Trang 32

(Nguồn: Số liệu phòng kế toán ABBANK - PGD Nguyễn Tri Phương)

Biểu đồ 1: Biểu đồ huy động vốn tại ABBank PGD – NTP

Qua bảng số liệu ta thấy :

Trong năm 2009 ABBANK-PGD Nguyễn Tri Phương huy động vốn được 136.000 triệu đồng, mức huy động này thấp hơn các PGD khác của ABBANK, vì PGD mới được thành lập từ cuối 2007, tên tuổi của PGD chưa quen với người dân địa phương, PGD còn cạnh tranh với các NH khác trên địa bàn như VietTin Bank, SacomBank, Techcom Bank… do đó phòng còn gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn trong khoảng thời gian này

Sang năm 2010, do đó PGD đã thực hiện tốt công tác tìm kiếm và chăm sóc khách hàng, làm sự tăng tín nhiệm của người dân, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh với các NH khác trên địa bàn, đồng thời mức sống của người dân ngày được cải thiện, nên mức huy động trong năm 2010 đã tăng vượt bậc đạt 318.000 triệu đồng so với năm 2009 thì mức huy động này tăng 182.000 triệu đồng, tương ứng tăng 134%

136.000

318.000

Vốn huy động

Trang 33

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 33

Tóm lại, tình hình nguồn vốn của PGD qua 2 năm hoạt động đã cho thấy các biện pháp mà PGD sử dụng để huy động vốn đang có những hiệu quả nhất định Huy động vốn nhiều giúp PGD chủ động hơn trong việc mở rộng hoạt động cho vay, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của PGD Chính vì vai trò quan trọng của hoạt động huy động vốn nên việc phân tích tình hình nguồn vốn là điều rất cần thiết trong quá trình phân tích hoạt động của NH

2.2 Định hướng, mục tiêu, phương hướng hoạt động của NHTM CP ABBANK năm 2011

Nắm bắt được sự cần thiết của phương thức TTKDTM cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phương thức TTKDTM NH An Bình đã có những định hướng phát triển trong thời gian tới như sau

 Định hướng

Ngân hàng TMCP An Bình hướng đến trở thành NHTM hàng đầu Việt Nam, hoạt động theo mô hình NHTM trọng tâm bán lẻ theo những thông lệ quốc tế tốt nhất với các NH trong nước và quốc tế hoạt động tại Việt Nam

 Mục tiêu

Phục vụ khách hàng với sản phẩm, dịch vụ an toàn, hiệu quả và linh hoạt

Phục vụ tốt nhất các nhu cầu khách hàng và đối tác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi

và cùng nhau phát triển

Hướng đến sự phát triển toàn diện, bền vững của NH

Đầu tư vào yếu tố con người làm nền tảng cho sự phát triển lâu dài

Xây dựng NH TMCP An Bình trở thành NH bán lẻ nằm trong top 10 NH TMCP hàng đầu Việt Nam, bảo đảm phát triển bền vững

Giải quyết hài hòa lợi ích của khách hàng, cổ đông và cán bộ, nhân viên

 Phương hướng hoạt động của NH TMCP An Bình 2011

 Hoạt động tín dụng

Tập trung đẩy mạnh tài trợ cá doanh nghiệp vừa và nhỏ có tài sản đảm bảo đồng thời mở rộng có chọn lọc danh mục chấp thuận cầm cố tài sản đảm bảo từ khách hàng có uy tín để tăng cường khả năng cạnh tranh của ABBank trong thị phần này

Ưu tiên tài trợ tín dụng đối với khách hàng có hoạt động xuất nhập khẩu

Xây dựng, chuẩn hóa và đẩy mạnh tiếp thị các sản phẩm mới

Trang 34

Xây dựng các tài khoản giàu tính công nghệ nhằm tiếp thị tài khoản và tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp

Xây dựng và tiếp thị các dòng dịch vụ thanh toán mới: Dịch vụ thu tiền điện tự động từ tài khoản thanh toán của khách hàng

Xây dựng và đa dạng hóa các sản phẩm huy động dân cư: Tiết kiệm tích lũy bậc cao, sử dụng công cụ lãi suất cao, kết hợp với các chương trình khuyến mãi lớn, nâng cao chất lượng phục vụ chuyên nghiệp

Đẩy mạnh các hoạt động tín dụng thu hút nhận chuyển tiền kiều hối qua hệ thống

WU tại các đơn vị kinh doanh toàn hệ thống

 Quản lý rủi ro

Kế hoạch 2011 và những năm tiếp theo với mục tiêu kiểm soát nợ quá hạn không quá 2%, ABBANK tiếp tục thiết lập, hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro theo đúng tiêu chuẩn, được áp dụng ở các cấp độ hoạt động của NH

 Công nghệ quản trị

Năm 2011 ABBANK tiếp tục chú trọng đầu tư vào CNTT, đảm bảo phát huy hiệu quả của ứng dụng CNTT hiện đại trong công tác quản trị NH Bên cạnh đó xây dựng hệ thống CNTT đảm bảo yếu tố an toàn, bảo mật cao Cụ thể tập trung vào một số định hướng lớn:

- Đầu tư, xây dựng trung tâm dữ liệu và trung tâm dữ liệu dự phòng

- Chuẩn hóa việc quản lý và sử dụng thông trong hệ thống NH

- Tăng cường hệ thống bảo mật và quản lý máy chủ

- Triển khai các dự án hỗ trợ dịch vụ NH điện tử, dịch vụ trực tuyến

 Chương trình hợp tác

Trang 35

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 35

Hợp tác với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ABBANK đặt mục tiêu phát triển hợp tác với EVN trên nhiều lĩnh vực, phát huy tối đa lợi thế của cổ đông chiến lược EVN

Hợp tác với Agribank, ABBank xác định việc hợp tác với Agribank tạo lợi thế lớn

và quan trọng trong việc khẳng định vị thế và lộ trình phát triển trong thị trường tài chính NH Việt Nam

2.3 GIỚI THIỆU PHÒNG GIAO DỊCH NGUYỄN TRI PHƯƠNG

2.3.1 Quá trình hình thành và phát triển

Xã hội ngày càng phát triển, kinh tế ngày càng nâng cao theo đó nhu cầu về nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh, về thanh toán giao dịch ngày càng cao và để thuận tiện cho việc giao dịch, mở rộng thị phần cùng với mục tiêu phục vụ khách hàng được tốt hơn Vì thế NH TMCP An Bình thành lập PGD - NTP theo Quyết định số 54/ QĐ – HĐQT và được NH Nhà Nước Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh đồng ý theo công văn số 434/NHNN – HCM ngày 29/3/2007 Và được khai trương vào ngày

24 tháng 4 năm 2007 Đây là một địa bàn rộng lớn với nhiều thành phần sản xuất kinh doanh, cá thể, công ty TNHH, nhiều doanh nghiệp Với những thuận lợi đó và các sản phẩm NH cung cấp đáp ứng được nhu cầu của khách hàng cộng với một đội ngũ nhân viên trẻ năng động, nhiệt tình trong công việc, trình độ chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp, xây dựng tốt mối quan hệ giữa NH và với khách hàng và giữa NH với các NHTM khác, PGD - NTP đã, đang phát triển ngày càng lớn mạnh thêm và là một trong những PGD luôn dẫn đầu của hệ thống phòng giao dịch ABBank

Tên gọi tắt: ABBank – PGD Nguyễn Tri Phương

Địa chỉ: 136H Nguyễn Tri Phương – Phường 9 – Quận 5 – TP.HCM

- Mặc dù mới hoạt động được hơn 2 năm nhưng PGD - NTP đã có rất nhiều cố gắng

để đa dạng hóa các sản phẩm và dich vụ của mình để phục vụ tốt khách hàng, đưa

Trang 36

 Kinh doanh tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm bằng VND, ngoại tệ đối với

khách hàng trong và ngoài nước, tiền gửi kí quỹ đảm bảo thanh toán thẻ

 Cho vay vốn ngắn, trung và dài hạn bằng VND, ngoại tệ phục vụ sản xuất kinh

doanh, dịch vụ,…

 Cho vay trả góp để mua nhà ở, nền nhà, cho vay tiêu dùng,…

 Kinh doanh ngoại tệ

Thực hiện nghiệp vụ thanh toán nội bộ trong hệ thống NH, giữa các khách hàng và NH khác

 Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác

 Tài trợ xuất nhập khẩu

 Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa

 Dịch vụ bảo lãnh, ngân quỹ, thanh toán và chuyển tiền nhanh trong nước

Ngoài ra, PGD - NTP có thêm dịch vụ nhà đất, chuyên viên tư vấn làm dịch vụ trung gian thanh toán giữa hai bên khách hàng mua, bán nhà và quyền sử dụng đất Với sự lãnh đạo của Trưởng PGD và đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ cao, trẻ trung, năng động, sáng tạo và đặc biệt là phong cách làm việc chuyên nghiệp, nhanh nhẹn, hiện đại không chỉ giúp cho ABBank PGD - NTP tạo sự an tâm cho khách hàng khi đến giao dịch, qua đó thu hút một lượng khách hàng lớn cho NH mà còn giúp cho ABBank PGD - NTP ngày càng khẳng định vị trí của mình trên thị trường tài chính

NH luôn có định hướng đúng đắn và luôn bám sát những chủ trương, chính sách của Sở Giao Dịch cũng như của NHNN nên PGD có thể lường trước được những rủi

ro có thể xảy ra và chủ động đối phó với các biến cố của nền kinh tế

Các sản phẩm dịch vụ mới luôn được NH quan tâm, mở rộng và tiếp thị mạnh mẽ đến các tổ chức cũng như những hộ gia đình, cá nhân, góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh cho NH, tạo sự đa dạng hóa các sản phẩm NH và tạo lòng tin vững chắc đối với khách hàng

Trang 37

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 37

Thủ tục đơn giản, ít tốn thời gian và dễ dàng thực hiện nên khách hàng có thể liên

hệ trực tiếp với NH và tự mình thực hiện các thủ tục vay mà không qua trung gian vì thế khách hàng không phải tốn thêm bất cứ khoản tiền hoa hồng nào ngoại trừ phải trả lãi và vốn vay

Ưu điểm lớn nhất trong công tác tín dụng hiện nay là việc xét duyệt cho vay không chỉ dựa vào ý kiến cá nhân mà phải thông qua ban tín dụng Mỗi ngày ban tín dụng tập trung xem xét các món vay trong ngày và quyết định cho vay hay không Trong quy trình tín dụng của ABBank có nêu rõ: Nhân viên tín dụng lập tờ trình lên trưởng bộ phận, trưởng bộ phận xem xét kiểm tra, đánh giá lại việc thẩm định này và tiến hành

đề xuất lên trưởng PGD xem có quyết định cho vay hay không

Chuyên viên

GIÁM ĐỐC SỞ GIAO DỊCH

Trưởng phòng PGD- Nguyễn Tri Phương

Bộ phận Quan

hệ khách hàng

Bộ phận Kế toán

và Ngân quỹ

Trang 38

 Đôn đốc thu hồi các khoản nợ tồn đọng và xử lý nợ quá hạn

 Đề xuất việc giải quyết hoặc khởi kiện đối với các hợp đồng tín dụng quá hạn

 Tổng hợp số liệu cho vay thu nợ, bảo lãnh thường xuyên và định kỳ hàng tháng, đối chiếu với số liệu kế toán và khách hàng

 Thực hiên chế độ báo cáo thống kê về hoạt động cho vay, bảo lãnh và thanh toán quốc tế theo đúng quy định của NHNN và ABBank

 Tổ chức lưu trữ hồ sơ tín dụng, bảo lãnh, lập hồ sơ khách hàng

Bộ phận kế toán và ngân quỹ

 Bộ phận kế toán giao dịch

Hiện nay phòng giao dịch và ngân quỹ gồm có 2 bộ phận chính: Một là bộ phận giao dịch ngân quỹ, hai là bộ phận hướng dẫn khách hàng, có các nhiệm vụ sau:

 Hướng dẫn khách hàng làm thủ tục mở và sử dụng tài khoản

 Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tiền gửi thanh toán, tiết kiệm, thanh toán thẻ…

 Thực hiện nghiệp vụ mua bán ngọai tệ

 Thực hiện nghiệp vụ thu chi tiền tệ, thu chi tiền điện, thu chi hộ các NH khác

 ABBank PGD – NTP bắt đầu thu hộ tiền điện cho công ty điện lực Chợ Lớn từ tháng 4/2008 và công ty Điện lực Phú Thọ từ tháng 6/2008

Thực hiện nghiệp vụ thu chi tiền tệ, thu chi hộ trong hệ thống ABBank, hoặc tùy theo

sự ủy nhiệm của khách hàng

 Làm trung gian thanh toán quốc tế với hội sở

 Thực hiện ký quỹ thanh toán thư tín dụng, thanh toán séc bảo chi, ủy nhiệm chi…

 Thực hiện chiết khấu các chứng từ có giá

Trang 39

ABBank áp dụng niên độ kế toán năm tài chính dương lịch, bắt đầu từ ngày 1 tháng 1

và kết thúc khóa sổ vào ngày 31/12 cùng năm

Đơn vị tiền tệ sử dụng hạch toán trong sổ sách là VND

Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ đều được quy đổi theo tỷ giá do NHNN công bố tại thời điểm phát sinh giao dịch

Hệ thống ABBank áp dụng bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán đồng bộ

Toàn bộ công việc hạch toán tại ABBank đều được thực hiện trên máy tính

2.3.3 Hệ thống chứng từ và các tài khoản sử dụng tại ABBank

 Chứng từ tiêu biểu thường được sử dụng

 Chứng từ tiền mặt: Giấy nộp tiền, giấy rút tiền, Séc tiền mặt

 Chứng từ chuyển khoản: Ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, chứng từ chuyển tiền giữa các TK, chứng từ thu phí bằng chuyển khoản

 Chứng từ thanh toán vốn: Lệnh thanh toán, giấy chuyển tiền qua NH khác, bảng

kê thanh toán

Và các chứng từ khác đặt thù trong công tác kế toán tại ABBank PGD - NTP

Chứng từ trong kế toán TTKDTM có đặc điểm vừa là chứng từ gốc vừa là chứng

từ ghi sổ Chứng từ này do NH lập và khách hàng không được sữa chữa

Để đảm bảo tính hợp lệ, hợp pháp, các chứng từ cần được kiểm tra kỹ trước khi hạch toán

Trang 40

SVTH: Võ Thị Ánh Hằng Trang 40

2.3.4 Kết quả kinh doanh của PGD Nguyễn Tri Phương

2.3.4.1 Huy động vốn theo hình thức huy động

Bảng 3: Tóm tắt hoạt động huy động vốn theo hình thức huy động

Đơn vị tính: triệu đồng

(Nguồn: Báo cáo nội bộ ABBANK-PGD Nguyễn Tri Phương)

Biểu đồ 2: Tình hình huy động vốn theo thời gian hình thức huy động

Trong cơ cấu nguồn vốn huy động, thì PGD huy động chủ yếu dưới các hình thức:

Tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Tất

cả các khoản huy động bằng ngoại tệ khi phân tích sẽ được qui ra trị giá VND

Tiền gửi thanh toán:

Năm 2009, PGD huy động được 40.800 triệu đồng chiếm 30% tổng nguồn vốn huy

động Sang năm 2010, nhu cầu thanh toán hàng hóa được đẩy mạnh và nhà nước

Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tương đối Tỷ trọng TGTT 40.800 30% 206.700 65% 165.900 407,00% TGTK không

KH

TGTT có KH 60.200 44,26% 67.670 21,28% 7.470 12,41% Tổng 136.000 318.000 182.000

40.800

35.000 60.2000

206.700

67.670 43.630

Ngày đăng: 21/04/2014, 23:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình kinh doanh tại NH An Bình-PGD Nguyễn Tri Phương từ năm 2008 - Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương
Bảng 1 Tình hình kinh doanh tại NH An Bình-PGD Nguyễn Tri Phương từ năm 2008 (Trang 31)
Bảng 2: Số liệu hoạt động huy động vốn tại ABBANK-PGD Nguyễn Tri Phương. - Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương
Bảng 2 Số liệu hoạt động huy động vốn tại ABBANK-PGD Nguyễn Tri Phương (Trang 32)
Bảng 3: Tóm tắt hoạt động huy động vốn theo hình thức huy động. - Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương
Bảng 3 Tóm tắt hoạt động huy động vốn theo hình thức huy động (Trang 40)
Bảng 4: Tóm tắt hoạt động huy động vốn theo thời hạn - Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương
Bảng 4 Tóm tắt hoạt động huy động vốn theo thời hạn (Trang 41)
Bảng 5: Tình hình thanh toán bằng Séc thời gian qua tại ABBank PGD - NTP - Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương
Bảng 5 Tình hình thanh toán bằng Séc thời gian qua tại ABBank PGD - NTP (Trang 59)
Bảng 6: Tình hình thanh toán bằng UNC thời gian qua tại PGD - NTP - Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương
Bảng 6 Tình hình thanh toán bằng UNC thời gian qua tại PGD - NTP (Trang 64)
Bảng 7: Tình hình thanh toán bằng UNT thời gian qua tại PGD - NTP - Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương
Bảng 7 Tình hình thanh toán bằng UNT thời gian qua tại PGD - NTP (Trang 68)
Bảng 8: Tình hình thanh toán bằng thẻ thời gian qua tại ABBank PGD - NTP. - Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình PGD Nguyễn Tri Phương
Bảng 8 Tình hình thanh toán bằng thẻ thời gian qua tại ABBank PGD - NTP (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm