Trong số các loài sâu hại chè phổ biến ở n-ớc ta thì rầy xanh Empoasca flavescens, bọ trĩ Physothrips setiventris là những loài hại búp quan trọng, chúng th-ờng phát sinh thành dịch trê
Trang 2Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè ở n-ớc ta có ý nghĩa quan trọng cả về mặt kinh tế cũng nh- xã hội và môi tr-ờng Sản phẩm chè đảm bảo đủ nhu cầu tiêu dùng trong n-ớc và
là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị kim ngạch xuất khẩu chè đạt 20 - 25 triệu USD mỗi năm [2,5] Hiện nay cả n-ớc có khoảng 7 vạn ha chè, đ-ợc trồng chủ yếu ở 14 tỉnh trung du miền núi Phát triển cây chè ở các vùng đó
đã góp phần điều hoà sự phân bố dân c- giữa đồng bằng và miền núi Đồng thời góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ môi tr-ờng sinh thái
Theo kế hoạch phát triển đến năm 2000 [2,2], diện tích chè n-ớc ta sẽ lên đến 7,5 vạn ha và năm 2010 là 9 vạn ha Năng suất chè bình quân của cả n-ớc ta hiện nay là 3,41 tấn búp t-ơi / ha / năm, thấp hơn nhiều so với các n-ớc trong khu vực và châu á nh- Malaysia (10,3 tấn / ha), Indonesia (8,8 tấn / ha), ấn Độ (7,8 tấn / ha) và Sri Lanka (5,4 tấn / ha)
Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho năng suất chè của
ta thấp là vì sâu bệnh phá hại Do khí hậu thích hợp, cây chè sinh tr-ởng hầu nh- quanh năm, nên sâu bệnh phát triển rất đa dạng và liên tục, gây khó khăn cho công tác phòng trừ Theo Đỗ Ngọc Qũy (1990) [35] hàng năm sâu bệnh gây thiệt hại từ 20 - 30 % sản l-ợng chè Trong số các loài sâu hại chè phổ
biến ở n-ớc ta thì rầy xanh (Empoasca flavescens), bọ trĩ (Physothrips setiventris) là những loài hại búp quan trọng, chúng th-ờng phát sinh thành
dịch trên diện rộng và gây nhiều thiệt hại
Rầy xanh hại làm cho những phần non bị tổn th-ơng, gặp điều kiện khô nóng sẽ bị khô đầu lá và mép lá Tác hại của chúng không những đã làm giảm năng suất mà còn ảnh h-ởng đến phẩm chất búp chè Theo Nguyễn Khắc Tiến (1969) [ 47, 21-24 ], rầy xanh đang có xu h-ớng tăng dần nh- là loài sâu hại búp chè chủ yếu ở n-ớc ta Cũng Nguyễn Khắc Tiến (1986) [50,
Trang 341] cho rằng rầy làm giảm 15 - 20 % sản l-ợng chè cả năm, có khi làm mất tới 70 % sản l-ợng vụ chè xuân và gây ảnh h-ởng xấu đến các đợt sinh tr-ởng búp trong năm ở Phú Hộ, năm 1987 [39] rầy đã làm thiệt hại 50 % sản l-ợng
vụ chè xuân Hiện nay rầy xanh gây nhiều thiệt hại ở hầu hết các vùng chè miền Bắc và miền Trung Việt Nam
Bọ trĩ hại làm cho búp chè chùn lại, thô cứng, lá non bị biến dạng và không phát triển đ-ợc Bọ trĩ gây ảnh h-ởng xấu đến sự phát triển của chè con ở nông tr-ờng Tam Đảo (Vĩnh Phúc) tháng 7 - 8 / 1962 trên 60 ha chè con đã bị bọ trĩ hại nặng [45,11] [51,184-185]
Để giảm thiệt hại do sâu bệnh, đặc biệt do rầy xanh và bọ trĩ, biện pháp phòng trừ bằng hoá học đã đ-ợc áp dụng rộng rãi ở các vùng chè trong suốt mấy thập kỷ qua Nh-ng thực tế đã cho thấy, sự can thiệp mạnh mẽ của biện pháp hoá học đã không đạt đ-ợc hiệu quả mong muốn Rầy xanh, bọ trĩ chỉ giảm tạm thời, và sau một thời gian ngắn, số l-ợng của chúng lại tăng lên rất nhanh và lại phải dùng thuốc tiếp theo Nh- vậy, l-ợng thuốc sử dụng cho chè ngày càng nhiều đã làm ô nhiễm môi tr-ờng ở hầu khắp các vùng trồng chè,
đặc biệt là những vùng đầu nguồn các dòng chảy và sản phẩm không an toàn cho ng-ời tiêu dùng
Vì vậy, nghiên cứu để tìm ra các biện pháp phòng chống lại các loại sâu này một cách hữu hiệu đang là yêu cầu bức thiết của sản xuất hiện nay
Trên cơ cở đó, đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học phòng trừ rầy xanh, bọ trĩ hại chè vùng Phú Thọ" đã đ-ợc tiến hành Đề tài nhằm góp phần giải
quyết những khó khăn nêu trên, đáp ứng yêu cầu của ng-ời sản xuất chè
2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài :
- Có đ-ợc những tài liệu chi tiết và hệ thống về đặc điểm sinh học của rầy xanh và bọ trĩ, nh- vòng đời, các pha phát dục, khả năng sinh sản
Trang 4- Theo dõi và tổng kết đ-ợc tài liệu trong nhiều năm về biến động số l-ợng và ảnh h-ởng của các yếu tố sinh thái đối với rầy xanh, bọ trĩ hại chè ở vùng Phú Thọ, làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp phòng trừ rầy xanh
và bọ trĩ hại chè có hiệu quả
- Đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong phòng trừ rầy xanh, bọ trĩ của sản xuất chè ở vùng Phú Thọ Bằng việc nghiên cứu khả năng hạn chế số l-ợng sâu hại của các biện pháp kỹ thuật canh tác và hoá học, đề ra hệ thống các biện pháp phòng trừ sâu hại chè, góp phần nâng cao năng suất chè , đảm bảo an toàn cho môi tr-ờng sinh thái và vệ sinh thực phẩm
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Nắm đ-ợc các đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của rầy xanh,
bọ trĩ hại chè
- Nắm đ-ợc qui luật phát sinh phát triển của rầy xanh, bọ trĩ và các yếu
tố sinh thái ảnh h-ởng đến qui luật phát sinh phát triển đó
- Đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại chè, trong đó chủ yếu là rầy xanh
và bọ trĩ trên cơ sở phòng trừ tổng hợp
4 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu rầy xanh, bọ trĩ trên chè sản xuất kinh doanh và chè kiến thiết cơ bản Các giống nghiên cứu là các giống đã đ-ợc mở rộng ở điều kiện sản xuất và một số giống trong các thí nghiệm giám định Cây che bóng
là muồng lá nhọn Indigofera teysmanni Miq
Trên cơ sở kế thừa một số kết quả nghiên cứu về rầy xanh, bọ trĩ của Trại thí nghiệm chè Phú Hộ, đề tài tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học, qui luật phát sinh phát triển và một số yếu tố ảnh h-ởng đến rầy xanh, bọ trĩ, trong đó có ảnh h-ởng của thuốc hoá học Từ đó, đề ra hệ thống các biện pháp phòng trừ thích hợp để áp dụng vào sản xuất
Trang 5Ch-ơng 1 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài:
1.1.1 Nguồn gốc cây chè :
Cây chè có nguồn gốc hoang dại, tên khoa học là Camellia sinensis
(L.) O Kuntze Khi nghiên cứu về nguồn gốc cây chè, các tác giả nh- Muraleedharan [111,1-2], Trang Vãn Ph-ơng (theo Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong,1997 [36,149- 150]) đều cho rằng cây chè xuất xứ ở vùng núi cao của tỉnh Vân Nam - Trung Quốc và các vùng phụ cận Djemukhatze (1976) [9, 73], dựa vào sự tiến hóa hóa sinh cây chè dại ở vùng Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lao Cai, Tam Đảo đã cho rằng cây chè có nguồn gốc ở vùng núi phía Bắc Việt Nam sự di chuyển về vùng thấp và phát triển rộng rãi ở những nơi mà
điều kiện sinh thái khác với vùng xuất xứ, đã dẫn đến sự thay đổi về sinh tr-ởng của cây chè và sự phát triển của sâu hại Tìm hiểu nguồn gốc cây chè
sẽ giúp cho việc nhìn nhận đúng đắn môi tr-ờng xuất xứ của chúng, từ đó tìm hiểu điều kiện sống đối với các loài sâu hại chè nói chung và rầy xanh, bọ trĩ nói riêng trong thời gian hiện nay
1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và trong n-ớc:
Chè đ-ợc sử dụng đầu tiên ở Trung Quốc nh- một thứ thuốc uống, sau trở thành thứ đồ uống thông dụng cho mọi ng-ời Ngày nay, thứ đồ uống này rất quen thuộc và có thể coi là phổ biến nhất trên thế giới
Các n-ớc châu Âu, châu Mỹ ít sản xuất chè, nh-ng lại có nhu cầu về chè rất cao N-ớc Anh bình quân một năm mỗi ng-ời tiêu thụ 4,4 kg; Canada 0,75 kg; Mỹ 0,35 kg; australia 2,7 kg ; iran 2,4 kg ; Thổ Nhĩ Kỳ 2,14
kg Còn tiêu thụ chè ở Việt Nam là 0,2 kg [43,10 ] [70, 3]
Theo Chen Zongmao (1995) [70, 3-6], sản xuất chè thế giới năm 1994
Trang 6đ-ợc khoảng 2487 ngàn tấn, trong đó châu á sản xuất 83,2%, châu Phi 14,4% Các n-ớc ấn Độ, Trung Quốc và Kenya chiếm 71,4 % tổng sản l-ợng chè Sản xuất chè trên thế giới từ năm 1980 đến 1994 tăng 2,55 % hàng năm
Từ năm 1963 đến 1995 diện tích chè tăng 95 % (Năm 1995 diện tích chè thế giới là 2,565 triệu ha), tổng sản l-ợng chè tăng 156 % (Năm 1995 tổng sản l-ợng chè thế giới đạt 2,59 triệu tấn)
ở Việt Nam, theo Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Kim Phong (1997) [36,18
- 137], do điều kiện xã hội, quá trình sản xuất và phát triển cây chè ở Việt Nam không đều đặn Thời kỳ từ 1890 - 1945, sản xuất chè rất phát triển, năm
1939 sản l-ợng chè Việt Nam đứng hàng thứ 6 trên thế giới Thời kỳ từ 1945
- 1954 diện tích và sản l-ợng đều giảm sút Thời kỳ từ 1954 về sau, sản xuất chè đ-ợc mở rộng và phát triển mạnh
Hiện nay chè đ-ợc trồng nhiều ở 30 tỉnh, trong đó 14 tỉnh miền núi và trung du phía Bắc là 42.273 ha, chiếm 63,4 % Nền sản xuất chè của n-ớc ta tăng dần cả về diện tích và sản l-ợng Dự kiến đến năm 2000, diện tích chè sẽ
là 75.000 ha, năng suất trung bình là 4,5 tấn / ha Đến năm 2010, diện tích chè sẽ là 90.000 ha, năng suất trung bình 6,5 tấn / ha, sản l-ợng sẽ đạt 500.000 tấn búp t-ơi t-ơng đ-ơng 100.000 tấn chè khô [2, 2 - 8]
1.1.3 Tình hình sâu hại chè và tác hại của chúng đối với cây chè trên thế giới và ở Việt Nam
Những nghiên cứu về sâu hại chè đã đ-ợc nhiều tác giả trên thế giới quan tâm Theo Rattan, 1992 [133, 331-352 ] có tới trên 200 loài côn trùng và nhện đã đ-ợc biết trên chè ở Châu Phi, nh-ng chỉ có một số ít loài quan trọng Sâu hại lá là quan trọng nhất, tác hại của chúng làm suy yếu cây chè và trực tiếp làm giảm năng suất Trong số các loài hại lá, búp, có các loài quan trọng
nh- bọ xít muỗi (Helopeltis schoutedeni Rent và H orophila Ghesq.) , bọ trĩ (Thrips spp.), rệp muội (Aphidae), một số loài sâu cánh vảy và nhện hại
Trang 7Theo Muraleedharan (1992) [112, 375 - 408] côn trùng, nhện và tuyến trùng là những nhóm động vật hại chè chủ yếu ở Châu á Cây chè là đối t-ợng tấn công của trên 300 loài dịch hại, các loài quan trọng nhất thuộc các
bộ theo thứ tự là: Acarina, isoptera, Hemiptera, thysanoptera, Lepidoptera, Coleoptera và ngành tuyến trùng (Nematoda)
Theo Eden (1958) [84,118 - 135], sâu hại chè quan trọng nhất có các loài sau đây:
- Sâu cuốn búp (Homona coffearia) : Hại mạnh nhất ở Sri Lanka
- Bọ xít muỗi (Helopeltis sp.): hại nặng ở ấn Độ, Sri Lanka ở châu
Phi cũng có bọ xít muỗi nh-ng không th-ờng xuyên nh- ở ấn Độ và Sri Lanka
- Nhện đỏ (Oligonychus coffeae): Rất phổ biến, có ở hầu hết khắp các
nơi trồng chè Nó đ-ợc tìm thấy trên 16 loại cây trồng nhiệt đới và á nhiệt
đới ở Đông Bắc ấn Độ, loài sâu này gây hại rất nghiêm trọng Chúng phát triển mạnh mẽ trong điều kiện thời tiết khô
- Rầy xanh (Empoasca flavescens): Gây nhiều thiệt hại ở assam
nh-ng không phải là sâu quan trọng ở những nơi khác
- Rệp muội (Toxoptera aurantii): Hại chè non trong v-ờn -ơm và
những búp chè còn lại sau đốn
- Bọ trĩ (Dendothrips bispinosus Bagn và Physothrips setiventris Bagn.): Hai loài này thấy ở vùng chè Darjeeling ở Sri Lanka nó đ-ợc tìm
thấy trong v-ờn -ơm nh-ng không th-ờng xuyên gặp trên đồng ruộng
- Mọt đục cành chè (Xyleborus fornicatus): Là loài sâu rất quan trọng
ở Sri Lanka và đã đ-ợc nghiên cứu rất kỹ ở ấn Độ, chúng không quan trọng
và không tìm thấy loài sâu này ở châu Phi
Trang 8Frohlich G và Rodewald W.(1970) [167,119-130] cũng cho biết ở
vùng nhiệt đới có các loài sâu hại chè quan trọng nh- : Sâu đục thân mình đỏ (Zeuzera coffeae) , mọt đục cành (Xyleborus sp.), nhện hại có 5 loài, bọ trĩ có Dendothrips bispinosus và Physothrips setiventris , rầy xanh (Empoasca flavescens ), bọ xít muỗi (Helopeltis sp.), sâu cuốn búp (Homona coffearia)
Theo Othieno (1994) [123, 79 - 85] ở Kenya có những loài sâu nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn sẽ trở thành sâu có tầm quan trọng
kinh tế nh- bọ trĩ (Scirtothrips kenyensis) và các loài nhện đỏ (Oligonychus coffeae, Brevipalpus phoenicis, Calacarus carilatus)
Srivastava và Butani (1987) [143, 16-21] cho biết ở ấn Độ đã định danh trên 200 loài sâu hại chè, chúng hại thân, lá, rễ và búp chè Quan trọng nhất là các sâu d-ới đất, sâu chích hút và các loại sâu ăn lá
ở n-ớc ta, theo Đỗ Ngọc Quỹ (1990) [35] thì Du Pasquier (1931 - 1932) đã xác định 28 loài sâu bệnh hại chè, trong đó sâu hại có 25 loài Các
tỉnh phía Bắc Việt Nam có các loài sâu quan trọng nh- : Sâu Chùm (Andraca bipunctata Walk.); Bọ xít hoa (Poecilocoris latus); Rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.); Nhện đỏ (Paratetranychus bioculatus Wood); Sâu đục thân mình đỏ (Zeuzera coffeae Niet.)
Năm 1967 - 1968 sau cuộc tổng điều tra côn trùng ở các tỉnh phiá Bắc, Viện Bảo vệ thực vật đã có danh mục sâu hại chè gồm 34 loài Các loài
th-ờng xuất hiện nhiều nh- : Sâu chùm (Andraca bipunctata Walk.); Sâu cuốn lá (Cacoecia micaceana Walk.); Rệp sáp xanh (Coccus viridis Green); Rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.) ; Bọ xít muỗi (Helopeltis sp.); bọ xít hoa (Poecilocoris latus); Mối (Termes sp.) [21,456 - 457]
Trạm nghiên cứu chè tiếp tục nghiên cứu thành phần sâu hại chè các năm 1986 - 1987 đã cho biết : Các loài quan trọng và phổ biến có rầy xanh, nhện đỏ và bọ trĩ, còn bọ xít muỗi chỉ hại cục bộ ở một số khu vực và một số
Trang 9giống chè nhất định ở Phú Hộ [39, 11-12] ở vùng Sông Cầu (Bắc Thái), Phạm Thị V-ợng và Nguyễn Văn Hành (1989) [54, 16-22] cho biết rầy xanh,
bọ trĩ, nhện đỏ và mối là 4 loài sâu hại chè chủ yếu
Để hạn chế tác hại của sâu hại chè, có nhiều biện pháp tác động, Eden (1958) [84, 118-119] cho rằng biện pháp đầu tiên là làm giảm nguồn thức ăn của chúng Có thể chia làm 3 h-ớng nh- sau :
(1) Tăng c-ờng các giống không hấp dẫn đối với sâu hại
(2) Sản sinh ra các mô độc bằng cách thấm thuốc
(3) Dùng biện pháp trồng trọt tránh giai đoạn mẫn cảm của cây trồng trùng với cao điểm của dịch hại
Con đ-ờng thứ 3 có nhiều khả năng thực thi và dễ thành công cho chè
Về mặt sinh thái học quần thể, thì dịch hại luôn luôn tồn tại và phát sinh phát triển, các biện pháp tác động chỉ nhằm giảm mật độ dịch hại trong sinh quần đồng ruộng mà không thể tiêu diệt hết chúng đ-ợc Vì vậy, khi mật
độ sâu hại tăng nhanh, cần áp dụng biện pháp tác động mạnh, nh-ng phải tác
động đúng lúc thì hiệu quả mới cao Muốn vậy, phải xác định đ-ợc ng-ỡng phòng trừ sâu hại
Theo Muraleedharan (1991) [111, 7-8], Nguyễn Công Thuật (1995) [42,103 - 106 ] và một số tác giả [57,12] [88, 9-12], mật độ trung bình của sâu hại qua một thời gian dài đ-ợc gọi là điểm cân bằng EP (Equilibrium Position), và số l-ợng của chúng dao động quanh điểm cân bằng đó Mật độ quần thể thấp nhất gây thiệt hại kinh tế đ-ợc gọi là mức thiệt hại kinh tế EIL (Ecomomic Injury Level) ởgiai đoạn này, giá thành của việc phòng trừ ngang bằng với giá trị mất đi do dịch hại Ng-ỡng kinh tế ET (Ecnomic Threshold) là mật độ quần thể dịch hại ở đó cần phải áp dụng các biện pháp phòng trừ để ngăn chặn mật độ dịch hại không tăng tới mức thiệt hại kinh tế (EIL) Nh- vậy ET luôn luôn thấp hơn EIL
Trang 10Rattan (1987)[130, 8-17] đã xác định ng-ỡng phòng trừ (ET) của bọ xít
muỗi Helopeltis schoutedeni bằng thí nghiệm dùng thuốc Cypermethrin và
Cyfluthrin để tính thiệt hại qua tỷ lệ búp khoẻ hoặc chỉ số thiệt hại (D.I.) đã
đ-a ra khoảng DI là 0,05 - 0,1 trong mùa chính và 0,2 - 0,3 trong mùa khô lạnh và đã áp dụng có hiệu quả trong phòng trừ bọ xít muỗi ở Malawi
Tuy vậy, việc lạm dụng thuốc trừ sâu ở các loại cây trồng cũng nh- cây chè đã gây ra những vấn đề bất lợi nh- ô nhiễm môi tr-ờng, hình thành các loài gây hại có tính chống chịu, xuất hiện các loài sâu có ý nghĩa kinh tế mới, phá vỡ các quần lạc sinh vật tự nhiên Để khắc phục những hiệu quả tiêu cực
đó thì việc tìm kiếm các biện pháp phòng trừ sâu bệnh có hiệu quả mà an toàn
đã đ-ợc đặt ra Fadeev [11,7-15] cho biết là những ph-ơng pháp bảo vệ thực vật riêng lẻ, ngay cả những ph-ơng pháp có hiệu quả nhất cũng không thể
đảm bảo ức chế lâu dài số l-ợng sâu hại Điều đó chỉ có thể thực hiện đ-ợc khi sử dụng một cách có hệ thống và tổng hợp tất các các biện pháp phòng trừ
có thể có đ-ợc - Đó là ph-ơng pháp tổng hợp điều khiển quần thể sâu hại
Đối với biện pháp hoá học, theo Novojilov K.V và Sapiro V.A 52], để có thể xác định thời gian tiến hành các lần phun thuốc hoá học ít gây hại nhất cho các loài có ích, cần nắm chắc hiện t-ợng học các loài gây hại và thiên địch của chúng để xác định mức độ t-ơng ứng trong chu kỳ phát triển theo mùa, hành vi gây hại và sự phân bố trên cây của chúng
[31,40-Theo đó, để xây dựng và áp dụng có hiệu quả hệ thống tổng hợp các biện pháp phòng trừ sâu hại chè, cần thiết phải hiểu sâu sắc về sinh học, sinh thái các loài gây hại, sinh tr-ởng của cây chè và các kỹ thuật trồng trọt nói
chung , với rầy xanh Empoasca flavescens Fabr., bọ trĩ Physothrips setiventris Bagn nói riêng
Trang 111.2 Nghiên cứu về rầy xanh và bọ trĩ trên thế giới và trong n-ớc
1.2.1 Những nghiên cứu về rầy xanh hại chè
1.2.1.1 Phân bố, tác hại và phạm vi ký chủ
Rầy xanh Empoasca flavescens Fabr rất phổ biến ở ấn Độ Eden
(1958) [84, 119-130] đã cho biết ở assam, rầy xanh gây thiệt hại nhiều đến sản l-ợng và làm cho búp chè cằn lại, không phát triển đ-ợc Nh-ng ở một số nơi khác, rầy xanh không phải là loài sâu phổ biến Có ý kiến cho rằng những búp chè bị hại do rầy xanh có chất l-ợng tốt hơn, tuy nhiên, những ý kiến này ch-a đ-ợc xem xét một cách nghiêm túc Theo tác giả, nguyên nhân là do thời gian rầy xanh gây hại trùng với thời kỳ thời tiết thuận lợi đã làm tăng chất l-ợng chè Tìm hiểu vấn đề này, Takami C và Shimotsukasa A (1990) [151, 1349-1354 ] ở Nhật Bản đã phân tích thành phần h-ơng vị trong búp
chè oolong bị hại do Empoasca onukii Kết quả là tổng số 69 hợp chất trong
búp chè oolong đã đ-ợc biết Thành phần hoá học chính là Linalool cùng với dẫn xuất Linalool và Geraniol Sự so sánh thành phần của h-ơng vị đã kết luận rằng đặc tính hoá học của h-ơng vị đã đ-ợc tạo thành nh- là kết quả của
sự phá hại gây ra do Empoasca onukii
Muraleedharan (1992) [112, 378 - 394] đã nghiên cứu tập tính, sự phân
bố và thời kỳ phát sinh của loài Empoasca flavescens ở ấn Độ Ông cho biết
rầy tr-ởng thành và rầy non hút nhựa ở mặt sau lá và cuộng non mềm Rầy xanh phân bố rất rộng, có ở Bangladesh, Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ, Việt
Nam Hai loài rầy xanh Empoasca onukii và Empoasca formosana đ-ợc coi
là phổ biến ở Nhật bản và Đài Loan, trong đó loài E onukii chủ yếu ở Nhật bản và loài E formosana chủ yếu ở Đài Loan
Du Pasquier (1932) [165, 611 - 614] khi nói về sâu hại chè và cà phê ở
vùng Viễn Đông đã cho biết loài Empoasca (= Chlorita) flavescens Fabr
Trang 12phân bố rộng rãi ở Đông D-ơng, ấn Độ (assam và Darjeeling), Đài Loan, Nhật Bản và Java ở Việt Nam, rầy xanh hại ở tất cả các vùng chè ở Bắc Kỳ
Về cây ký chủ, rầy xanh hại trên nhiều loại cây trồng Vora V.J và các cộng tác viên (1984) [155, 3-5] cho biết cây castor là loại cây lấy dầu từ hạt dùng để trừ sâu trong kỹ thuật sản xuất chè hữu cơ ở ấn Độ, nh-ng chính cây
castor cũng bị nhiều loài sâu gây hại, trong đó có rầy xanh Empoasca flavescens (Castor jasiid)
Kết quả điều tra côn trùng của Viện Bảo vệ thực vật năm 1967 - 1968
đã cho biết loài rầy xanh lá mạ Empoasca flavescens Fabr là loài côn trùng
đa thực, chúng hại trên nhiều loại cây trồng nh- lúa, khoai lang, bông, đay, mía, dâu, lạc, đậu t-ơng, vừng, chè, thuốc lá, đậu xanh, cà chua, rau muống, cam , điền thanh Loài này xuất hiện nhiều từ tháng 3 đến tháng 8 trong năm [21, 53 - 467]
Hồ Khắc Tín (1982) [51, 184-186] cũng cho rằng rầy xanh là loài sâu hại búp chè quan trọng ở n-ớc ta và có nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, ấn
Độ Ngoài chè, rầy xanh còn hại các cây trồng khác nh- lúa, khoai lang, bông, cà, thuốc lá
Nguyễn Khắc Tiến (1986) [50, 41] còn cho biết rầy xanh (Chlorita flavescens Fabr.) phân bố ở hầu khắp các n-ớc trồng chè ở n-ớc ta, các
vùng chè thấp, vùng chè trung bình và vùng cao Hà Tuyên, Mộc Châu, Pleiku, Bảo Lộc đều có rầy xanh gây hại nghiêm trọng Ngoài chè, rầy xanh còn hại các cây lạc, đậu t-ơng, đậu xanh
1.2.1.2 Hình thái và đặc điểm sinh học
Muraleedharan (1991) [111, 45- 46] mô tả tr-ởng thành rầy xanh loài
Empoasca flavescens Fabr có màu xanh hơi vàng, cơ thể dài 2,5 - 2,75 mm
Đẻ trứng rải rác từng quả trong lá Giai đoạn trứng từ 6 - 13 ngày tuỳ theo thời tiết Rầy non trải qua 5 tuổi thành rầy tr-ởng thành Giai đoạn rầy non
Trang 13phụ thuộc thời tiết ở nhiệt độ cao, rầy non phát dục 8 - 10 ngày, ở nhiệt độ thấp giai đoạn rầy non có thể tới 15 ngày
Du Pasquier (1932) [165,611- 614] cũng cho biết rầy xanh Empoasca flavescens là loài sâu chích hút, màu xanh lá mạ, con tr-ởng thành dài 2 - 2,5
mm Trứng có hình cong, dài 0,5 mm Sâu non lột xác 4 lần thành sâu tr-ởng thành Vòng đời của rầy xanh từ 9 - 18 ngày
1.2.1.3 Qui luật phát sinh phát triển và các yếu tố ảnh h-ởng
Khi nghiên cứu về thời kỳ phát sinh của loài rầy xanh Empoasca flavescens, Muraleedharan (1992)[112, 375-408] cho biết ở vùng vùng Đông
- Bắc ấn Độ, rầy có mặt quanh năm và ở Darjeeling thời gian tháng 6 - 7
đ-ợc xem nh- là mùa của rầy xanh, mà thời kỳ này trùng với thời kỳ chè có chất l-ợng tốt
Du Pasquier (1932) [165] cho biết ở Bắc Kỳ, rầy xanh phát sinh quanh năm nh-ng hại nặng nhất vào thời kỳ từ giữa tháng 4 đến tháng 6
Nguyễn Khắc Tiến (1969, 1971, 1975, 1986) [47] [48] [49] [50] cho
biết loài rầy xanh Empoasca flavescens Fabr phát sinh phát triển thích hợp
trong điều kiện nhiệt độ từ 18 - 25oC, có ít m-a và m-a nhỏ, độ ẩm t-ơng đối không khí 80 % và -a ánh sáng yếu Đồng thời, kỹ thuật canh tác và giống chè đối với rầy cũng đã đ-ợc đề cập trong quá trình nghiên cứu Theo tác giả, rầy xanh hại nặng trên chè đốn đau, chè con kém chăm sóc Rầy phát dục chậm qua mùa đông d-ới dạng tr-ởng thành Nhóm giống chè Shan, assam, Trung du th-ờng bị rầy xanh hại nặng hơn nhóm giống Manipua và Trung Quốc lá nhỏ
Đỗ Văn Ngọc (1991) [27,66 - 67] trong thí nghiệm đốn cũng chỉ ra rằng đốn chè có ảnh h-ởng đến số l-ợng rầy xanh Công thức đốn sửa bằng
có mật độ rầy xanh cao nhất, sau đó đến các công thức đốn phớt xanh, đốn phớt và đốn thấp 45 cm
Trang 141.2.1.4 Dự tính dự báo
Về dự tính dự báo thời gian phát sinh của rầy xanh, đã có một số tác giả nghiên cứu Cheng Mingke và Cheng M.K (1991) [71, 181-183] sử dụng
số liệu 9 năm quan sát về mật độ rầy xanh Empoasca pirisuga và tổng nhiệt
độ trung bình 10 ngày trong tháng giêng và tháng hai để xây dựng ph-ơng trình hồi qui dự đoán ngày bắt đầu cao điểm thứ nhất của rầy xanh
Năm 1991 [99, 30-31], Lu- WenMing và các cộng tác viên, bằng ph-ơng pháp thống kê đơn giản đã dự báo ngày xuất hiện cao điểm đầu tiên
của rầy xanh Empoasca pirisuga Các tác giả cho biết ở Trung quốc, rầy
xanh th-ờng có 2 cao điểm về số l-ợng trong năm Trong một hệ thống điều tra thực hiện từ năm 1982 - 1988, thời gian cao điểm đầu tiên đã đ-ợc xác
định là t-ơng quan với nhiệt độ trung bình (r = 0,7793) và nhiệt độ tối thiểu (r = 0,8189) trong tháng 4 Kết quả số liệu 7 năm đã cho thấy ph-ơng pháp này dự báo chính xác đ-ợc 85,7 %
ở Nhật Bản, Mochizuki M và cộng tác viên (1991) [108,29 - 36] dự
báo rầy xanh Empoasca onukii bằng bẫy dính, cho biết dùng bẫy màu vàng
bắt rầy xanh tr-ởng thành thích hợp hơn so với bẫy màu xanh nhạt, xanh lá cây, đỏ và trắng Trên cơ sở bắt rầy bằng bẫy dính đã cho thấy thời kỳ cao
điểm của rầy tr-ởng thành vào đầu tháng 6 Số l-ợng rầy xanh tr-ởng thành
Trang 15và sâu cuốn búp Các tác giả đã chỉ ra rằng các loại thuốc nh- Applaud, Lavin
và Lannate có hiệu lực thấp, nh-ng Karate lại rất có hiệu quả đối với rầy
xanh Empoasca formosana
Muraleedharan N (1991) [111,46] cho rằng hái sẽ loại đ-ợc một phần lớn trứng và rầy non Các loại thuốc nh- Endosulfan và Phosalone trừ loài sâu này có hiệu quả
ở Việt Nam, Du Pasquier (1932) [165] đã giới thiệu một số biện pháp phòng trừ rầy xanh nh- sau :
- Hái chạy
- Hái triệt để : Để giảm bớt trứng rầy và rầy có ở búp chè
- Đốn : Làm giảm nguồn thức ăn của sâu và điều chỉnh thời vụ đốn để tránh thời kỳ sâu rộ
- Chăm sóc cho cây chè khoẻ mạnh
Vũ Khắc Nh-ợng (1973) [29, 21-23], giải thích mùa đông là giai đoạn xung yếu của sâu hại, mặt khác các loài sâu hại chè chủ yếu trong năm cũng
đều có mặt ở mùa đông Vì vậy phòng trừ sâu hại nói chung và rầy xanh nói riêng vào giai đoạn này sẽ hiệu quả hơn Nghĩa là sau khi đốn chè, làm vệ sinh đồi n-ơng, chăm bón giữ ẩm, phun thuốc trừ sâu thì mật độ rầy xanh năm sau sẽ giảm
Nguyễn Khắc Tiến (1986) [50, 41-50] đề nghị khi phòng trừ rầy xanh,
có thể phối hợp biện pháp để l-u xen kẽ với đốn phớt đại trà để thu hút rầy xanh mà phun thuốc phòng trừ rầy sớm, sau đó cắt nhẹ lại có thể trừ rầy muộn trong vụ hè Các loại thuốc nh- Bassa, Mipcin và Bi58 có hiệu lực trừ rầy xanh tốt Phối hợp thuốc trừ sâu với ure 2 % và axit boric 0,05 % có tác dụng nâng cao hiệu quả của phun thuốc (vừa trừ sâu, vừa tăng năng suất chè)
Phạm Thị V-ợng và Nguyễn Văn Hành (1990)[54,16-22], trong thí nghiệm trừ rầy xanh ở Sông Cầu, Bắc Thái đã cho biết Filitox có hiệu lực trừ
Trang 16rầy cao và kéo dài
1.2.2.Những nghiên cứu về bọ trĩ hại chè
1.2.2.1 Phân bố, tác hại và phạm vi ký chủ
Bọ trĩ đ-ợc xem là loài sâu hại chủ yếu ở hầu khắp các vùng chè trên thế giới Có nhiều loài bọ trĩ sống ở hoa, lá, búp chè Bọ trĩ hại chè có kích th-ớc nhỏ nh-ng tác hại lớn bởi số l-ợng rất nhiều của chúng
Năm 1974 [56, 99], trong báo cáo hàng năm của Viện nghiên cứu chè
Đông Phi (Kenya) đã cho biết từ các trang trại nhỏ của hộ nông dân đến các
đồn điền trồng chè lớn ở n-ớc này đều bị bọ trĩ Heliothrips haemorrhoidalis
gây thiệt hại nặng
Khi nghiên cứu về loài bọ trĩ Heliothrips haemorrhoidalis, Crowe T J
(1967) [76, 11-16] nhận xét loài bọ trĩ này đã gây nhiều thiệt hại cho chè ở Meru (Kenya), ở vùng núi cao miền Nam Tanzania và miền Tây Uganda Ngoài ra, các vùng chè khác trên thế giới đều có Phạm vi ký chủ của loài này rất rộng
Rao,G.N (1974) [126, 18 - 32] khi thảo luận về tình trạng sâu hại chè
ở Nam ấn Độ đã nhấn mạnh bọ trĩ là một trong số các loài sâu gây thiệt hại cho chè khá nghiêm trọng
Ellis, R.T và Rattan, P.S [85, 7-10] điều tra ở Malawi trong tháng 12 năm 1976 trên 12990 ha chè, thấy 6785 ha bị bọ trĩ hại, chiếm 52 % Đây là nguyên nhân thất thu một số l-ợng lớn sản l-ợng chè, đặc biệt là chè đã đốn
Đồng thời cũng gây ra tình trạng chết ở chè con
Qua các cuộc điều tra sâu, bệnh hại chè ở Kenya năm 1978, Lima C.P.F [98, 20-25] và các cộng tác viên cho biết có các loài sâu hại chè chính
là rệp Toxoptera aurantii, bọ trĩ Heliothrips haemorrhoidalis và nhện Brevipalpus phoenicis
Muraleedharan và Kandaswamy (1980) [115, 447-448], khi nghiên cứu
Trang 17về bọ trĩ đã cho biết phổ ký chủ và sự phân bố của một số loài nh- sau :
(1) Scirtothrips dorsalis Hood: Hại trên một số cây có tầm quan trọng kinh tế bao gồm cả cây chè và đ-ợc gọi tên phổ biến là Chillies thrips, hoặc
bọ trĩ Assam, nó gây nhiều thiệt hại cho chè ở Đông Bắc ấn Độ
(2) Scirtothrips bispinosus Bagn : Phân bố rộng, với số l-ợng lớn, có
ở hầu hết các vùng chè Nam ấn Độ Chúng th-ờng đ-ợc gọi là bọ trĩ cà phê
(3) Heliothrips haemorrhoidalis Bouche : Có tính ăn tạp cao và phân
bố tự do, hại nhiều loại cây trồng nông nghiệp Nó đ-ợc ghi nhận nh- một loài sâu hại cà phê, loài này thấy có ít trên chè
(4) Physothrips setiventris Bagn : Có nhiều ở assam và Darjeeling
gây nhiều thiệt hại cho lá non
Hai loài khác là Mycetothrips Anan và Dorcadothrips nilgiriensis Rank
& Mark đ-ợc ghi nhận nguồn gốc từ Nilgiris, hiện nay có trên chè ở vùng
Anamallais Các loài này ch-a đ-ợc nghiên cứu đầy đủ
Các loài bọ trĩ ăn ở hoa còn có lợi cho việc thụ phấn của cây chè
Mound L A và Palmer J M (1981) [110, 467-479] đã nghiên cứu về
các loài bọ trĩ thuộc giống Scirtothrips Các tác giả cho rằng giống này gồm
khoảng 40 loài phân bố ở khắp các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Có 10 loài trong số đó là những loài sâu hại, cây ký chủ gồm chè, cà phê, cam, chanh,
điều, cây castor, ớt, chuối, xoài, nho và dâu tây Các tác giả cũng đã chỉ rõ những loài cụ thể cùng với cây ký chủ và phạm vi phân bố của chúng
ở Nhật Bản, Okada T và Kudo T (1982) [122, 96-97] đã xác định 42
loài bọ trĩ hại trên chè Trong đó phổ biến nhất là loài Scirtothrips dorsalis, chiếm 62,7 % trong số 43961 cá thể đã thu thập Loài bọ trĩ Thrips tabaci Lind đ-ợc xem nh- là một trong những loại sâu hại chè thứ yếu ở Nhật Bản,
chỉ chiếm 0,76 % trong tổng số mẫu điều tra
Trang 18Muraleedharan (1991) [111, 47-48] cho biết ở Nam ấn Độ, cây chè bị
hại nặng bởi bọ trĩ Scirtothrips bispinosus Đôi khi 2 loài khác là Heliothrips haemorrhoidalis và Haplothrips tenuipennis cũng thấy trên chè Còn ở Đông Bắc ấn Độ, Nhật Bản và Trung Quốc thì loài bọ trĩ Scirtothrips dorsalis có tính đa thực cao lại gây nhiều thiệt hại cho chè Loài Scirtothrips bispinosus
cho đến năm 1991 đ-ợc biết mới chỉ có ở ấn Độ, ngoài chè và cà phê, ch-a biết cây ký chủ nào khác của chúng Bọ trĩ -a thích những lá và búp non, bọ tr-ởng thành vẫn gây hại, vết hại để lại trên lá là đ-ờng sần sùi ở hai bên gân chính và song song với nhau
Ngoài ra, Muraleedharan (1992) [112, 375-408] còn cho biết ở các
vùng chè châu á thì họ Thripidae có 9 loài phân bố ở ấn Độ, Sri Lanka, Indonesia, Bangladesh và Nhật Bản Họ Phlaeothripidae có 1 loài ở ấn Độ,
đó là loài Haplothrips tenuipennis Bagn Bọ trĩ hại búp và lá non làm cho lá,
búp có những vết sẹo sần sùi, mặt lá cong lại Rất dễ nhận thấy thiệt hại của
bọ trĩ trên n-ơng chè đang hồi phục sau đốn.Chúng làm chậm lại giai đoạn bấm búp định hình và hậu quả là thiệt hại đến sản l-ợng chè
Rattan (1992) [133, 331-341] đã giới thiệu về sự phân bố của một số
loài bọ trĩ hại chè, thời gian phát sinh của chúng ở châu Phi nh- sau : Loài Scirtothrips aurantii hại chè ít hơn so với hại cây có múi ở Nam phi, nh-ng chúng lại là sâu hại chè chủ yếu ở Malawi và Zimbabwe Loài Scirtothrips kenyensis Mound hại nhiều ở Đông Phi Loài Scirtothrips sp cũng có mặt ở Burundi, Cameroon và Madagascar Loài bọ trĩ đen H haemorrhoidalis gây
hại nghiêm trọng ở vài nơi của Kenya, Tanzania và Uganda
Khi tìm hiểu về các loài cây bị hại do bọ trĩ, Viggiani và Bernardo
(1996) [153,73-75] cũng cho biết loài bọ trĩ H haemorrhoidalis gây thiệt hại
cả cho cây cảnh, cây ăn quả, cây bóng mát ở thành phố và cả ở cây hoang dại
Trang 19ở Việt Nam, nghiên cứu về bọ trĩ hại chè đ-ợc bắt đầu t-ơng đối sớm, ngay trong thời Pháp thuộc do Du Pasquier (1932) , nh-ng còn dừng lại ở mức rất hạn chế Sau năm 1960, một số tác giả khác nh- Nguyễn Khắc Tiến (1963), Vũ Khắc Nh-ợng (1973), Nguyễn Văn Hành và Phạm Thị V-ợng (1990), Nguyễn Văn Hành (1992), Lê Thị Nhung (1996) đã đề cập tới bọ trĩ nh-ng ch-a có dịp đi sâu
Du Pasquier (1932) [166, 696 - 699 ] đã tìm hiểu các loài bọ trĩ hại chè
và cà phê và sự phân bố, tập tính sinh sống và triệu chứng, tác hại Ông cho biết có 4 loài bọ trĩ hại chè là những loài nguy hiểm thực sự :
- Physothrips setiventris hại rải rác ở ấn Độ, th-ờng có nhiều ở
Darjeeling và Java
- Heliothrips haemorrhoidalis hại cây canh-ki-na ở Java, hại cả chè, cà
phê, ngô nh-ng sự phá hại ở mức độ nhẹ
- Physothrips leproyi và Bergmatothrips theifloris, gặp ở hoa chè, lần
đầu tiên thấy ở ấn Độ, sau đó thấy ở Java
ở Bắc Kỳ, năm 1931 nhận thấy sự phá hại đầu tiên của bọ trĩ trên chè,
từ đó về sau tiếp tục thấy bọ trĩ gây hại
1.2.2.2 Hình thái và đặc điểm sinh học
Năm 1965, Metcalf Flint và W.P.Flint [168, 249 - 251] đã mô tả bọ trĩ
là những loài sâu cơ thể nhỏ bé, miệng thuộc loại giũa hút Đầu có mắt kép và mắt đơn, râu đầu từ 6 - 9 đốt Một số loài không có cánh, rất nhiều loài có 4 cánh, cánh có nhiều lông tơ Trứng đẻ vào mô cây Bọ trĩ có 2 hình thức sinh sản là đơn tính và hữu tính
Kết quả nuôi sinh học bọ trĩ hại chè đã đ-ợc Crowe T.J (1968) [76]
công bố đối với loài H haemorrhoidalis Ông cho biết kích th-ớc và vòng đời
của chúng nh- sau: Trứng 0,3mm phát dục 25 - 44 ngày Bọ trĩ non có 2 giai
đoạn tuổi 1 và tuổi 2 dài 19-30 ngày tùy thuộc nhiệt độ Sau giai đoạn sâu
Trang 20non là hai giai đoạn không ăn, đ-ợc gọi là "Tiền nhộng" dài 1,1 mm và
"Nhộng" dài 1,2 mm, hai giai đoạn này từ 7-14 ngày Tr-ởng thành dài 1,5
mm
Khi nghiên cứu về bọ trĩ hại chè ở ấn Độ, Muraleedharan và Kandaswamy (1980) [115, 447-448] cũng cho biết: Vòng đời của bọ trĩ hại chè gồm các pha : Trứng - Sâu non tuổi 1 - Sâu non tuổi 2 - Tiền nhộng (prepupa) - Nhộng (pupa) - Tr-ởng thành Con cái tr-ởng thành đẻ trứng vào phần mềm của lá, búp chè bằng ống đẻ trứng Trung bình một con cái đẻ từ
25 - 50 trứng, nếu nhiệt độ môi tr-ờng thuận lợi, có thể đẻ tới 200 trứng Giai
đoạn tuổi 1 và tuổi 2 từ 7 - 10 ngày Giai đoạn nhộng khoảng 1 tuần Nhộng nằm ở bề mặt lá hoặc mặt đất Vòng đời của các loài phụ thuộc nhiều yếu tố nh- thức ăn, nhiệt độ, m-a, thời gian chiếu sáng Tác giả cho biết, tác hại của bọ trĩ ngoài vết ăn còn do ống đẻ trứng của con cái gây ra Ông cũng cho biết tập tính và vòng đời của một số loài bọ trĩ nh- sau :
(1) Scirtothirips dorsalis Hood : Vòng đời hoàn thành trong 13 - 17
ngày tuỳ theo mùa Chúng làm nhộng trong địa y trên thân cây chè Loài này
có cả hai hình thức sinh sản đơn tính (parthenogenesis) và hữu tính (sexual reproduction)
(2) Scirtothrips bispinosus Bagn.: Vòng đời hoàn thành trong 19 ngày
và có trên 12 lứa mỗi năm Chúng sinh sản theo cả hai hình thức đơn tính và hữu tính
(3) Heliothrips haemorrhoidalis Bouche : Chỉ có hình thức sinh sản
đơn tính Vòng đời từ 20 - 40 ngày tuỳ điều kiện thời tiết
(4) Physothrips setiventris Bagn : Vòng đời hoàn thành trong 3 tuần
Loài này ch-a đ-ợc nghiên cứu chi tiết
Khi viết về kết quả nghiên cứu của mình Mkwaila (1981) [102,11- 14] cho biết Bọ trĩ sinh sản, ăn và sống trong và xung quanh búp chè, đặc biệt có
Trang 21nhiều ở những búp nhô lên trên mặt tán Tác giả cho biết vòng đời của bọ trĩ
Scirtothrips aurantii trong thời kỳ tháng 10 đến tháng 12 ở Malawi nh- sau :
Trứng phát dục 6 ngày; Tuổi 1 là 2 ngày; Tuổi 2 là 2,5 ngày; Tiền nhộng, 1 ngày; Nhộng, 2 ngày Tr-ởng thành con cái sau vũ hoá 24 giờ bắt đầu đẻ trứng và đẻ trong vòng 3 ngày Con tr-ởng thành có thể sống trong 6 tuần và
có thể đẻ tới 50 trứng
Đối với loài bọ trĩ Scirtothrips bispinosus Muraleedharan (1991) [111,
47 - 48] cho biết thời gian phát dục của trứng là 6 - 8 ngày, của tuổi 1 từ 2 - 3 ngày, của tuổi 2 từ 3 - 4 ngày Cuối tuổi 2 chúng rơi xuống đất và chuyển vào giai đoạn tiền nhộng, sau đó là nhộng, giai đoạn này từ 3 - 5 ngày Đồng thời
Muraleedharan (1992) [112, 375 - 412] còn cho biết loài bọ trĩ Scirtothrips dorsalis -a thích đẻ trứng ở những nơi che bóng và ẩm Hầu hết chúng hoá
nhộng ở những nơi dễ ẩn nấp nh- lá già, kẽ nứt của cây, rêu, rác r-ởi
Theo Du Pasquier (1932) [166, 696-699], bọ trĩ Physothrips setiventris Bagn là loài sâu nhỏ, cơ thể dài 1 - 1,5 mm, qua 4 lần lột xác thành sâu
tr-ởng thành Bọ trĩ đẻ trứng vào mô lá non, cuộng non Trứng hình hạt đậu, dài 0,5 mm Cuối thời kỳ sâu non, chúng xuống đất hoá nhộng Khi tr-ởng thành, chúng trở lại hại cây chè
1.2.2.3 Quy luật phát sinh phát triển và các yếu tố ảnh h-ởng
Các tác giả nghiên cứu về bọ trĩ đều kết luận bọ trĩ diễn biến trên đồng ruộng có tính qui luật và chịu sự tác động của các yếu tố môi tr-ờng Mkwaila (1981) [102,11-14] cho biết có nhiều yếu tố môi tr-ờng ảnh h-ởng
đến sự phát sinh phát triển của bọ trĩ, trong đó ảnh h-ởng của nhiệt độ là chủ yếu Các thế hệ bọ trĩ gối tiếp nhau nên trong một búp có các pha khác nhau cùng c- trú và
gây hại
Về sự phân bố, lan truyền và thời kỳ phát sinh ở Kenya, Sudoi (1987) [148, 33-36] cho biết bọ trĩ phân bố rộng, chúng lan truyền trên những cánh
Trang 22đồng nhờ gió, do con ng-ời hoặc dụng cụ nông nghiệp trong quá trình canh tác đã vô tình đ-a chúng từ nơi này đến nơi khác ở vùng Kericho (Kenya)
loài Scirtothrips kenyensis hại quanh năm trên n-ơng chè, nh-ng mật độ cao
nhất vào mùa khô và thấp nhất vào mùa m-a
Năm 1985, V.Sudoi [147, 7-12] đã nghiên cứu sự ảnh h-ởng của l-ợng
m-a và che bóng đối với bọ trĩ Scirtothrips kenyensis ở Kenya, thấy rằng bọ
trĩ xuất hiện quanh năm, nh-ng vào những tháng mùa khô, mật độ bọ trĩ cao hơn Số l-ợng bọ trĩ có t-ơng quan nghịch với l-ợng m-a của 2 tháng tr-ớc
đó M-a to đã rửa trôi bọ trĩ, do vậy mật độ của chúng giảm Số l-ợng bọ trĩ ở n-ơng chè không có cây che bóng nhiều hơn ở n-ơng chè có che bóng bằng
Về ảnh h-ởng của cây che bóng đối với bọ trĩ và sâu bệnh hại chè đã
đ-ợc nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu Cây che bóng không những ảnh h-ởng có lợi cho năng suất và chất l-ợng chè mà nhiều tr-ờng hợp còn ảnh h-ởnglàm giảm sâu bệnh hại cho cây chè
Theo Eden (1958) [84, 88- 91], đặc tr-ng nổi bật của vùng chè assam
là có cây che bóng lâu dài Giống cây Albizzia đ-ợc sử dụng rộng rãi nhất ở vùng này Những loài thích hợp là A stipulata, A procera, A lebbek, A odoratissima Những cây này với mật độ trồng 40 x 40 ft (1 ft = 0,305 m)
Trang 23đ-ợc xén tỉa hoặc cắt ngọn, đến lúc tr-ởng thành chúng có tác dụng làm
giảm c-ờng độ ánh sáng xuống còn 50 % Loài cây Grevillea robusta đ-ợc sử
dụng rộng rãi và rất phù hợp ở Sri Lanka, Nam ấn Độ, Đông Phi và Nyasaland, nh-ng nó lại không phù hợp ở assam
ở Sri Lanka, T.Visser (1961)[154, 69-79] đã cho biết sản l-ợng chè
trong 10 năm theo dõi d-ới tán cây trẩu (Aleuristis montana) và cây họ đậu (Albizzia stipulata) trong điều kiện không bón phân Năng suất ở n-ơng chè
không có cây che bóng là 970 lb / acre, n-ơng chè che bóng bằng cây trẩu là
1000 lb / acre và n-ơng chè có cây che bóng họ đậu là 1170 lb / acre (1 lb = 0,454 kg; 1 acre = 0,405 ha) Bằng phân tích thống kê, Viser đã chỉ ra rằng năng suất chè giữa che bóng bằng cây trẩu và không che bóng t-ơng đ-ơng nhau ( sai khác không có ý nghĩa ) Còn năng suất chè giữa che bóng bằng cây trẩu và cây họ đậu cũng nh- giữa che bóng bằng cây họ đậu và không che bóng khác nhau trong tất cả các năm nghiên cứu Đối với sâu bệnh hại chè, cây che bóng ảnh h-ởng gián tiếp đến bệnh phồng lá Mùa m-a năm 1958 ở
St Coom, nơi không có cây che bóng, tỷ lệ nhiễm bệnh là 14 %, còn ở nơi
đ-ợc che bóng, tỷ lệ nhiễm bệnh là 40 % Visser cũng cho biết ở Indonesia,
sự loại bỏ cây che bóng đã làm cho chè bị nhện đỏ và bọ trĩ hại nặng
Mkwaila,B (1982) [103, 7-11] cũng cho rằng sự phổ biến và gây hại
nghiêm trọng của loài bọ trĩ Scirtothrips aurantii ở Nam Phi là kết quả của sự
phá bỏ cây che bóng trong n-ơng chè
Muraleedharan (1992) [113, 1-21] còn cho biết c-ờng độ che bóng
đóng vai trò quyết định mật độ quần thể của bọ trĩ, rệp muội, bọ xít muỗi và nhện N-ơng chè không che bóng luôn luôn có nhiều bọ trĩ và nhện, bọ xít muỗi gây nhiều thiệt hại ở những nơi cây che bóng dầy và ẩm
Cũng theo Muraleedharan (1992) [112, 404], ở các vùng chè thấp, ng-ời ta rất chú trọng trồng cây che bóng cho chè Ngoài các lợi ích tăng hiệu suất quang hợp, từ đó tăng năng suất và chất l-ợng thì lá rụng của cây che
Trang 24bóng cũng làm tăng chất hữu cơ cho n-ơng chè Cây che bóng còn tạo điều kiện cho các loại côn trùng có ích phát triển, có lợi cho việc trừ sâu hại chè và giảm l-ợng thuốc hoá học cần sử dụng
Rattan (1992) [133] khi nghiên cứu ảnh h-ởng của cây che bóng cũng
đã kết luận : N-ơng chè không có cây che bóng bị bọ trĩ hại nặng, đặc biệt vào thời kỳ khô nóng
Theo Barbora (1994) [61, 74-75], Trạm thí nghiệm chè Tocklai (ấn
Độ) đã chứng minh ở Đông Bắc ấn Độ, ngay cả khi tán cây che bóng còn th-a cũng rất cần thiết cho chè Chè không đ-ợc che bóng có hại về mặt quang hợp Cây che bóng làm giảm nhiệt độ mặt lá và làm cho lá chè khỏi cháy nắng Đồng thời cây che bóng cũng làm giảm sự phá hoại của sâu bệnh
ở n-ớc ta, cây che bóng đ-ợc nghiên cứu và sử dụng rộng rãi đối với cây cà phê Ngô Văn Hoàng và Nguyễn Sỹ Nghị (1964) [14, 175-187] cho biết một số loài hay dùng làm cây che bóng cho cà phê nh- :
- Muồng đen (Cassia siamea)
- Muồng (Te'phrosia teysmanii): Có khả năng mọc nhanh, ở đất tốt
một năm đã có thể che bóng
- Cây trẩu (Aleuristis montana)
- Cây bồ kết tây (Albizzia lebbek)
Đối với chè, Trại thí nghiệm chè Phú Hộ đã nghiên cứu tập đoàn cây phân xanh làm cây che phủ cho chè Các báo cáo khoa học các năm 1974 -
1976 [3] [38] đề cập tới một tập đoàn cây che phủ gồm 26 loài cây thuộc bộ
đậu, đó là các loại cây vừa thân gỗ, vừa thân thảo Những nghiên cứu này chủ yếu giải quyết các vấn đề chống xói mòn và cải tạo đất Các vấn đề về đặc
điểm thực vật và kỹ thuật trồng trọt của các loài cây này cũng đã đ-ợc nghiên cứu, nh-ng ch-a có những nghiên cứu về sự ảnh h-ởng của cây che bóng tới tình hình sâu bệnh và năng suất, chất l-ợng chè
Trang 251.2.2.5 Biện pháp phòng trừ
G.Frohlich và W.Rodewald (1970) [167, 129] đã quan tâm tới 2 loài
bọ trĩ hại chè vùng nhiệt đới là Physothrips setiventris Bagn và Dendothrips bispinosus Bagn Ông đã cho biết phòng trừ các loài sâu này bằng Metyl
Parathion rất hiệu quả
Rao và Padmanaban (1975) [127, 19-39] cho rằng biện pháp phòng trừ
bọ trĩ là rất cần thiết để giảm thiệt hại Thuốc trừ sâu Malathion và Ethion trừ
bọ trĩ không có hiệu quả trong khi các thuốc nội hấp nh- azodrin, Nuvacron, Bidrin, Tamaron và Anthio có hiệu quả tốt Dùng thuốc nội hấp thì thời gian giữa các lần phun có thể dài hơn
Rattan (1985) [129, 20-28] đã tìm hiểu hiệu lực của thuốc trừ sâu
Baythroid phòng trừ bọ xít muỗi Helopeltis schoutedeni và bọ trĩ Scirtothrips aurantii Trong các thí nghiệm thuốc hoá học trên chè, hiệu quả của
Baythroid đã đ-ợc đánh giá và so sánh với các thuốc trừ sâu khác và cho biết thuốc Baythroid (Cyfluthrin, cyflaxilate) có hiệu quả trong phòng từ bọ xít muỗi nh- Ricord (Cypermethrin) và Decis (Deltamethrin) Để trừ bọ trĩ, phun thuốc 2 lần cách nhau 14 ngày (phun kép) với Baythriod 10 gai / ha, Ricord 20
gai /ha và Fastac 10 gai / ha.Trong khi đó, dùng PP 321 ở l-ợng 5gai /ha có hiệu quả thấp nhất
Đối với nhóm thuốc Pyrethroid, Muraleedharan và Varadharan (1986) [116, 23-27] cho biết các loại thuốc th-ơng mại có sẵn nh- Permethrin, Cypermethrin, Fenvalerate, Deltamethrin, Fenpirithrin, Fenpropathrin và
Trang 26Fluvalinate rất có hiệu quả trong phòng trừ sâu ăn lá Cydia leucostoma và bọ trĩ Scirtothrips bispinosus hại chè Liều l-ợng sử dụng của các loại thuốc từ
100 - 300 ml / ha
Theo Muraleedharan và Kandaswamy (1980) [115, 447-448], phòng trừ bọ trĩ nên kết hợp biện pháp sinh học và hoá học và cho rằng : Trong tự nhiên, bọ trĩ bị điều chỉnh bởi nhiều loài ký sinh và ăn thịt Tuy nhiên, để phòng trừ bọ trĩ có hiệu quả, tác giả cho rằng phun thuốc trừ sâu là không thể tránh đ-ợc
Việc trừ bọ trĩ hại chè ở Trung Phi đã đ-ợc Ellis, R.T và Rattan, P.S [85, 7-10] nghiên cứu và cho biết: Biện pháp phòng trừ có hiệu quả bao gồm phun thuốc Actellic lặp đi lặp lại 10 - 15 ngày một lần trong một thời kỳ vài tháng, thay đổi thời gian đốn và hái ở đỉnh cao 10 cm trên vết đốn
Thực hiện phòng trừ bằng kết hợp biện pháp canh tác và hoá học Rattan (1988) [131, 14-19] đã tiến hành thí nghiệm phòng trừ bọ trĩ
Scirtothrips aurantii bằng biện pháp đốn và phun thuốc trừ sâu Bốn ruộng
đ-ợc chọn để nghiên cứu ảnh h-ởng của thời gian đốn, của thuốc trừ sâu đối với bọ trĩ và năng suất chè Kết quả cho biết cứ 2 tuần phun thuốc một lần sẽ giảm đ-ợc bọ trĩ và sản l-ợng chè cũng tăng Sau khi đốn tháng 7 hoặc tháng
8, sự khác nhau giữa phun thuốc và không phun thuốc giảm bớt Đốn vào thời
kỳ tháng 5 và không phun thuốc thì sản l-ợng chè cao nhất
Sau đó, Rattan (1989) [132, 27-29] cũng giới thiệu thí nghiệm trừ bọ xít muỗi, bọ trĩ bằng Thiodan và so sánh với các loại thuốc Cypermethrin, Deltamethrin và Pirimiphosmethyl Thấy Thiodan có hiệu lực trừ bọ xít muỗi cao hơn các loại thuốc khác, nh-ng đối với bọ trĩ không có hiệu quả Thời gian cách ly đối với Thiodan ít nhất là 5 ngày
Tiếp tục nghiên cứu biện pháp canh tác và hoá học Rattan (1992) [133, 331-341] cho biết chè hồi phục sau đốn bị hại nặng, những năm đốn muộn có thể mất mùa tới 20% Do vậy, phòng trừ bọ trĩ bằng cách điều chỉnh thời gian
Trang 27đốn và phun thuốc hoá học có kết quả cao
Warui và Ombaka (1989) [150, 105 - 107] đã làm thí nghiệm trừ bọ trĩ
Scirtothrips kenyensis bằng các loại thuốc nhóm Pyrethroid và Organophosphates Các thí nghiệm thực hiện ở một số đồn điền chè ở Kenya
từ năm 1986 - 1988 với các loại thuốc Pyrethrum tự nhiên 25 EC, Permethrin
25 EC, Malathion 50 EC, Dimethoate 40 EC Kết quả là tất cả các loại thuốc
đều có ý nghĩa làm giảm bọ trĩ Tuy nhiên, trong các thí nghiệm, Pyrethrum
và Permethrin 25 EC trừ sâu khá hơn các loại thuốc nhóm Organophosphates
ở Malawi, Mkwaila (1990) [104, 4-5] đã tiến hành thí nghiệm thuốc Tedion và Karate trừ nhện đỏ và bọ trĩ Kết quả cho thấy Tedion có hiệu lực trừ nhện đỏ nh-ng không hiệu lực đối với bọ trĩ Karate hiệu quả đối với cả
bọ trĩ và nhện đỏ Sản l-ợng ô thí nghiệm cũng đ-ợc theo dõi và mất mùa là
do bọ trĩ mà không phải do nhện đỏ
Viggiani và Bernardo (1996) [153,73-75] cho biết phòng trừ loài bọ trĩ
H haemorrhoidalis hại cây cảnh, cây ăn quả, cây bóng mát ở thành phố và cây hoang dại bằng các loài thiên địch nh- Megaphragma mymaripenne (Trichogrammatidae) và Thripobius semiluteus (Eulophidae) đang đ-ợc thử
nghiệm trong nhà kính
Das, SC và Katoty, NN (1991) [80, 9-12] cho biết những biện pháp phòng trừ sâu hại chè ở ấn Độ (chủ yếu là biện pháp canh tác) đã đ-ợc gợi ý thực hiện d-ới điều kiện thời tiết lạnh để trừ 12 loài sâu hại, bao gồm xới xốp
đất quanh bụi chè, thu nhặt nhộng và sâu non bộ cánh vảy, thu nhặt những cành chết, đốn bề mặt tán, phủ đất giữa các hàng chè, phun thuốc 1 - 2 lần lên các vật liệu phủ đất để trừ ấu trùng bọ hung và bọ trĩ Những biện pháp này có tác dụng làm giảm tác hại của sâu trong mùa thu hái
Để hạn chế tác hại của bọ trĩ đối với cây chè Du Pasquier (1932) [166,
696 - 699] đã đề ra một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ nh- sau:
Trang 28- Hái búp : Hái nhanh và đốt ngay những lá vàng có sâu và trứng
- Phun thuốc Nicotin
- Biện pháp trồng trọt : ở ấn Độ thấy n-ơng chè không phủ đất bị hại nặng, cầy đất có lợi để trừ bọ trĩ
- Đốn nhẹ : Đốn giảm bớt lá sẽ giảm đ-ợc bọ trĩ
Vũ Khắc Nh-ợng (1973) [29, 21- 23], đã theo dõi ở một số nông tr-ờng thuộc các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình, Hải D-ơng, Nghĩa Lộ, nhận thấy ở những nơi có áp dụng các biện pháp phòng trừ trong vụ đông thì mật độ bọ trĩ trong năm sau giảm hẳn so với không phòng trừ
Theo Phạm Thị V-ợng và Nguyễn Văn Hành (1990) [54, 16 - 22], dùng thuốc Filitox phòng trừ bọ trĩ cho kết quả rất tốt
Về vấn đề d- l-ợng:
Biện pháp hoá học rất quan trọng và cần thiết để giảm tác hại của rầy xanh, bọ trĩ nói riêng và sâu hại chè nói chung Nh-ng trong nhiều tr-ờng hợp, thuốc hoá học đã để lại trong sản phẩm l-ợng tồn d- ch-a phân huỷ hết làm ảnh h-ởng đến chất l-ợng sản phẩm Đặc biệt chè đ-ợc sử dụng d-ới dạng n-ớc uống, nên vấn đề d- l-ợng thuốc trừ sâu có ý nghĩa rất quan trọng
Trên thế giới, vấn đề d- l-ợng thuốc hoá học đã đ-ợc chú ý từ những năm 1960 Ng-ời tiêu dùng lo ngại l-ợng thuốc còn lại trong chè sẽ gây ảnh h-ởng xấu đến sức khoẻ Lý do là sự tích luỹ d- l-ợng trong chè trên thực tế nhiều hơn các cây trồng khác Cho đến gần đây, trên 300 mức d- l-ợng tối đa (Maximum Residue Limit - MRL) trong chè đã đ-ợc 2 tổ chức quốc tế và 16 n-ớc sản xuất, tiêu thụ chè đ-a ra Theo đó, các n-ớc xuất hoặc nhập khẩu chè phải đảm bảo d- l-ợng trong sản phẩm thấp hơn MRL qui định Giới hạn MRL có thể thấp hơn ở một vài n-ớc châu Âu nh- ở bảng 1 Nguồn số liệu ở bảng 1 từ các tài liệu [57, 6 - 8] [111, 16] [112, 406 - 407] [114, Annexure]
Trang 29và có chọn lọc một số loại thuốc trừ sâu đã và đang sử dụng trên chè ở Việt Nam
Bảng 1 Giới hạn d- l-ợng tối đa (MRL) của một số loại thuốc trừ sâu
trong chè của một số tổ chức quốc tế và quốc gia (mg / kg)
FAO/ Hội đồng Trung Hoa CHLB Nhật T.giancách
từ 3 - 4 lứa hái một tháng Để giảm đ-ợc d- l-ợng thuốc trong chè, Muraleedharan (1995) [114, 9] đã giới thiệu một số biện pháp nhằm giữ mức d- l-ợng d-ới giới hạn cho các vùng chè ở ấn Độ nh- sau :
(1) Sử dụng luân phiên hoá chất Dùng thuốc phải trên cơ sở của sự cần thiết
(2) Chỉ phun thuốc sau khi hái chè
Tên thuốc
Trang 30(3) Không dùng thuốc đã quá thời hạn
(4) Chỉ sử dụng những bình phun quy định
(5) Không dùng thuốc đã cấm sử dụng cho chè
(6) Thuốc Ethion nên giữ ở liều l-ợng 750 ml / ha
(7) Mẫu chè xuất khẩu phải phân tích d- l-ợng các loại thuốc DDT, BHC, Aldrin / Dieldrin, Chlordan, Heptachlor, Dicofol và Ethion Dù không
đ-ợc h-ớng dẫn sử dụng cho chè, song d- l-ợng của các loại thuốc này cần phải đ-ợc phân tích và phải tính bằng phần tỉ (parts per billion) vì các n-ớc nhập khẩu chè đều yêu cầu d- l-ợng ở d-ới mức cho phép
(8) Không để chung BHC với các hoá chất khác dùng cho n-ơng chè Musalam và Mulyadi (1991) [121, 37-48] đã phân tích d- l-ợng thuốc trừ sâu (Fenitrothion, Phosphamidon, Methidathion và Fenthion) trong lá chè sau khi phun thuốc 0, 1, 3, 6, 9, 12 và 15 ngày Các tác giả cho biết, trên cơ sở qui định của FAO/WHO, lá chè sẽ an toàn để tiêu dùng nếu hái 7 ngày sau khi phun Fenitrothion, 6 ngày sau khi phun Phosphamidon, 9 ngày sau khi
phun Methidathion và 1 ngày sau khi phun Fenthion
ở n-ớc ta, vấn đề d- l-ợng thuốc trên chè cũng đ-ợc ngành nông nghiệp và các ngành liên quan khác quan tâm chú ý Một số loại thuốc có thời gian phân huỷ chậm để lại tồn d- trong sản phẩm chè, đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng cho chè ở n-ớc ta, cụ thể nh- Endosulfan, Methamidophos, Dicofol, Metyl Parathion, Deltamethrin, Andrin, Endrin [7, 1 -3]
Việc xác định thời gian cách ly (từ khi phun thuốc đến khi hái) là nhằm hạn chế d- l-ợng không v-ợt quá mức cho phép Khi nghiên cứu vấn đề này, Hoàng Thị Hợi (1996) [15, 121-122] đã đề xuất thời gian cách ly đối với thuốc Danitol là 10 ngày
Trang 311.3 Những nghiên cứu về thiên địch của sâu hại chè trên thế giới và trong n-ớc
Thiên địch là một trong những yếu tố sinh thái ảnh h-ởng đến sự phát sinh phát triển của sâu hại, chúng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà số l-ợng của các loài sâu hại ở các n-ớc trồng chè trên thế giới, nghiên cứu và
sử dụng thiên địch trong phòng trừ sâu hại chè đã đ-ợc nhiều tác giả đề cập
Cranham (1961) [74, 26-36] đã nghiên cứu cân bằng tự nhiên của dịch
hại và ký sinh trên chè, đặc biệt là sâu cuốn búp Homona coffearia và ong ký sinh Macrocentrus homona Nixon ở Sri Lanka Để giải thích tính chất cân
bằng tự nhiên trong n-ơng chè, tác giả đã nêu những vấn đề liên quan đến các yếu tố về thức ăn, khí hậu, sự cạnh tranh, nơi ở cũng nh- ảnh h-ởng của việc dùng thuốc hoá học gây mất cân bằng giữa sâu hại và thiên địch của chúng
Muraleedharan và Radhakrishnan (1985) [117,307] cho biết đã tìm
thấy nhiều loài ruồi Syrphids ăn rệp Toxoptera aurantii trong n-ơng chè nh-:
(1) Allobaccha nubilipennis (Austen)
(2) Betasyrphus serarius (Wiedeman)
(3) Dideopsis aegrota (Fabr.)
(4) Episyrphus balteatus (DeGeer)
(5) Ischiodon scutellaris (Fabr.)
(6) Paragus tibialis (Fallen)
Chen H.T (1988) [66, 15 - 25] cho biết ng-ời trồng chè ở Đài Loan đã
nuôi loài nhện Ambliseius longispinosus để phòng trừ nhện hại Oligorychus coffeae và Tetranychus kanzawai Đầu tiên, ng-ời ta gieo đậu Hà Lan, sau khi
cây đậu mọc 10 - 15 ngày thì thả nhện hại, sau khi thả nhện hại đ-ợc 5 - 10 ngày thì thả nhện ăn thịt Cây đậu Hà Lan đã thả nhện ăn thịt 10 - 15 ngày thì
đ-a vào v-ờn chè để chúng phát tán và ăn nhện hại
Trang 32Để phòng trừ nhện đỏ Oligonychus coffeae, Somchoudhury, Shaha và
các cộng tác viên[143, 363- 368], trong thời gian từ tháng 7 /1993 đến tháng
6 / 1995 tiến hành điều tra ở nhiều đồn điền trồng chè ở Bắc Bengal và Đông Bắc ấn Độ đã kết luận : Trong số các loài ăn thịt thì nhóm Phytoseiid đ-ợc xem nh- một tác nhân sinh học điều hoà nhện hại thực vật có hiệu quả nhất
và -u thế nhất Đã ghi nhận 39 loài nhện ăn thịt thuộc nhóm Phytoseiid, của
các họ Phytoseiidae, Stiymaeidae, Cunaxidae, Erythriadae, Bdellidae, Tydeidae, Ascidae , Anystidae Đồng thời các tác giả cũng cho biết sự tác
động lẫn nhau giữa Phytoseiid với thuốc trừ sâu và giữa Phytoseiid với giống
chè chống chịu nhện hại Về tác động của thuốc, đã thí nghiệm tính độc tiếp
xúc của nhiều loại thuốc trừ sâu với nhện ăn thịt, loài Amblyseius ovalis và loài Amblyseius largoensis, cho biết các loại thuốc Fenazaquin, Dicofol và
Sunfur ít độc đối với nhóm nhện ăn thịt này, trong khi các loại thuốc Cypermethrin, α-Cypermethrin và Endosulfan có tính độc cao đối với chúng
Điều ngẫu nhiên là Fenazaquin và Sulfur lại có hiệu quả phòng trừ nhện hại cao
Về tác động lẫn nhau giữa nhện ăn thịt với tính chống chịu nhện hại của các dòng chè, các tác giả đã cho biết: Một sự cân bằng giữa bắt mồi ăn thịt và con mồi sẽ thuận lợi cho việc tăng thêm tính đề kháng nhện hại của cây chè Hệ thống quản lý dịch hại sẽ bền vững hơn, nếu cả bắt mồi ăn thịt và các giống chống chịu đều có vai trò làm giảm mật độ nhện hại Kết quả thí nghiệm cho biết mật độ nhện ăn thịt có sự khác nhau trên 14 dòng chè nghiên cứu, tỷ lệ giữa nhện hại và nhện bắt mồi cũng khác nhau giữa các dòng đó ở vài dòng chè nh- TV16, TV18 mật độ nhện ăn thịt thấp nh-ng mật độ nhện hại lại cao Trái lại, ở một vài dòng khác nh- TV9, TV11 mật độ quần thể nhện hại thấp nh-ng mật độ Phytoseiid lại cao Qua đó chúng ta đ-ợc cung cấp thêm những hiểu biết để duy trì quần thể nhện ăn thịt thích hợp: Cân bằng
Trang 33con mồi bởi sử dụng các dòng chè chịu nhện và cũng tạo chỗ ở phù hợp cho Phytoseiid
Trên cơ sở kết quả các thí nghiệm và điều tra các tác giả đã đi đến nhận xét nh- sau : Sự bảo tồn nhện ăn thịt bằng cách sử dụng chọn lọc các loại
thuốc trừ sâu nh- Fenazaquin và Sulfur đã làm tăng số l-ợng một số loài Phytoseiid nh- A herbicolus, A ovalis, A momurtry và lựa chọn các
dòng chè phù hợp là cơ sở để đạt đ-ợc những thành công trong ch-ơng trình IPM đối với nhện đỏ hại chè
Muraleedharan và Radhakrishnan (1988) [118, 647-654] đã điều tra thiên địch của nhiều loài sâu hại chè ở Kerala và Tamil Nadu (Nam ấn Độ) bao gồm cả ký sinh và ăn thịt Đối với bọ trĩ, đã xác định 2 loài ăn thịt là
Aleothrips intermedius Bagn Và Mymarothrips garuda Ramak, thuộc họ Aleothripidae, bộ Thysanoptera, ăn bọ non và tr-ởng thành loài bọ trĩ Scirtothrips bispinosus
Các loài nhện lớn ăn thịt có ý nghĩa to lớn trong điều hoà quần thể sâu hại thực vật cũng nh- sâu hại trên cây chè
Chen Y.F (1992) [68, 68 - 71] cho biết sau 10 năm điều tra nhện lớn (1981 - 1990) trên các n-ơng chè của 13 địa ph-ơng vùng núi cao thuộc tỉnh Triết Giang (Trung Quốc) đã ghi nhận tổng số 110 loài nhện lớn thuộc 21 họ
và 93,7 % là thiên địch của côn trùng hại chè, 6 loài chiếm -u thế nhất là:
Phintella bifurcilinea; Clubiona deletrix; Tetragnatha praedonia; Conopistha (argyrodes) sp.; Neriene oidedicata và Neriene sp Theo dõi trong phòng thí nghiệm cho thấy rầy xanh (Empoasca pirisuga), bọ phấn (Aleurocanthus spiniferus), rệp muội (Toxoptera aurantii) là những con mồi chính của các loài nhện lớn này Bọ xít (Lygocoris lucorum) và sâu non sâu
xếp lá cũng bị chúng ăn thịt Đồng thời tác giả cũng khẳng định sự dao động trong quần thể nhện lớn chính là do sự dao động trong quần thể sâu hại, do tác động của thuốc trừ sâu, của kỹ thuật trồng trọt và yếu tố khí hậu
Trang 34ở Hồ Nam (Trung Quốc), Zhang J.W và các cộng tác viên (1992) [162,
139 - 141] đã nghiên cứu động thái mật độ và tỉ lệ chết của rầy xanh
Empoasca vitis trên n-ơng chè và trong phòng thí nghiệm đã kết luận nhện
lớn ăn thịt điều hoà mật độ rầy xanh hiệu quả nhất Sự phối hợp sử dụng thuốc trừ sâu Applaud với thời gian hái và phủ đất cho chè tr-ớc mùa đông đã cho kết quả rất tốt
Cũng Zhang J.W năm 1993 [161, 17-19] đã tìm hiểu về các loài nhện
lớn bắt rầy xanh ở Hồ Nam và cho biết các loài thuộc họ Salticidae và họ Liocranidae phổ biến hơn các họ khác Phổ biến trong họ Salticidae là các loài Evarcha albaria; Telamonia bifurcilinea (Phintella bifurcilinea) và Jotus minutus (Lycidas minutus) Còn trong họ Clubionidae thì phổ biến là: Clubiona corrugata và Clubiona japonicola Cao điểm mật độ của chúng
xuất hiện vào tháng 6
Khả năng khống chế rầy xanh của nhện lớn rất có ý nghĩa trong việc dự tính và phòng trừ Do vậy, Xie Z.L (1993) [158, 41 - 44] đã nghiên cứu tính
ăn mồi của loài nhện lớn Chrysilla versicolor (Phintella versicolor) đối với rầy xanh Empoasca pirisuga trong phòng thí nghiệm Kết quả là trong một
ngày đêm, một nhện tr-ởng thành ăn 17,6 rầy tr-ởng thành và 80,5 rầy non, một nhện non ăn tối đa 32,6 rầy tr-ởng thành và 62,5 rầy non
Dai Xuan (1996) [77, 47 - 52] đã mô tả đặc điểm hình thái và tập tính
sinh học của 72 loài nhện lớn bắt mồi ăn thịt thuộc bộ Araneida khi điều tra ở
các v-ờn chè thuộc tỉnh Quí Châu (Trung Quốc) Chúng thuộc các họ sau :
Araneidae , Salticidae, Tetragnathidae, Pisauridae, Linyphiidae, Oxyopidae, Gnaphosidae, Lycosidae, Clubionidae, Thomisidae, Erigonidae, Theridiidae, Heteropodidae, Agelenidae, Philodromidae Tất cả các loài
nhện lớn ở các họ trên đều là những loài ăn thịt quan trọng đối với rầy xanh
Trang 35Xie Z.L và Dai - SuXian và các cộng tác viên (1991) [157, 111-117]
đã sử dụng ph-ơng pháp phân tích thành phần chính để kiểm tra tính liên tiếp trong quần thể côn trùng trong điều kiện không phun thuốc trừ sâu ở Quảng
Đông (Trung Quốc) Trong thời gian đầu của giai đoạn 1, từ khi chè trồng đến khi bắt đầu cho thu hoạch, côn trùng có xu h-ớng c- trú ở lá, búp non Các
loại sâu hại chủ yếu có Caloptilia theivora, Petaphora sp., Clania minuscula
ở giai đoạn 2 và 3 và qua đỉnh cao sản l-ợng, bắt đầu tới thời kỳ suy thoái (senescent), sâu hại chỉ gây ra những thiệt hại nhẹ và chúng bị thiên địch khống chế Trong thời kỳ đầu suy yếu, có các loài sâu gây hại nghiêm trọng
nh- Casmara patrona và Xyleborus fornicatus Chỉ số cân bằng quần thể và
chỉ số đa dạng quần thể đạt tối đa vào thời kỳ sản l-ợng chè đạt đỉnh cao
Để đánh giá ảnh h-ởng của thuốc hoá học đến nhóm nhện ăn thịt
Phytoseiid, Streibert (1981) [146, 121-127] đã sử dụng nhiều loại thuốc và
đánh giá trong phòng thí nghiệm trên 4 loài nhện: Phytoseiulus persimilis, Typhlodromus pyri, Amblyseius fallacis và Amblyseius bilens Sử dụng 2
ph-ơng pháp : Phun thuốc trực tiếp lên nhện ăn thịt và phun thuốc lên con mồi (nhện hại) Đánh giá sự ảnh h-ởng của thuốc đến tỉ lệ chết của nhện ăn thịt tr-ởng thành và tỉ lệ trứng nở từ sau 4 ngày trở đi Từ kết quả thí
nghiệm, tác giả đã phân loại các loại thuốc theo tính độc đối với Phytoseiid
nh- sau:
Nhóm I có hoạt tính yếu khi phun trực tiếp và không có ảnh h-ởng tồn d- gồm các loại thuốc: Fenbutation oxide, Propargite, Benzoxomate, CGA - 79'596 và Diflubenzuron
Nhóm II là các loại thuốc trừ nhện, độc khi phun trực tiếp, rất ít ảnh
h-ởng tồn d- Đó là các loại thuốc: Cyhexantin, Dicofol, Chlorobenzilatate, Fentrifanil và CGA - 29'170
Nhóm III là nhóm độc tính cao trong tồn d- ngay cả ở nồng độ thấp và
có hoạt tính diệt trứng Đó là các loại thuốc: Tricyclotin, Chloropropylate,
Trang 36Quinomethionate, Profenofos, Bromoprolylate, Monocrotophos, Azinphosmethyl, Acephate, Fenvalerate và Fermethrin
Hai loại thuốc Pyrethroid là Fenvalerate và Permethrin đã làm chết 100%
Phytoseiid sau 4 ngày ngay ở nồng độ thấp 10 ppm và 5 ppm
ở Việt Nam nghiên cứu về thiên địch của sâu hại trên các cây trồng và
sử dụng chúng trong phòng trừ đã đ-ợc nhiều tác giả trong n-ớc tiến hành nh- Nguyễn Viết Tùng (1992) nghiên cứu bọ rùa ăn rệp trên một số cây trồng vùng đồng bằng Sông Hồng [53, 20 - 22]; Phạm văn Lầm (1993) đã lập danh mục thiên địch của sâu hại đậu t-ơng [23,12 - 15]; Vũ Quang Côn và cộng tác viên (1992) nghiên cứu ảnh h-ởng của thuốc Sumicombi lên tập hợp nhện lớn ăn thịt trong sinh quần ruộng lúa [4, 23 - 25]
Tuy vậy, đối với chè, những kết quả nghiên cứu về thiên địch, đ-ợc biết còn rất hạn chế và mới chỉ là b-ớc đầu
Hoàng Thị Hợi (1996) [15] cho biết cả 2 loại thuốc Danitol và Trebon
đều gây ảnh h-ởng bất lợi đến mật độ các loài nhện lớn ăn thịt Danitol làm giảm 47,5 %, Trebon làm giảm 33,7 %
Trang 37Ch-¬ng 2
VËt liÖu, néi dung vµ ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu
2.1 VËt liÖu nghiªn cøu
2.1.1 Gièng chÌ
C¸c thÝ nghiÖm ®-îc tiÕn hµnh trªn mét sè gièng chÌ ë ViÖn chÌ Phó
Hé, c¶ chÌ ®ang s¶n xuÊt kinh doanh vµ chÌ kiÕn thiÕt c¬ b¶n bao gåm:
- Gièng PH1, chän läc trong quÇn thÓ Manipur l¸ ®Ëm, thø chÌ assamica
- Gièng Trung du vµng, thø chÌ Trung Quèc l¸ to
- Gièng TRI 777, thø chÌ Shan
- Gièng TH3, thø chÌ Trung Quèc l¸ to
- Gièng 1A, chän läc trong quÇn thÓ Manipur l¸ ®Ëm, thø chÌ assamica
- Gièng Trung du xanh, thø chÌ Trung Quèc l¸ to
- Gièng §¹i b¹ch trµ, thø chÌ Trung Quèc l¸ to
- Kasarigu, thø chÌ assamica
- Gièng Cå §Ò Phïng, thø chÌ Shan
- Gièng LDP1, lai gi÷a PH1 vµ §¹i b¹ch trµ
2.1.2 C©y che bãng
Sö dông c©y muång l¸ nhän Indigofera teysmanni Miq lµm thÝ nghiÖm
2.1.3 C¸c lo¹i thuèc trõ s©u dïng trong thÝ nghiÖm
- Sherpa 10 EC, 25EC - Applaud 10Wp
- Sumicidin 10EC - Applaud - MC 25 Wp
- Cymbush 20 EC - Padan 95 Wp
Trang 38- Pegasus 500 SC - Trebon 10 EC
- Bassa 50 EC - Kayazion 40 EC
- Bi 58 40 EC - Selecron 500 ND
- ofatox 400 EC - Thiodan 35 EC
2.1.4 Dụng cụ quan trắc
- Kính lúp : MEOPTA - Tiệp Khắc độ phóng đại 10 x
- Kính lúp : NOVEX AP-1 Hà Lan độ phóng đại 10 x
- Kính hiển vi : PZO - WARSZWA - độ phóng đại 10 x
- Máy đo ánh sáng : LX-101-DIGITAL LUX METER - TAIWAN
- Máy đo nhiệt độ, ẩm độ không khí :
HYGROMETER HIGHEST II - TAIWAN
2.2 Nội dung và địa điểm nghiên cứu :
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
(1) Nghiên cứu các đặc điểm sinh học của rầy xanh, bọ trĩ : Các giai
đoạn phát dục, đặc điểm gây hại và khả năng sinh sản của chúng
(2) Nghiên cứu biến động số l-ợng của rầy xanh, bọ trĩ trên n-ơng chè
và ảnh h-ởng của một số yếu tố sinh thái đến sự biến động số l-ợng của rầy xanh và bọ trĩ
(3) Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ rầy xanh, bọ trĩ bằng kỹ thuật canh tác và sử dụng thuốc hoá học
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Thực hiện các thí nghiệm tại Viện nghiên cứu chè Phú Hộ
- Điều tra bổ sung ở một số cơ sở sản xuất vùng Phú Thọ và một số vùng chè lân cận
Trang 392.2.3 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu (Phú Hộ - Phú Thọ) 2.2.3.1 Vị trí địa lý:
Phú Hộ nằm trong tỉnh Phú Thọ, thuộc vùng trung du miền Bắc Việt Nam ở 21027' Bắc và 105014' Đông, ở ranh giới giữa đồng bằng và miền núi, vùng này có tính chuyển tiếp dần, độ cao trên mặt n-ớc biển từ 25-70 m Đất
đai hình thành trên 3 loại nham thạch chủ yếu là phiến thạch mica, gnai và feralit [ 35 ]
- Độ ẩm t-ơng đối không khí trong năm trung bình 84%
- L-ợng m-a trung bình ở Phú Hộ là 1689 mm, l-ợng m-a tuyệt đối cao cả năm là 2984 mm và tuyệt đối thấp là 1372 mm
Khí hậu chia làm 2 mùa m-a và khô rõ rệt Mùa m-a từ tháng 6 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 [35] [36, 234 - 236]
2.3 Ph-ơng pháp nghiên cứu :
2.3.1 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học của rầy xanh và bọ trĩ :
2.3.1.1 Thí nghiệm nuôi rầy xanh :
nuôi rầy xanh trong lồng chụp bằng nhựa (mylar film) có đ-ờng kính
10 cm, cao 30 cm, lồng có cửa sổ ở 2 phía và đầu trên bịt vải màn (Hình 1a)
Chậu trồng cây có đ-ờng kính 20 cm, miệng chậu đ-ợc đậy bằng một miếng bìa cứng có lỗ ở giữa để cắm búp chè Trong chậu có n-ớc để giữ cho búp chè luôn xanh t-ơi (Hình1b.)
Trang 40(1) Nuôi cá thể theo dõi tuổi rầy :
Lấy búp chè non (1 tôm + 3 lá) không bị nhiễm rầy tr-ớc đó, cắm vào chậu, chụp lồng nhựa lên trên, sau đó thả rầy tr-ởng thành vào lồng (rầy tr-ởng thành bắt ngoài n-ơng chè), mỗi lồng thả 10 con tr-ởng thành cái Sau khi thả rầy 4 - 6 giờ thì kiểm tra, khi thấy búp chè đã có trứng thì chuyển sang lồng nuôi và theo dõi ngày trứng nở Rầy nở từ những trứng đó đ-ợc nuôi riêng từng cá thể
Hàng ngày thay búp chè mới và quan sát sự lột xác, khi quan sát, thấy xác rầy thì lấy ra để tránh nhầm lẫn Mỗi tuổi đều đ-ợc mô tả, đo đếm và vẽ
Hình 1b: Chậu Hình 1a: Dụng
cụ nuôi sâu
N-ớc
Nắp bằng bìa cứng
Lỗ cắm búp chè