1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên

104 848 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở Tây Nguyên
Tác giả Nhóm Nghiên Cứu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Trường học Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây Có Dầu
Chuyên ngành Kỹ thuật Nông Nghiệp
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 12,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở kết quả đạt được về tuyển chọn giống cùng với kết quả xác định liều lượng phân N, P, K, S thích hợp và một số biện pháp canh tác như mật độ trồng và thời kỳ thu hoạch thích hợ

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH

CANH TÁC CÂY CẢI DẦU

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG

VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH

CANH TÁC CÂY CẢI DẦU

Ở TÂY NGUYÊN

Thực hiện theo Hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ

sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

số 197.RD/HĐ-KHCN ngày 16/03/2009 giữa Bộ Công Thương

và Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu

Chủ trì thực hiện: TS Nguyễn Thị Liên Hoa Tham gia thực hiện: KS Trần Thành Tân

KS Lê Văn Sang KTV Đinh Viết Toản

TP Hồ Chí Minh, tháng 12/ 2009

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Để đáp ứng được yêu cầu sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước nhằm giảm bớt mức độ lệ thuộc vào việc nhập khẩu dầu thực vật thì cần thiết phát triển vùng nguyên liệu các cây có dầu có chi phí đầu tư hợp lý Bên cạnh các cây có dầu ngắn ngày truyền thống như lạc vừng, cần phải phát triển thêm cây có dầu mới như cải dầu, hướng dương vì nó là cây cho nhiều dầu Từ thực trạng sản xuất nêu trên cho thấy cần thiết nghiên cứu tuyển chọn giống cùng kỹ thuật canh tác thích hợp cho cây cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế ở Tây Nguyên phù hợp với xu thế

đa dạng hoá cơ cấu cây trồng, mở rộng vùng nguyên liệu cây có dầu ngắn ngày góp phần tăng thêm thu nhập cho nông dân Trên cơ sở kết quả đạt được về tuyển chọn giống cùng với kết quả xác định liều lượng phân N, P, K, S thích hợp và một

số biện pháp canh tác như mật độ trồng và thời kỳ thu hoạch thích hợp trong vụ Thu Đông 2007, Đông Xuân 2007-2008 và Thu Đông 2008 ở Lâm Đồng nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu liều lượng phân đạm là loại phân có tác dụng rõ đến sinh trưởng phát triển cải dầu và phần lớn đất để trồng cải dầu ở Tây Nguyên thường có hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất rất thấp và cần thiết nghiên cứu ứng dụng thiết bị gieo hạt đẩy tay để gieo hạt cải dầu nhằm giảm bớt chi phí gieo hạt, qua đó có cơ

sở nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế ở Lâm Đồng, Tây Nguyên Ngoài ra cần tiếp tục thí nghiệm đánh giá khả năng thích nghi các giống đã tuyển chọn trong năm 2008 và một số giống tốt mới được nhập nội Bên cạnh đó cần thiết nghiên cứu xây dựng mô hình trồng cây cải dầu có năng suất cao và hiệu quả kinh tế dựa trên tập hợp các kết quả đạt được về giống và một số biện pháp canh tác của năm trước Có khuyến cáo được quy trình canh tác cùng với giống cải dầu thích hợp thì mới có cơ sở để đưa cây cải dầu vào

trong sản xuất và đó cũng là lý do chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng

quy trình canh tác cây cải dầu ở Tây Nguyên” trong vụ Thu Đông 2009

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v

TÓM TẮT NHIỆM VỤ vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 2

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 4

CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 9

2.1 VẬT LIỆU & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

2.1.1 Vật liệu 9

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 9

2.1.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 9

2.1.2.1.1 Nghiên cứu xác định liều lượng đạm thích hợp và có hiệu quả kinh tế đến sinh trưởng và phát triển cây cải dầu 9

2.1.2.1.2 Nghiên cứu ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu 9

2.1.2.1.3 Tiếp tục đánh giá khả năng thích nghi một số giống cải dầu nhập nội 10

2.1.2.1.4 Mô hình trồng cải dầu 10

2.1.2.2 Địa điểm 10

2.1.2.3 Điều kiện nhiệt độ và lượng mưa 10

2.1.2.4 Một số chỉ tiêu nông hóa của đất làm thí nghiệm 11

2.1.2.5 Thời vụ 12

2.1.2.6 Phương pháp lấy mẫu để theo dõi số liệu 12

2.1.2.7 Phân tích thành phần axít béo và hàm lượng dầu 12

2.1.2.8 Phương pháp xử lý số liệu 12

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN 13

3.1 NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CANH TÁC THÍCH HỢP VÀ CÓ HIỆU QUẢ KINH TẾ CHO CÂY CẢI DẦU Ở LÂM ĐỒNG (TÂY NGUYÊN) 13

3.1.1 Nghiên cứu xác định liều lượng đạm thích hợp và có hiệu quả kinh tế cho cây cải dầu 13

3.1.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây, số cành trên cây và chiều dài quả (Vụ Thu Đông 2009) 13

3.1.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến số quả trên cây, số hạt trong quả, khối lượng 1000 hạt, năng suất hạt, hàm lượng dầu và năng suất dầu (vụ Thu Đông 2009) 15

3.1.1.3 Hiệu quả kinh tế của việc bón phân đạm 17

3.1.2 Nghiên cứu ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu (vụ Thu Đông 2009) 18

3.1.2.1 Kết quả thí nghiệm ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến số khoảng cách, độ dài khoảng cách không có cây mọc mầm, số cây mọc/m 2 trước khi tỉa cây và số cây còn lại/m 2 vào lúc thu họach 18

Trang 5

3.1.2.2 Kết quả thí nghiệm ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến các đặc tính sinh

trưởng, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 19

3.1.2.3 Hiệu quả kinh tế của việc gieo hạt cải dầu bằng thiết bị so với gieo hạt bằng tay 20

3.1.3 Quy trình canh tác cây cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế ở Lâm Đồng (Tây Nguyên) 21

3.1.3.1 Phạm vi áp dụng của quy trình canh tác 21

3.1.3.2 Quy trình canh tác 22

3 2 TIẾP TỤC ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI MỘT SỐ GIỐNG CẢI DẦU NHẬP NỘI Ở LÂM ĐỒNG 26

3.2.1 Đặc tính sinh trưởng của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009).26 3.2.2 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009) 27

3.2.3 Hàm lượng dầu, năng suất dầu và thành phần axít béo của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (vụ Thu Đông 2009) 29

3.2.4 Tình hình sâu bệnh 30

3.3 NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRỒNG CÂY CẢI DẦU CÓ NĂNG SUẤT CAO VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ Ở LÂM ĐỒNG, TÂY NGUYÊN 32

3.3.1 Kỹ thuật canh tác được áp dụng trong mô hình cây cải dầu ở Lâm Đồng, Tây Nguyên 32

3.3.2 Đặc tính sinh trưởng của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải dầu ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009 34

3.3.3 Các yếu tố năng suất, năng suất, hàm lượng dầu và năng suất dầu của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải dầu ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009 35

3.3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế ở mô hình trồng cải dầu trong vụ Thu Đông 2009 ở Lâm Đồng, Tây Nguyên 37

KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 43

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Nhiệt độ và lượng mưa của trạm khí tượng Bảo lộc, Liên Khương và Đà Lạt năm 2008 11Bảng 2 Một số chỉ tiêu nông hóa của điểm thí nghiệm 11Bảng 3 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây, số cành trên cây và chiều dài quả (Vụ Thu Đông 2009) 13Bảng 4 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến số quả trên cây, số hạt trong quả và khối lượng 1000 hạt (vụ Thu Đông 2009) 15Bảng 5 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến năng suất hạt, hàm lượng dầu và năng suất dầu (vụ Thu Đông 2009) 16Bảng 6 Hệ số tương quan (r) của chiều cao cây, số cành, chiều dài quả, số quả, số hạt, khối lượng 1000 hạt và hàm lượng dầu với liều lượng phân đạm 17Bảng 7 Hiệu quả kinh tế của việc bón phân đạm 17Bảng 8 Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến số khoảng cách, chiều dài khoảng cách không có cây mọc mầm và số cây mọc/m2 trước khi tỉa 19Bảng 9 Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến các đặc tính sinh trưởng 19Bảng 10 Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt đẩy tay đến các yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất 20Bảng 11 Hiệu quả kinh tế của việc gieo hạt cải dầu bằng thiết bị so với gieo hạt bằng tay (tính cho một ha) 21Bảng 12 Đặc tính sinh trưởng của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009) 26Bảng 13 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009) 28Bảng 14 Ma trận tương quan của năng suất hạt với số cành/trên cây, số quả/cây, chiều dài trái, số hạt trong quả và khối lượng 1000 hạt 28Bảng 15 Hàm lượng dầu và năng suất dầu của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (vụ Thu Đông 2009) 29Bảng 16 Thành phần axít béo của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng 30

Bảng 17 Tỷ lệ cây có lá bên dưới bị cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp trên 9 giống

cải dầu ở Lâm Đồng trong vụ Thu Đông 2009 31Bảng 18 Thời gian sinh trưởng, và tổng số cành trên cây của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải dầu ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009 34Bảng 19 Số quả trên cây và số hạt trong quả của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải dầu ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009 35Bảng 20 Khối lượng 1000 hạt và năng suất hạt của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải dầu ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009 36Bảng 21 Hàm lượng dầu và năng suất dầu của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải dầu

ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009 37Bảng 22 Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cải dầu giống Hyola 433 ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009) 38

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây 14

Biểu đồ 2 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến tổng số cành trên cây 14

Biểu đồ 3 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến số quả trên cây 15

Biểu đồ 4 Đường hồi quy giữa liều lượng N và năng suất hạt/ha 16

Trang 8

TÓM TẮT NHIỆM VỤ

Vụ Thu Đông 2009, 4 thí nghiệm và 3 mô hình trồng cây cải dầu được bố trí ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và thành phố Đà Lạt theo phương pháp bố trí các thí nghiệm trên đồng ruộng Đã xác định được quy trình canh tác cây cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế ở Lâm Đồng, Tây Nguyên dựa trên kết quả nghiên cứu của vụ Thu Đông 2007, Đông Xuân 2007-2008, Thu Đông 2008 và cập nhật thêm kết quả của vụ Thu Đông 2009 Liều lượng N thích hợp cho cây cải dầu để có năng suất hạt cao và có tỷ suất lợi nhuận tăng thêm so với chi phí bón đạm cao là 90N Gieo bằng thiết bị gieo hạt đẩy tay có chi phí gieo hạt chỉ bằng 30-47% và chi phí tỉa cây bằng 60% so với rạch hàng và gieo hạt bằng tay Tuyển chọn được 3 giống cải dầu có năng suất và hàm lượng dầu cao và hiệu quả kinh tế thích nghi trồng ở Lâm Đồng, Tây Nguyên: giống HSR-13 có năng suất hạt và năng suất dầu lần lượt 3130 kg/ha và 1200 kg/ha, giống Hyola

433 có năng suất hạt và năng suất dầu lần lượt 2540 kg/ha và 1130 kg/ha và giống HSR-32 có năng suất hạt và năng suất dầu lần lượt 2820 kg/ha và 1110 kg/ha 3 giống này có chất lượng dầu tốt đáp ứng được tiêu chuẩn làm dầu ăn và

có thời gian sinh trưởng ngắn (100-120 ngày) thích hợp để phổ biến trong sản xuất Ngoài ra đã xác định được mô hình trồng cây cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế ở Lâm Đồng, Tây Nguyên.Với mô hình trồng giống Hyola 433 đã cho năng suất hạt cao: 2300 kg/ha, năng suất dầu cao: 1010 kg/ha và có hiệu quả kinh tế với lợi nhuận trong mùa vụ 4 tháng trồng là 13.603.000 đ/ha Vùng trồng cây cải dầu có năng suất hạt, năng suất dầu cao và có hiệu quả kinh tế nên trồng ở độ cao 1000m so với mặt nước biển và nhiệt độ trung bình 20-21oC

Trang 9

MỞ ĐẦU

Cơ sở pháp lý/xuất xứ của nhiệm vụ

Đề tài thực hiện theo Hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 197.RD/HD-KHCN

ký ngày 16/03/2009 giữa Bộ Công Thương và Viện Nghiên Cứu Dầu và Cây có dầu về việc thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở Tây Nguyên”

• Có mô hình trồng cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế ở Tây Nguyên

Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

Đối tượng:

Cây cải dầu (Brassica napus L.)

Phạm vi:

Đề tài được giới hạn ở trong vụ Thu Đông ở tỉnh Lâm Đồng thuộc Tây nguyên

Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác thích hợp và có hiệu quả kinh tế cho cây cải dầu ở Tây Nguyên

- Tiếp tục đánh giá khả năng thích nghi một số giống cải dầu có năng suất, hàm lượng dầu cao được tuyển chọn năm 2008

- Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng cây cải dầu có năng suất cao và hiệu quả kinh tế

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Từ vụ Đông Xuân 2006-2007 đến Thu Đông 2008, Viện Nghiên Cứu Dầu

và Cây có dầu đã đạt được một số kết quả về nghiên cứu cây cải dầu ở tỉnh Lâm Đồng, Sơn La và Lạng Sơn như sau: Kết quả thí nghiệm khả năng thích nghi của giống cải dầu Hyola 61 ở Lâm Đồng trong vụ Đông Xuân 2006-2007 và Thu Đông 2007 tại huyện Đức Trọng và TP Đà Lạt, Lâm Đồng cho thấy: Cải dầu Hyola 61 thích nghi trồng ở Lâm Đồng, nhiệt độ, ẩm độ và độ phì đất ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng phát triển, năng suất và hàm lượng dầu Trong vụ Đông Xuân 2006-2007, năng suất hạt biến động 1500-3800 kg/ha, năng suất dầu biến động 557-1485 kg/ha Trong vụ Thu Đông 2007 năng suất hạt biến động 2250-

2730 kg/ha và năng suất dầu biến động 910-1067 kg/ha Ở những vùng như Đà Lạt

có nhiệt độ trung bình là 18oC thì vụ Đông Xuân và Thu Đông đều thích hợp để trồng cải dầu Ở những vùng có nhiệt độ trung bình là 21oC như ở Đức Trọng, thì

vụ Thu Đông mới là vụ trồng có nhiệt độ thích hợp để trồng cải dầu có năng suất cao và tiết kiệm được chi phí tưới Giống cải dầu Hyola 61 khi trồng ở Lâm Đồng

có hàm lượng axít oleic cao biến động 66,35-66,66 %, và axít erucic rất thấp biến động 0,69-0,76% (đạt tiêu chuẩn dầu để làm dầu ăn, không gây hại cho sức khỏe)

Đánh giá khả năng thích nghi của giống cải dầu Hyola 61 ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn vào vụ Thu Đông 2007 nhận thấy điều kiện khí hậu ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc Việt Nam thích hợp để trồng cải dầu Năng suất hạt biến động từ 1500-2000 kg/ha, năng suất dầu biến động 619-797 kg/ha Thành phần axít béo của giống Hyola 61 không thay đổi nhiều giữa các điểm, hàm lượng axít erucic thấp (1,1%) và axít oleic biến động từ 61,92-66,43%, chất lượng dầu tốt Vụ Thu Đông là vụ thích hợp để trồng cải dầu do cây trồng được cung cấp nước từ mưa

Kết quả nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống và một số biện pháp canh tác cây cải dầu phục vụ mục tiêu phát triển vùng nguyên liệu cho ngành dầu thực vật” trong vụ Thu Đông 2007 và Đông Xuân 2007-2008 cho thấy cây cải dầu sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ở Lâm Đồng Đã tuyển chọn được 2 giống 07821-1RA và Hyola 61 có năng suất hạt bình quân ở 2 vụ : 2265-

3170 kg và năng suất dầu 890- 1315 kg/ha và có hàm lượng axít erucic thấp 0,69% đạt tiêu chuẩn dầu để chế biến dầu ăn: Cả 2 giống trên đều có thời gian sinh trưởng thích hợp để phát triển mở rộng trong sản xuất với thời gian trồng trong khoảng: 108-117 ngày Ở Lâm Đồng liều lượng N, P K và S thích hợp cho cải dầu

0,40-là 90N, 60 P2O5, 60K2O và 30S Mật độ trồng thích hợp là 50 cây/m2 và thời kỳ thu hoạch thích hợp để có năng suất hạt cao, hạt có chất lượng, hàm lượng dầu và năng suất dầu cao khi cây có 70% quả chuyển vàng Trong vụ Thu Đông 2007 ở Đức

Trang 11

Trọng, Lâm Đồng, trồng cây cải dầu có lợi nhuận cho 1 ha (13.092.000 đ) nhưng thấp hơn cây ngô (13.995.000 đ).Ở Mộc Châu, Sơn La, cây cải dầu có lợi nhuận (8.792.000 đ) cao hơn cây cải củ trồng lấy hạt (4.210.000 đ) Có thể đưa cây cải dầu trồng trong vụ Thu Đông để đa dạng hoá cây màu góp phần tăng thu nhập và

mở rộng diện tích cây có dầu ngắn ngày (Nguyễn Thị Liên Hoa và cộng sự., 2009) Kết quả nghiên cứu phát triển giống cải dầu có năng suất và chất lượng dầu cao ở phía Bắc và ở Tây nguyên trong vụ Thu Đông 2008 đã rút ra kết luận: Đất và điều kiện khí hậu ở Lâm Đồng và Sơn La thích hợp để trồng cải dầu có năng suất cao, đã tuyển chọn được 2 giống cải dầu là giống 07821-1RA và Hyola 61 có năng suất hạt biến động từ 1690-2320 kg/ha và thời gian sinh trưởng phù hợp từ 95-122 ngày Giống Hyola 61 mặc dầu có năng suất hạt thấp hơn 07821-1RA nhưng cây chống chịu đổ ngã tốt hơn 07821-1RA Trong vụ Thu Đông 2008, ở Lâm Đồng

mô hình trồng giống 07821-1RA trên diện rộng có năng suất hạt đạt 2270 kg/ha

Ở Bắc Giang, điều kiện đất trồng cải dầu sau vụ lúa không thích hợp để trồng cải dầu, năng suất hạt của giống 07821-1RA là giống tốt nhất khi trồng ở Bắc Giang chỉ bằng 53% so với trồng ở Lâm Đồng và bằng 64% so với trồng ở Sơn La Ở Sơn La liều lượng N, P, K và S thích hợp cho cây cải dầu là 120N, 60P2O5, 60K2O

và 30S Ở Bắc Giang liều lượng N, P, K và S thích hợp cho cây cải dầu là 90N, 60P2O5, 60K2O và 40S

Trong báo cáo thực hiện dự án “ Hợp tác nghiên cứu, nhập nội một số giống cây trồng và công nghệ bảo quản, chế biến phù hợp vào một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam vụ Đông Xuân năm 2002-2003 thì kết quả nghiên cứu cây cải dầu ở Thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng trong vụ Đông 2002 với 10 giống nhập cho thấy thời gian sinh trưởng biến động

từ 112-141 ngày và năng suất biến động từ 625-930 kg hạt/ha Kết quả thử nghiệm cũng các giống trên ở Văn Điển thì có thời gian sinh trưởng 89-91 ngày và năng suất biến động 530-750 kg

Vụ Đông Xuân 2008 ở Đồng Văn, Hà Giang, tổng diện tích cải dầu gieo trồng được là 13,47/16,2 ha kế hoạch tại 4 xã Phố Là, Phố Cáo, Lũng Cú, Sùng Là với 154 hộ tham gia Có 5 giống cải dầu thuần được đưa và gieo trồng gồm Hoa dầu số 3, 7, N08007, N080017, N080039 do Công ty giống Kim Thụy (Vân Nam, Trung Quốc cung ứng Năng suất bình quân đạt thấp, 500 kg/ha Hàm lượng dầu theo trọng lượng khô tuyệt đối của các giống trồng thấp: 34,46-37,04% và dầu có hàm lượng axít erucic khá cao 12,38-14,61% theo tiêu chuẩn dầu chế biến làm dầu

ăn phải có (axít erucic ≤2%).Việc sản xuất cải dầu vụ Đông 2008 có nhiều bất lợi

về thời tiết nên ảnh hưởng đến tiến độ làm đất, thời vụ gieo trồng dẫn đến diện tích, năng suất không đạt kế hoạch Chủ trương của tỉnh từ nay đến 2015 phấn đấu diện tích trồng cải dầu đạt 11.660 ha, quy hoạch thành vùng trồng tập trung tại các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn Vụ Đông năm 2009 trồng 200

ha với 2 giống Cải Miên và Hyola 61 Công ty trách nhiệm hữu hạn Đông Thành thu mua tòan bộ hạt cải dầu, đồng thời chịu trách nhiệm chế biến, tiêu thụ, giới

Trang 12

thiệu, quảng bá sản phẩm “ Dầu cải Đồng Văn Hà Giang” Tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí mua dây chuyển thiết bị, chuyển giao công nghệ, cho thuế đất xây dựng nhà xưởng (Hội nghị phát triển cây cải dầu 4 huyện vùng cao phía Bắc- Báo Hà Giang điện tử )

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

Năm 2007, trong tổng lượng dầu thực vật được tiêu thụ trên thế giới thì dầu cải chiếm 14%, đứng hàng thứ 3 sau dầu cọ (32%), dầu đậu tương (30%) (World Vegetable Oil consumption 2007) Tổng diện tích cải dầu trên thế giới là 30.234.863 ha với năng suất bình quân là 1.637 kg/ha, trong đó Trung Quốc, Ấn

Độ và Canada có diện tích trồng cải dầu chiếm khoảng 64% diện tích cải dầu của thế giới; Trung Quốc có diện tích trồng cải dầu lớn nhất thế giới với 7.050.010 ha với năng suất bình quân là 1.472 kg/ha Nước có năng suất cải dầu bình quân cao nhất thế giới là Chi Lê: 3603 kg/ha (FAO-Stat, 2008) Ở Úc , năng suất hạt đại trà trung bình từ 1-2 tấn/ha nhưng có thể dao động lên đến 5 tấn hạt/ha ở những thời

vụ kéo dài có khí hậu mát mẻ và đủ ẩm độ (Walton et al., 1999)

Trong những năm gần đây, Trung Quốc nghiên cứu làm tăng hàm lượng axít oleic và giảm axít linoleic để nâng cao dinh dưỡng của dầu cải Mặt khác do nhu cầu sử dụng dầu cải làm biodiesel, giống mới được tạo ra có hàm lượng dầu cao đang được quan tâm như giống Zhongyou 0361 có hàm lượng dầu đạt 55% Sản lượng cải dầu ở Trung Quốc tăng rất nhanh từ thập niên 1980, đặc biệt thập niên

1990, so sánh với thập niên 1950-1960 thì diện tích cải dầu tăng gấp 3-4 lần và sản lượng tăng gấp 10 lần.Trong 5 năm từ 2000-2005 có 217 giống được đăng ký

và đưa ra sản xuất trong đó giống OP (open pollination) chiếm 21,7% và giống ưu thế lai chiếm 78,3% Ở Trung Quốc 2 cách lai hữu hiệu trong sản xuất hạt cải dầu lai ở quy mô thương mại bao gồm: CMS (cytoplasmic male sterile: bất dục đực tế bào chất), GMS (Genic male sterile : bất dục đực do gen), 2 cách này chiếm 80%

trong các cách để sản xuất hạt lai cải dầu Trong số ba loài Brassica được canh tác

chính cho sản xuất dầu thì có hàm lượng dầu rất biến thiên Thông thường

Brassica napus có hàm lượng dầu cao nhất, có thể hơn 40%, Brassica rapa đứng

thứ hai và thấp nhất là Brassica juncea Giống Hyola 61, Hyola 76 và Hyola 433 của Công ty Pacific Seeds thuốc lòai Brassica napus Khi trồng ở Úc, giống Hyola

61 có năng suất hạt biến động từ 1,43-2,35 tấn/ha, hàm lượng dầu 40,8%, và hàm lượng protein là 44,5% và có thời gian sinh trưởng ngắn, giống Hyola 76 có năng suất hạt bình quân 2066 kg/ha và hàm lượng dầu 40-45%, có thời gian sinh trưởng dài chịu đựng được lượng mưa cao, giống Hyola 433 có năng suất 1,89-2 tấn, hàm lượng dầu dạt 41,3% (kết quả trung bình của 13 điểm thí nghiệm) và có thời gian

sinh trưởng ngắn Giống cải dầu 07821 1RA thuộc loài Brassica napus của Công

ty giống Hồ Bắc, Trung Quốc Ở Trung Quốc 07821-1RA có thời gian sinh trưởng lần lượt là 205 ngày, năng suất hạt 4,5 tấn/ha và hàm lượng dầu 39,53%

Trang 13

Sinh trưởng của cây cải dầu mạnh mẽ nhất nằm trong nhiệt độ giữa 10 và

30oC và tối ưu là 20oC Nghiên cứu khác cho rằng khoảng nhiệt độ thích hợp để cải dầu sinh trưởng và phát triển là 15-25oC Ở giai đoạn mọc mầm nhiệt độ thích hợp

là 27oC, để sinh trưởng và phát triển thì yêu cầu nhiệt độ thấp hơn Nhiệt độ lạnh,

đủ ánh sáng mặt trời và độ ẩm sẽ làm tăng hàm lượng dầu Trong quá trình chín và thu họach nếu có gió to và mưa sẽ không tốt cho quá trình này, thời tiết thuận lợi nhất cho giai đoạn thu họach là khô và quang đãng (Ikisan- Crop information, Soils and Climate)

Cải dầu rất nhạy cảm với nhiệt độ cao vào thời gian làm hạt có thể làm giảm năng suất và hàm lượng dầu (Potter et al.,1999) Nhiệt độ cao cũng gây ra sự vô sinh ở cả hoa đực và hoa cái (Polowick & Sawhney, 1988) Nhiệt độ thấp lúc ra hoa cũng có thể gây ra sự thui hoa nhưng do thời gian ra hoa kéo dài nên thông thường cây cải dầu có thể phục hồi và đền bù những sự hao hụt đó Đông giá xẩy

ra ở cuối vụ, sau khi ra hoa có thể gây ra sự thất thu lớn về năng suất (Colton & Sykes, 1992) Cải dầu rất nhạy cảm với sự ngập nước và năng suất sẽ giảm sau khi

bị ngập 3 ngày, khi bị ngập nước, cây có triệu chứng lá hoá vàng hoặc tím, thân lùn, ra ngồng sớm và các lá già hơn có màu tím và trở nên già nhanh hơn Sự sinh trưởng và năng suất hạt cải dầu ở Úc thường bị ảnh hưởng bởi lượng nước sẵn có cho cây trồng, đặc biệt trong thời kỳ chín của hạt (Walton et al., 1999)

Cải dầu sinh trưởng tốt trên đất có pH từ 5,0-8,0 (Colton & Sykes, 1992) pH đất ảnh hưởng ít đến năng suất trừ phi trên đất rất chua nơi mà có sự ngộ độc của mangan và nhôm làm ảnh hưởng đến năng suất (trên những loại đất như vậy, trước khi trồng cải dầu cần bón vôi để làm giảm bớt tình hình xấu trên) (Potter et al., 1999) Cây cải dầu yêu cầu đạm, lân và lưu huỳnh cao hơn cây ngũ cốc và những cây trồng khác và sẽ không cho năng suất cao nếu không có 3 nguyên tố này Haneklaus & Schnug (1991) tính toán mức khủng hoảng dinh dưỡng ở cây cải dầu như sau: N: 3,60%, P: 0,37%, K: 2,15%, Ca: 1,60%, Mg: 0,10%, S: 0,47%, Mn: 20ppm, Fe:82ppm, B:20ppm, Cu:4ppm và Zn:28ppm (lấy mẫu lá vừa mới trưởng thành ở ví trí cao nhất trước khi cây trổ hoa để phân tích Grant, (2000) nghiên cứu về hiệu quả của đạm và lưu huỳnh trên năng suất cải dầu và lượng khoáng lấy

đi cho thấy để có tổng lượng chất khô của cây là 9,2 tấn/ha, trong đó có năng suất hạt là 2 tấn/ha, năng suất dầu là 902,3kg/ha thì phần thân lá của cây cải dầu đã lấy

đi trong đất 110 kg N, 21 kg P, 140 kg K, và 50,9 kg S, còn phần hạt đã lấy đi 62,1

kg N, 13 kg P, 17 kg K và 6,6 kg S

Hầu hết những nghiên cứu cho rằng phân đạm có tác dụng tăng đáng kể đến năng suất hạt ngay cả những thay đổi khác nhau về điều kiện (Maroni et al., 1994; Sieling & Christen, 1997) Tuy nhiên yêu cầu phân đạm có thể thay đổi rất nhiều theo loại đất, khí hậu, kỹ thuật canh tác, thời gian bón đạm, giống (Holmes & Ainsley, 1977; Kalkafi et al.,1998) Hàm lượng đạm trong cây tích luỹ cao nhất ở cây còn non sau đó giảm rõ rệt theo sinh trưởng của cây (Hocking, 2001) Hàm

Trang 14

lượng đạm trong lá cao nhất được xác định khi cây có 4-5 lá là 5,57% sau đó giảm xuống 4,05% ở giai đoạn bắt đầu ra hoa (chỉ có những hoa đầu tiên nở ra ở cành chính) Trong suốt thời gian trổ hoa, hàm lượng đạm giảm xuống từ 4,05% đến 1,80% vào giai đoạn chấm dứt trổ hoa (chỉ còn một ít hoa nở ra trên cành phụ) Việc bón đạm vào giai đoạn bắt đầu nở hoa hoặc trong suốt thời kỳ trổ hoa có lẽ quá trễ và do vậy nó sẽ ít có hiệu quả hơn so với khi bón ở giai đoạn cây con (Helps,1971; Nyborg, 1961; Perez & Mora, 1975) Theo những số liệu được công

bố về hàm lượng đạm trong hạt và thân cành khô của cải dầu được bón phân đạm vừa phải hoặc cao thì biến thiên từ 3,35 đến 5,14% trong hạt và từ 0,80 đến 1,80% trong thân cành khô (Holmes & Ainsley, 1977; Stabbetorp, 1973) Do vai trò quan trọng rất lớn của đạm đến sự phát triển của toàn cây cải dầu nên sự thiếu hụt của nó làm giảm sự phát triển và năng suất một cách nhanh chóng Ở những lá, màu thay đổi từ xanh nhạt ở những lá non sang xanh vàng những lá già hơn Do đạm di chuyển trong cây và chuyển đổi từ những bộ phận già sang bộ phận non Như vậy triệu chứng thiếu hụt đầu tiên xuất hiện ở những lá già hơn trái lại ở những phần non hơn vẫn còn xanh trong một thời gian nào đó Điều này giúp chúng ta phân biệt triệu chứng thiếu hụt giữa đạm và lưu huỳnh: trái với đạm, lưu huỳnh không chuyển đổi giữa các phần trong cây, vì thế triệu chứng thiếu hụt lưu huỳnh thường bắt đầu ở những lá non hơn Trong một số trường hợp, sự thiếu hụt đạm dẫn đến sự đổi sang màu đỏ hoặc tím đỏ của những lá già hơn tương tự như thiếu hụt lân, magiê hoặc lưu huỳnh nhưng trong trường hợp thiếu hụt của đạm thì màu đỏ của lá đi kèm với màu xanh nhạt hoặc xanh vàng của toàn cây, mô lá chết khô và làm cho các lá màu già hơn Việc đâm tược trở nên nghèo nàn và chỉ có một số ít cành được hình thành.Vòm lá của cây cải dầu trên đồng ruộng bị mỏng và

có nhiều khoảng hở Việc phát triển của hoa ở vào giai đoạn cuối bị giảm, giai đoạn ra hoa và chín bị rút ngắn và số quả trên cây thấp Năng suất hạt bị giảm mạnh (Orlovius, 2003) Theo Hocking et al.,(1999) nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây cải dầu ở Úc cho thấy khi cải dầu được trồng sau cây lúa mì có năng suất là 3 tấn/ha thì liều lượng N cần bón là 75-100 kg N/ha để có năng suất hạt 2-3 tấn/ha, phân N được bón lót và bón thúc lúc bắt đầu ra nụ Ở Châu Âu cải dầu vụ xuân đáp ứng tốt đối với lượng đạm giữa 120 và 200 kg N/ha (Almond et al.1986; Holmes, 1980) Ở Canada, yêu cầu đạm cho cải dầu rất biến thiên, thường vượt quá 200 kg N/ha (Holmes, 1980)

Cải dầu là một cây trồng rất linh hoạt, sự biến thiên về mật độ trồng với biên dao động tương đối lớn thông thường cũng ít ảnh hưởng đến năng suất cuối cùng Không cần thiết tăng mật độ trên 60 cây/m2, tuy nhiên có mật độ vừa phải ở thời

kỳ đầu sẽ có lợi bởi vì nó giảm bớt sự mất mát do sâu bọ (Carmody, 2001) Lượng giống cần gieo có khuynh hướng từ 4-6 kg/ha, với giống lai lượng giống cần gieo

là 3 kg/ha.Ở Úc, mật độ cây được khuyến cáo là 30-50 cây/m2, với mật độ này nó giúp cho việc chín nhanh hơn, sớm hơn và thu hoạch dễ hơn

Trang 15

Trong điều kiện độ ẩm đất tối ưu cho sự nẩy mầm, hạt cải dầu được gieo với độ sâu 2-4 cm sẽ nẩy mầm nhanh chóng Khi độ ẩm đất bị khô và nhiệt độ đất cao, hạt giống cần gieo ở độ sâu tới 6 cm để có ẩm độ cho mọc mầm (Walton et al., 1999) Tuy nhiên, với độ sâu như vậy thường cho mọc mầm chậm, sinh trưởng

và năng suất kém Sự mọc mầm phụ thuộc vào nhiệt độ và độ sâu gieo hạt

Thời gian và phương pháp thu hoạch của cây cải dầu là điều quyết định để

có năng suất và chất lượng hạt tối ưu Cây cải dầu cần được thu hoạch ngay sau khi quả chín để tránh sự thất thu do quả bị tách ra Để giảm bớt việc tách quả trước khi thu hoạch, thúc đẩy sự chín, giảm bớt sự phơi bày trước gió, và tăng tốc độ thu hoạch, việc cắt cây phơi khô trước thỉnh thoảng được xem là phương pháp được

ưa chuộng của việc thu hoạch Cắt cây phơi khô trước khi quả chín đầy đủ làm giảm bớt tiềm năng tách quả và giúp thúc đẩy sự chín, nhưng gia tăng thêm chi phí khoảng 25 US $/acre (4046,9m2), và có thể làm giảm hàm lượng dầu và chất lượng dầu bên trong nếu cắt cây quá sớm Trong khi kỹ thuật này hạ thấp nguy cơ tách quả và cải thiện tốc độ của thu hoạch, nó không hoàn toàn giải quyết vấn đề của

độ chín khác nhau của quả (Wysocki et al., 2007) Nghiên cứu khác cho rằng phần lớn cây cải dầu được cắt và xếp dãy thành hàng trên ruộng Quy trình này thúc đẩy

tỷ lệ khô trên cây, làm giảm khả năng mất hạt từ gió, mưa đá và đảm bảo chín đều Trong điều kiện này, hạt cải được bảo quản tốt do ẩm độ thấp và chất lượng cao

do hàm lượng diệp lục và axít béo tự do thấp (Walton et al, 1999) Cắt cây cải dầu được khi xấp xỉ 40-70% hạt bắt đầu chuyển từ màu xanh sang màu chín và độ ẩm của hạt đạt 35% (Oilseeds WA, 2006) Thu gom các cây cải dầu đã cắt và tách hạt sau khi phơi trên đồng ruộng khoảng 7-10 ngày, khi mà ẩm độ của hạt đen đạt 8,5% hoặc ít hơn (Walton et al., 1999) Nghiên cứu khác về cách thu hoạch trực tiếp cho thấy cách này hoạt động tốt với diện tích nhỏ và cây cho năng suất thấp với cây cải có độ chín và độ ẩm đồng đều Cây cải dầu được cắt khi đa số quả khô

và lúc lắc khi rung.Việc thu hoạch trực tiếp cũng có thể áp dụng sau khi sử dụng hoá chất làm khô Hoá chất làm khô này có lẽ là một sự chọn lựa cho việc thu hoạch cải dầu trong trường hợp cây chín không đều hoặc nơi mà việc cắt cây sớm

để phơi bị hạn chế Tuy nhiên việc thu hoạch trực tiếp làm giảm năng suất và chất lượng và do vậy cách chọn lựa tốt nhất để có năng suất và chất lượng tối đa là cắt cây sớm và phơi trước cho khô đều (Carmody & Cox 2001)

Hiện nay ở các nước như Ấn Độ, Iran thường sử dụng thiết bị gieo hạt để gieo cải dầu Ở Iran dùng thiết bị gieo hạt đẩy tay yêu cầu khoảng cách gieo giữa 2 hàng (25 cm) hẹp hơn so với máy gieo hạt yêu cầu khoảng cách hàng lớn hơn (35 cm)

và qua nghiên cứu gieo bằng thiết bị đẩy tay cho tỷ lệ cây mọc mầm, tỷ lệ cây cho thu hoạch và độ đồng nhất cây trên hàng và năng suất hạt không khác biệt so với gieo hạt cải bằng máy (Taheri & Sedghi, 2004) Công ty Jang Automation của Hàn Quốc chuyên sản xuất các thiết bị đẩy tay hoặc chạy bằng máy để gieo hạt cải, hạt rau và vừng gồm các loại gieo 1 hàng (AP-1), 3 hàng (JP-3) hoặc 6 hàng (JP-6)

Trang 16

cùng một lúc Các thiết bị này rất phù hợp cho đồng ruộng có diện tích nhỏ như ở Việt Nam Ở Trung Quốc người ta sử dụng thiết bị gieo hạt lúa và thay đổi kích thước lỗ của đĩa vòng thì có thể gieo được hạt cải, thiết bị này gieo cùng 1 lúc 2 hàng, và khoảng cách gieo giữa 2 hàng là 25 cm, thiết bị này phù hợp cho nông dân có diện tích ruộng nhỏ

Ở Ấn Độ việc cải thiện kỹ thuật canh tác cho cây cải dầu trên vùng đất dựa vảo nước trời cũng như vùng đất có tưới được phát triển với sự chú trọng vào thời gian gieo, khoảng cách gieo, lượng giống, phân bón, tỉa cây ở thời điểm thích hợp

Sự tiếp nhận kỹ thuật của mô hình thâm canh cây cải dầu làm tăng năng suất 190% so với kỹ thuật canh tác của địa phương Trong số các yếu tố trong kỹ thuật canh tác cây cải dầu, việc áp dụng phân bón được nhận thấy là sự đầu tư mang tính quyết định nhất (Kumar 1999)

Trang 17

67-CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM

2.1 VẬT LIỆU & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.1 Vật liệu

- Giống:

Đối với thí nghiệm đánh giá khả năng thích nghi của một số giống cải dầu

gồm 9 giống: Hyola 61, Hyola 433 và Hyola 76 (giống lai F1 được nhập từ Công

ty Pacific Seeds của Úc), giống HSR-13,HSR-14, HSR-15, HSR-32, HSR-95 và 07821-1RA (giống lai F1 được nhập từ Công ty Hubei Provincial Seed của Trung Quốc)

Đối với các thí nghiệm liều lượng đạm, thiết bị gieo hạt sử dụng giống Hyola 61

Đối với mô hình trồng cải dầu sử dụng giống Hyola 61, Hyola 433 và 07821-1RA

2.1.2.1.2 Nghiên cứu ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu

Thí nghiệm đơn yếu tố gồm 3 công thức được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại, diện tích ô: 25 m2.

Công thức :

1 Rạch hàng và gieo hạt bằng tay (đối chứng)

2 Gieo bằng thiết bị gieo hạt đẩy tay có 1 hộp chứa hạt (Thiết bị AP-1, Hàn Quốc)

3 Gieo bằng thiết bị gieo hạt đẩy tay có 4 hộp chứa hạt (Thiết bị JP-6, Hàn Quốc) + thiết bị gieo hạt đẩy tay có 1 hộp chứa hạt

Trang 18

- Nền phân cho 1 ha: 90 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O + 1 kg B + 300 kg vôi +

5 tấn phân bò hoai

2.1.2.1.3 Tiếp tục đánh giá khả năng thích nghi một số giống cải dầu nhập nội

Thí nghiệm đơn yếu tố gồm 9 công thức được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại, diện tích ô: 15 m2 và được tiến hành ở vụ Thu Đông 2009, thí nghiệm được lặp lại ở 2 điểm

* 1 kg B tương ứng với 7 kg pentahydrate borax

2.1.2.1.4 Mô hình trồng cải dầu

Mô hình được thực hiện ở tỉnh Lâm Đồng trên diện rộng với quy mô diện tích ở mỗi điểm là 1000 m2 Mô hình được lặp lại ở 3 điểm: Xã Tam Bố huyện Di Linh ở độ cao 900 m có nhiệt độ trung bình trong vụ Thu Đông từ tháng 9-12: 21,4oC, xã Ka Đô huyện Đơn Dương ở độ cao 1000 m có nhiệt độ trung bình trong vụ Thu Đông từ tháng 9-12: 20,53 oC và phường 7 Đalat ở độ cao 1500 m có nhiệt độ trung bình trong vụ Thu Đông từ tháng 9-12: 17,1oC

- Nền phân cho 1 ha: 90 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O+ 1 kg B + 300 kg vôi + 5 tấn phân bò hoai

2.1.2.2 Địa điểm

Xã Tam Bố huyện Di Linh, xã Ka Đô, huyện Đơn Dương và phường 7 thành phố Đà Lạt

2.1.2.3 Điều kiện nhiệt độ và lượng mưa

Theo dõi số liệu ở Bảng 1 về nhiệt độ, nhận thấy ở trạm Bảo Lộc dùng cho khu vực huyện Di Linh có nhiệt độ trung bình năm (21,93oC) cao hơn ở trạm Liên Khương (21,13oC) dùng cho khu vực huyện Đơn Dương và trạm Đà Lạt dùng cho khu vực Đà Lạt (17,79 oC ) Tính nhiệt độ trung bình của thời vụ Thu Đông trồng cải dầu từ tháng 9 đến tháng 12 thì ở trạm Bảo Lộc (21,4oC), ở trạm Liên Khương (20,53oC) và ở trạm Đà Lạt (17,1oC) Sở dĩ nhiệt độ ở Đà Lạt thấp hơn ở Đơn Dương và Di Linh là do độ cao ở Đà Lạt (1500 m) cao hơn so với Đơn Dương

Trang 19

(1000 m) và Di Linh (900 m) Giữa nhiệt độ và độ cao môi trường có mối quan hệ

tỷ lệ nghịch, trung bình khi độ cao tăng lên 100 m theo phương thẳng đứng thì

nhiệt độ giảm xuống 0,6oC (Trịnh Thị Vân, 2004) Tổng lượng mưa đo được ở

trạm Bảo Lộc (2748mm) cao hơn ở trạm Liên Khương (1201,3 mm) và trạm Đà

Trạm Liên Khương

2.1.2.4 Một số chỉ tiêu nông hóa của đất làm thí nghiệm

Bảng 2 Một số chỉ tiêu nông hóa của điểm thí nghiệm

pH (H 2 O)

(1 :5)

Chất hữu cơ (%)

Dễ tiêu (mg/kg)

S dễ tiêu (mg/kg)

7,7 3,61 20 744 370 5,2

Nơi phân tích đất : Phòng Thử nghiậm Đất- Phân bón, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam

Kết quả ở Bảng 2 cho thấy do đất thuộc, được canh tác lâu năm nên đất có

pHH2O đất trung tính, chất hữu cơ cao, N dễ tiêu thấp, P dễ tiêu rất cao, K dễ tiêu

rất cao và S dễ tiêu rất thấp

Trang 20

2.1.2.5 Thời vụ

Các thí nghiệm bố trí vào vụ Thu Đông 2009 như sau:

Đánh giá khả năng thích nghi

một số giống cải dầu nhập nội

1/9/2009 &

11/9/2009 Liều lượng đạm 11/9/2009

* Đối với chiều dài quả và số hạt trên quả, từ 5 cây lấy mẫu trên, chọn 1 cây và lấy

5 quả/cây trên thân chính của cây Đo chiều dài và đếm số hạt từng quả và tiến hành tương tự đối với các nghiệm thức và các lần lặp lại của mỗi nghiệm thức

Về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:

* Đối với khối lượng 1000 hạt thì đếm 1000 hạt và cân lấy khối lượng (lấy mẫu theo 4 lần lặp lại ở tất cả các công thức)

* Đối với năng suất: Thu hoạch năng suất cho cả ô Thu hoạch tất cả các công thức theo 4 lần lặp lại

Đánh giá hiệu quả kinh tế: Tính toán chi phí đầu vào (phân bón, giống,

công chăm sóc, thu hoạch), đầu ra (năng suất đạt được x giá bán) và lợi nhuận ở

mô hình trồng cải dầu

2.1.2.7 Phân tích thành phần axít béo và hàm lượng dầu

Phân tích thành phần axít béo theo phương pháp AOCS Ce 1e-91 tại Bộ môn Công nghệ dầu béo và Phân tích, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu

Phân tích hàm lượng dầu bằng phương pháp Soxhlet và bằng máy phân tích dầu Minispec mq10 NMR Analyser

2.1.2.8 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý thống kê theo phần mềm, MSTATC và Excel

Trang 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN

3.1 NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CANH TÁC THÍCH HỢP VÀ

CÓ HIỆU QUẢ KINH TẾ CHO CÂY CẢI DẦU Ở LÂM ĐỒNG (TÂY NGUYÊN)

3.1.1 Nghiên cứu xác định liều lượng đạm thích hợp và có hiệu quả kinh tế cho cây cải dầu

3.1.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây, số cành trên cây và chiều dài quả (Vụ Thu Đông 2009)

Kết quả nghiên cứu phân bón cho cây cải dầu trong vụ Đông xuân

2007-2008, nhận thấy bón 90N và 120N cho năng suất không khác biệt có ý nghĩa (Nguyễn Thị Liên Hoa và cộng sự., 2009) nên trong vụ Thu Đông 2009 cần tiếp tục thí nghiệm lại mức phân đạm và tăng mức phân đạm tối đa trong công thức thí nghiệm lên đến 150N để xác định chính xác mức N cho năng suất hạt cao và tỷ suất lợi nhuận cao trên cơ sở nền phân lân, kali đã được xác định trong các thí nghiệm phân bón năm 2008 Qua thí nghiệm ở năm 2008 nhận thấy phân đạm có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng phát triển cải dầu và phần lớn đất để trồng cải dầu ở Tây Nguyên thường có hàm lượng đạm dễ tiêu trong dất rất thấp

Bảng 3 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây, số cành trên cây và chiều dài quả (Vụ Thu Đông 2009)

Công thức Chiều cao cây

(cm)

Số cành trên cây (cành)

Chiều dài quả (cm)

Trang 22

vào thời kỳ đầu làm tăng sự hình thành tế bào và mở rộng tế bào kết quả là làm diện tích lá tăng lên ảnh hưởng mạnh đến sự quang hợp dẫn đến sự gia tăng sinh trưởng về sau Bĩn đạm làm tăng chiều cao cây, tổng số cành trên cây vượt đối chứng khơng bĩn phân đạm lần lượt 8-14% và 42-46% (Biểu đồ 1 và 2), bĩn đạm

từ mức 90-150 N làm tăng chiều quả từ 8-10% so với khơng bĩn phân nhưng sự khác biệt khơng cĩ ý nghĩa về mặc thống kê Khơng ghi nhận sự khác biệt cĩ ý nghĩa về chiều cao cây, tổng số cành trên cây và chiều dài quả giữa các mức bĩn 90N-150N

9095100105110115

Biểu đồ 1 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây

0 5 10 15 20

Tổng số cành

Biểu đồ 2 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến tổng số cành trên cây

Trang 23

3.1.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến số quả trên cây, số hạt trong quả, khối lượng 1000 hạt, năng suất hạt, hàm lượng dầu và năng suất dầu (vụ Thu Đông 2009)

Kết quả ở Bảng 4 cho thấy bón đạm làm tăng số quả 39-45% so với không bón đạm, trong đó bón 120N đạt giá trị cao nhất (Biểu đồ 3) Bón 90N-150N làm gia tăng số hạt trên quả 18-22% và có khối lượng 1000 hạt vượt đối chứng không bón phân 12-15% một cách có ý nghĩa ; không ghi nhận sự khác biệt về số quả trên cây, số hạt trong quả và khối lượng 1000 hạt giữa các mức bón 90N-150N

Bảng 4 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến số quả trên cây, số hạt

trong quả và khối lượng 1000 hạt (vụ Thu Đông 2009)

Công thức Số quả trên

cây (quả)

Số hạt trong quả (hạt)

6,2 1,9

4,1 0,2

# : Chữ in nghiêng chỉ % so đối chứng

0 100 200 300 400

Biểu đồ 3 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến số quả trên cây

Kết quả ở Bảng 5 cho thấy bón từ 90-150 N cho năng suất hạt vượt không bón đạm từ 49-53 % một cách có ý nghĩa trong đó bón 120 N có năng suất hạt cao nhất, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa các mức bón 90N-150N đến năng suất hạt, bón 90N có hiệu suất bón 1kg N cao hơn bón 120N Về hàm lượng dầu nhận thấy khi bón đạm, hàm lượng dầu có giá trị thấp hơn đối chứng không

Trang 24

bón N, thấp nhất khi bón 150N, tuy nhiên không ghi sự khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng Chúng ta biết rằng N là thành phần quan trọng của cây như axít amin và protein Vào lúc thu hoạch phần lớn N ở cây cải dầu tập trung trong hạt ở dạng protein Thông thường khi bón N vào làm gia tăng protein trong hạt và bánh dầu Các nhà lai tạo giống cải dầu cho rằng hàm lượng dầu và protein có mối quan hệ nghịch với nhau (Canola -council of Canada, Chapter 9- Soil fertility) Ngoài ra nhiều tác giả cho biết hàm lượng dầu của cải dầu giảm xuống khi tăng mức bón N nhưng đồng thời lại có hiệu quả thuận đối với protein thô (Rathke et al., 2005) Mặc dầu bón phân đạm làm giảm hàm lượng dầu so với không bón đạm; tuy nhiên năng suất dầu ở công thức bón từ 90N-150N đều vượt đối chứng 43-51% do năng suất hạt tăng dần khi tăng mức bón đạm và mức tăng về năng suất hạt thường nhiều hơn mức giảm về hàm lượng dầu

Bảng 5 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến năng suất hạt, hàm lượng dầu và năng suất dầu (vụ Thu Đông 2009)

Công thức Năng suất

hạt (kg/ha)

Bội thu

Hiệu suất phân N (kg hạt/kg N)

Hàm lượng dầu (%)

Năng suất dầu (kg/ha)

0N

(Đối chứng)

1600 b (100) #

Trang 25

Qua tính toán phương trình hồi quy giữa liều lượng phân đạm và năng suất hạt như sau : Y= -0,0597x2 + 14,20x + 1601, cho thấy bón đạm có tác dụng rõ đến năng suất hạt cải dầu Năng suất hạt có tương quan thuận rất chặt với liều lượng phân đạm (Biểu đồ 4)

Bảng 6 Hệ số tương quan (r) của chiều cao cây, số cành, chiều dài quả, số quả, số hạt, khối lượng 1000 hạt và hàm lượng dầu với liều lượng phân đạm Chiều cao

cây

Số cành/cây

Chiều dài quả

Số quả/cây

Số hạt trong quả

Khối lượng

1000 hạt

Hàm lượng dầu

Phân tích mối tương quan của chiều cao cây, số cành/cây, chiều dài quả, số quả/cây, số hạt trong quả, khối lượng 1000 hạt và hàm lượng dầu với liều lượng phân đạm ở Bảng 6 nhận thấy chiều cao cây, số cành /cây, chiều dài quả, số quả/cây, số hạt trong quả, khối lượng 1000 hạt có tương quan thuận và chặt với liều lượng phân đạm, nhưng hàm lượng dầu có tương quan nghịch với liều lượng phân đạm (r=-0,70)

3.1.1.3 Hiệu quả kinh tế của việc bón phân đạm

Bảng 7 Hiệu quả kinh tế của việc bón phân đạm

Công thức Chi phí

sử dụng phân đạm (đồng)

Thu thêm nhờ phân đạm Hiệu quả kinh tế

Năng suất hạt (kg/ha)

Chênh lệch năng suất hạt so với đối chứng (kg/ha)

Thu thêm (đồng)

Lợi nhuận tăng thêm (đồng)

Tỷ suất lợi nhuận tăng thêm so với chi phí bón phân đạm (lần)

0N

(đối chứng)

90N 1.429.200 2400 800 9.600.000 8.170.800 5,71 120N 1.887.000 2440 840 10.080.000 8.193.000 4,34 150N 2.342.000 2390 790 9.480.000 7.138.000 3,05

Kết quả ở Bảng 7 cho thấy sử dụng các mức phân đạm từ 90N đến 150N tốn thêm chi phí từ 1.429.200 đ đến 2.342.000 đ và nhờ tăng năng suất nên thu nhập tăng thêm từ 9.480.000 đ đến 10.080.000 đ Về hiệu quả kinh tế nhận thấy bón từ 90N đến 150N đều có lời Mặc dầu bón 120 N có lợi nhuận cao hơn bón 90N là

Trang 26

22.200 đ nhưng tỷ suất lợi nhuận của bón 120N (4,34) thấp hơn bón 90N (5,71), qua phân tích hiệu quả kinh tế nhận thấy bón 90N vừa cho năng suất cao và có tỷ suất lợi nhuận cao

Tóm lại, qua nghiên cứu ảnh hưởng của phân N trên cây cải dầu trong vụ Thu Đông 2009 ở Lâm Đồng nhận thấy do hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất rất thấp, bón đạm vào làm tăng rất rõ đến các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất nhưng

có chiều hướng làm giảm hàm lượng dầu Liều lượng phân đạm thích hợp cho cây cải dầu có tác dụng làm tăng năng suất hạt cao cũng như cho lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận cao là 90N

3.1.2 Nghiên cứu ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu (vụ Thu Đông 2009)

3.1.2.1 Kết quả thí nghiệm ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến số khoảng cách, độ dài khoảng cách không có cây mọc mầm, số cây mọc/m 2 trước khi tỉa cây và số cây còn lại/m 2 vào lúc thu họach

Để gieo 5 hàng với khoảng cách hàng cách hàng 20 cm trên ô có bề rộng 1m, 3 công thức gieo được thí nghiệm là:1/ Rạch hàng bằng dụng cụ bằng sắt có 5 răng với khoảng cách giữa các răng là 20 cm, mỗi lần rạch được 5 hàng, và gieo hạt bằng tay, 2/ Gieo bằng thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt được điều chỉnh khoảng cách gieo mong muốn giữa các cây là 5 cm qua 2 nhông, để gieo được 5 hàng phải đẩy 5 lần thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt 3/ Gieo bằng thiết bị gieo gồm có 4 hộp chứa hạt được điều chỉnh khoảng cách giữa các hộp chứa hạt là 20 cm và điều chỉnh khoảng cách gieo mong muốn giữa các cây là 5cm qua 2 nhông, với thiết bị gieo gồm 4 hộp chứa hạt, mỗi lần đẩy thiết bị sẽ gieo được 4 hàng; để gieo được hàng còn lại cần phải sử dụng thêm thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt

Kết quả ở Bảng 8 cho thấy không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về số khoảng cách không có cây mọc mầm ở các công thức nhưng chiều dài khoảng cách không có cây mọc mầm ở công thức gieo hạt bằng tay ngắn hơn có ý nghĩa so với gieo hạt bằng thiết bị là do ở công thức gieo hạt bằng tay để dễ gieo hạt (vì hạt cải nhỏ) thường rải hạt trên hàng với khoảng cách gieo giữa các hạt rất hẹp còn đối với thiết bị do đã được chỉnh sẳn khoảng cách giữa 2 hạt khoảng 5 cm nên khoảng cách gieo giữa 2 hạt cũng thưa hơn gieo hạt bằng tay, chính vì vậy sau khi hạt mọc mầm, mật độ cây trước khi tỉa (theo mật độ 50 cây/m2 ) ở các công thức gieo hạt bằng thiết bị có số cây mọc (68-70 cây/m2) cũng thấp hơn gieo hạt bằng tay (113 cây/m2) một cách có ý nghĩa Ở công thức gieo hạt bằng tay do khoảng cách gieo nhặt hơn gieo bằng thiết bị nên yêu cầu lượng giống khoảng 4 kg cao hơn so với gieo bằng thiết bị (3 kg)

Trang 27

Bảng 8 Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến số khoảng cách, chiều

dài khoảng cách không có cây mọc mầm và số cây mọc/m 2 trước khi tỉa

Công thức Số cây mọc

trước khi tỉa (cây)

Số khoảng cách không có cây mọc mầm

Chiều dài khoảng cách không có cây mọc mầm (cm)

13,0

NS

9,8 2,2

3.1.2.2 Kết quả thí nghiệm ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến các đặc tính

sinh trưởng, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

Bảng 9 Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến các đặc tính sinh trưởng

Công thức Số cây cho thu

Mặc dầu số cây mọc ban đầu ở 3 công thức có khác nhau nhưng vào lúc 20

ngày sau khi gieo tất cả 3 công thức đều được tỉa cây với mật độ là 50 cây/m2

Trong quá trình sinh trưởng mật độ cây có bị giảm bớt do bị mưa dập cây con, sâu

bọ phá hoại, Kết quả ở Bảng 9 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về mật

Trang 28

độ cây vào lúc thu hoạch giữagieo hạt bằng tay (35 cây/m2) và gieo bằng thiết bị

(32-34 cây/m2), với mật độ này vẫn đảm bảo cây cải dầu cho năng suất cao Ở Úc,

mật độ cây được khuyến cáo là 30-50 cây/m2, với mật độ này nó giúp cho việc chín

sớm hơn và thu hoạch dễ hơn

Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về các đặc tính sinh trưởng ở các

công thức gieo hạt bằng tay so với các công thức gieo hạt bằng các loại thiết bị đẩy

tay

Bảng 10 Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt đẩy tay đến các yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất

Công thức Số quả trên cây

(quả)

Số hạt trong quả (hạt)

Khối lượng

1000 hạt (g)

Năng suất hạt (kg/ha)

Kết quả ở Bảng 10 cho thấy không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa

công thức gieo hạt bằng tay với các công thức gieo hạt bằng thiết bị đến các yếu tố

cấu thành năng suất và năng suất

3.1.2.3 Hiệu quả kinh tế của việc gieo hạt cải dầu bằng thiết bị so với gieo hạt

bằng tay

Qua kết quả so sánh chi phí của việc sử dụng thiết bị gieo hạt so với việc

rạch hàng và gieo hạt bằng tay cho 1 ha ở Bảng 11 nhận thấy gieo hạt bằng thiết

bị đẩy tay có chi phí thấp hơn so với rạch hàng và gieo hạt bằng tay; đối với công

thức sử dụng thiết bị gieo hạt có 1 hộp chứa hạt và công thức sử dụng thiết bị gieo

có 4 hộp chứa hạt cùng với thiết bị có 1 hộp chứa hạt để gieo 5 hàng trên luống có

chí phí gieo lần lượt bằng 47% và 30%, tiết kiệm được 11-15 công lao động so với

rạch hàng và gieo hạt bằng tay Sử dụng thiết bị gieo hạt có 4 hộp chứa hạt để gieo

cùng một lúc 4 hàng sau đó sử dụng thêm thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt để gieo

hàng còn lại có chi phí gieo thấp hơn là sử dụng thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt do

tiết kiệm được công điều khiển thiết bị gieo Chi phí tỉa cây ở các công thức gieo

Trang 29

bằng thiết bị đẩy tay bằng 60% so với rạch hàng và gieo hạt bằng tay (tiết kiệm

được 4 công lao động)

Bảng 11 Hiệu quả kinh tế của việc gieo hạt cải dầu bằng thiết bị so với gieo

hạt bằng tay (tính cho một ha)

Các chi phí Rạch hàng và

gieo hạt bằng tay (đồng)

Dùng thiết bị gieo có

1 hộp chứa hạt (đồng)

Dùng thiết bị gieo có 4 hộp chứa hạt và thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt

thiết bị gieo hạt 0 489.796 (tương ứng 8 công) (tương ứng với 3,5 công) 207.792

- Lãi vay + sửa chữa

- Công tỉa cây 600.000 360.000 360.000

Tóm lại qua thí nghiệm về ứng dụng thiết bị gieo hạt đẩy tay cho cây cải dầu

nhận thấy sử dụng thiết bị gieo hạt đã giúp được khâu giảm cường độ và chi phí

lao động trong khâu gieo hạt và tỉa cây, thiết bị gieo hạt đẩy tay nhẹ dễ sử dụng, nó

vừa rạch hàng, thả hạt và lấp hạt cùng một lúc nên tính cơ động cao, làm việc di

chuyển thuận tiện trên nhiều địa bàn, đặc biệt ở vùng cao

3.1.3 Quy trình canh tác cây cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế ở Lâm

Đồng (Tây Nguyên)

Quy trình được xây dựng dựa trên kết quả các nghiên cứu về giống, phân

bón và một số biện pháp canh tác của Thu Đông 2007, Đông xuân 2007-2008, Thu

Đông 2008 cùng với cập nhật kết quả nghiên cứu của vụ Thu Đông 2009

3.1.3.1 Phạm vi áp dụng của quy trình canh tác

Quy trình áp dụng cho việc canh tác cây cải dầu ở Lâm Đồng và những

điều kiện tương tự ở Tây Nguyên

Thổ nhưỡng:

Đất trồng cải dầu bao gồm đất Ferralsols (đất đỏ vàng) có pH (H2O) =

5,2-7,7 hàm lượng đạm dễ tiêu = 10-20 ppm Pdễ tiêu = 10-744 ppm, K dễ tiêu =

117-370 ppm, đất Fluvisols (đất phù sa) có pH (H2O)=6,0-6,1, P dễ tiêu: 85-118 ppm,

hàm lượng N dễ tiêu= 9,1-16 ppm, P dễ tiêu =85-118 ppm, K dễ tiêu =75-

102ppm, đất Luvisols (đất đen) có pHH2O= 6,90

Trang 30

Khí hậu:

Yêu cầu nhiệt độ trung bình trong vụ Thu Đông từ tháng 9 đến tháng

12:17-21oC, lượng mưa: 415-636 mm và nên ở độ cao trên 900m so với mặt nước biển

3.1.3.2 Quy trình canh tác

Thời vụ trồng:

Thu Đông, là vụ chính để trồng cải dầu vì cây cải dầu thích hợp khí hậu mát lạnh cây dựa chủ yếu vào nước trời để sinh trưởng phát triển Bắt đầu trồng từ đầu tháng 9 và thu hoạch trong tháng 12 và đầu tháng 1

Làm đất Lên luống

Bón lót phân:

- Bón lót phân vô cơ/ha: 60 kg P2O5+26 kg N(dạng phân SA) +30 kg K2O+

1 kg B

- Tưới sơ luống để phân ngấm đều vào trong đất

- Làm phẳng luống trước khi dùng dụng cụ rạch hàng hay thiết bị gieo hạt

Bón lót phân vô cơ trên luống Làm mặt luống cho phẳng trước khi gieo

Trang 31

Giống cải dầu:

Hyola 433 (giống lai F1 được nhập từ Công ty Pacific Seed Úc)

Đặc tính của giống Hyola 433

Chiều cao cây (cm):

Số cành trên cây:

Số quả trên cây :

Chiều dài quả (cm)

67,17

0 96-123

Gieo hạt:

- Dùng dụng cụ rạch hàng để tạo hàng gieo hạt sẽ tốt hơn gieo sạ

- Độ sâu gieo hạt: 1,5-2 cm đối với rạch hàng bằng tay, nếu dùng thiết bị gieo hạt thì độ sâu gieo hạt là 1 cm

- Lượng hạt giống: 4 kg hạt cải dầu/ha đối với gieo hạt bằng tay, nếu dùng thiết bị gieo hạt đẩy tay thì lượng hạt giống cần là 3 kg/ha

- Sau khi gieo xong, không lấp hạt, tưới sơ luống đã gieo hạt bằng vòi sen nếu đất khô để giúp hạt nẩy mầm nhanh

Rạch hàng và gieo hạt bằng tay Gieo bằng thiết bị gieo hạt đẩy tay

Trang 32

Lảm cỏ Thúc phân

Tưới nước và tiêu nước:

Nếu cây gặp hạn vào giai đọan ra hoa và tạo hạt, muốn có năng suất hạt cao cần phải bổ sung nước tưới Do trồng trong mùa mưa nên cần tiêu nước kịp thời khi ruộng trồng cải dầu bị ngập do cây cải dầu chịu úng kém

Trang 33

Phòng trừ sâu bệnh cho cây cải dầu:

- Phòng trừ sâu:

Bọ nhảy (Phyllotreta cruciferae Goeze) lọai sâu chính phá họai trên cây cải

dầu ở giai đọan cây con Phun Callous 500 EC (profenofos) 2 lần cách nhau 7 ngày sau khi gieo 25 ngày

- Phòng trừ bệnh:

- Phòng trừ bệnh đốm lá (Alternaria brassicae), phun Manozeb (Mancozeb

80 %) Lần 1:(20 ngày sau gieo) với liều lượng 20g/8 lít nước Lần 2: (35 ngày sau gieo) với liều lượng 20 g/lít nước

- Phòng trừ bệnh cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp., phun Daconyl

500SC (chlorothalonil ) với liều lượng 25ml/8 lít nước

Bọ nhảy (Phyllotreta cruciferae Goeze) Bệnh cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp cắn và làm thủng lá

Thu hoạch:

Thời gian thu hoạch tốt nhất khi cây có khoảng 70% quả có màu vàng, không nên để cây có 100% quả chuyển vàng mới thu họach do mùa thu hoạch là mùa khô, quả dễ tách vỏ và hạt rơi xuống đất rất nhiều khi dùng liềm hoặc kéo cắt cành làm thất thu năng suất Sau khi thu hoạch phơi quả cho khô, đập quả bằng thanh gỗ tròn hoặc dùng chân đạp quả để tách hạt, hạt được sàng sẩy cho sạch đạt

ẩm độ khỏang 8% trước khi cho vào bao bảo quản

Thu họach khi có 70% trái chín Phơi quả cho khô Sàng sẩy hạt

Trang 34

3 2 TIẾP TỤC ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI MỘT SỐ GIỐNG CẢI DẦU NHẬP NỘI Ở LÂM ĐỒNG

3.2.1 Đặc tính sinh trưởng của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009)

Bảng 12 Đặc tính sinh trưởng của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009)

Giống Thời gian bắt đầu

trổ hoa (Ngày)

Thời gian sinh trưởng (Ngày)

Chiều cao cây (cm)

Tổng số cành trên cây (cành)

Chiều dài quả (cm)

Di

Linh

Đơn Dương

Di Linh

Đơn Dương

Đơn Dương Hyola 61 43 50 96 103 132,3cd 107,3 e 10,0 c 15,7bc 5,2 d 5,4 c Hyola 433 43 50 96 100 125,3d 106,7 e 13,0abc 15,7bc 5,4 cd 5,7 bc Hyola 76 50 57 105 116 137,3c 124 bc 7,3 d 12,0c 5,5 cd 5,3 c HSR-13 53 57 109 119 166,0b 150,0a 13,7ab 24,3 a 5,6bcd 6,7 a HSR-14 40 43 90 99 138,3c 113,0de 11,3 bc 16,7 b 5,4 cd 5,9abc HSR-15 53 57 109 116 195,0 a 145,7 a 12,0abc 16,0 bc 5,3 cd 6,4 ab HSR-32 55 61 112 120 196,7 a 147,0 a 14,7a 24,3 a 5,7 bc 6,7 a HSR -95 45 50 100 104 166,7 b 131,0 b 10,7c 18,3 b 6,0 b 6,3 ab 07821-1RA 45 50 100 106 138,3 c 120,3cd 11,3bc 23,3 a 6,5 a 6,5 a

12 cho thấy có sự khác biệt về thời gian bắt đầu trổ hoa, sinh trưởng giữa các giống

và giữa 2 điểm trồng Phân tích về điểm trồng nhận thấy ở Di Linh, tất cả 9 giống đều có thời gian bắt đầu trổ hoa và thời gian sinh trưởng đều ngắn hơn ở Đơn Dương có thể do tác động của nhiệt độ Qua nghiên cứu người ta thấy rằng nhiệt

độ cao lúc ra hoa sẽ đẩy nhanh sự phát triển của cây (Canola-council of Canada, Chapter 5- Temperature, Frost, Hail) Đối chiếu lại với nhiệt độ ở Di Linh, nhận thấy nhiệt độ trung bình của vụ Thu Đông từ tháng 9-12 (21,4oC) cao hơn nhiệt độ trung bình của Đơn Dương (20,53 oC) Ở Di Linh, tất cả 9 giống có thời gian bắt đầu ra hoa sớm hơn ở Đơn Dương từ 3-7 ngày và chín sớm hơn ở Đơn Dương từ 4-

11 ngày

Ở Di Linh, giống HSR-14 bắt đầu ra hoa sớm nhất (40 ngày) và chín sớm nhất (90 ngày), giống có thời gian bắt đầu ra hoa (55 ngày) và chín (112 ngày) muộn nhất là HSR-13 2 giống có chiều cao cây cao nhất là HSR-15 và HSR-32 khác biệt có ý nghĩa so với những giống còn lại Giống Hyola 433, HSR-14 và HSR-32 có tổng số cành đạt giá giá trị cao nhất Về chiều dài quả thì giống 07821-1RA có chiều dài quả đạt giá trị cao nhất so với những giống còn lại

Trang 35

Ở Đơn Dương cũng giống HSR-14 bắt đầu ra hoa sớm nhất (43 ngày) và chín sớm nhất (99 ngày), giống HSR-32 bắt đầu ra hoa (61 ngày) và chín muộn nhất (120 ngày)

Về chiều cao cây, nhận thấy có sự khác biệt về chiều cao cây giữa các giống

ở cả 2 điểm, trong đó các giống có chiều cao cây cao như 13, 15,

HSR-32, và HSR-95, qua theo dõi nhận thấy các giống khi trồng ở điểm thí nghiệm Di Linh có chiều cao cây cao hơn khi trồng ở Đơn Dương có thể do ẩm độ đất nhiều hơn do mưa nhiều hơn Về tổng số cành trên cây, nhận thấy trong 9 giống trồng ở

Di Linh, giống HSR-32 có tổng số cành nhiều nhất tương tự như vậy ở Đơn Dương; nhìn chung tất cả các giống khi trồng ở Di Linh đều có tổng số cành/cây ít hơn khi trồng ở Đơn Dương do sự phân cành kém hơn Về chiều dài quả, trong 9 giống trồng ở Di Linh, giống 07821-1RA có chiều dài quả dài nhất, ở Dơn Dương các giống có chiều dài quả dài nhất là HSR-13, HSR-32, HSR-95 và 07821-1RA

3.2.2 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009)

Qua kết quả ở Bảng 13 nhận thấy có sự khác biệt rất có ý nghĩa giữa các giống và giữa 2 điểm trồng về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

Ở Di Linh, các giống có số quả trên cây cao như Hyola 61, Hyola 433,

HSR-13, HSR-32 và HSR-95, trong đó giống HSR-95 có số quả trên cây đạt giá trị cao nhất (271 quả) Về số hạt trong quả, các giống như Hyola 433, Hyola 76, HSR 13, HSR-32, HSR-95 và 07821-1RA có số hạt trong quả cao trong đó giống HSR-95

có số hạt trong quả đạt giá trị cao nhất Về khối lượng 1000 hạt, giống HSR15 và HSR-35 có khối lượng 1000 hạt đạt giá trị cao nhất, khác biệt có ý nghĩa so với những giống còn lại Trong 9 giống thì giống Hyola 433 và HSR-95 có năng suất hạt cao (1900-2090 kg/ha) trong đó giống HSR-95 có năng suất hạt cao nhất (2090 kg/ha) Xét về thứ tự năng suất hạt các giống được xếp hạng như sau: HSR-95>Hyola433>HSR-32>07821-1RA>HSR-13>Hyola61>HSR-15>HSR-14>Hyola

76

Ở Đơn Dương 2 giống có số quả đạt giá trị cao nhất là giống HSR-13 và HSR-32 (425-481 quả) khác biệt có ý nghĩa so với các giống còn lại Về số hạt trong quả các giống như HSR-13, HSR-32, 07821-1RA có số hạt trong quả nhiều hơn so với các giống còn lại Về khối lượng 1000 hạt chỉ có giống HSR-95 có khối lượng 1000 hạt đạt giá trị cao nhất và khác biệt có ý nghĩa so với các giống còn lại

Về năng suất hạt trong 9 giống trồng có 2 giống có năng suất hạt cao nhất là HSR-13 và HSR-32 có năng suất hạt lần lượt là 2820 và 3130 kg/ha Xét về thứ tự năng suất hạt các giống được xếp hạng như sau: HSR-13>HSR-32>Hyola 433>HSR-15>HSR-95>07821-1RA>Hyola 61>HSR-14>Hyola 76

Trang 36

Bảng 13 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 9 giống cải dầu ở Lâm

Đồng (Vụ Thu Đông 2009)

Giống Số quả trên cây

(quả) Số hạt trong quả (hạt) Khối lượng 1000 hạt

(g)

Năng suất hạt (kg/ha)

Di Linh

Đơn Dương Di Linh Đơn

Nhìn chung trong vụ Thu Đông 2009, sinh trưởng và phát triển của 9 giống

cải dầu Ở Đơn Dương đều tốt hơn ở Di Linh là do nhiệt độ thấp hơn nên thích hợp

hơn cho cây cải dầu sinh trưởng và phát triển Qua nghiên cứu về nhiệt độ, sương

giá và mưa đá cho rằng nhiệt độ cao hơn có thể làm giảm tổng lượng chất khô, số

quả phát triển và khối lượng hạt, kết quả là năng suất giảm Nhiệt độ cao vào lúc

ra hoa sẽ làm rút ngắn thời gian để hoa tiếp nhận phấn cũng như thời gian để phóng

thích hạt phấn và khả năng sống của hạt phấn làm giảm năng suất (Canola-council

of Canada, Chapter 5- Temperature, Frost, Hail)

Phân tích mối tương quan giữa năng suất hạt với một số yếu tố cấu thành

năng suất của 9 giống cải dầu ở 2 điểm thí nghiệm ở Di Linh và Đơn Dương ở

Bảng 14 nhận thấy các yếu tố như số cành/cây, số quả/cây, chiều dài quả, số hạt

trong quả đều có tương quan chặt đến năng suất trong đó số quả trên cây giữ vai

trò quyết định đến năng suất hạt (hệ số tương quan đạt giá trị cao nhất: r = 0,96)

Bảng 14 Ma trận tương quan của năng suất hạt với số cành/trên cây, số

quả/cây, chiều dài trái, số hạt trong quả và khối lượng 1000 hạt

Trang 37

3.2.3 Hàm lượng dầu, năng suất dầu và thành phần axít béo của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (vụ Thu Đông 2009)

Bảng 15 Hàm lượng dầu và năng suất dầu của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (vụ Thu Đông 2009)

Giống Hàm lượng dầu#

* : Hàm lượng dầu khi ẩm độ của hạt là 6%

Kết quả ở Bảng 15 cho thấy có sự khác biệt về hàm lượng dầu giữa các giống Ở Di Linh giống Hyola 433 có hàm lượng dầu đạt giá trị cao nhất (41,79%)

và khác biệt có ý nghĩa so với các giống còn lại, giống HSR-95 mặc dầu có năng suất cao nhưng hàm lượng dầu đạt giá trị thấp nhất (34,68%) Về năng suất dầu, giống Hyola 433 có năng suất dầu đạt giá trị cao nhất và không khác biệt có ý nghĩa so với giống HSR-95 mặc dầu giống Hyola 433 có năng suất hạt thấp hơn HSR-95 một ít nhưng do hàm lượng dầu cao hơn giống HSR-95 rất nhiều

Ở Đơn Dương giống Hyola 433 cũng có hàm lượng dầu đạt giá trị cao nhất (44,41%), giống HSR-95 có hàm lượng dầu đạt giá trị thấp nhất (35,49%) khác biệt

có ý nghĩa so với các giống còn lại Về năng suất dầu các giống có năng suất dầu cao như HSR-13, Hyola 433 và HSR-32 khác biệt có ý nghĩa so với các giống còn lại Tất cả 9 giống khi trồng ở Di Linh đều có hàm lượng dầu thấp hơn khi trồng ở Đơn Dương có thể là do nhiệt độ, qua nghiên cứu cho rằng nhiệt độ cao hơn sau khi trổ hoa và trong suốt thời gian tạo trái làm giảm hàm lượng dầu (Canola-council of Canada, Chapter 5- Temperature, Frost, Hail)

Trang 38

Bảng 16 Thành phần axít béo của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng

433

4,18 0,26 0,11 2,97 67,17 15,71 7,74 0,82 Hyola

76 3,87 0,27 0,34 1,22 68,07 16,34 7,90 0,66 HSR-

13

3,87 0,20 2,36 68,18 15,70 7,84 0,48 HSR-

14 4,59 0,35 0,13 2,14 63,23 19,77 7,93 0,54 HSR-

15

4,24 0,25 0,21 1,86 63,22 20,24 7,84 0,48 HSR-

32 4,11 0,17 0,21 2,46 63,48 19,36 8,22 0,42 HSR-

95

4,35 0,18 1,89 69,35 15,28 6,79 0,56 07821-

1RA 3,76 0,19 2,26 66,95 14,90 11,51 0,40

Số liệu ở Bảng 16 cho thấy trong dầu của 9 giống làm thí nghiệm đều có hàm lượng axít erucic rất thấp, biến động từ 0-0,69 % đạt tiêu chuẩn để chế biến dầu ăn (có hàm lượng axít erucic: ≤ 2%) 3 giống có nguồn gốc ở Úc là Hyola 61, Hyola 433 và Hyola 76 có hàm lượng axít oleic, axít linoleic và axít linolenic (omega 3) lần lượt biến động: 66,35-68,07%, 15,70-16,34% và 7,74-7,98% 6 giống của Trung Quốc là HSR-13, HSR-14, HSR-15, HSR-32, HSR-95 và 07821-1RA có hàm lượng axít oleic, axít linoleic và axít linolenic (omega 3) lần lượt biến động: 63,22-69,35%, 14,90-20,24% và 6,79-11,51% Trong 9 giống làm thí nghiệm, giống HSR-95 có hàm lượng axít oleic đạt giá trị cao nhất (69,15%) và giống 07821-1RA có hàm lượng axít linolenic (omega 3) đạt giá trị cao nhất (11,51%) Tính trung bình tổng axít béo không no như axít oleic, axít linoleic và axít linolenic của 9 giống cải dầu làm thí nghiệm là 91,42%, với hàm lượng axít béo không no cao như vậy dầu cải từ cây cải dầu trồng ở Lâm Đồng, Tây Nguyên đếu có chất lượng rất tốt đạt tiêu chuẩn dầu để chế biến dầu ăn

3.2.4 Tình hình sâu bệnh

Trong vụ Thu Đông là vụ trong mùa mưa, sâu phá hoại không đáng kể, về

bệnh nhận thấy xuất hiện bệnh đốm lá do nấm Alternaria brassicae và bệnh cháy

lá do vi khuẩn Xanthomonas sp trong đó bệnh cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas

sp phát triển mạnh hơn bệnh đốm lá do nấm Alternaria brassicae; tuy nhiên do đã

phun ngừa trước và phun thuốc kịp thời đã phòng trừ bệnh hiệu quả nên bệnh chỉ phát triển ở các lá già bên dưới do các lá này nằm gần mắt đất đễ bị đất văng lên khi trời mưa nhưng bệnh không gây nhiễm đến các lá bên trên và quả trên cây Kết quả ở Bảng 17 cho thấy trong 9 giống ở Di Linh, giống Hyola 433 và HSR-95 có

Trang 39

tỷ lệ cây bị bệnh cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp thấp nhất còn ở Đơn

Dương giống như Hyola 76, HSR-13, HSR-15 và HSR-31 có lá phía bên dưới bị cháy lá nhiều Xét về mức độ nhiểm bệnh, thì cải dầu trồng ở Đơn Dương có tỷ lệ cây bị bệnh cháy lá cao hơn ở Di Linh do điểm thí nghiệm ở Đơn Dương nằm trong vùng trồng nhiều loại cây họ thập tự là những cây có cùng họ với cây cải dầu hơn ở Di Linh nên nguồn bệnh từ trong đất cũng nhiều hơn

Bảng 17 Tỷ lệ cây có lá bên dưới bị cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp trên

9 giống cải dầu ở Lâm Đồng trong vụ Thu Đông 2009

Tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh *

Tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh

Tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh **

Tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh Hyola 61 2,88 b 8,33 bc 20,23 ef 12,00 ef

* Số liệu được chuyển đổi thành x do giá trị tỷ lệ cây nhiểm bệnh cháy lá (x) nằm trong phạm vi từ 0-30%

** Số liệu được chuyển đổi thành arc sine do giá trị tỷ lệ cây nhiểm bệnh cháy lá (x) nằm trong phạm vi từ 0-100 %

Tóm lại, qua theo dõi khả năng thích nghi của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng trong vụ Thu Đông 2009 ở 2 điểm nhận thấy nhiệt độ và độ cao đã ảnh hưởng rõ đến thời gian sinh trưởng, các đặc tính sinh trưởng, năng suất hạt cải dầu và hàm lượng dầu Sinh trưởng phát triển, năng suất hạt và hàm lượng dầu của 9 giống cải dầu ở Đơn Dương tốt hơn ở Di Linh là do nhiệt độ có thấp hơn Ở Di Linh tuyển chọn được 2 giống tốt nhất có năng suất hạt 1900-2090 kg/ha và năng suất dầu 726-794 kg/ha là Hyola 433 và HSR-95 với thời gian sinh trưởng ngắn: 96-100 ngày Ở Đơn Dương tuyển chọn một số giống như HSR-13, Hyola 433 và HSR-32

có năng suất hạt cao biến động: 2540-3130 kg/ha và năng suất dầu cao biến động:1110-1200 kg/ha, có chất lượng dầu rất tốt để chế biến dầu ăn và có thời gian sinh trưởng ngắn: 100-120 ngày

Trang 40

3.3 NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRỒNG CÂY CẢI DẦU CÓ NĂNG SUẤT CAO VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ Ở LÂM ĐỒNG, TÂY NGUYÊN

Dựa trên kết quả nghiên cứu của các thí nghiệm về giống, phân bón và một

số biện pháp canh tác của vụ Thu Đông 2007, Đông Xuân 2007-2008, Thu Đông

2008 chúng tôi áp dụng để xây dựng mô hình trồng cây cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế Mô hình được thực hiện với 3 giống Hyola 61, Hyola 433 và 07821-1RA ở 3 điểm với quy mô diện tích ở mỗi điểm là 1000 m2 Nơi triển khai các mô hình là xã Tam Bố huyện Di Linh có độ cao 900 m so với mặt nước biển

và nhiệt độ trung bình trong vụ Thu Đông từ tháng 9-12: 21,4oC, xã Ka Đô, huyện Đơn Dương ở độ cao 1000 m và nhiệt độ trung bình: 20,53 oC và Phường 7, Đà Lạt

ở độ cao 1500 m và nhiệt độ trung bình: 17,1oC

3.3.1 Kỹ thuật canh tác được áp dụng trong mô hình cây cải dầu ở Lâm Đồng, Tây Nguyên

Thời vụ trồng:

Vụ Thu Đông 2009 với thời gian gieo và thu hoạch của các giống ở các điểm như sau:

Di Linh 1/9/2009 5/12/2009 1/9/2009 5/12/2009 1/9/2009 9/12/2009 Đơn Dương 11/9/2009 22/12/2009 11/9/2009 19/12/2009 19/12/2009 25/12/2009

Đà Lạt 30/8/2009 5/1/2010 30/8/2009 31/12/2009 30/8/2009 5/1/2010

Làm đất, lên luống:

- Đất được xới 2 lần với độ sâu 15 cm kết hợp với bón lót 5 tấn phân bò và

300 kg vôi Để phòng trừ sâu đất, đã xử lý đất với Basudin 10H (Diazinon) với liều

lượng 10 kg/ha

- Làm luống có bề rộng 1 m và rãnh là 0,4 m để gieo 5 hàng với khoảng cách giữa 2 hàng là 20 cm Do trồng trong mùa mưa nên các luống trồng cải dầu ở mô hình ở các điểm đều là luống nổi có rãnh thóat nước đầy đủ để hạn chế các luống

bị ngập nước

Bón lót phân:

- Bón lót phân vô cơ/ha: 60 kg P2O5+26 kg N (dạng phân SA)+30 kg K2O +

1 kg B

- Tưới sơ luống để phân ngấm đều vào trong đất

- Làm phẳng luống trước khi rạch hàng để gieo hạt

Ngày đăng: 21/04/2014, 21:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Nhiệt độ và lượng mưa của trạm khí tượng Bảo lộc, Liên Khương  và   Đà Lạt  năm 2008 - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 1. Nhiệt độ và lượng mưa của trạm khí tượng Bảo lộc, Liên Khương và Đà Lạt năm 2008 (Trang 19)
Bảng 3. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây, số cành trên  cây và chiều dài quả (Vụ Thu Đông 2009) - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 3. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây, số cành trên cây và chiều dài quả (Vụ Thu Đông 2009) (Trang 21)
Bảng 4. Ảnh hưởng của liều lượng  phân đạm đến số quả trên cây, số hạt  trong quả và khối lượng 1000 hạt (vụ Thu Đông 2009) - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 4. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến số quả trên cây, số hạt trong quả và khối lượng 1000 hạt (vụ Thu Đông 2009) (Trang 23)
Bảng 5. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến năng suất hạt, hàm lượng  dầu và năng suất dầu  (vụ Thu Đông 2009) - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 5. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến năng suất hạt, hàm lượng dầu và năng suất dầu (vụ Thu Đông 2009) (Trang 24)
Bảng 6. Hệ  số  tương quan (r) của chiều cao cây, số cành, chiều dài quả, số  quả, số hạt, khối lượng 1000 hạt và hàm lượng dầu với liều lượng phân đạm - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 6. Hệ số tương quan (r) của chiều cao cây, số cành, chiều dài quả, số quả, số hạt, khối lượng 1000 hạt và hàm lượng dầu với liều lượng phân đạm (Trang 25)
Bảng 9.  Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến các đặc tính sinh trưởng. - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 9. Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến các đặc tính sinh trưởng (Trang 27)
Bảng 8. Kết quả ứng dụng  thiết bị gieo hạt cải dầu đến số khoảng cách, chiều  dài khoảng cách không có cây mọc mầm và số cây mọc/m 2  trước khi tỉa - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 8. Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu đến số khoảng cách, chiều dài khoảng cách không có cây mọc mầm và số cây mọc/m 2 trước khi tỉa (Trang 27)
Bảng 10.  Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt đẩy tay đến các yếu tố cấu thành  năng suất và năng suất - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 10. Kết quả ứng dụng thiết bị gieo hạt đẩy tay đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (Trang 28)
Bảng 11. Hiệu quả kinh tế của việc gieo hạt cải dầu bằng thiết bị so với gieo  hạt bằng tay (tính cho một ha) - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 11. Hiệu quả kinh tế của việc gieo hạt cải dầu bằng thiết bị so với gieo hạt bằng tay (tính cho một ha) (Trang 29)
Bảng 12. Đặc tính sinh trưởng của 9 giống cải dầu  ở    Lâm  Đồng (Vụ Thu  Đông 2009) - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 12. Đặc tính sinh trưởng của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009) (Trang 34)
Bảng 13. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 9 giống cải dầu ở  Lâm  Đồng (Vụ Thu Đông  2009) - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 13. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009) (Trang 36)
Bảng 14. Ma trận tương quan của năng suất hạt với  số cành/trên cây, số  quả/cây, chiều dài trái, số hạt trong quả và khối lượng 1000 hạt - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 14. Ma trận tương quan của năng suất hạt với số cành/trên cây, số quả/cây, chiều dài trái, số hạt trong quả và khối lượng 1000 hạt (Trang 36)
Bảng 15. Hàm lượng dầu và  năng suất dầu của 9 giống cải dầu   ở  Lâm Đồng  (vụ Thu Đông 2009) - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 15. Hàm lượng dầu và năng suất dầu của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (vụ Thu Đông 2009) (Trang 37)
Bảng 16. Thành phần axít béo của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng. - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 16. Thành phần axít béo của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Trang 38)
Bảng 17. Tỷ lệ cây có lá bên dưới bị cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp. trên  9 giống cải dầu ở Lâm Đồng  trong vụ Thu Đông 2009 - nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên
Bảng 17. Tỷ lệ cây có lá bên dưới bị cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp. trên 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng trong vụ Thu Đông 2009 (Trang 39)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w