1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel

224 532 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống Jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Tác giả Ngô Thị Lam Giang, Hà Văn Hân, Nguyễn Đăng Phú, Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Thị Bích Hồng, Lưu Quốc Thắng, Trịnh Hưng Quyền, Lại Văn Sấm
Người hướng dẫn TS. Ngô Thị Lam Giang
Trường học Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây Có Dầu
Chuyên ngành Nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống Jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 7,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA CÁC GIỐNG JATROPHA SỬ DỤNG LÀM NGUYÊN LIỆU ĐỂ SẢN XUẤT... BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆ

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA CÁC GIỐNG JATROPHA SỬ DỤNG LÀM

NGUYÊN LIỆU ĐỂ SẢN XUẤT

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG

VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA CÁC GIỐNG JATROPHA SỬ DỤNG LÀM

NGUYÊN LIỆU ĐỂ SẢN XUẤT

DẦU BIODIESEL

Thực hiện theo Hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ

sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

số 200.RD/HĐ-KHCN ngày 16/03/2009 giữa Bộ Công

Thương và Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu

Chủ trì thực hiện: TS Ngô Thị Lam Giang Tham gia thực hiện: ThS Hà Văn Hân

TP Hồ Chí Minh, tháng 12/ 2009

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay, tình hình khủng hoảng năng lượng trên thế giới và các vấn đề ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng, các nước có xu hướng đi tìm những nguồn năng lượng sạch hơn, an toàn và bền vững hơn như năng lượng sinh học (có thể tái tạo) để dần thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng bị cạn kiệt Các nước Đức, Anh, Tây Ban Nha, Mỹ, Ấn Độ, Brazin đi đầu trong lĩnh vực này

và dầu diesel sinh học (biodiesel) từ hạt cây Jatropha đang được nhiều nước quan tâm, sử dụng khá phổ biến ở các dạng B5, B10, B20, B30 và thậm chí B100 Việt Nam cũng nhận thức rất rõ tầm quan trọng của việc phát triển nhiên liệu sinh học Do vậy, hàng loạt đề án trong lĩnh vực này đã được phê duyệt trong 2 năm gần đây

Ngày 20/11/2007, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã ký Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm

2015, tầm nhìn đến 2025” Theo đó cần qui hoạch đến năm 2010 phát triển các vùng nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu sinh học qui mô 50 nghìn tấn biodiesel/năm; năm 2015 đạt 250.000 tấn (đáp ứng 1 % nhu cầu xăng dầu của cả nước); tầm nhìn đến 2025 đạt 1,8 triệu tấn (đáp ứng khoảng 5 % nhu cầu xăng dầu của cả nước)

Tiếp sau đó, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã ký Quyết định

số 1842/QĐ-BNN-LN ngày 19/6/2008 về việc phê duyệt Đề án “Nghiên cứu,

phát triển và sử dụng sản phẩm cây Cọc rào (Jatropha curcas L.) ở Việt Nam

giai đoạn 2008 - 2015 và tầm nhìn đến 2025”, đặt mục tiêu trong giai đoạn 2008

- 2010 trồng thử nghiệm, khảo nghiệm và sản xuất thử ở các vùng sinh thái khác nhau đạt qui mô diện tích khoảng 30.000 ha, năm 2015 mở rộng khoảng 300.000

ha và năm 2025 đạt tới 500.000 ha

Do tính thời sự và cấp thiết của vấn đề biodiesel, hiện có hàng chục công

ty trong và ngoài nước đang tiến hành trồng thăm dò ở qui mô nhỏ hoặc đầu tư vốn trồng cây Jatropha tại Việt Nam trên diện tích lớn và thu mua hạt khô

Để đáp ứng nhu cầu của sản xuất và triển khai thành công đề án của Thủ tướng Chính phủ, đề án của Bộ Nông nghiệp và PTNT, việc thực hiện đề tài

“Nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống Jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel” là cấp thiết nhằm tạo ra vùng nguyên liệu phục

vụ sản xuất dầu biodiesel

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU i

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ iv

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT v

TÓM TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Tình hình nghiên cứu Jatropha và sản xuất biodiesel ở nước ngoài 2

1.2 Tình hình nghiên cứu Jatropha và sản xuất biodiesel ở trong nước 8

Chương 2 THỰC NGHIỆM 14

2.1 Nội dung nghiên cứu năm 2007-2009 14

2.2 Phương pháp nghiên cứu 14

2.2.1 Thu thập, nhập nội và khảo sát tập đoàn giống Jatropha 14

2.2.2 Phân tích hàm lượng và chất lượng dầu của các giống Jatropha 14

2.2.3 So sánh các giống Jatropha ở Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung 15

2.2.4 Nghiên cứu khoảng cách trồng cây Jatropha 15

2.2.5 Nghiên cứu kỹ thuật tạo tán cây Jatropha 16

2.2.6 Ảnh hưởng của màng phủ Polyethylene lên sinh trưởng của cây Jatropha 16

2.2.7 Nghiên cứu chế độ tưới nước cho cây Jatropha 16

2.2.8 Nghiên cứu chế độ bón phân cho cây Jatropha 17

2.2.9 Thử nghiệm nhân giống Jatropha bằng biện pháp giâm cành 17

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

3.1 Thu thập và nhập nội các giống Jatropha 19

3.2 Khảo sát tập đoàn giống Jatropha trong nước và nhập nội 20

3.3 So sánh các giống Jatropha ở Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung 30

3.3.1 So sánh các giống Jatropha ở Đông Nam Bộ 30

3.3.2 So sánh các giống Jatropha ở Duyên hải miền Trung 34

3.4 Nghiên cứu kỹ thuật tạo tán và khoảng cách trồng cây Jatropha 36

3.4.1 Kỹ thuật tạo tán cây Jatropha 36

3.4.2 Khoảng cách trồng cây Jatropha 39

3.5 Ảnh hưởng của màng phủ Polyethylene lên sinh trưởng 1 số giống Jatropha 41

3.6 Nghiên cứu chế độ bón phân và tưới nước cho cây Jatropha 43

3.6.1 Chế độ tưới nước cho cây Jatropha 43

3.6.2 Chế độ bón phân cho cây Jatropha 45

3.8 Thử nghiệm nhân giống cây Jatropha bằng biện pháp giâm cành 56

3.9 Biện pháp kỹ thuật trồng cây Jatropha (tạm thời) 59

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 5

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Nguồn gốc và số lượng mẫu giống Jatropha đã thu thập và nhập nội 19

Bảng 4.2a Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha 20

Bảng 4.2b Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha 21

Bảng 4.2c Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha 22

Bảng 4.3 Hàm lượng dầu hạt của một số mẫu giống Jatropha 23

Bảng 4.4 Phân tích 1 số chỉ tiêu hoá lý của dầu một số giống Jatropha 24

Bảng 4.5 Hàm lượng axit béo của dầu một số giống Jatropha 25

Bảng 4.6 Sinh trưởng của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh tháng 6 năm 2008 26 Bảng 4.7 Năng suất của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh tháng 6 năm 2008 27

Bảng 4.8 Sinh trưởng của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh tháng 9 năm 2008 27 Bảng 4.9 Năng suất của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh tháng 9 năm 2008 28

Bảng 4.10 Sinh trưởng các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh tháng 11 năm 2008 29

Bảng 4.11 Năng suất của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh tháng 11 năm 2008 30 Bảng 4.12 Chu vi gốc của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh 31

Bảng 4.13 Chiều cao cây của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh 31

Bảng 4.14 Đường kính tán của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh 32

Bảng 4.15 Số cành trên cây của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh 32

Bảng 4.16 Một số đặc điểm hoa và quả của các giống Jatropha 33

Bảng 4.17 Số hạt/quả, KL 100 hạt và hàm lượng dầu của giống Jatropha 33

Bảng 4.18 Các chỉ tiêu cấu thành năng suất của các giống Jatropha 33

Bảng 4.19 Chiều cao và chu vi gốc của các giống Jatropha trồng tại Ninh Thuận 35

Bảng 4.20 Đường kính tán và số cành các giống Jatropha trồng tại Ninh Thuận 35

Bảng 4.21 Ảnh hưởng của thời gian tạo tán đến chu vi gốc cây Jatropha 36

Bảng 4.22 Ảnh hưởng của thời gian tạo tán đến chiều cao cây Jatropha 37

Bảng 4.23 Ảnh hưởng của thời gian tạo tán đến đường kính tán cây Jatropha 37

Bảng 4.24 Ảnh hưởng của thời gian tạo tán đến số cành/ cây của Jatropha 38

Bảng 4.25 Ảnh hưởng khoảng cách trồng đến chu vi gốc cây Jatropha 39

Bảng 4.26 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến chiều cao cây Jatropha 39

Bảng 4.27 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến đường kính tán cây Jatropha 40

Bảng 4.28 Ảnh hưởng khoảng cách trồng đến số cành/cây Jatropha 40

Bảng 4.29 Ảnh hưởng của màng phủ Polyethylene lên chiều cao cây và số cành 42

Bảng 4.30 Ảnh hưởng của màng phủ Polyethylene lên chu vi gốc, đường kính tán 42

Bảng 4.31 Ảnh hưởng lượng nước tưới đến chu vi gốc và chiều cao cây Jatropha 43

Bảng 4.32 Ảnh hưởng của lượng nước tưới đến đường kính tán và số cành Jatropha 44 Bảng 4.33 Ảnh hưởng lượng nước tưới đến số quả và năng suất cây Jatropha 44

Bảng 4.34 Kết quả phân tích đất tại Trảng Bàng – Tây Ninh 45

Bảng 4.35 Ảnh hưởng của liều lượng N đến chu vi gốc và chiều cao cây Jatropha 46

Bảng 4.36 Ảnh hưởng liều lượng N đến đường kính tán và số cành cây Jatropha 47

Bảng 4.37 Ảnh hưởng của liều lượng K đến chu vi gốc và chiều cao cây Jatropha 47

Bảng 4.38 Ảnh hưởng của liều lượng K đến đường kính tán và số cành Jatropha 48

Bảng 4.39 Ảnh hưởng liều lượng N,P,K đến số chùm quả ở giai đoạn 9 tháng 48

Bảng 4.40 Ảnh hưởng của liều lượng N,P, K đến số quả ở giai đoạn 9 tháng SKT 49

Bảng 4.41 Kết quả phân hạng số quả theo tương tác NP và PK sau 9 tháng SKT 49

Trang 6

Bảng 4.42 Ảnh hưởng liều lượng NPK đến số chùm quả giai đoạn 12 tháng SKT 50

Bảng 4.43 Ảnh hưởng của liều lượng NPK đến số quả ở giai đoạn 12 tháng SKT 51

Bảng 4.44 Kết quả phân hạng số quả theo tương tác NK và PK sau 12 tháng 51

Bảng 4.45 Ảnh hưởng của liều lượng NPK đến số quả ở giai đoạn 16 tháng SKT 52

Bảng 4.46 Ảnh hưởng liều lượng NPK đến năng suất Jatropha sau 16 tháng SKT 53

Bảng 4.47 Kết quả phân hạng năng suất theo tương tác NP và PK sau 16 tháng 53

Bảng 4.48 Kết quả phân hạng năng suất theo tương tác NK sau 16 tháng 54

Bảng 4.49 Ảnh hưởng của các mức bón NPK đến các yếu tố năng suất Jatropha 55

Bảng 4.50 Một số loài côn trùng gây hại cây Jatropha 56

Bảng 4.51 Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến khả năng ra chồi và số lá Jatropha 57

Bảng 4.52 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra chồi và số lá Jatropha 57

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ Đồ thị 2.1 Nguồn nguyên liệu sản xuất sinh học trên thế giới năm 2007 và 2008 3

Đồ thị 4.1 Ảnh hưởng của thời gian tạo tán đến năng suất hạt cây Jatropha 38

Đồ thị 4.2 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến năng suất hạt Jatropha 41

Đồ thị 4.3 Ảnh hưởng của lượng nước tưới đến năng suất Jatropha 45

Đồ thị 4.4 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ ra chồi và rễ ở cành giâm 58

Đồ thị 4.5 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến số rễ cấp 1 và chiều dài rễ cành giâm 58

Trang 7

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

E5 : Xăng E5 (95 % xăng dầu mỏ truyền thống và 5 % ethanol)

B5 : Dầu diesel B5 (95 % diesel dầu mỏ truyền thống và 5 % diesel sinh học) B10 : Biodiesel 10 %

NAA : napthalen-acetic acid

IBA : β-indol butyric acid

TTĐĐ : Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ

TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

KHNNVN: Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

ICRISAT : Viện Nghiên cứu Quốc tế các cây trồng cạn vùng nhiệt đới bán khô hạn

Viện NCD và CCD: Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu

Trang 8

TÓM TẮT

Đề tài: “Nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống Jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel” được tiến hành tại Trung tâm sản xuất giống Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và Trung tâm cây trồng Bán khô hạn Ninh Thuận, thời gian từ năm 2007 đến năm 2009 Đề tài đã thu thập và nhập nội một số giống Jatropha; khảo sát sinh trưởng, phát triển, năng suất và hàm lượng dầu của các mẫu giống trong tập đoàn giống Jatropha; so sánh các giống Jatropha ở Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung bộ; nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật tạo tán, mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất của các giống Jatropha; nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ bón phân và tưới nước đến sinh trưởng và phát triển của các giống Jatropha; thử nghiệm nhân giống Jatropha bằng biện pháp giâm cành Thí nghiệm được bố trí bố trí tuần tự, không lặp lại

và khối đầy đủ ngẫu nhiên

Kết quả đã thu thập và nhập nội được tổng số 86 mẫu giống Jatropha, trong đó có 22 giống thu thập từ trong nước và 64 giống nhập nội từ Úc, Pháp,

Ấn Độ, Brazin, Indonesia, Lào, Thái Lan và Trung Quốc Hàm lượng dầu của các mẫu giống thu thập và nhập nội biến động từ 28,2 - 42,0 %, trong đó giống

có hàm lượng dầu cao nhất là TL 09-73 (42,0 %) và AĐ 09-59 ( 40,6 %) Sau 6 tháng trồng có phủ polyethylene cây Jatropha sinh trưởng tốt hơn, có chiều cao cây, chu vi gốc, đường kính tán và số cành trên cây lớn hơn rõ rệt so với đối chứng không phủ Sau 30 tháng trồng, năng suất của giống AĐ 07-2 ở Đông Nam Bộ (Tây Ninh) đạt cao nhất (812 kg/ ha); Sau 01 năm trồng tại Ninh Thuận nhận thấy giống TQ 07-5 có chiều cao cây, chu vi gốc, đường kính tán và số cành trên cây phát triển mạnh hơn cả Ở thời điểm 30 tháng sau khi trồng, biện pháp tạo tán sớm - lúc 9 tháng sau khi trồng cho năng suất hạt cao nhất (820 kg/ha) Sự khác biệt về năng suất chưa thật rõ giữa các khoảng cách trồng; năng suất hạt đạt cao nhất là 531,3 kg/ha với khoảng cách trồng 2,0 x 2,0m ở thời điểm 18 tháng (năm 2008), và 876,8 kg/ ha với khoảng cách trồng 2,0 x 1,5m ở thời điểm 30 tháng (năm 2009) Bước đầu đề xuất liều lượng phân bón phù hợp

ở mức 15 N, 20 P2O5 và 20 K2O/cây/năm (N1P1K1), tương đương 82 kg Urê,

278 kg Super Lân và 83 kg Kali /ha/năm (2500 cây/ha); Tưới nước bổ sung trong mùa khô cho Jatropha có tác dụng đối với tăng trưởng (chu vi gốc, chiều cao cây, đường kinh tán, số cành trên cây) khi cây còn nhỏ (sau trồng dưới 90 ngày) với lượng nước tưới 4-8 lít/ cây và 4-8 ngày tưới/ lần; Xử lý cành giâm bằng NAA ở nồng độ 600 ppm cho tỷ lệ ra chồi và số lá mọc/ cành cao nhất ở thời điểm 4 tuần sau xử lý; Tương tự, xử lý cành giâm bằng IBA ở nồng độ 1200 ppm có số chồi mọc/cành, số lá mọc/cành, tỷ lệ ra chồi, số rễ cấp 1, tỷ lệ ra rễ và chiều dài rễ cao nhất sau 4 tuần giâm Đã đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng (tạm thời) cho cây Jatropha

Trang 9

MỞ ĐẦU

Cơ sở pháp lý/xuất xứ của đề tài

Đề tài đăng ký thực hiện trong 3 năm (2007 - 2009) Năm 2007 đã triển khai thực hiện đề tài năm thứ nhất Năm 2008 đề tài được thực hiện theo hợp đồng NCKH&PTCN số 152.08.RD/HĐ-KHCN ngày 14/02/2008 ký giữa Bộ và Viện, hợp đồng giao khoán nội bộ số 75/HĐGK-VD ngày 3/6/2008 ký giữa Viện Trưởng và Chủ nhiệm đề tài Báo cáo dưới đây trình bày kết quả thực hiện đề tài trong năm 2007-2009

Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá khả năng thích nghi của các giống Jatropha tại miền Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung

- Đề xuất biện pháp canh tác phù hợp cho cây Jatropha

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng: Cây Jatropha (Jatropha curcas L.)

- Phạm vi: Đề tài được giới hạn vùng Đông Nam Bộ (Tây Ninh) và Duyên hải Nam Trung bộ (Ninh Thuận) Thời gian nghiên cứu từ năm 2007 đến 2009

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu Jatropha và sản xuất biodiesel ở nước ngoài

Vấn đề sản xuất Biodiesel: Hiện nay rất nhiều nước trên thế giới đang

quan tâm tới việc sản xuất biodiesel Nhiên liệu sinh học chủ yếu gồm ethanol sinh học và diesel sinh học Ethanol sinh học có thể sản xuất từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau như sắn, mía, ngô, đậu tương còn diesel sinh học có thể sản xuất từ các cây Jatropha, Cọ dầu, Hoàng liên mộc, Văn quan, Bánh dầy, Dừa (Phạm Đức Tuấn, 2008)

Các nước sử dụng các loại dầu thực vật khác nhau để sản xuất nhiên liệu sinh học Theo Behl (2006), Mỹ sử dụng dầu đậu nành để sản xuất biodiesel, nhiều nước châu Âu sử dụng dầu cải dầu và dầu hướng dương, Ai len dùng dầu phế thải, mỡ động vật, Brazil sử dụng dầu thầu dầu, dầu cọ dầu ở Malaysia, dầu dừa ở Thái Lan và Philipine, dầu hạt bông vải ở Hy Lạp, dầu hạt lanh ở Tây Ban Nha, dầu Jatropha ở Ấn Độ

Brazin là quốc gia đi tiên phong trong việc sử dụng ethanol làm nhiên liệu thay thế, đã ban hành luật 11.097 ngày 13/1/2005 quy định tỷ lệ pha trộn bắt buộc tối thiểu 5% diesel sinh học vào nhiên liệu hóa thạch, với tỷ lệ này nhu cầu diesel sinh học là khoảng 800 triệu lít/năm, mức thuế ưu đãi giảm 68 % đối với diesel sinh học sản xuất từ nguyên liệu thô bởi gia đình (Phạm Đức Tuấn, 2008) Trong khối EU, tất cả các nước đều được miễn thuế đối với nhiên liệu sinh học và không đặt ra mức khống chế được miễn thuế EU qui định pha ít nhất 2 - 5,75 % biodiesel từ 2006 - 2010 và năm 2020 là 20 % Theo Alok Adholeya (2008), châu Âu đã đưa ra tỷ lệ 5,75 % nhiên liệu sinh học trong tổng

số nhiên liệu bán ra vào năm 2010

Ấn Độ bắt buộc sử dụng thí điểm xăng chứa 5 % ethanol tại 9 bang và 4 tiểu vùng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2003 (Nguyễn Phú Cường, 2008) Theo

ủy ban kế hoạch Ấn Độ, nước này phấn đấu đến 2011 - 2012 dầu sinh học sẽ thay thế 20 % lượng dầu mỏ Trong tầm nhìn 2020 về năng lượng, Ấn Độ quyết định đầu tư trồng 5 - 10 triệu ha cây Jatropha để sản xuất 7,5 triệu tấn diesel sinh học/năm (Phạm Đức Tuấn, 2008) Theo Prasad (2006), bang Andra Pradesh của

Ấn Độ đã đầu tư cho nông dân vay tối đa khoảng 50.000 rupees để lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt (khoảng 90 % chi phí)

Indonesia đặt mục tiêu đến năm 2010 đưa diện tích cây Jatropha lên 5,25 triệu ha và nhiên liệu sinh học đáp ứng 10 % nhu cầu cho ngành điện và giao thông Năm 2007 công ty năng lượng sinh học Thụy Điển đã ký hợp đồng đầu tư

103 triệu EU để trồng 100.000 ha cây Jatropha tại tỉnh Đông Nusa Tenggara của Indonesia

Trung Quốc đã lên kế hoạch đến năm 2010 sản xuất được 2 triệu tấn dầu diesel sinh học, hiện đã trồng 20 ngàn ha Jatropha, năm năm tới đạt 150 ngàn ha

và tới năm 2010 đạt 1,4 triệu ha trên cả nước Chính phủ Trung Quốc có chính sách hỗ trợ tài chính mạnh mẽ như miễn thuế 5 % thuế tiêu thụ, chính phủ chịu tất cả các khoản thua lỗ do quá trình sản xuất, vận chuyển và bán nhiên liệu sinh

Trang 11

học (Bộ tài chính dành một khoản bù lỗ đặc biệt) Đối với các hộ gia đình trồng cây Jatropha trên đất lâm nghiệp, Chính phủ hỗ trợ một khoản 200 tệ/mẫu Trung Quốc (tương đương 6 triệu đồng /ha)

Malaysia hiện có 3 nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học với công suất 276.000 tấn/năm Chính phủ nước này đặt chỉ tiêu sản xuất 1 triệu tấn dầu diesel sinh học xuất khẩu vào năm 2007 - 2008 Hiện nay Malaysia đã trồng được 10.000 ha cây Jatropha

Bộ năng lượng Thái Lan năm 2004 đã thiết lập một dự án đầu tiên tại San Sai - Chiang Mai để trồng và xây dựng trạm sản xuất diesel sinh học từ cây Jatropha công suất 2.000 lít, tiến hành thử nghiệm trên một số loại xe taxi bán tải Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã Thái Lan cùng liên đoàn công nghiệp Thái Lan khuyến khích nông dân mở rộng diện tích trồng cây Jatropha, dự kiến diện tích sẽ đạt 2 triệu Rai (320 nghìn ha) trong những năm tới (Phạm Đức Tuấn, 2008)

Hiện tại Hàn Quốc đứng đầu châu Á trong việc sản xuất và sử dụng dầu biodiesel với tổng công suất là 670.000 tấn/năm và sẽ tăng lên 1 triệu tấn/năm trong năm 2010, nguồn nhiên liệu là dầu đậu tương, dầu cọ nhập khẩu, duy nhất chỉ có nhà máy BND Energy GuNSan với công suất 50.000 tấn/năm là dùng dầu Jatropha làm nguyên liệu Hàn Quốc đã ban hành tiêu chuẩn cho dầu pha biodiesel BD5 (5 % biodiesel) và trong thời gian tới sẽ sử dụng BD10 (Tạ Quốc Quang, 2008)

Hãng hàng không Air New Zealand (ANZ) vừa thử nghiệm thành công một chuyến bay thương mại chạy một phần bằng năng lượng sinh học được làm

từ cây Jatropha Với động cơ chạy bằng xăng máy bay chuẩn A1 kết hợp với dầu được chiết xuất từ hạt Jatropha với tỷ lệ pha 1:1 (Báo thanh niên 1-1-2009)

Đồ thị 1.1 Nguồn nguyên liệu sản xuất sinh học trên thế giới năm 2007 - 2008

Nguồn nguyên liệu cho sản xuất diesel sinh học trên thế giới năm 2007

68

28

15 19

6 28

0

19

1 0 5 0 5

6 0

Trang 12

bao gồm: dầu hạt cải dầu 68 %, dầu cọ 6 %, dầu đậu nành 15 %, dầu hạt hướng dương 1 %, mỡ động vật 5 %, các loại khác 5 % Tuy nhiên năm sau tỷ lệ trên đã thay đổi, việc sử dụng dầu hạt cải dầu giảm xuống hơn 50 % (28 %), dầu cọ dầu tăng lên (28 %), dầu hạt Jatropha chiếm tới 19 % và dầu đậu nành 19 %, các loại khác 6 % (Mittelbach M 2008) Dự kiến năm 2010 phát triển 5 triệu ha Jatropha

ở châu Phi, châu Á và Mỹ la tinh (Greco GVD 2008) Prabha (2006), dự đoán nhu cầu tiêu thụ năng lượng trên thế giới tăng 54 % từ năm 2010 tới 2025

Cây Jatropha được chọn để làm nhiên liệu sinh học vì các lý do sau (Gindaba J 2008): cây Jatropha không dùng làm thực phẩm, mọc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, có thể mọc ở khắp mọi nơi, ở những vùng đất không phù hợp trồng cây lương thực, cây có thể cho quả trong nhiều năm, hạt có chứa hàm lượng dầu cao (28 - 40 %), có thể nhân giống dễ dàng, chịu đựng một thời gian dài những điều kiện bất lợi, góp phần tăng thu nhập cho nông dân, dầu có thể làm biodiesel chất lượng cao

Nghiên cứu thu thập và chọn tạo giống Jatropha: Việc thu thập các mẫu

giống Jatropha và lập vườn tập đoàn giống đã được triển khai ở Ấn Độ Viện ICRISAT đã tiến hành thu thập được 15 mẫu giống từ các bang ở Ấn Độ và khảo sát tỷ lệ nẩy mầm, khối lượng 100 hạt, hàm lượng dầu Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ nẩy mầm từ 0 - 90 % Khối lượng 100 hạt từ 44 - 77 g Hàm lượng dầu 27,8 - 38,4 % Viện đã khảo sát tập đoàn giống Jatropha, kết quả cho thấy tỷ lệ hoa đực/cái là 4:1 tới 16,6:1 và số quả/cây là 90 và hàm lượng dầu từ 33,1 - 39,1

% ( ICJC 06091) (Wani SP 2006)

Ấn Độ đã thành công khi chọn tạo được giống Jatropha mới có hàm lượng dầu 49,2 % và 47,8 % protein, trong khi các giống hiện có hàm lượng dầu thường dao động trong khoảng từ 31-37 % (Wiersma E 2008) Ngoài ra chương trình nghiên cứu hợp tác của Ấn Độ và nhiều nước khác cũng đã thành công trong chọn tạo giống Jatropha không độc, dầu có thể làm dầu ăn và bánh dầu có thể làm thức ăn gia súc Brazin đã chọn tạo thành công được giống Jatropha chịu lạnh (Wiersma E 2008) Đã thử nghiệm thành công cấy mô Jatropha ở Ấn Độ, Singapore và các cây cấy mô năng suất cao đang được cung cấp cho sản xuất Theo M Paramathma (2009), Ấn độ đã thu thập được 2315 mẫu giống Jatropha từ khắp nơi trên thế giới để phục vụ cho chương trình lai tạo giống Nghiên cứu khả năng sống của hạt phấn và sự tiếp nhận của nhụy hoa cho thấy nhụy có thể tiếp nhận hạt phấn trong ít nhất 3 ngày, nhưng quả đậu tốt nhất là từ

1 - 2 ngày đầu và tỷ lệ đậu giảm khi tuổi của nhụy tăng

Parthiban (2009), đã tiến hành chương trình lai tạo giữa các loài Jatropha khác nhau, phần lớn đã không đạt kết quả mong muốn Tuy nhiên đã thành công

và tạo đươc nhiều tổ hợp lai giữa 2 loài Jatropha curcas và Jatropha

integerrima

Yêu cầu về điều kiện khí hậu, đất đai trồng Jatropha: Gindaba J (2008)

đã nêu các yêu cầu về khí hậu đất đai phù hợp cho cây Jatropha (phụ lục 1) Còn theo Richardson (2008) như sau:

Lượng mưa: Trung bình 1200 - 3500 mm/năm, năng suất biến động tùy

Trang 13

vào lượng mưa, mưa ít sẽ cho năng suất thấp Cần lượng mưa phân phối đều và mưa kết hợp nhiệt độ cao sẽ giúp cây phát triển tốt

Nhiệt độ: Cây Jatropha phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng,

nhiệt độ trung bình/năm từ 25 - 27 0C, không chịu được sương giá (rụng lá)

Ẩm độ: Ẩm độ cao kéo dài cùng nhiệt độ thấp làm tăng khả năng bị bệnh

lá, ẩm độ thấp làm tăng nhu cầu nước của cây

Gió: Gió mạnh liên tục cản trở côn trùng thụ phấn và ảnh hưởng phát triển

cây

Đất: Chọn đất trồng cần xem cấu trúc đất, hiện trạng nước mặt và nước

ngầm, hiện trạng sử dụng đất, đất xốp, đất cát nhiều mùn là lý tưởng, đất nặng làm rễ cây phát triển yếu

Đánh giá khí hậu: Cần xem xét sự thiếu nước, nhiệt độ (lạnh giá), ẩm độ

(bệnh), gió (khả năng hoa được thụ phấn), từ đó đối chiếu và phân tích số liệu để xác định đất thích hợp có thể trồng (sử dụng bản đồ GIS)

Chọn điểm: Đất phù hợp, có đủ nhân công, có cơ sở hạ tầng, có điều kiện

cung ứng dịch vụ, hậu cần

Cây Jatropha có thể chịu đựng được thời tiết rất nóng nhưng chỉ có thể chịu được băng giá nhẹ trong một giai đoạn ngắn, khi trời lạnh cây sẽ rụng lá Băng giá kéo dài sẽ làm chết cây chưa trưởng thành và hư hại nặng cây đã trưởng thành Jatropha phát triển mạnh trên đất cát thoát nước tốt, cây có thể phát triển trên đất nghèo dinh dưỡng và trong điều kiện đất nhiễm mặn

(http://www.Jatrophabiodiesel.org/JatrophaPlantation.php?_divid=menu2)

Về chế độ bón phân cho cây Jatropha: có nơi sử dụng phân chuồng +

Super lân để bón lót, có nơi chỉ sử dụng phân Super lân để bón lót (http://teriin:org/projects/ES/Jatropha.pdf) Cây Jatropha cần phân NPK và Ca,

Mg, S, chịu được đất kiềm (pH=8,5), không chịu mặn (Richardson C., 2008) Nên bón: 30-100g/cây/ năm, phân NPK 10:20:10 và 5 kg phân hữu cơ/cây/năm (Sherriff R 2008) Wani (2008) đã bố trí thí nghiệm phân bón với 5 nghiệm thức: T1 = 50g Ure + 38 g Super Lân, T2 = 50g Ure + 76 g Super Lân, T3 = 100

g Ure + 38g super Lân, T4 = 100g Ure + 76g Super Lân, T5= đối chứng, cho kết quả T3 có số quả/cây, TL quả/cây, số hạt/cây, TL hạt/cây, tỷ lệ nhân, TL 100 hạt

là cao nhất Đã đánh giá ảnh hưởng của nấm rễ mycorrhizal lên sự phát triển cây con ở vườn ươm, nấm rễ đã làm tăng chiều cao cây, chu vi thân và số lá/cây

(Wani S.P and Sreedevi TK 2008)

Phân bón cho Jatropha từ năm thứ 1 tới năm thứ 4 (mật độ trồng 1.667 cây/ha) ở Indonesia được tác giả Rijssenbeek (2008) trình bày trong phụ lục 3 Cây Jatropha thích nghi với đất có độ phì thấp Nếu bổ sung thêm Ca, Mg,

và S có thể cải thiện được năng suất Nấm mycorrhizal đã giúp cây phát triển tốt trong điều kiện thiếu lân Lượng phân cần bón cho 1 cây/năm: 1kg phân hữu cơ + 20g Urê + 120 g Super Lân + 16 g KCl (http://www.icar.org.in/pr/10052006.htm)

Theo Rao C.L.N (2008) bón lót cho mỗi hố khi trồng Jatropha: 2 - 3 kg phân hữu cơ + 0,12 kg Super lân + 0,15 kg KCl, lượng phân bón cho 1 cây/năm:

Trang 14

500 g phân hữu cơ + 20 N + 30 g P2O5 + 20 g K2O Theo Punia M.S (2008) bón lót với liều lượng 20 g Urê, 120 g lân, 16 g KCl và 2 - 3 kg phân hữu cơ cho 1

hố trồng, từ năm thứ 2 bón NPK với tỷ lệ 46:48:24 kg/ha Wani (2006) khuyến cáo phân bón cho Jatropha năm thứ 1:1 kg và 50g DAP/cây và các năm tiếp theo

50 g Ure và 100 g Lân, nên bổ sung thêm Ca, Mg, S

Theo Wani SP (2006), đã đánh giá ảnh hưởng của nấm mycorrhizal lên sự phát triển cây con ở vườn ươm Nấm có khả năng làm tăng chiều cao cây, chu vi thân và số lá/cây ở nghiệm thức có nhiễm nấm so với không nhiễm (phụ lục 2) Theo Alok Adholeya (2008), sử dụng nấm mycorrhiza có thể giảm bớt tới

50 % lượng phân lân cần bón cho cây Jatropha và giúp cây trồng sử dụng nước hiệu quả hơn

Về khoảng cách trồng Jatropha: thay đổi tùy thuộc cách trồng thuần,

trồng theo bờ bao hay trồng xen Các khoảng cách có thể là: 3 x 3 m; 2,5 x 2,5 m; 2 x 2 m, 2 x 1 m Trong điều kiện trồng đại trà nên trồng với khoảng cách 2 x

2 m (2.500 cây/ha) Nếu trồng làm hàng rào hoặc để giữ đất nên trồng ở khoảng cách 15 cm đến 25 cm x 15 cm (http://www.icar.org.in/pr/10052006.htm) Tác giả Sherriff (2008) khuyến cáo các khoảng cách trồng 2 x 3 m, 2 x 4 m, 4 x 5 m,

6 x 6 m và trồng thành hàng dọc

Về kỹ thuật tạo tán: Các tác giả đưa ra các khuyến cáo về kỹ thuật tạo tán

tương đối đa dạng, khác nhau về thời gian bắt đầu tạo tán lần đầu Theo Rao V.P (2008), cây Jatropha được tạo tán ở năm thứ nhất, thứ 2 sau khi trồng và hàng năm sau khi thu hoạch sẽ tiếp tục tạo tán để cây không quá cao, tiện cho thu hoạch còn theo Rao C.L.N (2008) thì nên tạo tán vào năm thứ 2, cắt tới 60 cm

từ mặt đất Wani (2006) khuyến cáo sau năm thứ nhất tạo tới cành cấp 3 và cuối năm thứ 3 có tổng số 25 cành Cứ 10 năm lại cắt 1 lần cách mặt đất 30 cm vào cuối mùa khô hoặc tạo tán từ lúc cây nhỏ sau khi thu hoạch, cây sẽ phát triển mạnh sau đó (Sherriff, 2008) Theo một tác giả khác thì khoảng 90 - 120 ngày tạo tán lần 1 cách mặt đất 25 cm cho tất cả các cây sẽ tạo ra được 8 - 12 cành, để cây dễ thu hoạch nên tạo tán giữ cây ở độ cao 2 m (http://www.Jatrophabiodiesel.org/JatrophaPlantation.php?_divid=menu2)

Rooyen (2008) thì tính toán, tạo tán để cây có 120 cành (năng suất đạt 7 -

8 tấn hạt/ha), định hình tán cây trong 3 năm đầu, có thể cắt cành tạo tán sau 3 tháng trồng, tạo dáng cây dạng cầu tròn hoặc quả lê để các cành không đan xen nhau dễ bị gẫy, khi cắt để lại ít nhất 7 mắt để có ít nhất 3 cành mới Sau mỗi đợt cắt cành tạo tán sẽ cho ra 3 cành mới theo cấp số nhân: 1 cành - 3 cành - 9 cành

- 27 cành - 81 cành - 243 cành, sau đó cắt tỉa 50 % số cành, còn giữ 120 cành

Ưu điểm của tạo tán: năng suất cao, cây khỏe, ra hoa sớm lúc 4 tháng sau khi tạo tán, tính toán năng suất: 120 cành có quả x 14 quả/cành x 3 hạt/quả = 5.040 hạt

Về tưới nước: Cây Jatropha chịu hạn rất tốt, có thể phát triển với lượng

mưa là 500 - 1500 mm/năm Dưới mức 500 mm thì sinh trưởng của cây tùy thuộc vào mực nước ngầm trong đất Cây có thể chịu được thời gian dài thiếu nước, sau đó tăng trưởng trở lại khi mưa tới

Theo Rooyen (2008) một kỹ thuật mới được khuyến cáo là sử dụng dung

Trang 15

dịch Gel để giữ nước trộn chung phân bón tưới hốc vào ngày trồng (chi phí tăng thêm khoảng 100 USD/ha), tăng khả năng giữ nước và cung cấp nước cho cây Sreedvi (2009) cho biết năng suất jatropha đạt 1 tấn/ ha khi trồng thử nghiệm ở

Ấn Độ trên những vùng đất cằn cỗi trong điều kiện nước trời

Rao CLN (2008) cho biết năng suất mỗi cây Jatropha trong điều kiện không tưới 0,2 - 1,5 kg, trong điều kiện có tưới từ 1,5 - 5 kg/cây ở năm thứ 4 hoặc 5 (phụ lục 4) Còn theo Wani (2006), trong điều kiện không tưới năng suất đạt 750 - 1500 kg/ha, có tưới 1500 - 2500 kg/ha Theo Sherriff (2008), cho rằng tưới nhiều sẽ không đạt HQKT, tưới bổ sung vào các giai đoạn thiếu nước sẽ cho rất nhiều hoa, ít nhất khoảng sau 10 ngày mới tưới 1 lần

Dự án nghiên cứu của Agroil đang triển khai ở các nước Ma rốc, Senegal, Ghana, Camarun Trong các mô hình đều sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt Tại Ma rốc đã trồng 5 ha tưới nhỏ giọt với 6 giống Jatropha và khoảng cách 2 x

4 m Tại Senegal đã trồng 60 ha tưới nhỏ giọt với 6 giống Jatropha và khoảng cách 2 x 4 m, trồng xen cây ngắn ngày Tại Ghana đã trồng 50 ha tưới nhỏ giọt với 5 giống Jatropha và khoảng cách 2 x 4 m, 2 x 8 m, trồng xen: mè, đậu, dưa hấu Tại Camarun trồng 50 ha tưới nhỏ giọt với 9 giống Jatropha và khoảng cách

2 x 4 m, 2 x 8 m, trồng xen bắp (Greco GVD 2008)

Các biện pháp nhân giống Jatropha: Có thể sử dụng IBA và NAA để

kích thích ra rễ ở cành giâm Có thể sử dụng cành dài 15 cm, đường kính 2 - 3

cm, xử lý với IBA và NAA ở nồng độ 100 ppm (Punia, 2008) hoặc dùng cành dài 30 cm, đường kính 2 - 3 cm, xử lý với IBA ở nồng độ 100 ppm (Kaushik, 2007) Theo Rao VP (2008) xử lý cành Jatropha bằng chất kích thích IBA ở nồng độ 100 ppm cho tỷ lệ chồi mọc rễ đạt 95 %, số chồi/cành là 2, số rễ/cành đạt 5 rễ, trong khi đối chứng chỉ đạt tỷ lệ ra chồi là 62 %, tỷ lệ mọc rễ đạt 57 %,

số chồi/cành là 1 và số rễ/cành là 1 Tác giả Richardson (2008) đưa ra các biện pháp kỹ thuật nhân giống Jatropha và phân tích ưu nhược điểm của mỗi biện pháp Tùy vào hoàn cảnh cụ thể mà chọn biện pháp cho phù hợp Có thể nhân giống Jatropha bằng hạt, cành giâm, ghép cành hoặc nuôi cấy mô (phụ lục 5) Jha, Mukherjee và Datta (2007) thông báo đã thành công trong việc nuôi cấy mô Jatropha Chu kỳ nuôi cấy trong thời gian 12 - 16 tuần, cây con chuyển

ra vườn trồng đạt tỷ lệ sống 90 %

Thu hoạch và bảo quản: Wiersma (2008) khuyến cáo hạt giống cần được

bảo quản ở ẩm độ < 60 % và nhiệt độ < 20 0C Tiêu chuẩn chất lượng hạt giống Jatropha: hạt tồn trữ dưới 1 năm, trọng lượng 1000 hạt = 500 g (ẩm độ < 10 %),

tỷ lệ lẫn hạt cây khác < 2 % và > 70 % tỷ lệ nẩy mầm Chất lượng cây con Jatropha khi xuất vườn ươm: Cao cây 30 - 45 cm (đo từ mặt đất tới đỉnh sinh trưởng); cây có > 8 lá thật; đường kính thân > 1,5 cm (đo cách mặt đất 2 cm); vỏ cây nơi 10 cm từ mặt đất chuyển từ màu xanh sang xám; rễ cây còn chưa xuyên qua bịch

Sự ra hoa phụ thuộc vào địa điểm, khí hậu thời tiết, độ ẩm và độ phì của đất Quả chín trong vòng từ 2 - 4 tháng sau khi ra hoa Nên thu hoạch khi quả có màu vàng Không nên phơi thẳng dưới nắng mặt trời sẽ làm ảnh hưởng đến sức

Trang 16

nẩy mầm của hạt, phơi đạt độ ẩm 5 - 7 %, bảo quản trong điều kiện khô và lạnh

(Wani SP 2006 và 2007)

Thành phần dầu Jatropha: Theo Heeres E (2008), dầu Jatropha có thành

phần các axit béo chủ yếu: Palmitic 16:0 (18,3 %), Palmitoleic 16:1 (0,65 %),

Stearic 18:0 (5,6 %), Oleic 18:1 (45,6 (29,8 %), Linoleic 18:2, phù hợp để chế

biến nhiên liệu sinh học Tuy nhiên cần nghiên cứu cải thiện độ ổn định và một vài đặc tính khác (phụ lục 6) Nutan (2006), chỉ ra các thông số quan trọng của dầu thực vật khi sử dụng làm biodiesel: Độ ẩm - dầu cần được làm khô để bảo đảm hiệu quả của chất xúc tác; tỷ lệ các acid béo tự do <1% - tỷ lệ này càng thấp thì biodiesel thu được càng cao; chỉ số Iod - chỉ số iod cao

1.2 Tình hình nghiên cứu Jatropha và sản xuất biodiesel ở trong nước

Do chưa có nguồn giống được công nhận và kiểm định, chưa có qui trình

kỹ thuật canh tác và qui hoạch vùng trồng phù hợp nên việc phát triển Jatropha trên diện rộng có thể gặp rủi ro, đặc biệt là đối với người dân nghèo

Một số đặc tính sinh học của cây Jatropha: cây Jatropha có tên khoa học

là Jatropha curcas L., thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), có nguồn gốc từ

châu Phi, Bắc Mỹ và vùng biển Carribê, du nhập vào Việt Nam từ rất lâu, được trồng làm hàng rào Jatropha là loại cây lưu niên, có thể cao tới 5 m, là cây bụi lớn, có chu kỳ sống lâu tới 50 năm, khả năng cộng sinh với nấm rễ Mycorrhizal cao, nên có thể sinh trưởng tốt trên những vùng đất suy thoái, khô, cằn cỗi, thậm chí ô nhiễm và hoang hóa Cây có chiều cao trung bình từ 2 - 7 m, thân và cành cây trơn không có gai, hoa có kích thước nhỏ, màu vàng và có mùi thơm, thuộc loại hoa đơn tính, với số lượng hoa đực luôn nhiều hơn hoa cái Quả mọc thành từng chùm, mỗi chùm thông thường có khoảng 3 quả, màu xanh nhạt Thời gian

từ khi cây ra hoa đến khi quả chín khoảng 60 - 90 ngày Hạt có màu trắng ở đầu, dài 1,7 - 1,9 cm, dầy 0,8 - 0,9 cm, khối lượng 100 hạt khoảng 69,9 g Có vài loại côn trùng gây hại cho cây nhưng thường gặp nhất là loại rệp phấn Có thể trồng bằng hạt hoặc bằng cành giâm

Một vài đặc điểm và công dụng của Jatropha: là loại cây đa mục đích,

tất cả các phần của cây đều có giá trị sử dụng, tuy nhiên sản phẩm quan trọng nhất vẫn là hạt lấy dầu cho sản xuất diesel sinh học Dầu Jatropha thô được dùng

để thắp sáng, đun nấu, khi cháy không cho khói, về mặt y học nhựa cây Jatropha

do chứa alkaloid (Jatrophine) có tác dụng chống lại ung thư, rễ cây dùng để chữa rắn cắn Kinh nghiệm cho thấy nông dân có thể dùng lá khô của cây Jatropha hun khói diệt nhiều loại sâu bệnh trên cây ăn quả và cây trồng khác Cây Jatropha tạo ra thảm thực vật có độ che phủ ổn định, có khả năng hấp thụ CO2

lớn Vì vậy cây Jatropha cũng rất có ý nghĩa về dịch vụ môi trường (Nguyễn Phú

Cường, 2008)

Ngoài diesel sinh học, cây Jatropha còn có thể cho ta nhiều sản phẩm khác như: dầu diesel sinh học 1.000 - 3.000 lít /hecta; khô dầu đạm nhiều (38 % protein), thức ăn cho gia súc, tôm, cá (từ 1 - 9 tấn/ha); sinh khối vỏ quả, thân, lá

có thể sản xuất biogaz, phân hữu cơ Dầu Jatropha có thể sản xuất dầu nhớt cao cấp, xà phòng, thắp sáng, nấu nướng, vecni dầu bóng Từ lá, vỏ, thân, rễ, dầu, có

Trang 17

thể sản xuất nhiều hóa chất màu, glycerin, hoạt chất kích thích sinh trưởng thực vật siêu mạnh, thuốc chữa bệnh (nghiên cứu ở Nhật phát hiện có chất chống ung thư), thuốc trừ sâu, diệt ốc bươu vàng, diệt cá tạp, xua đuổi chuột Ngọn non có thể làm rau xanh, lá có thể nuôi một loại tằm cho tơ, cây có thể thả nuôi cánh kiến Có thể tăng sản phẩm nhờ trồng xen với các cây khác như gừng, nghệ, keo, bạch đàn

Cây Jatropha có thể trồng vừa che bóng, vừa chống cỏ dại, giảm sâu bệnh vừa cho sản phẩm trên các diện tích trồng xen cà phê, ca cao; là chỗ dựa và giảm sâu bệnh cho cây tiêu, cây vanilla (trong cây có chất chống tuyến trùng gây bệnh) Cây Jatropha còn trồng làm bờ rào chống gia súc phá hại, cản lửa, xua đuổi côn trùng truyền bệnh, có thể trồng ven đường đi, bờ mương, bờ ao, bờ hồ vừa cho sản phẩm, vừa chống sạt lở, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cho thu nhập không ít Cây Jatropha có khả năng chịu hạn tốt, có thể mọc trên đất trồng đồi núi trọc, các vùng đất cát ven biển, đất nghèo dinh dưỡng có điều kiện thời tiết khắc nghiệt, tăng độ ẩm cho môi trường, tăng dự trữ nước và cải tạo đất tốt, tạo vi khí hậu cho vùng trồng xen hoa màu, các loại cây kinh tế khác Đây là nguồn năng lượng có khả năng tái tạo và có tính ổn định bền vững cao

Dầu ép từ cây Jatropha không cần chế biến phức tạp, có thể dùng thẳng cho các động cơ diesel mà không cần thay đổi về máy móc Cũng có thể pha chung với diesel từ dầu mỏ với các tỷ lệ tự do làm tăng hiệu suất và giảm tác hại của diesel dầu mỏ Diesel sinh học từ cây Jatropha có ôxy trong phân tử và không có sunphua nên được đốt cháy hết, giảm thiểu 40 - 80 % khí gây hiệu ứng nhà kính và 100 % khí gây ung thư Hơn nữa, trồng cây còn giúp cố định trung bình 10 tấn CO2/ha/năm, có thể bán theo công ước quốc tế về giảm thiểu khí thải Nước ta đã tham gia nghị định thư tokyo về biến đổi khí hậu toàn cầu cho nên cần thực hiện qui định bắt buộc sử dụng diesel sinh học và thực hiện nghiêm chỉnh những cam kết mà Việt Nam đã ký kết

Cơ hội và thách thức đối với cây Jatropha: khi trồng cây Jatropha trên

diện rộng cũng gặp nhiều thách thức (Ngô thị Lam Giang và CS.2009): quá trình xin cấp đất ở một số nước gặp nhiều khó khăn, qui mô hoạt động lớn đòi hỏi ứng dụng cơ giới hóa, năng suất và sản lượng dự kiến không chắc chắn, hiểu biết còn hạn chế về các đặc tính nông học (đậu quả, tưới, tạo tán, thích nghi, phòng trừ sâu bệnh, sự ra hoa và tạo quả, thu hoạch, bảo quản hạt), phát triển nhiên liệu sinh học có thể đe dọa 1 số hệ sinh thái, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, quản lý sản phẩm phụ Khi phát triển Jatropha ở qui mô nông hộ cũng gặp nhiều khó khăn: thiếu giống tốt có khả năng thích nghi cho từng vùng, thiếu bảo đảm

về năng suất dự kiến, nông dân có thể trồng trên đất trồng cây lương thực, vấn

đề phòng trừ sâu bệnh

Trồng cây Jatropha và cơ hội: nhu cầu về dầu đang tăng lên trên toàn thế giới, hầu hết các nước châu Phi đều nhập khẩu dầu, không cạnh tranh trực tiếp với cây thực phẩm, khí hậu phù hợp, nhân công và đất đai, ảnh hưởng tốt lên nền kinh tế các nước đang phát triển, cây trồng có tiềm năng cải thiện tốt môi trường, tiềm năng sử dụng bánh dầu làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi

Trang 18

Tình hình nghiên cứu về cây Jatropha: Ở Việt Nam cây Jatropha mọc lác

đác ở một số nơi, song chưa thành hệ thống và các giống chưa được phân lập, tuyển chọn Không phải chỉ ở Việt Nam mà tất cả các quốc gia khác đang trồng Jatropha để sản xuất diesel sinh học đều chưa có giống được công nhận chính thức, nguồn giống chưa được kiểm soát, chưa đảm bảo về chất lượng, rất nhiều hạt Jatropha có chất lượng thấp đang lưu hành tạo ra rủi ro cho các dự án trồng Jatropha Các Viện, trường mới bắt đầu nghiên cứu trong vài năm gần đây, chưa

có qui trình kỹ thuật canh tác cho cây jatropha Do đó cần có công trình nghiên cứu trên nhiều vấn đề như tính thích ứng các giống, mật độ và tạo tán, chế độ bón phân, tưới nước, kỹ thuật vườn ươm… trước khi đưa ra sản xuất đại trà Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam đang thực hiện đề tài: Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng cây bản đại đa mục đích: Ươi (Scaphium macropodum), Cọc rào (Jatropha curcas L.) diện tích khảo nghiệm còn hạn chế với qui mô nhỏ Trung tâm Công nghệ Sinh học lâm nghiệp thuộc Viện cũng bắt đầu triển khai đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu gây trồng phát triển cây Jatropha giai đoạn 2007-2010” Đã khảo nghiệm 8 xuất xứ giống (4 xuất xứ nội và 4 xuất xứ ngoại) tại Vĩnh Phúc, Ninh Thuận, Phú Thọ Đã chọn được 30 cây mẹ tốt nhất trong đó có cây mẹ đạt đến 5 kg hạt khô/cây và có cây mẹ đạt hàm lượng dầu trong hạt 38 %, nhưng đáng tiếc là cây mẹ năng suất cao thì hàm lượng dầu lại không cao Hợp tác với Công ty GreenEnergy nghiên cứu công nghệ chế biến

dầu diesel sinh học qui mô nhỏ (Phạm Đức Tuấn, 2008)

Tác giả Lê Quốc Huy và CS (2008) báo cáo đã thu thập và tuyển chọn được 24 xuất xứ hạt Jatropha, trong đó có 18 xuất xứ nhập nội và 6 xuất xứ bản địa, điều tra tuyển chọn được 48 cây trội với các đặc tính vượt trội về sinh trưởng, năng suất hạt (2,8 - 5,0 kg/cây) hàm lượng dầu trong hạt 25 - 39,5 % Các xuất xứ và cây trội tuyển chọn đang được trồng khảo nghiệm ở các vùng sinh thái Các mô hình thử nghiệm về mật độ, trồng cây con Stum, nấm rễ mycorrhizal, phân bón và tạo tán Tại vùng đất cát Ninh Phước cây ra hoa, quả sau 5 - 6 tháng trồng Chế phẩm nấm rễ nội cộng sinh tăng cường giữ nước và hấp thu nước cho cây chủ Jatropha trên các vùng lập địa khô cằn Tại Ấn Độ chế phẩm này đã làm tăng năng suất hạt hơn 20 %, còn cây con ở vườn ươm được

xử lý chế phẩm đã cho sinh trưởng cao hơn 80 % so với đối chứng Áp dụng kỹ thuật cắt tỉa tạo tán, sau 6 tháng trồng cây Jatropha đạt trung bình 10 - 12 cành phát triển ngang nhau, năm 2 sẽ tạo nên cây Jatropha với tán tròn có 17 - 20 cành tán mang quả Về các mật độ có thể trồng là 2.500 cây/ha, 2000 cây/ha và 1.600 cây/ha Trong đó mật độ 2000 và 1600 cây/ha bước đầu được đánh giá có triển vọng phù hợp cho sinh trưởng, tạo tán và nhiều cành mang quả để có năng suất về sau Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu về hàm lượng dầu của quả Jatropha thu hoạch ở các độ chín khác nhau Hàm lượng dầu có trong hạt khô của các quả khi thu hái mới chín vàng, còn tươi có tỷ lệ dầu thấp nhất, thấp hơn hàm lượng dầu cao nhất 16 % (84 %) Hàm lượng dầu trong hạt khô của quả chín màu vàng, vỏ quả bắt đầu chuyển nâu khô khi thu hái có hàm lượng dầu cao, chỉ thấp hơn hàm lượng dầu cao nhất 3 - 4 % (97 %) Hàm lượng dầu trong hạt khô của

Trang 19

quả chín khô, màu nâu đen khi thu hái có hàm lượng dầu cao nhất (100 %) Phân Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên tại TP.HCM đã thử nghiệm tỷ

lệ nẩy mầm của hạt, thí nghiệm trồng bằng hạt, bằng hom Kết quả ban đầu cho thấy cây ươm bằng hom mọc không đều, hom ngọn mọc nhanh hơn hom gốc, hom dài hơn 50 cm cho sức sống cao, sau 6 tháng cho hạt Cây Jatropha có khả năng thích nghi cao trên các loại đất cát, đất đỏ bazan, đất thịt Từ độ cao 0 - 900

m trên mực nước biển, mọc ở mọi miền khí hậu nước ta kể cả nơi khô nhất Qua trồng thử nghiệm một số giống nước ngoài và giống trong nước trồng tại vùng khô hạn Bình Thuận, Hà Nội bước đầu nhận thấy giống Brazin PT01 và PT02 có triển vọng cho năng suất cao Phân Viện cũng đang hợp tác với Pháp triển khai

đề tài nghiên cứu về Jatropha ở Bình Thuận và 1 số tỉnh khác (Lê Võ Định Tường, 2007,2008)

Cây Jatropha thường sinh trưởng và phát triển ở nơi có độ cao 0 - 500 m trên mặt biển Ninh Thuận là một trong những vùng đất cát khô hạn nhất ở Việt Nam có lượng mưa trung bình 600 mm/năm, nơi đây ngay trong mùa khô cây vẫn xanh tốt, cho hoa, quả Giống có nguồn gốc Ấn Độ trồng thử nghiệm ở Bình Phước, Bình Dương cho thấy chỉ sau 6 tháng, cây Jatropha đã cho quả Phòng công nghệ tế bào thực vật thuộc Viện sinh học nhiệt đới cũng đang triển khai nghiên cứu nhân giống Jatropha bằng phương pháp nuôi cấy mô Bước đầu đã chiết xuất thành công dầu Diesel từ hạt cây Jatropha (Thái Xuân Du và Nguyễn

Văn Uyển, 2008)

Trung tâm Nông Nghiệp Công nghệ cao Tp HCM đã và đang tiến hành khảo nghiệm 7 - 8 giống nhập nội từ Ấn Độ, Thái Lan, Maylaysia, đồng thời đã nghiên cứu nhân giống Jatropha bằng phương pháp in intro từ nuôi cấy chồi ngọn hay chồi nách (Thái Xuân Du và Nguyễn Văn Uyển, 2008)

Trường Đại học Thành Tây đang triển khai đề tài nghiên cứu về cây Jatropha, tác giả Nguyễn Công Tạn cho biết Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm của Trường đã xây dựng được 1 ha vườn sưu tập giống năm 2007 bao gồm 16 xuất xứ của Việt Nam, 5 giống được tuyển chọn của Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Mailaysia và thiết lập một vườn ươm diện tích 4 ha tại khu vực Lương Sơn - Hòa Bình Trường cũng đang nghiên cứu nhân giống đại trà bằng mô, hom Năm 2008 trường đã ký hợp đồng tạo 500.000 cây con cho công

ty Oliway, Đài Loan Trường đã gieo ươm khoảng 3 triệu cây giống để phục vụ

cho chương trình (Nguyễn Công Tạn, Phạm Văn Tuấn, 2008)

Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (Bộ Công thương) đã quan tâm đến cây Jatropha từ nhiều năm qua Năm 2006 Viện đã triển khai đề tài “Khảo sát và tuyển chọn một số giống cây nguyên liệu để sản xuất biodiesel’’ Kết quả cho thấy cả 7 loại cây có dầu là hướng dương, đậu phộng, mè, đậu nành, cọ dầu, thầu dầu, cao su và dừa đều cho dầu có thể sử dụng để sản xuất biodiesel (Nguyễn Trung Phong và CS 2006) Tuy nhiên nguồn nguyên liệu từ các loại cây có dầu làm thực phẩm hiện có không đủ cung cấp cho các nhà máy chế biến dầu ăn trong nước (hàng năm vẫn phải nhập khẩu hơn 90 % nguyên liệu dầu thô

từ nước ngoài), nên đề xuất cần nghiên cứu tìm các loại cây có dầu khác để sử

Trang 20

dụng cho mục đích chuyên sản xuất biodiesel như cây Jatropha Năm 2007 và

2008 Viện được Bộ Công Thương đầu tư đề tài nghiên cứu trong 2 năm đầu tiên

về cây Jatropha (Ngô Thị Lam Giang và CS, 2008) Viện cũng đã nghiên cứu giâm cành jatropha và nhận thấy giống Jatropha có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ cành giâm, trong đó giống TQ 07-5 đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất (95 %), có số lá (7,4 lá) và số chồi (3,1 chồi) nhiều nhất (Hà Văn Hân, 2009)

Theo Nguyễn Thị Như Hạnh (2009), nghiên cứu đặc điểm nẩy mầm hạt Jatropha cho thấy tỷ lệ nẩy mầm của hạt giảm nhanh theo thời gian, hạt sau thu hoạch 1 tháng có tỷ lệ nẩy mầm cao nhất đạt 71,7 % sau đó giảm dần Tuy nhiên, nếu bảo quản hạt ở nhiệt độ thấp sẽ cải thiện được tỷ lệ nẩy mầm của hạt Chất NAA và GA có ảnh hưởng đến chiều dài của rễ, nhưng không làm tăng tỷ

lệ nảy mầm

Đầu tư trồng Jatropha và chế biến biodiesel: Theo tính toán của Viện

Chiến Lược thì đến năm 2020 Việt Nam có khả năng cung cấp khoảng 13,96 triệu tấn xăng dầu, còn thiếu khoảng 4,9 triệu tấn phải nhập khẩu Trong dự thảo

“Quy hoạch phát triển ngành dầu thực vật Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025” cho thấy năm 2008 Công ty VOCARIMEX đã phải nhập khẩu trên 640.000 tấn dầu thực vật các loại (chủ yếu là dầu cọ, dầu đậu nành và dầu cải dầu) Công ty thương vụ Long Thủ Đạt tỉnh Quý Châu - Trung Quốc đã ký hợp đồng với công ty TNHH Núi Đầu tỉnh Lạng Sơn - Việt Nam mua hạt Jatropha trong 10 năm liền và 3 năm đầu đảm bảo với giá 1,65 tệ/kg (khoảng 3.500 đ/kg) giao tại cửa khẩu, yêu cầu công ty phía Việt Nam phải trồng được 70.000 ha trong vòng 3 năm kể từ 2008 Công ty Jatro của Đức có kế hoạch thu mua tại Việt Nam với giá 200 USD/tấn hạt (khoảng 3.200 đ/kg)

Về quỹ đất phát triển cây Jatropha: 4 vùng sinh thái có lợi cạnh tranh để trồng cây Jatropha là Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ với diện tích đất gần 4 triệu ha Tuy nhiên phát triển cây Jatropha cũng

có những rủi ro: Tất cả các kết quả tạo giống mới cây Jatropha đều mới ở qui mô thí nghiệm, chưa có hiện trường ở mức độ sản xuất lớn với cây nhiều năm tuổi, các số liệu năng suất 10 tấn hạt/ha/năm đều được mô tả trong các tài liệu của nước ngoài, duy nhất có giống G188 của Malaysia ở qui mô sản xuất đạt 3 tấn

hạt/ha/năm với hàm lượng dầu hạt đạt 40% (Phạm Đức Tuấn, 2008)

Về kế hoạch phát triển cây Jatropha ở Việt Nam đến năm 2025: Giai đoạn

1 từ 2008 - 2010: Tập trung nghiên cứu toàn diện về cây Jatropha về chọn tạo giống, kỹ thuật gây trồng đến chế biến và sử dụng các sản phẩm cây Jatropha Hoàn thành các qui trình kỹ thuật gây trồng và chế biến cây Jatropha Trồng khảo nghiệm trên diện rộng các vùng sinh thái trên cả nước, sản xuất thử ở qui

mô nhỏ dự kiến trồng trong giai đoạn này là 30.000 ha Định hướng cho nghiên cứu: thu thập các xuất xứ các giống nội địa và nhập khẩu các giống ngoại tốt nhất Nghiên cứu lai tạo giống mới có hàm lượng dầu trong hạt > 40 % và năng suất đạt hơn 10 tấn/ha/năm, cùng với kỹ thuật nhân giống hoàn thiện Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học tác động đến quá trình hình thành hoa cái và tỷ

lệ đậu quả Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh Giai đoạn 2 từ

Trang 21

2011-2025: trên cơ sở những kết quả nghiên cứu được khẳng định sẽ tiến hành quy hoạch chi tiết các vùng trồng tập trung khoảng 300.000 ha Từ năm 2015 trở đi: trồng đại trà để đạt diện tích khoảng 500.000 ha Phương thức trồng cây Jatropha nên theo 2 hướng Thứ nhất là trồng thâm canh, lấy mục tiêu kinh tế là chính, năng suất hạt phải đạt từ 10 tấn/ha/năm, năng suất dầu thô phải đạt 2-3 tấn/ha/năm Thứ hai là trồng ở một số nơi khó khăn lấy mục tiêu phục hồi sinh thái là chính (bao gồm chống sa mạc, các đường băng cản lửa để phòng chống lửa rừng) yêu cầu năng suất hạt khoảng 1 tấn/ha/năm Có thể khuyến khích trồng phân tán quanh nhà, ven đường, kể cả vùng đồng bằng cũng sẽ tạo ra một lượng

đáng kể nếu làm tốt (Phạm Đức Tuấn, 2008)

Về mặt sản xuất, công ty TNHH Núi Đầu đã trồng được 150 ha tại Lạng Sơn, công ty GreenEnergy trồng được 10 ha tại Sơn La và 5 ha ở Ninh Thuận, công ty TNHH Thành Bưởi trồng 2 ha ở Bình Thuận Công ty VM-Agrotech của Malayxia đang làm thủ tục với tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận để đầu tư trồng 60.000 ha và xây dựng nhà máy chế biến dầu Tập đoàn nhiên liệu sinh học Pan Asia của Canada có kế hoạch đầu tư vào trồng và chế biến ở Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, trong đó riêng Việt Nam đề xuất trồng 200.000 ha Công ty Jatropha của Đức đã có kế hoạch dự án trồng 200.000ha và xây dựng nhà máy tinh lọc dầu diesel sinh học từ cây Jatropha Công ty Han Hwa của Hàn Quốc dự kiến trồng 25.000 ha và xây dựng nhà máy chế biến công suất 100.000 tấn/năm tại Lạng Sơn và Sơn La trong vòng 3 năm 2008-2010 Công ty cổ phần IGC của Nhật Bản cũng dự kiến trồng 200.000 ha đến năm 2010 và mua toàn bộ hạt Jatropha theo giá thị trường Tập đoàn Basown của Hồng Kông dự kiến trồng 5 triệu ha Công ty liên doanh D1-PB Fuel Crops của Anh đã đầu tư trồng 175.000 ha tại châu Phi, Ấn Độ và Đông Nam Á, dự kiến trồng Jatropha ở các tỉnh ven biển Việt Nam (Phạm Đức Tuấn, 2008) Công ty Trường Thịnh sẽ đầu

tư trồng 15.000 ha Jatropha ở Gia Lai, 100.000 ha ở các tỉnh Bình Thuận, Kon Tum, Đắk Lắk Tập đoàn Eco corbone (Pháp) đã ký biên bản ghi nhớ sẽ đầu tư

500 - 600 triệu USD xây dựng 3 nhà máy chế biến dầu diesel sinh học (Huỳnh lợi, 2008) Công ty núi đầu (Lạng Sơn) năm 2007 đã trồng khoảng 120 ha cây Jatropha tại huyện Chi Lăng và Bắc Sơn Công ty Minh Sơn, Hà Nội trong năm

2007 đã phối hợp với Trường Đại học Thành Tây trồng 30 ha tại Nà Sản, Sơn

La Năm 2008 công ty đã trồng 50 ha tại Quỳnh Lưu, Nghệ An Công ty Javico liên doanh giữa Nhật và Việt Nam về trồng chế biến cây Jatropha đã được cấp giấy phép tại Hà Nội

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM

2.1 Nội dung nghiên cứu

- Thu thập và nhập nội một số giống Jatropha (tổng số 24 mẫu giống/3 năm)

- Phân tích hàm lượng và chất lượng dầu của một số mẫu giống đã thu thập

- Khảo sát tập đoàn giống Jatropha trong nước và nhập nội tại miền Đông Nam

- Thử nghiệm nhân giống Jatropha bằng biện pháp giâm cành

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thu thập, nhập nội và khảo sát tập đoàn giống Jatropha

- Vật liệu thí nghiệm: Gồm 86 mẫu giống Jatropha (hạt và cành) thu thập trong ngoài nước từ năm 2007 đến 2009 Trong đó, năm 2007 thu được 17 giống, năm 2008 thu được 41 giống và năm 2009 thu được 28 giống Các mẫu giống dạng hạt được đánh giá sơ bộ về hàm lượng dầu (nếu có đủ số lượng), kích thước và khối lượng hạt trước khi đem ươm trồng Năm 2007 đưa ra vườn trồng được 7 giống, năm 2008 đưa ra trồng 37 giống trong 3 đợt trồng (10 giống trồng trong tháng 6, 7 giống trồng trong tháng 9 và 20 giống trồng trong tháng 11) Còn lại 28 giống thu thập trong năm 2009 đang được theo dõi trong vườn ươm

- Phương pháp thí nghiệm: bố trí tuần tự, không lặp lại, khoảng cách trồng

2 x 3 m (mật độ 1667 cây/ha), diện tích ô = 60 m2

- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: chiều dài hạt (mm), rộng hạt (mm),

độ dày hạt, KL 100 hạt (g), hàm lượng dầu (%), thành phần acid béo (%), chiều cao cây (cm), số cành/cây, đường kính tán (cm), chu vi gốc (cm), số chùm quả,

số quả trên cây và năng suất hạt

2.2.2 Phân tích hàm lượng và chất lượng dầu của các giống Jatropha

Phân tích hàm lượng và chất lượng dầu được thực hiện tại phòng phân tích Bộ môn công nghệ hóa dầu béo (Viện Nghiên cứu dầu và Cây có dầu)

- Chỉ số axit: được xác định bằng phương pháp AOCS Cd3d – 93

- Chỉ số xà phòng: được xác định bằng phương pháp AOCS Cd3 – 93

- Chỉ số iod: được xác định bằng phương pháp AOCS Cd1 – 93

- Chiết xuất: được xác định bằng phương pháp AOCS Cc7 – 93

- Chỉ số peroxid: được xác định bằng phương pháp AOCS Cd8 – 93

Hàm lượng dầu được xác định bằng phương pháp AOCS Aa4-38 và qui

về ẩm độ 5% Ẩm độ hạt được xác định bằng phương pháp AOCS Ca 2c-93

Trang 23

2.2.3 So sánh các giống Jatropha ở Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung

- Vật liệu thí nghiệm:

+ Thí nghiệm 1 gồm 6 giống: 3 giống xuất xứ từ Ấn Độ (AĐ 07-1, AĐ 07-2, AĐ 07-3), 1 giống từ Trung Quốc (TQ 07-5), 1 giống có nguồn gốc từ Thái Lan (TL 07-4) và 1 giống đối chứng địa phương VN 07-6 (sau khi ươm 2 tháng, cây con được chuyển ra vườn trồng tại Trảng Bàng, Tây Ninh vào tháng 6 năm 2007)

+ Thí nghiệm 2 gồm 10 giống: 3 giống xuất xứ từ Ấn Độ (AĐ 07-1, AĐ 07-2, AĐ 07-3), 1 giống từ Trung Quốc (TQ 07-5), 1 giống từ Thái Lan (TL 07-4), 1 giống từ Singapore (S 07-10) và 4 giống thu thập trong nước là giống (VN 07-6, VN 07-12, VN 07-13, VN 07-15) sau khi ươm 2 tháng, cây con được chuyển ra vườn trồng tại Ninh Thuận vào tháng 10 năm 2008

- Phương pháp bố trí: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), 01 yếu tố, 4 lần lặp lại, khoảng cách trồng 2 x 3 m (mật độ 1667 cây/ha), diện tích ô = 120 m2 Quy mô: 4.000 m2

- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: Chiều cao cây (cm), số cành/cây, đường kính tán (cm), chu vi gốc (cm), số chùm quả/cây, số quả/cây, năng suất hạt (kg/ha) Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo 3 tháng 1 lần KL 100 hạt (g), tỷ lệ hạt/quả và hàm lượng dầu phân tích sau khi thu hoạch

- Phương pháp theo dõi tỷ lệ ra hoa đực, hoa cái (%): Để theo dõi tỷ lệ hoa đực và hoa cái trên một chùm hoa, đếm toàn bộ số hoa nở trong 3 đợt (2 tuần/lần), trong tháng 6 - 7 năm 2009 Mỗi đợt chọn ngẫu nhiên 3 chùm hoa sắp

nở trên 3 cây của mỗi giống, đánh mã số để theo dõi thời gian hoa nở Sau quá trình hoa nở kết thúc, theo dõi tỷ lệ đậu quả hàng tuần

2.2.4 Nghiên cứu khoảng cách trồng cây Jatropha

- Vật liệu thí nghiệm: sử dụng giống AĐ 07-16 (sau khi ươm 2 tháng, cây con được chuyển ra vườn trồng vào tháng 6 năm 2007)

- Phương pháp bố trí: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), 01 yếu tố, gồm 6 nghiệm thức ứng với 6 khoảng cách trồng, 4 lần lặp lại, diện tích ô = 36 - 144 m2, gồm các nghiệm thức sau:

NT 1: Khoảng cách 2,0 m x 1,5 m (3.333 cây/ ha)

NT 2: Khoảng cách 2,0 m x 2,0 m (2.500 cây/ ha)

NT 3: Khoảng cách 2,0 m x 3 m (1.667 cây/ ha)

NT 4: Khoảng cách 2,5 m x 2,5 m (1.600 cây/ ha)

NT 5: Khoảng cách 3,0 m x 3,0 m (1.111cây/ ha)

NT 6: Khoảng cách 3,0 m x 4,0 m (833 cây/ ha)

- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: Chiều cao cây (cm), số cành/cây, đường kính tán (cm), chu vi gốc (cm), số chùm quả/cây, số quả/cây, năng suất hạt (kg/ha) Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo 3 tháng 1 lần

Trang 24

2.2.5 Nghiên cứu kỹ thuật tạo tán cây Jatropha

- Vật liệu thí nghiệm: sử dụng giống AĐ 07-16 (sau khi ươm 2 tháng, cây con được chuyển ra vườn trồng vào tháng 6 năm 2007)

- Phương pháp bố trí: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, 1 yếu tố, gồm 4 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, trồng với khoảng cách 2,5 x 2,5cm (mật độ 1600 cây/ha), diện tích ô =120 m2, gồm các nghiệm thức:

Nghiệm thức 1: Không tạo tán (đối chứng)

Nghiệm thức 2: tạo tán lần 1 sau khi trồng 9 tháng (tháng 3-2008) Nghiệm thức 3: tạo tán lần 1 sau khi trồng 12 tháng (tháng 6-2008) Nghiệm thức 4: tạo tán lần 1 sau khi trồng 15 tháng (tháng 9-2008)

- Phương pháp tạo tán: chặt thân và cành từ mặt đất lên trên 40 cm Tạo tán lần 2 vào tháng 1 năm 2009 và lần 3 tháng 9 năm 2009

- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: Chiều cao cây (cm), số cành/cây, đường kính tán (cm), chu vi gốc (cm), số chùm quả/cây, số quả/cây, năng suất hạt (kg/ha) Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo 3 tháng 1 lần

2.2.6 Ảnh hưởng của màng phủ Polyethylene lên sinh trưởng của cây Jatropha

- Vật liệu thí nghiệm: giống Jatropha AĐ 1, AĐ 2, AĐ 3, TQ

07-5, TL 07-1 và VN 07-6 (sau khi ươm 2 tháng, cây con được chuyển ra vườn trồng vào tháng 6 năm 2007)

- Phương pháp bố trí: Thí nghiệm gồm 6 giống Jatropha, bố trí không lặp lại, diện tích ô = 120 m2

- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: Chiều cao cây (cm), số cành/cây, đường kính tán (cm), chu vi gốc (cm) Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo 3 tháng

1 lần

2.2.7 Nghiên cứu chế độ tưới nước cho cây Jatropha

- Vật liệu thí nghiệm: giống Jatropha của Singapore (sau khi được nhập

về, cây con được chuyển ra vườn trồng vào tháng 8 năm 2008)

- Phương pháp thí nghiệm: thí nghiệm tưới nhỏ giọt, 1 yếu tố, 6 nghiệm thức, 3 lặp lại, diện tích ô TN = 80 m2 (20 cây/ô) Mật độ trồng 2.500 cây/ha (2 x 2), trên nền bón lót cho 1 ha: 5 tấn phân chuồng (2 kg/cây) và 20 g N +

30 g K2O + 30 g P2O5 cho 1 cây, gồm các nghiệm thức sau:

Nghiệm thức 1: tưới 04 lít / cây, 4 ngày/lần Nghiệm thức 2: tưới 08 lít / cây, 8 ngày/lần Nghiệm thức 3: tưới 12 lít / cây, 12 ngày/lần Nghiệm thức 4: tưới 16 lít/ cây, 16 ngày/lần Nghiệm thức 5: tưới 20 lít/ cây, 20 ngày/lần Nghiệm thức 6: không tưới (đối chứng)

- Phương pháp tưới: tưới nhỏ giọt trực tiếp vào gốc cây Tưới bằng hệ thống

Trang 25

dây ống tưới điều áp của công ty Netafim với các thông số kỹ thuật như sau: đường kính ống tưới 15,7 mm, đường kính lỗ nhỏ giọt 0,38 mm và lưu lượng nước tưới là 1,8 lít/giờ

- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: Chiều cao cây (cm), số cành/cây, đường kính tán (cm), chu vi gốc (cm), số chùm quả/cây, số quả/cây và năng suất hạt (kg/ha) Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo 3 tháng 1 lần

2.2.8 Nghiên cứu chế độ bón phân cho cây Jatropha

- Vật liệu thí nghiệm: Sử dụng giống Jatropha của Singapore (sau khi được nhập về, cây con được chuyển ra vườn trồng vào tháng 8 năm 2008)

- Phương pháp thí nghiệm: Bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, ba yếu tố phân bón N, P, K (N (g): N0:N1:N2 = 0:15:30; P2O5 (g): P0:P1:P2 = 0:20:40;

K2O (g): K0:K1:K2 = 0:20:40) với 27 nghiệm thức, 3 lần lặp lại, diện tích ô TN = 36

m2 (9 cây/ô) Mật độ trồng 2.500 cây/ha (khoảng cách 2 x 2 m), trên nền bón lót 5 tấn phân chuồng cho 1 ha (2 kg/cây), gồm có các nghiệm thức sau:

Kỹ thuật tạo tán:

- Tạo tán lần 1 vào tháng 6 năm 2008, lần 2 trong tháng 1 năm 2009 và tạo tán lần 3 trong tháng 9 năm 2009 trên toàn bộ diện tích Jatropha thí nghiệm

2.2.9 Thử nghiệm nhân giống Jatropha bằng biện pháp giâm cành

* Thí nghiệm sử dụng chất kích thích NAA (Napthalen-acetic-acid)

- Vật liệu thí nghiệm: sử dụng giống AĐ 07-16 một năm tuổi

- Thí nghiệm 1 yếu tố, bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, 6 nghiệm thức và 3

NT thức đối chứng, mỗi NT 10 hom (cành bánh tẻ, dài 15 cm), 4 lần lặp lại, tổng số

360 hom Cành giâm được ngâm trong dung dịch chất kích thích NAA 1 phút

Trang 26

* Thí nghiệm sử dụng chất kích thích IBA ( β-indol butyric acid)

- Vật liệu thí nghiệm: sử dụng giống AĐ 07-16 một năm tuổi

- Thí nghiệm 1 yếu tố, bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, 6 nghiệm thức và 3 nghiệm thức đối chứng, mỗi nghiệm thức 10 hom (cành bánh tẻ, dài 15 cm), 4 lần lặp lại, tổng số 360 hom Cành giâm được ngâm trong dung dịch chất kích thích IBA 1 phút

Để đảm bảo cho cành giâm không bị nhiễm nấm bệnh đã tiến hành xử lý giá thể

2 tuần trước khi giâm Nền giâm cành gồm tro trấu, bụi xơ dừa và phân chuồng hoai với tỷ lệ 1:1:1 Luống giâm được xây bằng bêtông bao quanh, có chiều dài

3 m, rộng 2,5 m

- Chỉ tiêu theo dõi:

9 Số lá và số chồi mọc của cành giâm

9 Tỷ lệ cành giâm sống/tổng số cành giâm ban đầu (%)

9 Tỷ lệ cành giâm ra rễ/tổng số cành giâm ban đầu (%)

9 Số rễ trên cành giâm (rễ cấp 1 mọc từ mô sẹo ở chân cành)

9 Chiều dài trung bình của rễ, chiều dài rễ dài nhất

2.2.10 Phương pháp thống kê

Xử lý số liệu trên phần mềm EXCEL và MSTATC

Trang 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN

3.1 Thu thập và nhập nội các giống Jatropha

Bảng 3.1 Nguồn gốc và số lượng mẫu giống Jatropha đã thu thập và nhập

1 Ấn Độ Hạt, cành 8 ICRISAT, Trung tâm NCTN đậu đỗ và PV Hóa học các HCTN TP.HCM

Năm 2008 41

Viện NCD & CCD, Hiệp hội giống cây trồng VN và BM CNSH - ĐH Nông Lâm

Năm 2009 28

Công ty Platinum Energy-Malaysia

Bộ môn CNSH - Viện sinh học nhiệt đới, BM Hóa PT- Viện NCD&CCD

và Trường Đại học Thành Tây

Tổng cộng 86

Trang 28

Từ năm 2007 - 2009, đã thu thập được 86 mẫu giống Jatropha trong nước

và nhập nội (phụ lục 7) Trong đó nhập nội 29 giống từ Ấn Độ, 8 giống từ Thái Lan, 7 giống có nguồn gốc từ Trung Quốc, 5 giống từ Indonesia, 3 giống từ Lào, 3 giống từ Úc, còn lại 9 giống từ các nước khác và 22 giống trong nước Các mẫu giống trên do Viện ICRISAT, Viện Sinh học nhiệt đới, Phân Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Thành Tây, Trung tâm đậu đỗ (Viện KHNNVN), Bộ môn CNSH- Trường Đại học Nông Lâm, Hiệp hội giống cây trồng VN, Công ty Platinum Energy-Malaysia và Cty Jatropha Việt Nam cung cấp

3.2 Khảo sát tập đoàn giống Jatropha trong nước và nhập nội

3.2.1 Khảo sát các mẫu hạt giống

Kết quả khảo sát hạt các giống Jatropha thu thập bảng 3.2a, 3.2b và 3.2c cho thấy: kích thước hạt khác biệt rõ giữa các giống Dài hạt biến động từ 12,8 - 21,6 mm, rộng hạt biến động từ 7,2 - 14,5 mm Chiều dài và rộng hạt thấp nhất ở giống Jatropha AĐ 07-8 tương ứng 12,8 và 7,8 mm; Giống AĐ 07-9 có chiều dài

và rộng hạt lớn nhất, tương ứng là 20,5 và 14,2mm Khối lượng 100 hạt của các giống Jatropha biến động tương đối lớn, từ 25,0 g (A Đ 08-35) tới 301,6 g (AĐ 07-9)

Bảng 3.2a Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha

STT Tên giống Dài hạt

Trang 29

Bảng 3.2b Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha

STT Tên giống Dài hạt (mm) Rộng hạt (mm) KL.100 hạt (g)

Trang 30

Bảng 3.2c Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha

STT Tên giống Dài hạt (mm) Rộng hạt (mm) KL.100 hạt (g)

AD 09-59 (40,6 %), VN 09-77 (40,3 %), AD 09-61 (40,2 %), U 09-84 và ME 09-65 (40,1 %)

Trang 31

Bảng 3.3 Hàm lượng dầu hạt của một số mẫu giống Jatropha

Chỉ số axit (1,05 - 5,81) và peroxit (0,53 - 1,09) của dầu Jatropha trích ly

từ hạt tương đối thấp Chỉ số xà phòng ở mức trung bình, tương tự như của dầu đậu nành (189 - 195), dầu lạc (186 - 195) hay dầu hướng dương (185 - 194) Chỉ

số khúc xạ nằm trong giới hạn của dầu thực vật Như vậy chúng ta có thể thấy đây là loại dầu thực vật như nhiều loại dầu khác, dễ methylester hóa, do đó thuận lợi cho sản xuất biodiesel (bảng 3.4)

Theo Đỗ Tất Lợi dầu từ hạt Jatropha có trị số axít 38,2; trị số xà phòng 195,0; trị số Iod 101,7; độ nhớt (31oC) 40,4; thành phần axít béo: axít Palmitic 4,2 %; axít Stearit 6,9 %; axít oleic 43,1%; axít linoleic 34,3%; những axít khác 1,4 % Cursin là một chất độc chứa trong dầu Jatropha chính vì vậy dầu này không thể dùng làm thực phẩm Do trong dầu có trị số saponin cao nên được dùng rộng rãi trong việc chế biến làm xà phòng ở một số nước Người ta dùng dầu hạt Jatropha nấu xà phòng cho sản phẩm cứng tốt, không gây kích ứng da và dùng để thắp sáng vì cháy không có khói

Trang 32

Bảng 3.4 Phân tích 1 số chỉ tiêu hoá lý của dầu một số giống Jatropha

Kết quả phân tích chất lượng dầu (bảng 3.5) của một số mẫu giống

Jatropha cho thấy: dầu hạt Jatropha có màu hơi vàng với thành phần axit béo

chủ yếu là: axit Oleic 37,17 - 50,92 %; axit Linoleic 24,39 - 40,29 %; axit

Palmitic 10,49 - 17,57% Ở nhiệt độ trong phòng dầu có trạng thái lỏng So sánh

với các loại dầu khác nhận thấy: thành phần axit béo của dầu Jatropha không

khác biệt nhiều so với dầu các loại cây có dầu ngắn ngày như: lạc, vừng, đậu

tương, hướng dương (chỉ có thêm 1 tỷ lệ nhỏ axit béo Margaric mà các loại dầu

này không có); so với dầu dừa và dầu cọ dầu (dầu vỏ và dầu hạt) dầu Jatropha có

khác biệt tương đối nhiều: không có các axít béo không no Caprilic, Captic,

Lauric, Myristic, các axít béo này có nhiều trong dầu dừa và dầu cọ Tuy nhiên

dầu dừa và dầu cọ lại không có axit béo Margaric như dầu Jatropha

Giống TT3 của Việt Nam

Giống Ưu tuyển 2 của Trung Quốc

Trang 33

Bảng 3.5 Hàm lượng axit béo của dầu một số giống Jatropha

Axit béo no (%) Axit béo không no (%)

Ghi chú: C 8 :0-A.Caprilic; C 10 :0- A.Captic; C 12 :0-A.Lauric; C 14:0 –A.Myristic;

C 16:0 –A.Palmitic; C 16:1 -Palmitoleic; C 17:0 - Margaric; C 18:0 -Stearic;

C 18:1 -Oleic; C 18:2 -Linoleic; C 18:3 - Linolenic;C 20:0 -A rachidic; C 22:0 - Erucic

Trang 34

3.2.3 Đánh giá sinh trưởng và phát triển một số mẫu giống Jatropha

Trong năm 2008, đã đưa ra vườn trồng được 41 giống của tập đoàn trong

3 đợt, kết quả khảo sát các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của các giống như sau

* Đợt thứ nhất: trồng 10 giống trong tháng 6 năm 2008, kết quả khảo sát

các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của 10 mẫu giống Jatropha trong bảng 3.6 cho thấy:

Các chỉ tiêu sinh trưởng của các giống Jatropha khác biệt rất có ý nghĩa, trong đó giống AĐ 07-8 và AĐ 07-9 có các chỉ tiêu về chu vi gốc, chiều cao cây, đường kính tán và số cành nhiều nhất, vượt trội so với giống VN 07-13 và VN 07-15

Bảng 3.6 Các chỉ tiêu sinh trưởng của các giống Jatropha trồng tại Tây

13,9 14,3

14,0 17,6

36,6 14,3

Kết quả bảng 3.7 cho thấy: số chùm quả/cây dao động từ 7,3 - 12,3 chùm, trong đó giống có nhiều chùm nhất là giống VN 07-11 (12,3 chùm), AĐ 07-9 và

VN 07-14 (cùng đạt 12,0 chùm) Số quả/cây và năng suất hạt cho thấy giống AĐ 07-9 (69 quả và 276 kg hạt/ha) đạt cao nhất, tiếp đến là giống AĐ 07-8 (60,6 quả

và 242,4 kg hạt/ha) thấp nhất là giống AĐ 08-17 (40,5 quả và 162,0 kg hạt/ha)

Trang 35

Bảng 3.7 Các chỉ tiêu cấu thành năng suất của các giống Jatropha trồng tại

Tây Ninh tháng 6 năm 2008

12,0 22,8

48,2 22,8

* Đợt thứ hai: Trong số 11 giống ươm đợt 2 có 4 giống không nẩy mầm

nên chỉ có 7 giống đưa ra vườn trồng Kết quả khả sát sinh trưởng sau 16 tháng trồng bảng 3.8 cho thấy:

Sinh trưởng giữa các giống khác biệt rất rõ, trong đó giống S 08-87 có các chỉ tiêu chu vi gốc (19.1 cm), chiều cao cây (77,0 cm) đường kính tán (88,5 cm) và số cành (23,1 cành) vượt chội hơn cả Tiếp đến là giống VN 08-89 (NT)

có các chu vi gốc (17,10 cm), chiều cao cây (72,0 cm) đường kính tán (71,0 cm)

Đường kính tán (cm)

Số cành/cây (cành)

15,0 11,6

25,1 3,8

Trang 36

Kết quả bảng 3.9 cho thấy: Số chùm quả giữa các giống khác biệt không

rõ, tuy nhiên số quả trên cây và năng suất hạt khác biệt rõ giữa các giống Trong

đó giống S 08-87 (37,7 quả) có nhiều quả nhất rồi đến giống VN 08-89 (NT) (33,6 quả); năng suất cũng đạt cao nhất ở giống S 08-87 (141,3 kg/ha), tiếp đến là giống VN 08-89 (125,9 kg/ha) và giống L 08-39 (113,3 kg/ha)

Bảng 3.9 Các chỉ tiêu cấu thành năng suất của các giống Jatropha trồng tại

Tây Ninh tháng 9 năm 2008

* Đợt thứ ba: trồng 20 giống trong tháng 11 năm 2008

Kết quả khả sát sinh trưởng của các giống sau 12 tháng trồng bảng 3.10 cho thấy:

Sinh trưởng của các giống Jatropha biến động lớn và có sự khác biệt rõ giữa các giống Trong đó có một số giống sinh trưởng vượt trội là giống VN 08-51(BĐ), VN 08-54 (NA) và AD 08-33 giống Chu vi gốc dao động từ 6,2 cm (giống AD 08-28) đến 19,0 cm (giống VN 08-51); Chiều cao cây dao động từ 31,0 cm (giống VN 08-55) đến 110,8 cm (giống VN 08-51); Đường kính tán dao động từ 28,8 cm đến 80,6 cm; Số canh/ cây dao đồng từ 1,4 đến 8,3 cành

Trang 37

Bảng 3.10 Các chỉ tiêu sinh trưởng của các giống Jatropha trồng tại Tây

Ninh tháng 11 năm 2008

STT Giống Chu vi

gốc (cm)

Chiều cao cây (cm)

Đường kính tán (cm)

Số cành/cây (cành)

1 AD 08-19 10,4 efgh 66,0 efgh 40,0 bcd 1,7 ef

2 AD 08-20 13,3 cde 92,2 abc 53,2 b 3,7 bcdef

3 AD 08-21 9,3 fghij 47,4 hij 38,0 bcd 4,4 bcd

4 AD 08-22 10,8 efgh 74,4 cdef 50,9 bc 4,1 bcd

5 AD 08-23 10,0 fghi 50,4 ghij 49,4 bc 2,4 cdef

6 AD 08-24 11,9 cdefg 60,1 fghi 42,2 bcd 3,1 cdef

7 AD 08-25 11,8 defg 58,1 fghi 35,9 cd 2,7 cdef

16 ML 08-42 8,9 ghij 49,7 ghij 38,3 bcd 2,2 cdef

17 TQ 08-50 12,6 cdef 77,0cdef 41,3 bcd 2,7 cdef

29,8 20,4

34,7 16,1

63,9 2,4

Kết quả bảng 3.11 cho thấy:

Số chùm quả, số quả trên cây và năng suất khác biệt rõ giữa các giống Giống VN 08-51(BĐ), VN 08-54 (NA), AD 08-33 và giống AD 08-19 có các chỉ tiêu cấu thành năng suất như số chùm quả, số quả và năng suất hạt vượt trội hơn các giống còn lại Năng suất cũng đạt cao nhất ở giống VN 08-5 (76,9 kg/ha), tiếp đến là giống AD 08-33 (62,6 kg/ha) và thấp nhất là giống VN 08-55 (49,3 kg/ha)

Kêt quả phân tích hàm lượng dầu của 6 giống cho thấy: giống AD 08-32

có hàm lượng dầu cao nhất đạt 38,8 %, tiếp đến là giống TQ 08-50 đạt 37,1 %

và thấp nhất là giống AD 08-20 chỉ đạt 29,8 %

Trang 38

Bảng 3.11 Các chỉ tiêu cấu thành năng suất của các giống Jatropha trồng

tại Tây Ninh tháng 11 năm 2008

STT Nghiệm thức Số chùm

quả/cây

Số quả/cây

Năng suất hạt/ ha (kg)

Hàm lượng dầu (%)

3.3 So sánh các giống Jatropha ở Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung 3.3.1 So sánh các giống Jatropha ở Đông Nam Bộ

Trên cơ sở các giống thu thập, đã chọn lọc được 5 giống Jatropha nhập nội và 1 giống của Việt Nam (đối chứng) để tiến hành trồng khảo nghiệm đánh giá sinh trưởng và năng suất Thí nghiệm được tiến hành tại tỉnh Tây Ninh thuộc vùng Đông Nam Bộ

Kết quả khảo sát chu vi gốc các giống Jatropha (bảng 3.12) cho thấy: tốc

độ tăng trưởng chu vi gốc mạnh ở giai đoạn từ 6 tháng đến 18 tháng trồng đạt trung bình 1,1 - 1,4 cm/tháng, do giai đoạn này cây con nhỏ và trùng vào mùa mưa nên cây phát triển nhanh Trong đó, ở giai đoạn 18 tháng, chu vi gốc của các giống AĐ 07-2 (26,3 cm), TQ 07-5 (26,3 cm) và AĐ 07-3 (26,0 cm) cao hơn

có ý nghĩa so với giống đối chứng (24,0 cm) Ở giai đoạn từ 18 tháng đến 30 tháng tốc độ tăng trưởng chu vi gốc chậm lại, chỉ còn 0,2 - 0,4 cm/tháng và không có sự khác biệt rõ giữa các giống

Trang 39

Bảng 3.12 Chu vi gốc của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh

Kết quả khảo sát chiều cao cây các giống Jatropha bảng 3.13 cho thấy: tốc

độ tăng trưởng chiều cao cây ở giai đoạn từ 6 tháng đến 18 tháng trồng đạt trung bình 4,9 - 7,0 cm/tháng Ở giai đoạn 18 tháng chiều cao cây của các giống khác biệt có ý nghĩa, trong đó giống AĐ 07-1 (138,7 cm) và TQ 07-5 (138,3 cm) cao nhất Ở giai đoạn 30 tháng trồng chiều cao cây giảm xuống do quá trình cắt cành tạo tán

Bảng 3.13 Chiều cao cây của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh

VN 07-6 (48,5cm) Sau 12 tháng trồng giữa các giống có sự khác biệt rõ, đường kính tán cao nhất là giống VN 07-6 (124,6 cm) và thấp nhất giống TL 07- 4 (102,4 cm) Sau 18 tháng trồng đường kính tán khác biệt rõ giữa các giống, cao nhất là giống AĐ 07-1 đạt 126,3 cm và thấp nhất giống TL 07- 4 (102,3 cm) Ở giai đoạn 24 tháng - 30 tháng trồng tốc độ tăng trưởng đường kính tán của các giống Jatropha giảm xuống, không có sự khác biệt giữa giống nhập nội so với giống đối chứng, đường kính tán trung bình đạt từ 129,3 - 146,0 cm ở giai đoạn

30 tháng

Trang 40

Bảng 3.14 Đường kính tán của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh

Kết quả khảo sát số cành của các giống Jatropha bảng 3.15 cho thấy:

- Số cành của các giống Jatropha rất ít chỉ từ 2 - 5 cành ở giai đoạn 6 tháng, 12 tháng, sau đó tăng lên mạnh từ 13,3 - 47,7 cành ở giai đoạn 18 tháng đến 30 tháng là do quá trình cắt cành tạo tán Ở giai đoạn 18 tháng số cành của các giống có sự khác biệt, giống TL 07- 4 (13,3 cành) ít hơn so với đối chứng (17,0 cành), các giống nhập nội còn lại khác biệt không có ý nghĩa so với đối chứng

Bảng 3.15 Số cành trên cây của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh

Kết quả bảng 3.16 cho thấy:

- Số hoa cái/chùm đạt từ 2,9 - 5,7 hoa, trong đó giống AĐ 07-3 (3,3 hoa cái) và TL 07- 4 (2,9 hoa cái), thấp hơn có ý nghĩa so với giống đối chứng VN 07-6 (5,7 hoa cái) Số hoa cái/chùm của các giống nhập nội còn lại khác biệt không có ý nghĩa so với giống đối chứng

- Tổng số hoa/chùm cao nhất ở giống AĐ 07-1 và đạt thấp nhất ở giống

AĐ 07-3 Giống có nhiều hoa là AĐ 07-1 (139,5 hoa), TQ 07-5 (130,9 hoa), AĐ 07-2 (122,4 hoa) và giống VN 07-6 (120,1 hoa) Giống có số hoa trung bình là giống VN 07-7 (98,3 hoa) và giống TL 07- 4 (96,8 hoa) Giống có hoa ít là giống AĐ 07-3 với 88,2 hoa/chùm

Ngày đăng: 21/04/2014, 21:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2b. Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Bảng 3.2b. Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha (Trang 29)
Bảng 3.2c. Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Bảng 3.2c. Kích thước và khối lượng hạt của một số mẫu giống Jatropha (Trang 30)
Bảng 3.3. Hàm lượng dầu hạt của một số mẫu giống Jatropha - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Bảng 3.3. Hàm lượng dầu hạt của một số mẫu giống Jatropha (Trang 31)
Bảng 3.5. Hàm lượng axit béo của dầu một số giống Jatropha - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Bảng 3.5. Hàm lượng axit béo của dầu một số giống Jatropha (Trang 33)
Đồ thị 3.1. Ảnh hưởng của thời gian tạo tán đến năng suất hạt cây Jatropha - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
th ị 3.1. Ảnh hưởng của thời gian tạo tán đến năng suất hạt cây Jatropha (Trang 46)
Đồ thị 3.3. Ảnh hưởng của lượng nước tưới đến năng suất Jatropha - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
th ị 3.3. Ảnh hưởng của lượng nước tưới đến năng suất Jatropha (Trang 53)
Bảng 3.49. Ảnh hưởng của các mức bón NPK đến các yếu tố cấu thành - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Bảng 3.49. Ảnh hưởng của các mức bón NPK đến các yếu tố cấu thành (Trang 63)
Hình 3. Thí nghiệm mật độ - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Hình 3. Thí nghiệm mật độ (Trang 87)
Hình 6. Thí nghiệm tưới nước Hình 5. Thí nghiệm phủ Nynon - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Hình 6. Thí nghiệm tưới nước Hình 5. Thí nghiệm phủ Nynon (Trang 88)
Đồ thị 1. Chiều dài hạt của một số mẫu giống Jatropha thu thập - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
th ị 1. Chiều dài hạt của một số mẫu giống Jatropha thu thập (Trang 112)
Đồ thị 3. Hàm lượng dầu của một số mẫu giống Jatropha - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
th ị 3. Hàm lượng dầu của một số mẫu giống Jatropha (Trang 114)
Bảng 4.10. Các chỉ tiêu sinh trưởng của các giống  Jatropha trồng tại Tây Ninh tháng 11 năm 2008 - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
Bảng 4.10. Các chỉ tiêu sinh trưởng của các giống Jatropha trồng tại Tây Ninh tháng 11 năm 2008 (Trang 122)
Đồ thị 5 .  Thời gian hoa nở và thời gian quả chín của các giống Jatropha - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
th ị 5 . Thời gian hoa nở và thời gian quả chín của các giống Jatropha (Trang 132)
Đồ thị 4.5. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ ra chồi và rễ - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
th ị 4.5. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ ra chồi và rễ (Trang 181)
Đồ thị 4.6. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến số rễ cấp - nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống jatropha sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất dầu biodiesel
th ị 4.6. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến số rễ cấp (Trang 183)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w