CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN VIỆN KINH TẾ KỸ THUẬT THUỐC LÁ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CHỌN GIỐNG THUỐC LÁ LAI CÓ NĂNG SUẤT CAO, CHẤT LƯỢNG TỐT PHỤC VỤ SẢN XUẤT NGUYÊN LIỆU
Trang 1CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
VIỆN KINH TẾ KỸ THUẬT THUỐC LÁ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
CHỌN GIỐNG THUỐC LÁ LAI CÓ NĂNG SUẤT CAO, CHẤT LƯỢNG TỐT PHỤC VỤ SẢN XUẤT NGUYÊN
LIỆU CHO NHU CẦU TIÊU DÙNG TRONG NƯỚC VÀ XUẤT KHẨU
Chủ nhiệm đề tài: TS Tào Ngọc Tuấn
7720
26/02/2010
HÀ NỘI, THÁNG 12 NĂM 2009
Trang 2CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
VIỆN KINH TẾ KỸ THUẬT THUỐC LÁ
Đề tài: CHỌN GIỐNG THUỐC LÁ LAI CÓ NĂNG SUẤT
CAO, CHẤT LƯỢNG TỐT PHỤC VỤ SẢN XUẤT NGUYÊN LIỆU CHO NHU CẦU TIÊU DÙNG
TRONG NƯỚC VÀ XUẤT KHẨU
Thực hiện theo hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 244.01.RD/HĐ-KHCN, ngày 27 tháng 04 năm 2009 giữa Bộ Công Thương và Công ty TNHH 1 TV Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá
Chủ nhiệm đề tài: TS Tào Ngọc Tuấn
Những người thực hiện chính: ThS Nguyễn Văn Cường
KS Nguyễn Văn Nghĩa
Trang 3MỞ ĐẦU
Diện tích trồng thuốc lá của nước ta hiện nay ở mức 25.000 – 30.000 ha
và sản lượng nguyên liệu ở mức 40.000 – 45.000 tấn mỗi năm Nguyên liệu thuốc lá được sản xuất trong nước mới đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thuốc điếu Hàng năm, ngành thuốc lá vẫn phải nhập khẩu một lượng đáng kể nguyên liệu từ các nước trên thế giới và nguyên liệu trong nước cũng được xuất khẩu với số lượng đến chục ngàn tấn Sản xuất thuốc
lá vẫn là một lĩnh vực kinh tế cần thiết khi ngành thuốc lá Việt Nam đóng góp cho ngân sách Nhà nước trên bảy ngàn tỷ đồng mỗi năm Hiện nay thuốc lá nguyên liệu sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho các nhà máy thuốc điếu, mặt khác nhu cầu nguyên liệu cho xuất khẩu khá lớn nên Chính phủ khuyến khích phát triển sản xuất nguyên liệu trong nước Chiến lược phát triển Ngành thuốc lá Việt nam đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt, trong đó nhấn mạnh chủ chương phát triển thuốc lá nguyên liệu để hạn chế nhập khẩu, tăng cường xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân trồng thuốc lá Vùng trồng thuốc lá của Việt nam tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền núi, nên việc phát triển cây thuốc lá tại đây sẽ hiện thực hoá chủ trương của Đảng và Nhà nước “Xóa đói, giảm nghèo” cho đồng bào các dân tộc miền núi khó khăn
Thuốc lá nguyên liệu vàng sấy lò (Virginia) là dạng thuốc lá chính, chiếm trên 90% diện tích trồng thuốc lá tại nước ta Vùng trồng thuốc lá vàng sấy lò trải dài từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn qua các tỉnh duyên hải miền Trung, các tỉnh Tây nguyên đến các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai ở miền Đông Nam bộ Tuy nhiên, số lượng giống thuốc lá còn rất hạn chế Ngoài các giống thuốc lá C.176, K.326 được nhập nội từ những năm 1990 thì bộ giống thuốc lá vàng sấy mới được bổ sung thêm các giống C7-1, C9-1, A7, K.149 và VTL5H Trong số các giống mới trên chỉ có các giống C7-1, C9-1 và VTL5H do Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá lai tạo và chọn lọc đang được phát triển nhanh trong sản xuất Công tác nhập nội giống đã được triển khai trong những năm qua nhưng kết quả đánh giá tuyển chọn chưa xác định được giống tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái các vùng trồng tại nước ta Việc tiếp tục triển khai công tác lai tạo và chọn giống thuốc lá là hết sức cần thiết nhằm tạo ra một bộ giống thuốc lá phong phú hơn về các đặc tính nông sinh học để mỗi vùng trồng có bộ giống thích hợp với điều kiện sinh thái; mỗi hộ trồng lựa chọn được giống thích hợp với điều kiện canh tác nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
Nhằm chọn lọc và phát triển các giống thuốc lá mới phục vụ sản xuất nguyên liệu cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, chúng tôi tiến hành
đề tài: “Chọn giống thuốc lá lai có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ sản
xuất nguyên liệu cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu”
Trang 4MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
TÓM TẮT NHIỆM VỤ 5
1 Phương pháp thực hiện nhiệm vụ 5
2 Dự kiến kết quả đạt được 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1 Tình hình nghiên cứu về giống thuốc lá ở nước ngoài 6
1.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống thuốc lá ở trong nước 7
Chương 2 THỰC NGHIỆM 10
2.1 Nội dung nghiên cứu 10
2.2 Vật liệu nghiên cứu 10
2.3 Phương pháp nghiên cứu 10
2.4 Địa điểm nghiên cứu 11
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN 12
3.1 Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới 12
3.1.1 Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới tại Cao Bằng, Lạng Sơn 12
3.1.2 Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới tại Lạng Sơn 18
3.2 Kết quả khảo nghiệm sản xuất các tổ hợp lai GL4, GL5 tại Cao Bằng, Lạng Sơn 24
3.2.1 Sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp lai 24
3.2.2 Mức độ sâu bệnh hại các tổ hợp lai GL4, GL5 27
3.2.3 Năng suất của các tổ hợp lai GL4, GL5 28
3.2.4 Đánh giá chất lượng của các tổ hợp lai GL4, GL5 29
3.3 Tạo các dòng mẹ bất dục đực mới theo hướng đa dạng hoá nguồn gen bất dục đực 31
3.3.1 Duy trì các dòng bất dục đực nguồn tế bào chất từ RGH4 32
3.3.2 Tạo các dòng bất dục đực mới với nguồn tế bào chất từ K.326TQ 32
3.4 Lai tạo hạt lai của một số tổ hợp lai có triển vọng 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34
1 Kết luận 34
2 Kiến nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CMV : Virus khảm lá dưa chuột (Cucumber Mosaic Virus) HRVK
LSD0,05
: Bệnh héo rũ vi khuẩn
: Mức chênh lệch nhỏ nhất có ý nghĩa với độ tin cậy 95% NST : Ngày sau trồng
TLCV : Virus xoăn lá thuốc lá (Tobacco Leaf Curl Virus)
TMV : Virus khảm lá thuốc lá (Tobacco Mosaic Virus)
Trang 6TÓM TẮT NHIỆM VỤ
1 Phương pháp thực hiện nhiệm vụ
Để chọn tạo các giống thuốc lá mới có tiềm năng năng suất cao, chất lượng nguyên liệu tốt, kháng khá đối với một số bệnh hại chính đáp ứng nhu cầu sản xuất đề tài đã áp dụng các phương pháp chọn giống chính sau:
1 Tạo các tổ hợp lai theo định hướng kết hợp các ưu điểm của các dạng bố mẹ;
2 Đánh giá các tổ hợp lai để chọn lọc tổ hợp lai tốt theo hướng phát triển giống lai Tạo các dòng mẹ bất dục đực cho sản xuất hạt lai;
3 Lựa chọn các tổ hợp lai tốt để chọn lọc dòng thuần qua các thế hệ phân ly theo phương pháp phả hệ;
4 Đánh giá, chọn lọc các dòng và các tổ hợp lai tại các trạm thực nghiệm giống;
5 Khảo nghiệm các dòng và tổ hợp lai tốt tại các vùng trồng
2 Dự kiến kết quả đạt được
Mục tiêu dài hạn
Chọn tạo các giống thuốc lá lai có tiềm năng năng suất cao, chất lượng nguyên liệu tốt, kháng khá đối với một số bệnh hại chính như đen thân, héo rũ vi khuẩn, khảm lá TMV
- Duy trì được 05 dòng bất dục đực nguồn tế bào chất từ RGH4 của Mỹ
và tạo 05 dòng bất dục đực nguồn tế bào chất từ K.326 của Trung Quốc;
- Lai tạo được hạt lai của các tổ hợp lai GL4, GL5
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu về giống thuốc lá ở nước ngoài
Để có một bộ giống thuốc lá tốt, đáp ứng nhu cầu sản xuất, nhiều nước trồng thuốc lá đã tiến hành các chương trình lai tạo giống mới nhằm tạo ra các
giống tốt, thích hợp với điều kiện sinh thái riêng của mỗi nước
Mỹ là quốc gia có nhiều cơ sở nghiên cứu triển khai công tác chọn tạo giống thuốc lá phục vụ cho sản xuất từ nhiều năm qua Bên cạnh các cơ sở đào tạo như Đại học Carolina Bắc, Đại học Clemson, nhiều công ty giống như Cross Creek Seeds, Gold Leaf Seeds, F W Rickard Seeds, Speight Seed Farms, Gwynn Farms, Raynor Seed Company cũng đầu tư rất lớn nguồn lực cho công tác lai tạo và phát triển các giống thuốc lá mới Hệ thống khảo nghiệm giống quốc gia hàng năm tiến hành công tác khảo nghiệm đánh giá hàng chục giống thuốc lá mới được lai tạo và khuyến cáo sử dụng giống cho người trồng thuốc lá Tại Bang Carolina Bắc, có hàng chục giống thuốc lá được sử dụng trong sản xuất Với bộ giống thuốc lá phong phú, người trồng thuốc lá tại Mỹ đã lựa chọn được giống thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và khả năng thâm canh
và giảm thiểu những rủi ro do bệnh hại Các giống thuần K326, K346 được tạo
ra từ những năm 80 của thế kỷ trước nhưng vẫn được sử dụng rộng rãi với tỷ lệ diện tích đáng kể do chất lượng nguyên liệu tốt Tuy nhiên giống thuốc lá lai đang được phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Nếu như ở niên vụ
1996 giống lai chưa có diện tích đáng kể thì đến năm 2008 riêng 7 giống lai đã chiếm 55% diện tích trồng thuốc lá tại đây [9][11]
Công tác giống thuốc lá tại Braxin chủ yếu do Công ty giống thuốc lá Profigen triển khai bao gồm các công việc từ lai tạo, chọn lọc, đánh giá khảo nghiệm và sản xuất, cung ứng giống không chỉ cho Braxin mà chào bán khắp nơi trên thế giới Giai đoạn trước năm 1995, Braxin chủ yếu phát triển các giống thuần và đã cung cấp các giống PV01, PV03, PV09 cho sản xuất Tuy nhiên các giống này không còn được sản xuất trong những năm gần đây Sau năm 1995, Công ty Profigen chủ yếu phát triển giống thuốc lá lai và tung ra sản xuất nhiều giống lai mới như PVH01, PVH03, PVH09, PVH19, PVH20, PVH50, PVH51, PVH156, PVH2110 Bên cạnh đó nhiều giống lai mới có triển vọng đang được sản xuất thử nghiệm như PVH2239, PVH2241, PVH2254, PVH2259, PVH2274, PVH2275, PVH2299, PVH2306 [6]
Tại Zimbabuê, công tác giống thuốc lá chủ yếu do Viện nghiên cứu thuốc
lá Kutsaga có trụ sở tại Harage đảm nhận Trong thập niên 80 của thế kỷ 20 một
số giống thuốc lá thuần do Viện này lai tạo, chọn lọc được phổ biến trong sản xuất như Kutsaga 51, Kutsaga E1, Kutsaga 51E, KM 10, KM 110 Từ thập niên
90 Zimbabuê chủ yếu chọn tạo và phát triển các giống thuốc lá lai Hàng loạt các giống lai đã được đưa vào sản xuất như như RK1, RK3, RK6, K.34, K.35, K.36 Bên cạnh đó hàng loạt giống lai mới đang được khảo nghiệm như K RK22, K RK23, K RK26, K RK27, K RK28, K 30R, T29, T60, T61, T62, T64, T65, T66 [7][10]
Trang 8Trung Quốc là quốc gia có nền sản xuất thuốc lá lớn nhất thế giới Công tác nghiên cứu phục vụ sản xuất thuốc lá nguyên liệu được triển khai rất hệ thống và được đầu tư rất lớn về con người và cơ sở vật chất Riêng về giống thuốc lá, hàng loạt Viện nghiên cứu thuốc lá đặt tại các tỉnh và nhiều trường đại học tham gia công tác lai tạo chọn lọc Bên cạnh đó, Trung tâm giống thuốc lá phía Nam tại Vân Nam và Trung tâm giống thuốc lá phía Bắc tại Sơn Đông đóng vai trò chủ đạo trong việc sản xuất và cung ứng giống cho các vùng trồng Với đặc tính chất lượng tốt, giống thuốc lá K.326 có nguồn gốc từ Mỹ vẫn chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nguyên liệu tại Trung Quốc Các cơ sở chọn tạo giống thuốc lá đã lai tạo ra nhiều giống mới phù hợp với điều kiện các vùng trồng Các giống Vân Nam 85, Vân Nam 87 chiếm khoảng 40% diện tích trồng thuốc lá tại Trung Quốc Một số giống như Giống số 2, Hồng hoa Đại Kim Nguyên, Trung thuốc 100, Hà Nam số 5 và các giống lai VS202, VS203 chiếm diện tích trồng thuốc lá đáng kể tại Trung Quốc [3]
Trong những năm gần đây, phát triển các giống lai đã được nhiều nước sản xuất thuốc lá tiên tiến trên thế giới quan tâm và đầu tư nghiên cứu Các nhà chọn giống đang khai thác hiệu quả ưu thế lai hay là sự vượt trội của tổ hợp lai
so với các dạng bố mẹ về các mặt năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng Các cơ sở nghiên cứu và các công ty giống ở Mỹ, Braxin, Zimbabuê, Pháp, Trung Quốc, đã tung ra sản xuất hàng loạt giống lai mới với những ưu điểm nổi bật về tính kháng và khả năng thích nghi Giống lai đã phát triển trên diện rộng
và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu giống thuốc lá của các nước[8][12] Bằng việc sử dụng các giống lai, các cơ sở chọn tạo giống tự bảo
vệ được quyền tác giả còn các nhà quản lý có thể thực thi kế hoạch sản xuất các chủng loại nguyên liệu qua cơ cấu giống phát ra
1.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống thuốc lá ở trong nước
Công tác chọn tạo giống thuốc lá mới được Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc
lá triển khai ở nước ta từ năm 1996 theo hướng chọn tạo giống thuần khi thực tế sản xuất cần có một bộ giống tốt đáp ứng nhu cầu sản xuất Qua lai tạo và chọn lọc ở các thế hệ phân ly đã chọn được một số dòng có triển vọng với khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt Tháng 12 năm
2004, Bộ NN&PTNT đã công nhận giống chính thức đối với hai dòng C 7-1, C 9-1 [1]
Trong những năm qua, công tác chọn tạo giống thuốc lá lai do Viện Kinh
tế Kỹ thuật Thuốc lá thực hiện đã đạt được kết quả ban đầu với việc xác định được các tổ hợp lai tốt và tạo ra các dòng mẹ bất dục đực phục vụ công đoạn sản xuất hạt lai [2] Các giống lai A7, VTL5H đã được công nhận giống chính thức
và giống VTL1H được công nhận tạm thời [4] Nhằm xây dựng một bộ giống thuốc lá phong phú để mỗi vùng trồng có thể chọn được giống thích hợp, công tác giống cần tiếp tục theo hướng tạo các giống thuốc lá lai có tính thích nghi rộng, năng suất và chất lượng cao, kháng các bệnh hại chính
Trang 9Kết quả khảo nghiệm sản xuất ba tổ hợp lai GL1, GL2, GL3 trong các vụ xuân 2006, 2007 đã xác định được tổ hợp lai GL1, GL2 có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng một số bệnh hại chính Các tổ hợp lai này đã được khảo nghiệm diện rộng với quy mô hàng chục ha/tổ hợp lai trong vụ xuân 2009 tại Hà Quảng – Cao Bằng và Võ Nhai – Thái Nguyên Kết quả khảo nghiệm cho thấy các tổ hợp lai này có sức sinh trưởng khoẻ, cho năng suất cao vượt trội so với giống đối chứng K.326, chất lượng nguyên liệu tốt và đặc biệt thể hiện tính kháng bệnh khảm lá do TMV tại Thái Nguyên
Kết quả khảo nghiệm sản xuất đối với các tổ hợp lai có triển vọng GL4, GL5 trong vụ xuân 2008 tại Cao Bằng và Lạng Sơn cho thấy, các tổ hợp lai này
có năng suất vượt trội so với giống đối chứng: vượt giống C.176 từ 18,1 đến 13,1% tại Cao Bằng và vượt giống K.326 từ 13,7 đến 9,2% tại Lạng Sơn Các tổ hợp lai có tỷ lệ lá cấp 1+2 cao hơn so với giống đối chứng C.176 tại Cao Bằng
và ở mức tương đương so với giống K.326 tại Lạng Sơn Nguyên liệu của các tổ hợp lai đều có tính chất hút tốt Tổ hợp lai GL4 có tổng điểm bình hút nổi trội tại Lạng Sơn trong khi tổ hợp lai GL5 có tổng điểm bình hút nổi trội tại Cao Bằng Các tổ hợp lai này cần được khảo nghiệm sản xuất lặp lại vụ thứ 2 trong 2009 nhằm khẳng định các ưu nhược điểm của chúng, tạo cơ sở cho quyết định khảo nghiệm diện rộng trong các năm tiếp theo
Thực tế sản xuất thuốc lá nguyên liệu những năm qua cho thấy một vài nguồn giống địa phương như CB1, CB2, LS tuy còn những hạn chế về chất lượng và tính kháng bệnh nhưng thể hiện khả năng thích nghi tốt với điều kiện
vụ xuân sớm ở các tỉnh miền núi phía Bắc: chịu rét, ít bị bệnh đốm lá Việc nghiên cứu để kết hợp các ưu điểm này của các giống địa phương với các đặc tính tốt về năng suất, chất lượng hoặc khả năng kháng bệnh của một số nguồn giống nhập nội đã bước đầu được thực hiện Kết quả khảo nghiệm sinh thái năm
2008 tại Cao Bằng và Lạng Sơn đã cho thấy: Ba tổ hợp lai C.176 x CB2, C.176
x LS, K.346 x LS có năng suất trên 25 tạ/ha và ở mức cao vượt trội so với giống đối chứng K.326 Các tổ hợp lai này ít bị nhiễm bệnh đốm lá, có tỷ lệ lá cấp 1+2 cao và tính chất hút tương đương các giống đối chứng C.176, K.326 Các tổ hợp lai này cần được khảo nghiệm sinh thái vụ thứ 2 tại Cao Bằng và Lạng Sơn trước khi quyết định khảo nghiệm sản xuất
Trong những năm 2004 - 2007 khi tiến hành đề tài chọn tạo giống thuốc lào mới, nhóm thực hiện đã sử dụng các dòng thuốc lào địa phương như Ré đen (RĐ8), Ré trắng (RT56) có sức sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, ít bị bệnh đốm
lá nhưng mẫn cảm với các bệnh đen thân, héo rũ vi khuẩn và khảm lá lai với các giống thuốc lá C.176, K.346, C7-1, RG.81 có khả năng kháng khá với các bệnh trên Đề tài đã chọn được một số dòng với dạng hình thuốc lá có sức sinh trưởng khoẻ, cho năng suất cao và kháng khá với một số bệnh hại chính Kết quả đánh giá 4 dòng ở vụ xuân 2008 cho thấy các dòng sinh trưởng khoẻ, nhiều lá, ra hoa muộn Các dòng T1-1, T32-2 có năng suất cao hơn giống đối chứng và tỷ lệ lá cấp 1+2 ở mức tương đương Việc tiếp tục đánh giá các dòng có ưu điểm về
Trang 10năng suất và chất lượng trong vụ xuân 2009 tại Cao Bằng và Lạng Sơn là hết sức cần thiết nhằm chọn các dòng có triển vọng theo định hướng phát triển giống mới phù hợp với điều kiện mỗi địa phương
Nhằm phục vụ hiệu quả công tác phát triển các giống thuốc lá lai trong những năm tiếp theo thì bên cạnh việc chọn lọc các dòng và tổ hợp lai tốt cần thiết phải tạo dòng bất dục đực của các giống có khả năng được sử dụng làm dạng mẹ để sản xuất hạt lai theo hướng đa dạng nguồn tế bào chất là cơ sở để phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra trong sản xuất
Trang 11Chương 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Nội dung nghiên cứu
Nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra, đề tài thực hiện các nội dung nghiên cứu sau trong năm 2009:
- Khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới tại Cao Bằng, Lạng Sơn
- Khảo nghiệm sản xuất các tổ hợp lai có triển vọng GL4, GL5 tại Cao Bằng, Lạng Sơn
- Duy trì và lai tạo các dòng bất dục đực mới theo hướng đa dạng hoá nguồn gen bất dục đực nhằm tránh các rủi ro trong sản xuất tại Ba Vì - Hà Tây
- Lai tạo hạt lai của các tổ hợp lai có triển vọng GL4, GL5 tại Ba Vì - Hà Tây
2.2 Vật liệu nghiên cứu
*Vật liệu để khảo nghiệm sinh thái: 3 tổ hợp lai được tạo ra bởi các giống
thuốc lá địa phương CB2, LS có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt và 3 dòng thuốc lá mới có triển vọng bao gồm C.176 x CB2, C.176 x LS, K.346 x
LS, T1-1, T32-2, T42-1
*Vật liệu để khảo nghiệm sản xuất: các tổ hợp lai có triển vọng C.176 x
C9-1, C.176 x D102 với các ký hiệu GL4, GL5 Đây là những tổ hợp lai được đánh giá tốt qua khảo nghiệm sinh thái ở các vụ xuân 2006-2007 và khảo nghiệm sản xuất vụ thứ nhất trong vụ xuân 2008 tại Cao Bằng và Lạng Sơn
*Vật liệu để duy trì các dòng bất dục đực nguồn tế bào chất RGH4: là các
dòng bất dục đực RG.8S, RG.17S, RG.81S, C7-1S, C9-1S với nguồn bất dục đực tế bào chất từ giống RGH4 của Mỹ và các dòng bố tương ứng RG.8, RG.17, RG.81, C7-1, C9-1
*Vật liệu để lai tạo các dòng bất dục đực mới nguồn tế bào chất
K.326TQ: một số tổ hợp lai bất dục của các nguồn giống có khả năng được sử
dụng làm dạng mẹ trong phát triển các giống thuốc lá lai: C.176, K.326, K.346 ở thế hệ BC3 và RG.17, RG.81 ở thế hệ BC1 với nguồn bất dục đực từ giống K.326 của Trung Quốc và các dòng bố tương ứng của chúng
*Vật liệu để lai tạo hạt lai của các tổ hợp lai có triển vọng: dòng mẹ bất
dục đực C.176S và các dòng bố C9-1, D102 cho lai tạo hạt lai của các tổ hợp lai GL4, GL5
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Đánh giá các dòng và tổ hợp lai F1 theo phương pháp chuẩn như:
+ Các tổ hợp lai khi khảo nghiệm sinh thái được bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn toàn, nhắc lại ba lần, diện tích ô
44 m2 tại Cao Bằng và 37 m2 tại Lạng Sơn Giống đối chứng được sử dụng trong thí nghiệm: C.176 tại Cao Bằng và K.326 tại Lạng Sơn
Trang 12+ Các tổ hợp lai khi khảo nghiệm sản xuất được bố trí thí nghiệm ô lớn, không lặp lại, diện tích ô 1.000 m2, có đối chứng là giống đang phổ biến tại địa phương (C.176 tại Cao Bằng, K.326 tại Lạng Sơn)
+ Trồng trọt, chăm sóc: theo quy trình kỹ thuật do Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá ban hành đối với thuốc lá vàng sấy, hiện đang được áp dụng tại các vùng trồng Bón phân theo mức 70N + 100P2O5 + 140K2O Thí nghiệm khảo nghiệm sinh thái sử dụng các loại phân đơn NH4NO3, K2SO4, super lân Thí nghiệm khảo nghiệm sản xuất sử dụng phân bón hỗn hợp chuyên dùng cho thuốc lá
+ Đánh giá các chỉ tiêu nông sinh học theo Quy phạm khảo nghiệm giống thuốc lá 10 TCN 426 - 2000 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Các chỉ tiêu theo dõi chính gồm: các đặc điểm nông sinh học, mức độ sâu bệnh hại, năng suất và chất lượng nguyên liệu
+ Phân cấp thuốc lá nguyên liệu theo tiêu chuẩn ngành TCN 26 - 1 - 02 + Phân tích một số thành phần hoá học chính ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu tại Phòng Phân tích Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá như:
• Phân tích hàm lượng nicotin theo TCVN 7103:2002 (ISO 2881:1992)
• Phân tích hàm lượng đường khử theo TCVN 7102:2002 (CORESTA 38:1994)
+ Đánh giá chất lượng cảm quan theo tiêu chuẩn TC 01 - 2000 của Tổng công ty thuốc lá Việt nam, do Hội đồng bình hút của Viện KTKT thuốc lá đánh giá, cho điểm
- Xử lý thống kê các số liệu theo các phương pháp thông dụng, có sử dụng các lập trình trên máy vi tính như EXCEL, STATH
2.4 Địa điểm nghiên cứu
- Các nội dung khảo nghiệm sinh thái và khảo nghiệm sản xuất được triển khai tại các vùng trồng chính ở các tỉnh phía Bắc bao gồm:
+ Xã Nam Tuấn - huyện Hoà An - tỉnh Cao Bằng,
+ Xã Hữu Vĩnh - huyện Bắc Sơn - tỉnh Lạng Sơn
- Các nội dung duy trì và lai tạo các dòng bất dục đực mới, lai tạo hạt lai được thực hiện tại Chi nhánh Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá tại Hà Tây (xã Tản Lĩnh - Ba Vì - Hà Nội)
Trang 13Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN 3.1 Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới
3.1.1 Kết quả khảo nghiệm sinh thái một số dòng và tổ hợp lai mới tại Cao Bằng, Lạng Sơn
a) Tình hình sinh trưởng:
Theo dõi thời gian sinh trưởng của các dòng và tổ hợp lai tại Cao Bằng ở
vụ xuân 2009 cho thấy:
Tổ hợp lai của tổ hợp C.176 x CB2 có thời gian phát dục (ra nụ 90%) sớm nhất ở 66 ngày sau trồng (NST), tiếp theo đến hai tổ hợp lai của dòng LS ở 68 NST Ba dòng còn lại phát dục khá muộn, ở từ 73 đến 76 ngày sau trồng So với giống đối chứng C.176 ra nụ 90% ở 62 ngày sau trồng thì 3 dòng và 3 tổ hợp lai khảo nghiệm phát dục muộn hơn Dòng T42-1 phát dục muộn nhất ở 76 ngày sau trồng
Bảng 1 Thời gian sinh trưởng của một số dòng và tổ hợp lai tại Cao Bằng
Về thời gian từ trồng đến lá đầu chín: tuy các giống có sự khác biệt đáng
kể về thời gian phát dục nhưng không có sự khác biệt đáng kể về thời gian từ trồng đến lá đầu chín Ba tổ hợp lai và dòng T1-1 có lá đầu chín ở 63 NST, tương đương giống đối chứng Các dòng T32-2, T42-1 có lá đầu chín muộn hơn
Theo dõi một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng và tổ hợp lai chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2
Trang 14Bảng 2 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của một số dòng và tổ hợp lai tại Cao
ở mức lớn hơn giống đối chứng C.176 (2,13 cm)
- Theo dõi kích thước các lá số 5, 10, 15 đại diện cho các vị bộ lá nách dưới, trung châu và nách trên chúng tôi nhận thấy:
Về chiều dài lá: các tổ hợp lai có chiều dài lá tăng từ lá số 5 qua lá số 10
và lại giảm đi ở lá số 15 Lá số 15 có chiều dài lớn hơn lá số 5 Tổ hợp lai K346
x LS có chiều dài lá lớn nhất trong số 3 tổ hợp lai Đối với các dòng, chiều dài lá
có xu hướng chung là tăng dần từ lá số 5 qua lá số 10 đến lá số 15 Dòng T42-1
có chiều dài lá lớn nhất ở cả 3 vị trí lá So với giống đối chứng C.176, dòng
T1-1 có chiều dài lá tương đương trong khi các dòng và các tổ hợp lai khác có chiều dài lá lớn hơn
Về chiều rộng lá: các dòng thuần và các tổ hợp lai có xu hướng chung bề rộng lá giảm dần từ lá số 5 qua lá số 10 đến lá số 15 Như vậy các giống khảo nghiệm có bề rộng lá giảm dần từ vị bộ lá dưới lên các vị bộ lá trên Nhóm các
tổ hợp lai có bề rộng lá lớn hơn nhóm các dòng, trong đó 2 tổ hợp lai của giống
LS (C.176 x LS, K.346 x LS) có bề rộng lá nổi trội Giống đối chứng C.176 có
bề rộng lá kém các tổ hợp lai nhưng lớn hơn so với các dòng Như vậy, nhóm các tổ hợp lai có kích thước lá số 10 lớn hơn các dòng thuần cả về chiều dài và chiều rộng
Trang 15Bảng 3 Kích thước lá số 5, 10, 15 của một số dòng và tổ hợp lai ở vụ xuân
Bảng 4 Mức độ sâu bệnh hại một số dòng và tổ hợp lai ở vụ xuân 2009
từ giai đoạn sau trồng khoảng 20 ngày nhưng mức độ hại nhẹ
Bệnh đốm lá thường gây hại đáng kể đối với các lá gốc và vị bộ nách dưới
ở trong tháng 3 và nửa đầu tháng 4 của những năm trước khi không khí lạnh về
Trang 16có mưa phùn kéo dài và thời tiết âm u Trong vụ xuân 2009, hiện tượng thời tiết trên không xảy ra nên mức độ gây hại của bệnh đốm lá không đáng kể
c) Đánh giá năng suất và chất lượng
Theo dõi một số chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp lai chúng tôi thu được số liệu như ở bảng 5
Bảng 5 Một số chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất của một số dòng
và tổ hợp lai tại Cao Bằng trong vụ xuân 2009
Khối lượng tươi (g)
của
TT Giống kinh tế Số lá
(lá) Lá 5 Lá 10 Lá 15
Tỷ lệ lá tươi/khô
Năng suất (tạ/ha)
Tỷ lệ lá cấp 1+2 (%)
- Khối lượng lá cũng là một chỉ tiêu có tương quan thuận đến năng suất của các giống thuốc lá Đối với các tổ hợp lai: có sự khác biệt rõ rệt về khối lượng tươi của lá giữa các vị bộ Khối lượng lá tăng từ lá số 5 đến lá số 10 và lại giảm đi ở lá số 15 Các tổ hợp lai đều có khối lượng tươi lá số 5 cao hơn lá số
15 Tổ hợp lai C.176 x LS có khối lượng lá cao nổi trội ở cả ba vị trí lá, tiếp theo
là tổ hợp lai K.346 x LS Đối với các dòng: Không có sự khác biệt lớn về khối lượng lá tươi giữa các vị bộ Dòng T42-1 có khối lượng lá tươi cao nhất ở các vị trí lá số 5, 10 So với giống đối chứng C176 thì dòng T42-1 có khối lượng lá cao hơn trong khi dòng T32-2 ở mức tương đương và dòng T1-1 có khối lượng lá thấp hơn
- Tỷ lệ tươi/khô cho biết hàm lượng chất khô của giống có sự biến động khá lớn giữa các giống khảo nghiệm Dòng T1-1 hàm lượng chất khô cao nhất khi tỷ lệ tươi/khô thấp nhất (6,74) Các tổ hợp lai có tỷ lệ tươi/khô <7,5 - ở mức
Trang 17m tương đương giống đối chứng trong khi các dòng T32-2, T42-1 có tỷ lệ tươi/khô khá cao (>8) So sánh với số liệu ở các vụ xuân trước, các giống khảo nghiệm ở vụ xuân 2009 có tỷ lệ tươi/khô ở mức trung bình
- Năng suất là một trong các chỉ tiêu quan trọng nhất quyết định triển vọng của các giống khảo nghiệm Ba tổ hợp lai đánh giá gồm C176 x CB2, C.176 x LS, K.346 x LS có năng suất rất cao (>25 tạ/ha), ở mức vượt trội so với giống đối chứng C.176 (21,4 tạ/ha) Trong số 3 dòng khảo nghiệm, dòng T32-2 với 24,6 tạ/ha có năng suất vượt trội so với đối chứng, trong khi các dòng T1-1, T24-2 có năng suất chỉ ở mức tương đương
- Tỷ lệ lá cấp 1+2 là một trong các yếu tố xác định chất lượng và hiệu quả kinh tế của mỗi giống Các tổ hợp lai C.176 x CB2, C.176 x LS, K.346 x LS có
tỷ lệ lá cấp 1+2 rất cao (từ 39,6 – 43,6%) Dòng T1-1 tuy tỷ lệ lá cấp 1+2 chỉ đạt 29,1% nhưng vẫn cao hơn giống đối chứng C.176 với 26,0% Hai dòng còn lại
có tỷ lệ lá cấp 1+2 thấp với mức từ 23,0 và 23,1%
Để đánh giá chất lượng của các giống khảo nghiệm, đề tài đã phân tích một số thành phần hoá học chính như hàm lượng nicotin và đường khử trong mẫu nguyên liệu lá sấy của các giống thí nghiệm Kết quả phân tích được thể hiện ở bảng 6
Bảng 6 Hàm lượng nicotin và đường khử trong nguyên liệu của một số
dòng và tổ hợp lai tại Cao Bằng ở vụ xuân 2009
TT Giống Nicotin (%) Đường khử (%)
- Về hàm lượng nicotin: nhìn chung các giống khảo nghiệm ở vụ xuân
2009 có hàm lượng nicotin ở mức hơi thấp so với các vụ xuân trước nhưng cao hơn so với vụ xuân 2008 Các tổ hợp lai C.176 x LS, K.346 x LS, dòng T32-2 cùng giống đối chứng C.176 có hàm lượng nicotin hơi thấp, từ 1,20-1,53% Các dòng và tổ hợp lai khác có hàm lượng nicotin từ 1,63-2,84%, nằm trong ngưỡng tối ưu đối với nguyên liệu vàng sấy (1,6-2,5%)
- Về hàm lượng đường khử: Ba tổ hợp lai 2 dòng T1-1, T32-2 có hàm lượng đường khử từ 22,5 – 26,6%, mức cao hơn giống đối chứng C.176 (17,2%) Dòng T42 có hàm lượng đường khử thấp nhất với 15,4%
Trang 18So với số liệu vụ xuân 2008, các giống khảo nghiệm trong vụ xuân 2009
có hàm lượng nicotin và đường khử cao hơn nhưng mức chênh lệch không lớn Chất lượng nguyên liệu của các giống khảo nghiệm còn được đánh giá qua bình hút cảm quan với kết quả ở bảng 7
Bảng 7 Điểm bình hút cảm quan nguyên liệu của một số dòng và tổ hợp lai
tại Cao Bằng trong vụ xuân 2009
có sự chênh lệch đáng kể so với giống đối chứng C.176
- Về khẩu vị: tổ hợp lai C.176 x CB2 cũng có điểm vị cao nhất với 10,7 điểm Dòng T42-1 có điểm vị cao thứ nhì với 10,2 điểm Các dòng và tổ hợp lai khác có điểm vị từ 9,8-10,0 điểm ở mức tương đương so với giống đối chứng C.176 (9,9 điểm)
Tổng điểm bình hút chịu ảnh hưởng nhiều bởi các điểm về hương và vị
Tổ hợp lai C.176 x CB2 và các dòng T32-2, T42-1 có tổng điểm bình hút cao (40,0 – 41,2 điểm), ở mức tính chất hút tốt Ngoại trừ dòng T1-1 có tổng điểm thấp nhất với 38,7 điểm do điểm về độ nặng thấp, các tổ hợp lai còn lại có tổng điểm không chênh lệch đáng kể so với giống đối chứng C.176 ở mức tính chất hút khá
Tổng hợp kết quả khảo nghiệm 3 tổ hợp lai và 3 dòng thuốc lá tại Cao Bằng ở vụ xuân 2009 cho thấy:
− Về năng suất, các tổ hợp lai C.176 x CB2, C.176 x LS, K.346 x LS có năng suất trên 25 tạ/ha và dòng T32-2 với năng suất 24,6 tạ/ha là những giống có tiềm năng năng suất cao
− Về khả năng sấy: các tổ hợp lai C.176 x CB2, C.176 x LS, K.346 x LS có
tỷ lệ lá sấy cấp 1+2 cao nổi trội (39,6 đến 43,9%) và dòng T1-1 có tỷ lệ lá cấp 1+2 cao hơn giống đối chứng C.176 (26,0) là những giống có triển