1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu

103 678 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao P6, P290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Tác giả ThS. Phạm Đình Phục
Trường học Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
Chuyên ngành Khoa học công nghệ
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Dự án thuộc chương trình Khoa học Công nghệ trọng điểm cấp nhà nước, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực KC.06, được thực hiện

Trang 1

Bé khoa häc vµ c«ng nghÖ

ViÖn c©y l−¬ng thùc vµ c©y thùc phÈm

B¸o c¸o tæng kÕt khoa häc vµ kü thuËt dù ¸n THUéC CH¦¥NG TR×NH Khcn TRäNG §IÓM CÊP NHµ N¦íC

Tªn dù ¸n:

Hoµn thiÖn qui tr×nh c«ng nghÖ s¶n xuÊt

h¹t gièng vµ th©m canh hai gièng lóa

chÊt l−îng cao P6, P290 phôc vô néi tiªu vµ xuÊt khÈu

Mã số: KC.06.DA04/06-10

Chñ nhiÖm Dù ¸n: ThS Ph¹m §×nh Phôc C¬ quan Chñ tr×: ViÖn C©y l−¬ng thùc vµ CTP C¬ quan chñ qu¶n: Bé Khoa häc vµ C«ng nghÖ

7574

30/11/2009

H¶i D−¬ng, 3-2009

Trang 3

GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

1.1 Hạt giống tác giả là hạt giống thuần do tác giả chọn, tạo ra

1.2 Hạt giống siêu nguyên chủng là hạt giống được nhân ra từ hạt giống tác giả

hoặc phục tráng từ hạt giống sản xuất theo qui trình phục tráng hạt giống siêu nguyên chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo qui định

1.3 Hạt giống siêu nguyên chủng là hạt giống được nhân ra từ hạt giống siêu

nguyên chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo qui định

1.4 Hạt giống xác nhận là hạt giống được nhân ra từ hạt giống nguyên chủng

và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo qui định

Trang 4

TÓM TẮT

Dự án thuộc chương trình Khoa học Công nghệ trọng điểm cấp nhà nước, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực (KC.06), được thực hiện trong thời gian tháng 1/2007-12/2008 với đối tượng nghiên cứu là hai giống lúa P6 và P290

Mục đích: Hoàn thiện được qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai

giống lúa chất lượng cao P6, P290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu

Sản xuất hạt giống tác giả, giống siêu nguyên chủng, giống nguyên chủng, giống xác nhận và hoàn thiện qui trình canh tác các giống lúa P6, P290 tại vùng ĐBSH và Bắc Trung bộ Sản xuất được 6 tấn hạt giống siêu nguyên chủng, 120 tấn hạt giống nguyên chủng và 560 tấn hạt giống xác nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng cung cấp cho sản xuất và

500 tấn thóc thương phẩm

Hoàn thiện quy trình thâm canh, xây dựng được 100 ha mô hình sản xuất thử nghiệm và chuyển giao quy trình công nghệ sản xuất và thâm canh hai giống lúa P6, P290 vào sản xuất; đảm bảo năng suất đạt năng suất cao và ổn định (5,5 - 7,0 tấn/ha/vụ) cho ba vùng điển hình: vùng thâm canh chủ động nước tại ĐBSH, vùng Thanh Hoá, Nghệ An, và vùng từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị

Phối hợp với một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ để nhân rộng diện tích sản xuất

2 giống lúa trên tiến đến công nhận chính thức giống P290

Phương pháp: Để thực hiện được mục tiêu trên cơ quan chủ trì và các cơ quan tham gia phối hợp Dự án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu thông dụng và phương pháp chuẩn để tiến hành thực hiện các thí nghiệm hoàn thiện công nghệ sản xuất hạt giống và xây dựng quy trình thâm canh 2 giống lúa P6, P290, tổ chức xây dựng các mô hình thâm canh, kết hợp với tập huấn và đào tạo cán bộ công nghệ và kỹ thuật viên sản xuất hạt giống Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, quảng cáo giống bằng cách tổ chức các hội nghị đầu bờ thúc đẩy công tác phát triển giống vào sản xuất

Kết quả : Dự án đã hoàn thiện được Quy trình thâm canh đạt năng suất 6-7 tấn/ha/vụ

và Quy trình sản xuất giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận của hai giống lúa P6 và P290; sản xuất được 6.582 kg hạt giống SNC; 162,52 tấn hạt giống NC ; 793,8 tấn hạt giống XN của hai giống P6 và P290; 550 tấn thóc thương phẩm ; 50 lượt kỹ thuật viên sản xuất giống, tập huấn kỹ thuật cho 1000 lượt nông dân

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Lúa là một trong ba loại cây lương thực chính trên toàn thế giới (lúa mì, lúa nước và ngô), khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính

và 25% dân số sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hàng ngày.[25]

Ở châu Á và khu vực Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) coi lúa gạo là cây trồng truyền thống Việt Nam là một trong năm nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới Năm 2006, Việt Nam đã xuất khẩu 4,75 triệu tấn gạo với giá trị 1,2 tỷ USD.[27]

Tuy nhiên trong những năm vừa qua, sản xuất lúa gạo ở nước ta chủ yếu tập trung vào hướng năng suất cao nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước Vì vậy, nhiều giống lúa có năng suất cao đã được chọn tạo (C71, DT10, X21, Xi23, ĐB6…) và đáp ứng được nhu cầu sản xuất đồng thời đảm bảo được vấn đề an ninh lương thực của nước ta

Bên cạnh thành tựu đã đạt được, ngành sản xuất lúa gạo còn có những tồn tại cần giải quyết như: chất lượng gạo thấp, chưa đáp ứng tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu (chiều dài hạt gạo, độ trong, mùi thơm…) Do đó, giá trị gạo xuất khẩu của nước ta thường thấp hơn so với gạo Thái Lan cùng chủng loại Giá gạo của nước ta thấp hơn so với gạo Thái Lan từ 25 - 30 USD/tấn và thấp hơn nhiều so với gạo của

Mỹ, Nhật, Pakistan Trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo có chất lượng cao ở các nước phát triển là rất lớn như: Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, các nước Trung Đông [14]

Đa phần các giống lúa chất lượng cao hiện nay là các giống lúa đặc sản của địa phương như: Tám xoan Hải Hậu, Dự, Nàng thơm chợ Đào, nàng Hương, các giống lúa nương Các giống này có ưu điểm là cơm dẻo, đậm, có mùi thơm, thích ứng tốt với điều kiện sinh thái khác nhau của nước ta Tuy nhiên, các giống lúa này

có nhược điểm: cao cây, thời gian sinh trưởng dài, cây yếu dễ đổ, chống chịu sâu bệnh kém …

Trang 6

Tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, cho đến thời điểm hiện tại chưa có một giống lúa nào đạt tiêu chuẩn xuất khẩu trên cả hai mặt: năng suất và chất lượng Vì vậy, trong những năm tới ngoài đảm bảo an ninh lương thực, các tỉnh đồng bằng sông Hồng cần quy hoạch các vùng lúa chất lượng cao nhằm đảm bảo nhu cầu xuất khẩu và nội tiêu.[14]

Hai giống P6, P290 do Viện Cây lương thực và CTP chọn tạo đã phần nào đáp ứng được mục tiêu trên Hiện nay, hai giống lúa chất lượng cao P6, P290 được sản xuất chấp nhận và phát triển với quy mô hàng ngàn ha ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ Trong

đó, giống P6 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống quốc gia năm 2000 và công nhận giống P290 cho sản xuất thử năm 2005 Các giống lúa nêu trên đã và đang được mở rộng diện tích ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung

bộ, giống lúa P6 có thời gian sinh trưởng (TGST) tương đối ngắn (115 - 120 ngày trong

vụ mùa), thích hợp cho các chân đất vàn, chịu thâm canh, phù hợp cho cơ cấu cây trồng 3 vụ/năm (2 lúa + 1 cây vụ đông) Giống lúa P290 có TGST dài hơn P6, gieo cấy vào trà xuân sớm, thích hợp trên các chân đất vàn hơi trũng (2 vụ lúa/năm) Năng suất của các giống biến động từ 55-70 tạ/ha (tuỳ theo mùa vụ), xấp xỉ năng suất giống lúa Q5, song giá thóc bán trên thị trường luôn cao hơn so với giống Q5 từ 1.000 - 1.200 đồng/1 kg Hiệu quả kinh tế cao hơn giống Q5 khoảng 20-25% Tại thị trường Hải Dương (12/2008) giá thóc P6; P290 là 5.500 – 6.000 đ/kg, trong khi thóc Q5 chỉ có 4.000- 4.500 kg

Nhu cầu thị trường gạo chất lượng cao nói chung trong một số năm gần đây tại các vùng đô thị và khu công nghiệp ngày càng gia tăng, đặc biệt là các thành phố lớn như Thủ

đô Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long (Quảng Ninh), Vinh (Nghệ An) và các đô thị khác trong khu vực, người tiêu dùng đã quen và chấp nhận chất lượng gạo P6, P290 nên khả năng tham gia thị trường lúa gạo của sản phẩm lúa P6 và P290 là rất lớn

Mặc dù được nhiều địa phương đánh giá là những giống lúa có năng suất, chất lượng khá cao song một số năm gần đây ở nhiều khu vực, hai giống lúa nêu trên không phản ánh được tiềm năng năng suất và chất lượng của giống, bởi lẽ ở một số nơi người nông dân vẫn sản xuất lúa theo phương pháp truyền thống, còn duy trì tập quán tự để

Trang 7

giống, giống không được chọn lọc nên chất lượng hạt giống suy giảm, do vậy năng suất

và chất lượng gạo không thể hiện đúng bản chất và tiềm năng của giống

Tại một số địa phương, trong quá trình sản xuất, tỉ lệ cây phân ly khác dạng của các giống lúa P6 và P290 khá lớn (2-3%), do chưa được đầu tư chọn lọc, duy trì và sản xuất hạt giống chưa tuân thủ theo đúng quy trình nên chất lượng hạt giống giảm, mặt khác

kỹ thuật canh tác hai giống lúa nêu trên cũng được áp dụng một cách tùy tiện, phương pháp bón phân và liều lượng bón không phù hợp, tỷ lệ N:P:K không cân đối, chủ yếu vẫn tập trung nhiều về phân đạm, ít chú trọng tới ka ly, chưa có tập quán dùng phân bón N:P:K tổng hợp; kỹ thuật làm đất, chế độ tưới tiêu chưa phù hợp với những đòi hỏi riêng biệt của giống nên năng suất và chất lượng hạt giống bị suy giảm Nếu chúng ta có được các qui trình kỹ thuật nhân giống và canh tác hợp lý, phù hợp cho mỗi tiểu vùng sinh thái

và tập quán canh tác khác nhau thì sẽ phát huy hết tiềm năng năng suất, chất lượng của giống Mặt khác, do điều kiện kinh phí hạn hẹp nên việc xây dựng các mô hình trình diễn,

áp dụng các biện pháp kỹ thuật đồng bộ nhằm mở rộng diện tích giống trong sản xuất cũng còn nhiều hạn chế Nhiều địa phương còn gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận các tiến

bộ kỹ thuật mới

Để duy trì chất lượng hạt giống lúa P6 và P290 theo tiêu chuẩn Việt Nam, cần thực hiện tốt các khâu sản xuất hạt giống như duy trì hạt giống tác giả, sản xuất hạt giống cấp siêu nguyên chủng, nguyên chủng và xác nhận

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nhằm phát triển và mở rộng diện tích hai giống lúa

nêu trên, việc đề xuất và thực hiện dự án “Hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao P6, P290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu” là hết sức cần thiết

Trang 8

LỜI CẢM ƠN

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa thuần thuộc Viện Cây lương thực và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam-Đơn vị chủ trì Dự án xin chân thành cảm ơn Bộ Khoa học và Công nghệ đã giúp đỡ chúng tôi về định hướng xây dựng và dự toán kinh phí Dự án; thường xuyên quan tâm tư vấn để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện

CTP-Chúng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

đã quản lý và thường xuyên kiểm tra, đánh giá và đôn đốc chúng tôi thực hiện tốt các nội dung của Dự án này

Xin cảm ơn Ban Giám đốc Viện Cây lương thực và CTP, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, các phòng, ban quản lý của Viện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa thuần thực hiện thành công Dự án

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo các Sở Nông nghiệp Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị đã nhiệt tình phối hợp chặt chẽ với đơn vị chủ Dự án để hoàn thành tốt các nội dung khoa học của Dự án

Xin cảm ơn sự nhiệt tình, tích cực tham gia thực hiện của các cán bộ và nông dân các địa phương tham gia vùng Dự án

Xin trân trọng cảm ơn!

Hải Dương, ngày 05 tháng 04 năm 2009

CHỦ NHIỆM DỰ ÁN

Phạm Đình Phục

Trang 9

THÔNG TIN CHUNG VỀ DỰ ÁN

i) Tên Dự án: “Hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh 2 giống

lúa chất lượng cao P6, P290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”

Mã số: KC.06.DA04/06-10

ii) Thời gian thực hiện: 24 tháng (từ tháng 01/2007 - đến tháng 12/2008)

iii) Cấp quản lý : Nhà nước Thuộc chương trình: KC.06/06-10 iv) Tổng vốn thực hiện Dự án: 5.530,7 triệu đồng, trong đó:

+ Từ ngân sách sự nghiệp khoa học: 1.700,0 triệu đồng

+ Vốn từ nguồn khác (của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp): 3.830,7 triệu đồng + Kinh phí thu hồi: 1.020,0 triệu đồng (40 % kinh phí hỗ trợ từ ngân sách SNKH)

v) Chủ nhiệm Dự án

1/ Họ và tên: Nguyễn Trọng Khanh (giai đoạn 1/2007-7/2008)

Năm sinh: 1964 Nam/Nữ: Nam

Học vị: Thạc sĩ Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên chính Chức vụ: Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển lúa thuần

E-mail: mr_khanh_hd@yahoo.com

Điện thoại: Cơ quan: 0320 3716928; Nhà riêng: 0320 3853735;

Mobile: 0912180595

2./ Họ và tên: Phạm Đình Phục (giai đoạn 8/2008-12/2008)

Năm sinh: 1953 Nam/Nữ: Nam

Học vị: Thạc sĩ Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên chính Chức vụ: Trưởng phòng Khoa học và hợp tác quốc tế

Chủ nhiệm Dự án theo Quyết định số 1853/QĐ-BKHCN ngày 26/8/2008

E-mail: phamdinhphuchtqt@gmail.com

Điện thoại: Cơ quan: 0320 3716384; Nhà riêng: 0320 3841963

Mobile: 0904465379

vi) Tổ chức chủ trì thực hiện Dự án

Tên tổ chức chủ trì Dự án: Viện Cây lương thực và cây thực phẩm

Điện thoại: 0320 3716 463 Fax: 0320 3716 385 E-mail: vcltctp@fpt.vn

Địa chỉ: Liên Hồng, Gia Lộc, Hải Dương

Họ và tên thủ trưởng cơ quan: PGS.TS Nguyễn Trí Hoàn

Số tài khoản:

Ngân hàng: Ngân hàng Nông nghiệp huyện Gia Lộc, Hải Dương

Trang 10

vii) Tên cơ quan chủ quản dự án: Bộ Khoa học và Công nghệ

viii) Tổ chức chịu trách nhiệm về công nghệ

Tên tổ chức chịu trách nhiệm về công nghệ: Viện Cây lương thực và CTP

Điện thoại: 0320 3716 463 Fax: 0320 3716 385 E-mail: vcltctp@fpt.vn

Địa chỉ: Liên Hồng, Gia Lộc, Hải Dương

Họ và tên thủ trưởng cơ quan: PGS.TS Nguyễn Trí Hoàn

Người chịu trách nhiệm chính về công nghệ của Dự án: ThS Nguyễn Trọng Khanh

ix) Tổ chức khác

Xí nghiệp Giống cây trồng Nam Sách

Điện thoại: 0320 3754 854 Fax: 0320 3754 845

Địa chỉ: xã Quốc Tuấn, Nam Sách

Họ và tên thủ trưởng cơ quan: KS Nguyễn Hữu Cảnh

6 KS Nguyễn Hữu Cảnh Xí nghiệp giống CT Nam Sách 6 tháng

xi) Xuất xứ

- Giống lúa P6 có nguồn gốc từ tổ hợp lai IR2588/ Xuân số 2 kết hợp nuôi cấy bao phấn và được công nhận là giống quốc gia năm 2000 theo Quyết định số 5218/ BNN-KHCN ngày 16/11/2000, là kết quả nghiên cứu của Đề tài độc lập cấp nhà nước giai

Trang 11

đoạn (1997-2000) với tên đề tài : "Nghiên cứu chọn tạo giống lúa có hàm lượng protein

cao cho vùng thâm canh"

- Giống lúa P290 được chọn lọc từ tổ hợp lai DC1/IR24, đã được công nhận tạm thời theo Quyết định số 3277/ BNN-KHCN ngày 23/11/2005, là kết quả nghiên cứu của

Đề tài độc lập cấp nhà nước giai đoạn (2002-2005) với tên đề tài: "Nghiên cứu chọn tạo

giống lúa có hàm lượng protein cao cho vùng thâm canh và vùng khô hạn"

xii) Mục tiêu

+ Hoàn thiện được quy trình công nghệ sản xuất hạt giống cấp siêu nguyên chủng (SNC), nguyên chủng (NC), xác nhận (XN) và quy trình thâm canh của 2 giống lúa P6 và P290

+ Sản xuất 6 tấn hạt giống siêu nguyên chủng, 120 tấn hạt giống nguyên chủng, 560 tấn hạt giống xác nhận của hai giống P6, P290 cung cấp cho nhu cầu của sản xuất

+ Xây dựng 100 ha mô hình thâm canh và phối hợp mở rộng diện tích sử dụng các giống lúa P6, P290 ở các tỉnh ĐBSH, Bắc Trung bộ

xiii) Nội dung

+ Hoàn thiện quy trình sản xuất hạt giống cấp SNC, NC và XN của 2 giống P6 và P290

+ Sản xuất được 6 tấn hạt giống siêu nguyên chủng, 120 tấn hạt giống nguyên chủng

và 560 tấn hạt giống xác nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng cung cấp cho sản xuất, và sản xuất được 500 tấn thóc thương phẩm

+ Hoàn thiện quy trình thâm canh của 2 giống lúa P6, P290 đạt năng suất cao và ổn định 5,5-7,0 tấn/ha/vụ trên cơ sở các thí nghiệm xác định thời vụ, mật độ cấy và liều lượng phân bón, phương thức và thời vụ gieo mạ

+ Xây dựng mô hình sản xuất thâm canh đạt năng suất cao

+ Tập huấn quy trình sản xuất giống lúa, quy trình sản xuất thâm canh cho kỹ thuật viên và nông dân tham gia vùng dự án

xiv) Sản phẩm của Dự án

+ Quy trình sản xuất hạt giống P6, P290 cấp SNC, NC, XN đạt tiêu chuẩn chất lượng

Trang 12

+ Nhân được 6 tấn hạt giống SNC, 120 tấn giống NC, 560 tấn giống lúa XN với chất lượng đạt tiêu chuẩn 10TCVN 1776-2004 để phục vụ sản xuất

+ Quy trình kỹ thuật thâm canh của hai giống lúa P6 và P290 đạt năng suất cao, ổn định (60-70 tạ/ha/vụ) cho các vùng thâm canh lúa của các tỉnh ĐBSH và Bắc Trung bộ

xv) Xây dựng mô hình: Xây dựng các mô hình sản xuất lúa thương phẩm với quy mô 100

ha mô hình, với diện tích 5-15 ha/mô hình, năng suất đạt 55-70 tạ/ha/vụ

xvi) Đào tạo và tập huấn: Đào tạo, chuyển giao quy trình công nghệ sản xuất hạt giống và

quy trình kỹ thuật thâm canh 2 giống lúa P6, P290 cho 50 kỹ thuật viên, 1000 lượt nông dân

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

Lúa gạo là nguồn lương thực của hơn một nửa dân số thế giới Tại Châu Á, gạo là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu, nó đóng góp 56,2% năng lượng, 42,9% Protein và cung cấp tới 29,8% hàm lượng sắt trong bữa ăn hàng ngày (FNRI, 1984) Vì vậy, chất lượng gạo được rất nhiều người quan tâm đặc biệt ở các nước lấy gạo là cây lương thực chính Tuy nhiên chất lượng gạo vẫn còn đang gây ra nhiều tranh luận về nội dung và đặc biệt là các tiêu chuẩn cụ thể của nó Tại các quốc gia khác nhau đều có phương pháp đánh giá và hệ thống kiểm tra riêng biệt Các hệ thống này thường không thống nhất với nhau điều này đã gây không ít trở ngại cho việc mậu dịch gạo trên thế giới đặc biệt cho việc thiết lập kế hoạch sản xuất lúa gạo chất lượng cao [1]

Tuy nhiên tuỳ theo truyền thống ẩm thực và thu nhập của mỗi quốc gia và các bộ phận dân cư khác nhau mà yêu cầu về chất lượng gạo cũng khác nhau

Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT (năm 2000)[2] thị trường lúa gạo thế giới có một

số đặc điểm chính như sau

- Thị trường gạo hạt dài chất lượng cao là thị trường gạo cao cấp, sản phẩm trực tiếp của chủng loại lúa gạo Indica có giá trị cao Các giống Indica với đặc trưng là hạt gạo dài, trong được coi là giống có chất lược cao chiếm khoảng 25% thi phần tiêu thụ gạo trong thị trường lúa gạo thế giới Loại gạo này được tiêu thụ tại các thị trường gạo khó tính trước hết là các nước phát triển khu vực Tây Âu, Bắc Mỹ

- Thị trường gạo hạt dài chất lượng trung bình chiếm khoảng 45- 50% tổng lượng gạo nhập khẩu thế giới phần lớn do Thái Lan cung cấp với tỷ lệ tấm từ 5-25% Những nước xuất khẩu khác sau Thái Lan là Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan Thị trường tiêu thụ chính loại gạo này là những nước Châu Phi, Châu Á, Mỹ La Tinh

Trang 14

- Thị trường gạo hạt tròn chiếm khoảng 10% xuất khẩu gạo của thế giới Loại gạo này hầu hết thuộc chủng loại Japonica Những nước nhập khẩu chính thuộc khu vực Châu Á- Thái Bình Dương như Nhật Bản, Hàn Quốc

- Trong khi đó loại gạo đồ hấp lại được đại bộ phận người dân Bangladesh, một phần người dân Ấn Độ, Srilanca, Pakistan, Nam Phi, Tây Phi, Ả Rập và Nigenia ưa dùng Loại gạo này chiếm 15- 20% tổng lượng nhập khẩu toàn cầu

- Đối với thị trường gạo thơm đặc sản tuy chỉ chiếm 5-8% tiêu thụ gạo thế giới nhưng thị trường này lại có ý nghĩa kinh tế quan trọng vì gạo thơm đặc sản có giá trị dinh dưỡng cao và giá xuất khẩu thường gấp từ 2-3 lần gạo thông thường Hiện nay trên thế giới có một số loại gạo thơm khá nổi tiếng đem lại giá trị cao cho người sản xuất những giống đặc sản này điển hình là gạo thơm basmati được canh tác ở các vùng Punjab- ấn Độ

và ở Pakistan, gạo thơm Khadawkmali được sản xuất ở Thái Lan Thị trường tiêu thụ gạo thơm đặc sản là những nước phát triển có thu nhập cao một số nước Châu á, Châu Mỹ La Tinh

Nghiên cứu về thị trường và nhu cầu về chất lượng gạo xuất khẩu của thế giới, đặc biệt là các nước nhập khẩu gạo chính giúp chúng ta định hướng đúng đắn trong công tác chọn tạo giống lúa mới chất lượng cao nhằm nâng cao giá gạo xuất khẩu từ đó nâng cao mức thu nhập của người dân trồng lúa

Chất lượng gạo là một khái niệm khá phức tạp Khái niệm này liên quan tới nhiều yếu tố: chiều dài hạt gạo, độ trong của hạt, tỷ lệ bạc bụng, hàm lượng protein, hàm lượng amylose… (Flin và Unnevehs, 1985).[27]

* Chiều dài hạt gạo

Theo Ramiah (1931) hạt gạo dài do 1 gen kiểm tra Bollich (1957) cho rằng chiều dài hạt gạo do 2 gen kiểm tra Ramiah và Parthasarathy (1933) lại cho rằng chiều dài hạt gạo do 3 gen tạo thành Một số tác giả khác cho rằng chiều dài hạt gạo do nhiều gen quy định (Mitro, 1962; Chary, 1974; Nabatat và Jackson, 1973; Somrith và cộng sự, 1971) Các tác giả này cũng cho rằng chiều rộng hạt gạo do nhiều gen kiểm tra.[14]

Virmani (1994) đã chứng minh: chiều dài, chiều rộng hạt gạo, tỷ lệ dài/rộng của hạt di truyền trung gian giữa hai bố, mẹ

* Độ bạc bụng của hạt gạo

Trang 15

Các kết quả nghiên cứu của USDA (1973) chỉ ra rằng tính bạc bụng của hạt được kiểm tra bởi một gen đơn, lặn hay bởi một gen trội (Nagai, 1958) và đa gen (Nabatat và Jackson, 1973; Somoto và Hamamura, 1973; Somrith và cộng sự, 1971) [25]

Nội nhũ trong hay đục do sự hiện diện của các gen kiểm tra hàm lượng amylose ở các mức độ khác nhau Khi giống chứa gen WX3 hàm lượng amylose < 2% thì nội nhũ đục hoàn toàn Nếu hàm lượng amylose biến thiên từ 2- 32% thì nội nhũ sẽ trắng đục (Dull), trắng trong (Hazy) và trong (Translusent), (Khush và cộng sự, 1986).[25]

Theo B.Somrith: hàm lượng amylose là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nấu nướng và ăn uống Gạo của các giống lúa được phân loại theo hàm lượng amylose như sau:

Rất dẻo Mềm và dẻo Mềm Khô và cứng

* Hàm lượng protein

So với những cây lương thực khác, cây lúa có hàm lượng protein trong hạt ít nhất (6-8%) Protein trong gạo gồm có 4 tiểu phần: anbumin, globulin, prolanin và glutelin, trong đó glutelin chiếm tới 93,7% Các axit amin tự do được phân phối như sau: trong cám và bột 30%, trong phôi 53%, trong gạo xát 17% (Moruzzi, Cafdarera, 1964) Trong các nghiên cứu khác, Tmura và Kenmochi (1963) cho rằng axit amin tự do chiếm khoảng 0,7% khối lượng gạo lật, 0,2% gạo xát, 1,35% trong cám và 4,6% trong phôi.[3]

Trang 16

Kết quả phân tích nhiều dòng, giống lúa tại Viện Nghiên cứu lúa quốc tế cho thấy khoảng 25% những thay đổi hàm lượng protein là do yếu tố di truyền quyết định Trong hai loài phụ của lúa trồng thì loài phụ Indica có hàm lượng protein cao hơn loài phụ Japonica.[46]

Theo Kido và cộng sự, những giống lúa ngắn ngày có hàm lượng protein cao hơn những giống lúa dài ngày Những giống lúa trồng ở vùng đồng bằng có hàm lượng protein cao hơn những giống lúa trồng ở vùng đồi núi (Swaminathan, 1971) Trong cùng một giống lúa, những hạt nhỏ có hàm lượng protein cao hơn những hạt to hơn (Nagato, 1972) [47]

ở Bangladesh, Ahmod (1969) nhận xét: Hàm lượng protein trong hạt và rơm rạ tăng khi bón tăng lượng đạm vào đất hoặc tăng độ sâu của lớp nước tưới Viện Nghiên cứu nông nghiệp Kosbhat, Chavan và cộng sự (1972) nhận thấy: cả hai giống lúa Jaza và Padma đều có hàm lượng protein tăng lên rõ rệt khi được bón phân dù trên cạn hay dưới nước.[14]

Yoshida cho biết: ở Nhật Bản kết quả điều tra cho thấy lúa cạn có hàm lượng protein trong hạt cao hơn lúa nước Tại Trường Đại học Iwate của Nhật Bản, tiến hành thí nghiệm trong 7 năm (1963-1969) với 33 giống lúa chuyển từ Hokkaido va Tohoko về trồng trên cùng ruộng và theo dõi hàm lượng protein Honjyo nhận thấy hàm lượng protein của cùng một giống thay đổi qua từng năm, điều này chứng tỏ điều kiện thời tiết

có ảnh hưởng lớn tới sự tích lũy hàm lượng protein trong gạo.[14]

Các nghiên cứu của A Nakamura, H Hirano, F Kikuchu trên giống lúa Norin 29

đã chỉ ra gen Glu-1 điều khiển khả năng tổng hợp Glutelin, một tiểu phần chủ yếu trong protein hạt gạo Theo ý kiến của Viện sĩ T.T Chang (IRRI) trong tập đoàn các giống lúa của IRRI, giống có hàm lượng protein cao nhất là 13% nhưng hạt rất nhỏ, không cho năng suất đáng kể.[14]

* Hương thơm

Ramiah và Rao (1953) cho rằng hương thơm ở gạo có được nhờ sự khác nhau của

tỷ lệ trội: lặn là 9:7; 15:1; 13:3 Nagaraju và cộng sự (1975), Raghuram Redy và cộng sự (1981) cho rằng tính thơm được kiểm tra bởi sự có mặt của đồng thời 3 gen trội bổ sung

và có tác dụng ngay từ thời kì sinh trưởng sinh dưỡng Sood và Siddig (1978) thấy rằng tính thơm do cặp gen lặn điều khiển hoạt động ở cả lá và hạt Còn Tomar và Nanda (1983) cho rằng tính thơm được kiểm tra bởi 2 hoặc 3 gen bổ sung.[25]

Trang 17

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Trong những năm gần đây, việc gieo trồng các giống lúa mới có tiềm năng năng suất cao và thay đổi cơ cấu cây trồng là những nhân tố cơ bản dẫn đến mức tăng nhanh về năng suất và sản lượng lúa Việt Nam đã thu được các thành tựu lớn Hàng loạt các giống lúa thâm canh, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, khả năng thích ứng rộng đã được đưa vào sản xuất, góp phần làm tăng nhanh năng suất và sản lượng lúa trên toàn quốc Các nhà chọn tạo giống lúa Việt Nam trong thời gian gần đây đã tập trung vào việc chọn tạo các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, có nhiều ưu điểm về khả năng chống chịu với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, cải thiện được chất lượng gạo và đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng dinh dưỡng trong gạo

Công tác chọn tạo giống lúa của Việt Nam vào những thập niên cuối của thế kỷ XX

đã có những định hướng mới: Tập trung vào việc chọn tạo các giống lúa ngắn ngày, chịu thâm canh, năng suất cao; các giống lúa chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất thuận (chịu hạn, phèn mặn, ngập úng ); các giống lúa ngắn và trung ngày năng suất chất lượng cao thích hợp cho nội tiêu và xuất khẩu Đặc biệt là các giống lúa chất lượng, có hàm lượng protein trong gạo cao (từ 10 - 11%, trong khi các giống lúa thông thường chỉ đạt 7 - 8%) đã được GS.VS Vũ Tuyên Hoàng khởi xướng và là tác giả của một số giống lúa mới như P4, P6, P290 Sản phẩm gạo của các giống lúa này đã đóng góp tích cực trong việc bổ sung một khối lượng đạm cần thiết từ thực vật cho con người, nhất là những đồng bào nghèo ở vùng sâu, vùng xa, những người lao động có thu nhập thấp còn đang thiếu thốn về thực phẩm

* Hình dạng hạt

Theo Nguyễn Thị Trâm (1998) cho rằng: hình dạng hạt gạo là đặc tính của giống

và tương đối ổn định Nó ít bị thay đổi dưới điều kiện ngoại cảnh Sau khi nở hoa, nhiệt

độ môi trường hạ thấp có thể làm giảm chiều dài hạt gạo nhưng không nhiều.[29]

Khi nghiên cứu về vấn đề này, Bùi Huy Đáp (1970) cho biết: tỷ lệ dài/ rộng (D/R) phản ánh một phần phẩm chất của hạt.[25]

* Độ bạc bụng của hạt

Có rất nhiều nghiên cứu về di truyền tính trạng bạc bụng Sự di truyền tính trạng này chịu sự chi phối của điều kiện ngoại cảnh nhưng không nhiều Có một số giống không bạc

Trang 18

bụng trong mọi điều kiện như IR22 Trong khi đó, một số giống lại bạc bụng trong mọi điều kiện như IR8 Còn theo Lê Doãn Diên (1990) cho rằng: độ bạc bụng của hạt do nhiều gen điều khiển Vì thế ngoài tác động cộng tính còn có tác động tương hỗ giữa các gen.[3]

Vũ Quốc Trung và Bùi Huy Thanh (1979) khi nghiên cứu về nội nhũ của hạt cho biết: các giống lúa có hạt dài thì có nội nhũ trắng trong, các dòng hạt bầu thường có nội nhũ trắng đục Các tác giả còn cho biết: Lúa cấy ở ruộng quá nhiều nước hay ruộng bị hạn khi chín gạo dễ bị bạc bụng Kỹ thuật phơi thóc cũng ảnh hưởng đến độ trong, đục của nội nhũ Thóc phơi nắng quá sẽ làm hạt gạo đục hơn thóc phơi khô từ từ trong nắng nhẹ.[13]

* Tỷ lệ gạo nguyên

Cũng theo Lê Doãn Diên (1990) thì tỷ lệ gạo nguyên thay đổi ít nhiều tuỳ theo bản chất giống và phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh như: nhiệt độ, độ ẩm khi chín, điều kiện bảo quản, phơi sấy khi thu hoạch Hạt càng mảnh, dài, độ bạc bụng cao thì tỷ lệ gạo nguyên càng thấp Khi thu hoạch lúa phải xác định đúng thời điểm chín sinh lý thì mới đạt được tỷ lệ gạo nguyên cao.[2]

* Độ phá huỷ kiềm và nhiệt độ hoá hồ

Nhiệt độ hoá hồ là nhiệt độ cần thiết để gạo biến thành cơm và không hoàn nguyên Nhiệt độ hoá hồ biến thiên từ 55oC – 79oC và phân theo ba mức:

* Hàm lượng amylose

Khi nghiên cứu chất lượng gạo của một số giống lúa địa phương và nhập nội ở miền Bắc Việt Nam Nguyễn Văn Hiển (1992) cho rằng nhóm giống nhập nội có hàm

Trang 19

lượng tinh bột cao nhất và thấp nhất là nhóm lúa Dự Các giống nhập nội phần lớn có hàm lượng amylose từ trung bình đến cao, nhiệt độ hoá hồ cao Các nhóm lúa đặc sản có hàm lượng amylose ở mức trung bình đến thấp Lúa gieo cấy ở vụ mùa cho chất lượng gạo ngon hơn so với vụ xuân.[8]

Hàm lượng amylose có tương quan tương đối chặt chẽ với đặc điểm nông sinh học của các giống lúa như: chiều cao cây, chiều dài bông, khối lượng 1000 hạt Hàm lượng amylose thấp có tỷ lệ gẫy cao, độ dẻo và độ dính cao (Vũ Văn Liết,1995) [15]

Kết quả khảo nghiệm các giống lúa mới của Trung tâm Khảo, kiểm nghiệm giống cây trồng Trung ương năm 2004 cho thấy đa phần các giống lúa mới có hàm lượng amylose từ 15-25%.[23]

Khi nghiên cứu hàm lượng amylose của các giống lúa đặc sản, Nguyễn Hữu Nghĩa cho rằng: các giống lúa đặc sản có hàm lượng amylose trung bình như: Nàng thơm chợ Đào (22,07%), nhỏ thơm (22,5%) hàm lượng amylose thấp: Thơm lúa mùa (5,56%), Bằng tây mề (8,91%) Tuy nhiên, các mẫu giống của cùng một giống cũng có hàm lượng amylose khác nhau Do vậy, việc chọn lựa giống có hàm lượng amylose thấp cần phải xem các mẫu giống để từ đó có vật liệu mong muốn phục vụ cho cải tiến giống [16]

Còn theo Nguyễn Trọng Khanh (2002) cho thấy: các giống nhập nội từ IRRI có hàm lượng amylose từ 15-25% Mối tương quan giữầ hàm lượng amylose và độ nở của cơm là mối tương quan thuận và chặt (r = 0,5) Gạo có hàm lượng amylose thấp thì cơm

sẽ kém nở, nếu hàm lượng amylose cao thì cơm sẽ nở nhiều Như vậy, nên chọn các giống lúa có hàm lượng amylose trung bình thì cơm sẽ nở vừa phải [14]

Cũng theo Nguyễn Trọng Khanh, khi nghiên cứu về mối tương quan giữa hàm lượng amylose và khối lượng 1000 hạt, tỷ lệ lép và năng suất thực thu là mối tương quan không chặt (r = 0,2), có thể chúng di truyền độc lập với nhau [14]

* Hàm lượng protein

Hàm lượng protein là một trong những yếu tố quyết định chất lượng của gạo Sau tinh bột – thành phần chủ yếu và chiếm tỷ trọng cao nhất (74,8%) trong thành phần dinh dưỡng của hạt gạo, là đến protein

Lượng chứa protein trong hạt gạo của các giống lúa Việt Nam nhìn chung thấp hơn mức trung bình của nhiều nước Trong các giống lúa Việt Nam thì nhóm Tám thơm chứa

Trang 20

ít protein nhất (trung bình 6,52%) còn nhóm lúa nếp chứa nhiều protein hơn (7,94%) ( Bùi Huy Đáp, 1980).[14]

Nghiên cứu hàm lượng protein của 690 giống lúa thu thập tại Việt Nam bao gồm lúa cổ truyền, lúa cải tiến, lúa nhập nội và lúa lai, hàm lượng protein biến thiên trong một giới hạn khá rộng từ 5,29% đến 12,84% (Lê Doãn Diên, 2002).[2]

Đánh giá hàm lượng protein của 200 mẫu giống lúa mùa, Nguyễn Hữu Nghĩa và

Lê Vĩnh Thảo (2006) đã phân ra làm 6 nhóm khác nhau theo phần trăm protein của hạt gạo Trong đó, hai giống lúa thơm Nàng hương và Nàng thơm chợ Đào có hàm lượng protein trên 10% [5]

Cũng nghiên cứu về hàm lượng protein trong các giống lúa nhập nội từ IRRI, Nguyễn Trọng Khanh thấy rằng: đa số các giống đều có hàm lượng protein khá cao (> 9%), có giống hàm lượng protein lên đến 11,4%.[14]

* Mùi thơm

Mùi thơm là một tính trạng số lượng, nó dễ bị mất đi sau một thời gian bảo quản trong kho Mùi thơm do các hợp chất hoá học tạo nên như: este, xeten, aldehyt (Lê Doãn Diên,1981)[2]

Trần Đình Long và Hoàng Văn Phần (1996) quan sát thấy tính thơm do cặp gen lặn điều khiển hoạt động ở cả lá và hạt Còn Đỗ Khắc Trình (1994) xác định: tính trạng mùi thơm do 2 hoặc 3 gen kiểm tra.[25]

Khi nghiên cứu mùi thơm của các giống lúa đặc sản Nguyễn Hữu Nghĩa, Lê Vĩnh Thảo (2006) thấy rằng không có sự chênh lệch giữa mùi thơm trên lá và mùi thơm trên hạt của các giống đặc sản địa phương Tuy nhiên, cũng có những giống lúa chỉ thể hiện mùi thơm trên lá nhưng không có mùi thơm trên hạt và ngược lại.[16]

* Chất lượng nấu nướng

Ngoài tính trạng thon dài, trong suốt, tỷ lệ gạo nguyên cao thì chất lượng nấu nướng và ăn uống cũng rất cần thiết Chất lượng nấu nướng và ăn uống được đánh giá qua các chỉ tiêu: độ mềm, độ dẻo, độ chín, độ bóng, độ rời, mức độ khô lại khi để nguội, mùi thơm, vị đậm ( Viện Công nghệ sau thu hoạch, 1998) [16]

Sản phẩm chính của gạo là cơm, tính ngon miệng của cơm quyết định bởi yếu tố vật lý: độ dẻo, độ mềm và yếu tố hoá học là mùi thơm (Nguyễn Văn Hiển, 1992) [8]

Trang 21

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 MỤC TIÊU

- Hoàn thiện được các quy trình công nghệ sản xuất hạt giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận của 2 giống lúa P6 và P290, đảm bảo sản xuất được hạt giống phẩm cấp cao để cung cấp cho sản xuất Sản xuất được 6 tấn giống cấp siêu nguyên chủng (SNC),

120 tấn giống cấp nguyên chủng (NC), 560 tấn giống lúa cấp xác nhận (XN) và 500 tấn thóc thương phẩm

- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh 2 giống lúa P6, P290 cho các vùng ĐBSH

và Bắc Trung bộ, đảm bảo năng suất đạt 5,5-7,0 tấn/ha

- Xây dựng 100 ha mô hình thâm canh và chuyển giao quy trình công nghệ sản xuất giống và thâm canh hai giống lúa P6, P290 vào sản xuất

- Phối hợp với một số tỉnh thuộc vùng ĐBSH và Bắc Trung bộ để nhân rộng diện tích sản xuất giống lúa P6 và P290

- Hoàn thiện công nghệ sản xuất hạt giống: Cấp siêu nguyên chủng, nguyên chủng

và xác nhận của 2 giống lúa P6 và P290

- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh 2 giống lúa P6 và P290 đạt năng suất 55-70 tạ/ ha/vụ

+ Xây dựng bản mô tả 2 giống lúa P6 và P290

+ Hoàn thiện kỹ thuật làm mạ của 2 giống P6 và P290

+ Hoàn thiện kỹ thuật mật độ 2 giống P6 và P290

+ Hoàn thiện kỹ thuật bón phân của 2 giống P6 và P290

+ Xác định tính thích ứng của giống P6, P290 trên các điều kiện sinh thái khác nhau + Đánh giá mức độ nhiễm rầy, đạo ôn, bạc lá của 2 giống P6 và P290

Trang 22

- Đào tạo và tập huấn cho cán bộ sản xuất giống và nông dân nhằm nâng cao kiến thức về kỹ thuật sản xuất giống lúa (SNC, NC, XN) và kỹ thuật thâm canh giống lúa mới

2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Giống lúa P6 có nguồn gốc từ tổ hợp lai IR2588/ Xuân số 2 kết hợp nuôi cấy bao phấn

và được công nhận là giống quốc gia theo Quyết định số 5218/ BNN-KHCN ngày 16/11/2000,

là kết quả nghiên cứu của Đề tài độc lập cấp nhà nước giai đoạn (1997 - 2000) với tên đề tài :

"Nghiên cứu chọn tạo giống lúa có hàm lượng protein cao cho vùng thâm canh"

Đặc điểm chính: là giống lúa cảm ôn, có thời gian sinh trưởng trong vụ xuân

160-165 ngày, trong vụ mùa 115 -120 ngày Có dạng hình thâm canh, lá đứng gọn Khả năng chống chịu sâu bệnh hại chính Chịu rét rất tốt, vụ đông xuân 2007 - 2008 thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài trong nhiều ngày, tại Hải Dương và một số tỉnh phía Bắc hiện tượng

mạ chết hàng loạt đối với nhiều giống lúa khác Trong khi đó giống lúa P6 mạ vẫn xanh

và đặc biệt nhiều ruộng lúa P6 mới cấy sau khi bén rễ gặp rét đậm kéo dài, sau rét vẫn phục hồi bình thường Giống đã được các địa phương và Bộ Nông nghiệp & PTNT đánh giá là giống lúa chịu rét tốt Giống không những chỉ cho năng suất cao, ổn định mà còn có chất lượng gạo khá, được biểu hiện ở một số đặc trưng, đặc tính chủ yếu sau:

Hạt gạo nhỏ, dài, trong, hàm lượng amylose 19%, cơm mềm, vị đậm, ngon Đặc biệt hàm lượng protein trong gạo = 10,5%, cao hơn hẳn các giống lúa khác - đây sẽ là nguồn đạm thực vật đặc biệt quan trọng bổ sung cho nguồn đạm thiếu hụt từ thực phẩm của đồng bào vùng sâu, vùng xa Năng suất trung bình của giống lúa P6 trong vụ xuân từ 60-65 tạ/ha, vụ mùa 50-55 tạ/ha Đặc biệt giá bán của thóc P6 luôn cao hơn giá sàn các loại khác 25 - 30%

- Giống lúa P290 được chọn lọc từ tổ hợp lai DC1/IR24, đã được công nhận tạm thời theo Quyết định số 3277/ BNN-KHCN ngày 23/11/2005, là kết quả nghiên cứu của

Đề tài độc lập cấp nhà nước giai đoạn (2002 - 2005) với tên đề tài: "Nghiên cứu chọn tạo giống lúa có hàm lượng protein cao cho vùng thâm canh và vùng khô hạn"

Giống lúa P290 có thời gian sinh trưởng trung bình: 180-185 ngày trong vụ xuân, 130-135 ngày trong vụ mùa tại các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng Giống P290 nhiễm nhẹ rầy nâu và bệnh đạo ôn, nhiễm trung bình bệnh khô vằn và bạc lá; chịu rét khá, chống đổ tốt, và thích hợp với các chân đất chủ động tưới tiêu, giầu dinh dưỡng có thể cho năng suất từ 55- 65 tạ/ha ở Đồng bằng Sông Hồng Gạo P290 có chất lượng thương phẩm cao,

Trang 23

hạt gạo dài, trong, chất lượng nấu nướng tốt Hàm lượng protein 10,0% Là giống có nhiều triển vọng phục vụ cho các vùng sản xuất lúa hàng hoá

+ Hai giống lúa P6 và P290 có nhiều đặc tính ưu việt, do vậy nhu cầu giống phục vụ cho sản xuất rất lớn, tuy nhiên độ thuần giống chưa ổn định, chưa có quy trình sản xuất giống của 2 giống này để sản xuất được giống chất lượng cung cấp cho sản xuất, vì vậy lượng giống chất lượng cung cấp cho sản xuất chưa nhiều Vấn đề này đã hạn chế việc phát triển giống rộng rãi ra ngoài sản xuất Chính vì vậy cần phải nghiên cứu được quy trình kỹ thuật sản xuất giống phù hợp, tổ chức sản xuất giống nhằm cung cấp một lượng giống chất lượng cho sản xuất

+ Mặc dù 2 giống được phát triển mạnh ngoài sản xuất nhưng chưa có quy trình kỹ thuật thâm canh để đạt năng suất cao, ổn định

+ Bên cạnh đó, còn thiếu các mô hình trình diễn mang tính thuyết phục cao, công tác thông tin tuyên truyền còn hạn chế, ảnh hưởng tới sự phát triển của giống ngoài sản xuất

2.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Hoàn thiện quy trình sản xuất hạt giống hai giống lúa P6 và P290

Dự án đã thực hiện các thí nghiệm nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất hạt giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng và xác nhận hai giống lúa P6 và P290 Các thí nghiệm được thực hiện ở vụ xuân 2007 và vụ mùa 2008 tại các cơ sở tham gia Dự án

Thí nghiệm 1: Đánh giá xây dựng bản mô tả của hai giống lúa P6 và P290

- Vật liệu: Giống khảo nghiệm: 2 giống lúa P6 và P290

- Địa điểm thí nghiệm: Viện Cây lương thực và CTP, Gia Lộc - Hải Dương

- Thời gian tiến hành: Vụ mùa 2007 và vụ mùa 2008

- Phương pháp: Theo Quy phạm khảo nghiệm giống lúa (10TCN 558-2002)

Thí nghiệm 2: Thí nghiệm chọn lọc thế hệ G0, G1, G2 để duy trì hạt giống tác giả, giống

siêu nguyên chủng và Nghiên cứu độ thuần đồng ruộng và các tính trạng quan trọng ảnh hưởng tới độ thuần của 2 giống lúa P6 và P290

Đánh giá tỷ lệ cây khác dạng và độ biến động một số tính trạng của 2 giống P6 và P290

- Vật liệu thí nghiệm: Giống P6 và P290 nguyên chủng, giống đối chứng là giống lúa thuần cùng trà đã được công nhận chính thức hoặc sản xuất thử

Trang 24

- Địa điểm thí nghiệm: Viện Cây lương thực và CTP, Gia Lộc - Hải Dương

- Thời gian: từ Vụ xuân 2007 đến Vụ mùa 2008

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí tuần tự không nhắc lại, diện tích ô 50 m2

Thí nghiệm 3: Nghiên cứu liều lượng phân bón và mật độ cấy thích hợp trong quy

trình sản xuất giống lúa nguyên chủng của 2 giống P6 và P290

- Vật liệu thí nghiệm: Giống lúa P6, P290 nguyên chủng

- Địa điểm thí nghiệm: Viện Cây lương thực và CTP, Gia Lộc - Hải Dương

- Thời gian: Vụ mùa 2007 và xuân 2008

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Gồm 12 công thức, bố trí theo ô lớn-ô nhỏ plot Design), 3 lần nhắc lại, phối hợp trên 3 liều lượng phân bón và 3 mật độ cấy như sau: Công thức 1: (P1): 90 kg N: 100 kg P2O5: 60 kg K2O

(Split-Công thức 2: (P2): 100 kg N: 100 kg P2O5: 70 kg K2O

Công thức 3: (P3): 110 kg N: 100 kg P2O5: 80 kg K2O

Công thức 4: (P4): 120 kg N: 100 kg P2O5: 90 kg K2O

Đồng thời chọn 3 mật độ cấy: 50 khóm/m2, 55 khóm/m2 và 60 khóm/m2, cấy 1 dảnh 1 khóm

Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến năng suất và khả

năng chống chịu sâu bệnh của hai giống lúa P6 và P290

Thí nghiệm gồm có 2 công thức gieo trồng ở vụ xuân và vụ mùa:

- Tại đồng bằng sông Hồng trong vụ xuân: 2007

+ Công thức 1: gieo mạ 25/11, cấy 25/1

+ Công thức 2: gieo mạ 10/12, cấy 10/2

- Tại đồng bằng sông Hồng trong vụ mùa: 2007

+ Công thức 3: gieo mạ 25/5, cấy 15/6

+ Công thức 4: gieo mạ 10/6, cấy 30/6

- Địa điểm thí nghiệm: Viện Cây lương thực và CTP, Gia Lộc - Hải Dương

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiệm 20 m2, mật độ cấy 55 khóm, cấy 1 dảnh/khóm

- Nền phân bón: vụ Xuân: 8 tấn phân chuồng + 110 kg N + 100 kg K2O + 80 kg K2O

vụ Mùa: 8 tấn phân chuồng + 100 kg N + 100 kg K2O + 70 kg K2O

Trang 25

Thí nghiệm 5: Ảnh hưởng của phương pháp phơi hạt đến tỉ lệ nảy mầm của hai

giống lúa P6 và P290 (vụ xuân 2007)

- Phương pháp A: phơi dày 10cm, thời gian phơi 8-10 giờ (tháng 6/2007)

- Phương pháp B: phơi dày 5cm, thời gian phơi 8-16 giờ (tháng 6/2007)

2.4.2 Hoàn thiện quy trình thâm canh 2 giống lúa P6 và P290

Hai giống lúa thuần P6 và P290 là 2 giống lúa có tiềm năng năng suất cao, có nhiều đặc điểm nông học thích hợp cho thâm canh như: Dạng cây gọn, chiều cao cây trung bình, thân cứng; lá đứng dày, màu xanh đậm, kích thước lá trung bình tạo nên cấu trúc quần thể tốt tăng khả năng quang hợp và đồng hóa của cây Vì vậy cần phải nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thích hợp để phát huy hết tiềm năng năng suất của giống

Dự án đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình thâm canh 2 giống lúa P6 và P290 Các thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), nhắc lại 3 lần diện tích ô thí nghiệm 20-50 m2 (tuỳ theo từng loại thí nghiệm)

Các chỉ tiêu đánh giá theo Quy phạm khảo nghiệm giống lúa 10TCN 558-2002 của

Bộ Nông nghiệp và PTNT

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu phương thức làm mạ thích hợp với hai giống lúa P6 và

P290 trong vụ xuân và vụ mùa

Thí nghiệm gồm 3 công thức đại diện cho các phương thức gieo cấy sau:

+ Vụ mùa 2007

Công thức 1: Gieo mạ dược (gieo ngày 10/6, cấy ngày 30/6/2007)

Công thức 2: Gieo mạ sân (gieo ngày 15/6, cấy ngày 28/6)

Công thức 3: Gieo vãi (gieo ngày 15/6)

+ Vụ xuân 2008

Công thức 1: Gieo mạ dược (gieo ngày 10/12, cấy ngày 10/2/2008)

Công thức 2: Gieo mạ sân (gieo ngày 20/1, cấy ngày 20/2 (do điều kiện rét đậm, rét

hại nên thời gian từ gieo đến cấy kéo dài hơn bình thường))

Công thức 3: Gieo vãi (gieo ngày 1/2)

Địa điểm: Viện Cây lương thực – CTP, Gia Lộc – Hải Dương

Nền phân: Vụ xuân: 8 tấn phân chuồng , 110 kg N + 100 kg K2O + 80 kg K2O

Vụ mùa: 8 tấn phân chuồng , 100 kg N + 100 kg K2O + 70 kg K2O

Trang 26

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu mật độ cấy thích hợp với giống lúa P6, P290

Công thức 1: Cấy 45 khóm/ m2

Công thức 2: Cấy 50 khóm/ m2

Công thức 3: Cấy 55 khóm/ m2

Công thức 4: Cấy 60 khóm/ m2

Các công thức đều cấy 2-3 dảnh/khóm

Địa điểm thí nghiệm: Viện Cây lương thực – CTP, Gia Lộc – Hải Dương, Hải

Dương

Thời gian: Tiến hành ở vụ xuân 2007 và mùa 2008

Nền phân : Vụ xuân: 8 tấn phân chuồng , 110 kg N + 100 kg K2O + 80 kg K2O

Vụ mùa: 8 tấn phân chuồng , 100 kg N + 100 kg K2O + 70 kg K2O

Thí nghiệm 3: Nghiên cứu lượng hạt giống gieo xạ thích hợp với giống P6

- Các công thức gieo xạ lượng hạt giống gieo xạ cho 1 ha như sau:

Công thức 1: 50 kg

Công thức 2: 60 kg

Công thức 3: 70 kg

Công thức 4: 80 kg

- Địa điểm thí nghiệm: Viện Cây lương thực – CTP, Gia Lộc, Hải Dương

- Thời gian: Vụ mùa 2007 và xuân 2008

- Nền phân: Vụ xuân 8 tấn phân chuồng, 110 kg N + 100 kg K2O + 80 kg K2O

Vụ mùa: 8 tấn phân chuồng, 100 kg N + 100 kg K2O + 70 kg K2O

Thí nghiệm 4: Nghiên cứu liều lượng phân bón thích hợp với giống P6, P290

Công thức thí nghiệm: Có 5 mức phân vô cơ phối hợp với nền 8 tấn phân chuồng

bón cho 1 ha như sau:

I 80 100 50

II 90 100 60 III 100 100 70

IV 110 100 80

V 120 100 90

Trang 27

Địa điểm thí nghiệm: Viện Cây lương thực – CTP, Gia Lộc, Hải Dương

Thời gian: Tiến hành ở vụ xuân 2008 và mùa 2008

Mật độ cấy : 55 khóm/m2, cấy 2-3 dảnh/1 khóm

Thí nghiệm 5: Đánh giá tính thích ứng của hai giống P6, P290 trên chân đất trũng

- Thí nghiệm được tiến hành ở vụ mùa, trên chân đất trũng cấy 3 giống P6, P290 và U17, gieo cấy cùng thời điểm theo khung thời vụ tốt nhất, trên nền phân bón: 8 tấn phân chuồng: 100 kg N: 100 Kg P2O5 : 70 kg K2O

Thí nghiệm gồm 3 lần nhắc lại, giống đối chứng là U17

- Địa điểm: Viện Cây lương thực – CTP, Hải Dương

- Thời gian thí nghiệm: mùa 2008

- Các chỉ tiêu theo dõi:

+ Khả năng sinh trưởng phát triển: Thời gian sinh trưởng, khả năng đẻ nhánh

+ Các đặc tính nông học như chiều cao cây, chiều dài bông, số bông hữu hiệu/ khóm, số hạt/bông, tỷ lệ hạt lép, khối lượng 1000 hạt, năng suất thực thu

+ Khả năng chịu trũng và chống đổ so với giống đối chứng U17

Thí nghiệm 6: Đánh giá khả năng chống chịu với các loại sâu bệnh hại chính (đạo

ôn, bạc lá, rầy nâu) trong điều kiện đồng ruộng và điều kiện nhân tạo

Thí nghiệm trên điều kiện đồng ruộng được tiến hành tại Viện Cây lương thực - CTP năm 2007

Thí nghiệm lây nhiễm trong điều kiện nhân tạo với bệnh đạo ôn, bạc lá và rầy nâu được tiến hành tại khu nhà lưới, Bộ môn Bảo vệ thực vật, Viện Cây lương thực - CTP năm 2008

Thí nghiệm 7: Đánh giá chất lượng gạo của hai giống lúa P6, P290 (trong điều

kiện vụ xuân 2007)

- Chất lượng xay xát

- Chất lượng thương trường

- Chất lượng nấu nướng

- Chất lượng dinh dưỡng

Trang 28

2.4.3 Sản xuất hạt giống P6 và P290

Sản xuất hạt giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận thực hiện theo tiêu chuẩn ngành 10TCN: 395-2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Kiểm định ruộng giống theo tiêu chuẩn ngành 10TCN 342-2003, kiểm nghiệm hạt giống theo TCVN 1776-2004

2.5 QUY MÔ TRIỂN KHAI DỰ ÁN (2007-2008)

- Sản xuất giống siêu nguyên chủng

Sản xuất 4 ha giống P6, P290 SNC trong 2 năm tại Bộ môn Chọn giống lúa cho vùng khó khăn (Trung tâm Nghiên cứu và PT lúa thuần, Viện Cây lương thực & CTP tại Hải Dương)

- Sản xuất giống nguyên chủng:

Sản xuất 40 ha giống P6, P290 cấp NC tại Bộ môn Chọn giống lúa cho vùng khó khăn (Trung tâm Nghiên cứu và PT lúa thuần) và Trung tâm Thực nghiệm Cây lương thực và CTP (Viện Cây lương thực & CTP tại Hải Dương)

- Sản xuất hạt giống xác nhận: Sản xuất 160 ha giống P6, P290 cấp XN tại Bộ môn

Chọn giống lúa cho vùng khó khăn, Bộ môn Công nghệ hạt giống (Trung tâm Nghiên cứu

và PT lúa thuần, Viện Cây lương thực & CTP tại Hải Dương) và Xí nghiệp GCT Nam Sách - Hải Dương

2.6 DỰ KIẾN SẢN PHẨM KHOA HỌC CỦA DỰ ÁN

2.6.1 Quy trình công nghệ: Quy trình sản xuất hạt giống P6, P290 cấp SNC, NC, XN

đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định và Quy trình thâm canh 2 giống lúa P6 và P290 dạt năng suất cao ổn định (55-70 tạ/ha/vụ) cho các vùng thâm canh lúa

2.6.2 Sản xuất giống: Nhân được 6 tấn giống SNC, 120 tấn hạt giống NC, 560 tấn giống

lúa XN đạt tiêu chuẩn chất lượng cho sản xuất và 500 tấn thóc thương phẩm

2.6.3 Xây dựng mô hình: Xây dựng được 100 ha mô hình thâm canh (với quy mô mỗi

mô hình từ 5-15 ha, năng suất đạt 58-70 tạ/ha/vụ

2.6.4 Đào tạo: Đào tạo, chuyển giao quy trình công nghệ sản xuất hạt giống (SNC, NC,

XN) và quy trình thâm canh 2 giống lúa P6, P290 cho 50 lượt kỹ thuật viên và 1000 lượt nông dân tại các cơ sở tham gia dự án

Trang 29

Chương 3 KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN

3.1 TỔ CHỨC TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN

3.1.1 Phương thức tổ chức thực hiện: Cơ quan chủ trì dự án là Viện Cây lương thực và

CTP phối hợp với các đơn vị tham gia dự án tổ chức triển khai và thực hiện dự án

3.1.2 Quy mô triển khai dự án: Thực hiện tại 5 đơn vị tham gia phối hợp chính với nội

dung: Sản xuất 4 ha giống lúa SNC, 40 ha giống lúa NC, 160 ha giống lúa XN và xây dựng 100 ha mô hình thâm canh; kết hợp tiến hành một số thí nghiệm hoàn thiện quy trình sản xuất giống, quy trình thâm canh, khả năng chống chịu sâu bệnh, khả năng thích ứng của 2 giống lúa P6 và P290, đào tạo và tập huấn về quy trình công nghệ sản xuất giống và thâm canh các giống lúa mới

Bảng 1 Tổ chức triển khai hoạt động Dự án

Đơn vị

Sản xuất giống

Xây dựng

mô hình

Hoàn thiện quy trình

Tập huấn, đào tạo

Bộ môn Chọn giống lúa cho vùng khó khăn, TT

Nghiên cứu và PT lúa thuần (Viện CLT-CTP)

x x x x

Bộ môn Công nghệ hạt giống (TT Nghiên cứu và

PT lúa thuần, Viện CLT-CTP)

x - - -

Mục tiêu của dự án là phát triển và hoàn thiện các quy trình công nghệ sản xuất giống và thâm canh hai giống lúa P6 và P290 ở các tỉnh thuộc ĐBSH và Bắc Trung bộ Trong quá trình triển khai dự án, hai giống lúa trên đã được các tỉnh thuộc hai khu vực nêu trên chấp nhận, phát triển mạnh vào sản xuất và đưa vào cơ cấu giống lúa của địa phương mình, thay thế một phần lớn các giống lúa như VN10, VN20 hay IR353-66 đang

là các giống lúa chủ lực trong sản xuất

Điều này đã khẳng định được hiệu quả và khả năng ứng dụng cao các sản phẩm của dự án đối với sản xuất nông nghiệp

Trang 30

3.2 KẾT QUẢ SẢN XUẤT HẠT GIỐNG (SNC, NC, XN) CỦA HAI GIỐNG LÚA

P6 VÀ P290

Qua 4 vụ sản xuất của 2 năm 2007 và 2008, dự án đã tiến hành sản xuất hạt giống

các cấp của 2 giống P6 và P290 với quy mô diện tích: 4,4 ha giống SNC, 50 ha giống NC

và 186 ha giống lúa XN tại các cơ quan tham gia phối hợp dự án, với sự tham gia của

nhiều địa phương ở các tỉnh phía Bắc và các tỉnh miền Trung, vượt kế hoạch ban đầu đề ra

(xem bảng 34)

Nguồn giống với chất lượng cao này sẽ được cung cấp cho sản xuất, thay thế cho

nguồn giống cũ không được duy trì, chọn lọc theo đúng quy trình sản xuất giống lúa,

nhằm tăng năng suất, sản lượng, giảm giá thành của giống ở các địa phương áp dụng các

giống lúa P6 và P290

Bảng 2 Tổng hợp diện tích sản xuất giống các cấp của hai giống P6 và P290 qua

2 năm thực hiện (2007-2008) (ha)

SNC 2 2,4 4,4

NC 20 30 50 P6, P290

XN 80 106 186 Địa điểm triển khai trong 2 năm được thể hiện ở bảng 3 và bảng 4

Bảng 3 Diện tích sản xuất giống P6, P290 các cấp năm 2007

TT Cơ quan tham gia phối hợp

4 Bộ môn Công nghệ hạt giống

(Trung tâm Nghiên cứu và PT lúa

thuần, Viện CLT-CTP)

- - - 6

Trang 31

Bảng 4 Diện tích sản xuất giống P6, P290 các cấp năm 2008

TT Cơ quan tham gia phối hợp

Hạt giống các cấp SNC, NC, XN được sản xuất theo tiêu chuẩn nghành 10TCN

395-2006 của Bộ NN & PTNT Ruộng giống cấp nguyên chủng, xác nhận được tiến hành

khử bỏ cây khác dạng trong các giai đoạn mạ, sau cấy, trước thu hoạch Các lô ruộng

giống và lô hạt giống đều được kiểm định và kiểm nghiệm theo tiêu chuẩn nghành 10

TCN 342-2003 và TCVN 1776-2004

Bảng 6 Kết quả sản xuất hạt giống cấp NC của hai giống P6 và P290

ĐVT: Kg

TT Nghiên cứu và PT lúa

thuần (Viện CLT-CTP)

9.800 (P6) 6.400 (P290)

2.500 (P6) 14.070 (P290)

16.650 (P6) 13.970 (P290)

17.300 (P6) 21.100 (P290)

Trang 32

Bảng 7 Kết quả sản xuất hạt giống xác nhận hai giống P6 và P290

ĐVT: tấn

TT Nghiên cứu và PT lúa

thuần (Viện CLT-CTP)

59.100 (P6) 13.000(P290)

28.300 (P6) 40.340 (P290)

70.300 (P6) 77.940 (P290)

72.000 (P6) 75.460 (P290)

TT Thực nghiệm cây lương

41.240 (P6) 56.880 (P290)

74.530 (P6) 50.090 (P290)

Bộ môn Công nghệ hạt giống

(Trung tâm Nghiên cứu và PT

lúa thuần, Viện CLT-CTP)

Như vậy trong 2 năm 2007 và 2008, mặc dù gặp nhiều khó khăn về điều kiện thời

tiết, giá cả vật tư tăng cao, các cơ quan tham gia phối hợp thực hiện dự án đã sản xuất giống

các cấp đúng theo tiến độ và kế hoạch, kết quả đã sản sản xuất được 6.582 kg hạt giống

SNC ; 162,52 tấn hạt giống NC ; 793,78 tấn hạt giống XN của hai giống P6 và P290 đạt

tiêu chuẩn chất lượng cung cấp cho sản xuất; vượt kế hoạch đề ra (xem bảng 34)

3.3 KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÂM CANH CỦA HAI GIỐNG LÚA P6

VÀ P290

Từ vụ xuân 2007 đến mùa 2008, các cơ sở tham gia phối hợp dự án đã tiến hành

xây dựng các mô hình thâm canh hai giống lúa P6 và P290 đạt năng suất cao, xác định

khả năng thâm canh của giống và tạo điều kiện mở rộng và phát triển giống vào sản xuất

Kết quả thể hiện ở bảng 8a

- Tại các tỉnh phía Bắc: Vụ xuân 2007 điều kiện thời tiết khí hậu có nhiều diễn biến

phức tạp, đầu vụ nhiệt độ khá cao, lúa sinh trưởng phát triển mạnh, giai đoạn lúa làm

đòng, trỗ gặp nhiều đợt không khí lạnh ảnh hưởng đáng kể tới năng suất Những trà lúa

gieo cấy sớm năng suất bị giảm đáng kể Giai đoạn lúa bén rễ hồi xanh bị bọ trĩ, dòi đục

nõn làm lúa sinh trưởng chậm, giai đoạn lúa làm đòng và trỗ bị rầy nâu, bệnh đạo ôn

nhưng các điểm thực hiện mô hình đã tiến hành phòng trừ kịp thời, không ảnh hưởng

nhiều tới sinh trưởng phát triển của lúa

Trang 33

Bảng 8a Kết quả xây dựng mô hình thâm canh 2 giống lúa P6 và P290

Địa điểm Vụ

sản xuất

Quy mô (ha)

Năng suất (tạ/ha)

- Hai giống P6, P290 chịu rét và chống

đổ tốt, ít nhiễm sâu bệnh hại, đặc biệt chất lượng gạo tốt, bán được với giá cao gấp 1,2-1,5 lần so với Q5, KD18 Đông Sơn-Đông

vụ, năng suất trong vụ mùa cao đạt 64,0 tạ/ha

Lê Lợi-Gia

Lộc-Hải Dương

X07 5 (P6) TB: 66,7

Cao: 70,4

- Nhiều địa phương đã đưa giống P6

và P290 vào cơ cấu giống lúa chính thức thay thế một phần các giống như VN10, CR203, Xi23, X21 đang phổ

biến trong sản xuất

X07 5 (P6)

5 (P290)

TB: 65,2 Cao: 70,5

M07 5 (P6) TB: 61,2

Cao: 65,5X08 5

(P290)

TB: 63,8 Cao: 68,7

Viện Cây lương

Thanh Tùng-Thanh X08 5 TB: 59,6 - Giống P290 là giống thâm canh cao,

Trang 34

Miện-Hải Dương (P290) Cao: 66,2 có nhiều đặc điểm nông học tốt, năng

suất cao, ổn định, chống chịu sâu bệnh tốt

TB: 62,2 Cao: 67,4

- Giống lúa P6, P290 có nhiều đặc tính sinh học tốt, chịu rét và chống đổ tốt, chịu thâm canh, đặc biệt có chất lượng cao Hiện nay, đã mở rộng sản xuất tại nhiều địa phương của huyện nhà

- Là giống dài ngày, khả năng thâm canh cao, cứng cây chống đổ tốt, có khả năng chịu chân đất vàn trũng ở mức khá Năng suất vụ mùa có thể đạt: 63,7 tạ/ha

- Trong vụ Mùa giống lúa P6 có TGST 120-125 ngày, P290 từ 130-135 ngày phù hợp với trà xuân chính vụ và mùa trung của địa phương, chất lượng gạo cao, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng thành thị

TB: 60,8 Cao: 66,0

- Hai giống P6 và P290 rất thích hợp với các tỉnh Bắc Trung Bộ trong cơ cấu

vụ Đông xuân, chịu rét và chống đổ

Trang 35

tốt, ít nhiễm một số loại sâu bệnh hại chính như đạo ôn, bạc lá và rầy nâu, năng suất có thể đạt 60-66 tạ/ha, đặc biệt là hai giống có chất lượng cao phù hợp với mục tiêu phát triển lúa gạo hàng hoá trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Có thể mở rộng diện tích, đưa vào cơ cấu, thay thế một phần diện tích các giống VN10, VN20, IR38, IR353-66

- Trong vụ Đông xuân giống lúa P6 có TGST 130-135 ngày, P290 từ 140-145 ngày rất phù hợp với cơ cấu giống lúa của địa phương nhằm thay thế một phần các giống dài ngày không có tiềm năng sản xuất lúa gạo hàng hóa

Vụ mùa 2008 thời tiết thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của cây lúa Giai đoạn cuối sâu đục thân phát triển mạnh gây hại đáng kể đến các trà lúa trỗ muộn

Trang 36

Tại các tỉnh Bắc Trung bộ nhìn chung vụ đông xuân 2008 điều kiện thời tiết thuận lợi, lúa sinh trưởng tốt

Mặc dù trong 2 năm 2007-2008 thời tiết vụ xuân tại các tỉnh phía Bắc có những biến động lớn, năm 2008 giá cả vật tư nông nghiệp tăng cao, gây khó khăn cho việc triển khai dự án, nhưng với sự cố gắng của cơ quan chủ trì và các đơn vị tham gia dự án, nhìn chung nội dung xây dựng mô hình thâm canh 2 giống lúa P6 và P290 đã được thực hiện tốt Tổng số 2 năm đã xây dựng được 110 ha mô hình thâm canh trong đó năm 2007 là 60

ha và năm 2008 là 50 ha

Các địa phương thực hiện mô hình đều có nhận xét: P6 và P290 là các giống lúa thích hợp với trà xuân chính vụ và mùa trung, dạng hình đẹp, độ thuần cao, ổn định, khả năng thâm canh cao, chịu rét, chống đổ tốt, chống chịu sâu bệnh khá và thích ứng rộng Năng suất trung bình vụ xuân đạt 65-68 tạ/ha, vụ mùa 60-65 tạ/ha, nhiều điểm thâm canh tốt năng suất có thể đạt 70-72 tạ/ha Bình quân năng suất tại các điểm thực hiện mô hình đều cao hơn từ 15-20 kg thóc/sào so với trước kia người dân tự để giống, tương ứng khoảng 4,5-5,5 tạ/ha nhân với giá bán 5.000 đồng/kg thóc thì đã có thể làm lợi từ 2,5-3,0 triệu đồng/ha/vụ Trong khi đó, do được tập huấn kỹ thuật thâm canh giống lúa mới, được cung cấp nguồn giống đảm bảo phẩm cấp và áp dụng các biện pháp kỹ thuật theo quy trình của

dự án nên giống ít bị nhiễm sâu bệnh hại hơn và hạn chế được ít nhất 3 lần phun thuốc sâu/năm (1 lần trong vụ xuân và 2 lần trong vụ mùa), tiết kiệm được ít nhất 3,5 triệu đồng/ha/năm tiền mua thuốc BVTV và công phun, đem lại thu nhập kinh tế cao hơn 30-40% so với thu nhập từ lúa Q5, trong khi kế hoạch là 8-10% (Q5: 250 kg/sào x 4.000 đồng/kg = 1.000.000,0 đồng; P6, P290: 230 kg/sào x 6.000 đồng/kg = 1.380.000 đồng) Khả năng thích ứng rộng có thể gieo cấy trên nhiều loại đất: Vàn cao, vàn và vàn thấp, tham gia vào cơ cấu xuân chính vụ- mùa trung ở các tỉnh phía Bắc và Đông xuân ở các tỉnh miền Trung

Giống P6 và P290 phát triển mạnh ở các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị diện tích lên tới hàng vạn ha

Dưới đây chúng tôi phân tích đại diện hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất thử nghiệm giống lúa P6, P290 trong điều vụ mùa 2008 tại Đình Dù, Văn Lâm, Hưng Yên Ở vùng này,

Trang 37

thóc P6 và P290 luôn bán được với giá cao trên thị trường và cung cấp chủ yếu cho người tiêu dùng trong tỉnh và thủ đô Hà Nội

Bảng 8b Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất thử nghiệm giống lúa P6, P290 vụ mùa 2008 tại Đình Dù, Văn Lâm, Hưng Yên (chi phí sản xuất 1 ha)

Tổng thu

lượng

Đơn giá (đ)

Thành tiền (đ)

Năng suất (kg/ha)

Đơn giá (đ)

Thành tiền (đ)

Lãi thuần (đ)

Giống (kg) 70 7 000 490 000

Phân đạm (urea) (kg) 220 7 000 1 540 000

Phân lân supe (kg) 500 3 500 1 750 000

Phân kali klorua (kg) 160 15 000 2 400 000

3.4 KẾT QUẢ HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT HẠT GIỐNG VÀ THÂM CANH 3.4.1 Hoàn thiện quy trình sản xuất hạt giống SNC, NC, XN của hai giống lúa P6, P290

3.4.1.1 Thí nghiệm 1: Khảo nghiệm xây dựng bản mô tả một số đặc trưng của hai giống lúa P6 và P290

Thông qua việc thu thập số liệu về các đặc trưng hình thái của giống tham gia phục tráng từ tác giả, cơ quan tác giả, TT KKNGCT TƯ chúng tôi đã thiết lập bảng tiêu chuẩn

về các tính trạng cơ bản của các giống Được thể hiện trong bảng 9:

Trang 38

Bảng 9 Một số tính trạng đặc trưng của giống P6

của các giống

2 Mức độ xanh của lá Chuẩn bị làm đòng Xanh đậm

5 Chiều dài lá đòng (cm) Bông trỗ hoàn toàn 35,7 ± 4

6 Chiều rộng lá đòng (cm) Bông trỗ hoàn toàn 1,52 ± 0,1

7 Góc độ lá đòng (độ) Bông trỗ hoàn toàn 18,5

8 Thời gian từ gieo đến trỗ 50%

9 Thời gian từ gieo đến chín 85%

10 Thời gian trỗ từ 10-80% (ngày) Trỗ 5 - 6

11 Màu sắc vỏ trấu Chuẩn bị thu hoạch Vàng sáng

12 Râu trên bông Chuẩn bị thu hoạch Không có

13 Chiều dài bông Chuẩn bị thu hoạch 25,1 ± 2

20 Chiều cao thân Chuẩn bị thu hoạch 75,0 ± 2

22 Nhiễm sâu bệnh hại Gieo-chín Nhiễm nhẹ khô vằn,

sâu đục thân Giống P6 có thời gian sinh trưởng từ 120-125 ngày (trong điều kiện vụ mùa tại

vùng ĐBSH), có kiểu hình tương đối thâm canh với dạng bụi gọn, lá đứng cứng, dạng hạt

thon dài

Trang 39

Bảng 10 Một số tính trạng đặc trưng của giống P290

của các giống

2 Mức độ xanh của lá Chuẩn bị làm đòng Xanh đậm

5 Chiều dài lá đòng (cm) Bông trỗ hoàn toàn 38,6 ± 4

6 Chiều rộng lá đòng (cm) Bông trỗ hoàn toàn 1,94 ± 0,1

7 Góc độ lá đòng (độ) Bông trỗ hoàn toàn 19,5

8 Thời gian từ gieo đến trỗ 50%

9 Thời gian từ gieo đến chín 85%

10 Thời gian trỗ từ 10-80% (ngày) Trỗ 5 - 6

11 Màu sắc vỏ trấu Chuẩn bị thu hoạch Vàng sáng

12 Râu trên bông Chuẩn bị thu hoạch Không có

13 Chiều dài bông Chuẩn bị thu hoạch 24,5 ± 1

20 Chiều cao thân Chuẩn bị thu hoạch 75,0 ± 2

22 Nhiễm sâu bệnh hại Gieo-chín Nhiễm nhẹ đạo ôn,

sâu đục thân Giống P290 có thời gian sinh trưởng 130-135 ngày trong vụ mùa, tương đương với

giống lúa Xi23, dạng hình cây gọn, lá đòng đứng cứng, ít nhiễm các loại sâu bệnh hại

chính, khả năng đẻ nhánh khoẻ và có số bông hữu hiệu tương đối cao

Trang 40

Trên cơ sở bản mô tả gồm các tính trạng đặc trưng của giống sẽ là cơ sở cho quá

trình phục tráng nâng cao độ thuần của giống và sản xuất giống phục vụ sản xuất sau này

3.4.1.2 Thí nghiệm 2: Thí nghiệm chọn lọc thế hệ G0, G1, G2 để duy trì hạt giống tác

giả, giống siêu nguyên chủng và Nghiên cứu độ thuần đồng ruộng và các tính trạng

chủ yếu ảnh hưởng đến độ thuần của hai giống lúa P6, P290

i) Nghiên cứu độ thuần đồng ruộng và các tính trạng chủ yếu ảnh hưởng đến độ thuần

của hai giống lúa P6, P290

Giống lúa P6 và P290 là 2 giống lúa được chọn bằng phương pháp lai hữu tính, tuy

giống có nhiều đặc điểm nông học ưu việt như dạng cây gọn đẹp, cấu trúc quần thể hợp

lý, hiệu suất quang hợp cao, năng suất cao và ổn định, nhưng trong quá trình sản xuất một

số tính trạng của giống có biểu hiện chưa ổn định sau một vài thế hệ Vì vậy để định

hướng cho công tác nâng cao độ thuần của giống, giúp cho quá trình sản xuất giống được

thuận lợi chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu độ thuần của giống thông qua độ biến động

(CV%) của các tính trạng số lượng của hai giống P6 và P290, xác định các tính trạng ảnh

hưởng nhiều đến độ thuần của giống trong quá trình sản xuất hạt giống

Trong vụ mùa 2007 trên ruộng sản xuất giống P6, P290 nguyên chủng chúng tôi

tiến hành theo dõi đo đếm các tính trạng nghiên cứu trên 100 cá thể/1 giống, tính độ biến

động trên từng tính trạng nghiên cứu

Bảng 11 Độ biến động một số tính trạng số lượng của hai giống P6 và P290 (CV%)

TT

Tên

giống

Cao cây

Dài

lá đòng

Dài bông

Độ dài

cổ bông

Thời gian gieo-trỗ

Chiều cao các nhánh /khóm

Số bông/

khóm

Kết quả thể hiện ở bảng 11 cho thấy các tính trạng cao cây, chiều dài lá đòng, dài

bông, số bông/khóm và thời gian gieo đến trỗ tương đối ổn định Chỉ có tính trạng độ dài

cổ bông và chiều cao của các nhánh trong khóm là biến động tương đối lớn, cần phải

nghiên cứu chọn lọc và nâng cao độ đồng đều của các tính trạng này để nâng cao độ thuần

của giống

Ngày đăng: 21/04/2014, 21:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tổ chức triển khai hoạt động Dự án - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 1. Tổ chức triển khai hoạt động Dự án (Trang 29)
Bảng 2.  Tổng hợp diện tích sản xuất giống các cấp của hai giống P6 và P290 qua - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 2. Tổng hợp diện tích sản xuất giống các cấp của hai giống P6 và P290 qua (Trang 30)
Bảng 4. Diện tích sản xuất giống P6, P290 các cấp năm 2008 - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 4. Diện tích sản xuất giống P6, P290 các cấp năm 2008 (Trang 31)
Bảng 8a.  Kết quả xây dựng mô hình thâm canh 2 giống lúa P6 và P290 - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 8a. Kết quả xây dựng mô hình thâm canh 2 giống lúa P6 và P290 (Trang 33)
Bảng 8b. Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất thử nghiệm giống lúa P6, P290 vụ  mùa 2008 tại Đình Dù, Văn Lâm, Hưng Yên  (chi phí sản xuất 1 ha) - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 8b. Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất thử nghiệm giống lúa P6, P290 vụ mùa 2008 tại Đình Dù, Văn Lâm, Hưng Yên (chi phí sản xuất 1 ha) (Trang 37)
Bảng 11.  Độ biến động một số tính trạng số lượng của hai giống P6 và P290 (CV%) - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 11. Độ biến động một số tính trạng số lượng của hai giống P6 và P290 (CV%) (Trang 40)
Bảng 13 .Một số tính trạng hình thái của các cá thể thế hệ G0 của giống - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 13 Một số tính trạng hình thái của các cá thể thế hệ G0 của giống (Trang 42)
Bảng 22. Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 22. Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 50)
Bảng 25a. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 25a. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (Trang 53)
Bảng 27. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất của giống P6 - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 27. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất của giống P6 (Trang 56)
Bảng 29. Khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận của giống - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 29. Khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận của giống (Trang 57)
Bảng 30. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống P6, P290 - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 30. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống P6, P290 (Trang 58)
Bảng 31. Khả năng chống chịu sâu bệnh của hai giống P6 và P290 - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 31. Khả năng chống chịu sâu bệnh của hai giống P6 và P290 (Trang 59)
Bảng 32. Một số chỉ tiêu chất lượng lúa gạo (vụ xuân 2007) - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 32. Một số chỉ tiêu chất lượng lúa gạo (vụ xuân 2007) (Trang 60)
Bảng 33. Kết quả đào tạo tập huấn qua 2 năm thực hiện dự án (2007-2008) - hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất hạt giống và thâm canh hai giống lúa chất lượng cao p6, p290 phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Bảng 33. Kết quả đào tạo tập huấn qua 2 năm thực hiện dự án (2007-2008) (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm