1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng

274 797 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiền, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở Đồng Bằng Sông Hồng
Trường học Viện Nghiên cứu Rau quả
Chuyên ngành Kỹ thuật sản xuất hoa và lai tạo giống Hoa
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 274
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm qua, được sự đầu tư của Nhà nước, một số cơ quan chuyên ngành như Viện Nghiên cứu Rau quả và Viện Di truyền Nông nghiệp, Trường ĐHNN I đã nghiên cứu thành công một số quy trình

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU RAU QUẢ

BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ DỰ ÁN

Tên dự án :

“HOÀN THIỆN HỆ THỐNG SẢN XUẤT GIỐNG HOA (LAN, HỒNG MÔN, ĐỒNG TIỀN, LILY, CÚC) BẰNG NUÔI CẤY MÔ QUY MÔ CÔNG NGHIỆPVÀ PHÁT TRIỂN VÙNG SẢN XUẤT HOA HÀNG

HOÁ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG”

Cơ quan chủ trì dự án: Viện Nghiên cứu Rau quả

Chủ nhiệm dự án: TS Đặng Văn Đông

Trang 2

BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC KỸ THUẬT

DỰ ÁN SẢN XUẤT THỬ NGHIỆM

"Hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiền, lily, cúc) bằng nuôi cấy mô quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hoá ở Đồng Bằng Sông Hồng"

THÔNG TIN CHUNG VỀ DỰ ÁN

1 Tên dự án:

Hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiền, lily, cúc) bằng nuôi cấy mô quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hoá ở Đồng Bằng Sông Hồng

2 Cấp quản lý: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

3 Thuộc chương trình: “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công

nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp & PTNT đến năm 2020”

4 Thời gian thực hiện: Từ tháng 9/2007 đến tháng 8/2009

5 Cơ quan chủ trì

Viện Nghiên cứu Rau quả

Địa chỉ: Trâu Quỳ- Gia Lâm – Hà Nội

Điện thoại: 04.8276254 Fax: 04.8276148

6.Chủ nhiệm dự án:

Họ và tên: TS Đặng Văn Đông

Chức vụ: Trưởng Bộ môn Hoa và cây cảnh - Viện Nghiên cứu Rau quả Điện thoại: CQ: 04.8765625 NR: 04.8766720 Mobile: 0913562265

7 Tổng vốn thực hiện dự án: 8.340,0 triệu đồng, trong đó:

+ Từ Ngân sách sự nghiệp khoa học: 2.500,0 triệu đồng

+ Khác : 5.840,0 triệu đồng

Kinh phí thu hồi: 1500,0 triệu đồng (60% kinh phí ngân sách SNKH)

7 Tên tổ chức tham gia chính

7.1 Tổ chức chịu trách nhiệm về công nghệ : Viện Nghiên cứu Rau quả

7.2 Tổ chức khác

a Các tổ chức phối hợp hoàn thiện công nghệ

1 Trung tâm ứng dụng khoa học và sản xuất nông lâm nghiệp Quảng Ninh Địa chỉ: Km 11 Yên Hưng – Quảng Ninh

Trang 3

2 Trung tâm ứng dụng và chuyển giao CN – Sở KHCN Bắc Ninh Địa chỉ: Số 2 đường Nguyễn Đăng Đạo – TP Bắc Ninh – tỉnh Bắc Ninh

3 Công ty TNHH Cửu Long

Địa chỉ: Xã Đình Bảng - huyện Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh

4 HTX Dịch vụ Nông nghiệp Cát Lại

Xã Bình Nghĩa - huyện Bình Lục - Tỉnh Hà Nam

5 HTX nông nghiệp Phù Vân

Địa chỉ: Xã Phù Vân – Phủ Lý – Hà Nam

6 Công ty Cổ phần xây dựng Vạn Xuân

Địa chỉ: Xã Việt Đoàn - huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh

7 HTX Đan Hoài – Đan Phượng – Hà Nội

8 Trang trại hoa Liên Phương

Địa chỉ: Xã Liên Phương – TX Hưng Yên – Tỉnh Hưng Yên

Trang 4

I- ĐẶT VẤN ĐỀ

So với các lĩnh vực nông nghiệp khác, hoa cây cảnh là một ngành kinh tế non trẻ, nhưng những năm qua đã phát triển với tốc độ khá mạnh mẽ Theo báo cáo năm 2005 của FAO, giá trị sản lượng Hoa cây cảnh của toàn thế giới năm

1995 đạt 35 tỷ USD, đến năm 2004 tăng lên 56 tỷ USD (tốc độ tăng bình quân năm là 20%); trong đó giá trị xuất khẩu đạt từ 8,5-10 tỷ USD/năm

Những nước có nền công nghiệp Hoa phát triển là Hà Lan, Pháp, Mỹ, Colombia, Kenia Một số nước đang có kế hoạch đầu tư phát triển, đưa cây hoa lên thành một ngành kinh tế quan trọng là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo, Ixraen, Italia

Do cây hoa mang lại lợi nhuận khá cao nên được 1 số nước rất chú trọng đầu tư, đặc biệt là cho công tác nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu tiên tiến nhất của các ngành nghề khác có liên quan như: công nghệ sinh học, tin học, tự động hoá, vật lý, hoá học, ngành công nghiệp làm nhà kính, nhà lưới, ngành công nghiệp sản xuất giá thể, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh

Kết quả là mỗi năm trên thế giới đã tạo ra hàng trăm chủng loại hoa và giống hoa mới, đã xây dựng rất nhiều “nhà máy” sản xuất giống hoa và hoa thương phẩm với hàng tỷ bông hoa chất lượng cao, cung cấp cho người tiêu dùng, đồng thời đã thúc đẩy rất nhiều ngành nghề khác phát triển

Theo phân tích và dự báo của các chuyên gia kinh tế, ngành sản xuất, kinh doanh hoa trên thế giới còn tiếp tục phát triển và vẫn có tốc độ phát triển cao (từ 12-15%) trong những năm tới Tuy nhiên, do có một số lợi thế nên một số nước đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan, Kenia, Ấn Độ sẽ vươn lên đạt giá trị sản lượng và giá trị xuất khẩu cao, đồng thời công tác nghiên cứu sẽ tiếp tục được quan tâm đầu tư để có thêm nhiều chủng loại hoa độc đáo, chất lượng hoa cao hơn

Ở Việt Nam, các giống hoa được trồng trước năm 1995, chủ yếu là các giống có nguồn gốc trong nước (đào Bích, quất Văn Giang, cúc Đại Đoá, hồng

Đà Lạt, layơn trắng, layơn phấn hồng Hải Phòng ) Từ năm 2005 trở lại đây, các giống hoa mới (đặc biệt là các loại hoa cao cấp như lan, hồng môn, lily ),

đã được nhập về từ nước ngoài bằng nhiều con đường khác nhau và đã phát huy hiệu quả rõ rệt

Trang 5

Vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung rất có tiềm năng phát triển sản xuất hoa hàng hoá để xuất khẩu Tuy nhiên, sự phát triển, sản xuất hoa những năm qua đã chưa tương xứng với tiềm năng sẵn

có Một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho năng suất hoa thấp, chất lượng không cao đó là do công tác giống mà quan trọng nhất là khâu nhân giống Trong khi các nước tiên tiến họ sử dụng 80% cây giống hoa từ nuôi cấy

mô thì con số trên ở Việt Nam chỉ đạt khoảng 5% Những năm qua, được sự đầu

tư của Nhà nước, một số cơ quan chuyên ngành như Viện Nghiên cứu Rau quả và Viện Di truyền Nông nghiệp, Trường ĐHNN I đã nghiên cứu thành công một số quy trình công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật và đã tạo ra được nhiều giống hoa có giá trị được người tiêu dùng đánh giá rất cao Tuy nhiên, để áp dụng rộng rãi ngoài sản xuất rất cần có các bước thử nghiệm để hoàn thiện quy trình

Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện dự án: “Hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiền, lily, cúc) bằng nuôi cấy mô quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hoá ở Đồng Bằng sông Hồng”

Trang 6

II TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NGHIÊN CỨU CÁC

LOẠI CÂY TRỒNG LÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình sản xuất, phát triển hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam

a, Tình hình sản xuất, phát triển hoa lan trên thế giới

Trải qua nhiều thế kỷ, người ta chỉ biết gieo lan nảy mầm từ hạt [5] Bác

sỹ, y tá người Anh John Haris và Weich đã biết đến vai trò của nấm Fungus trong việc nảy mầm hạt lan ở điều kiện tự nhiên Năm 1946, công trình nghiên cứu của TS Knudson (Mỹ) [7] đã mở ra công nghệ sinh học môi trường lan Nhờ vậy, người ta đã sản xuất được khối lượng cây lớn, đồng nhất trong thời gian ngắn, bảo tồn, duy trì nguồn và chọn lọc được những giống sạch virus từ các dòng được lai tạo, xây dựng các xí nghiệp sản xuất công nghiệp có sản lượng lớn và giá thành hạ

Phong lan đã được xuất khẩu và lưu thông như một ngành thương mại và được phát triển nhanh ra nhiều nước, các nhà khoa học đã lai tạo và nuôi trồng được nhiều giống mới độc đáo Các quốc gia có tiềm năng sản xuất hoa lan bằng công nghệ tiên tiến là Anh, Pháp, Newdiland, Australia, Thái Lan, Hà Lan Các giống nhập nội từ các công ty của Singpore, Malaysia đang phát triển trên diện tích 300 ha ở đảo Bulan Loddiges (1812) là người đầu tiên trên thế giới thiết lập vườn lan thương mại [18] Trong những thập kỷ gần đây, cùng với phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ, các thành tựu khao học và sự phát triển về công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi, do vậy việc xuất, nhập khẩu hoa lan ngày càng tăng với quy mô rất lớn Nhiều nước đã trở thành cường quốc xuất khẩu hoa lan như: Đài Loan, Thái Lan Hoa lan đã và đang là nguồn lợi lớn của các nước Đông Nam á và thế giới [3], [8], [19]

Hiện nay, Thái Lan là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan đạt

110 triệu USD trong năm 2003 [20] Thái Lan có 18 phòng nuôi cấy in vitro hoa lan thương mại hoạt động ở Băng Cốc và các vùng phụ cận Hàng năm sản xuất 31,6 triệu cây con trong đó Dendrobium chiếm 80%, Mokara 5%, còn lại là các loài lan khác Đài Loan đang tăng nhanh sản xuất Phalaenopsis và chọn tạo nhiều giống mới, hiện nay đã tạo ra được một số giống lan lai có khả năng cắt cành cao và trồng trong chậu [15] ở Singapore, nghề trồng hoa lan xuất khẩu trên quy mô lớn bắt đầu từ năm 1987 Nhà nước đã thấy rõ tiềm năng xuất khẩu loại hoa này trên thị trường thế giới nên đã mở rộng trang trại trồng hoa phong

Trang 7

lan Năm 1992, xuất khẩu hơn 18 triệu USD, hiện nay Singapore chiếm 12% thị trường kinh doanh phong lan thế giới [3] Hà Lan đã đầu tư 20 triệu USD vào ấn

Độ để lắp đặt các thiết bị máy móc đầu tư cho việc sản xuất hoa lan xuất khẩu Mỗi năm ấn Độ sản xuất được 10 triệu cây hoa lan [3] Nhật Bản cũng đã đầu tư 6,6 triệu USD cho Thái Lan để mở rộng cơ sở sản xuất với công suất 10 triệu cây hoa phong lan mỗi năm Hiện nay, Nhật là khách hàng lớn nhất của Singapore với khả năng tiêu thụ 60% số cây phong lan của nước này [3]

Hiện tại, các nước sản xuất và kinh doanh xuất khẩu hoa phong lan chính trên thế giới là Hà Lan, Singapore, Philipin (thị trường á, Âu, Mỹ), ngoài ra còn nhiều nước nữa như: Pháp, Đức, Italia, Colombia là những nước kinh doanh xuất khẩu hoa đáng kể trên thế giới Tổng kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan trên thế giới hàng năm đạt 21,1 tỷ USD [6] Riêng về việc xuất khẩu lan cắt cành trên thế giới những chủng loại được gọi là mặt hàng chính thì có tới > 95% có xuất xứ từ các vùng nhiệt đới Do vậy, từ năm 1967 các nước châu á như: Thái Lan, Singapore, Indonesia đã bắt đầu phát triển nhanh sản xuất kinh doanh xuất khẩu hoa phong lan một cách mạnh mẽ Tính đến năm 2003, kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan của Hà Lan đạt 1,8 tỷ USD Hoa phong lan ở Hà Lan được trồng trong nhà kính với tổng diện tích là 3081,75 ha Các nước trong khu vực Đông Nam á cũng đang chạy đua phát triển ngành lan Chính phủ Singapore đặt kế hoạch vào năm 2010 đạt 100 triệu USD xuất khẩu Thái Lan xây dựng đầy đủ cơ sở hạ tầng và mời các nhà sản xuất vào trồng Thủ tướng Malaysia giao 300 ha đất của BAPng Johor cho các nhà trồng lan và yêu cầu ngành lan phải mau chóng bắt kịp các nước phát triển Cả Đài Loan cũng đưa ra kế hoạch đến năm 2005 sẽ biến đất nước thành một Hà Lan thứ 2 Đa số các cây lan trên thị trường hiện nay là các giống lan lai của Cymbidium, Paphiopedium, Phraenopsis, Oncidium, Dendrobium và Cattleya Nhiều nhất là Dendrobium, Pharaenopsis, Oncidium

b, Tình hình sản xuất, phát triển hoa lan ở Việt Nam

Phong lan là loài hoa quý, không xa lạ gì với người Việt Nam Thậm chí

có thẻ nói đây là thứ “cây nhà lá vườn” cũng không có gì là cường điệu Vì lẽ các nước Đông Nam á chúng ta trong đó có Việt Nam là vùng sản sinh ra nhiều loài lan mà lan rừng Việt Nam đa số là quý hiếm nên được nhiều chuyên viên về phong lan ở nước ngoài đánh giá cao Ông cha ta từ xưa cũng

Trang 8

phần kỹ thuật nuôi trồng cũng nhe chăm sóc nên qua thời gian hàng ngàn năm ngành nghề này cũng không tiến triển được BAPo nhiêu Chơi lan vẫn đơn thuần chỉ là để giải trí Việc trồng và chăm sóc lan còn thực hiện theo kinh nghiệm truyền thống vì vậy hiệu quả trồng lan chưa cao Thêm vào đó nước

ta chiến tranh liên miên khiến nông nghiệp nói chung và nghề trồng lan nói riêng chậm phát triển hơn các nước khác vài chục năm nhiều kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy rừng Việt Nam có trữ lượng lan lớn và tập trung nhiều loài lan quý hiếm mà nhiều nơi không có, cùng với đó là sự quan tâm của nhà nước

và nguồn nhân lực dồi dào, khí hậu thuận lợi khiến cho ngành trồng lan nước ta những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, nhiều phòng nghiên cứu về lan được thành lập đưa ngành trồng lan lên một tầm cao mới

Đặc biệt, phải kể đến trang trại RINSUN tại Gia Hiệp - Di Linh - Lâm Đồng đã đầu tư trang thiết bị hiện đại có thể tự tạo ra nguồn cây giống để sản xuất Sản phẩm đặc biệt ở đây là lan Hồ điệp với 16 - 17 màu hoa khác nhau, từ những màu phổ biến như: tím, trắng môi đỏ, trắng môi hồng, đỏ đến những màu mới lạ như: trắng điểm đen, vàng Trang trại đã đầu tư 10.000 m2 diện tích nuôi trồng hiện đại, cung cấp trung bình 400.000 chậu lan Hồ điệp mỗi năm Ngoài tiêu thụ trong nước, lan Hồ điệp của trang trại còn xuất khẩu sang Mỹ, Nhật và các nước châu Âu, Đông Nam á Mặc dù nước ta có điều kiện thuận lợi hơn cả Thái Lan với miền nam khí hậu gió mùa ổn định, nhưng giá trị xuất khẩu hoa lan của Việt Nam còn khiêm tốn, từ 1998 - 2003 chỉ đạt khoảng 90,000 - 150,000 USD / năm [21]

Đối với thị trường hoa trong nước, sản lượng hoa phong lan cũng không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Các cơ sở sản xuất hoa lan chỉ đáp ứng được 30 - 40% nhu cầu lan cắt cành còn lại phải nhập từ các nước khác Lần đầu tiên Phú Yên cung ứng 250.000 cây phong lan cho 1 doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh để xuất khẩu Đây là lô phong lan đầu tiên được trung tâm giống và kỹ thuật cây trồng (sở NN & PTNT Phú Yên) nhân giống thành công bằng kỹ thuật vô tính Hiện Trung tâm đang áp dụng phương pháp nuôi cấy mô

để sản xuất hàng loạt cây trồng khác tại làng hoa Bình Kiến, trong đó có 11 loài hoa đang được thị trường ưa chuộng Sắp tới Trung tâm tiếp tục cung ứng 300.000 - 500.000 cây phong lan mỗi năm để xuất khẩu sang Canada, Đài Loan Cũng như ở một số thành phố lớn trong cả nước, ở Đà Nẵng phong trào

Trang 9

ở mọi tầng lớp nhân dân Hiện tại ở Đà Nẵng có 3 loại hình chủ yếu trồng, kinh doanh và chơi các loại hoa lan

Lĩnh vực kinh doanh lan tại Việt Nam mới thực sự bắt đầu được hơn

10 năm nay Theo ông Đồng Văn Khiêm - Giám đốc Công ty Phong lan Xuất khẩu Thành phố thì khó khăn lớn nhất là Nhà nước chưa có chính sách phát triển ngành lan, chưa có một văn bản nào để khuyến khích, chính sách thuế không rõ ràng

Bên cạnh đó, việc xuất khẩu lan hiện còn qua uỷ thác, không tạo được sự chủ động cho nhà sản xuất CITES Việt Nam (cơ quan kiểm tra việc buôn bán các loại động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng) chưa hoạt động nên việc xuất lan cũng gặp khó khăn Nói tóm lại, vấn đề sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu hoa lan ở Việt Nam từ trước đến nay vẫn ở dạng tiềm năng Trong khi đó, sức cạnh tranh thị trường trên thế giới là rất lớn Những hoạt động kinh doanh

và xuất khẩu trong thời gian qua chỉ mới có ý nghĩa khởi động, hứa hẹn một sự phát triển trong tương lai dựa trên những điều kiện thuận lợi sẵn có cho sự phát triển ngành trồng lan

2.1.2 Tình hình nghiên cứu hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam

a, Tình hình nghiên cứu cây hoa lan trên thế giới

Do giá trị kinh tế và giá trị thẩm mỹ của cây hoa lan cao mà trên thế giới

có rất nhiều nước đã đi sâu nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống cũng như chọn lọc và lai tạo giống mới

* Nhân giống bằng phương pháp hữu tính:

Là sự kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái, kết quả tạo ra hợp tử rồi phát triển thành hạt Từ hạt phát triển thành cây lan con Đối với cây hoa lan, sự thụ phấn trong tự nhiên là do công trùng thực hiện Về mặt cấu tạo giải phẫu, hoa lan hoàn toàn thích ứng cho sự thụ phấn nhờ côn trùng, hoa to, màu sắc sặc

sỡ, hoa môi chồi lên, phấn hoa dính thành phấn khối nên côn trùng có thể mang

đi số lượng lớn phấn hoa trong một chuyến đi Ngoài ra, trong thực tế hiện nay hoa lan cũng có thể thụ phấn nhân tạo bằng những phương pháp thủ công đơn giản Sau khi thụ phấn, tiểu noãn biến đổi phát triển thành hạt, bầu noãn phát triển thành quả Quả chín tự nứt ra, các hạt phát tán và khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm thành cây lan con Cây lan này để ra hoa được phải mất 3 - 7 năm tuỳ theo từng loài [7], [13], [16] Do hạt lan quá nhỏ và hầu như không có

Trang 10

hạt khác Việc làm cho hạt lan nảy mầm, phát triển thành cây con là một vấn đề khó khăn trong thời kỳ đầu phát triển ngành lan [17]

Thực tế trên thế giới, việc nghiên cứu về cây phong lan được biết đến từ năm 1731 Song đến năm 1844, Newman - một nhà vườn người Pháp mới làm nảy mầm hạt lan bằng cách rắc hạt lên các cục đất quanh gốc cây lan to Sự thành công này đã lan rộng nhưng chưa có lời lý giải cụ thể Từ khi con người biết ứng dụng các thành tựu khoa học thì ngành trồng lan đã có những bước tiến nhảy vọt Năm 1904, Noel Bernard thực hiện phương pháp gieo hạt cộng sinh với nấm để gây sự nảy mầm Ông nhận thấy, các cây lan con nảy mầm trong rừng đều bị nhiễm nấm ông đã cô lập các nấm ở rễ cây lan con và cấy vào hạt lan, bằng cách đó ông là người đầu tiên làm cho 100% hạt lan nảy mầm [14], [18] Nhưng cho đến khi phương pháp gieo hạt lan không cộng sinh với nấm được thực hiện thì ngành trồng lan trên thế giới mới thực sự có bước chuyển biến rõ rệt Năm 1909, Hans Burgff đã làm nảy mầm được hạt của Laelio cattleya trên môi trường dinh dưỡng gồm 0,33% đường saccarose trong điều kiện hoàn toàn bóng tối [4] Năm 1922, Lewis Knudso, một nhà khoa học ngời

mỹ lại thành công trong việc gieo hạt ở môi trường thạch [20] Ông cũng nhận thấy rằng sự nảy mầm của hạt còn phụ thuộc vào thời gian hái quả

Dựa vào phương pháp nhân giống hữu tính, người ta có thể lai tạo để tạo

ra các con lai mang những đặc tính tốt của bố mẹ, tạo ra nhiều giống mới có màu sắc độc đáo, hình dáng, kích thước phong phú Đa số các cây hoa lan trên thị trường hiện nay là các giống cây lai của Cybidium, Paphiopedium, Phalaenopsis hoặc Cattleya Tuy vậy, hơn 1 thế kỷ trước đây, sự lai giống là một điều không thể tưởng tượng ra Giống hoa lai đầu tiên là sự lai giống giữa Calanthe turcata và Calanthe masuca vào năm 1856 do ông Dominy thực hiện Những sự lai giống tiếp theo được tiến hành vào những năm đầu tiên đó đều do Dominy đảm nhận Do bởi kết quả này, các nhà nuôi trồng khác đã cạnh tranh với ông

Năm 1863, cây lai hai giống đầu tiên được tạo ra giữa Cattleya urossiae x Laelia crispa Năm 1892, cây lai tam giống đầu tiên xuất hiện: Sophronitis granditlora x Laelia cattleya x Schillerziana Ngày nay, nhờ kết quả chọn lọc và lai tạo đã có hàng nghìn giống đăng ký trở thành giống mới [2], [22] Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp nhân giống hữu tính là thời gian từ khi cây mọc

Trang 11

Mặt khác, đặc tính di truyền của con lai là không ổn định, do đó phương pháp này chỉ được áp dụng trong chọn lọc và lai tạo giống mới

* Nhân giống vô tính cây hoa lan

Trên thế giới, việc nhân giống vô tính cây hoa lan bằng hình thức tách chiết thông thường rất ít được áp dụng Do khoa học kỹ thuật phát triển mạnh và được ứng dụng trong nông nghiệp, phương pháp nhân giống vô tính cây hoa lan bằng nuôi cấy mô tế bào ra đời, tạo ra một bước ngoặt lớn đối với ngành trồng lan trên thế giới Từ 1 tế bào với các tác nhân nhân tạo có thể tạo ra 1 cơ thể hoàn chỉnh, phương pháp này có thể nhân giống lan với tốc độ rất nhanh: 4 triệu cây con/năm với vốn BAPn đầu chỉ là 1 chồi non

BAPn đầu Morel khám phá ra phương pháp nuôi cấy mô loài lan đa thân Đến năm 1970, M vajrabhaya và T vajrabhaya đã cấy mô thành công loài lan đơn thân Năm 1974, các nhà khoa học đã cấy mô thành công hầu hết các loại lan thuộc nhóm đơn thân khác [8] Cũng nhờ có phương pháp nuôi cấy mô tế bào, các cây lan đã chọn lọc từ phương pháp lai hữu tính được nhân với tốc độ rất nhanh có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh, ngành hoa có giá trị này Lee,- YH; and Mowe (1983) [21] đã nuôi cấy đỉnh sinh trưởng giống phong lan Aranda trong môi trường Vacine và Went Mô tế bào thu được đã được xử lý colchicine ở các nồng độ 0,05; 0,075; 0,1% trong 6 ngày cho kết quả tỷ lệ cao các mô bị chuyển sang màu nâu Theo các tác giả Duan,- J; cs (1996) [9], Eng,- PS; cs (1983) [10], Kukulczanka,- K (1985) [11], Mamaril,- J (1997) [12], môi trường có vai trò rất quan trọng trong quá trình nuôi cấy, nó cung cấp chất dinh dưỡng đảm bảo cho sự sinh trưởng của mô cấy Môi trường dinh dưỡng thích hợp cho việc nuôi cấy mô cây hoa lan là môi trường: MS (Marushige - Shoog, 1962), VW (Vacine - Went, 1949), KC (Knudson C), F (Fonnesbeck, 1972) [9]

b, Tình hình nghiên cứu cây hoa lan ở Việt Nam

Trước những năm 1990, ở Việt Nam, phương pháp nhân giống hoa lan chủ yếu là những phương pháp cổ truyền như tách chiết, gieo hạt Chỉ từ sau

1990, do áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới và sản xuất thì phương pháp nhân giống bằng nuôi cấy mô mới được phát triển mạnh mẽ

* Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt

Đối với hoa lan, việc tự thụ phấn là rất khó khăn, thông thường trong thực

tế việc thụ phấn xảy ra nhờ côn trùng hoặc thụ phấn nhân tạo bởi con người

Trang 12

hạt lan rất khó nảy mầm nên phương pháp này cũng không được áp dụng phổ biến ở Việt Nam Phương pháp này chỉ sử dụng chủ yếu trong lai tạo nhằm tạo

ra những giống mới có nhiều đặc tính mong muốn của con người

Với mong ước tạo ra những cây lan lai từ các cây tự nhiên của địa phương, từ năm 1990, nhóm cán bộ kỹ thuật của Đà Lạt đã bắt đầu thực hiện các phép lai đầu tiên trên cơ sở chọn lọc những cây bố mẹ mang các đặc tính ưu việt Trong đó, nhóm phong lan được chọn là các cây trong chi Renanthera và Vanda, đã đáp ứng phần nào các yêu cầu ngày càng đa dạng về mặt sưu tập, thưởng ngoạn và từng bước tạo tiền đề cho việc khai thác kinh tế hoa lan cắt cành [22] Các cây lan được chọn làm đối tượng thực hiện các phép lai BAPn

đầu gồm: Renanthera evrarfii Guillaum, Renanthera imschootiana Rofle, Vanda denisoniana Bens.et Rchb.f, Vanda watsonii Rofle, Vanda masperoe Guill Đây

là các loài lan tự nhiên của Đà Lạt - Lâm Đồng, có vùng phân bố khá rộng Chúng đa dạng về màu sắc, hình thái và có loài có mùi thơm đặc trưng Kết quả

là đã thành công 2 cặp lai:

Renanthera evrarfii Guillaum x Renanthera imschootiana Rofle

Renanthera evrarfii Guillaum x Vanda denisoniana Bens.et Rchb.f

* Nhân giống bằng phương pháp tách chiết

Là phương pháp đơn giản, dễ làm, không tốn kém, tuy nhiên hệ số nhân giống là không cao Nguyễn Việt Thái (2002) [1] cho rằng, bất kể tháng nào trong năm cũng có thể tách chiết lan để trồng được Tuy nhiên, thời điểm tốt nhất cho việc tách chiết là vào đầu tháng mùa mưa, khí trời mát mẻ, cây đang đà phát triển mạnh Cũng theo tác giả Nguyễn Việt Thái (2002) [1], đối với loài lan đơn thân, kinh nghiệm cho thấy phần ngọn được tách ra trồng mau ra hoa hơn là các đoạn ở phần thân Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000) [4], phương pháp nhân giống bằng tách chiết với 3 giả hành có thể dùng cho tất cả các loài lan đa thân, trừ một số giống như: Cymbidium, Phaius có thể dùng 2 giả hành duy nhất

Đối với các loài Dendrobium khoẻ như Dendrobium caesar AlBAP, Dendrobium caesar Latil, Dendrobium popadour có thể cắt cây con để nhân

giống khi giả hành cây con trưởng thành Nếu cắt quá non sẽ cho kết quả không

tốt Đối với các loài Dendrobium yếu hơn như: Dendrobium jacqueline Thomas, Dendrobium theodore Takiguchi ta có thể đợi cây con mọc thêm 1 giả hành

mới thì việc nhân giống bảo đảm hơn [22]

Trang 13

* Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Hiện nay bằng công nghệ nuôi cấy in vitro, trong thời gian ngắn có thể

sản xuất một số lượng lớn các cây giống khoẻ, đồng đều và sạch bệnh Trường ĐHNN I là một trong những cơ sở chính nghiên cứu về nuôi cấy mô hoa nói chung và cây hoa lan nói riêng Theo PGS TS Nguyễn Quang Thạch và cs, cây hoa lan dễ nhân trong ống nghiệm và có hệ số nhân giống cao Môi trường chính cho nuôi cấy lan là môi trường Knudson C Cùng với trường ĐHNN I, Trung tâm Hoa cây cảnh kết hợp với Bộ môn Nuôi cấy mô tế bào của Viện Di truyền Nông Nghiệp đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng đến quá trình nhân nhanh và khả năng ra rễ của chồi Kết quả đã đưa ra được quy trình nhân giống lan Hồ điệp bằng nuôi cấy mô tế bào

2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Nguồn gốc, vị trí phân loại của cây hoa cúc

Cây hoa cúc có tên khoa học Chrysanthemum có nguồn gốc từ Trung

Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu Các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã chứng minh rằng từ đời Khổng Tử người ta đã làm lễ thắng lợi hoa vàng (hoa cúc) và hoa cúc đã đi vào các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc từ đó (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [2]

Theo Zhenhua, Shoahe, hoa cúc được trồng ở Trung Quốc cách đây 3000 năm Hoa cúc có nguồn gốc từ một số loài hoang dại thuộc loài cúc Dendranthema, trải qua quá trình trồng trọt, lai tạo và chọn lọc từ những biến dị trở thành những giống cúc như ngày nay[17]

Trong hệ thống phân loại thực vật, cây hoa cúc được xếp vào lớp hai lá mầm (Đicotyleonnes), phân lớp cúc (Asteridae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ hoa ống (Asteridae), chi Chrysanthemum (Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1978)

Nguyễn Thị Kim Lý (2001) [6] phân loại hoa cúc theo giá trị sử dụng như hoa cắt hay hoa trồng chậu, cúc đơn hay cúc chùm hoặc căn cứ vào hình dáng phản ứng quang chu kỳ của giống, đặc biệt căn cứ vào hình dáng hoa, cánh cong hay thẳng, cuốn vào hay xoè ra, nhị to hay nhỏ

Theo Nguyễn Quang Thạch (2002) [11] có thể dựa vào 4 cách sau để phân loại các giống cúc ở Việt Nam:

1) Dựa vào nguồn gốc chia thành hai nhóm giống là nhóm giống cũ và

Trang 14

2) Dựa vào hình dáng hoa chia thành hai loại là:

- Cúc đơn: Hoa cúc nhỏ chỉ có 1-3 hàng cánh ở ngoài cùng và cồi ở giữa Những giống hoa này thường chơi hoa chùm

- Cúc cánh kép: Cánh hoa xếp nhiều vòng, sít nhau Có loài cúc kép cánh dài, có oài cánh ngắn hoa nhỏ

3) Dựa vào cách sử dụng chia thành 2 dạng:

- Dạng hoa đơn: thường hoa to, người ta vặt bỏ các mầm nách và các hoa

ở nách để tập trung dinh dưỡng cho bông chính ở ngọn

- Dạng hoa chùm: Người ta thường làm đối với các dạng hoa bông nhỏ 4) Dựa vào thời vụ trồng chia thành 2 nhóm chính:

- Cúc đông: Cây hoa cúc có nguồn gốc ôn đới nên hầu hết các giống cúc đều chịu lạnh và trồng vào vụ đông là chủ yếu

- Cúc hè: Một số giống chịu được nhiệt độ cao, trồng được ở vụ hè sinh trưởng, phát triển tốt

2.2.2 Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới và trong nước

a, Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới

Lịch sử nghề trồng hoa cây cảnh trên thế giới có từ rất lâu đời Trước thế

kỷ 19 con người chơi hoa chủ yếu thông qua cây cảnh, cây thế, cây tự nhiên (có hoa) Từ thế kỷ 20 trở lại đây, người ta mới chơi hoa theo đúng nghĩa của nó, đó

là chơi hoa cắt, hoa bông với nhiều kiểu dáng đa dạng phong phú đầy ý nghĩa

Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đã phát triển mạnh và trở thành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế của các nước trồng hoa trên thế giới

Năm 1995 giá trị sản lượng hoa trên thế giới đạt 20 tỷ USD, đến năm

1997 tăng lên 27 tỷ USD Ba nước sản xuất hoa lớn chiếm khoảng 50% sản lượng hoa của thế giới đó là: Nhật Bản khoảng 3,731 tỷ USD, Hà Lan 3,558 tỷ USD, Mỹ khoảng 3,270 tỷ USD [2]

Sản xuất hoa của thế giới sẽ tiếp tục tăng mạnh mẽ nhất là ở các nước đang phát triển như châu Á, châu Phi, Mỹ La Tinh Hướng sản xuất hoa là tăng năng suất hoa, giảm chi phí lao động, giảm giá thành hoa Mục tiêu sản xuất hoa cần hướng tới là sản xuất ra giống hoa đẹp, tươi, chất lượng cao và giá thành thấp

Trong các loại hoa thông dụng, cây hoa cúc thuộc loại cây hoa lâu đời, được ưa chuộng và trồng rộng rãi nhất trên thế giới Cách đây hàng thế kỷ người

Trang 15

cảnh đã phổ cập đến hàng vạn hộ, chính sách mở cửa cũng đồng thời tiếp thu cả nền văn hoá nước ngoài nên sản xuất hoa cúc truyền thống của Trung Quốc cũng hoà nhập với hoa cúc cắt cành ở Âu Mỹ Thực tiễn những năm gần đây trồng hoa cúc cắt cành đang trở thành trào lưu chính ở Trung Quốc Vì vậy phát triển nghề trồng hoa cắt có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp, tăng thêm thu nhập cho nông dân

Ngày nay hoa cúc đã trở thành 10 loại hoa cắt lớn trên thế giới Theo Đặng Văn Đông, ở Trung Quốc hoa cúc cắt được phát triển từ những năm 80 của thập kỷ 20, tuy muộn hơn các nước nhưng tốc độ nhanh, sơ bộ thống kê cho đến nay khoảng 7 nghìn ha, là một trong nhiều loại hoa đứng hàng đầu

Loài hoa cúc ở Nhật Bản được coi là Quốc hoa Thậm chí ở các nhà hàng người ta có thể trang trí cho một bữa ăn với toàn hoa cúc Và sau Nhật Bản là những nước trồng nhiều hoa cúc: Hà Lan, Colombia, Trung Quốc Hà Lan là một trong những nước lớn nhất trên thế giới về xuất khẩu hoa cúc Diện tích trồng cúc ở Hà Lan năm 1970 là 709 ha đến năm 1984 tăng lên là 5016 chiếm 30% tổng diện tích hoa tươi Hà Lan đã xuất khẩu hoa cắt và chậu phục vụ 80 nước trên thế giới thu về hàng trăm triệu USD Và sau Hà Lan là Colombia nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu hoa cúc thu về 150 triệu USD/năm Nhật Bản là nước có nhu cầu sử dụng hoa cúc rất lớn Mặc dù diện tích trồng hoa cúc nước này chiếm 2/3 tổng diện tích trồng hoa, nhưng hàng năm Nhật Bản vẫn phải nhập hoa cúc với một lượng lớn từ Hà Lan [2]

Các nước Tây Âu là thị trường tiêu thụ rất lớn Nước Đức là một trong nhiều quốc gia sản xuất cúc lớn và có hiệu quả cao, 95% lượng cúc sản xuất là cúc chùm (Để nhiều bông trên một cây) nhưng hàng năm nước Đức vẫn phải nhập từ 317 - 376,3 triệu cành của Hà Lan và Israel ở Pháp có khoảng 120 triệu cành cúc được sản xuất mỗi năm tuy vậy Pháp vẫn nhập cúc ở Hà Lan từ 13,8 triệu cành vào năm 1991 đến 81 triệu cành vào năm 1995 với giá một bông từ 42

- 45 cent Hà Lan Ở Anh cúc được trồng ngoài đồng vào những tháng mùa hè và quanh năm có khoảng 186 ha cúc được trồng vào năm 1996, hàng năm Anh phải nhập từ 160 - 182,2 triệu cành từ đảo Canary, Hà Lan, Israel, Tây Ban Nha, Bỉ,

Ý Đặc biệt ở Mỹ, hoa cúc được sử dụng với 2 dạng, cúc chùm và cúc đơn khoảng 93,7 triệu cành được sản xuất năm 1995, và phải nhập 585,395 triệu

Trang 16

một số lượng lớn các loại hoa cắt khác chủ yếu là hoa ôn đới, năm 1995 riêng hoa cúc đã phải nhập từ Malaixia là 8,04 triệu baht Còn theo số liệu thống kê về việc nhập và xuất hoa cắt ở Philipin hằng năm, nước này phải nhập từ Hà Lan,

Úc, Malaixia, Singapo chiếm khoảng 36,98% trong tổng số hoa cắt phải nhập và ngay đến Hà Lan nước dẫn đầu về xuất khẩu hoa cúc trên thế giới, nhưng vào tháng mùa đông cũng phải nhập từ 13,2 -19,4 triệu cành cúc (1991 -1995) từ Israel, Nam Mỹ, Zimbabue, trong đó tỷ lệ nhập hoa màu trắng là 33 - 36 %, vàng 22 - 24 %, hồng 12 -14%, tím 13%, đỏ 1%, còn lại là các màu khác Hà Lan chỉ là nhà cung cấp vào những tháng mùa hè còn mùa đông lạnh trong điều kiện tuyết phủ, năng suất và chất lượng hoa cúc giảm nhiều [2] Đây cũng là một trong những cơ hội và thách thức cho các nước đang phát triển xuất khẩu hoa hiện nay, mà trong điều kiện Việt Nam cây hoa cúc lại sinh trưởng phát triển rất tốt vào mùa đông Nếu ta có định hướng phát triển cụ thể đầu tư thích hợp trang thiết bị sản xuất cũng như công nghệ tiên tiến thì việc xuất khẩu sang các nước

là điều có thể thực hiện được trong tương lai Trong quá trình nghiên cứu và tìm bạn hàng, Nhật Bản đã chọn Việt Nam là một trong những đối tác xuất khẩu hoa cho Nhật Bản trong những năm tới Trung Quốc là quốc gia có tập đoàn giống hoa cúc phong phú và có kĩ thuật tiên tiến trong việc sản xuất hoa cúc khô Người Trung Quốc rất chú trọng về màu sắc hoa, bông to, cánh cứng

b, Tình hình sản xuất hoa cúc ở Việt Nam

Việt Nam có diện tích tự nhiên trên 33 triệu ha Diện tích trồng hoa ở Việt Nam còn nhỏ chiếm khoảng 0,02% diện tích đất trồng trọt, hoa được trồng từ rất lâu đời Diện tích hoa tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống của thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch nghỉ mát: Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân, Tây Tựu (Hà Nội) Đằng Hải, Đằng lâm (Hải Phòng) Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh) Triệu Sơn, Thành phố Thanh Hoá (Thanh Hoá), Gò Vấp, Hóoc môn (Thành Phố Hồ Chí Minh) phường 11, 12 (Thành Phố Đà Lạt ) với tổng diện tích trồng hoa khoảng 2 nghìn ha và tỉ lệ các loại hoa như sau: Hoa cúc 25%, hoa hồng 35 -40 %, layơn 15%, hoa khác 20 - 25 % (Nguyễn Xuân Linh 1998)[7]

Hoa cúc trồng phổ biến ở khắp nước ta nó không những có mặt ở thành thị, đồng bằng mà còn có ở nông thôn và vùng núi cao Theo tác giả Đặng Văn Đông, những vùng sản xuất chính đó là Đà Lạt, Hà Nội, Hải Phòng, Châu Đốc,

Trang 17

hầu hết các giống hoa cúc nhập từ nước ngoài vào diện tích trồng cúc chiếm khoảng 25 - 30 % diện tích trồng hoa ở vùng này Đà Lạt có khí hậu thuận lợi, đất đai phù hợp lao động dư thưà, người dân có truyền thống trồng hoa lâu đời nên một số công ty nước ngoài đã lập doanh nghiệp và liên doanh hợp tác sản xuất hoa, chỉ riêng tỉnh Lâm Đồng đã có 4 công ty như Nhật Bản, Thái Lan ở Bảo Lộc, Đài loan ở Di Linh, Chánh Lâm ở Đức Trọng và Hafrrarm ở Đà Lạt rất chú trọng đến việc sản xuất hoa cúc Riêng công ty Hasfarrm với 100% vốn nước ngoài chuyên trồng hoa cắt đặc biệt là hoa cúc chùm trong nhà kính, nhà che với giống và phương tiện kĩ thuật ở Hà Lan, đây cũng là nơi cung cấp 60% sản lượng hoa cho thành phố Hồ Chí Minh và cho các tỉnh phía Bắc chủ yếu là

Hà Nội và Hải Phòng

Thành Phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ hoa lớn ở Việt Nam nhu cầu hoa cắt trong ngày từ 25 - 30 nghìn cành, trong khi đó SaĐéc và quận Gò Vấp là những vùng chuyên canh hoa với diện tích lớn chỉ cung cấp được 10 -15 nghìn cành/ ngày Hiện nay thành phố vẫn phải nhập các loại hoa cắt trong đó có hoa cúc từ Hà Lan, Đoài Loan, Thái Lan.[3]

Cùng với thành phố Hồ Chí Mình, Hà Nội cũng là vùng sản xuất và tiêu thụ hoa lớn của Việt Nam, ngoài các điều kiện thuận lợi nguồn gen phong phú,

đa dạng có thể trồng được các cây ôn đới, nhiệt đới, á nhiệt đới lao động dồi dào, dân trí cao, sức tiêu dùng hoa ngày càng tăng lên, được nhà nước đầu tư, khuyến khích phát triển Nơi sản xuất hoa chính của Hà Nội là các vùng trồng hoa chính và truyền thống như Ngọc Hà, Tây Hồ, Nhật Tân, Nghi Tàm, nhưng

do quá trình đô thị hoá mạnh diện tích trồng hoa đang bị thu hẹp nặng tuy vậy nhu cầu vể hoa dường như không giảm nên đã xuất hiện những vùng trồng hoa mới như Vĩnh Tuy, Tây Tựu, Phú Thượng, Mê Linh

Cây hoa cúc đã mang lại nhiều thành công vì nó rất phù hợp với điều kiện khí hậu, điều kiện sản xuất và thị hiếu của người tiêu dùng, hơn nữa cũng dễ thâm canh, nhân giống, dễ trồng việc thu nhập trên một đơn vị diện tích là khá cao, so sánh với việc sản xuất hai vụ thì hiệu quả trồng cúc tăng 7 - 8 lần, so với rau mầu gấp 2,5 - 3 lần, nếu so sánh với các cây hoa khác thì trồng hoa hồng chỉ gấp 6 lần lúa, hoa cẩm chướng gấp 2 lần, hoa loa kèn gấp 3lần, hoa layơn gấp 4 lần Thế nhưng không phải ai trồng hoa cũng có lãi lớn, có hộ sản xuất không có

Trang 18

quả kinh tế Vì thiếu vốn lại hạn chế về kĩ thuật (như giống trái vụ, chế độ canh tác, phòng trừ sâu bệnh) dẫn đến nhiều hộ sản xuất bị thất thu và lỗ Tất nhiên mức chi phí cho nghề sản xuất hoa cũng không phải là nhỏ, đòi hỏi kĩ thuật cao., lao động nhiều để thâm canh chăm sóc Điều đó chứng tỏ không phải hộ nào cũng trồng hoa được Chẳng hạn với hoa cúc chi phí là 48,6 triệu/ha, trong khi

đó cho lúa là 5,6 triệu/ha và cho rau là 13 triệu/ha, vì vậy hiện tại ngành hoa của các huyện ngoại thành mới chỉ cung cấp cho thị trường Hà Nội khoảng 65% tổng lượng hoa tiêu dùng, số còn lại phải nhập từ Đà Lạt, Phúc Yên, Hải Dương, Hải Phòng (chiếm khoảng 25%) hoa nhập nội của Hà Lan, Thái Lan (15%) (theo

Đỗ Văn Viện 1998) [13]

Hà Nội có thể trồng hoa ôn đới và nhiệt đới nên thành phần và chủng loại hoa vô cùng phong phú và đa dạng Trước nhu cầu của thị trường luôn luôn đòi hỏi về năng suất, chất lượng ngày một cao nên những người sản xuất hoa ở Hà Nội đã không ngừng tìm tòi các giống mới theo nhận xét của Nguyễn Quang Thạch (2000) thì họ có trăm phương ngàn kế để có giống mới Nguồn nhập chủ yếu từ Pháp, Hà Lan, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapo Một số giống nhập nội tỏ ra rất thích hợp với địa phương và được phát triển mạnh mẽ [12]

Trong số rất nhiều các giống hoa được nhập về thì các giống cúc mang lại

sự thành công nhất Theo số liệu điều tra của trung tâm nghiên cứu hoa cây cảnh Viện di truyền nông nghiệp, trong năm 1995 diện tích hoa cúc còn ở mức độ 300

ha tập trung chủ yếu ở các vùng trồng hoa ở Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh chỉ riêng Hà Nội hàng năm sản xuất khoảng 10 triệu cành hoa cúc cắt, cúc chậu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước thu nhập hàng trăm triệu đồng trên

ha gieo trồng một vụ [8]

Tại sao hoa cúc lại được trồng nhiều và mang lại thành công cao như vậy?

là vì cây hoa cúc rất phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu ở Hà Nội nói riêng

và cả nước nói chung Cúc dễ trồng, dễ nhân giống bằng nhiều biện pháp khác nhau: nhân vô tính, nuôi cấy mô, giâm cành Từ một vài cây ban đầu chỉ sau 6 tháng đến 1 năm có thể cho rất nhiều cây giống đủ trồng cho hàng chục, hàng trăm ha Hiện nay ở Việt Nam đã có một số công ty nước ngoài vào thuê đất lập doanh nghiệp hoặc liên doanh hợp tác sản xuât hoa và họ đầu tư vào hoa cúc rất lớn đây là tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển của ngành sản xuất hoa nói

Trang 19

2.2.3 Tình hình nghiên cứu nhân nhanh cây hoa cúc bằng nuôi cấy mô tế bào trên thế giới và Việt Nam

a, Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Hoa cúc là loài hoa cắt có tính thời vụ phổ biến và là một trong những loài hoa căt được tiêu thụ mạnh Chính vì vậy, hoa cúc cũng được nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy in vitro nhiều nhất trong công tác giống

Sử dụng công nghệ nhân giống in vitro để sản xuất cây con giống là một trong nhiều nhân tố tạo nên thành công của ngành sản xuất cúc ở một số nước trên thế giới Ngoài việc sử dụng chồi và đỉnh nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các bộ phận khác của cây hoa cúc để nuôi cây như đoạn thân mẫu lá cánh hoa Lần đầu tiên tại pháp Morell và Martin đã tạo được những cây cúc sạch bệnh nhờ nuôi cấy mô phân sinh đỉnh vào năm 1952, cũng theo phương pháp này nhiều nhà khoa học đã thu được những giống cúc sạch virut B, veinmottle, Stunt

và Complex virut đó là Mori (1971), Asatani (1972) và Paludan (1974)[15] Năm 1974, Asjes và công sự (Hà Lan) đã chứng minh rằng có thể sử dụng nhiều bộ phận của cây hoa cúc để làm vật liệu nuôi cấy mô và ông đã ứng dụng thành công kỹ thuật nuôi cấy meristem để tạo ra các giống cúc sạch bệnh,

Data và Gupta (1982) đã tạo được giống cúc mới Hamantin (Là 1 thể đột biến về giống Meganti) do chếu tia gama ở nồng độ 1,5 krad Giống Meganti có hoa màu hồng tía, giống Hamanti có một số đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh hoá và phấn hoa sai khác so với giống Meganti [16]

Năm 1989, Susex (1989) cũng đã thành công trong việc sử dụng đỉnh sinh trưởng để nuôi cấy in vitro Kết quả cho thấy phương pháp tối ưu để có tỷ lệ sống sót và tỷ lệ tái sinh chồi cao nhất là bảo quản chồi đỉnh cúc trước nuôi cấy

2 ngày trong điều kiện lạnh dần 40oC đến 0,2oC với 10% Dimethylfoxde và 3% Glucose, có nhiều giống đạt tỷ lệ nảy 100%

Năm 1990, Kenneth và Torres đã nuôi cấy thành công từ đoạn thân và mẫu lá của giống cúc màu tím trên môi trường MS, tỷ lệ thành chồi đạt 100% và trung bình các cây nuôi cấy mô này sau 3-4 tháng là ra hoa Cùng năm 1990, trên môi trường cơ bản MS có bổ sung 0,5 – 2,0 mg/l BA và 0,2 – 2,0 mg/l NAA, Lunegent và Warrdlay cũng thành công trong tái sinh cây trực tiếp từ những đoạn thân của hoa cúc chrysanthemum morifollium Ramaf [16]

Năm 1991 khi nghiên cứu về ảnh hưởng của thành phần môi trường dinh

Trang 20

triển trong môi trường nuôi cấy Bencilademine, chúng hình thành 2 - 3 chồi so với mẫu bản và không hình thành rễ bất định, còn ở trong môi trường 0,1 - 0,3 mg/ lít Indolebutyric acid hình thành 1 -2 chồi và có rễ bất định

Để hoàn thành quy trình nuôi cây mô trên cây hoa cúc thì việc nghiên cứu giai đoạn cuối cùng là nuôi cây In vitro ra ngoài sản xuất và có chế độ chăm sóc hợp lí cũng rất quan trọng Năm 1990 Robert va Smith đã nghiên cứu bảo vệ rễ bằng chất đệm Cellulose sorbarods trong môi trường nuôi cấy dạng lỏng làm giảm bớt thiệt hại trong quá trình đưa cây ra ngoài và cho 1 lít môi trường ra rễ dạng lỏng 0,5 - 4 mg Paclobutrazol thì giảm được độ héo của cây, khi cho ra ngoài sản xuất do làm thân ngắn hơn, rễ to nhiều hơn và tăng diệp lục trên một diện tích lá

Burchi và các cộng sự (1995) đã nghiên cứu sự biểu hiện của gen GUS ở chồi nách của các giống cúc được chuyển gen bằng xung điện với dòng điện 0,2

- 1 mmA trong 3 - 10 phút Kết quả như sau: 50% số chồi được xử lý đã sống sót và 50% của số này đã có biểu hiện mang gen GUS [15]

b, Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu ứng dụng nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống cây hoa cúc đã được áp dụng nhằm nhân nhanh giống hoa cúc và đặc biệt là các giống nhập nội phục vụ cho sản xuất Trong những năm gần đây, các cơ quan cùng một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đến cây hoa cúc trên nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu là kỹ thuật nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào

Theo kết quả nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Quang Thạch (1993) môi trường nuôi dưỡng nhân tạo để nhân giống In vitro cây cúc là môi trường MS (Murashige - skoog ) Tuy nhiên thuộc vào loại môi trường nuôi cấy và tuỳ từng giai đoạn của quy trình nhân giống mà ta có thể bổ sung vào môi trường nền với nồng độ và tỉ lệ khác nhau của các chất điều tiết sinh trưởng thực vật của các nhóm Auxin va Xytokinin Chúng thường dao động trong khoảng từ 1 - 2 ppm đối với các Xytokinin và 0,5 - 1 ppm đối với các Auxin [10]

Cây hoa cúc cũng là cây bị khá nhiều các loại sâu bệnh phá hại, theo điều tra của Trần Thị Xuyên (1998) [14] có tới 13 loại sâu bệnh phá hại gây hại đối với cúc trong đó gồm có 8 loại sâu và 5 loại bệnh Năm loại bệnh đã phát hiện gồm 4 loại bệnh nấm và 1 loại vi khuẩn Bệnh phổ biến nhất gây

Trang 21

bệnh phấn trắng và gỉ sắt cũng tương đối nguy hại còn các bệnh khác được ghi nhận ở mức độ ít phổ biến

Nguyễn Thị Lý Anh (1999) đưa ra quy trình nuôi cấy mô cho 2 giống cúc chùm Hà Lan là Puma và Princess

Tác giả Đặng Thị Tố Nga (1999) đã nghiên cứu sử dụng chế phẩm phitohoocmon năm 1999 của Trường Đại Học Nông Nghiệp I trong việc nhân nhanh giống phục vụ sản xuất và đi đến kết luận: xử lý hom giâm với nồng độ thuốc 40% cho tỉ lệ hình thành rễ và tỉ lệ cây xuất vườn cao nhất, xử lý nồng độ cao 100% đã ức chế sinh trưởng của cành giâm, làm chậm tỉ lệ hình thành rễ và

tỉ lệ cây xuất vườn [9]

Nguyễn Quang Thạch và các công sự (2002) [11] đã nghiên cứu và đưa ra quy trình nuôi cấy mô cây hoa cúc CN43, vàng Đài Loan, hồng Đài Loan, Đỏ

Hà Lan như sau: nguồn mẫu nuôi cấy là đỉnh sinh trưởng, mắt ngủ và mô lá, ngoài ra cũng có thể sử dụng đoạn thân, lá đài, cánh hoa, nhị hoa,… làm vật liệu nuôi cấy Việc khử trùng mẫu cấy được tiến hành bằng Hgcl2 0,1% trong 5 – 10 phút hoặc Ca(OCl)2 5-7% trong 15 – 20 phút Sau khi khử trùng mẫu được cấy lên môi trường cơ bản MS chứa 1-2mg/l Cytokinin (Kinetin, BAP,…) và 0,5-1,5 mg/l auxin (IBA, NAA,…) Để tạo rễ cho chồi cúc có thể lấy các chồi đơn lẻ hoặc các đoạn thân chứa mầm nách vào môi trường MS chứa 0,3 – 0,5g/l than hoạt tính và 0,1-0,5mg/l NAA hoặc trên môi trường MS không bổ sung chất điều hoà sinh trưởng hay phụ gia nào khác Tuy nhiên, mỗi giống cúc khác nhau đòi hỏi các chất điều tiết sinh trưởng có nồng độ là khác nhau Do đó, cần xây dựng cho mỗi giống cúc một quy trình riêng

Tác giả Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Xuân Linh (2004), Nghiên cứu quy trình công nghệ nhân nhanh giống cúc CN20, có kết luận: các giá thể khác nhau

có ảnh hưởng quyết định đến tỷ lệ sống của cây con khi đưa ra ngoài ống nghiệm, giá thể cát: trấu hun, hoặc cát thích hợp cho cây cúc CN20 giai đoạn vườn ươm, tỷ lệ sống đạt 88,3%, và sau 20 ngày có thể đưa cây ra ngoài ruộng sản xuất [6]

Các tác giả Trần Khắc Hạnh, Trần Thị Lệ, Nguyễn Thị Kim Lý (11/2004), Trường Đại học Nông – Lâm Huế và Viện Di truyền Nông nghiệp kết luận giá thể tốt nhất cho cây cúc CN01 ra ngôi là đất: trấu hun tỷ lệ 1:1 hoặc

Trang 22

Các tác giả Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Thị Kim Lý (12/2004) đã nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể và dinh dưỡng cho cây hoa cúc sau khi nhân giống, bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào, các tác giả kết luận rằng; ở giai đoạn vườn ươm trên các giá thể đất – trấu hoặc cát - trấu, bón với liều lượng 20 kg đạm ure/ha, 50 kg supephotphat và 20 kg kaliclorua/ha là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc giai đoạn vườn ươm [5]

Có thể nói rằng những kết quả nghiên cứu về hoa cúc ở việt nam chưa nhiều và còn rất hạn Muốn đầu tư phát triển mạnh về sản xuất hoa cúc cần phải đầu tư nghiên cứu một cách toàn diện hơn nữa

2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa đồng tiền trên thế giới , Việt Nam 2.3.1 Nguồn gốc cây hoa đồng tiền

Cây hoa đồng tiền có tên khoa học là Gerbera sp., thuộc họ Compositae,

có nguồn gốc ở Nam Phi Nó được phát hiện bởi Robert Jamerson, người Scotsland vào năm 1880 khi đang làm ở bãi khai thác vàng gần Bardedton vùng Trausvạl ở Nam Phi Ông đã tặng cây này cho vườn thực vật Durdan và người phụ trách khu vườn này là ông John Med Leywood đã gửi những cây mẫu tới Harry Bolies ở thị trấn Cape Nam Phi Sau đó, ông Bolies đã gửi những cây này tới vườn thực vật hoàng Gia Anh để phân loại và nhân biết và ông dề nghị đặt

tên khoa học cho loài này là Gerbera Jamesonii Năm 1890, Richard Irwin

Lynch (người Anh) bắt đầu thực hiện một chương trình tạo giống và đã tạo ra rất nhiều giống cải tiến [8]

Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, hoa đồng tiền chưa được sản xuất ở Bắc Mỹ, nhưng sau đó việc nhân giống được tiến hành rộng rãi ở California trong suốt những năm 70 [10]

Ở Việt Nam, hoa đồng tiền được người Pháp đưa vào từ đầu thế kỷ 20 và được phát triển cho đến ngày nay Tuy nhiên chủ yếu vẫn là các giống đồng tiền đơn, hoa nhỏ Hoa đồng tiền kép mới chỉ được du nhập vào Việt Nam khoảng mười năm gần đây [1]

2.3.2.Giá trị thương mại của cây hoa đồng tiền

Với đặc điểm màu sắc tươi sáng, phong phú, đa dạng với đủ các loại màu, trên một hoa có thể có một màu đơn hoặc nhiều màu xen kẽ, hoa to, cứng, nên hoa đồng tiền là loại lý tưởng để làm hoa bó, lẵng hoa và cắm hoa nghệ thuật…Ngoài ra đồng tiền cũng có thể được trồng trong chậu để chơi cả chậu

Trang 23

Hoa đồng tiền là loại hoa có sản lượng và giá trị cao Ở điều kiện thích hợp có thể ra hoa quanh năm Tỷ lệ cành cắt và tỷ lệ hoa thương phẩm đều cao

Kỹ thuật trồng trọt và chăm sóc đơn giản, ít tốn công, đầu tư một lần có thể cho thu hoạch liên tục từ 4 – 5 năm [1]

Hiện nay, ở Việt Nam trong các loài hoa đã được chú ý phát triển, thì hoa đồng tiền kép mới nhập nội còn gọi là đồng tiền Nam Phi nổi lên như một cây cho hiệu quả kinh tế cao nhất Từ một sào đồng tiền giống mới, chăm sóc đúng

kỹ thuật có thể cho thu nhập gần 50 triệu đồng/sào

Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2004), trồng hoa đồng tiền mang lại giá trị thu nhập cao nhất trong các loài hoa thông dụng hiện nay Trồng một sào đồng tiền, chăm sóc theo đúng yêu cầu kỹ thuật thì một năm thu được 60.000 bông/sào (mật độ 2000 cây/sào) Với giá bán buôn tại vườn là 700 - 1500 đồng/ bông, trung bình 900 đồng/bông, tổng thu sẽ là 54 triệu đồng/ sào /năm Như vậy, nếu thực hiện canh tác đúng kỹ thuật với mức giá bán khiêm tốn thì ngay năm đầu trồng hoa đồng tiền đã thu hồi toàn bộ vốn bỏ ra là 29.700.000đồng/sào, đồng thời còn lãi sấp xỉ 24 triệu đồng/sào

Năm 1993, hoa đồng tiền đứng thứ 7 trong số 10 loại hoa cắt có giá trị kinh tế trên thế giới, đến năm 1994, nó đã vươn lên vị trí thứ 5 Sức tiêu thụ hoa thương mại của Hà Lan tăng 12,1% chỉ qua 1 năm (từ 1993 - 1994) Trong tương lai nhu cầu về hoa đồng tiền trên thế giới còn tăng mạnh mẽ [1]

Chính vì vậy, hiện nay diện tích trồng hoa đồng tiền của Việt Nam ngày càng mở rộng, lượng tiêu thụ và giá cả ngày một tăng, rất dễ tiêu thụ ở thị trường trong nước và thế giới

2.3.3.Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa đồng tiền

a, Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa đồng tiền trên thế giới

Việc chọn tạo giống hoa đồng tiền ở Châu Mỹ chỉ bắt đầu từ những năm

70 của thế kỷ trước, tại trường Đại học Califorlia với những chương trình tạo ra rất nhiều giống hoa để trồng trong nhà kính.Còn ở Châu Âu, Châu Á và Nhật Bản lại tạo giống có xu hướng cho trồng hoa cắt

Đồng tiền rất khó kết hạt, hạt lại rất nhỏ sức sống kém nên trước đây đồng tiền chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp tách chồi Hiện nay công nghệ nuôi cấy mô tế bào được áp dụng rộng rãi trong việc nhân giống hoa đồng tiền giúp cải thiện đáng kể trong vấn đề cây giống

Trang 24

Giống đồng tiền cứng, hoa ngắn 6 inch trồng trong chậu được giới thiệu ở nhật Bản vào năm 1980, sau đó người ta đã sử dụng công nghệ nuôi cấy mô để nhân giống Hiện nay chúng được trồng ở nhiều nước trên thế giới

Phương pháp nuôi cấy mô tế bào là phương pháp chủ yếu trong nhân giống hoa đồng tiền, chính vì thế, từ lâu trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này

Năm 1974, Murashige và cộng sự đã nghiên cứu và nuôi cấy thành công hoa đồng tiền trên môi trường MS + 0,5mg/l IAA và 10mg/l kinetin Mẫu cấy được giữ trong phòng nuôi ở nhiệt độ 270C, thời gian chiếu sáng 12 -16 giờ/ngày, cường độ chiếu sáng là 1000 lux Những chồi tách sẽ ra rễ sau khi được nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung 10mg/l IAA Wozniak và cộng sự cho rằng bổ sung kinetin vào môi trường nuôi cấy sẽ làm tăng cả số lượng và chất lượng chồi Số lượng và chất lượng rễ cũng như sức đề kháng của cây tăng

lên khi cho thêm 2,6 mg/l ABA vào môi trường ra rễ [12]

Năm 1982, khi nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng tới sự hình thành chồi và rễ của đồng tiền trong phòng nuôi cấy, Pierik và cộng sự đã nhận thấy: Môi trường có nồng độ citokinin cao và auxin thấp thì sẽ hình thành chồi, còn môi trường có IAA, IBA thuận lợi cho sự hình thành rễ.[13]

Năm 1985, Hempel và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của Kinetin, BAP và 2iP đến quá trình nhân giống invitro đối với giống Marleeen và cho thấy: 23,23µM Kinetin thích hợp cho nhân chồi và 5,5µM BAP cho số rễ tối đa Khi bổ sung 9,84µM IBAvào môi trường sẽ làm tăng số lượng rễ và tăng sức đề kháng của cây[6]

Pinto JEBP lại cho rằng môi trường tốt nhất cho tái sinh cây là MS có bổ sung 3 - 9 mg/lBA, môi trường nhân nhanh chồi là 1/2MS + 2,27mg/lBA, còn

môi trường tạo rế tốt nhất là không có BA[5]

b, Tình hình nghiên cứu và sản xuất ở Việt Nam

Cây hoa đồng tiền ở Việt Nam đã được trồng từ rất lâu đời, song chủ yếu là những giống hoa đồng tiền đơn cho nên các kết quả nghiên cứu về giống hoa này còn hạn chế Từ những năm 1950 trở lại đây, với sự xuất hiện của nhiều giống hoa đồng tiền nhập nội đã làm thay đổi cơ cấu trồng đồng tiền ở nhiều vùng trồng hoa

và nhận được những sự quan tâm của các nhà khoa học trong nước

Năm 1996, Nguyễn Quang Thạch và cộng sự đã nghiên cứu phương pháp nuôi

Trang 25

- Tạo được nguồn mẫu sạch ban đầu bằng nuôi cấy Meristem trên môi trường MS-62 cải tiến có bổ sung auxin, cytokinin với tỷ lệ là 1:2 và kích thước Meristem từ 1-2 mm cho khả năng tạo callus và cụm chồi tốt nhất

- Môi trường tốt nhất để tạo chồi là MS + 15% nước dừa +(8-10mg)/lBA + 0,5mg/lIAA cho hệ số nhân đạt từ 6,3 -7cây/tháng

- Môi trường ra rễ tạo cây hoàn chỉnh hiệu quả cao nhất là 10mg)/lI AA + 3%Sacaroza

MS+(8 Tiêu chuẩn cây con khi đưa ra đất cần đạt từ 4 – 5 lá, có từ 4MS+(8 5 rễ, cao 4MS+(8 5cm, giá thể thích hợp nhất đất và phân chuồng hoai mục với tỷ lệ 1:2

4-Qua nghiên cứu quy trình nhân nhanh giống hoa đồng tiền bằng kỹ thuật invitro Đỗ Năng Vịnh và cộng sự đã rút ra một số kết luận sau:

- Sử dụng HgCl2 nồng độ 0,1 phần trăm với thời gian khử trùng 10 phút

là thích hợp cho hoa đồng tiền, tỷ lệ mẫu sống đạt 82%

- Môi trường tạo callus và tái sinh chồi: MS + TDZ (0,2mg/l) + NAA (0,1mg/l) + đường (50g/l) + thạch (6g/l) là tốt nhất để tạo mẫu chồi invitro

- Nhân nhanh chồi hiệu quả nhất là môi trường bán lỏng MS + BAP (1,5mg/l)+10 phần trăm nước dừa + B1 (1mg/l) + đường (50g/l) + thạch (3g/l)

- Môi trường tạo rễ thích hợp là: MS + NAA (0,5mg/l) + đường (50g/l) + thạch (6g/l) Môi trường này bảo đảm tạo cây hoàn chỉnh, khoẻ, có sức sống tốt khi ra vườn

- Công thức giá thể thích hợp cho ra cây con ở giai đoạn vườn ươm là: 1 đất + 1 cát + 1 trấu hun + 1/4 phân vi sinh cho tỷ lệ cây con sống đạt 90% [9]

Theo Lê Kim Hoàn, môi trường tạo callus MS+0,1 NAA+0,25 mg/l TDZ;

- Môi trường nhân chồi (nhân nhanh): MS+2mg/l Ki + 0,01mg/l NAA + 0,5mg/l BAP;

- Môi trường tạo cây con hoàn chỉnh: 1/2MS + 0,1mg/l IAA;

- Nên tạo rễ exvitro đối với hoa đồng tiền kép sẽ thu được lượng rễ nhiều hơn, khoẻ hơn và đặc biệt giá thành cho 1 cây con rẻ hơn so với cho ra rễ invitro

Liều lượng xử lý ra rễ thích hợp đối với Đồng tiền kép là 1000 ppm IBA [2]

Những nghiên cứu trên đã bước đầu hoàn thiện được quy trình nhân giống cây hoa đồng tiền bằng phương pháp nuôi cấy mô Tuy nhiên, việc sử dụng những hoá chất đắt tiền như TDZ chỉ thích hợp với điều kiện thí nghiệm hoặc

mô hình sản xuất nhỏ Với quy mô lớn, sản xuất công nghiệp sẽ làm cho sản

Trang 26

Mặt khác, những nghiên cứu trên mới chỉ áp dụng trên một số đối tượng giống cụ thể Vì vậy khi áp dụng trong sản xuất lớn sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đối tượng của sản xuất phải theo yêu cầu của thị trường

Theo Hoàng Thị Nga, báo cáo kết quả nghiên cứu dự án (2008), “Hoàn thiện quy trình nhân giống hoa đồng tiền, địa lan bằng công nghệ nuôi cấy mô" , kết quả cho thấy ; kết hợp giữa việc sử dụng phương thức ra cây bằng khí canh

và cung cấp dinh dưỡng thích hợp như YOGen (tỷ lệ NPK 30:10:10) nồng độ 1g/lí tưới 2 lần/tuần) thì sau 10-12 tuần đưa cây ra vườn ươm cây đạt chiều cao20-22 cm, có 8-10 lá là cây đủ tiêu chuẩn để đưa ra trồng ngoài sản xuất vì vậy đã rút ngắn được thời gian ở ngoài vườn ươm của cây hoa đồng tiền từ 4 tháng (khi ra cây theo phương pháp địa canh trên nền giá thể đất mùn+ trấu hun,

tỷ lệ 1:1) xuống chỉ còn 2,5-3 tháng [3]

- Viện Di truyền Nông nghiệp cũng đã nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hoa đồng tiền bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào cung cấp giống chất lượng cao, sạch bệnh cho sản xuất

Theo Lê Kim Hoàn, Đỗ Năng Vịnh và các CTV Viện Di truyền Nông nghiệp đã nghiên cứu và cải tiến các quy trình công nghệ nhân giống in vitro của cây hoa đồng tiền kép bằng phương pháp nuôi cấy lớp mỏng tế bào: Giai đoạn vườn ươm tiến hành khi cây trong bình có chiều cao 3-3,5 cm, các bình cây được đưa ra ngoài phòng nuôi cấy, nơi có điều kiện ánh sáng tự nhiên và nhiệt

độ của vườn ươm trong vòng năm ngày để quen dần với điều kiện ngoại cảnh Sau đó các chồi này được lấy ra khỏi bình, được cắt bớt 1-2mm phần gốc chồi rồi xử lý với IBA ở các nồng độ khác nhau 0,500,1000,1500,2000 ppm, với thời gian 30 giây Sau đó các chồi này được giâm vào các khay ươm cây Kết quả cho thấy, tạo rễ ex vitro với hoa đồng tiền kép sẽ thu được lượng rễ nhiều hơn , khỏe hơn và đặc biệt giá thành cho một cây con rẻ hơn so với cho ra rễ in vitro Liều lượng xử lý IBA thích hợp cho cây hoa đồng tiền kép là 1000 ppm [2] Bên cạnh một số cơ quan nghiên cứu đầu ngành về nuôi cấy mô cây hoa đồng tiền như Viện Di truyền Nông nghiệp, Trường ĐH Nông nghiệp thì Viện Nghiên cứu Rau quả trong một số năm gần đây đã công bố các kết quả nghiên cứu về cây đồng tiền, trong đó có các kết quả nghiên cứu về giai đoạn vườn ươm, các nghiên cứu khẳng định: thời vụ ra ngôi cây giống tốt nhất trong năm là

vụ xuân, giá thể trồng thích hợp nhất cho cây đồng tiền giai đoạn vườn ươm là

Trang 27

tiền là Atonik 1.8EC, thuốc trừ bệnh thối cây con tốt nhất cho cây đồng tiền là

Anvil, tuổi cây khi xuất vườn phù hợp nhất là sau ra ngôi 60 ngày Trong khi đó

một số vấn đề như nghiên cứu biện pháp nâng cao hệ số nhân giống sản xuất

theo quy mô công nghiệp để giảm giá thành sản xuất, các biện pháp nâng cao tỷ

lệ sống, tăng khả năng sinh trưởng của cây con khi ra ngôi trong vụ hè vẫn chưa

được quan tâm nghiên cứu

2.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa Lily

2.4.1 Những đặc điểm chính của cây Lily

a, Vị trí cây Lily trong phân loại thực vật

Chi Lilium thuộc họ Liliaceae, một trong những họ thực vật lớn nhất gồm

200 chi với hơn 3000 loài Chi Lilium có khoảng 220 loài, một số đã được trồng

từ 3000 năm trước Sau năm 1950, khoảng 1000 giống lily mới đã được lai tạo

và đăng ký trên thế giới, trong đó nhiều giống lai có nguồn gốc từ hai loài Nhật

1 Nhóm Martagon L distichum, hansonii, martagon, tsingtauense

a) L bolander, columbianum, kelloggii, humboldtii, rubescens, washingtonianum

b) L maritimum, nevadense, occidentale, pardalinum, parryi, parvum, roezlii c) L canadense, grayi, iridollae, michauxii, michiganense, superbum

2 Nhóm American

d) L catesbaei, philadenphicum

3 Nhóm Candidum L bulbiferum, candidum, carniolicum, chalcedonicum, monadelphum,

polyphyllum, pomponium, pyrenicum

4 Nhóm Oriental L auratum, brownii, japonicum, nobilissimum, rubellum, speciosum

a) L davidii, duchartrei, henryi, lancifolium, lankogense, leichtlinii, papilliferum

b) L amabile, callosum, cernuum, concolor, pumilum

5 Nhóm Asiatic

c) L bakerianum, a) L leucanthum, regale, sargentiae, sulphureum

6 Nhóm Trumpet b) L formosanum, longiflorum, neilgherrense, philippinense,

wallichianum

7 Nhóm Dauricum L dauricum, maculatum

b, Giá trị của cây hoa Lily

Tại thị trường tiêu thụ một cành hoa Lily có thể đạt giá trị từ

Trang 28

15.000-một chậu hoa Lily gồm 5 cây (từ 25-30 bông hoa) có giá trị từ 200-300 ngìn VNĐ

Trên thị trường hoa trên thế giới, một mình Hà Lan năm 2008 đã xuất khẩu khoảng 600 triệu cành hoa lily, đem lại giá trị kinh tế khoảng 160 triệu €

Ngoài Hà Lan, trong những năm gần đây tham gia vào thị trường xuất khẩu hoa Lily còn có rất nhiều các quốc gia khác như Trung Quốc, Nhật Bản… Đặc biệt là một số các nước nam Mỹ như Braxin, Chi Lê… đang ngày càng lớn mạnh và chiếm một thị phần không nhỏ trong nền sản xuất hoa Lily Tất cả những biến đổi đó đều xuất phát từ giá trị kinh tế đặc biệt mà loài hoa này đem lại

2.4.2 Tình hình sản xuất cây hoa Lily hiện nay

a, Sản xuất hoa Lily trên thế giới

Cây hoa Lily là một trong những cây trồng quan trọng nhất của ngành công nghiệp hoa cắt cành trên toàn thế giới Với diện tích trồng trên 39.000ha (CBS 2006)

Hà Lan là nước đứng đầu thế giới về sản xuất hoa cũng như củ giống hoa Lily Tiếp theo là các nước như: Mỹ, Nhật Bản…Hàng năm Hà Lan sản xuất khoảng 1 tỉ cành hoa, trong đó 65% được xuất khẩu ra thị trường Châu âu và một số nước và vùng lãnh thổ khác

Tiếp theo Hà Lan là các nước xuất khẩu hoa Lily truyền thống khác như

Mỹ, Nhật Bản… Tuy nhiên trong một số năm gần đây, các nước như Trung

Trang 29

Quốc, Braxin, Chi Lê, Đài Loan… cũng đã gia nhập thị trường xuất khẩu hoa Lily với thị phần chiếm khoảng 30-40%

b, Sản xuất hoa Lily ở Việt Nam

Những vùng sản xuất hoa Lily truyền thống như Đà Lạt mỗi năm sản xuất được khoảng 1,5 triệu cành Trong đó gần 1 triệu cành được xuất khẩu bởi công

ty Đa Lạt Hasfam Sapa khoảng vài trăm nghìn cành mỗi năm

Ngoài những vùng sản xuất truyền thống nói trên, hiện nay hoa Lily đã được trồng ở hầu hết các tỉnh phía Bắc, nơi có nhiệt độ phù hợp với cây hoa Lily vào mùa thu và mùa đông Theo bộ môn Hoa cây cảnh-Viện nghiên cứu rau quả.Năm 2007 Viện NC Rau quả triển khai xây dựng mô hình trồng hoa lily cho

70 DN, chủ trang trại, hộ gia đình ở 12 tỉnh thành với quy mô 220.000 củ giống Kết quả tất cả 100% sản phẩm đều được tiêu thụ hết, tỷ lệ lợi nhuận gấp 2,2 lần

so với đồng vốn bỏ ra (trong thời gian 3,5 tháng) Từ kết quả trên, năm 2008 Viện phát triển mô hình ra 22 tỉnh từ Phú Yên trở ra với tổng số lượng khoảng 400.000 củ giống

2.4.3 Nuôi cấy mô và công tác nhân giống cây hoa Lily

Nuôi cấy mô tế bào in vitro được xem là phương pháp hiệu quả nhất để

tạo củ giống chất lượng cao với số lượng lớn, ổn định, đồng nhất về mặt di truyền, đáp ứng mục đích nhân nhanh và sản xuất củ trên quy mô thương mại ở

nhiều giống Lilium

Dương Tấn Nhựt là tác giả có rất nhiều nghiên cứu về cây hoa lily, năm

1994, ông đã công bố kết quả nhân giống L.longiflorum từ nuôi cấy đỉnh sinh

trưởng Năm 2000, Dương Tấn Nhựt và cộng sự đã đưa ra quy trình cảm ứng và

tái sinh đế hoa L.longiflorum trên môi trường MS có bổ xung tổ hợp chất điều

tiết sinh trưởng gồm: IBA, BAP, NAA

Năm 2001, Dương Tấn Nhựt đã ứng dụng thành công kỹ thuật cắt lát

mỏng tế bào đoạn thân vào nuôi cấy in vitro L.longiflorum

Năm 2001, Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Thị Nhẫn đã đưa ra kỹ thuật tạo củ in vitro trong công tác tạo giống hoa lily

Năm 2003, Nguyễn Thái Hà nghiên cứu sự tạo củ Lilium ssp, đưa ra kết luận đường sucrose là thành phần quan trọng nhất đến sự tạo củ

TS Dương Tấn Nhựt và cs nhân giống thành công cây hoa lily bằng kỹ thuật nuôI cấy bioreacter Bằng kỹ thuật này từ một củ con ban đầu sau ba tháng

Trang 30

20 lít, chỉ sau 1-2 tháng là có thể tạo ra 10.000 giống cây hoa lily Các kết quả thử nghiệm nuôi cấy bằng bioreacter có khả năng sống sót và sinh trưởng trong môi trường tự nhiên là 95%

Ngoài ra, còn rất nhiều đề tài đã và đang nghiên cứu về cây hoa lily như: nghiên cứu các phương thức sinh sản (hữu tính và vô tính) ở cây hoa loa kèn chịu nhiệt; nghiên cứu xây dựng phương pháp chuyển gen cho cây hoa đồng

tiền, hoa lily bằng vi khuẩn Agrobacterium tumefacienies (TS Nguyễn Lý

Anh2006-2008); nghiên cứu ứng dụng chỉ thị phân tử trong đánh giá nguồn gen phục vụ chọn tạo giống hoa lily (Lilium ssp) ở Việt Nam (Nguyễn Thị Phương Thảo 2006 – 2008)

2.5 Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa hồng môn

2.5.1.Nguồn gốc cây hoa hồng môn

Tên khoa học của Hồng Môn là Anthurium andreanum Linden ex Andres

là cây thuộc họ Araccea-họ ráy, sống chủ yếu ở vành đai nhiệt đới Trung và Nam Mỹ, gồm khoảng 500 loài khác nhau Có 3 loài chính được dùng để nhân giống thương mại là: A.andreanum Lind được trồng chủ yếu để cắt hoa, A.scherzerianum trồng chậu làm cây cảnh và A.crystallium Lind là cây trồng lấy

lá Nhưng phổ biến hơn cả là hai loài A.andreanum và A.scherzerianum, hai loài

này đều có hoa đẹp và lâu tàn

Anthurium andreanum có nguồn gốc ở Colombia còn Anthurium scherzerianum thì được tìm thấy ở Costa Rica và Guatamala Nguồn gốc và mối

quan hệ của các loài này trong tự nhiên với các giống cây trồng ngày này không thật sự rõ ràng Theo Birdsey (1951) cho rằng các giống cây trồng ngày nay có nguồn gốc là dạng lai giữa các loài khác nhau trong bộ sưu tập lớn nhất về Anthurium

Theo Mayoetal, (1997), hoa hồng môn có 800 loài được tìm thấy ở vùng nhiệt đới từ Mêhico đến vùng Bắc Áchentina và Urugoay Nó cũng có nguồn gốc

ở Tây Ấn độ Mặc dù giống này không có nguồn gốc từ đảo Haoai, song nhiều người vẫn nghĩ đó là loài hoa của đảo Haoai Giống này có nguồn gốc từ các khu rừng ẩm ướt ở sườn phía tây của dãy Andes cao từ 400m đến 1.300m ở phía nam Colombia và phía Bắc Urugoay Ở đó loại này phát triển nhanh chóng [5]

Theo Mandison (1980), Edonard Andre phát hiện ra loài hoa này năm

1876, ở Colombia, Andre gửi giống hoa này đến Jean Linden ở Bỉ Từ đó nó được đưa vào trồng trong vườn của hoàng gia Anh [5]

Trang 31

Theo Marie Neal (1948) giống hoa này được giới thiệu ở đảo Haoai vào năm 1889 bởi Sammuel Millsdamon (Bộ trưởng bộ tài chính cộng hòa Haoai) [5]

Theo Bown, 2000, giống này được nhập từ Luân đôn và được lai tạo với các cây hoang dại đề tạo ra giống màu hồng, màu cam và được trồng ở nhiều nơi [5]

Từ những năm 1940 trở về trước người ta đã không hiểu cách lai tạo giống Sau đó thì con người đã hiểu ra vấn đề này và từ đó số lượng cây và loài tăng lên rất nhanh Các loài hoa này được bày bán ở khắp các cửa hàng hoa ở Haoai sau năm 1940 Công nghiệp hoa cắt được bắt đầu ở các trang trại, cây này được trồng ở dưới tán những cây to

Birdsey (1951) cho rằng các giống trồng trọt là Anthurium cultorum, bởi vì các giống trồng trọt cũng có điểm giống với các loài hoang dại Sự khác nhau giữa loài trồng và loài hoang dại được tìm thấy là kết quả của phép lai tạo ưu thế lai [5]

* Đặc điểm hình thái của cây Anthurianum andreanum

Cây Anthurianum andreanum có nguồn gốc từ Colombia và được mang sang châu Âu vào năm 1876 Anthurianum andreanum là loài thực vật biểu sinh,

có cách phát triển giống như cây nho, tự đứng thẳng bằng các rễ khí trên không Trên mỗi thân chính của cây Anthurium andreanum có thể mọc 3 đến 8 lá một năm tuỳ thuộc vào dinh dưỡng, môi trường và từng giống cây khác nhau Các chồi nách ở sát gốc cây cũng có thể phát triển thành cây con, làm tăng dần số lượng cây qua từng năm

Cây A.andreanum mỗi năm cho từ 3 đến 8 bông hoa Đặc điểm chung của

hoa A.andreanum là một thể phức tạp bao gồm bông mo, là một cụng hoa hình trụ rắn chắc, dày đặc với hàng trăm bông hoa nhỏ lưỡng tính và lá mo, có hình dạng như một phiến lá dày, bên ngoài có lớp biểu bì cứng bao bọc, có màu sắc đa dạng tuỳ thuộc vào các giống khác nhau, gắn sát với chân đế của bông mo Bông mo và

lá mo đều được mang trên các cuống không có lá hoặc trên các cuống lá

* Các yêu cầu ngoại cảnh của cây Anthurium andreanum

-Nhiệt độ: Cây Anthurium andreanum từ lúc bắt đầu ra hoa đến khi nở cần điều kiện nhiệt độ là 180C và thích hợp nhất ở 200C hoặc cao hơn Nhiệt độ cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình ngủ của hoa và có ảnh hưởng nhất định đến

sự dài ra của cuống hoa

Sự phát triển của cuống lá và bông mo tốt nhất ở 19-200C vào ban ngày

và 13-160C vào ban đêm

Trang 32

- Ánh sáng: Anthurium andreanum có nhu cầu ánh sáng phụ thuộc vào độ tuổi, và giống cây Điều kiện ánh sáng được đề nghị cho giống cây này là 75% bóng râm, tương đương với 32-38kilo lux Đối với các cây được gieo từ hạt thì yêu cầu ánh sáng còn thấp hơn Vì nếu có quá nhiều ánh sáng có thể làm phai màu thậm chí có thể làm cháy lá, ảnh hưởng đến sự phát triển của lá và hoa

2.5.2 Giá trị thương mại của cây hoa hồng môn

Tại thị trường châu Âu, năm 2006, các nhà sản xuất hoa Hồng môn Hà Lan đã bán đấu giá trên 84.000.000 cành đạt tổng giá trị thương mại gần 46.500.000 €, tăng 8% so với năm trước

Cùng với hoa lan, hoa Hồng môn chiếm tới 90% của tất cả các hoa nhiệt đới nhập khẩu vào Hoa Kỳ Thị phần tại Mỹ được mở rộng đáng kể từ giữa năm

2006 đến 2000 do vùng sản xuất chính của Mỹ là Hawaii sụt giảm năng xuất do

vi khuẩn Xanthomonas phá hoại đến 60% so với thời gian đước đó Mặc dù hiện nay, sản xuất hoa tại Hawaii đã phục hồi đáng để, tuy nhiên thị trường này vẫn còn nhiều hứa hẹn

Hiện nay, mức tiêu thụ Mỹ được bổ sung chủ yếu là hoa từ các nước Caribê (Jamaica, Dominica, St Lucia, Trinidad), Mexico, Costa Rica, Colombia

và những nước khác Tổng giá trị và số lượng hàng năm hoa Hồng môn nhập khẩu vào Hoa Kỳ có khác nhau trong thập kỷ qua Trong năm 2006, gần 420 tấn anthuriums hoa cắt đã được nhập khẩu vào Hoa Kỳ, với giá trị là US $ 362.000

Tại Nhật bản, thị trường chủ yếu được cung cấp bởi các nước đang tương đối gần như Philippines, Malaysia, Úc và gần đây hơn Trung Quốc

Ở cấp độ bán buôn, giá cho hoa hồng môn có dấu hiệu phục hồi Mỹ khoảng US $ 0,87 (tăng từ US $ 0,78 vào năm 2003 và US $ 0,60 vào năm 2002) Giá cả ở châu Âu thường cao hơn, nhưng cho thấy một xu hướng đi xuống, từ 0,63 € năm 2003 lên 0,55 € trong năm 2006 Giá được báo cáo tại Nhật Bản cho hoa Hồng môn nhập khẩu khoảng US $ 1,08 [5]

2.5.3 Tình hình nghiên cứu về nhân giống hoa hồng môn

a, Tình hình nghiên cứu hoa hồng môn trên thế giới

Từ những năm 70 đến nay đã có nhiều nghiên cứu sinh học mà đối tượng là cây Anthurium Trong đó có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến nhân

giống loài cây này

- Năm 1974, Pierik và năm 1976, Hauzinka đã nghiên cứu về sự hình

Trang 33

hành trên nguồn vật liệu ban đầu là phôi và các mô non của cây trưởng thành như: lá, cuống lá, cuống hoa, bông mo và trên các đoạn thân[8]

- Năm 1975, Pierik đã nghiên cứu khả năng phát triển callus trên môi trường nuôi cấy lỏng [12]

- Cũng năm 1975, Pierik và công sự đã nghiên cứu cải tiến điều kiện kích tạo chồi từ callus, tăng hệ số nhân chồi và khả năng ra rễ từ chồi

- Năm 1976, Pierick nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NH4+ đến sự hình thành chồi [12]

- Năm 1978-1979, Lefffring và Soede nghiên cứu cải tiến phương pháp vi nhân giống bằng cách nhân chồi phát sinh từ mô lá[12]

- Năm 1991, Rosario và Lapitan nghiên cứu khả năng tái sinh cây từ phôi với nguồn nguyên liệu ban đầu là hạt giống[12]

- Năm 1986, Finnie và Staden nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường, ánh sáng tới sự tái sinh chồi từ mô lá, rễ, cuống lá[12]

Chi Anthurium gồm khoảng 1500 loài nhiệt đới, là những cây hoa quan trọng và thường được nhân giống bằng hạt (Dufour và Guerin, 2003) Các phương pháp nhân giống vô tính được áp dụng với hồng môn vẫn chưa đưa ra những kết quả tốt và kĩ thuật nuôi cấy mô xuất hiện như một sự thay thế để tăng sản xuất (Pierik et al., 1974; Chen et al., 1997) [12] Sự tái sinh cây của Anthurium andreanum đã đạt được thông qua sự hình thành các chồi bất định từ

mô sẹo (Pierik et al, 1974; Pierik và Steegmans, 1976) và sự tái sinh chồi trực tiếp từ những cây vi cắt (Martin et al., 2003) [11]

Teng (1997) đã thiết lập 1 sự thật là trong nuôi cấy lỏng hoặc màng nổi, phần lớn các chồi Anthurium bất định được tái sinh riêng rẽ hoặc trong những tập hợp lỏng, đây là một ưu điểm vượt trội so với nuôi cấy đặc [14]

Geier (1986) đã kết luận rằng tuổi của cây và kiểu gen của cây có ảnh hưởng tời sự tái sinh cây của Anthurium andreanum, và đã phân tích ảnh hưởng của NH4NO3 đến sự hình thành callus và chồi từ những mô lá non [8]

Kuehnle và Sugii (1991) [9] đã thiết lập một hệ thống tái sinh từ lá và cuống lá của các giống Anthurium Hawiian thông qua nuôi cấy mô sẹo và Kunisaki (1980) [10].đã thiết lập sự vi nhân giống Anthurium từ những chồi nách Chen et al (1997) đã tái sinh cây Anthurium andreanum từ rễ [7]

Trang 34

b, Tình hình nghiên cứu và sản xuất ở Việt Nam

Anthurium là giống cây nhập nội vào Việt Nam, vì vậy cho đến nay việc nghiên cứu giống cây này vẫn còn hạn chế và mới chỉ tập trung vào nghiên cứu phương pháp canh tác trên đồng ruộng

Ở Việt Nam, việc ứng dụng nuôi cấy mô tế bào thực vật hiện đang phát triển mạnh mẽ trên nhiều loại hoa khác nhau trong đó có Hồng Môn Đã có nhiều kết quả nghiên cứu đối với cây Hồng Môn đã công bố trong những năm gần đây:

- Tại hội nghị Công nghệ sinh học toàn quốc năm 2003, các nhà nghiên cứu của viện Di truyền Nông Nghiệp đã đưa ra kết quả nghiên cứu “Nghiên cứu tạo phôi vô tính ở cây Hồng Môn” nhằm xây dựng quy trình nhân giống Hồng Môn thông qua phôi vô tính với nguồn mẫu là mô thân và cuống lá in vitro (Đoàn Duy Thanh, 2003) [4]

- Cũng trong hội nghị này, nhóm tác giả Chu Bá Phúc, Lê Huy Hàm, Nguyễn Khánh Vân, Đỗ Năng Vịnh đã công bố một số khâu trong quy trình nhân giống vô tính cây Hồng Môn trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng góp phần làm

đa dạng và phong phú loài hoa này ở Việt Nam, (Chu Bá Phúc, 2003) [3]

Các tác giả Dương Tấn Nhựt, Đinh Văn Khiêm, Đỗ Năng Vịnh và các CTV đã nghiên cứu ảnh hưởng của nuôi cấy lỏng trong vi nhân giống cây hoa hồng môn (Anthurium spp), các tác giả cho rằng cây con khi được chuyển ra vườn ươm, có sức sống rất tốt với tỷ lệ sống tối đa 100%, sau 45 ngày [2]

Nhìn chung các kết quả nghiên cứu về hoa hồng môn ở Việt Nam chưa nhiều, đặc biệt là công nghệ nhân giống hoa hồng môn băng nuôi cấy mô tế bào vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu, do vậy hệ số nhân giống thấp, giá thành còn cao, thời gian vườn ươm kéo dài, chất lượng cây giống chưa đáp ừng được yêu cầu của thị trường

Trang 35

III MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ

PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI DỰ ÁN 3.1 Mục tiêu

- Xây dựng được hệ thống sản xuất công nghiệp các loại cây giống hoa chất lượng cao bằng kỹ thuật nuôi cấy mô (công suất 1,2-2 triệu cây/năm)

- Hoàn thiện các quy trình công nghệ trong sản xuất giống hoa bằng nuôi cấy mô quy mô công nghiệp, các quy trình này được cấp có thẩm quyền công nhận tiến bộ kỹ thuật

- Triển khai trồng thành công hoa thương phẩm từ cây giống đã sản xuất được, tạo thành các vùng sản xuất hàng hoá

3.2 Nội dung thực hiện

- Hoàn thiện quy trình nhân giống và sản xuất hoa thương phẩm cho 5 đối tượng cây hoa: cúc, đồng tiền, lily, lan, hồng môn

- Tập huấn kỹ thuật nhân giống và sản xuất hoa thương phẩm cho cán bộ và nông dân trồng hoa

- Tổ chức sản xuất thử nghiệm giống hoa và xây dựng mô hình sản xuất

hoa thương phẩm từ cây nuối cấy mô

3.3 Phương pháp nghiên cứu

- Các thí nghiệm hoàn thiện quy trình nhân giống hoa bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào sử dụng các phương pháp nuôi cấy mô hiện hành Cách bố trí thí nghiệm và các chỉ tiêu theo dõi theo phương pháp nghiên cứu nông sinh học thông dụng Các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại, mỗi công thức bao gồm đến 30 cá thể

- Các thí nghiệm hoàn thiện quy trình sản xuất hoa thương phẩm được bố trí theo khối ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại theo dõi 30 cây Định kỳ theo dõi 10 ngày một lần

3.4 Phương án triển khai dự án

3.4.1 Phương thức triển khai

- Dự án khi thử nghiệm sẽ triển khai ngay tại các địa phương và liên kết hợp tác với các doanh nghiệp, các chủ trang trại và hộ gia đình sản xuất và kinh doanh về hoa do vậy khi dự án sản xuất thử nghiệm kết thúc thành công sẽ có 3 phương án mở rộng sản xuất quy mô lớn đó là:

+ Mở rộng quy mô sản xuất giống ngay tại các tổ chức thực hiện dự

án và các doanh nghiệp đã tiếp thu công nghệ và triển khai sản xuất thử

Trang 36

+ Nhân rộng, chuyển giao kết quả sản xuất ra các vùng, các địa phương và các tổ chức, doanh nghiệp có điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh giống hoa, hoa thương phẩm

+ Liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước để sản xuất giống với quy mô công nghiệp và xuất khẩu giống hoa, hoa thương phẩm

- Phương thức triển khai:

+ Viện Nghiên cứu Rau quả là đơn vị chuyển giao công nghệ và cung ứng giống nuôi cấy mô cho các tổ chức khoa học, công ty, đơn vị và địa phương

+ Các đơn vị tham gia thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm sẽ phối hợp cùng tham gia chỉ đạo và thực hiện dự án

3.4.2 Phương thức tổ chức thực hiện

STT Nội dung công việc Đơn vị tham gia thực hiện

1 Hoàn thiện các quy

trình công nghệ

- Viện Nghiên cứu Rau quả

- TT ƯD KHCN Quảng Ninh

2 Tập huấn, đào tạo - Viện Nghiên cứu Rau quả

3

Tổ chức sản xuất thử

nuôi cấy mô theo quy

mô công nghiệp

- Viện Nghiên cứu Rau quả

- TT ƯD KH Nông lâm nghiệp Quảng Ninh

4 Xây dựng mô hình

nhân giống

- Viện Nghiên cứu Rau quả

- TT ƯD KHCN Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Hà Nội

4

Xây dựng mô hình sản

xuất hoa thương phẩm

các giống nuôi cấy mô

- Viện Nghiên cứu Rau quả

- Các công ty và chủ trang trại, hộ gia đình sản xuất hoa tại Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Nam, Hưng Yên,

Hà Nội

5 Tiêu thụ sản phẩm - Viện Nghiên cứu Rau quả

- Các đơn vị tham gia dự án

Trang 37

IV KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG I: KẾT QUẢ HOÀN THIỆN CÁC QUY TRÌNH

CÔNG NGHỆ CỦA DỰ ÁN

A KẾT QUẢ HOÀN THIỆN CÁC QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ NHÂN GIỐNG

I Hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống hoa cúc in vitro

1.Vật liệu và thời gian nghiên cứu

- Giống cúc làm vật liệu cho nghiên cứu là giống CN20, có tên khoa học

là (Spray Chrysanthemum) là giống cúc chùm để nhiều bông/cây có nguồn gốc

từ Hà Lan được Trung tâm hoa cây cảnh - Viện Di truyền Nông nghiệp tuyển chọn và đưa ra tháng 7/2000 và đã được công nhận giống chính thức 4/2004

- Mẫu nuôi cấy là đoạn thân mang mắt ngủ

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2007 đến tháng 9/2008

2 Nội dung nghiên cứu

Giai đoạn trong phòng

+ Tạo nguồn vật liệu vô trùng:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất khử trùng (HgCl2 0,1%; H2O2 30%) tới các mẫu đưa vào nuôi cấy

- Nghiên cứu môi trường khởi động Ảnh hưởng của (BAP, Kinetin) đến

sự tái sinh của mẫu cấy

+ Nhân nhanh chồi:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ BAP, nước dừa đến sự nhân nhanh chồi cúc in vitro bằng phương pháp cắt đoạn

+ Tạo cây hoàn chỉnh:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của αNAA đến sự ra rễ của chồi cúc in vitro

Giai đoạn vườn ươm:

- Ảnh hưởng của biện pháp che chắn bảo vệ cây con khi ra ngôi trong vụ hè

- Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng của cây con

- Ảnh hưởng của một số tỷ lệ NPK đến sinh trưởng của cây con

- Ảnh hưởng của thuốc hóa học phòng trừ bệnh thối cây con sau ra ngôi

3 Phương pháp nghiên cứu:

Giai đoạn trong phòng

- Sử dụng phương pháp nuôi cấy mô hiện hành (Robert, Dennis, 2000), trên môi trường cơ bản MS

Trang 38

+ Thí nghiệm 1: Nghiên cứu hiệu quả của chất khử trùng tới các mô đưa và nuôi cấy

Thí nghiệm được tiến hành với 2 chất khử trùng HgCl2 0,1% và H2O2

30%, với các khoảng thời gian 5, 7, 9, 12 phút

+ Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của BAP và Kinetin đến sự phát sinh của mẫu cấy

Các công thức thí nghiệm được bố trí:

- Đối với BAP

CT1: MS (Đ/C)

CT2: MS + 0,5ppmBAP + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

CT3: MS + 1,0ppmBAP + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

CT4: MS + 1,5ppmBAP + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

CT5: MS + 2,0ppmBAP + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

- Đối với Kinetin

CT1: MS (Đ/C)

CT2: MS + 0,5ppmKinetin + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

CT3: MS + 1,0ppmKinetin + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

CT4: MS + 1,5ppmKinetin + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

CT5: MS + 2,0ppmKinetin + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại, mỗi công thức 30 cá thể

+ Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến sự nhân nhanh của cây cúc in vitro

Các công thức thí nghiệm:

CT1: MS (Đ/C)

CT2: MS + 0,5ppmBAP + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

CT3: MS + 1,0ppmBAP + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

CT4: MS + 1,5ppmBAP + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

CT5: MS + 2,0ppmBAP + 0,2% saccaroza + 0,7% agar

Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại, mỗi công thức 30 cá thể

+ Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của nước dừa đến sự nhân nhanh và sinh trưởng, phát triển của cây cúc in vitro

Trang 39

+ Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của αNAA đến sự ra rễ của cây cúc in vitro

- Các công thức thí nghiệm:

CT1: MS (Đ/C)

CT2: MS + 0,25ppm NAA

CT3: MS + 0,5ppm NAA

Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại, mỗi công thức 30 cá thể

- Các chỉ tiêu thí nghiệm được quan sát 7 – 10 ngày 1 lần (tuỳ theo yêu cầu thí nghiệm)

- Các chỉ tiêu theo dõi:

Tổng số chồi ban đầu

Giai đoạn vườn ươm:

- Thí nghiệm được tiến hành tại khu nhà lưới, vườn thực nghiệm - Bộ môn Hoa cây cảnh – Viện Nghiên cứu Rau quả Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại, diện tích ô thí nghiệm là 1m2, đánh dấu ngẫu nhiên 30 cây/1 ô, định kỳ theo dõi 10 ngày/lần

Trang 40

+ Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tỷ lệ NPK đến sinh trưởng của cây con trong vườn ươm

CT1: NPK tỷ lệ: 3:1:1

CT2: NPK tỷ lệ: 3:2:1

CT3: NPK tỷ lệ: 3:2:2

CT3: NPK tỷ lệ: 3:3:1

CT4: Đối chứng (tưới nước lã)

Cây giống hoa cúc được ra ngôi ngày 15/5, trên nền giá thể: Đất phù sa + trấu hun tỷ lệ 1:1và được che một lớp lưới đen, các chế độ chăm sóc giữa các công thức là như nhau, bắt đầu tưới NPK sau ra ngôi 10 ngày, cách 7 ngày/lần với liều lượng 5g/10lít nước

+ Thí nghiệm 7: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng của cây con trong vườn ươm

CT1: Phun Đầu Trâu 902

CT2: Phun Komix

CT3: Phun Antonik 1.8EC

CT4: Đối chứng (Phun nước lã)

Cây giống hoa cúc được ra ngôi ngày 15/5, trên nền giá thể: Đất phù sa + trấu hun tỷ lệ 1:1 và được che một lớp lưới đen, các chế độ chăm sóc: tưới nước, bón phân giữa các công thức là như nhau

Liều lượng phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất 10ml/bình 10 lít nước, định kỳ phun 7 ngày /lần

+ Thí nghiệm 8: Ảnh hưởng của một số loại thuốc hóa học phòng trừ bệnh thối cây con trong vụ hè

Định kỳ phun 5 ngày/lần, nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất: Rhidomil MZ72WP, liều lượng 20g/10 lít nước, Daconil 75WP, liều lượng

Ngày đăng: 21/04/2014, 21:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4: Ảnh hưởng của BAP đến hệ số nhân và sinh trưởng - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.4 Ảnh hưởng của BAP đến hệ số nhân và sinh trưởng (Trang 45)
Bảng 1.8: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng của - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.8 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng của (Trang 48)
Bảng 1.12: Ảnh hưởng của tiêu chuẩn cành giâm - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.12 Ảnh hưởng của tiêu chuẩn cành giâm (Trang 52)
6.3. Sơ đồ nhân giống hoa cúc từ in vitro - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
6.3. Sơ đồ nhân giống hoa cúc từ in vitro (Trang 59)
Bảng 1.15: Kết quả khử trùng mẫu bằng H 2 O 2 - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.15 Kết quả khử trùng mẫu bằng H 2 O 2 (Trang 68)
Bảng 1.23 : Ảnh hưởng của αNAA  đến khả năng tạo rễ của - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.23 Ảnh hưởng của αNAA đến khả năng tạo rễ của (Trang 74)
6.2. Sơ đồ nhân giống hoa đồng tiền invitro hoàn thiện - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
6.2. Sơ đồ nhân giống hoa đồng tiền invitro hoàn thiện (Trang 81)
6.2. Sơ đồ nhân giống hoa hồng môn in vitro - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
6.2. Sơ đồ nhân giống hoa hồng môn in vitro (Trang 99)
Bảng 1.42: Ảnh hưởng của nồng độ đường - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.42 Ảnh hưởng của nồng độ đường (Trang 111)
6.1. Sơ đồ quy trình - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
6.1. Sơ đồ quy trình (Trang 115)
Bảng 1.53: Ảnh hưởng của một số biện pháp huấn luyện cây con - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.53 Ảnh hưởng của một số biện pháp huấn luyện cây con (Trang 127)
Bảng 1.81: Ảnh hưởng của một số tỷ lệ N:P:K đến số lượng, - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.81 Ảnh hưởng của một số tỷ lệ N:P:K đến số lượng, (Trang 175)
Bảng 1.92. Động thái tăng trưởng chiều dài, rộng lá và chiều cao mầm hoa - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.92. Động thái tăng trưởng chiều dài, rộng lá và chiều cao mầm hoa (Trang 196)
Bảng 1.95: Động thái tăng trưởng chiều cao mầm hoa ở các - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1.95 Động thái tăng trưởng chiều cao mầm hoa ở các (Trang 202)
Bảng  2.10: Tổng hợp kết quả sản xuất thử nghiệm nhân giống - hoàn thiện hệ thống sản xuất giống hoa (lan, hồng môn, đồng tiên, lily, cúc) bằng công nghệ nuôi cấy quy mô công nghiệp và phát triển vùng sản xuất hoa hàng hóa ở đồng bằng sông hồng
ng 2.10: Tổng hợp kết quả sản xuất thử nghiệm nhân giống (Trang 224)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w