1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”.

95 533 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng pháp luật trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Tác giả Bùi Thanh Huệ
Trường học Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh, Ngân Hàng
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 689 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÀI LIỆU THAM KHẢO3DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT.5DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ.6LỜI MỞ ĐẦU.7CHƯƠNG I: PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.91. Khái quát về các phương thức thanh toán quốc tế.91.1 Bản chất của TTQT.91.2 Vai trò của hoạt động TTQT.101.3 Các phương thức TTQT thông dụng.112. Khái quát về thanh toán tín dụng chứng từ.142.1 Bản chất của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.142.2 Các loại tín dụng chứng từ.152.3 Các bên liên quan trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.17 3. Nội dung của thư tín dụng.184. Pháp luật về hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ.224.1 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ.224.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động tín dụng chứng từ274.3 Một số rủi ro pháp lý thường gặp trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ.294.4 Một số các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán L/C và con đường giải quyết tranh chấp.32CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SGD NHNT VIỆT NAM431. Sở giao dịch Vietcombank.431.1 Khái quát về SGD Vietcombank.43Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các phòng chuyên môn nghiệp vụ.461.2 Đánh giá về tình hình hoạt động thanh toán L/C tại SGD Vietcombank.502. Thực trạng áp dụng pháp luật về L/C.572.2 Vai trò của pháp luật đối với hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại SGD572.1 Thực trạng áp dụng pháp luật tại SGD Vietcombank.582.3 Quy trình nghiệp vụ hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bằng hình thức tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Vietcombank.59CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SGD NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM.851. Định hướng phát triển của Sở giao dịch Vietcombank.851.1 Định hướng phát triển chung.851.2 Định hướng phát triển của hoạt động thanh toán L/C.862. Kiến nghị hoàn thiện hoạt động thanh toán L/C tại Sở giao dịch Vietcombank.862.1 Kiến nghị với SGD Ngân hàng Vietcombank.862.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước.922.3 Kiến nghị với Chính phủ.93KẾT LUẬN……………………………………………………………………………...96

Trang 1

MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 6

LỜI MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG I: PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 9

1 Khái quát về các phương thức thanh toán quốc tế 9

1.1 Bản chất của TTQT 9

1.2 Vai trò của hoạt động TTQT 10

1.3 Các phương thức TTQT thông dụng 11

2 Khái quát về thanh toán tín dụng chứng từ 14

2.1 Bản chất của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 14

2.2 Các loại tín dụng chứng từ 15

2.3 Các bên liên quan trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 17

3 Nội dung của thư tín dụng 18

4 Pháp luật về hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ 22

4.1 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ 22

4.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động tín dụng chứng từ27 4.3 Một số rủi ro pháp lý thường gặp trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ 29

4.4 Một số các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán L/C và con đường giải quyết tranh chấp 32

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SGD NHNT VIỆT NAM 43

1 Sở giao dịch Vietcombank 43

1.1 Khái quát về SGD Vietcombank 43

Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các phòng chuyên môn nghiệp vụ 46

Trang 2

1.2 Đánh giá về tình hình hoạt động thanh toán L/C tại SGD Vietcombank 50

2 Thực trạng áp dụng pháp luật về L/C 57

2.2 Vai trò của pháp luật đối với hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại SGD 57

2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật tại SGD Vietcombank 58

2.3 Quy trình nghiệp vụ hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bằng hình thức tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Vietcombank 59

CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SGD NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 85

1 Định hướng phát triển của Sở giao dịch Vietcombank 85

1.1 Định hướng phát triển chung 85

1.2 Định hướng phát triển của hoạt động thanh toán L/C 86

2 Kiến nghị hoàn thiện hoạt động thanh toán L/C tại Sở giao dịch Vietcombank 86

2.1 Kiến nghị với SGD Ngân hàng Vietcombank 86

2.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 92

2.3 Kiến nghị với Chính phủ 93

KẾT LUẬN……… 96

Trang 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO VĂN BẢN PHÁP LUẬT

5 Nghị định134/2005/NĐ-CP ban hành quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài

6 Nghị định 160/2006/NĐ-CP quy định chi tiết pháp lệnh ngoại hối

7 Quyết định 48/2007/QĐ-NHNH về việc ban hành quy định thu phí thanh toán qua các

tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

8 Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ- UCP 600

9 Luật thống nhất về Hối phiếu năm 1930

10 ISBP 681e 2007 ( International Standard Banking Practice – Văn bản hướng dẫnkiểm tra chứng từ theo UCP600 có hiệu lực từ ngày 1/1/2007)

11 Các quy tắc thống nhất về Nhờ thu ( ICC Uniform Rules for Collection ), do phòngThương mại và Công nghiệp Quốc tế ban hành năm 1995, số xuất bản 522, gọi tắt làURC 522

12 Các quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng theo Tín dụng chứng từ dophòng Thương mại và Công nghiệp Quốc tế ban hành, số xuất bản 525 gọi tắt làURR525

13 Giáo trình Luật thương mại quốc tế, đồng chủ biên: TS Trần Thị Hòa Bình –

PGS.TS Trần Văn Nam, NXB Lao động - Xã hội, 2006

Trang 4

14 PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương,

Học viện ngân hàng, Hà Nội, 2007

15 PGS.TS Nguyễn Thị Quy, Cẩm nang giải quyết tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C (sách chuyên khảo), NXB lý luận chính trị Hà Nội, 2006

16 Quy trình thanh toán xuất nhập khẩu theo hình thức tín dụng chứng từ và nhờ thu chứng từ trong hệ thống NHNT Việt Nam (ban hành kèm theo quyết định số

40/QĐ/NHNT.THTT của Tổng Giám đốc Ngân hàng ngoại thương Việt Nam

17 Báo cáo Tổng kết hoạt động kinh doanh hàng năm của SGD NHNT.

18 Website: http:// www.vietcombank.com

19 Tạp chí ngân hàng số 3+4

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT.

NHNT : Ngân hàng ngoại thương

NHTB : Ngân hàng thông báo

NHCK : Ngân hàng chiết khấu

NHXN : Ngân hàng xác nhận

NHCĐ : Ngân hàng chỉ định

SGD : Sở Giao Dịch

L/C : Thư tín dụng (Letter of Credit)

ATM : Máy rút tiền tự động (Automated Teller Machine)

BGĐ : Ban Giám đốc

HSC : Hội sở chính

TMCP : Thương mại cổ phần

Trang 6

Bảng 2.6: Doanh số thanh toán nhập khẩu tại SGD NHNT từ năm 2005 – 2008 Bảng 2.7: Quy trình tổng quát về nghiệp vụ tín dụng chứng từ

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

rong thời đại ngày nay, sự phát triển của nền kinh tế gắn liền với các hoạtđộng kinh tế xã hội, thị trường ngày càng mở rộng và phát triển trong mốiquan hệ kinh tế khu vực, quốc tế Đây là điều kiện thuận lợi để phát triểnthương mại và các hoạt động dịch vụ của ngân hàng Đặc biệt là khi hiện nay Việt Nam

đã tham gia với tư cách thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và đã mở cửathị trường tài chính vào ngày 01/04/2007 theo đúng lộ trình cam kết gia nhập tổ chứcthương mại thế giới

T

Vì vậy, Sở giao dịch Ngân hàng ngoại thương Việt Nam cũng như các ngân hàng

thương mại khác không ngừng đầu tư nâng cao hiệu quả hoạt động của các phươngthức thanh toán quốc tế: chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ Tuy nhiên, tín dụngchứng từ không phải là một nghiệp vụ đơn giản mà ngược lại rất phức tạp, rủi ro tíndụng chứng từ mà kéo theo là các tranh chấp có thể phát sinh nếu xảy ra sẽ có tác độngrất lớn và ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển cũng như uy tín của ngân hàng Thực tế

đã cho thấy khi xảy ra các tranh chấp liên quan đến tín dụng chứng từ không chỉ gâythiệt hại cho ngân hàng mà còn cả các tổ chức xuất nhập khẩu tham gia phương thức tíndụng chứng từ đó nữa

Vì lý do đó với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, một ngân hàng cổ phần có hệthống chi nhánh rộng khắp cả nước, và trải qua gần 45 năm hoạt động và phát triển bêncạnh những thành tựu đạt được cũng gặp không ít những khó khăn trong phương thứctín dụng chứng từ, nhưng NHNT mà điển hình là Sở giao dịch NHNT Việt Nam vẫn luôn

là đơn vị đi đầu trong hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và hoạt động thanh toán tíndụng chứng từ nói riêng, mỗi năm thu lại lợi nhuận hàng triệu USD Chính vì vậy, trên

cơ sở các tài liệu lý luận về tín dụng chứng từ cùng những kinh nghiệm thực tế khi

thực tập tại Sở giao dịch NHNT nên em đã chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”.

Trang 8

Cuối cùng, em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo TSNguyễn Vũ Hoàng, Th.S Nguyễn Hoàng Vân cùng tập thể các anh, chị làm việc tạiphòng Thanh toán xuất khẩu SGD Ngân hàng Ngoại thương đã giúp đỡ em hoànthành bài viết này.

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích đi sâu, tìm hiểu tình hình hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bằng phươngthức tín dụng chứng từ (L/C) Qua đó đưa ra một số đề xuất để hoàn thiện hơn nữa hoạtđộng này trong hoạt động của thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch NHNT ViệtNam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng: phương thức thanh toán xuất nhập khẩu bằng L/C

Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi hoạt động của Sở giao dịch NHNT Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Một số phương pháp được áp dụng để nghiên cứu đề tài là phương pháp suy luận,phân tích số liệu, phân tích thực tế hoạt động để thấy được điểm mạnh và điểm yếu tronghoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương pháp tín dụng chứng từ, từ đó đưa ramột số kiến nghị và đề xuất

5 Kết cấu đề tài

Nhằm đạt được mục đích của việc nghiên cứu đã đề ra, em xin được trình bày từ kháiquát đến chuyên sâu, từ lý luận đến thực tiễn đề tài Đề tài được trình bày theo các phần

cụ thể như sau:

Chương I Pháp luật về hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ.

Chương II Thực trạng áp dụng pháp luật theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Chương III Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại sở giao dịch Vietcombank

Trang 9

CHƯƠNG I PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG

ta đã biết, một quốc gia không thể tự sản xuất mọi thứ để phục vụ nhu cầu của mình Docác điều kiện tự nhiên, điều kiện địa lý, trình độ phát triển và các yếu tố khác ở mỗi nướckhác nhau là khác nhau, chính vì điều này đã quy định năng lực và phạm vi sản xuất củacác nước đó Điều này lý giải tại sao các quốc gia luôn phụ thuộc vào nhau về rất nhiềuloại hàng hóa cần thiết cho sản xuất và tiêu dùng Kết quả, một số nước sẽ nhập khẩuhàng hóa có nhu cầu từ những nước chuyên sản xuất các mặt hàng với giá rẻ, đồng thờixuất khẩu những hàng hóa có ưu thế về năng suât lao động của mình cho những nước cónhu cầu, nhằm tận thế những lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối trong ngoại thương

H

Hàng hóa được nhập khẩu từ nước này sang nước khác bằng đường biển, đường bộ,đường không, đường sắt…từ đó hình thành nên chuyên nghành “Vận tải hàng hóa trongngoại thương” Tuy nhiên, việc vận chuyển hàng hóa này có thể gặp rủi ro nên phát sinhnhu cầu hàng hóa phải được bảo hiểm để hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất Từ đó làmphát sinh chuyên nghành “Bảo hiểm hàng hóa trong ngoại thương” Một thương vụ muabán trong ngoại thương thường kết thúc bằng việc các bên mua – bán thanh toán tiền hàngcho nhau, các bên có thể thỏa thuận với nhau về các phương thức thanh toán, việc thanhtoán này hiếm khi được thực hiện một cách trực tiếp giữa các bên mà thông thường làphải thông qua một hệ thống ngân hàng ở giữa có chức năng làm nhiệm vụ thanh toán chocác bên Từ đó chuyên nghành “Kỹ thuật nghiệp vụ TTQT” đã ra đời Tiền tệ được sửdụng trong hoạt động mua bán ngoại thương có thể là đồng tiền của nước người mua, củanước người bán hay của nước thứ ba điều này có thể gây ra những rủi ro cao về tỷ giá

Trang 10

nhất là trong điều kiện khủng hoảng kinh tế hiện nay, chuyên nghành “Nghiệp vụ kinhdoanh ngoại hối” của các ngân hàng ra đời để giúp các nhà XNK chuyển đổi tiền tệ nhằmthực hiện việc mua bán quốc tế dễ dàng hơn và có thể phòng ngừa các rủi ro về tỷ giá.Các hoạt động mua bán của các bên có sự khác nhau về phong tục, tập quán, nguồn luậtđiều chỉnh dễ làm nảy sinh các tranh chấp vì vậy cần thiết phải có một nguồn luật chungđiều chỉnh mang tính thống nhất để điều chỉnh các hoạt động phát sinh trong mua bánngoại thương Vì vậy đã ra đời chuyên nghành “Luật kinh doanh quốc tế”, đây là một hệthống các hiệp ước song phương, đa phương, các nguyên tắc, tập quán được tao ra nhằmđiều chỉnh để hoạt động ngoại thương được diễn ra một cách trôi chảy, dễ dàng.

Trong hoạt động ngoại thương thì hoạt động TTQT liên quan và gắn liền với nhữnglĩnh vực hoạt động khác, trong đó mỗi lĩnh vực là một mắt xích quan trọng, không thểthiếu và TTQT là khâu quan trọng trong chuỗi các mắt xích đó khi nó là khâu quyết địnhđến tính hiệu quả và tăng trưởng trong ngoại thương1

1.2 Vai trò của hoạt động TTQT.

Ngày nay, ngoại trừ những hoạt động mua bán nhỏ, một số giao dịch hạn chế tại biên giới được chi trả bằng tiền mặt; hầu như các hoạt động kinh doanh hợp pháp trên thế giới đều được thực hiện thông qua các định chế tài chính trung gian Với chức năng trung tâm thanh toán, hoạt động TTQT của NHTM đã trở thành một dịch vụ không

thể thiếu và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế hàng hóa

Trước hết hoạt động TTQT đẩy nhanh tiến độ toàn cầu hóa, hội nhập hóa của cácnước trên Thế giới Thật vậy, TTQT được nảy sinh từ các hoạt động thương mại, muabán, trao đổi… giữa các chủ thể trên thế giới Mối quan hệ giữa các bên tham gia và bảnchất của các giao dịch thương mại sẽ quyết định hình thức chuyển tiền thanh toán Tuynhiên, trong quá trình chi trả, độ an toàn, tính chính xác, sự bảo mật, chi phí của nghiệp

vụ thanh toán sẽ tác động mạnh và thúc đẩy quan hệ thương mại ngày càng mở rộng vàphát triển Vì vậy, hoạt động TTQT đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiệnquá trình hội nhập của một quốc gia đối với thế giới

Trang 11

TTQT còn góp phần nâng cao tốc độ chu chuyển vốn trên toàn thế giới Thật vậy,

sự gia tăng vượt trội của đầu tư quốc tế trong những năm qua đã tạo nên những dòng vốnkhổng lồ trên toàn cầu Thực trạng này đòi hỏi hoạt động TTQT phải nhanh chóng,chính xác Thông qua mạng lưới TTQT, các NHTM đã đẩy nhanh tốc độ chu chuyển củaluồng tiền, tăng nhanh vòng quay vốn, góp phần phân bổ nguồn vốn giữa các thị trường,các vùng, lãnh thổ trên toàn cầu ngày càng hiệu quả

Đối với hệ thống NHTM, TTQT là dịch vụ mang lại lợi nhuận cao Nghiệp vụTTQT có mối quan hệ tương hỗ và tạo điều kiện phát triển các hoạt động kinhdoanh khác của ngân hàng như: kinh doanh ngoại tệ, tài trợ ngoại thương, bảo lãnh, đầu

tư, ngân quỹ… Và cùng với các nghiệp vụ này, hoạt động TTQT đã mở rộng phạm vigiao dịch, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ra ngoài trụ sở hành chính của nó

1.3 Các phương thức TTQT thông dụng.

1.3.1 Phương thức mở tài khoản (Open account).

 Khái niệm: người xuất khẩu mở một tài khoản để ghi nợ người nhập khẩu sau khingười xuất khẩu đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ người nhậpkhẩu trả tiền cho người xuất khẩu

 Ðặc điểm:

- Ðây là một phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân hàng vớichức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán

- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản đa song biên Nếu người nhập khẩu

mở tài khoản để ghi thì tài khoản chỉ là để theo dõi, không có giá trị thanh quyết toán giữahai bên

- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán: người bán và người mua

1.3.2 Phương thức chuyển tiền (Remittance).

 Khái niệm: Là phương thức mà trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngânhàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ởmột địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu

 Đặc điểm:

Trang 12

- Cũng giống như phương thức thanh toán trên, NH không tham gia vào sự thanh toáncủa hai bên mà chỉ đóng vai trò là người chuyển tiền.

- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán

1.3.3 Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment).

 Khái niệm: Là phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giaohàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, sẽ ký phát hối phiếu đòi tiền ngườimua, ủy thác cho NH mình thu hộ số tiền ghi trên tờ hối phiếu đó

 Các loại nhờ thu:

- Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection Payment) là phương thức mà trong đó ngườibán ủy thác cho NH thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, cònchứng từ hàng hóa gửi thẳng cho người mua không qua NH

Nhận xét: Trong phương thức này NH chỉ đóng vai trò trung gian trong thanh toánbởi vì bộ chứng từ hàng hóa đã giao cho nhà NK nên NHĐL không thể khống chế nhà

NK được Vì vậy, nhà NK chỉ nên áp dụng phương thức này trong trường hợp có quan hệlâu năm và có sự tín nhiệm của nhà NK

- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection of Payment) là phương thức trong

đó người bán ủy thác cho NH thu hộ tiền ở người mua không những căn cú vào hối phiếu

mà còn căn cứ vào bộ cứng từ hàng hóa gửi kèm theo với điều kiện là nếu người mua trảtiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì NH mới trao bộ chứng từ hàng hóa cho ngườimua để nhận hàng

Nhận xét: Trong phương thức này, nhà XK ngoài việc ủy thác cho NH thu tiền màcòn nhờ NH thông qua việc khống chế bộ chúng từ hàng hóa để buộc nhà NK phải trả tiềnhoặc chấp nhận trả tiền Nhờ vậy, phương thức này đảm bảo được khả năng thu tiền hơnphương thức chuyển tiền và phương thức nhờ thu hối phiếu trơn

1.3.4 Phương thức ghi sổ.

 Khái niệm: người xuất khẩu mở một tài khoản để ghi nợ người nhập khẩu sau khingười xuất khẩu đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ người nhậpkhẩu trả tiền cho người xuất khẩu

Trang 13

- Ðây là một phương thức thanh toán không có sự tham gia của các Ngân hàng vớichức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán.

- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản đa song biên Nếu người nhập khẩu

mở tài khoản để ghi thì tài khoản chỉ là để theo dõi, không có giá trị thanh quyết toán giữahai bên

Nhận xét: Phương thức này chỉ có lợi cho người nhập khẩu, dùng cho thanh toán tiền gửibán hàng ở nước ngoài và trong thanh toán tiền phi mậu dịch: tiền cước phí vận tải, bảohiểm

1.3.5 Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary credit).

 Khái niệm: Là một sự thoả thuận trong đó NH (NH mở thư tín dụng) theo yêu cầu củakhách hàng sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác hoặc chấp nhận hối phiếu

do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho NH một

bộ chứng từ phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng

 Đặc điểm:

- Thư tín dụng là một giao dịch riêng biệt với các hợp đồng thương mại mà thư tíndụng được phát hành dựa trên cơ sở của hợp đồng thương mại ngay cả khi thư tín dụng códẫn chiếu đến các hợp đồng đó Kế đó, ngân hàng chỉ giao dịch bằng chứng từ và khônggiao dịch bằng hàng hóa, dịch vụ có liên quan đến chứng từ

- Thư tín dụng là sự bảo lãnh của ngân hàng phát hành thanh toán cho người thụhưởng khi họ xuất trình chứng từ phù hợp với tín dụng thư Do đó, ngân hàng phát hành

sẽ kiểm tra kỹ bộ chứng từ của người thụ hưởng xuất trình để quyết định thanh toán hay

từ chối thanh toán

- Thư tín dụng rất đa dạng, gồm nhiều loại khác nhau mỗi loại thư tín dụng lại có mộtđặc điểm riêng, như: Thư tín dụng trả ngay, trả chậm, xác nhận, chuyển nhượng, giáplưng, đối ứng, tuần hoàn, có điều khoản đỏ, dự phòng

Nhận xét: So với các hình thức TTQT khác, hình thức tín dụng chứng từ được sử dụngnhiều hơn cả Đây là hình thức thanh toán mang lại tính an toàn cao hơn so với các hìnhthức trên cho cả hai bên mua bán, vai trò trách nhiệm của NH cũng được nâng cao hơn,

Trang 14

không chỉ đóng vai trò trung gian nữa mà NH đa tham gia vào quá trình thanh toán của cảhai bên.

2 Khái quát về thanh toán tín dụng chứng từ

2.1 Bản chất của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

2.1.1 Là hợp đồng kinh tế hai bên và mang tính độc lập với hợp đồng cơ sở, hàng hóa.

Là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và nhà xuất khẩu, đã có nhiều

sự hiểu lầm cho rằng đây là hợp đồng kinh tế ba bên là của nhà nhập khẩu2, NHPH và nhàxuất khẩu nhưng trên thực tế mọi yêu cầu và chỉ thị của nhà NK là do NHPH đai diện do

đó tiếng nói chính thức của nhà NK không được thể hiện trong L/C

Về bản chất thì L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thươnghoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch L/C Trong mọitrường hợp thì NH không liên quan đến hoặc bị ràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cảkhi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng Như vậy, L/C có tính chất rất quan trọng

nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập nó lạihoàn toàn độc lập với hợp đồng này Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấpnhận, thì cho dù nội dung của L/C có đúng hợp đồng ngoại thương hay không, cũngkhông làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C

Một số nhà NK có thể sử dụng L/C như là công cụ dự phòng để cụ thể hóa, chi tiếthóa hoặc bổ sung những điều khoản mà hợp đồng thương mại đã được ký còn bỏ sót hoặckhi ký bị hớ, ngoài ra nó còn được coi như là công cụ để đính chính, sửa chữa những nộidung bất lợi trong hợp đồng ngoại thương đã ký kết

2.1.2 Thực hiện giao dịch chỉ thông qua chứng từ không căn cứ vào hàng hóa trong phương thức tín dụng chứng từ

Các NH khi làm việc chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyếtđịnh xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không Nhưthế, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng vềviệc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hóa đã được giao, do đó, chúngtrở thành căn cứ để NH trả tiền, là căn cứ để nhà NK trả tiền cho NH, là chứng từ đi nhận

Trang 15

hàng của nhà NK…Việc nhà XK có thu được tiền hay không, phụ thuộc vào việc xuấttrình bộ chứng từ là có phù hợp hay không; đồng thời, NH cũng chỉ trả tiền khi bộ chứng

từ xuất trình phù hợp, NH không chịu trách nhiệm gi về thực tế hàng hóa

Khi chứng từ xuất trình là phù hợp, thì NHPH phải thanh toán vô điều kiện chonhà XK, mặc dù có thể trên thực tế hàng hóa có thể không được giao hoặc được giaokhông hòan toàn đúng như ghi trên chứng từ Như vậy, việc thanh toán L/C không căn cứvào tình hình thực tế hàng hóa, nều hàng hóa không khớp với chứng từ, thì hai bên muabán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến NH.Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp, mà NH vẫn thanh toán cho người XK thì

NH phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, bởi vì người NK có quyền từ chối thanh toán tiềncho NH

2.1.3 Là công cụ thanh toán hạn chế rủi ro nhiều nhất.

L/C có nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương thức thanh toán khác xét trênkhía cạnh là công cụ phòng ngừa rủi ro cho nhà XK và nhà NK Chính vì thế mà phươngthức này đã tồn tại và phát triển như ngày nay Trong thực tiễn thương mại quốc tế, do sựbiến động thường xuyên của giá cả, tỷ giá, thị trường hàng hóa…nên L/C có thể bị lợidụng trở thành công cụ để từ chối nhận hàng, từ chối thanh toán, và nó có thể bị lợi dụng

để trở thành công cụ để lừa đảo, gian lận

2.2 Các loại tín dụng chứng từ.

2.2.1 Các loại thư tín dụng thông thường.

 L/C không hủy ngang (Irrevocable L/C): là loại L/C sau khi mở ra và được nhà XKthừa nhận thì NH mở L/C không được sửa đổi, bổ sung trong thời hạn hiệu lực của nó.Một L/C không ghi IRREVOCABLE thì vẫn được coi là không huỷ ngang tại Điều 3

UCP600 quy định: “Một tín dụng là không huỷ ngang cho dù không chỉ rõ điều đó”.

 L/C không hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C): là loại thư tíndụng không thể huỷ bỏ và được một NHXN đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng

mở L/C

Trang 16

 L/C không hủy ngang, miễn truy đòi (Irrevocable Without Recourse L/C): là loạiL/C mà sau khi trả tiền nhà XK thì NH không còn quyền đòi lại tiền dù trong bất kỳtrường hợp nào.

2.2.2 Các loại thư tín dụng đặc biệt.

 L/C dự phòng ( Standby L/C ): đây là một loại tín dụng chứng từ thể hiện nghĩa vụcủa ngân hàng phát hành tới người thụ hưởng trong việc thanh toán lại khoản tiền màngười yêu cầu mở L/C dự phòng đã vay hoặc được ứng trước; thanh toán khoản nợ củangười mở L/C dự phòng; bồi thường những thiệt hại do người mở L/C dự phòng khôngthực hiện nghĩa vụ của mình3

Do đó L/C dự phòng được xem như là phương tiện thanh toán thứ yếu Sự khácnhau của các loại L/C khác và L/C dự phòng là các loại L/C khác hoạt động trên cơ sởthực hiện hợp đồng cho người bán Ngược lại, L/C dự phòng đảm bảo cho người thụhưởng trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện

Trong L/C dự phòng, NH mở ghi rõ L/C này chỉ có giá trị thực hiện khi có sự viphạm nghĩa vụ của người xin mở L/C ngược lại nếu không có sự vi phạm ấy, L/C dựphòng sẽ không được thực hiện

 L/C chuyển nhượng ( Irrevocable Tranferable L/C ): là L/C không thể huỷ ngang,trong đó quy định người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu ngân hàng mở L/C chuyểnnhượng toàn bộ hay một phần quyền thực hiện L/C cho một hay nhiều người khác4

Chuyển nhượng ở đây là chỉ chuyển nhượng quyền thực hiện L/C và chuyển nhượngquyền được đòi trả tiền (quyền được ký phát hối phiếu đòi tiền theo L/C ), quyền này chỉdành cho người hưởng lợi thứ nhẩt hay một số người được chuyển nhượng của L/C và nókhác với quyền có thể nhượng các khoản thu được từ L/C cho người khác hưởng

 L/C giáp lưng ( Back - to - back L/C ): sau khi nhận được L/C do nhà NK mở chomình hưởng, nhà XK dùng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người hưởng lợikhác hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầu, L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng5

3 PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, sđd, trang

Trang 17

L/C được thế chấp là L/C chủ hay L/C gốc ( Master L/C hay Backing L/C ) L/C saugọi là L/C giáp lưng hay còn gọi là L/C đối, còn người xin mở L/C là nhà trung gian.Giáp lưng được biểu hiện qua toàn bộ một giao dịch thương mại sử dung hai L/C riêngbiệt, cái dau dựa vào cái trước và được cái trước đảm bảo.

 L/C điều khoản đỏ ( Red clause L/C ): là L/C mà NHPH cho phép NHTB ứngtrước cho người thụ hưởng để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ cho việc sản xuất hànghóa theo L/C đã mở6

Gọi là L/C điều khoản đỏ vì trước đây được in bằng mực đỏ để tăng sự chú ý, với “ điều khoản đỏ ” NHPH cam kết ứng một số tiền nhất định của L/C khi nhận được cácchúng từ: hối phiếu của số tiền ứng trước, hóa đơn, giấy nhận nợ và cam kết giao hàng

 L/C đối ứng (Reciprocal L/C): là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu có hiệu lực khi thưtín dụng kia đối ứng với nó đã mở Loại L/C này được sử dụng trong phương thức hàngđổi hàng và phương thức gia công7

 L/C trả chậm (Deferreed L/C): là là loại thư tín dụng mà ngân hàng mở thư tíndụng sẽ thanh toán dần dần trị giá thư tín dụng cho người hưởng lợi theo quá trình hoànthành nghĩa vụ giao hàng của họ Loại thư tín dụng này áp dụng cho các hợp đồng giaohàng nhiều lần8

 L/C tuần hoàn ( Revolving L/C ): là L/C không thể hủy ngang mà sau khi đã sửdụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ vàtiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời gian nhất định đến khi toàn bộhợp đồng được thực hiện9

Lợi thế của L/C tuần hoàn là tạo điều kiện tốt cho nhà NK mua được hàng hóa trongsuốt thời gian dài khi thị trường đang có lợi thế cho họ Hơn nữa, bên mua cũng khôngmuốn nhận toàn bộ hàng hóa ngay cùng một lúc vì phải tính đến chi phí lưu kho, bảoquản và việc quay vòng vốn

2.3 Các bên liên quan trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

6 PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, sđd, trang

7 nt

8 nt

9 nt

Trang 18

2.3.1 Người xin mở L/C ( Applicant ): là nhà NK hay người mua, yêu cầu NH phục vụ

mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của NH cho người bántheo những quy định trong L/C Người xin mở L/C còn được gọi là người mở (opener),người trả tiền (accounter) hay người ủy thác (principal)

2.3.2 Người thụ hưởng (Beneficiary): còn được gọi là người hưởng hay người hưởng

lợi L/C Theo quy định L/C thì đây là người hưởng số tiền được thanh toán hay là sở hữuđối với hối phiếu đã chấp nhận thanh toán Tùy hoàn cảnh cụ thể thì người thụ hưởng L/Ccòn có tên gọi khác: người bán (seller), nhà XK (exporter); người ký phát hối phiếu(drawer)

2.3.3 Ngân hàng phát hành (Issuing Bank), NH người mở (Opener Bank) là NH mà

theo yêu cầu của người mua đã phát hành một L/C cho người bán hưởng NHPH thườngđược hai bên mua bán thỏa thuận và quyểt định trong hợp đồng ngoại thương, nếu có sựthỏa thuận từ trước thì nhà NK hoặc nhà XK còn được phép tự chọn NHPH

2.3.4 Ngân hàng thông báo (Advising Bank) là ngân hàng được NHPH yêu cầu thông

báo L/C cho người hưởng, NHTB thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh củaNHPH ở nước của nhà XK

2.3.5 Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank) là ngân hàng mà trong trường hợp nhà

XK muốn có sự bảo đảm chắc chắn của L/C thì có thể chỉ định một ngân hàng có uy tínđứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của NHPH

Thông thường, NHXN là một NH lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp thì NHTB được

đề nghị là NHXN Muốn được xác nhận NHPH phải trả phí xác nhận rất cao và thườngphải đặt cọc trước, mức đặt cọc có thể lên tới 100% giá trị L/C

2.3.6 Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank) là NHXN hay bất cứ NH nào khác được

NHPH ủy nhiệm để khi nhận bộ chứng từ xuất trình phù hợp với những quy định của L/Cthì họ sẽ thanh toán cho người thụ hưởng, chấp nhận hối phiếu kỳ hạn hoặc chiết khấu hốiphiếu hay bộ chứng từ nhận được Trách nhiệm kiểm tra chứng từ của NHCĐ là giốngnhư NHPH khi nhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến

3 Nội dung của thư tín dụng.

Trang 19

Số hiệu của thư tín dụng: để tạo thuận tiện trong việc trao đổi thông tin giữa các

bên có liên quan trong quá trình giao dịch thanh toán và ghi vào các chứng từ liên quantrong bộ chứng từ thanh toán

Ðịa điểm và ngày mở thư tín dụng: Ðịa điểm mở thư tín dụng là nơi ngân hàng mở

phát hành thư tín dụng để cam kết trả tiền cho người hưởng lợi Ðịa điểm này có ý nghĩaquan trọng, vì nó liên quan đến việc tham chiếu luật lệ áp dụng, để giải quyết những bấtđồng xảy ra (nếu có)

Ngày mở L/C: là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực sự cam kết của ngân hàng

mở L/C đối với người hưởng lợi; là ngày ngân hàng mở chính thức chấp nhận đơn xin mởcủa người NK; là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cũng là căn cứ để người

XK kiểm tra xem người NK có mở L/C đúng thời hạn không…

Loại L/C: khi mở L/C người yêu cầu mở phải xác định cụ thể loại L/C Mỗi loại L/

C khác nhau quy định quyền lợi và nghĩa vụ những người liên quan tới thư tín dụng cũngkhác nhau

Tên, địa chỉ của những người liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ

+ Người yêu cầu mở thư tín dụng

+ Người hưởng lợi

+ Ngân hàng mở thư tín dụng

+ Ngân hàng thông báo

+ Ngân hàng trả tiền (nếu có)

+ Ngân hàng xác nhận (nếu có)

Trang 20

Số tiền của thư tín dụng: Số tiền phải được ghi vừa bằng số và bằng chữ và phải

thống nhất với nhau Tên đơn vị tiền tệ phải ghi cụ thể, chính xác Không nên ghi số tiềndưới dạng một con số tuyệt đối, vì như vậy sẽ có thể khó khăn trong việc giao hàng vànhận tiền của bên bán Cách tốt nhất là ghi một số lượng giới hạn mà người bán có thể đạtđược

Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là thời hạn mà ngân hàng mở cam kết trả tiền chongười hưởng lợi, nếu người này xuất trình được bộ chứng từ trong thời hạn hiệu lực đó vàphù hợp với quy định trong thư tín dụng đó

Thời hạn trả tiền của thư tín dụng: Liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả tiền về

sau (trả chậm) Ðiều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào quy định của hợp đồng thương mại đã

ký kết

Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng (nếu trả tiền ngay)hoặc nằm ngoài thời hạn hiệu lực (nếu trả chậm) Trong trường hợp này, cần lưu ý là hốiphiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của thư tíndụng

ngoại thương quy định Ðây là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao xong hàngcho bên mua, kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực

Thời hạn giao hàng liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của thư tín dụng Nếu hai bênthoả thuận kéo dài thời gian giao hàng thêm một số ngày thì ngân hàng mở thư tín dụngcũng sẽ hiểu rằng thời hạn hiệu lực của thư tín dụng cũng được kéo dài thêm một số ngàytương ứng

Những nội dung liên quan tới hàng hoá: tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cáchphẩm chất, bao bì, ký mã hiệu cũng được ghi cụ thể trong nội dung thư tín dụng

Trang 21

Những nội dung về vận chuyển giao nhận hàng hoá: điều kiện cơ sở về giao hàng (FOB, CIF ), nơi giao hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng, cũng được thể hiện đầy đủ và

cụ thể trong nội dung thư tín dụng

Các chứng từ mà người hưởng lợi phải xuất trình: Ðây cũng là một nội dung rất

quan trọng của thư tín dụng Bộ chứng từ thanh toán là căn cứ để ngân hàng kiểm tra mức

độ hoàn thanh nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá của người xuất khẩu để tiến hành việc trảtiền cho người hưởng lợi

Ngân hàng mở thư tín dụng thường yêu cầu người hưởng lợi đáp ứng những yếu tố liênquan tới chứng từ sau đây:

- Các loại chứng từ phải xuất trình: căn cứ theo yêu cầu đã được thoả thuận trong hợpđồng thương mại

 Hối phiếu thương mại (Commerial Bill of Exchange)

 Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice)

 Vận đơn hàng hải (Ocean Bill of Lading)

 Chứng nhận bảo hiểm (Insurance Policy)

 Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin)

 Chứng nhận trọng lượng (Certificate of quality)

 Danh sách đóng gói (packing list)

 Chứng nhận kiểm nghiệm (Inspection Certificate)

- Số lượng bản chứng từ thuộc mỗi loại

- Yêu cầu về việc ký phát từng loại chứng từ

Trang 22

Sự cam kết của ngân hàng mở thư tín dụng.

Ðây là nội dung ràng buộc trách nhiệm mang tính pháp lý của ngân hàng mở thư tín dụngđối với thư tín dụng mà mình đã mở Ví dụ: phần cam kết trong một thư tín dụng thườngđược diễn đạt như sau:

“Chúng tôi cam kết với những người ký phát hoặc người cầm phiếu trung thực rằng các hối phiếu được ký phát và chiết khấu phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng này sẽ được thanh toán khi xuất trình và các hối phiếu được chấp nhận theo điều khoản của tín dụng sẽ được thanh toán”.

4 Pháp luật về hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ

4.1 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ.

4.1.1 Điều ước quốc tế.

Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế.

Công ước này được ký kết tại Viên ngày 11/04/1980, đây là nguồn luật chủ yếu điềuchỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay Trong đó cũng có điều khoản quyđịnh về thanh toán của các bên

Công ước Geneve 1930 “Luật thống nhất về Hối phiếu” (Uniform Law for Bill of Exchange – ULB

Công ước đưa ra những quy định thống nhất về việc phát hành các hình thức việc áp

dụng Hối phiếu trong lĩnh vực thanh toán quốc tế Kể từ khi bắt đầu tiến hành công cuộcđổi mới, mở rộng hoạt động thương mại với nước ngoài, việc chuyển nhượng bằng cáccông cụ ngoài tiền mặt như thương phiếu, séc ở Việt Nam trở thành tất yếu, tập trung ởhoạt động xuất nhập khẩu và vay nợ nước ngoài

 Mỹ, Anh là hai cường quốc về thương mại hàng hóa họ không gia Công uớc

Geneve 1930 mà có luật riêng, Luật hối phiếu của Anh quốc (Bill of Exchange Act

1882 – BEA).

Công ước Liên hợp quốc về hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế - International Bill of

Trang 23

Ngoài ra còn có các Luật và Công ước quốc tế khác liên quan.

4.1.2 Luật quốc gia.

Các văn bản liên quan có thể áp dụng là:

 Bộ luật Dân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI,

kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005

 Luật Thương mại được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI,

kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005 và có hiệi lực thi hành từ ngày 01tháng 01 năm 2006

 Luật các công cụ chuyển nhượng số 49/2005/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam

 Pháp lệnh ngoại hối của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội số 28/2005/PLUBTVQH11ngày 13/12/2005 quy định về các hoạt động ngoại hối tại nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam

 Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành pháp lệnhngoại hối

 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 về hoạt động mua bán hàng hóa quốc

tế và hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài quyđịnh danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ ThươngMại và bộ quản lý chuyên ngành

 Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN của Thống Đốc NHNN về quy chế mở thư tíndụng nhập hàng trả chậm

 Quyết định số 1233/2001/QĐ-NHNN của Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước sửa đổiđiều 15 của Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN của Thống Đốc NHNN về quy chế

Trang 24

Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ ( Uniform Customs and Practice for Documentary Credits, gọi tắt là UCP)

Mặc dù UCP chỉ là những quy định do Phòng thương mại quốc tế (InternationalChamber of Commerce – ICC) soạn thảo và ban hành nhưng được coi là Luật quốc tế về

NH trong giao dịch tín dụng chứng từ

UCP là văn kiện tập hợp toàn bộ những quy tắc và định nghĩa thống nhất quốc tế,

được hầu hết các quốc gia công nhận Điều này cũng nói lên vai trò quan trọng của bảnquy tắc này trong việc kiến tạo hành lang pháp lý cho mọi giao dịch quốc tế của NH UCP cũng phân định rất rõ ràng, cụ thể quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cảcác bên tham gia vào giao dịch Tín dụng chứng từ Bản UCP đầu tiên được soạn thảo vàcông bố năm 1933 và được Hội nghị ICC lần thứ VII tại Viên thông qua, ấn phẩm và cóhiệu lực cùng năm 1933 Sau đó, UCP đã được ICC chỉnh sửa bổ sung hoàn chỉnh quanhiều lần sửa đổi vào các năm 1952, 1962, 1974, 1983, 1993…Cần lưu ý là các bản UCP

ra đời sau không huỷ bỏ các văn bản ra đời trước đó, cho nên 7 bản UCP ban hành vàocác năm khác nhau đều có giá trị thực hành trong thanh toán quốc tế Việc áp dụng vănbản UCP nào là do ý nguyện của các bên quyết định, và trong nội dung của Thư tín dụngphải có dẫn chiếu số hiệu của văn bản UCP được áp dụng Chính vì thế, UCP được xếpvào loại văn bản quy phạm có tính chất tuỳ ý UCP600 có một số thay đổi cơ bản so vớiUCP500 như sau:

Thứ nhất, về hình thức, UCP600 được bố cục lại với 39 điều khoản (so với 49

điều khoản của UCP500), trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới

để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP500 Chẳng hạn, điều 2

“Definitions” (Định nghĩa) của UCP600 đã nêu ra một loạt định nghĩa như: Advisingbank, Applicant, Beneficiary, Complying presentation, Confirmation, Confirming bank,Credit, Honour, Negotiation, Presentation…

Thứ hai, UCP600 đã quy định rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp nhận các

chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm việc ngân hàng” (fivebanking days) Ở UCP 500, khoảng thời gian này được quy định không rõ ràng là “Thời

Trang 25

gian hợp lý” (Reasonable Time) và “Không chậm trễ” (Without delay) để kiểm tra chứng

từ và thông báo chứng từ bất hợp lệ

Thứ ba, UCP600 đã đưa ra quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và

người hưởng lợi thư tín dụng phải được thể hiện trên chứng từ xuất trình đúng như trongthư tín dụng

Thứ tư, theo UCP600, ngân hàng phát hành được phép từ chối chứng từ và giao

bộ chứng từ cho người yêu cầu mở thư tín dụng khi nhận được chấp nhận bộ chứng từ bấthợp lệ của họ

Về cơ bản, UCP600 đã có nhiều điểm mới nhằm xác định rõ và giải quyết nhữngxung đột trong thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ màUCP500 chưa thực hiện được Tất nhiên, bên cạnh những thành tựu, UCP600 vẫn chưagiải quyết được tất cả các vấn đề thực tiễn đầy phong phú và phức tạp, đòi hỏi ICC sẽ tiếptục nghiên cứu và sửa đổi để có thể đáp ứng được sự thay đổi liên tục trong thương mạiquốc tế

Tiêu chuẩn quốc tế về nghiệp vụ ngân hàng dùng cho việc kiểm tra chứng từ trong Tín dụng chứng từ của phòng Thương Mại Quốc Tế, gọi tắt là ISBP 681e 2007 ( International Standard Banking Practice )

Văn bản hướng dẫn kiểm tra chứng từ theo UCP600 có hiệu lực từ ngày

1/1/2007).Đây là tài liệu bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP600 ISBP không sửa đổiUCP mà chỉ giải thích chi tiết rõ ràng làm thế nào để những quy tắc này được áp dụngtrong giao dịch hàng ngày

Thông qua việc sử dụng ISBP, những người làm việc kiểm tra chứng từ có thể thựchành công việc cho phù hợp với các tập quán mà các đồng nghiệp của họ đang sử dụngtrên thế giới Do vậy, ISBP ra đời góp phần làm giảm đáng kể số lượng chứng từ bị từchối thanh toán do bất hợp lệ khi xuất trình lần đầu tiên

Thanh toán qua mạng viễn thông liên ngân hàng thế giới, gọi tắt SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication).

SWIFT là nhà cung cấp sự an toàn, dịch vụ chuẩn hóa và phần mềm giao diện chohơn 8,000 viện tài chính tại 208 quốc gia và lãnh thổ Thành viên của SWIFT bao gồm

Trang 26

các ngân hàng, nhà môi giới, quản lý đầu tư Cộng đồng của SWIFT cũng bao gồm cáccông ty cũng như cơ sở hạ tầng ngân hàng trong việc thanh toán, đảm bảo, ngân khố vàthương mại Trong hơn 10 năm qua, giá tin SWIFT được cắt giảm hơn 80% khả năng đápứng của hệ thống đạt mức 5x9 xét về mức độ tin cậy – tức là đạt mức chạy liên tục99.999% so với thời gian quy định

Quy tắc thống nhất về Nhờ thu (Uniform Rules For Collections – URC)

Với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện thống nhất các nguyên tắcthực hành nghiệp vụ nhờ thu trong thương mại quốc tế trên phạm vi toàn thế giới, Phòng

thương mại quốc tế đã soạn thảo và ấn hành văn bản mang tên “Quy tắc thống nhất về nhờ thu” (URC).

Bản URC đầu tiên đã được phát hành từ năm 1956, sau đó đã được sửa đổi vàonhững năm 1967, 1978 Bản URC được sửa đổi năm 1978 có hiệu lực từ ngày 1/1/1979

với tên gọi URC 1979 Revision – ICC Publication No 322 Để phù hợp với sự phát triển

của thương mại quốc tế theo hướng mở rộng và đa dạng hoá, một số nội dung của URC số

322 không còn phù hợp nữa Vì vậy, trên cơ sở những ý kiến đóng góp của các Phòngthương mại quốc gia và của các ngân hàng ở các nước, Phòng thương mại quốc tế đã tiến

hành bổ sung sửa đổi văn bản này thành văn bản mới có tên là Uniform Rules For Collection, ICC Publication No 522, 1995 Revision, in force on Jan 01, 1996 (Quy tắc

thống nhất về nhờ thu, Phòng thương mại quốc tế ban hành số 522 có hiệu lực từ ngày1/1/1996, gọi tắt là URC No 522)

Văn bản URC số 522 quy định những vấn đề có tính nguyên tắc về khái niệm, hìnhthức và cơ cấu của nhờ thu, về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngân hàng cũngnhư của các bên có liên quan, về các chi phí, các chứng từ trong nhờ thu

Các quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng theo Tín dụng chứng từ do phòng Thương mại và Công nghiệp Quốc tế ban hành, số xuất bản 525 gọi tắt là URR525(Uniform Rules for Bank Reimbursement under Documentary Credit).

Quy tắc thực hành tín dụng dự phòng quốc tế, gọi tắt ISP98 (International Standby Practices)

Trang 27

Do Phòng Thương Mại Quốc Tế ban hành, cung cấp các quy tắc về thực hành nghiệp

vụ ngân hàng tiêu chuẩn đối với thư tín dụng và các cam kết độc lập có liên quan như thưtín dụng dự phòng ISP98 là một sản phẩm mang tính cách mạng về việc áp dụng UCPđối với thư tín dụng dự phòng Tuy nhiên, thư tín dụng dự phòng vẫn có thể được pháthành theo UCP nếu các bên quyết định như vậy

4.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động tín dụng chứng từ.

Đối với người nhập khẩu:

Khi trong hợp đồng mua bán có quy định điều khoản áp dụng phương thức thanhtoán tín dụng chứng từ thì việc người mua mở thư tín dụng là điều kiện tiên quyết đểngười bán thực hiện hợp đồng Người mua phải mở thư tín dụng đúng thời hạn quy địnhtrong hợp đồng Người mua phải căn cứ vào nội dung của hợp đồng mua bán để làm đơnyêu cầu mở thư tín dụng gửi tới ngân hàng Khoản phí mà người NK phải trả cho ngânhàng mở thư thường là khoản ký quỹ từ 20 đến 25% 10giá trị L/C

Người mua có quyền từ chối hoàn trả toàn bộ hay một phần của số tiền thư tín dụngcho ngân hàng nếu xét về bề ngoài bộ chứng từ không phù hợp với những điều kiện màngười mua đã nêu trong thư tín dụng

Đối với người xuất khẩu:

Người bán chỉ giao hàng khi nào biết người mua đã mở thư tín dụng cam kết trả tiềncho mình Người bán phải kiểm tra thư tín dụng xem có đúng với nội dung của hợp đồngmua bán không, nếu sai với hợp đồng mua bán hoặc có những điều kiện không rõ ràng,không có lợi cho mình thì có quyền yêu cầu người mua sửa đổi hoặc bổ sung thư tín dụng.Nội dung sửa đổi thư tín dụng phải được ngân hàng mở thư tín dụng xác nhận thì mới có

hiệu lực thanh toán Theo Điều 10 UCP600 quy định “Trừ khi có quy định khác tại Điều

38, một tín dụng không có thể sửa đổi mà cũng không có thể hủy bỏ nếu như không có sự thỏa thuận của ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận, nếu có, và của người thụ hưởng”.

10 TS Trần Thị Hòa Bình và PGS.TS Trần Văn Nam, giáo trình luật thương mại quốc tế, NXB Lao động –

Xã hội, trang 299.

Trang 28

Sau khi giao hàng người bán phải lập đầy đủ các chứng từ theo yêu cầu của thư tíndụng và xuất trình cho ngân hàng trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng Người bán chỉthu được tiền nếu ngân hàng kiểm tra thấy các chứng từ đó phù hợp về hình thức với cácđiều kiện của thư tín dụng.

Đối với ngân hàng:

- Ngân hàng phát hành thư tín dụng: có nghĩa vụ căn cứ vào đơn yêu cầu, mở thư tíndụng cho người mua và tìm cách thông báo việc mở thư tín dụng này cho người bán biết.Khoản phí mà người mua trả cho NHPH vào khoảng 0,125 đến 0,5% số tiền của L/

C11Ngân hàng mở thư tín dụng chịu trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ dongười bán xuất trình xem bề ngoài có phù hợp với những điều kiện của thư tín dụng haykhông Nếu phù hợp thì ngân hàng phải thanh toán tiền cho người bán và nhận chứng từ,nếu ngân hàng làm sai thì ngân hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm Sau khi trả tiền chongười bán, ngân hàng trao chứng từ cho người mua và thu lại tiền từ người mua

- Ngân hàng thông báo: là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở thư tín dụng, thường

là NH ở nước người bán có trách nhiệm thông báo cho người xuất khẩu rằng một thư tíndụng đã được mở cho người xuất khẩu hưởng Bằng việc thông báo thư tín dụng, ngânhàng chỉ có chức năng làm trung gian, cầu nối cho ngân hàng mở L/C; ngân hàng thôngbáo không chịu thêm một rủi ro nào và chỉ có trách nhiệm đảm bảo là thư tín dụng chínhxác và xác thực Để thuận tiện cho việc thông báo L/C, ngân hàng thông báo thường ởnước xuất khẩu Một ngân hàng thông báo thường thực hiện một hoặc nhiều chức năngnhư xác nhận, chiết khấu hoặc thanh toán

- Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng (cũng thường là ngân hàng thông báo), theo yêucầu của ngân hàng mở thư tín dụng, đứng ra xác nhận trả tiền cho ngân hàng mở thư tíndụng Việc xác nhận này cho phép người xuất khẩu được thanh toán bởi một ngân hàng ởnước xuất khẩu, hoặc một ngân hàng mà người xuất khẩu tin tưởng NHXN cam kết tráchnhiệm thanh toán không thể huỷ bỏ cho người xuất khẩu trên cơ sở nhận được các chứng

từ đúng quy định

Trang 29

- Ngân hàng được chỉ định thanh toán là ngân hàng, với thoả thuận trong thư tín dụngđược uỷ quyền để thanh toán, tiến hành thanh toán chấp nhận hối phiếu Trừ khi thư tíndụng nói rõ là chỉ có ngân hàng mở thư tín dụng có quyền chỉ định thì ngân hàng mở L/Cmới chỉ định một ngân hàng khác thanh toán.Một ngân hàng được chỉ định thường không

bị buộc phải thanh toán theo một thư tín dụng trừ khi đã xác nhận trách nhiệm thanh toántrong thư tín dụng và trở thành ngân hàng xác nhận

- Ngân hàng thanh toán có thể là ngân hàng đã mở thư tín dụng hoặc là một ngânhàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng uỷ thác trả tiền cho người bán Khi nhận đượccác chứng từ do người xuất khẩu xuất trình, ngân hàng kiểm tra và nếu thấy phù hợp vớicác điều khoản và điều kiện cuả thư tín dụng, thì tiến hành thanh toán cho người xuấtkhẩu

- Ngân hàng chiết khấu: là ngân hàng đứng ra mua hối phiếu có kỳ hạn chưa đến hạntrả tiền do người bán ký phát cho ngân hàng trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở thưtín dụng Việc mua lại thường được đảm bảo là có thể truy đòi, nghĩa là nếu ngân hàng mởkhông thể thanh toán cho ngân hàng chiết khấu, ngân hàng chiết khấu sẽ thu lại tiền đãthanh toán cho người xuất khẩu Đây là điểm khác biệt giữa ngân hàng chiết khấu và ngânhàng xác nhận

Trong thực tế nghiệp vụ về tín dụng chứng từ, không nhất thiết phải có đủ các loạingân hàng trên tham gia Thông thường chỉ có hai hoặc đôi khi chỉ có một ngân hàngđứng ra làm tất cả các chức năng nói trên của ngân hàng về việc mở thư tín dụng và trảtiền thư tín dụng

4.3 Một số rủi ro pháp lý thường gặp trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ 4.3.1 Đối với nhà nhập khẩu.

Việc thanh toán của NH cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình

mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hóa NH chỉ kiểm tra tính chân thật “bề ngoài”của chứng từ mà không chịu trách nhiệm với tính chất “bên trong” của chứng từ, cũngnhư chất lượng và số lượng hàng hóa Vì vậy, một nhà XK có chủ tâm gian lận có thểxuất trình bộ chứng từ giả mạo (có bề ngoài phù hợp với L/C) đến NHCĐ để thanh toán.Như vậy không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hóa sẽ đúng như đơn đặt hàng

Trang 30

hay không bị hư hại gì và nhà NK vẫn phải hòa trả đầy đủ lại tiền cho NHPH Trường hợpnày sẽ dễ xảy ra tranh chấp giữa nhà NK và nhà XK vì liên quan đến việc hàng hóa đượccung cấp không dúng như trong hợp đồng.

4.3.2 Đối với nhà xuất khẩu.

Nhà XK gặp khó khăn khi thực hiện các điều khoản trong thư tín dụng hoặc khôngthể thực hiện được do nhà NK yêu cầu phát hành thư tín dụng không đúng với hợp đồng,

từ đó dễ làm phát sinh tranh chấp giữa hai bên Kế đó, khi nhà XK xuất trình bộ chứng từkhông phù hợp với thư tín dụng thì mọi khoản thanh toán (chấp nhận) đều có thể bị từchối và nhà XK sẽ phải tự giải quyết bằng cách dỡ hàng, lưu kho, bán đấu giá… cho đếnkhi vấn đề được giải quyết hoặc phải chở hàng quay về nước Nhà XK còn phải trả cáckhoản chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho, mua bảo hiểm hàng hóa… trong khikhông biết nhà nhập khẩu có đồng ý nhận hàng hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng

từ có bất hợp lệ Sau đó, nếu NHPH hoặc NHXN mất khả năng thanh toán thì mặc dù bộchứng từ xuất trình có hợp lệ cũng không được thanh toán Do đó, nhà XK sẽ phải chịurủi ro về pháp luật nếu như nhà nước có sự thay đổi về chính sách pháp luật

Việc phát hành thư tín dụng luôn mang yếu tố rủi ro khi nhà NK ký quỹ không đủ100% trị giá thư tín dụng Vào thời điểm thanh toán, NHPH sẽ gặp rủi ro khi phải thựchiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định của thư tín dụng trong trường hợp nhà

NK chủ tâm không thanh toán hay không có khả năng thanh toán: không có tiền, thịtrường hàng hóa nhập khẩu có sự biến động giá cả, cố tình không thanh toán hoặc bị phásản Do đó, NHPH sẽ phải thanh toán cho ngân hàng xuất trình khi nhà NK viện lý dohàng hóa có vấn đề để từ chối thanh toán Kế đó, khi phát hành thư tín dụng, nếu NHPHchuyển tải không hết, hoặc không đúng nội dung trên đơn đề nghị mở thư tín dụng củanhà NK, nếu có tranh chấp thì NHPH phải chịu rủi ro do nhà NK từ chối nhận chứng từ

và thanh toán cho NHPH

Khi xử lý chứng từ bất hợp lệ, NHPH mất quyền từ chối thanh toán và phải thực hiệnviệc thanh toán bất kể tính hợp lệ của chứng từ khi:

Trang 31

- Thông báo chứng từ bất hợp lệ bị ngân hàng xuất trình bác bỏ bằng các luận điểmphù hợp với UCP600 và ISBP681.

- Thông báo chứng từ bất hợp lệ vượt quá 5 ngày làm việc sau ngày nhận chứng từ Theo Điều 35 UCP600, ngân hàng phát hành vẫn phải thanh toán cho ngân hàng xuấttrình khi chứng từ xuất trình phù hợp quy định thư tín dụng bị thất lạc trong quá trìnhchuyển từ ngân hàng xuất trình đến ngân hàng phát hành

4.3.4 Đối với các ngân hàng khác.

Đối với ngân hàng thông báo thư tín dụng:

NHTB phải chịu trách nhiệm về tính chân thật, hợp lệ của thư tín dụng (bao gồm cảviệc xác minh chữ ký, khoá mã, mẫu điện…) trước khi gửi thông báo cho nhà XK Bất kỳ

sự chậm trễ hay thiếu chính xác của về việc thông báo thư tín dụng do sai sót của NHTBlàm thương vụ không thành thì NHPH hay nhà NK có thể khởi kiện NHTB để đòi bồithường Ngoài ra, khi gặp phải một thư tín dụng giả (hoặc sửa đổi giả) mà không có ghichú gì thì theo Điều 9 UCP600, NHTB phải thông báo NHPH không kiểm tra được tínhchân thật của thư tín dụng nhưng lại thông báo cho người thụ hưởng mà không kèm ghi

chú “Chúng tôi không chịu trách nhiệm tính xác thực của thư tín dụng” Theo thông lệ

quốc tế thì NHTB phải chịu hoàn toàn trách nhiệm khi người thụ hưởng đã giao hàngnhưng không được thanh toán khi xuất trình bộ chứng từ hợp lệ

Đối với ngân hàng chỉ định:

NHCĐ không có trách nhiệm phải thanh toán cho nhà XK trước khi nhận được tiền

từ NHPH Tuy nhiên trong thực tế, các NHCĐ thường ứng trước tiền cho nhà XK vớiđiều kiện có truy đòi để trợ giúp cho nhà XK Do đó, khi xảy ra vấn đề rủi ro liên quanđến việc thanh toán, NH này thường phải tự chịu rủi ro về các tranh chấp đối với NHPHhoặc nhà XK

Đối với ngân hàng xác nhận:

NHXN thường là ngân hàng lớn có uy tín hoặc ngân hàng có quan hệ tiền gửi, tiềnvay với NHPH, được ngân hàng yêu cầu xác nhận và cam kết trả tiền cho người bán nếunhư NHPH không thực hiện được nghĩa vụ của mình Đối với ngân hàng xác nhận, khitham gia xác nhận là họ đã tự ràng buộc trách nhiệm của mình vào nghĩa vụ thanh toán

Trang 32

thư tín dụng khi có tranh chấp giữa hai bên Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận xảy ra khi

họ không nắm vững được năng lực tài chính của ngân hàng phát hành mà xác nhận theoyêu cầu của họ để rồi khi xảy ra hậu quả thì lại phải chịu trách nhiệm thanh toán thay chongân hàng phát hành do ngân hàng phát hành thiếu thiện chí hay mất khả năng thanh toán,thậm chí bị phá sản hay việc xác nhận không được đảm bảo bằng tài sản đảm bảo hay kýquỹ

Đối với ngân hàng chiết khấu:

NHCK là ngân hàng được chỉ định cụ thể hoặc bất cứ ngân hàng nào nếu thư tín dụng

có điều khoản chiết khấu tại bất cứ ngân hàng nào Cũng như ngân hàng phát hành, ngânhàng chiết khấu có thể gặp phải rủi ro nếu như không thực hiện chính xác nghiệp vụ cũngnhư không tuân thủ theo các điều kiện của UCP600

Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng chiết khấu phần nhiều phụ thuộc vào thiện chí củaNHPH và nhà NK Các rủi ro mà NHCK có thể gặp phải là: Rủi ro do những nguyên nhânbất khả kháng; rủi ro do nhà NK trì hoãn thanh toán; rủi ro trong quá trình vận chuyển; rủi

ro do nhà NK từ chối thanh toán bộ chứng từ; rủi ro do NHPH bị phá sản; rủi ro doNHCK không hành động đúng theo quy định của UCP600

4.4 Một số các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán L/C và con đường giải quyết tranh chấp.

4.4.1 Các nguyên nhân có thể làm phát sinh tranh chấp.

Thứ nhất, do việc hiểu và vận dụng pháp luật của các bên không chính xác.

Văn bản pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động thanh toán thanh toán L/C là UCP, trongthương mại quốc tế đã có nhiều bản UCP được sử dụng và phiên bản mới nhất làUCP600 Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc vận dụng UCP600 trong nghiệp vụ tín dụngchứng từ cũng gặp không ít khó khăn từ đó phát sinh nhiều tranh chấp Nguyên nhân củatình trạng này phần nhiều là do trình độ vận dụng UCP của các bên tham gia vẫn cònnhiều hạn chế Bên cạnh đó thì cũng phải kể đến những bất cập do chính các điều khoảncủa UCP600 có thể chưa theo kịp với những phát sinh trong việc sử dụng việc thanh toántín dụng chứng từ gắn với các hoạt động kinh doanh vô cùng phong phú Bản quy tắc này

Trang 33

không dẫn chiếu sử dụng UCP trong hợp đồng mua bán hoặc trong L/C Vì vậy, Phòngthương mại quốc tế ICC đã khuyến cáo các bên khi áp dụng UCP vào quan hệ kinh tế thìphải tôn trọng luật lệ, tập quán của quốc gia nơi diễn ra giao dịch chứ không phải ngượclại Chính điều này đã gây ra không ít các tranh chấp xung quanh L/C.

Các NH khi tham gia phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ đều đã vàđang sử dụng UCP600 làm nguồn luật điều chỉnh Trong các bản UCP từ trước đến nayđều có các điều khoản quy định về việc miễn trách của NH, nhưng Người xin mở L/C vàNgười hưởng lợi lại không nhận được sự bảo vệ giống như vậy Điều này tạo ra sự khôngcông bằng, trong nhiều tranh chấp xảy ra giữa NH và các doanh nghiệp, các NH thườngdựa vào các điều khoản miễn trách để thoái thác trách nhiệm mà lẽ ra họ phải gánh chịu

do sự sơ suất hay bất cẩn của mình

Các doanh nghiệp Việt Nam nhận thức về vai trò của UCP 600 cũng như trình độvận dụng nó tỏ ra chưa tương xứng với mức độ phổ biến của việc sử dụng văn bản này Vìvậy đã xảy ra tình trạng nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng theo điều khoản thanh toán bằngtín dụng chứng từ, yêu cầu mở L/C mà không chú ý đưa vào hay loại ra những điều khoảnnhất định nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình

Một nguyên nhân nữa mà chúng ta không thể không nhắc tới trong việc làm phátsinh các tranh chấp là sự phức tạp của nguồn luật điều chỉnh, vì hoạt động thanh toánquốc tế bắng L/C gắn liền với các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như: mua bán hànghóa, đối ngoại, bảo hiểm…Do đó, ngoài việc phải vận dụng các thông lệ quốc tế thì việcphải vận dụng đến nhiều luật lệ, tập quán đặc thù ở hai hay nhiều nước khác nhau khi giảiquyết các tranh chấp liên quan đến phương thức thanh toán trên là khó tránh khỏi Phươngthức tín dụng chứng từ có liên quan đến ba quan hệ hợp đồng Do mỗi quan hệ hợp đồng

có chủ thể và khách thể khác nhau nên luật điều chỉnh các quan hệ đó cũng khác nhau

Thứ hai, hợp đồng ngoại thương được ký kết không hợp lý và chặt chẽ.

Trong khâu ký kết hợp đồng, do sự sơ suất hoặc hạn chế về trình độ nghiệp vụ,ngoại ngữ, trình độ pháp lý của những người tham gia ký kết hợp đồng, họ đã bỏ ra khôngquy định hoặc quy định không đầy đủ, rõ ràng về các điều khoản thanh toán bằng L/C,

các bên lại không quy định rõ về thời hạn mở L/C Ví dụ, hợp đồng vừa quy định, “L/C

Trang 34

phải được mở x ngày trước ngày giao hàng” vừa quy định “ngày giao hàng là y ngày sau ngày mở L/C” 12

Thứ ba, sự phức tạp của quy trình kỹ thuật thanh toán bằng L/C.

So với các phương thức thanh toán được áp dụng trong ngoại thương khác thìphương thức thanh toán bằng L/C là phương thức được áp dụng nhiều nhất Tuy nhiên,đây cũng là phương thức có quy trình nghiệp vụ kỹ thuật phức tạp nhất, các quy định củaphương thức này rất chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên tham gia nênquy trình kỹ thuật của nó gồm rất nhiều bước Trong mỗi bước đều tiềm ẩn rất nhiều vấn

đề phức tạp mâ nếu các bên không thận trọng thì sẽ dễ dàng phát sinh tranh chấp Ngoài

ra, nếu trong phương thức thanh toán bằng L/C còn có sự tham gia của các NHXN, NHhoàn trả tiền…thì quy trình thanh toán này còn phức tạp hơn, vì càng có nhiều mối quan

hệ giữa các bên thì càng có thể có nhiều dạng tranh chấp phát sinh Trong những nămqua, các tranh chấp phát sinh giữa các doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nướcngoài rất đa dạng, xoay quanh nhiều vấn đề khác nhau, trong đó tranh chấp phát sinhtrong thanh toán bằng L/C

4.4.2 Một số tranh chấp phát sinh.

4.4.2.1 Tranh chấp liên quan đến chứng từ xuất trình

Trong phương thức tín dụng chứng từ, các bên chỉ giao dịch với nhau căn cứ vàochứng từ, NH chỉ trả tiền cho người xuất khẩu khi bộ chứng từ của người XK hoàn toànphù hợp với những quy định của L/C Một bộ chứng từ được coi là phù hợp khi nó đápứng được các yêu cầu sau: các chứng từ phải thể hiện trên bề mặt của chúng là phù hợpvới các điều kiện của tín dụng và các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng không đượcmâu thuẫn lẫn nhau

Tranh chấp liên quan đến vận đơn đường biển.

Theo kết quả đánh giá của ICC, đại đa số các sai biệt dễ dẫn đến tranh chấp tranhchấp liên quan đến vận đơn là do cách thể hiện không đúng về năng lực, tư cách củangười ký phát hành vận đơn

PGS.TS Nguyễn Thị Quy, giáo trình “Cẩm nang giải quyết tranh chấp trong TTQT bằng L/C”, NXB lý

Trang 35

Vận đơn phải ghi rõ hàng hóa đã được bốc lên đích danh một con tàu Quy định nàychỉ phù hợp với việc giao hàng theo điều kiện FOB, CIF và do đó nó chính là nguyênnhân dẫn đến nhiều hiểu lầm làm phát sinh tranh chấp trong hình thức sử dụng B/L vậntải đa phương thức, hoặc khi điều kiện cơ sở giao hàng là FCA thì người chuyên chở chỉcấp cho người gửi hàng là vận đơn nhận để xếp.

Vận đơn phải chỉ rõ được việc gửi hàng từ cảng tới cảng trên một con tàu chỉ địnhtheo yêu cầu của L/C Yêu cầu này cũng đã gây khó khăn cho người gửi hàng trongtrường hợp hàng hóa phải chuyển tải dọc đường bởi vì trên vận đơn chỉ có ô ghi “cảngbốc hàng” và “cảng dỡ hàng”chứ không có ô ghi “cảng chuyển tải” Trong thực tiễn đã cónhiều vụ tranh chấp phát sinh từ nguyên nhân vận đơn đường biển không tuân theo quyđịnh của L/C về cảng bố dỡ hàng, về vận tải và về phương thức vận chuyển Để tránh xảy

ra tranh chấp nếu L/C quy định một chứng từ không phù hợp, người gửi hàng phải yêucầu sửa đổi L/C để tránh xảy ra sai sót trong các chứng từ xuất trình

Tranh chấp liên quan đến hóa đơn thương mại.

Hóa đơn thương mại được xem là trung tâm của bộ chứng từ xuất trình đòi tiền theoL/C vi trong trường hợp không dùng hối phiếu thì hóa đơn là căn cứ để thanh toán tiềnhàng Trong thực tế thanh toán tín dụng chứng từ tại Việt Nam, các tranh chấp liên quanđến hai vấn đề chính là về trị giá hóa đơn và phần mô tả hàng hóa trên hóa đơn

Tranh chấp liên quan đến chứng từ bảo hiểm.

Các nguyên nhân làm phát sinh loại tranh chấp này: chứng từ bảo hiểm không baogồm loại rủi ro quy định trong L/C; loại tiền tệ ghi trên chứng từ bảo hiểm khác với loạitiền tệ của L/C; bảo hiêm có hiệu lực sau ngày ghi trên vận đơn hoặc trên các chứng từvận tải khác; số tiền bảo hiểm nhỏ hơn 110% giá CIF của hàng hóa13

Với những hợp đồng XNK bình thường, các tranh chấp về chứng từ bảo hiểm ítxảy ra ví các doanh nghiệp Việt Nam thường xuất khẩu theo điều kiện FOB nên khôngphải chịu trách nhiệm cho việc mua hàng hóa xuất khẩu Đây được coi là một nhược điểmcủa các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam vốn đã có ít kinh nghiệm tong việc lậpchứng từ, nay lại càng yếu kém hơn do ít phải cọ xát với thực tế mà đặc biệt là việc mua

13 PGS.TS Nguyễn Thị Quy,sđd, trang 45.

Trang 36

bảo hiểm Việc thiếu kinh nghiệm mua bảo hiểm đã khiến nhiều doanh nghiệp ngoạithương Việt Nam bị lỗ vốn trong các thương vụ mua bán kiểu này do chứng từ bảo hiểm

có sai sót khi xuất trình thanh toán theo L/C

Tranh chấp phát sinh do có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ với nhau.

Các chứng từ được lập trên cơ sở yêu cầu của thư tín dụng phải phù hợp với tất cảcác điều khoản và điều kiện của thư tín dụng, giữa các chứng từ đó không được mâuthuẫn với nhau Tuy nhiên các nhà xuất khẩu thường mắc lỗi trong khi lập chứng từ theotiếu chuẩn này Trong thực tiễn, quan điểm thế nào là sự mâu thuẫn giữa các chứng từ cón

có rất nhiều khoảng cách Ví dụ, theo yêu cầu chứng từ hóa đơn lập có mô tả hàng hóa làvitamin C, nhưng trong chứng từ giám định lại ghi tên khác của loại hàng hóa này, xét vềbản chất thì có thể thấy hàng hóa này là cùng loại Trong quá trình kiêm tra chứng từ, với

sự cần mẫn hợp lý thì NH có thể phán xét chứng từ không mâu thuẫn, song trong nhữngtrường hợp khác thì NH với sự cần mẫn hợp lý không thể phát hiện ra bản chất bên trongcủa chứng từ so với hình thức bên ngoài của nó Vì vật, đối với nhà xuất khẩu, giải pháp

an toàn nhất là nên loại bỏ các mâu thuẫn về hình thức đó khi tạo lập chứng từ theo yêucầu của L/C

4.4.2.2 Các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của các bên tham gia vào phươngthức tín dụng chứng từ

Tranh chấp khi người nhập khẩu vi phạm nghĩa vụ liên quan đến L/C.

Trường hợp 1: Người mua không mở L/C.

Đây được coi là hành động vi phạm nghĩa vụ chủ yếu của hợp đồng Các tranh chấpcũng thường phát sinh trong trường hợp này là người mua có phải chịu trách nhiệm haykhông và nếu có thì chịu trách nhiệm theo hình thức nào Nếu người mua không thực hiệnnghĩa vụ mở L/C thì người bán cũng không có nghĩa vụ phải giao hàng, đồng thời đâycũng được coi là hành vi người mua vi pham hợp đồng vì không thực hiện nghĩa vụ hợpđồng Theo nguyên tắc suy đoán lỗi, người bán có quyền suy đoán người mua có lỗi vàbắt người mua phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật hoặc theo các điềukhoản quy định trong hợp đồng Muốn thoát khỏi trách nhiệm thì người mua phải chứng

Trang 37

phải chịu trách nhiệm nộp phạt hoặc bồi thường thiệt hại, thậm chí là vừa nộp phạt vừaphải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp 2: Người mua mở L/C chậm.

Đây được coi là hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà cụ thể là vi phạm thời hạn

mở L/C Như vậy, nếu hợp đồng quy định thời hạn cụ thể cho việc mở L/C thì rất dễ xácđịnh được thế nào là mở L/C chậm Tuy nhiên, trong thực tiễn, có trường hợp hợp đồngkhông quy định hoặc quy định không rõ ràng về thời hạn mở L/C nên đã xảy ra tranhchấp về việc người mua có mở L/C chậm hay không Do đó, khi xảy ra tranh chấp, tùythuộc vào từng tình huống cụ thể mà người bán có thể áp dụng các cách giải quyết thíchhợp

Trường hợp 3: Người mua mở L/C với nội dung không đúng theo các quy định của

Trường hợp 4: Tranh chấp phát sinh khi người mua yêu cầu NH đình chỉ trả tiền.

Về nguyên tắc thanh toán tín dụng chứng từ, người mua không được quyền canthiệp vào quá trình trả tiền của NH cho người hưởng lợi Tuy nhiên, cũng có trường hợpngười bán không giao hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng mà vẫn lập được bộchứng từ đúng với L/C Đó được coi là hành vi gian dối, lừa đảo vì với bộ chứng từ đó,người bán vẫn sẽ nhận được tiền hàng từ NH mở L/C do NH chỉ xử lý đúng chứng từ màkhông quan tâm đến hàng hóa thực sự như thế nà, trong khi đó người mua mặc dù khôngnhận được hàng hoặc nhận được hàng hóa kém chất lượng vẫn phải tanh toán cho NH.Trong thực tiễn, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, người mua có quyền đình chỉ

Trang 38

việc trả tiền của NH Nhưng muốn vậy người mua phải có các bằng chúng về sự lừa đảocủa người bán để căn cứ vào đó làm đơn yêu cầu tòa án ra lệnh cho NH đình chỉ việcthanh toán tiền cho người bán Cũng có những trường hợp do có mối quan hệ tốt với NH,người mua yêu cầu NH không thanh toán cho người bán, NH đã chấp nhận lời yêu cầucủa người mua mặc dù người bán đã đưa ra chứng từ hợp lệ Đây là điều bất hợp lệ màsau này nếu phát sinh tranh chấp sẽ gây ra những bất lợi cho người mua và cả uy tín củaNH.

Tranh chấp khi người xuất khẩu vi phạm nghĩa vụ liên quan đến L/C.

Khi ký kết hợp đồng, trong các điều khoản thanh toán bằng L/C sẽ có những quyđịnh về các chứng từ cần thiết để đảm bảo cho người mua có thể nhận hàng khi có bộchứng từ, do đó một khi người bán đã xuất trình bộ chứng từ phù hợp với L/C thì bộchứng từ đó cũng đủ điều kiện cần thiết để nhận hàng Nhưng cũng có những trường hợpmặc dù chứng từ xuất trình đã phù hợp rồi nhưng lại không đủ điều kiện nhận hàng vì đó

là những chứng từ giả mạ, chứng từ phản ánh sai tình trạng giao hàng thực tế làm ngườimua không nhận được hàng hoặc nhận hàng không đúng, đủ về số lượng, chất lượng đúngnhư đã quy định trong hợp đồng, gây ra thiệt hại cho người mua Vì vậy, khi phát sinhtranh chấp liên quan đến việc giao chứng từ của người bán thì phải xác định xem ngườibán có vi phạm hợp đồng hay không hay chỉ là vi phạm với L/C hay ngược lại, mỗitrường hợp cụ thể lại có cách xử lý riêng

- Nếu bộ chứng từ người bán giao không phù hợp với L/C thì chắc chắn sẽ phát sinhtranh chấp

- Người bán không lập được bộ chứng từ thanh toán vì đã chấp nhận một L/C có cácđiều khoản mà trong đó mà người mua đã khống chế, mà có thể vì sự non kém về nghiệp

vụ hoặc vì các bất lợi do sức ép của thị trường hoặc các sức ép khác mà người bán đã phảichấp nhận một L/C trong đó yêu cầu một hay một số loại chứng từ do người mau hoặcngười thay mặt người mua cấp, hoặc chấp nhận một L/C mà việc thực hiện các quy địnhcủa L/C đó vẫn chịu sự chi phối của người mua Sau này, nếu người mua không có thiệnchí, không cung cấp các chứng từ hoặc không nhận hàng thì người bán sẽ không thể lập

Trang 39

phải thương lượng để yêu cầu người mua thực hiện việc nhận hàng hoặc cung cấp cácchứng từ còn thiếu Nếu người mua không thực hiện thì sẽ phát sinh tranh chấp.

- Người bán giao chứng từ phù hợp với L/C nhưng lại là chứng từ giả mạo thì chứng tỏngười xuất khẩu có ý lừa đảo, lúc đó họ thường không giao hàng hoặc gíao hàng kém chấtlượng nhưng vẫn lập chứng từ để đòi tiền, họ đã vi phạm cả nghĩa vụ giao hàng và nghĩa

vụ giao chứng từ Trường hợp này xảy ra nhiều trong thực tế khi người mua không nắm

rõ được các đối tác nên đã gặp phải công ty ma hoặc công ty lừa đảo Khi nhận được bộchứng từ phù hợp với L/C thì NH vẫn trả tiền và không phải chịu trách nhiệm gì, ngườimua chỉ có một cách duy nhất để ngăn chặn NH trả tiền là cung cấp các bằng chứng về sựlừa đảo đến tòa án để xin lệnh đình chỉ thanh toán Tuy nhiên, biện pháp này chỉ có kếtquả khi NH chưa kịp thanh toán cho người bán, nếu thanh toán rồi thì NH cũng khôngchịu trách nhiệm gì và người mua lúc đó phải khiếu nại hoặc kiện người bán ra tòa án haytrọng tài nhờ phân xử

Tranh chấp khi các NH vi phạm nghĩa vụ liên quan đến L/C.

Như đã phân tích ở trên, vai trò của các NH khi tham gia vào phương thức tín dụngchứng từ là một bên độc lập, đặc biệt là NHPH L/C và NHTB L/C, các NH này có tráchnhiệm đảm bảo cho việc thanh toán diễn ra theo đúng quy định chứ không phải chỉ là mộtbên trung gian hỗ trợ cho các bên thực hiện việc thanh toán và không chịu trách nhiệm gì

Thứ nhất, đối với NH phát hành L/C, sau khi đã chấp nhận đơn xin mở L/C và đã

mở L/C cho người hưởng lợi, NH mở L/C lập tức có nghĩa vụ đối với cả hai bên, nếu NH

vi phạm các nghĩa vụ đó thì phải hoàn toàn chịu trách nhiệm Ví dụ, nêu NH chậm trễtrong việc mở L/C làm cho người mua bị người bán quy kết trách nhiệm là người muachậm mở L/C, mà việc chậm trễ này ảnh hưởng đến việc giao hàng của người bán, gâycho người bán các chi phí phát sinh (phí lưu kho, lưu bãi, phạt chờ tàu,…) hoặc hàng hóathuộc loại hàng mau hỏng (hoa quả, thực phẩm tươi sống,…), người bán có thể khiếu nạiđòi người mua phải chịu trách nhiệm Sau khi người mua bồi thường hoặc nộp phạt,người mua sẽ quay lại khiếu nại NH và NH phải chịu trách nhiệm Trong trường hợpkhác, NH không phát hiện được các sai biệt của chứng từ hoặc không thông báo hếtnhững sai biệt làm người mua không nhận được hàng, nhận được hàng thiếu hoặc nhận

Trang 40

hàng kém chất lượng…nếu người mua không thể khiếu nại đến người bán, người mua cóthể khiếu nại hoặc kiện NH đòi bồi thường các thiệt hại phát sinh Điều này đòi hỏi các

NH phải cẩn thận khi kiểm tra chứng từ và thông báo các sai biệt của chứng từ, thực tiễn

ở nước ta trong công văn thông báo của NHPH, NH sẽ thông báo cho nhà nhập khẩu, khi

đó các nhà nhập khẩu có trách nhiệm kiểm tra lại chứng từ theo quy định của L/C vàquyết định tiếp nhận hay từ chối chứng từ, vì vậy, khi xảy ra tranh chấp họ cũng phải chịumột phần trách nhiệm

Thứ hai, đối với NHTB L/C, là NH phục vụ người hưởng lợi, người XK trong L/C.

Đây là NH có trách nhiệm thông báo L/C và chuyyển các sửa đổi thư tín dụng của các bên

có liên qua Nếu được NHPH ủy quyền, NHTB cũng có thể là NH trả tiền, NHXN,NHCK bộ chứng từ Vì vậy, các tranh chấp mà NHTB cũng có thể vướng vào khi NHTBmột L/C thiếu tính chân thật bề ngoài Cụ thể là:

- Khi NHTB nhận được một L/C không có Test hoặc có Test nhưng không giải mãđược nhưng NHTB vẫn thông báo L/C cho nhà XK, người XK vì không hiểu được tầmquan trọng của mã khóa trong L/C, đồng thời chủ quan cho rằng cứ L/C được gửi từNHTB là bản có hiệu lực thi hành nên đã giao hàng Cuối cùng là người bán không lấyđược tiền từ NHPH và do đó họ có thể kiện NHTB vì đã không làm hết trách nhiệm

- Trong trường hợp NHTB thực hiện không đúng các chỉ dẫn của NHPH trong L/C,tranh chấp phát sinh là do quan điểm về bộ chứng từ phù hợp của NHPH và NHTB khônggiống nhau Ví dụ, trong một hối phiếu số tiền được ghi là 138,458.00 USD(one*three*eight*four*five*eight US dollar) đã được NHTB chiết khấu, nhưng NHPH lạicho là chứng từ hối phiếu có số tiền bằng số và bằng chữ không thống nhất với nhau, vàkhông phù hợp với cách ghi số tiền trên chứng từ tài chính theo tập quán Có trường hợpvận đơn hàng ghi sai họ của người được thông báo NHTB không cho rằng đây là nhữnglỗi có thể gây ra hậu quả vật chất nên đã trả tiền cho nhà XK, còn NHPH lại kiên quyếtcho rằng họ của người được thông báo ghi sa, có thể dẫn đến hậu quả là có một người nào

đó ngẫu nhiên trùng tên dẫn đến khó khăn trong việc xác nhận tư cách pháp nhân củangười này Trong thực tế, việc xác định sai bỉệt nào là nặng hay nhẹ hay không phải là sai

Ngày đăng: 21/04/2014, 20:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Bảng các chỉ tiêu thanh toán quốc tế năm 2005-2008 tai SGD NHNT. - Áp dụng pháp luật trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”.
Bảng 2.3 Bảng các chỉ tiêu thanh toán quốc tế năm 2005-2008 tai SGD NHNT (Trang 50)
Bảng 2.4: Bảng cơ cấu tỷ trọng hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD NHNT - Áp dụng pháp luật trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”.
Bảng 2.4 Bảng cơ cấu tỷ trọng hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD NHNT (Trang 50)
Bảng 2.5: Doanh số thanh toán xuất khẩu tại SGD NHNT 2005 - 2008 - Áp dụng pháp luật trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”.
Bảng 2.5 Doanh số thanh toán xuất khẩu tại SGD NHNT 2005 - 2008 (Trang 51)
Bảng 2.6: Doanh số thanh toán nhập khẩu tại SGD NHNT từ năm 2005 – 2008. - Áp dụng pháp luật trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”.
Bảng 2.6 Doanh số thanh toán nhập khẩu tại SGD NHNT từ năm 2005 – 2008 (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w