Dân tộc từ trước đến nay luôn là chủ đề đa dạng, phức tạp xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, các vấn đề về dân tộc luôn mang tính thời sự đối với bất kỳ quốc gia nào. Chủ nghĩa Mác Lênin đã khẳng định, mỗi dân tộc có con đường hình thành và phát triển riêng của mình, điều đó đã tạo nên những đặc điểm, những nét khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các dân tộc không vì thế mà bị chia rẽ mà lại có ảnh hưởng đến nhau, điều này vừa có thể giúp các dân tộc có điều kiện được phát triển về nhiều lĩnh vực, vừa có thể gây ra những cuộc chiến tranh dân tộc, sắc tộc. Do vậy, đối với mỗi quốc gia trên thế giới, việc tìm ra một chính sách phù hợp để giải quyết đúng đắn các vấn đề dân tộc luôn là mối quan tâm hàng đầu
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
-
TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: CĂN CỨ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH
DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
Sinh viên: NGUYỄN THÙY LINH
Mã số sinh viên: 2151100025
Lớp tín chỉ: CN01002_10
Lớp: QUẢNG CÁO K41
Hà nội, tháng 12 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do nghiên cứu đề tài 2
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 4
NỘI DUNG 5
1 Căn cứ lý luận xây dựng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta 5 1.1 Khái niệm và đặc điểm của dân tộc 5
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và chính sách dân tộc 8
2 Căn cứ thực tiễn xây dựng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 14
2.1 Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam hiện nay 14
2.2 Thực trạng của việc thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay 17 2.3 Giải pháp để tiếp tục thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay 19 KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Dân tộc từ trước đến nay luôn là chủ đề đa dạng, phức tạp xét trên cả phương diện
lý luận và thực tiễn, các vấn đề về dân tộc luôn mang tính thời sự đối với bất kỳ quốc gia nào Chủ nghĩa Mác Lênin đã khẳng định, mỗi dân tộc có con đường hình thành
và phát triển riêng của mình, điều đó đã tạo nên những đặc điểm, những nét khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các dân tộc không
vì thế mà bị chia rẽ mà lại có ảnh hưởng đến nhau, điều này vừa có thể giúp các dân tộc có điều kiện được phát triển về nhiều lĩnh vực, vừa có thể gây ra những cuộc chiến tranh dân tộc, sắc tộc Do vậy, đối với mỗi quốc gia trên thế giới, việc tìm ra một chính sách phù hợp để giải quyết đúng đắn các vấn đề dân tộc luôn là mối quan tâm hàng đầu
Cụ thể hơn, khi nói đến Việt Nam, một quốc gia nhiều dân tộc, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước càng phải thể hiện rõ tầm quan trọng của mình Trong tổng số 54 dân tộc anh em Việt Nam, trừ bốn dân tộc là Kinh, Hoa, Chăm, Khơme sống ở đồng bằng thì phần lớn đồng bào sinh sống ở miền núi, biên giới, hải đảo là những nơi có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng Ý thức được tầm quan trọng đó nên ngay từ khi mới ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định giải quyết vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam và sớm hoạch định, thực hiện nhất quán chính sách dân tộc theo nguyên tắc "Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển" Đời sống của nhân dân ta từ đó ngày càng cải thiện theo năm tháng trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế đến văn hóa – xã hội, Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh đòi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ khối đoàn kết dân tộc để có thể đứng vững và phát triển Do vậy, nhận thức đúng đắn vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong tình
Trang 4hình mới của đất nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh có tầm quan trọng không chỉ về lí luận mà cả thực tiễn Với lý do đó,
em quyết định lựa chọn đề tài “Căn cứ lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay” cho bài tiểu luận hết môn Chủ nghĩa xã hội khoa học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Bài tiểu luận sẽ giải thích về khái niệm dân tộc, làm rõ các vấn đề về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta dựa trên căn cứ lý luận và thực tiễn để thấy được và phát huy những thành tựu, đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc nhằm tăng cường khối đại đoàn kết và bình đẳng dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước
Để đạt được mục đích đã nêu trên, bài tiểu luận sẽ hướng đến giải quyết những nội dung sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
- Làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
- Phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta những năm gần đây
- Đề xuất một số giải pháp để thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Trang 5Phạm vi nghiên cứu: Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu những nội dung
cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước và phân tích quá trình thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay (từ năm 1986 đến nay)
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Bài tiểu luận góp phần làm rõ chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước thời kì đổi mới, bước đầu tổng kết việc thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Không chỉ vậy, bài tiểu luận còn làm sáng tỏ những thành tựu và hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua và chỉ rõ những giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, giảm bớt sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, phát huy sức mạnh toàn dân trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từ những giải pháp đó, em, một con người của thế hệ trẻ, sẽ góp phần biến chúng thành hành động, để 54 dân tộc của mảnh đất hình chữ S có cơ hội được vươn đến các cường quốc năm châu
Trang 6Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Dân tộc với nghĩa tộc người (Ethnies – Nghĩa hẹp)
- Là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản về cộng đồng là:
Có chung ngôn ngữ: Ngôn ngữ là tiêu chí cơ bản để phân biệt các dân tộc - tộc
người khác nhau (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói) Như một nguyên tắc, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp và gắn kết tất cả các thành viên trong một tộc người thống nhất, nhờ có ngôn ngữ mà văn hóa tộc người được bảo tồn và phát triển Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa trên thế giới có bao nhiêu ngôn ngữ thì có bấy nhiêu tộc người Trên thực tế, nhiều nhóm tự coi minh là những tộc người riêng biệt nhưng lại nói cùng một ngôn ngữ với những tộc người khác Vấn đề xem xét tiêu chí ngôn ngữ của mỗi dân tộc cần phải được cụ thể: có dân tộc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp chung, cũng có dân tộc dùng ngôn ngữ của các dân tộc khác như tiếng mẹ đẻ hoặc sử dụng nhiều ngôn ngữ cùng một lúc bên cạnh ngôn ngữ mẹ đẻ Như vậy, trên thế giới tồn tại nhiều ngôn ngữ là tiếng mẹ đẻ không phải chỉ cho một tộc người mà là cho nhiều nhóm tộc người Ranh giới của sự phân chia các tộc người riêng biệt và sự phân bố các ngôn ngữ không phải bao giờ cũng trùng hợp Vi vậy, dù ngôn ngữ là tiêu chí rất quan trọng để xác định một tộc người, nhưng không thể cho rằng nó là dấu hiệu duy nhất
Trang 7Có chung văn hóa: Là một trong số những dấu hiệu quan trọng phân định các
tộc người, bản sắc văn hóa đã được các cư dân sáng tạo nên trong quá trình phát triển lịch sử của mình và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Những biểu hiện cụ thể của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần (hay văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) ở mỗi dân tộc phản ánh những giá trị truyền thống, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc đó Rất nhiều dân tộc đã trái qua hàng ngàn năm phát triển vẫn không bị đồng hóa nhờ sức sống trường tồn của văn hóa dân tộc Ngày nay, xu thế giao lưu văn hóa song song với bảo tồn và phát huy bản sắc đã trở thành xu thế tất yếu đối với
sự phát triển dân tộc - tộc người Như vậy, đặc thù văn hóa cần được xem xét như là một dấu hiệu cơ bản của một tộc người bất kỳ, không có ngoại lệ, phân định họ với các tộc người khác Văn hóa có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ; ngôn ngữ được coi là thuộc tính cơ bản, có liên hệ chặt chẽ với văn hóa của tộc người nói thứ tiếng đó, đặc biệt là với văn hóa tinh thần
Có chung ý thức tự giác tộc người (Tiêu chí quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người): Đặc trưng nổi bật ở các dân tộc - tộc người
là luôn tự ý thức về dân tộc mình từ nguồn gốc đến tên gọi dù có nhiều tác dộng hoặc thay đổi về địa bàn cư trú, lãnh thổ hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố ý thức, tình cảm và tâm lý dân tộc Tuy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau ở mỗi dân tộc mà ý thức tự giác tộc người được biểu hiện rất sinh động và đa dạng, nhưng đây vẫn là tiêu chí quan trọng, có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người
Ba tiêu chí vừa nêu trên đã tạo ra sự ổn định trong mỗi cộng đồng dân tộc trong quá trình phát triển tộc người Ngay cả khi có sự thay đổi về phương thức sinh
Trang 8hoạt kinh tế, cộng đồng dân tộc vẫn tồn tại trên thực tế Đây chính là căn cứ khoa học và thực tiễn giúp xem xét và phân dịnh các dân tộc ở nước ta một quốc gia da dân tộc với sự xen kẽ cư dân các tộc người trên lãnh thổ đã hình thành từ lâu đời
- Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất
Dân tộc với nghĩa quốc gia dân tộc (Nation - Nghĩa rộng):
- Là hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa
- Một dân tộc thường có chung phương thức sinh hoạt kinh tế; có lãnh thổ chung
ổn định và không bị chia cắt; có sự quản lý của một nhà nước – dân tộc độc lập; có ngôn ngữ chung của quốc gia; có nét tâm lý biểu hiện qua nền văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền nền văn hóa dân tộc
- Đặc trưng cơ bản của của quốc gia dân tộc:
Có lãnh thổ chung
- Lãnh thổ là biểu hiện chủ quyền của dân tộc trong mối quan hệ với quốc gia dân tộc khác Lãnh thổ của một quốc gia dân tộc bao gồm vùng lãnh thổ cư trú của các dân tộc - tộc người hợp thành quốc gia dân tộc và vùng lãnh thổ có chủ quyền và cả các vùng lãnh thổ có quyền chủ quyền Lãnh thổ quốc gia dân tộc nói chung, cũng như từng bộ phận của lãnh thổ ấy được hình thành, phát triển trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, gắn với lịch sử tồn tại, phát triển quốc gia dân tộc, cũng như của các dân tộc - tộc người hợp thành
- Do đó, lãnh thổ là một giá trị văn hóa chung, đặc thù của quốc gia dân tộc, là sản phẩm của quá trình phát triển phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt vật chất và tinh thần của cả cộng đồng quốc gia dân tộc trong quan hệ biện chứng với sự hình thành, phát triển nhà nước, biểu hiện, thể hiện tập trung nhất
Trang 9của các giá trị văn hóa về chủ quyền quốc gia dân tộc của cộng đồng dân tộc - tộc người hợp thành và là chủ thể của mỗi quốc gia dân tộc
Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế
- C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng: Động lực gắn kết các dân tộc thành một nhà nước, một quốc gia thống nhất chính là yếu tố kinh tế: Một quốc gia dân tộc tồn tại nhiều giai cấp có những lợi ích khác nhau nhưng phải có sự tương đồng về lợi ích, tương đồng càng lớn thì tính thống nhất dân tộc càng cao; Tính thống nhất, tương đồng về kinh tế là cơ sở đảm bảo cho sự thống nhất quốc gia; Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở hình thành, phát triển, củng cố các giá trị văn hóa tinh thần tồn tại trên các quan hệ tương đồn về kinh
tế ấy; Các giá trị, mối quan hệ văn hóa trở thành cơ sở liên kết các bộ phận, thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc cho sự tồn tại, phát triển của cộng đồng dân tộc
Có chung đời sống văn hóa và ngôn ngữ
- Cùng với ngôn ngữ, các giá trị hợp thành đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân tộc - tộc người trong quốc gia dân tộc cũng tồn tại, phát triển trong quá trình lịch sử lâu dài Mỗi cộng đồng, tộc người được đặc trưng bởi một đời sống văn hóa tinh thần phong phú, giàu bản sắc của mình, thể hiện trong phong tục tập quán, lối sống, trong ý thức và tâm lý dân tộc, trong sinh hoạt tín ngưỡng mang đậm dấu ấn của mình Trong lịch sử lâu dài cũng như trong hiện tại, sự phát triển của văn hóa dân tộc là sự kế thừa các giá trị truyền thống, quan hệ giao lưu, biến đối với các giá trị của các dân tộc khác và của nhân loại
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân tộc và chính sách dân tộc
Trang 101.2.1 Quan điểm của Mác – Ăng-ghen về dân tộc và chính sách dân
tộc
Dân tộc là vấn đề luôn mang tính thời sự nóng bỏng của bất cứ thời đại nào, ở bất
kỳ quốc gia nào Nó đã khiến không ít những chính trị gia, giới khoa học, giới báo chí và cả quần chúng nhân dân dành nhiều thời gian quan tâm chú ý Hiện nay xung quanh vấn đề dân tộc đang có khá nhiều những ý kiến khác nhau, nhất là vấn đề hình thành dân tộc Theo các quan điểm kinh điển Mác – Ăng-ghen, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài người, hình thành trên cơ sở kế thừa đặc điểm của các hình thức cộng đồng người trước đó
Khi nghiên cứu về dân tộc, quan hệ dân tộc và những xu hướng phát triển của nó, chủ nghĩa Mác khẳng định rằng chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, khi tình trạng áp bức giai cấp, tình trạng bóc lột bị thủ tiêu thì tình trạng áp bức dân tộc cũng
bị xóa bỏ Với thắng lợi của cách mạng vô sản, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền, tạo tiền đề cho tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng
mở ra quá trình hình thành và phát triển của dân tộc xã hội chủ nghĩa
Từ thắng lợi ấy, dân tộc được tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng quan hệ bình đẳng hợp tác giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, làm phong phú thêm giá trị chung của quốc gia dân tộc, đưa dân tộc tới sự phồn vinh, hạnh phúc Vấn đề dân tộc là một bộ phận của những vấn đề chung về cách mạng vô sản Giải quyết vấn đề dân tộc thực chất
là xác lập quan hệ công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc trong một quốc gia, giữa các quốc gia dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là quyền thiêng liêng của các dân tộc Chính vì vậy, tất cả các dân tộc, dù đông người hay ít người, có trình độ phát triển cao hay thấp đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có bất cứ đặc quyền về kinh tế, chính trị, văn hóa, ngôn ngữ cho dân tộc nào
1.2.2 Quan điểm về dân tộc và chính sách dân tộc trong Cương lĩnh
dân tộc của Lênin
Trang 11Trước hết, dân tộc là một cộng đồng người ổn định, được hình thành và phát triển trong lịch sử, sống trên cùng một lãnh thổ nhất định, có chung một mối quan hệ về kinh tế, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý Đặc trưng chung cơ bản và quan trọng của một dân tộc là có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế - đây là cơ sở nền tảng cho sự vững chắc của cộng đồng dân tộc
Từ khi dân tộc ra đời, vấn đề dân tộc luôn là vấn đề được mọi giai cấp và tầng lớp
xã hội dành sự quan tâm Vấn đề dân tộc được nhắc đến đầu tiên là quan hệ giữa các tộc người trong một xã hội nằm trong khuôn khổ một quốc gia dân tộc về các lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, ngôn ngữ, và những vấn đề này đều kết hợp với những lợi ích giai cấp, vậy nên các phong trào dân tộc đều mang tính giai cấp sâu sắc Hiện nay, tình hình dân tộc vẫn đang diễn biến vô cùng phức tạp, giải quyết không chỉ là chuyện ngày một ngày hai, không chỉ có thể giải quyết bằng biện pháp hòa bình mà đôi khi còn phải giải quyết bằng hình thức vũ trang quân sự Việc giải quyết những vấn đề này có thể quyết định đến sự ổn định, phát triển hay khủng hoảng, tan rã của một quốc gia dân tộc, như Liên Xô cũ, Tiệp Khắc cũ hay Nam Tư cũ, Vấn đề dân tộc luôn gắn với tính giai cấp và mỗi giai cấp đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp trong quan niệm và tham gia phong trào dân tộc Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, quan hệ dân tộc và quan hệ giai cấp luôn gắn bó với nhau, giải quyết vấn đề dân tộc chính là giải quyết vấn đề giai cấp và ngược lại Còn đối với các nước
tư bản chủ nghĩa, giai cấp thống trị luôn lợi dụng vấn đề dân tộc để phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, vì thế khi quan hệ dân tộc và quan hệ giai cấp tách rời nhau, lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp cũng sẽ tách rời nhau
Khi nghiên cứu vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa
tư bản, Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong phòng trào dân tộc: Một
là xu hướng phân lập, do sự thức tỉnh, trưởng thành của ý thức dân tôc mà các cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập quốc gia dân tộc độc lập; Hai là xu hướng liên hiệp giữa các dân tộc lại với nhau do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của
Trang 12khoa học và công nghệ Ngày nay, các dân tộc có xu hướng liên kết, hợp tác với nhau trong quan hệ thị trường mở rộng dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng
có lợi (Ví dụ như ASEAN, EU, AU, )
1.2.3 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân tộc và đại đoàn kết dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin bằng con đường riêng của mình, khác với các bậc tiền bối như Phan Bội Châu lựa chọn “Dựa vào người Nhật
để đánh Pháp”, cụ Phan Châu Trinh lựa chọn phản đối bạo động và khai dân trí, Người đã hướng sang phương Tây để tìm đường cứu nước Ở đây, với lòng yêu nước nồng nàn và tình thương sâu đậm các dân tộc bị áp bức, Người đã bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin Có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là biểu hiện tập trung của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đó là một hệ thống tư tưởng hết sức phong phú và sâu sắc đề cập đến nhiều mặt, nhiều khía cạnh của vấn đề dân tộc Tuy vậy, chúng ta có thể đề cập theo hai góc độ tổng quát:
Thứ nhất, với một nước thuộc địa nửa phong kiến như nước ta khi đó thì vấn đề
dân tộc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là vấn đề giành lại độc lập tự do cho toàn thể dân tộc Việt Nam, làm cho các dân tộc từ thân phận nô lệ lên làm chủ nướcnhà
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh xác định đường lối, chính sách để đưa các dân tộc
thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, được bình đẳng, ấm no hạnh phúc trong một xã hội công bằng, văn minh Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin lần đầu tiên qua "Bản sơ thảo lần thứ nhất vấn đề dân tộc
và thuộc địa” của Lênin vào tháng 7 năm 1920, tại Pháp Từ đây, Người thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thấu hiểu hoàn cảnh thực tế của các dân tộc thuộc địa, Người đã rút ra kết luận: Trong một nước thuộc địa vấn đề đấu tranh cho dân tộc chủ quyền là cao hơn hết thảy, song cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đó phải gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động Nhận định điều đó, Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc mối quan hệ dân tộc