1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai

94 736 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà Ai Cập, Thái Hòa và con lai
Tác giả Lê Thị Nga
Trường học Trung Tâm Nghiên Cứu Gia Cầm Thụy Phương
Chuyên ngành Chăn nuôi gia cầm
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 889,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Ailen khẳng định, muốn hết bệnh trong gia cầm thì trước hết phải giữ vệ sinh chuồng trại thật sạch sẽ và thực hiện các biện pháp an toàn sinh h

Trang 1

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIA CẦM THỤY PHƯƠNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ AI CẬP,

THÁI HÒA VÀ CON LAI

CNĐT: LÊ THỊ NGA

8703

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

DANH SÁCH CÁN BỘ THỰC HIỆN CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

A Chủ nhiệm đề tài

ThS Nguyễn Ngọc Dụng Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương

B Cán bộ tham gia nghiên cứu

1 TS Phùng Đức Tiến Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương

2 TS Lê Thị Nga Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương

3 ThS Nguyễn Thị Liên Hương Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương

4 TS Nguyễn Thị Nga Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương

5 TS Nguyễn Duy Điều Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương

6 TS Bạch Thị Thanh Dân Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương

7 ThS Vũ Đức Cảnh Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương

8 TS Dương Xuân Tuyển Trung Tâm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ

thuật chăn nuôi

9 ThS Dương Trí Tuấn Trung Tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền

Trung

Trang 3

MỞ ĐẦU

Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm bùng phát ở nhiều nơi trên thế giới Ở nước ta, đợt dịch cúm gia cầm thứ 3 (từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005) vịt có tỷ lệ chết và tiêu huỷ nhiều gấp 2 lần gà, tỷ lệ dương tính với virus cúm của huyết thanh thuỷ cầm tăng từ 15% trong đợt 2 lên 39,6% trong đợt 3 (Báo cáo dịch cúm gia cầm trong giai đoạn 2004 - 2005 của Cục Thú y)

Vì vậy vịt đang là đối tượng được quan tâm về cúm gia cầm

Tại Thái Lan năm 2004 nghiên cứu dịch tễ học virut cúm H5N1 trên 4

hệ thống chăn nuôi vịt cho thấy hệ thống chuồng kín an toàn sinh học không phát hiện thấy virut cúm, hệ thống chuồng hở phát hiện 4/17 trang trại (23,5%), hệ thống chạy đồng 28/61 đàn (45,9%), hệ thống chăn nuôi nhỏ lẻ: 27% (Songserm Thaweesak và CS, 2006 [71])

Một số nước như Anh, Pháp, Thái Lan, Indonesia, rất hạn chế nuôi vịt trên ao hồ, thả đồng và sử dụng nuôi vịt theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn không có ao hồ đã đạt năng suất cao, đem lại hiệu quả kinh tế và an toàn sinh học

Hơn nữa, vịt còn mang nhiều loại mầm bệnh khác, đặc biệt là bệnh Sallmonella, vịt có thể mang trùng và truyền qua trứng sang thế hệ sau hoặc làm ảnh hưởng đến các sản phẩm chăn nuôi như trứng, thịt, vì độc tố của vi khuẩn này có thể gây ngộ độc cho người (Sharon Whitmarsh, 1997 [69]) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Ailen khẳng định, muốn hết bệnh trong gia cầm thì trước hết phải giữ vệ sinh chuồng trại thật sạch sẽ và thực hiện các biện pháp an toàn sinh học là điều kiện quyết định đến chất lượng sản phẩm và giảm chi phí trong chăn nuôi

Chăn nuôi vịt ở nước ta có truyền thống từ lâu đời, đứng thế hai trên thế giới về số lượng (FAO, 2008 [59]) và là nguồn thu nhập quan trọng của người nông dân Việt Nam Thuỷ cầm thường chiếm từ 26-29% trong tổng đàn gia cầm Theo ước tính của Cục Chăn nuôi thì năm 2008 tổng đàn gia cầm của cả nước tăng gần 10% so với năm 2007 trong đó đàn thuỷ cầm năm 2006: 62,6 triệu con, năm 2007: 70 triệu con Như vậy đàn thuỷ cầm của nước ta có chiều hướng tăng lên về số lượng

Phương thức chăn nuôi nhỏ hộ gia đình chiếm 73,6% ở chăn nuôi vịt Chăn nuôi vịt thả đồng tại đồng bằng sông Cửu Long có lợi nhuận cao, với ưu điểm cơ bản là tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi, đầu tư chi phí thấp, mang lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi này vẫn chưa được quy hoạch để đảm bảo an toàn sinh học và đang là nguy cơ lây lan phát tán mầm bệnh, là mối đe doạ lây lan bùng phát dịch cúm gia cầm trên diện rộng vì từ tháng 10/2007 trở lại đây, trên nhiều tỉnh, thành phố đã xuất hiện nhiều ổ dịch cúm gia cầm mà nguyên nhân do vịt chiếm tới 86% Vì vậy, chăn nuôi vịt thả đồng khoanh vùng trong một phạm vi nào đó

Trang 4

để có thể kiểm soát được đàn vịt, giảm thiểu lây lan dịch bệnh mà vẫn không ảnh hưởng tới tập quán chăn nuôi cũng như ảnh hưởng tới thu nhập của người nông d©n lµ hÕt søc cần thiết

Để giải quyết tốt công tác đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi vịt việc xây dựng các biện pháp xử lý môi trường nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của vịt, cắt đứt quá trình lây lan của dịch bệnh có ý nghĩa quan trọng (WHO, 2005 [72])

Hiện tại các cơ sở chăn nuôi đang sử dụng nhiều loại thuốc sát trùng khác nhau như Virkon-S, Bioclean, antisep, Formol tuy nhiên sử dụng nhiều cũng gây độc cho gia cầm và con người Việc tìm kiếm các chất sát trùng tiêu diệt được vi khuẩn nhưng ít gây độc hại, thân thiện với môi trường cũng là vấn đề cần được quan tâm Đồng thời xây dựng được quy trình xử lý chất thải đảm bảo cho chăn nuôi vịt đảm bảo an toàn sinh học

Chính vì vậy, cần định hướng cho người chăn nuôi theo các phương thức chăn nuôi, quy trình chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học, quy trình vệ sinh thú y, xử lý môi trường phù hợp với từng vùng sinh thái, đồng thời đảm bảo

tính bền vững Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ để phát triển chăn nuôi vịt đảm bảo an toàn sinh học”

Mục tiêu đề tài:

Xây dựng các giải pháp đồng bộ để chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y phòng bệnh, xử lý môi trường, hạn chế lây lan dịch bệnh để đảm bảo an toàn sinh học cho các cơ sở chăn nuôi vịt

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.1.1 Tình hình chăn nuôi và phương thức chăn nuôi vịt

Nhiều nước trên thế giới đã rất quan tâm đến nghề chăn nuôi vịt Năm

1970 thịt vịt chỉ chiếm 3,3% so với tổng sản lượng gia cầm Từ năm 1996 đến

2005 sản xuất thịt gia cầm tăng 30,73%, trong đó thịt vịt tăng 68,3% Trên toàn thế giới sản xuất thịt vịt đã tăng liên tục từ năm 2001 đến năm 2007 với bình quân 4,13%/năm (Sing-Hwa Hu, 2007 [70])

Từ cuối năm 2004 đến nay, mặc dù dịch cúm gia cầm vẫn đang xẩy ra

ở nhiều nước châu Á và một số nước Đông Âu nhưng số lượng vẫn tăng dần Chăn nuôi thuỷ cầm trên thế giới tập trung ở một số nước châu Á, trong đó có chăn nuôi vịt là chủ yếu Năm 2003 toàn thế giới có 2.308.243 nghìn con vịt, trong đó châu Á 2.058.423 nghìn con, Sản lượng thịt vịt năm 2003 toàn thế giới có 3.327.269 tấn, trong đó châu Á: 2.711.693 tấn Năm 2007 theo số liệu của tổ chức FAO số lượng vịt ở châu Á là 2.473.453 nghìn con chiếm 90% đàn vịt trên thế giới dẫn đầu là Trung Quốc chiếm 69,44%, Malaysia: 2,81%, Việt

Trang 5

Nam: 2,52%, Thái Lan: 2,15% Có 4 nước đứng đầu thế giới về sản xuất trứng vịt đó là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Philippin chiếm 96,73% số lượng trứng vịt trên thế giới (FAO, 2007 [59])

Số lượng vịt trên thế giới, châu Á, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan

y phòng bệnh, an toàn sinh học, phương thức chăn nuôi, Từ những năm

1920 vịt Khakicampbell, vịt chạy nhanh ấn Ấn Độ là những giống được chọn lọc cho năng suất trứng cao Các giống vịt cho năng suất thịt như vịt Anh Đào Hugary, Tiệp Khắc Hiện nay các giống vịt siêu thịt Super M, Super M2, Super M3; Vịt siêu thịt Super Hearvy; vịt siêu trứng CV Layer 2000 do Hãng Cherry Valley của Vương Quốc Anh tạo ra Vịt Star 57, Star 76, M15, do Hãng Grimau Frères cộng hòa Pháp tạo ra

Phương thức chăn nuôi cũng có nhiều thay đổi kết hợp chăn nuôi truyền thống với phương thức chăn nuôi công nghiệp có các trang thiết bị hiện đại giúp cho chăn nuôi vịt phát triển mạnh mẽ

Ở Thái Lan trước dịch cúm gia cầm năm 2004 tồn tại 4 hệ thống chăn nuôi vịt (Narin Thongwittaya, Ph.D, 2007 [65])

Trang 6

- Hệ thống khép kín đảm bảo an toàn sinh học cao: Các giống nuôi

thịt, Bắc Kinh và Chery valley được nuôi ở chuồng khép kín, 5.000-6.000 con trên một chuồng Vịt con 01 ngày tuổi được nuôi lấy thịt thời gian 50-65 ngày được nuôi theo hệ thống cùng vào cùng ra

- Hệ thống chuồng mở: Hệ thống này là tốt đối với cả hai giống vịt thịt

và vịt trứng bởi vì nó không tốn kém như hệ thống chuồng kín

- Hệ thống chạy đồng: Hầu hết vịt chăn thả là vịt lấy trứng như Khaki

Campbell, vịt địa phương và vịt lai Tuy nhiên, có cả một số nhỏ vịt thịt Sau 7-21 ngày úm, vịt mái tơ, vịt lấy trứng được đưa đến ruộng lúa Chúng ăn thóc trên cánh đồng, sau đó được đưa về khu nuôi nhốt vịt, nhưng một số đàn vịt vẫn giữ lại ở cánh đồng để giảm chi phí sản xuất, kể cả năng suất thấp hơn

và tỷ lệ chết cao

- Hệ thống nông hộ: Vịt Bắc Kinh, Khaki Campbell và vịt lai được tiếp

tục nuôi ở nông hộ trong nhà ở khu làng xã cùng với gia súc khác; gà, ngỗng, lợn hay chó Ước tính 1-1,5 triệu vịt được nuôi trong nông hộ

Sau khi xẩy ra dịch cúm gia cầm, hệ thống chăn nuôi vịt chưa có sự thay đổi nhưng những biện pháp kiểm soát AI được tiến hành chặt chẽ Trước khi đưa vịt tới khu giết mổ, 60 mẫu phân của đàn được chọn để phân lập virus Vào cuối chu kỳ 50-60 ngày, mỗi nhà nuôi vịt cần phải được dọn sạch sẽ, tẩy

uế và để trống ít nhất 21 ngày Sau 3-4 tuần bắt đầu nuôi vịt 01 ngày tuổi và chu kỳ lại được lặp lại

Tại Philipin năm 2006 có khoảng 11 triệu con vịt trong đó có 8,4 triệu con (76%) chăn nuôi theo phương thức chăn thả nhằm tận dụng thức ăn sẵn có ngoài thiên nhiên, giảm chi phí rất nhiều so với chăn nuôi công nghiệp, tuy nhiên ở đây cũng xác định rõ là việc chăn nuôi này cũng có nguy cơ lây truyền bệnh cao nhất là bệnh cúm gia cầm (EdwinC Villar và cộng sự, 2007 [55])

Indonesia thường chăn nuôi vịt ở các hộ nông dân vói số lượng nhỏ, chúng được thả theo đàn và tự tìm kiếm thức ăn, các đàn vịt này thường được nuôi trong khu vực trồng cây lương thực nhằm mục đích lấy trứng để tiêu dùng Tuy nhiên để giảm rủi ro do bệnh cúm gia cầm gây nên cần có hệ thống nuôi giữ và quản lý tốt đàn vịt này đồng thời nghiên cứu lai giữa các giống vịt

để tăng năng suất đồng thời vẫn giữ được nguồn gen kháng bệnh tốt của loài vịt chăn thả (Hardi Prasetyo, 2007 [58])

Theo Jeng-Fang Hang và cộng sự, 2007 chăn nuôi vịt là một nghề truyền thống của Đài loan, có vai trò rất quan trọng trong kinh tế ở nông thôn, có 5 kiểu hoạt động trong chăn nuôi vịt là: chăn nuôi vịt giống, chăn nuôi vịt thịt, chăn nuôi vịt lấy trứng, trạm ấp và nhà máy giết mổ Các sản phẩm đều được tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới

Như vậy, ở nhiều nước đang phát triển chăn nuôi vịt nặng về phương thức chăn thả tự nhiên, quảng canh, tận dụng, do đó năng suất chăn nuôi thấp,

Trang 7

giá thành sản phẩm cao, thú y chưa được quan tâm, dịch bệnh còn gây nhiều thiệt hại, đặc biệt trong tình hình của dịch cúm gia cầm hiện nay

Do vậy, các nhà nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm đến việc đảm bảo

vệ sinh an toàn sinh học nhằm nâng cao hiệu quả cho ngành chăn nuôi, đặc biệt

là dịch cúm gia cầm đang diễn biến phức tạp

Khi nghiên cứu vịt nuôi nhốt, vấn đề cần quan tâm là chuồng trại và mật độ nuôi của đàn sẽ ảnh hưởng đến không khí chuồng nuôi, nếu nồng độ

CO2 cao sẽ dẫn đến thiếu ô xi trong không khí, từ đó làm giảm sức chống chịu bệnh tật của vịt Nồng độ của khí NH3 vượt quá 0,01-0,02 phần nghìn thể tích không khí trong chuồng sẽ gây hại cho niêm mạc mắt và đường hô hấp, giảm sức đề kháng Độ ẩm của chuồng càng cao thì ảnh hưởng của khí NH3 càng lớn Nếu mật độ quá cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, sinh sản của vịt và tiểu khí hậu chuồng nuôi xấu đi, nhưng mật độ thấp sẽ không kinh tế khi sử dụng chuồng trại Theo tài liệu của Hãng Chery Valley mật độ nuôi khô hoàn toàn chuồng khép kín không có sân chơi của vịt Super M nuôi sinh sản từ 1-3 tuần tuổi 32-35 con/m2 với nhiệt độ 270C; từ 4-7 tuần tuổi 30-32con/m2 với nhiệt độ 230C; từ 7-14 tuần tuổi 25-30 con/m2 với nhiệt độ

200C; từ 14-21 tuần tuổi 20-22con/m2 với nhiệt độ 180C

Để hoàn thiện công nghệ chăn nuôi, phát huy khai thác tối đa tiềm năng

di truyền giống có nhiều công trình nghiên cứu dinh dưỡng thức ăn vịt không những hoàn thiện sản xuất thức ăn mà còn cân bằng đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết

1.1.2 An toàn sinh học và quy trình thú y phòng bệnh cho vịt

Hiện nay các loài thủy cầm, đặc biệt là vịt đang là đối tượng quan tâm hàng đầu trong nghiên cứu về virus cúm gia cầm Chúng có thể mang virus nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng và thải virus qua phân (WHO [72], CDC, 2005 [49]) Nếu gia cầm khác tiếp xúc với mầm bệnh này rất dễ bị nhiễm bệnh

Trong hướng dẫn an toàn sinh học của Hugh Milla, Attwood, 2004 cho thấy: An toàn sinh học giúp làm giảm các bệnh truyền nhiễm nói chung như bệnh cầu trùng, marek, viêm thanh khí quản truyền nhiễm…giảm nguy cơ lây lan bệnh tật trong cơ sở chăn nuôi cũng như việc lây lan bệnh tật ra môi trường bên ngoài và lây lan giữa các trang trại, ngoài ra an toàn sinh học còn mang lại hiệu quả kinh tế cao

Thông tin dịch tễ thực tế cho thấy rằng: Virus có độc lực thấp từ những chim hoang dã lây truyền cho gia cầm qua sự tiếp xúc giữa chúng đặc biệt là qua nguồn nước (WHO, 2005 [72]) Gần đây dịch cúm xảy ra tại châu Mỹ cũng thấy có sự liên quan biến đổi giữa virus có độc lực thấp thành độc lực cao (Senne et al., 2006 [68]) Trong nghiên cứu về yếu tố lây truyền bệnh thì sự tiếp xúc giữa những con vật hoang dã và con vật nuôi trong nhà có vấn đề lớn

Trang 8

trong việc lây lan mầm bệnh, tuy nhiên nếu thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học thì việc nguy cơ lây lan mầm bệnh được giảm đi rõ rệt

Một nghiên cứu của Songserm và CS, 2006 [71] đã phát hiện thấy virus cúm H5N1 trong đàn vịt nuôi chăn thả, bán chăn thả và vịt chăn nuôi trong nông hộ chứ không phát hiện ở vịt nuôi tập trung

Thái Lan không sử dụng vacxin cúm gia cầm nhưng đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để phòng chống dịch bệnh như các biện pháp cách ly, an toàn sinh học (DLD, 2006 [54]) Trường đại học Maryland cũng cho biết nguyên nhân gia cầm mắc bệnh phụ thuộc phần lớn vào dịch tễ của trang trại, muốn giữ không cho mầm bệnh xâm nhập trước hết trang trại đó phải có điều kiện vệ sinh tốt Ở đây người ta cũng chỉ ra rằng bệnh tụ huyết trùng và bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm có tỷ lệ chết từ 10 - 20%, bệnh CRD từ 30-50% còn lại là các bệnh khác Các bệnh này hầu hết đều liên quan chủ yếu đến môi trường chăn nuôi

Trong thời gian gần đây do dịch cúm gia cầm nên việc thực hiện an toàn sinh học được chú trọng hơn bao giờ hết Trung Quốc phải chi 2 tỷ nhân dân tệ, các nước EU đã chi 1 tỷ Euro, Indonesia đã chi 15,8 triệu USD và World Bank chi khoảng 500 triệu USD dự kiến sẽ phải chi tiếp 1 tỷ USD trong năm tới để hỗ trợ cho việc khống chế dịch cúm gia cầm

Nghiên cứu của nhóm tác giả Singapo và Mỹ kết luận rằng kháng thể thụ động có thể cung cấp chiến lược cả phòng và trị bệnh cúm gia cầm (Brendon et al, 2006 [48])

Để đảm bảo an toàn sinh học, ngoài việc làm tốt công tác giống, thức

ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y, các biện pháp cách ly, công tác vệ sinh trước, trong vµ sau khi nuôi là cần thiết Ở gia cầm nói chung, đặc biệt ở vịt, mầm bệnh Salmonella rất nguy hiểm (Sharon Whitmarsh, 1997 [69]), chúng có thể tồn tại trong phân 3 năm, trong đất, nền chuồng 2 năm Clostridium perfingens có khả năng sinh nha bào do đó chúng

có thể tồn tại rất lâu trong môi trường, nền chuồng…Đồng thời trong khi đang nuôi, các mầm bệnh có thể qua gió, bụi, thậm chí trong chất thải của những cá thể mang trùng bám vào chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi An toàn sinh học trong chăn nuôi, đặc biệt trong chăn nuôi gia cầm là vấn đề quyết định năng suất và hiệu quả chăn nuôi (Dan B Smith [53])

Bên cạnh công tác vệ sinh phòng bệnh, việc phòng bệnh chủ động bằng vaccine là rất quan trọng Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế thì trong tháng 12/2003 và tháng 01/2004 dịch cúm gà đã gây ra đại dịch ở 11 nước và vùng lãnh thổ công bố dịch cúm gia cầm do virus H5N1 gây ra bao gồm: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Indonexia, Trung Quốc, Hồng Kong, Đài Loan, Pakistan mà tác nhân gây bệnh là virus cúm A Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Cáp Nhĩ Tân đã sản xuất thành công vacxin tái tổ hợp phòng chống cúm gia cầm và Newcatle, vaccine có thể

Trang 9

dùng theo đường tiêm, đường miệng, đường mũi hoặc theo phương pháp khí dung Đến cuối tháng 12/2005 Trung Quốc đã sản xuất được một tỉ liều (Trích theo Tô Long Thành, 2005 [32]) Sử dụng vacxin tái tổ hợp có vecter dẫn truyền cho phép phân biệt được con vật nhiễm bệnh tự nhiên và con vật được tiêm chủng

Một báo cáo về nghiên cứu về kháng thể thụ động cúm gia cầm ở Thổ Nhĩ

Kỳ, kháng thể được thu thập từ những bệnh nhân mắc cúm gia cầm Việc sản xuất kháng thể này mục đích giúp các bệnh nhân mắc bệnh cúm gia cầm nhanh phục hồi sức khỏe

Nghiên cứu của nhóm tác giả Singapo và Mỹ kết luận rằng kháng thể thụ động có thể cung cấp chiến lược cả phòng và trị bệnh cúm gia cầm (Brendon

et al, 2006 [48])

Một nhóm các nhà nghiên cứu của Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ về công nghệ sinh học đã thành lập thư viện kháng thể chống cúm gia cầm (H5N1) mục đích điều trị cho người mắc bệnh và hướng tới việc tiêm phòng chống dịch cúm gia cầm

Như vậy vấn đề chăn nuôi vịt như thế nào để đảm bảo an toàn là mối quan tâm của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước có số lượng vịt lớn nằm ở khu vực châu Á

Bệnh dịch tả vịt là bệnh của nhiều loài, nhưng vịt là loài cảm nhiễm nhất, các giống vịt ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh Tỷ lệ vịt mắc bệnh và chết có thể lên tới 100% Mức độ cảm nhiễm có thể khác nhau tùy theo giống vịt Virus dịch tả vịt có thể tiềm tàng trong cơ thể vịt và có khả năng tái hoạt động trở lại Sau 3 tuần gây nhiễm không tìm thấy virus dịch tả vịt trong lỗ huyệt nhưng 7 - 9 tuần sau gây nhiễm, bằng phản ứng PRC, tác giả đã phát hiện thấy AND virus dịch tả vịt trong thần kinh trung ương, hạch lâm ba ngoại vi, lách, tuyến ức và túi Bursa

Trong tự nhiên, đường xâm nhập chủ yếu của virus dịch tả vịt là đường tiêu hoá Vịt bệnh bài xuất căn bệnh theo phân, nước mắt, nước mũi làm ô nhiễm thức ăn, nước uống và bệnh lây lan sang vịt khoẻ và các động vật cảm nhiễm khác Nguồn nước và các động vật thuỷ sinh trong đó cũng đóng vai trò nhất định trong việc truyền lây căn bệnh Khi dịch xảy ra, việc bán chạy vịt bệnh, mổ thịt vịt ốm đều làm cho bệnh lan đi rất nhanh và xa Bệnh lây lan rất nhanh và mạnh theo phương thức truyền lây gián tiếp nhưng phương thức truyền lây trực tiếp từ mẹ sang con cũng có thể xảy ra Khi làm phản ứng trung hoà theo phương pháp huyết thanh pha loãng, virus cố định; vào ngày

21 sau khi tiêm vacxin, nếu hiệu giá kháng thể trong huyết thanh đạt từ 1/59 - 1/250 thì vaccine được coi là có hiệu lực, bảo hộ được đàn vịt

Ngoài các bệnh do virus gây nên, các bệnh do vi khuẩn như E Coli, Salmonella, Mycoplasma cũng thường xuyên gây thiệt hại cho các đàn vịt Bệnh

Trang 10

do các chủng vi khuẩn Escherichia coli (E Coli) thuộc nhóm gây bệnh cho gia cầm (APEC) gây ra

Theo Trung tâm Phòng và ngừa bệnh (Disease Control and Prevention): tính đến ngày 22 tháng 01 năm 2009 có 491 số người mắc bệnh thương hàn do loại vi khuẩn: Salmonella typhimurium đã xuất hiện ở 43 tiểu bang của Mỹ (Radcliffe, 2000 [67])

Bệnh bạch lỵ do Salmonella trong tự nhiên lây theo 2 phương thức: trực tiếp và gián tiếp Truyền bệnh trực tiếp hay còn gọi là truyền dọc qua trứng là nguy hiểm nhất, rất nhiều nghiên cứu đã phát hiện thấy sự có mặt của

vi khuẩn Salmonella từ lòng đỏ trứng Gia cầm bố mẹ mang trùng truyền qua trứng giống, tỷ lệ trứng mang trùng biến động có thể đến 50% Số trứng này

tỷ lệ ấp nở rất thấp, gia cầm con nở ra từ trứng bệnh sẽ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao và là nguồn reo rắc mầm bệnh

Mầm bệnh có nhiều trong bụi ở chuồng nuôi, một gam bụi có từ 1 - 10 triệu

vi khuẩn E Coli và chúng có thể tồn tại ở đó trong 1 thời gian dài

Bệnh Salmonella chủ yếu do Salmonella typhimurium, enteritidis, anatum, gallinarum và pullorum Mầm bệnh xâm nhập chủ yếu qua thức ăn, nước uống Một trong những đường truyền bệnh quan trọng là truyền dọc qua trứng Rất nhiều nghiên cứu đã phát hiện thấy sự có mặt của vi khuẩn Salmonella từ lòng đỏ trứng vịt Con đường lây truyền thứ hai là sự xâm nhiễm vi khuẩn Salmonella qua vỏ trứng Từ phân, Salmonella thường gây ô nhiễm vỏ trứng trong quá trình đẻ hoặc từ ổ đẻ (Hồng Nga dịch, 2006)

Bệnh tự nhiên lây theo 2 phương thức: trực tiếp và gián tiếp (từ gia cầm bệnh lây sang con khác do các chất thải từ miệng, phân, ăn uống chung với con khoẻ, qua quần áo, giầy dép và các phương tiện vận chuyển và đặc biệt qua quá trình ấp nở) Truyền bệnh trực tiếp là nguy hiểm nhất, gia cầm bố mẹ mang trùng truyền qua trứng giống, tỷ lệ trứng mang trùng biến động có thể đến 50%

Để có thể đưa ra biện pháp sát trùng hiệu quả nhất, trước hết cần chú ý đến các loại mầm bệnh có thể tồn tại và các mầm bệnh có khả năng gây thành dịch Thông thường, khi không xác định được các đối tượng này, nên dùng các phương tiện sát trùng có phổ sát khuẩn rộng Các bề mặt như nền chuồng, tường cần được được dọn và rửa sạch trước khi sát trùng Thao tác này sẽ giúp loại bỏ một số lượng lớn vi sinh vật và tăng hiệu quả sát trùng Người làm công việc sát trùng cần được huấn luyện kỹ để hiểu rõ các yêu cầu cần thiết khi tiến hành công việc, trước khi xử dụng các chất sát trùng, phải đọc

kỹ hướng dẫn xử dụng Nên chọn chất sát trùng phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tế

Bệnh Mycoplasma là bệnh truyền nhiễm chung của nhiều loại gia cầm, đặc biệt là khi nuôi theo hướng tập trung công nghiệp thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao Có 2 đường truyền lây bệnh chính: truyền dọc qua trứng đến các thế hệ

Trang 11

sau, vi khuẩn xâm nhập vào phôi gây chết phôi; truyền ngang do gia cầm khỏe bị nhiễm bệnh từ tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh từ con bệnh, vật mang trùng hoặc trong bụi

Để phòng và trị bệnh vi khuẩn trên vịt, ngoài công tác vệ sinh phòng bệnh, việc dùng các chế phẩm sinh học và kháng sinh là cần thiết

Hiện nay có rất nhiều các công trình nghiên cứu thành công các chế phẩm sinh học để bổ sung vào trong khẩu phần ăn cho gia cầm, nhằm giảm việc sử dụng kháng sinh Một số chế phẩm sinh học như Orgacids, Allzym, có tác dụng kích thích tính ăn ngon miệng, làm giảm pH trong đường ruột, máu, phân - ức chế virus và vi khuẩn gây bệnh làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như cúm gia cầm, Newcastle, Gumboro, E Coli, Salmonella, Clostridium, các chế phẩm này cũng kích thích sự phát triển của vi khuẩn hữu ích giúp ổn định

hệ vi sinh vật trong đường ruột (Mingan Choct, 2002 [64]) Mặt khác khi sử dụng các chế phẩm này không ảnh hưởng đến chất lượng thịt cũng như ảnh hưởng đến sức khoẻ con người cũng như không tạo điều kiện cho vi khuẩn có khả năng gây nhờn thuốc (Patterson J.A [66])

Chương trình an toàn sinh học cho cơ sở ấp trứng cần phải dựa vào ba yếu tố con người, sản phẩm và thủ tục” thì mới chắc chắn đạt hiệu quả

An toàn sinh học trong cơ sở ấp trứng là những biện pháp tổng hợp nhằm bảo vệ gia cầm con khi nở ra và người làm nhiệm vụ ấp trứng không bị dịch bệnh tấn công, đồng thời tạo cho đàn giống có sức đề kháng tốt nhất để sinh trưởng, sinh sản

Charler Demming, 1995 [51] cho biết ngoài những thiếu sót về kỹ thuật ấp (điều kiện ấp không đầy đủ) còn phải quan tâm đến trứng bị nhiễm các loại vi sinh vật, vì nguyên nhân gây chết phôi cao ở trứng gia cầm là do trứng bị nhiễm nấm mốc và vi khuẩn Vì vậy, phải khử trùng trứng trước khi bảo quản và trước khi vào ấp, do đó việc khử trùng cho trứng là rất cần thiết

Trong quy định chung về an toàn dịch và vệ sinh thú y các cơ sở giống

và ấp trứng gia cầm có những nội dung quy định về địa điểm chăn nuôi, chế

độ cách ly, quy định về vệ sinh chuồng trại và trang thiết bị chăn nuôi, ấp trứng đặc biệt là sự kiểm soát Salmonella và vệ sinh thức ăn Theo Radcliffe,

2000 [67] các axit hữu cơ cũng được sử dụng rộng rãi ở các nước châu Âu nhằm hạn chế bệnh do Salmonella và các bệnh do vi khuẩn khác gây nên

Khử trùng trứng có thể bằng nhiều cách: khử trùng trứng bằng formandehyd, bằng tia tử ngoại, khử trùng bằng ozon hoặc khử trùng bằng Virkon … Trong thực tế sản xuất ở nước ta các cơ sở ấp thường khử trùng bằng hơi formandehyd Theo Foggin C M, 1992 [56] liều lượng thuốc khử trùng trứng dẫn đến phản ứng hoá học làm cho toả nhiệt khi hơi formandehide được giải phóng Thời gian xông 20 phút với điều kiện nhiệt độ 20-25oC

Trang 12

Làm sạch và khử trùng theo quy định của chương trình an toàn sinh học

sẽ đảm bảo được số lượng vi khuẩn luôn đáp ứng những giới hạn (ví dụ như: Salmonella và giảm 99,99% tổng số vi khuẩn trong môi trường)

Ấp trứng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và thị trường Vì vậy,

để giữ uy tín cần giữ cho gia cầm 01 ngày tuổi không bị nhiễm bệnh Trong quá trình ấp gia cầm không bị nhiễm bệnh, nhưng có thể bị nhiễm sau khi nở nếu an toàn sinh học không đảm bảo Do vậy, cần phải đảm bảo an toàn sinh học nghiêm ngặt, giám sát chặt chẽ do khả năng gây bệnh rộng khắp từ các cơ

sở ấp riêng rẽ không có kiểm soát

Theo Charler Deeming, 1995 [51] nguyên nhân chết phôi cao ở trứng gia cầm là do trứng bị nhiễm nấm mốc và vi khuẩn Vì vậy phải khử trùng trứng trước khi bảo quản và trước khi vào ấp Ngoài ra điều kiện trong máy

ấp, máy nở thích hợp cho các vi khuẩn phát triển

Chương trình an toàn sinh học Dupont phù hợp với các nguyên lý của HACCP đã cung cấp chi tiết các hoạt động kiểm soát để loại bỏ những nguy

cơ nhiễm vi khuẩn của gia cầm con từ: trứng; khu ấp và thiết bị gây nhiễm; không khí, hệ thống thông thoáng; người và thiết bị có thể di chuyển được Mục tiêu của chương trình là ngăn chặn bệnh tật gây ra trong thời gian ấp nở trứng, đồng thời đáp ứng mục tiêu ngăn chặn sự lây lan truyền nhiễm trong ấp

nở

Làm sạch và khử trùng trứng và máy ấp nở là bước đầu tiên nhằm đảm bảo tối ưu vệ sinh khu ấp nở, tạo điều kiện ấp nở tốt nhất

1.1.3 Các giải pháp xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường

Đối với các cơ sở chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi vịt nói riêng các chất thải gây ô nhiễm môi trường có tác động trực tiếp không những tới sức khoẻ cộng đồng, mà còn làm giảm sức đề kháng của gia cầm, tăng khả năng mắc bệnh, năng suất thịt trứng không cao, hiệu quả chăn nuôi thấp (http://i115srv.vu-wien.ac.at/bm/sym/richteng.htm) Đặc biệt trong điều kiện dịch cúm hiện nay nếu môi trường chăn nuôi không tốt, sức đề kháng của gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ bùng phát dịch bệnh Ô nhiễm môi trường chăn nuôi chủ yếu từ nước thải chăn nuôi, chất thải rắn, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp không đúng kỹ thuật Đối với gia cầm nguồn chất thải chính là phân có chứa rất nhiều các thành phần kim loại như Cu, Fe, Al, Zn,

Cr, Nitơ, photpho và các chất hữu cơ Ngoài ra trong chất thải rắn, lỏng chứa nhiều vi sinh vật, trứng giun, hiệu giá BOD, COD cao nếu không có biện pháp thu gom và xử lý sẽ ảnh hưởng rất lớn gây ô nhiễm môi trường xung quanh từ đó đến sức khoẻ con người, vật nuôi Do đó xây dựng các biện pháp

xử lý môi trường nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của vịt, cắt đứt quá trình lây lan của dịch bệnh có ý nghĩa quan trọng

Trang 13

Việc nghiên cứu xử lý chất thải chăn nuôi được nhiều nước quan tâm Tuỳ thuộc vào vị trí chuồng trại, khả năng đầu tư thiết bị mà mỗi nước áp dụng các hệ thống xử lý chất thải khác nhau: như hệ thống đồng cỏ, hầm chứa

lộ thiên, hệ thống các bể lắng lọc, ao sinh học, hệ thống biogas, dùng hoá chất

xử lý Xử lý chất thải bằng hệ thống biogas được nhiều nước áp dụng Trung Quốc, Ấn Độ dùng loại hình biogas xây chìm dưới lòng đất có nắp hình vòm cuốn đắp nổi Đài Loan, Comlombia dùng hầm biogas túi ủ bằng chất dẻo Dengliang Wei, 2000 (trích theo Phùng Thị Vân và CS, 2003 [40]) cho biết hiệu quả xử lý phân lợn bằng hệ thống IC-SBR (là một hệ thống bao gồm lò phản ứng IC gây phân huỷ yếm khí nguyên liệu ban đầu nối liền với

lò phản ứng phối hợp SBR để xử lý chất thải phân huỷ yếm khí trực tiếp) Hiệu giá COB giảm 80,7% Sau khi tiếp hệ thống SBR hiệu quả giảm ô nhiễm môi trường đạt được như sau: COD giảm 95,5% Ni tơ tổng số 93%, phốt pho tổng số giảm 75,2%, NH3-N giảm 99,94%

Trên thế giới đã nghiên cứu nhiều chế phẩm dùng để xử lý môi trường như khử mùi, tạo chất xúc tác hoá học, phá huỷ các mối liên kết hoá học của chất thải

để dễ dàng phân huỷ nhằm tăng hiệu quả trong quá trình xử lý: như Anolyte, De-odorase, EM, Hiện nay tại Bỉ tập đoàn ASPAC Intl đã sản xuất chế phẩm BUN ODOUR là một sản phẩm tự nhiên tổng hợp độc đáo và hiệu quả từ 52 loại tinh dầu chiết xuất nguồn gốc tự nhiên và có khả năng phá huỷ rất nhiều hợp chất mùi khó chịu trong không khí chuồng trại chăn nuôi Bun odour có quy mô là sản phẩm mới có ứng dụng rộng rãi: đưa vào bể xục khí CO2, trạm bơm, nhà máy xử lý nước thải, hố bùn, rác, lò giết mổ, khu chứa rác, thiết bị tái sinh và trộn phân, trại chăn nuôi , vườn thú Hiện nay Bun dour dùng xử lý môi trường là công nghệ mới, một sự lựa chọn rẻ, thân thiện với môi trường

Phương pháp sản xuất dung dịch hoạt hoá điện hoá (Electrochemical activation ECA) được nhà bác học người Nga Bakhir V.M tìm ra từ năm 1972

và cho đến nay được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới trong các ngành y tế, nông nghiệp, dịch vụ sinh hoạt với vai trò là chất khử trùng ưu việt: hiệu quả khử trùng cao, thân thiện với môi trường, giá rẻ (Nguyễn Hoài Châu, 2005 [8])

Hiện nay ứng dụng công nghệ vi sinh trong xử lý chất thải chăn nuôi đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới (Arora,1996 [44]; Bagnaso,1998 [46]; Kenedy, 2002 [62]) Hầu hết các vi sinh vật để xử lý phế thải chăn nuôi là các chủng vi sinh vật đa chức năng có tác dụng phân giải xenluloza, protein, phân giải lân, khử mùi hôi, thối giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, ngoài ra sản phẩm sau ủ còn sử dụng như loại phân hữu cơ bón cho cây trồng Phân hữu cơ sản xuất theo phương pháp này không chỉ đảm bảo độ an toàn về

vệ sinh thực phẩm mà còn là sản phẩm hang hoá có giá trị đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng và phát triển nông nghiệp bền vững

Trang 14

Chantsavang và CS, 1992 [50] nghiờn cứu xử lý chất thải của lợn bằng phương phỏp sử dụng cỏc visinh vật cú ớch (EM) Kết quả cho thấy EM rất thớch hợp cho việc xử lý chất thải từ quỏ trỡnh chăn nuụi lợn, khi vệ sinh lợn

và chuuồng nuụi hang ngày với EM pha loóng cú thể kiểm soỏt hiệu quả cỏc mựi hụi thối thoỏt ra từ chất thải của lợn

Cracas và pilippine, 2000 [52] đó sử dụng giun để xử lý phõn gia sỳc và hỗn hợp rỏc thải hữu cơ Phương phỏp này sử dụng cỏc loại giun như giun quế (Lumbricus rubellus) và một số loại giun khỏc như tỏc nhõn chớnh để xử lý phõn gia sỳc Nguyờn tắc cơ bản của phương phỏp này là sử dụng giun như loại động vật để phõn huỷ chất hữu cơ trong phõn gia sỳc và rỏc thải Giun sẽ

sử dụng phõn gia sỳc và rỏc thải hữu cơ như một loại thức ăn và sản phẩm thải ra từ giun được coi là sản phẩm của quỏ trỡnh xử lý

Phương phỏp ủ phõn truyền thống đó được ứng dụng ở một số nước trờn thế giới như Trung Quốc, Ân Độ, Mỹ Với kỹ thuật tương đối đơn giản sau khi phõn lợn được thu gom từ cỏc trại chăn nuụi, phõn cú thể được xử lý bằng 2 cỏch: ủ chỡm và ủ nổi thời gian ủ 4-6 thỏng, sau khi thấy phõn hoại mục khụng cũn hụi thối là cú thể dụng bún cho cõy trồng

Trong phương phỏp làm phõn compost thụng thường, cỏc thành phần được trộn với nhau sau đú vun thành đống để ủ Vật liệu bổ sung và chất độn

Vỡ quỏ trỡnh compost xảy ra một cỏch tự nhiờn, nờn quỏ trỡnh đũi hỏi cỏc điều kiện chớnh xỏc để diễn biến nhanh, giảm sự thiểu phỏt sinh mựi và trỏnh cỏc vấn đề gõy nhiễu Cú tới trờn 20 yếu tố cần phải kiểm soỏt ảnh hưởng tới quỏ trỡnh ủ compost

1.1.4 Mô hình chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học và hiệu quả trong chăn nuôi vịt

Năm 2005, khoảng 2-3 triệu vịt đ−ợc nuôi trong hệ thống an toàn sinh học cao khép kín Trong khi đó hệ thống chuồng nuôi mở không đ−ợc thực hiện ở loại vịt thịt, đặc biệt là việc xuất khẩu có liên quan tới an toàn thực phẩm và biện pháp kiểm soát dịch bệnh Tuy nhiên, vịt đẻ vẫn đ−ợc nuôi trong

hệ thống chuồng đ−ợc phủ bằng nylông để chặn chim hoang dã xâm nhập Giám sát an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh đ−ợc thực hiện nh− trên nh−ng cứ 3 tháng lại phân tích mẫu một lần

Thỏng 10 năm 2005 chớnh phủ Thỏi Lan đó cấm việc chăn thả vịt hoặc di chuyển từ vựng này sang vựng khỏc, người chăn nuụi sẽ bị phạt nếu vi phạm Nếu xảy ra dịch cỳm gia cầm xảy ra trờn cỏc đàn vịt nuụi thả đồng họ sẽ khụng được nhận tiền bồi thường Hiện tại việc nuụi chăn thả cũng đó được hạn chế, việc thực hiện an toàn sinh học cũng được nõng cao ở Thỏi lan (Songserm Thaweeksak và cộng sự, 2006 [71]) Cỏc giống nuụi thịt, Bắc Kinh và Chery valley được nuụi ở chuồng khộp kớn, 5.000-6.000 con trờn một chuồng Vịt con 01 ngày tuổi được nuụi lấy thịt thời gian 50-65 ngày được

Trang 15

1.2 Tỡnh hỡmh nghiờn cứu trong nước

1.2.1 Tỡnh hỡnh chăn nuụi và phương thức chăn nuụi vịt

Việt Nam là một nước cú số lượng vịt đứng thứ hai trờn thế giới (sau Trung Quốc) Điều đú chứng tỏ nghề chăn nuụi vịt ở nước ta phỏt triển khỏ mạnh mẽ và đúng gúp một phần khụng nhỏ vào thu nhập của người chăn nuụi

Số lượng đầu con thủy cầm giai đoạn 2001 – 2006

(%)

Số lượng năm trước So với

(%)

57,9 63,6 68,9 59,0 89,5 59,9 101,5 62,6 104,5

Nguồn: Cục Chăn nuụi – Bộ nụng nghiệp & PTNT, 2007

Năm 2001 tổng đàn thuỷ cầm 57,9 triệu con, năm 2003: 69,9 triệu con,

do ảnh hưởng của dịch cỳm gia cầm nờn năm 2004 chỉ cũn 59 triệu con Do

xu hướng bựng phỏt mạnh của dịch cỳm gia cầm trờn đàn thủy cầm nờn Bộ nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn đó chỉ đạo gắt gao thực hiện việc khụng cho phộp ấp nở, tăng đàn thủy cầm trong hai năm từ 4/2/2005 đến 28/2/2007, song đàn thủy cầm vẫn phỏt triển Cụ thể năm 2005 đàn vịt cả nước 59,9 triệu con tăng 1,5% so với năm trước Năm 2006: 62,6 triệu con tăng 4,5% Năm

2007 tổng đàn thủy cầm đó hơn 68 triệu con (Bỏo Lao động số 280 ngày 1/12/2007 [5])

Chăn nuụi vịt đúng một vai trũ quan trọng trong đời sống của người dõn Việt Nam, Vịt được nuôi chạy đồng mang lại cụng ăn việc làm, hiệu quả kinh

tế cho người nụng dõn, trang trại, tuy nhiờn vấn đề cũn tồn tại là chăn nuụi vịt chạy đồng gõy ụ nhiễm nguồn nước, dễ lõy lan dịch bệnh

Từ nhiều năm nay, chăn nuôi vịt mang lại nhiều việc làm và là nguồn kinh tế quan trọng của hàng triệu hộ nông dân, nhiều trang trại đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long (24,6 triệu con) và đồng bằng sông Hồng (17,6 triệu con), hai đồng bằng này số lượng vịt chiếm 61,1% tổng đàn vịt cả nước (Đinh Xuân Tùng, 2008 [37])

Chăn nuụi vịt kết hợp với trồng lỳa được nụng dõn ỏp dụng rộng rói, ngoài vai trũ chủ yếu là tạo thu nhập cho người nụng dõn thỡ con vịt còn có tác

động trong hệ sinh thỏi nụng nghiệp vỡ chúng diệt được rầy nõu, sõu bọ, ốc biờu vàng Con vịt bơi lội làm tăng lượng oxy hũa tan trong nước giỳp cõy lỳa phỏt triển tốt hơn Cỏc mụ hỡnh nuụi trồng kết hợp vịt cỏ lỳa cú hiệu quả nhờ giảm lượng phõn bún, khụng sử dụng thuốc trừ sõu (Dương Xuõn Tuyển, 2006 [39])

Trang 16

Tại đồng bằng sụng Cửu Long chăn nuụi vịt lấy trứng được thả đồng theo vụ lỳa để tận dụng lỳa rơi và nguồn thức ăn sẵn cú từ những cỏnh đồng lỳa sau thu hoạch, thời gian cho vịt chạy đồng chiếm trung bỡnh 74% tổng thời gian của một vụ nuụi, trong thời gian nuụi cỏc hộ cho vịt chạy đồng liờn tục của 3 thỏng cho chuyển sang đồng mới Với phương thức chăn nuụi này tiết kiệm chi phớ hơn so với nuụi vịt nhốt vịt ở nhà trung bỡnh 350 đồng/trứng, tương ứng với tỷ lệ tiết kiệm là 48%, chi phớ tớnh trờn 1 trứng trong phương thức chạy đồng chỉ bằng 52% chi phớ/1 trứng nếu nuụi nhốt ở nhà Tuy nhiờn phương thức chăn nuôi chạy đồng cũng thường gặp phải những rủi ro về giỏ bỏn vịt giống, bán trứng Nhưng rủi ro lớn nhất là hao hụt về số lượng do dịch bệnh (Mai Văn Nam, 2007 [22])

Năm 2003 tổng sản lượng thịt thuỷ cầm 106 nghìn tấn, năm 2004: 85,4 nghìn tấn, năm 2005: 87,9 nghìn tấn tăng so với năm 2004 là 2,9% Năm

2006 số lượng trang trại chăn nuôi gia cầm có 2.837 chiếm 16% so với tổng

số trang trại toàn quốc, trong đó chăn nuôi vịt là 668 trang trại Các trang trại chăn nuôi phát triển chưa theo quy hoạch, đầu tư và phân bố không đều trên các vùng sinh thái

Từ khi xảy ra dịch cỳm gia cầm Việt Nam đó cú nhiều biện phỏp nhằm giảm thiểu rủi ro do dịch bệnh gõy nờn, từ thỏng 4/2/2005 đến thỏng 28/2/2007

đó cấm ấp trứng và nuụi mới thủy cầm

Năm 2005 chớnh phủ đó phải chi với số tiền là 480 nghỡn tỷ đồng để tiờm phũng vaccin cho toàn bộ đàn gia cầm trờn cả nước, nhưng cỏc nhà chuyờn mụn và quản lý vẫn khuyến cỏo rằng tiờm phũng vaccin chỉ là 1 biện phỏp trong nhiều biện phỏp tổng hợp để khống chế dịch bệnh và khẳng định biện phỏp an toàn sinh học vẫn là hàng đầu

Một số thớ nghiệm nghiờn cứu về ảnh hưởng của mựa vụ, phương thức nuụi và cỏc vựng sinh thỏi đến một số chỉ tiờu sản xuất của đàn vịt CV Super M: Kết quả nuụi khụ hoàn toàn một số chỉ tiờu năng suất thấp hơn vịt nuụi bơi lội nhưng chi phớ đến sản phẩm cuối cựng là vịt con một ngày tuổi thỡ thấp hơn nuụi nước (Nguyễn Hồng Vĩ và cộng sự, 2005 [42])

Hiện nay chăn nuụi vịt ở nước ta cũng theo 4 phương thức chủ yếu: Chăn nuụi nụng hộ, chăn nuụi vịt chạy đồng, chăn nuụi bỏn cụng nghiệp và chăn nuụi cụng nghiệp

Chăn nuụi vịt ở nước ta thường nuụi theo lối tận dụng, phõn tỏn, tự do, bởi vậy từ thỏng 10/2007 trở lại đõy, trờn nhiều tỉnh, thành phố đó xuất hiện nhiều ổ dịch cỳm gia cầm mà nguồn bệnh do vịt chiếm tới 86% Trong đú cỏc đàn vịt chạy đồng từ xó này sang xó khỏc, huyện này sang huyện khỏc, tỉnh này sang tỉnh khỏc, thậm chớ là vịt xuyờn biờn giới Việt Nam – Campuchia, chớnh là nguyờn nhõn chủ yếu gõy sự bựng phỏt và lõy lan dịch bệnh trờn diện rộng Từ nguyờn nhõn cơ bản phải định hướng cho người chăn nuụi theo cỏc

Trang 17

phương thức chăn nuụi phự hợp với từng vựng sinh thỏi đồng thời đảm bảo tớnh bền vững

Theo số liệu điều tra của Đinh Xuõn Tựng, 2008 [37] phương thức chăn nuụi vịt ở nước ta khi dịch cỳm gia cầm xẩy ra đó cú sự thay đổi: phương thức bỏn thả rụng trước khi bị dịch cỳm gia cầm: 59% sau dịch là 18% Nuụi nhốt trờn cạn cú rào quõy trước khi bị dịch cỳm gia cầm: 4% sau dịch là 10% Một phần nuụi nhốt cú rào quõy (ao cỏ, ) trước khi bị dịch cỳm gia cầm: 37% sau dịch là 72%

Thay đổi về cung cỏch chăn nuụi vịt (%)

Bị dịch Khụng bị dịch Tất cả Diễn giải

Trước Sau Trước Sau Trước Sau

Nguồn: Đinh Xuõn Tựng, 2008

Bùi Xuân Mến, khoa nông nghiệp, trường đại học Cần Thơ cho biết: Cú một lựa chọn mà người chăn nuụi trong vựng ỏp dụng là phương thức nuụi vịt nhốt hoàn toàn Người chế biến và tiờu dựng an tõm với sản phẩm từ phương thức chăn nuụi này do vịt được nuụi trong điều kiện cú kiểm soỏt, nhất là trong tỡnh hỡnh cỳm gia cầm H5N1 vẫn cũn tồn tại và phỏt bệnh trờn đàn gia cầm ở nhiều địa phương hiện nay Vịt chạy đồng trước khi bỏn cũng được ỏp dụng phương thức nuụi nhốt vỗ bộo khi mà vịt chưa đủ độ giết thịt và cũng cải thiện được chất lượng thõn thịt

Theo phương thức nuụi nhốt vịt hiện nay mang lại hiệu quả cao Mặc dự phương thức nuụi nhốt đó được người chăn nuụi ở vựng nụng thụn ứng dụng

và vẫn tận dụng nguồn thức ăn ngoài tự nhiờn với một lượng nhỏ, để bổ sung thờm như ốc bươu vàng, rau bốo cỏc loại và phải cú lao động đi thu lượm Như vậy, nguồn thức ăn cho vịt nuụi nhốt hoàn toàn phải đi mua, ngoại trừ với những người nuụi vịt với số lượng ớt và tận dụng cỏc nguồn phụ phẩm phế thải trong sinh hoạt của nụng hộ để chăn nuụi

1.2.2 An toàn sinh học và quy trình thú y phòng bệnh cho vịt

Ngày 14/3/2008 theo “tin nhanh.com” [33] ở Quảng ngói, vịt chết hàng loạt do dịch tả vịt Bỏo Sài Gũn Giải phúng ngày 31/5/2008 [3] đó viết “Ở Phỳ Yờn, dịch tả vịt bựng phỏt, lan rộng ở nhiều địa phương như Tuy An, Tõy Hoà, Phỳ Hoà, riờng xó Hoà Trị - Phỳ Hoà trong tuần đó cú trờn 1300 con vịt chết do dịch tả vịt

Qua phõn tớch trỡnh tự nucleotide 8 đoạn ARN của 9 chủng virus cỳm H5N1 từ người (2 chủng), chim cỳt (1 chủng), vịt (2 chủng), và gà (4 chủng) trong đợt dịch 2003-2004 và lập cõy phả hệ, Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự,

Trang 18

2004 [13] cho thấy các chủng virus H5N1 lưu hành ở Việt Nam đều giống nhau và có cùng nguồn gốc từ Trung Quốc và xuất phát từ một ổ dịch ban đầu

Một nghiên cứu khác của Nguyễn Tiến Dũng, 2004 [12] trên đàn gia cầm của tỉnh Thái Bình và Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy ngoài virus cúm H5N1, đàn gia cầm còn nhiễm các loại virus typ A có kháng nguyên H3, H4, H6, H9, H11và H12 với tỉ lệ nhiễm khác nhau

Một nghiên cứu khác của Viện Thú y về sự lưu hành của virus trong đàn chim di cư qua việc phân tích 320 mẫu phân chim tại một số địa phương trong

đó có Vườn Quốc gia Xuân Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định bằng phương pháp RT -PCR, kết quả không phát hiện thấy virus cúm

Viện Thú y đã nghiên cứu thử nghiệm vaccine H5N2 của Intervet (Hà Lan); H5N2 và H5N1 của Trung Quốc Kết quả cho thấy vaccine tiêm cho đàn gia cầm đều đạt yêu cầu về độ tinh khiết, độ an toàn và hiệu lực theo đúng tiêu chuẩn của nhà sản xuất Đặc biệt vaccine H5N1 của Trung Quốc có thể tiêm cho đàn vịt có huyết thanh dương tính vẫn đạt tỉ lệ bảo hộ tốt và an toàn

Bụi và những giọt nước nhỏ trong không khí thường mang nhiều loại vi sinh vật, cả vi sinh vật vô hại và vi sinh vật gây bệnh, đáng chú ý là vi khuẩn Salmonella sp, E Coli, Clostridium sp Ngoài ra còn có cả các loại độc tố và bào tử của nấm mốc (Đỗ Ngọc Hoè, 1996 [19])

Khí hậu của nước ta rất thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh và nấm mốc phát triển Nhiều vi sinh vật gây bệnh cũng có thể tồn tại rất lâu ở môi trường ngoài cơ thể như trong phân, đất, nước, chất độn chuồng… đặc biệt là các bào

tử vi khuẩn, nấm, oocyte cầu trùng và trứng ký sinh trùng (Nguyễn Thị Hoa

có thể tái phát bệnh ở thể ẩn tính

Nông nghiệp Việt Nam, 2009 đã đưa ra tiêu chuẩn an toàn sinh học cho 1 trạm ấp trứng như sau: nếu trứng bẩn phải tiến hành rửa bằng Formol 0,9% hoặc thuốc sát trùng Nếu trứng không quá bẩn thì không cần rửa nhưng trước khi chuyển về kho bảo quản phải được xông, sát trùng bằng Formol+ thuốc tím với tỷ lệ 17,5g thuốc tím + 35ml Formol/1m3 buồng xông, thời gian xông

15 phút Sau đó nếu chưa đưa vào ấp ngay thì phải chuyển vào kho bảo quản Trứng được xông sát trùng cho tỷ lệ nở/phôi cao hơn không xông sát trùng là

2 - 3%

Trang 19

Mỏy ấp sử dụng phương phỏp ấp đơn kỳ thỡ sau mỗi đợt ấp phải rửa sạch Khi ấp đa kỳ tối đa cú trứng của 4 lứa tuổi khỏc nhau Mỏy nở và dụng

cụ sau mỗi đợt nở xong phải rửa và sỏt trựng Toàn bộ khu trạm ấp trong và ngoài thường xuyờn phun sỏt trựng định kỳ 1 tuần/lần Bố trớ phương tiện vận chuyển nội bộ riờng trong trại; cỏc xe vận chuyển trước khi vào trại phải được phun xịt khử trựng bằng húa chất

Tại khoản 2, điều 2 vệ sinh thỳ y cơ sở ấp thuộc quyết định số BNN ngày 27/02/2007 [27] của Bộ Nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn về điều kiện ấp trứng cú nờu rừ: Trứng ấp phải cú nguồn gốc từ cơ sở sản xuất trứng giống cú khai bỏo, đăng ký của cơ quan thỳ y

Trong điểm 4.4 tiờu chuẩn TCN 878-2006 [31], quy định rất chi tiết về tiờu chuẩn vệ sinh an toàn sinh học cho cơ sở ấp trứng gia cầm

Phương phỏp sản xuất dung dịch hoạt hoỏ điện hoỏ (Electrochemical activation ECA) được nhà bỏc học người Nga Bakhir V.M tỡm ra từ năm 1972

và cho đến nay được sử dụng rộng rói trờn khắp thế giới trong cỏc ngành y tế, nụng nghiệp, dịch vụ sinh hoạt với vai trũ là chất khử trựng ưu việt: hiệu quả khử trựng cao, thõn thiện với mụi trường, giỏ rẻ (Nguyễn Hoài Chõu, 2005 [8])

1.2.3 Các giải pháp xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường

Ở Việt Nam, xử lý phõn bằng phương phỏp truyền thống cũng đó được

ỏp dụng từ rất lõu đời ở những vựng chuyờn canh như vựng đồng bằng Bắc

Bộ (Lờ Văn Căn, 1976 [7]) Hiện tại ở Việt Nam cú 3 phương phỏp ủ phõn bao gồm: phương phỏp ủ núng, phương phỏp ủ nguội và ủ núng trước ủ nguội sau

Vừ thị Hạnh và cộng sự, 2004 [17] đó tiến hành nghiờn cứu và ứng dụng chế phẩm BIO-F để xử lý phõn chuồng, biến chất thải này thành thứ phõn bún hữu cơ vi sinh Chế phẩm BIO-F là loại chế phẩm vi sinh do nhúm tỏc giả phõn lập và tuyển chọn bao gồm: xạ khuẩn Stretomyces sp., nấm mốc Trichoderma sp và vi khuẩn Bacillus sp Những vi sinh vật trờn cú tỏc dụng phõn huỷ nhanh cỏc hợp chất hữu cơ trong phõn lợn, gà và bũ (protein và celloluse), gõy mất mựi hụi Trước đú chế phẩm BIO-F đó được sử dụng để sản xuất thành cụng phõn bún hữu cơ vi sinh từ bựn đỏy ao, vỏ cafe và xử lý rỏc thải sinh hoạt

Trịnh Quang Tuyờn và CS, 2007 [38] nghiờn cứu sử dụng chế phẩm sinh học EM thứ cấp, EM Bokashi, compost maker để xử lý phõn lợn thành phõn hữu cơ, sản phẩm sau xử lý đều hết mựi hụi, tiờu diệt được trứng vi khuẩn và giun sỏn

Hiện nay cụng nghệ vi sinh đó và đang được ỏp dụng với quy mụ lớn mang tớnh chất thương mại đối với ngành hàng phõn bún Cỏc loại vi sinh vật

đa chức năng (vi sinh vật phõn giải xellulose, vi sinh vật phõn giải lõn, vi sinh

Trang 20

vật cố định đạm) đã được sử dụng theo hướng thương mại trong sản xuất hữu

cơ vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp an toàn (Phạm Văn Toản, 2000)

Nguyễn Thị Ngọc Liên, 2005 [18] nghiên cứu đánh giá một số chỉ tiêu vệ sinh chuồng nuôi và sử dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi vịt tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên cho thấy khi sử dụng EM phun vào chất độn chuồng nuôi vịt đẻ đã làm giảm đáng kể vi sinh vật gây hại và mùi hôi Sử dụng EM bổ sung vào nước uống cho vịt nuôi vỗ béo làm tăng khả năng tăng trọng

Viện sinh học nông nghiệp- Đại học nông nghiệp Hà Nội [41] nghiên cứu chế phẩm EMINA dùng trong chăn nuôi EMINA là chế phẩm vi sinh hữu hiệu gồm: vi khuẩn quang hợp, lactic, Bacillus subtilic, B mesentericus, B Megaterium, xạ khuẩn nấm men Các vi sinh vật hữu hiệu này được phân lập từ tự nhiên hoàn toàn không độc với người, động vật và môi trường EMINA có thể dùng bổ sung vào thức ăn, nước uống cho gia súc, phòng và trị được bệnh tiêu hoá cho vật nuôi EMINA còn có tác dụng khử mùi, phân giải xellulose nên dùng để phun trực tiếp vào chuồng nuôi, đổ vào hố ga và xử lý phân

1.2.4 Mô hình chăn nuôi vịt an toàn sinh học

Theo Www dost.Bentre.gov.vn ngày 24/8/2007 cho biết Trung tâm khuyến nông Quốc gia đã chuyển giao mô hình chăn nuôi vịt an toàn sinh học cho 9 hộ ở Mỹ Thạnh - Phong Mỹ - Giồng Chôm và xã Tân Xuân- An Phú Trung- Ba Tri Kết quả cho thấy với mô hình 2000 con/hộ (có sự hỗ trợ 6.150đồng/con bao gồm cả giống, thức ăn, thuốc thú y và được tập huấn về

kỹ thuật chăn nuôi, thú y, an toàn sinh học) đã giúp người dân ý thức được cách thức chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, hạn chế thả rông để dễ dàng khống chế khi có dịch xẩy ra, đồng thời nâng cao thu nhập

Theo Www khuyennongvn.gov.vn ngày 19/4/2008 [43] gia đình ông

Lê Đình Đời ấp Mỹ Hoà - Tháp Mười- Đồng Tháp có truyền thống nuôi vịt thả đồng cho biết nuôi vịt chạy đồng vất vả, với 1000con vịt nuôi thịt chạy đồng phải cần 3 người, tỷ lệ nuôi sống thấp, hao hụt do thất lạc, chết bởi thuốc trừ sâu và chi phí thả đồng là 220 - 250.000đồng/ha thời gian nuôi 2,5 tháng Trong khi nuôi tập chung đảm bảo an toàn sinh học chỉ cần 1 người nuôi tỷ lệ nuôi sống cao (95%), sau 2 tháng thu lời 15 triệu đồng

Cũng như vậy ông Nguyễn Cử tại xã Nhị Mỹ- Cao Lãnh sau 17 năm nuôi vịt chạy đồng đã chuyển hướng chăn nuôi sang nuôi tập trung với quy

mô 1000 vịt thịt, sau 70 ngày đạt 3,3 kg lãi 20 triệu đồng

Theo Http;//niemgiam nongnghiep.vn ngày 28/3/2010 [15] ông Phan Thanh Bình ở Núi Voi- Tịnh Biên- An Giang với 2 ha đất đã nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học với 3000 con vịt đẻ cùng với 1 lò ấp trứng đã thu được 10.000- 12.000đồng/con vịt con và thu cá trên ao nuôi vịt đã có lời 700 triệu đồng/năm

Trang 21

Theo thống kê của ngành nông nghiệp An Giang (Bình Nguyên Khoahoc.com.vn ngày 27/1/ 2007 [4]) toàn tỉnh An Giang có khoảng 200 hộ chăn nuôi với quy mô 100 đến 6000 con, có hơn 100 cơ sở ấp trứng tư nhân trong đó có 49 cơ sở sản xuất vịt giống với 1,2 triệu con/năm Việc áp dụng

mô hình khép kín chăn nuôi vịt sẽ đảm bảo cho chăn nuôi tại An Giang tiếp tục phát triển được nghề truyền thống

CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Nghiên cứu xây dựng qui trình kỹ thuật chăn nuôi vịt sinh sản và thương phẩm theo hai phương thức: nuôi nhốt và chạy đồng có khoanh vùng

1.1 Nghiên cứu phương thức nuôi nhốt hoàn toàn, nuôi nhốt có ao hồ và phương thức nuôi chạy đồng có khoanh vùng đối với vịt sinh sản và thương phẩm

1.2 Nghiên cứu khẩu phần thức ăn thích hợp cho vịt sinh sản, thương phẩm nuôi nhốt

1.3 Nghiên cứu mật độ nuôi thích hợp trong phương thức nuôi nhốt đối với vịt sinh sản và thương phẩm

1.4 Xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi vịt sinh sản và thương phẩm theo phương thức nuôi nhốt và chạy đồng có khoanh vùng

Nội dung 2: Nghiên cứu xây dựng qui trình thú y phòng trị bệnh đối với vịt nuôi nhốt, chạy đồng có khoanh vùng

2.1 Nghiên cứu quy trình vệ sinh thú y phòng bệnh

Nghiên cứu chế độ phun chất sát trùng chuồng trại phù hợp trong thời gian trống chuồng và trong thời gian đang nuôi vịt

2.2 Nghiên cứu xây dựng biện pháp phòng bệnh

2.2.1 Theo dõi biến động hiệu giá kháng thể cúm gia cầm thụ động trên vịt 2.2.2 Nghiên cứu xác định hiệu giá kháng thể chủ động và độ dài miễn dịch cúm gia cầm, dịch tả vịt

2.2.3 Nghiên cứu các biện pháp hạn chế bệnh do vi khuẩn và Mycoplasma gây nên ở vịt: dùng kháng sinh, một số chế phẩm sinh học và dung dịch Anolyte để phòng và trị bệnh cho vịt

2.3 Nghiên cứu xây dựng quy trình vệ sinh an toàn sinh học cho cơ sở ấp trứng vịt

Nghiên cứu hiệu quả khử trùng máy ấp, máy nở bằng ozon, xông focmon và thuốc tím

2.4 Xây dựng qui trình thú y phòng trị bệnh đối với vịt nuôi nhốt và chạy đồng có khoanh vùng

Nội dung 3: Nghiên cứu các giải pháp xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi

Trang 22

3.3 Xây dựng quy trình xử lý chất thải rắn đảm bảo vệ sinh môi trường

Nội dung 4: Xây dựng mô hình chăn nuôi vịt sinh sản theo 2 phương thức

nuôi nhốt, chạy đồng và vịt thương phẩm nuôi nhốt đảm bảo an toàn sinh

học và hiệu quả kinh tế cao

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng qui trình kỹ thuật chăn nuôi vịt

sinh sản và thương phẩm theo hai phương thức: nuôi nhốt và chạy đồng có

khoanh vùng

Áp dụng phương pháp phân lô so sánh và thí nghiệm được lặp lại 3 lần

2.2.1.1 Nghiên cứu phương thức nuôi

- Phương thức nuôi nhốt

Thực hiện tại miền Bắc (Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình) và miền

Nam (nuôi sinh sản tại Bến Cát – Bình Dương, nuôi thương phẩm: trại vịt

- Phương thức nuôi chạy đồng có khoanh vùng

Phạm vi khoanh vùng: Chỉ thả vịt phạm vi trong 1 xã hoặc 1 thôn đối

với miền Bắc Phạm vi 1 xã hoặc vài xã đối với miền Trung và miền Nam

Trước khi thả đã tiêm phòng các loại vaccine: Viêm gan vịt, Cúm gia

cầm H5N1, Dịch tả vịt

Thực hiện tại miền Bắc (Lương Tài - Bắc Ninh, Bình Giang, Thanh

Miện, Ngô Quyền - Hải Dương) và miền Nam (Long An)

Trang 23

Thực hiện tại miền Bắc (Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình), miền

Nam (Long An) và miền Trung (Cát Minh- Phù Cát -Bình Định) Mỗi lô 150

con và thí nghiệm lặp lại 3 lần

Vịt sinh sản

Vịt thương phẩm

Thức ăn

hoàn chỉnh nguyên liệu địa phươngThức ăn đậm đặc + nguyên liệu địa phương Thức ăn phối trộn

Lô 1: Sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh của hãng Proconco, Vifaco

cho vịt ăn thẳng: hỗn hợp C62, C28B, C662, C663, C64

Lô 2: Sử dụng thức ăn đậm đặc C25, C61 và các nguyên liệu như khô

đỗ, thóc, ngô, bột cá, bột đá, dầu đậu tương

Lô 3: Sử dụng nguyên liệu như khô đỗ, thóc, ngô, bột cá, bột đá, dầu

đậu tương

Phân tích giá trị dinh dưỡng của các nguyên liệu dự định phối hợp khẩu

phần Xây dựng khẩu phần bằng phần mềm Excel Sau đó phân tích các hỗn

hợp tại phòng Phân tích và chế biến sản phẩm chăn nuôi – Viện Chăn nuôi

Giá trị dinh dưỡng nuôi vịt sinh sản: Năng lượng: 2800; 2750;

2800kcal/kg thức ăn Protein: 20; 15; 18% ứng với các giai đoạn 0-8; 9-24 và

trên 24 tuần tuổi Vịt thương phẩm có mức năng lượng: 2800; 2900;

3000kcal/kg thức ăn Pr: 20; 19; 18% ứng với các giai đoạn 0-2; 3-6 và 7- giết

thịt

2.2.1.3 Nghiên cứu mật độ nuôi thích hợp trong phương thức nuôi nhốt

Thực hiện tại miền Bắc (Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình), miền

Nam (Trại vịt giống Vigova Bến Cát- Bình Dương) và miền Trung (Cát

Minh- Phù Cát -Bình Định) Mỗi lô 300 con và thí nghiệm lặp lại 3 lần

Trang 24

Mật độ (con/m 2 ) Danh mục

Sử dụng phương pháp phân lô so sánh và thí nghiệm được lặp lại 3 lần

2.2.2.1 Nghiên cứu quy trình vệ sinh thú y phòng bệnh

Thí nghiệm tại Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình Mỗi lô có diện

tích là 63m2 (gồm cả chuồng nuôi và sân chơi; chuồng nuôi là 21m2 và sân

chơi là 42m2) luân phiên mỗi tháng phun 1 loại chất sát trùng: virkon S,

cloramin B, anolyte, antisep, foocmol nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản

xuất Trong thời gian đang nuôi vịt, chỉ dùng virkons, cloramin B, anolyte,

Thời gian thu mẫu (giờ/lần)

Vị trí thu mẫu ở mỗi lô

Số lượng mẫu không khí lấy tại mỗi vị trí

Số lượng mẫu nền chuồng thu tại mỗi

vị trí

Thời gian phun dung dịch sát trùng: vào 8 giờ sáng,

+ Thu mẫu không khí và phân tích vi sinh vật trong không khí chuồng

nuôi theo phương pháp Koch

+ Thu mẫu nền chuồng và phân tích vi sinh vật theo phương pháp

thường quy tại Trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y

+ Phân tích các chỉ tiêu

- Trong không khí chuồng nuôi: Tổng số vi khuẩn hiếu khí, coliform,

nấm mốc, E coli và Cl perfringens, đơn vị tính CFU/m3 không khí

Trang 25

- Trong nền chuồng: Tổng số vi khuẩn hiếu khí, coliform và nấm mốc, đơn vị tính CFU/m2nền chuồng

2.2.2.2 Nghiên cứu xây dựng biện pháp phòng bệnh

Thí nghiệm tại Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình

- Theo dõi biến động hiệu giá kháng thể cúm gia cầm thụ động trên vịt

và độ dài miễn dịch của vịt sau khi sử dụng vaccine H5N1 để khuyến cáo thời điểm thả chạy đồng

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Danh mục

Thời điểm tiêm lần 1 (ngày tuổi) 15 15 10 10 13 13

Thời điểm tiêm lần 2 (ngày tuổi) 29 29 24 24 27 27

Trước khi vịt vào đẻ - lần 3 149 149 144 144 147 147

Theo dõi biến động hiệu giá kháng thể thụ động ở vịt con nở ra từ đàn vịt mẹ thử nghiệm theo các thời điểm lấy mẫu (7, 21, 60, 90, 120 ngày), thời điểm lấy mẫu ở vịt con lúc 1, 5, 10 và 15 ngày

Lấy mẫu huyết thanh kiểm tra hiệu giá kháng thể sau khi tiêm vaccin 7,

21, 60, 90, 120 ngày

- Đối với vaccin dịch tả vịt:

Lô thí nghiệm Lịch sử dụng Vaccin dịch tả vịt (ngày tuổi)

Phương pháp kiểm tra kháng thể: Dùng phản ứng HI

2.2.2.3 Nghiên cứu các biện pháp hạn chế bệnh do vi khuẩn và Mycoplasma gây nên cho vịt

Thực hiện tại miền Bắc (Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình), miền Trung (Cát Minh- Phù Cát -Bình Định), miền Nam (Trại vịt giống Vigova Bến Cát - Bình Dương)

Kiểm tra sự có mặt của kháng thể Salmonella và Mycoplasma trong huyết thanh, sử dụng phương pháp ngưng kết nhanh trên phiến kính Phân lập

vi khuẩn E coli và Salmonella gây bệnh bằng phương pháp thường quy tại bộ môn Vi trùng – Viện Thú y Kiểm tra độ mẫn cảm của vi khuẩn phân lập

Trang 26

được với kháng sinh thông thường: Bằng phương pháp kháng sinh đồ Đo khí độc chuồng nuôi vịt: Bằng phương pháp thường quy của Trung tâm kiểm tra

Thực hiện tại Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình

Sử dụng phương pháp phân lô so sánh Thí nghiệm được lặp lại 3 lần + Khử trùng trứng vịt

Bằng Ô zôn Bằng thuốc tím + formol

Các chỉ tiêu kiểm tra: Vi khuẩn hiếu khí, Coliform, Salmonella, E.Coli, Nấm mốc

CO 2, NH 3+ Khử trùng máy nở

Bằng Ô zôn Bằng thuốc tím + formol

Các chỉ tiêu kiểm tra: Vi khuẩn hiếu khí, Coliform, Salmonella, E.Coli, Nấm mốc, H 2 S,

CO 2, NH 3Phương pháp lấy mẫu: Mẫu được lấy theo TCN 681-2006: quy trình kiểm tra

vệ sinh thú y cơ sở chăn nuôi

Phân tích các chỉ tiêu vi khuẩn, nấm mốc, khí độc tại Trung tâm vệ sinh thú y trung ương I - Cục Thú y:

Tổng số vi khuẩn hiếu khí (CFU/m3) phương pháp phân tích APHA

9211 Coliform (CFU/m3): Phương pháp phân tích APHA 9211 E.Coli

Phương pháp phân tích TCVN 51534-1990 Tổng số nấm mốc(CFU/m3): Phương pháp phân tích TCVN 5988-95-APHA 4500

- Phân tích khí độc:

Xác định nồng độ H2S (mg/m3): Phương pháp phân tích TCVN APHA 4500 Xác định nồng độ CO2 (%): Phương pháp phân tích TCVN

Trang 27

5988-95-5988-95-APHA 4500 Xác định nồng độ NH3 (mg/m3): Phương pháp phân

tích TCVN 5988-95-APHA 4500

2.2.3 Nghiên cứu các giải pháp xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường

Thực hiện tại Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình

2.2.3.1 Nghiên cứu sử dụng Anolyte phun khử trùng định kỳ môi trường

xung quanh chuồng nuôi vịt

Sơ đồ thí nghiệm

Loại thuốc sát trùng Dãy chuồng 1 Dãy chuồng 2

Anolyte x

Các chỉ tiêu: Vi khuẩn hiếu khí, Coliform, Nấm mốc

Dãy chuồng 1: thí nghiệm phun Anolyte nồng độ clo hoạt tính

250-300g/l và cồn 900 (tỷ lệ 1% cồn) với lượng 200ml/m2 nền chuồng 3 lần trên

tuần Dãy chuồng 2 dùng Vikon S pha tỷ lệ 1:2000 tiến hành phun khử trùng

200ml/m2 là hoá chất đang được sử dụng tại các cơ sở chăn nuôi

Lấy 3 mẫu không khí cả hai khu đối chứng và thí nghiệm vào các thời

điểm: trước khi phun 30 phút, sau khi phun 2 giờ; 8 giờ, vị trí đặt đĩa thạch

cao 1 m so với nền chuồng, thời gian mở nắp đĩa 3 phút

2.2.3.2 Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật trong việc xử lý chất thải

rắn; Ủ sinh học

Phân và chất độn

chuồng Xử lý bằng chế phẩm vi sinh vật Xử lý bằng phương pháp ủ sinh học

Các chỉ tiêu: pH, mật độ Salmonella, E Coli, Coliform, trứng giun, sán

Lấy 3 mẫu trên mỗi lô trước và sau khi xử lý bằng chế phẩm vi sinh vật

và ủ sinh học

Phương pháp phân tích: Mẫu được lấy theo phương pháp chuẩn và

phân tích các chỉ tiêu tại Viện khoa học công nghệ môi trường - Viện khoa

học Công nghệ Việt Nam và Trung tâm vệ sinh thú y trung ương - Cục thú y

Các chỉ tiêu, phương pháp phân tích :

+ Chất lượng không khí trong và ngoài chuồng nuôi:

Nồng độ NH3 (mg/l), phương pháp phân tích TCVN 5988-95 - APHA

4500 Nồng độ H2S (mg/l) phương pháp phân tích TCVN 5988-95 - APHA

4500 Tổng số vi khuẩn hiếu khí (vi khuẩn/m3) phương pháp phân tích

APHA 9211 Tổng số E Coli (vi khuẩn/m3) phương pháp phân tích APHA

9211 Tổng số nấm mốc (số bào tử/m3) Phương pháp phân tích TCVN

5988-95 - APHA 4500

+ Chỉ tiêu phân tích trong chất thải rắn (phân và chất độn chuồng)

Trang 28

pH, mật độ Salmonella (CFU/g), mật độ E Coli (CFU/g), mật độ Coliforms (CFU/g), số lượng trứng giun sán (trứng/g)

2.2.4 Xây dựng mô hình chăn nuôi vịt sinh sản và thương phẩm theo hai phương thức nuôi nhốt và chạy đồng có khoanh vùng đảm bảo an toàn sinh học, hiệu quả kinh tế cao

Miền bắc Miền Trung Miền Nam Phương thức Sinh

sản

Thương phẩm

Sinh sản

Thương phẩm

Sinh sản

Thương phẩm

Ân thi – Hưng Yên

Cát Minh Phù Cát Bình Định

Chợ gạo Tiền Giang

Địa điểm chạy

đồng Thành- Hải Dương Đồng Gia – Kim Cát Minh Phù Cát Bình Định Thủ Thừa Long An

Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ nuôi sống, tiêu tốn thức ăn, khả năng sinh trưởng, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ phôi, tỷ lệ ấp nở, hiệu quả kinh tế,

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu theo dõi và thu thập được sử lý bằng phương pháp thống kê sinh học, so sánh các số trung bình bằng phương pháp bình phương giá trị sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa LSD, so sánh các số % bằng phương pháp χ 2 trên phần mềm Minitab 12 21

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi vịt sinh sản và thương phẩm theo 2 phương thức: nuôi nhốt và chạy đồng có khoanh vùng

3.1.1 Nghiên cứu phương thức nuôi

3.1.1.1 Phương thức nuôi nhốt

3.1.1.1.1 Đối với vịt sinh sản

Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn vịt con, hậu bị từ 0- 24 tuần tuổi trung bình ở miền Bắc và miền Nam lô 1 (phương thức nuôi nhốt hoàn toàn) cao hơn ở lô

2 (nuôi nhốt có ao hồ) Cụ thể tỷ lệ nuôi sống nuôi nhốt hoàn toàn: 97,74% và nuôi nhốt có ao hồ: 95,19 - 96,56%

Trang 29

97,04-Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống vịt Super M giai đoạn con, hậu bị (%)

Lô 1 (nhốt hoàn toàn)

Lô 2 (nhốt có ao hồ)

Lô 2 (nhốt có ao hồ)

Trang 30

Bảng 3.2b: Khối lượng cơ thể vịt Super M qua các giai đoạn tuổi ở miền Nam

Miền Nam

Lô 1 (nhốt hoàn toàn)

Lô 2 (nhốt có ao hồ)

Tuần tuổi Tham số

Lô 2 (nhốt có ao hồ)

Tuần tuổi Tham số

Khối lượng cơ thể đến 24 tuần tuổi lô 1 (nuôi nhốt hoàn toàn) con trống

đạt 3.264,78g; con mái đạt 2.985,06g và lô 2 (nuôi nhốt có ao hồ) con trống

đạt 3.280,28g; con mái đạt 3.019,49g Sự khác biệt về khối lượng cơ thể giữa

hai phương thức nuôi là không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05) Khối

lượng cơ thể qua các giai đoạn ở cả hai lô đều đạt tương đương so với các

nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Dụng, Phùng Đức Tiến và CS, 2007 [14] đến

24 tuần tuổi khối lượng cơ thể con trống 3.070,6 -3.395,2g, con mái 2.985,0 –

3.127,5g)

Trang 31

Bảng 3.3 Lượng thức ăn tiêu thụ vịt Super M qua các giai đoạn

Lượng thức ăn tiêu thụ/con/giai đoạn từ 0 - 24 tuần tuổi lô 1 (nuôi nhốt

hoàn toàn) tiêu tốn thấp hơn lô 2 (nuôi nhốt có ao hồ) Lô 1: con trống:

23.901,0g, con mái: 21.212,0g Lô 2: con trống 23.939,0g, con mái:

Khối lượng cơ thể n=60 con gam 3.056,50 3.028,00

Miền Nam

Khối lượng cơ thể n=60 con gam 3.169,61 3.149,42

Trung bình 2 miền

Khối lượng cơ thể n=60 con gam 3.113,06 3.088,71

Trang 32

Vịt nuôi theo phương thức nuôi nhốt trung bình 2 miền tuổi đẻ 5% sớm

hơn nuôi có ao hồ, ở lô 1 (nuôi nhốt hoàn toàn): 174 ngày, lô 2 (nuôi nhốt có

ao hồ): 191 ngày tuổi Tuổi đẻ đạt 5% của vịt lô 1 tương đương kết quả của

Nguyễn Ngọc Dụng, Phùng Đức Tiến và CS, 2007 [14] khi nghiên cứu chọn

lọc nâng cao khả năng sản xuất của vịt CV Super M ở thế hệ 9 cho biết tuổi

đẻ đạt 5%: 170-174 ngày

Khối lượng cơ thể khi tỷ lệ đẻ đạt 5% 2 lô tương đương nhau:

3.088,71-3.113,06g Khối lượng trứng ở hai phương thức: 71,56-72,05g/quả

Bảng 3.5a Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo phương thức

nuôi nhốt tại miền Bắc

Bảng 3.5b Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo phương thức

nuôi nhốt tại miền Nam

(nhốt hoàn toàn)

Lô 2

(nhốt có ao

Năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi (quả) 200,90 194,79

Trang 33

Bảng 3.5c Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo phương thức

nuôi nhốt trung bình 2 miền

(nhốt hoàn toàn)

Lô 2

(nhốt có ao

Năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi (quả) 201,82 197,79

Năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi miền Bắc lô 1: 202,73 quả

(100,97%); lô 2: 200,79 quả (100%) Miền Nam lô 1: 200,90 quả (103,14%);

lô 2: 194,79 quả (100%) Năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi trung bình 2 miền

lô 1: 201,82 quả cao hơn, lô 2 (179,79 quả): 2,03% Kết quả về năng suất

trứng của vịt cao hơn kết quả của Nguyễn Đức Trọng, Hoàng Văn Tiệu và

CS, 2005 [35] khi nghiên cứu trên vịt CV Super M cho biết năng suất

trứng/mái/64 tuần tuổi 158-178,5 quả

Tiêu tốn thức ăn/10 trứng miền Bắc lô 1 là: 3,92kg; lô 2 là: 3,97 kg

Nếu so sánh tương đối lô 2 tiêu tốn thức ăn/10 trứng là 100% thì lô 1:

98,74% Miền Nam tiêu tốn thức ăn/10 trứng lô 1 là: 3,65kg; lô 2 là: 3,67 kg

Tiêu tốn thức ăn/10 trứng trung bình 2 miền lô 1: 3,79 kg thấp hơn lô 2: 3,82

kg

Tỷ lệ phôi lô 1 cao hơn lô 2, tỷ lệ nở loại I/tổng trứng ấp lô 2 cao hơn

lô 1 Số vịt con loại 1/mái/64 tuần tuổi miền Bắc lô 1: 144,62 con sau đó đến

lô 2 là 142,45 con Nếu so sánh tương đối lô 2 có số vịt con loại 1/mái là

100% thì lô 1 cao hơn 1,52% Miền Nam lô 1: 137,22 con cao hơn lô 2

(133,39 con): 2,87% Số vịt con loại 1/mái/40 tuần trung bình 2 miền lô 1:

140,92 con cao hơn lô 2 (137,9 con): 2,18%

3.1.1.1.2 Nuôi nhốt vịt Super M thương phẩm

Bảng 3.6a Một số chỉ tiêu nuôi vịt Super M thương phẩm đến 8 tuần tuổi tại

Trang 34

Bảng 3.6b Một số chỉ tiêu nuôi vịt Super M thương phẩm đến 8 tuần tuổi tại

miền Nam

Chỉ tiêu

Lô 1

(nhốt hoàn toàn) (n=300con)

Lô 2

(nhốt có ao hồ) (n=300con)

Lô 2 (nhốt có ao hồ) (n=600con)

Tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi ở vịt Super M nuôi thương phẩm lô 1

(nuôi nhốt hoàn toàn) 95,83% cao hơn lô 2 (nuôi nhốt có ao hồ) (94,67%)

Khối lượng cơ thể ở 8 tuần tuổi ở lô 1: 3.432,72g cao hơn lô 2 (3.395,76g):

1,09% Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể lô 2: 2,89kg cao hơn lô 1

(2,80kg): 3,11% Thu nhập/100 con lô 1: 889.388 đồng cao hơn lô 2 (665.618

Khi mổ khảo sát vịt Super M ở 8 tuần tuổi cho thấy giữa 2 lô không có

sự sai khác nhau, tỷ lệ thân thịt: 70,4-70,6%, tỷ lệ thịt ngực: 32,0 – 35,0%,

thịt đùi: 20,0 – 20,4%, tỷ lệ mỡ bụng: 1,12-1,20%

Trang 35

Nhận xét: Phương thức nuôi nhốt đối với vịt sinh sản có năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi nuôi nhốt hoàn toàn: 201,82 quả cao hơn nuôi nhốt có

ao hồ (197,79 quả) Tương ứng số vịt con loại I/mái: 140,92 con và 137,92 con Nuôi nhốt vịt thương phẩm đến 8 tuần tuổi khối lượng cơ thể nuôi nhốt hoàn toàn: 3.432,72g cao hơn nuôi nhốt có ao hồ (3.395,76g) Để đảm bảo an toàn sinh học nên sử dụng phương thức nuôi nhốt hoàn toàn

3.1.1.2 Phương thức nuôi chạy đồng có khoanh vùng

3.1.1.2.1 Chạy đồng có khoanh vùng đối với vịt sinh sản

Bảng 3.8 Tỷ lệ nuôi sống vịt Super M qua các giai đoạn tuổi (%)

Lô 1 (chạy đồng 17 ngày)

Lô 2 (chạy đồng 20 ngày) Giai đoạn

(tuần tuổi) Trống

(n=135)

Mái (n =465)

Trống (n=135)

Mái (n =465)

ở 20 ngày) Cụ thể tỷ lệ nuôi sống lô 1: 92,15-92,22%, lô 2: 90,86-91,48%

Bảng 3.9a Khối lượng cơ thể vịt Super M qua các giai đoạn tuổi ở miền Bắc

Trang 36

Bảng 3.9b Khối lượng cơ thể vịt Super M qua các giai đoạn tuổi ở miền Nam

Miền Nam

Lô 1 (chạy đồng 17 ngày)

Lô 2 (chạy đồng 20ngày)

Tuần tuổi Tham số

Lô 2 (chạy đồng 20ngày)

Tuần tuổi Tham số

Trang 37

Bảng 3.10 Lượng thức ăn tiêu thụ vịt Super M qua các giai đoạn

(g/con/giai đoạn)

Lô 1 (chạy đồng 17 ngày)

Lô 2 (chạy đồng 20 ngày)

Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình 2 miền từ 0-24 tuần tuổi ở lô 1 con

trống: 15.501,0g; con mái: 13.898,0g tương đương lô 2 con trống 15.339,0g;

Khối lượng cơ thể n=60 con gam 2.896,8 2.942,0

Khối lượng trứng n=200 quả gam 69,83 70,16

Miền Nam

Khối lượng cơ thể n=60 con gam 2.980,5 2.995,0

Khối lượng trứng n=200 quả gam 69,62 69,60

Trung bình 2 miền

Khối lượng cơ thể n=120 con gam 2.938,65 2.968,5

Trang 38

Tuổi đẻ 5% trung bình 2 miền lô 1 (chạy đồng 17 ngày) là 185 ngày

tuổi và sớm hơn lô 2 (chạy đồng 20 ngày) là 188 ngày tuổi Khối lượng cơ thể

lô 1: 2.938,65g; lô 2: 2.968,5g Khối lượng trứng 2 lô tương đương nhau:

Bảng 3.12b Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo phương thức

chạy đồng ở miền Nam

(chạy đồng 17 ngày) (chạy đồng 20 ngày) Lô 2

Số lượng trống + mái (con) 102 + 411 102 + 405

Năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi (quả) 189,71 188,72

Bảng 3.12c Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo phương thức

chạy đồng trung bình 2 miền

(chạy đồng 17 ngày) (chạy đồng 20 ngày) Lô 2

Năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi (quả) 190,38 189,39

Trang 39

Năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi miền Bắc lô 1: 191,04 quả (100,52%); lô 2: 190,06 quả (100%) Miền Nam lô 1: 189,71 quả; lô 2: 188,72 quả (100%) Năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi trung bình 2 miền lô 1: 190,38 quả tương đương lô 2: 189,39 quả Kết quả thu được cao hơn của Nguyễn Đức Trọng và CS, 2005 [34] trên vịt Super M nuôi khô: 171 quả, nuôi nước 176 quả

Tiêu tốn thức ăn/10 trứng nuôi tại miền Bắc lô 1 là: 3,33 kg; lô 2 là: 3,35 kg Nếu so sánh tương đối lô 2 tiêu tốn thức ăn/10 trứng là 100% thì lô 1: 99,40% Miền Nam lô 1 là: 3,71 kg; lô 2 là: 3,76 kg Tiêu tốn thức ăn/10 trứng trung bình 2 miền lô 1: 3,52 kg tương đương lô 2: 3,56 kg

Miền Bắc, tỷ lệ phôi của vịt lô 1: 92,22%, lô 2: 92,43% Tương ứng tỷ

lệ nở loại I/tổng trứng ấp: 78,86% và 78,70% Số vịt con loại 1/mái/64 tuần tuổi lô 1: 135,59 con sau đó đến lô 2 là 134,62 con Nếu so sánh tương đối lô

2 có số vịt con loại 1/mái là 100% thì lô 1 cao hơn 0,72%

Tỷ lệ phôi của vịt nuôi tại miền Nam lô 1: 90,32%, lô 2: 89,23% Tương ứng tỷ lệ nở loại I/tổng trứng ấp: 71,89% và 70,78% Số vịt con loại 1/mái/64 tuần tuổi lô 1: 122,74 con sau đó đến lô 2 là 120,22 con Nếu so sánh tương đối lô 2 có số vịt con loại 1/mái là 100% thì lô 1 cao hơn 2,10%

Trung bình 2 miền tỷ lệ phôi của vịt lô 1: 91,27% cao hơn lô 2 (90,83%), tương ứng tổng số con/mái/64 tuần tuổi lô 1: 129,17 con cao hơn lô

2 (127,42 con): 1,37%

3.1.1.2.2 Chạy đồng khoanh vùng đối với vịt thương phẩm

Bảng 3.13a Một số chỉ tiêu nuôi vịt Super M thương phẩm đến 10 tuần tuổi

tại miền Bắc

Chỉ tiêu

Lô 1

(chạy đồng 17 ngày) (n=300 con)

Lô 2

(chạy đồng 20 ngày) (n=300 con)

Miền Bắc: Tỷ lệ nuôi sống đến 10 tuần tuổi lô 2 đạt 91,83% thấp hơn lô

1 đạt 93,33% Khối lượng cơ thể đến 10 tuần tuổi lô 1 đạt 3.037,44g; lô 2 đạt 3.021,89g sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa hai lô không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lô 1: 1,98kg, lô 2: 1,99kg Thu nhập ở lô 1: 1.077.468 đồng, lô 2: 946.188 đồng

Trang 40

Bảng 3.13b Một số chỉ tiêu nuôi vịt Super M thương phẩm đến 10 tuần tuổi

tại miền Nam

Chỉ tiêu

Lô 1

(chạy đồng 17 ngày) (n=300 con)

Lô 2

(chạy đồng 20 ngày) (n=300 con)

Miền Nam: Tỷ lệ nuôi sống đến 10 tuần tuổi lô 2 đạt 93,00% thấp hơn lô

1 đạt 93,33% Khối lượng cơ thể đến 10 tuần tuổi lô 1 đạt 3.017,00g; lô 2 đạt

3.002,0g sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa hai lô không có ý nghĩa về mặt

thống kê (P>0,05) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lô 1: 1,98kg, lô 2: 2,04kg Thu nhập/100 con lô 1: 1.030.136 đồng, lô 2: 961.099 đồng

Bảng 3.13c Một số chỉ tiêu nuôi vịt Super M thương phẩm đến 10 tuần tuổi

trung bình 2 miền

Chỉ tiêu

Lô 1 (chạy đồng 17 ngày) (n=600 con)

Lô 2 (chạy đồng 20 ngày) (n=600 con)

Trung bình 2 miền tỷ lệ nuôi sống của vịt đến 10 tuần tuổi lô 1 đạt

93,33% cao hơn lô 2 (92,50%) Khối lượng cơ thể đến 10 tuần tuổi lô 1 đạt 3027,22g tương đương lô 2 (3.011,95g) Sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa

hai lô không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng

khối lượng lô 1: 1,98kg thấp hơn lô 2 (2,02kg) Thu nhập/100 con lô 1: 1.053.802 đồng cao hơn lô 2 (953.644 đồng)

Ngày đăng: 21/04/2014, 19:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
46. Bagnasco P., L.De La Fuente, G.Gualtieri, F. Noya and A.Arias, 1998. Fluorescent Pseudomonas spp. As biocontrol agents againt forage legume root pathogenic fungi. Soil.Biochem. Vol 30, No 10/11,1317-1322 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fluorescent Pseudomonas spp. As biocontrol agents againt forage legume root pathogenic fungi
Tác giả: Bagnasco P., L.De La Fuente, G.Gualtieri, F. Noya, A.Arias
Nhà XB: Soil.Biochem.
Năm: 1998
52. Cracas. P, 2000. Vermicomposting Cuban style. Worm Dig.Iss., 25-online articles 53. Dan B Smith, Biosecurity for livestock and poultry exhibitions, Clam SonUniversity Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vermicomposting Cuban style
Tác giả: Cracas, P
Nhà XB: Worm Dig.
Năm: 2000
56. Foggin C. M., 1992. Pathologi of ostrich eggs and investigation of incubation problems in: ostrich workshop for veterinarians University of Zimbabwe veterinary faculty: 62-73 57. Grand pant managent manual Super M2, Cherry Valley Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathologi of ostrich eggs and investigation of incubation problems
Tác giả: Foggin C. M
Nhà XB: University of Zimbabwe veterinary faculty
Năm: 1992
60. Hugh Millar, Attwood, 2004. Biosecurity guidelines for poultry producers. 12 pages Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biosecurity guidelines for poultry producers
Tác giả: Hugh Millar, Attwood
Năm: 2004
65. Narin Thongwittaya, Ph.D, 2007. Improved Duck Production by Small – scale Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improved Duck Production by Small – scale
Tác giả: Narin Thongwittaya, Ph.D
Năm: 2007
72. WHO, 2005. Avian influenza: assessing the pandemic threat., 64 pages. Virginia, C.C., 1997. Rapid composting technology in Philippines: its role in producing godd quality organic fertilizers. Extension Bulletin. Tăiwan Province of China, FFTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Avian influenza: assessing the pandemic threat
Tác giả: WHO
Nhà XB: Virginia, C.C.
Năm: 2005
18. Nguyễn Thị Ngọc Liên. Đánh giá một số chỉ tiêu chuồng nuôi và sử dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi vịt tại Trung tâm nghiên cứu chăn nuôi vịt Đại Xuyên.Tuyển tập các công trình nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt ngan 1980- 2005. Nhà xuất bản nông nghiệp năm 2005, trang 230-233 Khác
19. Đỗ Ngọc Hoè, 1996. Giáo trình vệ sinh thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội - 1996 Khác
20. Nguyễn Thị Hoa Lý, Hồ Thị Kim Hoa, 2004. Một số điều cần chư ý trong sát trùng và phòng bệnh thú y, tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XI Khác
21. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị mai, Bùi Hữu Đoàn, 1994. Chăn nuôi gia cầm. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Trang: 164-165 Khác
22. Mai Văn Nam. Hiệu quả chăn nuôi vịt đẻ chạy đồng ở đồng bằng sông Cửu Long, tạp trí khoa học 2008: 976-85 Khác
23. Hồng Nga dịch, 2006. Bệnh thương hàn ở vịt, ngan. www.nongthon.net Khác
29. 10 TCN 679-2006: Điều kiện vệ sinh thú y cơ sở chăn nuôi gia cầm 30. 10 TCN 680-2006: Tiêu chuẩn vệ sinh nước dùng trong chăn nuôi Khác
31. 10 TCN 878-2006: Tiêu chuẩn vệ sinh thú y đối với cơ sở ấp trứng gia cầm Khác
32. Tô Long Thành, 2005. Kinh nghiệm phòng chống dịch cúm gia cầm và sử dụng vacxin cúm gia cầm tại Trung Quốc, Khoa học Kỹ thuật Thú y, 12 (3), tr. 87-90 Khác
33. Tinnhanh.com.Quangngai 14/3/2008 Tình hình vịt chết ở Quảng Ngãi Khác
35. Nguyễn Đức Trọng, Hoàng Văn Tiệu, Hoàng Thị lan, Nguyễn Đăng Vang, 2005. Nghiên cứu một số chỉ tiêu sản xuất của vịt CV Super M dòng ông và dòng bà các mùa trong năm. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt – ngan 1980-2005. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội – 2005 Khác
36. Trung tâm khuyến nông Quốc gia- Www. dost.Bentre.gov.vn ngày 24/8/2007. Mô hình nuôi vịt an toàn tại Bến Tre Khác
37. Đinh Xuân Tùng, 2008. Các hệ thống chăn nuôi vịt ở đồng băng sông Hồng Việt Nam Khác
38. Trịnh Quang Tuyên, Nguyễn Quế Côi, Nguyễ n Duy Phương, Đỗ Thị Mai Phương, Nguyễn Tiến Thông, Đàm Tuấ n Tú, 2007. Thử nghiệm một số phương pháp chế biến phân lợn thành phân hữu cơ vi sinh tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương. Báo cáo khoa học năm 2007, Việ n Chăn Nuôi, trang 235-242 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 24)
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống vịt Super M giai đoạn con, hậu bị (%) - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống vịt Super M giai đoạn con, hậu bị (%) (Trang 29)
Bảng 3.5b. Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo phương thức - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.5b. Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo phương thức (Trang 32)
Bảng 3.6c. Một số chỉ tiêu nuôi vịt Super M thương phẩm đến 8 tuần tuổi - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.6c. Một số chỉ tiêu nuôi vịt Super M thương phẩm đến 8 tuần tuổi (Trang 34)
Bảng 3.8. Tỷ lệ nuôi sống vịt Super M qua các giai đoạn tuổi (%) - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.8. Tỷ lệ nuôi sống vịt Super M qua các giai đoạn tuổi (%) (Trang 35)
Bảng 3.17b. Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo khẩu phần - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.17b. Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo khẩu phần (Trang 46)
Bảng 3.17d. Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo khẩu phần - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.17d. Một số chỉ tiêu vịt Super M giai đoạn sinh sản theo khẩu phần (Trang 47)
Bảng 3.19a. Tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, lượng thức ăn tiêu thụ của vịt - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.19a. Tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, lượng thức ăn tiêu thụ của vịt (Trang 50)
Bảng 3.20d. Tuổi đẻ, khối lượng cơ thể, khối lượng trứng khi tỷ lệ đẻ đạt 5% - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.20d. Tuổi đẻ, khối lượng cơ thể, khối lượng trứng khi tỷ lệ đẻ đạt 5% (Trang 54)
Bảng 3.23. Hiệu giá kháng thể trung bình của vịt sinh sản tại các thời điểm - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.23. Hiệu giá kháng thể trung bình của vịt sinh sản tại các thời điểm (Trang 59)
Bảng 3.35. Kết quả phân tích khử trùng vỏ trứng - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.35. Kết quả phân tích khử trùng vỏ trứng (Trang 67)
Bảng 3.36. Kết quả phân tích khử trùng bằng thuốc tím + formol - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.36. Kết quả phân tích khử trùng bằng thuốc tím + formol (Trang 68)
Bảng 3.49. Tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, lượng thức ăn tiêu thụ các giai - hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai
Bảng 3.49. Tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, lượng thức ăn tiêu thụ các giai (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w