Nghiên cứu lựa chọn quy trình công nghệ và hệ thống máy, thiết bị cho mô hình sản xuất lúa theo hướng cơ giới hóa đồng bộ ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC.07/06-10
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VÀ HỆ THỐNG MÁY, THIẾT BỊ CHO MÔ HÌNH SẢN XUẤT LÚA THEO HƯỚNG CƠ GIỚI HOÁ ĐỒNG BỘ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (ĐBSCL) VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG (ĐBSH)
MÃ SỐ KC.07.06/06-10
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Cơ điện Nông Nghiệp
và Công Nghệ sau thu hoạch
Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thiện
8723
Hà Nội - 2010
Trang 2BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC.07/06-10
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VÀ HỆ THỐNG MÁY, THIẾT BỊ CHO MÔ HÌNH SẢN XUẤT LÚA THEO HƯỚNG CƠ GIỚI HOÁ ĐỒNG BỘ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (ĐBSCL) VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG (ĐBSH)
MÃ SỐ KC.07.06/06-10
Chủ nhiệm đề tài Cơ quan chủ trì đề tài
Phó Viện Trưởng
TS Chu Văn Thiện TS Trần Thị Mai
Ban chủ nhiệm chương trình Văn phòng các chương trình KHCN KC.07/06-10 Trọng điểm cấp nhà nước Chủ nhiệm chương trình Phó giám đốc
PGS.TSKH Phan Thanh Tịnh TS Nguyễn Thiện Thành
Hà Nội - 2010
Trang 3BÁO CÁO THỐNG KÊ KÊT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I THÔNG TIN CHUNG
1 Tên đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn quy trình công nghệ và hệ thống máy,
thiết bị cho mô hình sản xuất lúa theo hướng cơ giới hoá đồng bộ ở đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và vùng đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH)”
Mã số: KC.07.06/06-10; Thuộc chương trình: Khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước KC.07/06-10 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn”
2 Chủ nhiệm đề tài:
Họ và tên: TS Chu Văn Thiện
Ngày, tháng, năm sinh: 04-02-1955 Nam/ Nữ: Nam
Học hàm, học vị: Tiến sỹ
Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên chính
Chức vụ: Phó viện trưởng Viện CĐNN & CNSTH
Điện thoại: CQ: 04.38685636 NR: 04.35653797.; Mobile: 091.3552974 Fax: 04 38689131 E-mail: chuthienvcd@gmail.com
Tên tổ chức đang công tác: Viện Cơ điện NN&CNSTH
Địa chỉ tổ chức: 126 đường Trung Kính, Trung Hòa, Cầu giấy, Hà Nội
Địa chỉ nhà riêng: Số 32, Ngõ 156, Phố Lê Trọng Tấn, Thanh Xuân, Hà Nội
3 Tổ chức chủ trì đề tài:
Tên tổ chức chủ trì đề tài: Viện Cơ điện Nông nghiệp và CNSTH
Điện thoại: 04.38689187 Fax: 04.8689131
E-mail: info@viaep.org.vn; Website: http://www.viaep.org.vn
Địa chỉ: Viện Cơ điện Nông nghiệp và CNSTH, 126 Đường Trung Kính, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Họ và tên thủ trưởng tổ chức: PGS.TSKH Phan Thanh Tịnh
Số tài khoản: 931.01.056 mở tại Kho bạc Đống Đa- Hà Nội
Tên cơ quan chủ quản đề tài: Bộ Khoa học và Công nghệ
VIỆN CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP VÀ
CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
Trang 4II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
1 Thời gian thực hiện đề tài:
- Theo Hợp đồng đã ký kết: Từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 5 năm 2010
- Thực tế thực hiện: Từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 6 năm 2010
- Được gia hạn : Một lần: Gia hạn 01tháng (từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 6 năm 2010)
Ghi chú
(Số đề nghị quyết toán)
Trang 51- Công văn số 98/VPCT-HCTH của VPCCT - BKHCN ký ngày 30/5/2008
về việc cho phép điều chỉnh một số hạng mục kinh phí
2 - Công văn số: 564/VPCT-HCTH của VPCCT - BKHCN ký ngày
17/12/2009 về việc cho phép điều chỉnh một số hạng mục kinh phí
3 Các văn bản hành chính trong quá trình thực hiện đề tài:
(Liệt kê các quyết định, văn bản của cơ quan quản lý từ công đoạn xác định nhiệm
vụ, xét chọn, phê duyệt kinh phí, hợp đồng, điều chỉnh (thời gian, nội dung, kinh phí thực hiện nếu có); văn bản của tổ chức chủ trì đề tài, (đơn, kiến nghị điều chỉnh nếu có)
1 Quyết định số: 1583/
QĐ-BKHCN ngày 8/3/2007
Về việc phê duyệt các tổ chức,
cá nhân trúng tuyển chủ trì thực hiện đề tài
Về việc cho phép mua sắm thiết
bị trực tiếp máy gặt đập liên hợp
Trang 6Nội dung tham gia chủ yếu
Sản phẩm chủ yếu đạt được Ghi chú
1 Viện Lúa
ĐBSCL
Viện Lúa ĐBSCL
Xây dựng
mô hình CGH đồng
bộ ở ĐBSCL
Mô hình Cơ giới hóa đồng
bộ sản xuất cây lúa tại vùng ĐBSCL
lương thực
và cây thực phẩm
Xây dựng
mô hình CGH đồng
bộ ở ĐBSH
Mô hình Cơ giới hóa đồng
bộ sản xuất cây lúa tại vùng ĐBSH
- Lý do thay đổi: Chọn địa điểm xây dựng tại Viện Cây lương thực&cây thực phẩm
5 Cá nhân tham gia thực hiện đề tài:
Nội dung tham gia chính
Sản phẩm chủ yếu đạt được
Thiện
TS.Chu Văn Thiện
Chủ nhiệm đề tài MHCGH cây
lúa 2 vùng
3 TS Đậu Thế Nhu TS Đậu Thế Nhu Thư ký đề tài MHCGH cây lúa 2 vùng
4 TS Hoàng Bắc Quốc TS Hoàng Bắc Quốc Xây dựng mô hình tại ĐBSCL lúa ĐBSCL MHCGH cây
Quốc Việt
TS Nguyễn Quốc Việt
XDQTCN –CGHSX lúa
XDQTCN –CGHSX lúa
Trang 76 Th.S Trịnh Duy Đỗ Th.S Trịnh Duy Đỗ Xây dựng mô hình tại ĐBSH
MHCGH cây lúa vùng ĐBSH
Khi
Xây dựng mô hình tại ĐBSH
MHCGH cây lúa ĐBSH
Triệu
KS Trần Văn Triệu
Tham gia điều tra khảo sát CGH
Báo cáo điều tra, khảo sát, xây dựng MH
tổ chức
9 Th.S Nguyễn Xuân Thủy Th.S Nguyễn Xuân Thủy Lựa chọn thiết bị
Hệ thống thiết bị mô hình
10 KS Phạm Thị Thắm KS Phạm Thị Thắm Xây dựng mô hình tại ĐBSH MHCGH cây lúa ĐBSH
- Lý do thay đổi ( nếu có): TS Lê Văn Bảnh không có thời gian tham gia ĐT
6 Tình hình hợp tác quốc tế:
Số
TT
Theo kế hoạch
(Nội dung, thời gian, kinh
phí, địa điểm, tên tổ chức
gia )
Ghi chú
1 Đoàn đi tham quan học hỏi
kinh nghiệm tại Trung
(Nội dung, thời gian,
kinh phí, địa điểm )
Ghi chú*
I Hội thảo cán bộ nông dân thôn xã
Trang 8Họp cán bộ nông dân triển khai
Hội thảo chuyên đề Làm mạ
10/2008
Hội thảo chuyên đề cấy 10/2008
Hội thảo chuyên đề máy gieo
Trang 98 Tóm tắt các nội dung, công việc chủ yếu:
(Nêu tại mục 15 của thuyết minh, không bao gồm: Hội thảo khoa học, điều tra khảo sát trong nước và nước ngoài)
Thời gian
(Bắt đầu,
kết thúc)
Người,
cơ quan thực hiện
Số
TT
Các nội dung, công việc
chủ yếu (Các mốc đánh giá chủ yếu)
Thực tế đạt được
1 Nội dung 1: Nghiên cứu đề
xuất mô hình tổ chức CGH
sản xuất lúa tại hai vùng
10/2008
1/2008-Trần Văn Triệu VCĐNN&CNSTH
2 Nội dung 2: Nghiên cứu xây
6/2008 1/2008-10/2008
1/2008-TS.Nguyễn Quốc Việt VCĐNN&CNSTH
TS Hoàng Bắc Quốc- Viện Lúa ĐBSCL
3 Nội dung 3:
Nghiên cứu lựa chọn hệ thống
thiết bị CGHSX lúa cho 2 mô
hình
10/2008
1/2008-ThS Nguyễn Xuân Thủy
VCĐNN&CNSTH
4 Nội dung 4: Xây dựng mô
hình cơ giới hoá sản xuất lúa
1-ThS Trịnh Duy Đỗ VCĐNN&CNSTH 2-TS Hoàng Bắc Quốc- Viện Lúa ĐBSCL
5 Nội dung 5:
1 Tổ chức hội thảo, hội nghị
2 Báo cáo tổng kết đề tài
12/2009 5/2010
1-Th.S Trịnh Duy;
2-TS Hoàng Bắc Quốc 3-TS Chu Văn Thiện; 4- TS Đậu Thế Nhu;
Trang 10III SẢN PHẨM KH&CN CỦA ĐỀ TÀI, DỰ ÁN
1 Sản phẩm KH&CN đã tạo ra:
Thực tế đạt được
Giảm chi phí giống 20%
45-50
Có khả năng nhân
20-30%
Giảm chi phí giống 20%
15 Giảm tổn thất STH 15-20%
Có khả năng nhân rộng
50 20-30 32-3845-50
Có khả năng
nhân rộng
b) Các chuyên đề KH – KT
1 Báo cáo kết quả
điều tra, khảo sát
ra của đề tài
Đạt yêu cầu, mục đích đề ra của đề tài
2 Báo cáo chuyên đề
ra của đề tài
Đạt yêu cầu, mục đích đề ra của đề tài
Trang 113 Báo cáo quy trình
cơ giới hoá sản xuất
Theo hướng canh tác hiệu quả, bền vững,
Theo hướng canh tác hiệu quả, bền vững,
4 Báo cáo chuyên đề
ra của đề tài
Đạt yêu cầu, mục đích đề ra của đề tài
5 Tài liệu hướng dẫn
Đầy đủ, dễ tiếp thu đối với người
Đầy đủ, dễ tiếp thu đối với người
Đầy đủ, dễ tiếp thu đối với người
Đầy đủ, dễ tiếp thu đối với người
Đầy đủ, dễ tiếp thu đối với người
Số lượng, nơi công bố
(Tạp chí, nhà xuất
bản)
1
“Cơ giới hóa trong tiến
trình hiện đại hóa Nông
nghiệp nông thôn Việt
Nam”, số 5/2010
01 bài báo 01 bài báo Tạp chí Nông Nghiệp & phát
triển Nông thôn
Trang 122
Bài báo: “Cơ giới hoá sản
xuất lúa ở Đồng Bằng Sông
01 bài báo
Thông tin Cơ điện Nông Nghiệp và chế biến nông sản
3
Báo cáo khoa học: “Current
situasion of rice
mechanization in some
provinces of the Mekong
river delta and Red river
delta
01 báo cáo khoa học
01 báo cáo khoa học
Tại hội nghị Quốc tế: Agricultural and bio-systems engineering, 8-9 Decmber 2009, Hanoi, Vietnam
d) Kết quả đào tạo:
Ghi chú
1
01 Tiến sỹ nghiên cứu sinh về lĩnh vực
liên quan là ThS Phạm Anh Tuấn,
Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Hưng
Yên Tên đề tài: “Nghiên cứu một số
thông số của bánh sắt mấu kết hợp dùng
cho máy kéo cỡ trung”;
01 01
2 Đánh giá về hiệu quả do đề tài, dự án mang lại:
a) Hiệu quả về khoa học và công nghệ:
(Nêu rõ danh mục công nghệ và mức độ nắm vững, làm chủ, so sánh với trình
độ công nghệ so với khu vực và thế giới…)
- Đã điều tra khảo sát thực trạng CGH sản xuất lúa tại một số tỉnh ở hai vùng
- Đã nghiên cứu đề xuất hình thức tổ chức mô hình CGH tại hai vùng
- Đã xây dựng được quy trình CGHSX lúa phù hợp với 2 mô hình
- Đã lựa chọn được hệ thống thiết bị CGHSX lúa phù hợp cho 2 mô hình
- Đã xây dựng được hai mô hình CGH sản xuất lúa tại hai vùng và đánh giá được hiệu quả của việc ứng dụng CGH trong sản xuất lúa,
b) Hiệu quả về kinh tế xã hội:
(Nêu rõ hiệu quả làm lợi tính bằng tiền dự kiến do đề tài, dự án tạo ra so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường…)
Trang 13Hiệu quả kinh tế: Tổng chi phí sản xuất lúa nhờ đưa CGH vào giảm 20-28%;
Công lao động giảm 20-33%; Tổn thất sau thu hoạch giảm khoảng 45-50% nhờ đưa máy gặt đập liên hợp vào sản xuất; Chi phí giống giảm khoảng 32-38% nhờ đưa máy cấy và thiết bị gieo vào ứng dụng
Hiệu quả xã hội: CGH có năng suất cao, ngoài việc giải phóng được sức lao
động năng nhọc của người nông dân, đồng thời giải quyết kịp thời vụ để thâm canh nhằm tăng năng suất Đặc biệt, trong sản xuất nông nghiệp ở hai vùng, khâu thu hoạch còn theo phương pháp nhiều giai đoạn, gặt thủ công năng suất thấp, tình trạng thiếu lao động mùa vụ ngày càng nghiêm trọng, là áp lực rất lớn nhất là đối với vụ thu hoạch hè thu thời gian chỉ 15-20 ngày Đưa máy GĐLH cũng như hệ thống gieo cấy vào mô hình CGH, sẽ giải quyết được những bức bách về thời vụ cũng như vấn đề lao động hiện nay ở nông thôn, đảm bảo thời vụ cây trồng vụ sau; CGH theo hướng ĐB góp phần làm giảm
sâu bệnh, tránh thời điểm phát triển sâu bệnh; Ngoài ra CGH làm tăng khả
năng tích tụ ruộng đất; tăng khả năng sản xuất hàng hóa quy mô lớn; Đồng đất được cải tạo nhờ có hệ thống thiết bị thích hợp với CGH sản xuất lúa
3 Tình hình thực hiện chế độ báo cáo, kiểm tra của đề tài, dự án:
Số
TT Nội dung
Thời gian thực hiện
mô hình và bước đầu đã cho một số khâu (làm đất-gieo-cấy) của mô hình đi vào hoạt động
1/2009-7/2009
- ĐT thực hiện đúng các nội dung đã được đăng ký Tiến độ chậm chủ yếu do thủ tục mua sắm thiết bị, do đó ảnh hưởng đến tiến độ
Trang 15DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
CGHSX: Cơ giới hoá sản xuất
CGH: Cơ giới hoá
CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐBSCL: Đồng bằng sông cửu long
Trang 16Môc lôc
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH CGH SẢN XUẤT LÚA Ở
NƯỚC NGOÀI VÀ THỰC TRẠNG CGH SẢN XUẤT LÚA TRONG
1.1 TÌNH HÌNH CGH SẢN XUẤT LÚA Ở NƯỚC NGOÀI 8
1.2 THỰC TRẠNG CGH SẢN XUẤT LÚA TRONG NƯỚC 15
Chương 2: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CGH
2.1 TỔNG QUAN VỀ QUY TRÌNH CGH SẢN XUẤT LÚA 41
2.2 XÂY DỰNG QUY TRÌNH CGH SẢN XUẤT LÚA PHÙ HỢP VỚI
2.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM RIÊNG KHI ỨNG DỤNG QUY TRÌNH VÀO
Chương 3: NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN HỆ THỐNG
3.1 LỰA CHỌN MÁY KÉO VÀ HỆ THỐNG DI ĐỘNG 58
3.2 LỰA CHỌN MÁY CHO KHÂU LÀM ĐẤT 62
3.3 LỰA CHỌN MÁY CHO KHÂU GIEO CẤY 64
3.5 LỰA CHỌN MÁY CHO KHÂU THU HOẠCH 73
3.6 LỰA CHỌN MÁY CHO KHÂU SẤY LÚA ĐBSCL 78
Chương 4: XÂY DỰNG MÔ HÌNH CGH SẢN XUẤT LÚA 81
4.2 VẬN HÀNH HỆ THỐNG THIẾT BỊ TẠI HAI MÔ HÌNH 89
4.3 TRANG BỊ CGH THEO QUY MÔ SẢN XUẤT LÚA MỖI VÙNG 107
Chương 5: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI MÔ HÌNH 111
5.1 HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA TỪNG KHÂU CÔNG VIỆC 111
5.2 HIỆU QUẢ KINH TẾ TỔNG THỂ 128
5.3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH CGH 133
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 17MỞ ĐẦU
Ở nước ta, lúa là cây lương thực quan trọng nhất Nhờ việc chuyển đổi
cơ chế và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản xuất lúa gạo đã đạt được nhiều thành công Lượng gạo xuất khẩu hàng năm tăng liên tục, nếu như năm
2000 xuất khẩu là 3,2 triệu tấn thì năm 2005 là 5,2 triệu tấn, năm 2008 xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1,3 tỷ USD Diện tích trồng lúa của cả nước hiện nay khoảng 7.326.000 ha, trong đó vùng ĐBSH là 1.138.800ha; vùng đông Bắc
Bộ 555.500ha; bắc Trung Bộ 674.100ha; duyên hải nam Trung Bộ 370.200 ha; Đông Nam Bộ 418.100 ha và vùng ĐBSCL 3.826.300 ha)
Việc CGH sản xuất lúa của cả nước tiến hành còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và tình trạng lao động ngày càng thiếu hụt, nhất là khâu làm đất, thu hoạch và sấy điều đó dẫn đến tổn thất sau thu hoạch là rất lớn (11-12%)
Do chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng như việc phát triển các khu công nghiệp, diện tích đất trồng lúa có xu hướng giảm, nhưng cho đến nay sản lượng lúa vẫn không ngừng tăng lên Với chiến lược sản xuất lúa có chất lượng cao, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, canh tác đã được áp dụng vào sản xuất Về tương lai, lúa vẫn là cây lương thực chủ đạo, không chỉ
vì vấn đề an ninh lương thực mà còn là một mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn của cả nước
Trong quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nước, các khu công nghiệp và hoạt động dịch vụ đã thu hút nhiều lao động từ hầu hết các vùng ở nông thôn, dẫn đến tình trạng khan hiếm nhân lực cho sản xuất nông nghiệp Với đặc thù của ngành sản xuất lúa gạo là có tính thời vụ rất cao, yêu cầu nhiều nhân lực trong một thời gian rất ngắn (không đầy một tháng), chủ yếu tập trung vào thời điểm thu hoạch, làm đất và gieo cấy Đặc biệt ở vùng ĐBSCL, do xuất hiện dịch bệnh rầy nâu, vòng lùn xoắn lá, các địa phương đã phải đồng loạt xuống giống nên thời vụ lại càng gấp rút hơn Điều này càng tăng thêm nhu
Trang 18cầu về nhân lực để tập trung giải quyết mang tính thời vụ cao trong sản xuất lúa gạo
Chính vì những lý do trên làm cho giá nhân công của các khâu CGH sản xuất lúa gạo tăng mạnh trong vài năm gần đây Theo điều tra sơ bộ, tại ĐBSH chi phí cho các khâu chính sản xuất lúa cho 1 sào (360 m2) như sau: làm đất 30.000đ ; cấy: 60.000đ; cắt lúa: 40.000-50.000đ; đập: 20.000đ Bức xúc nổi lên trong thời gian vừa qua là vấn đề thu hoạch lúa Thu hoạch lúa ở ĐBSCL tăng một cách đột biến từ 500.000đ/ha năm 2003, đến nay đã tăng lên 2.500.000đ/ha Giá một công gặt lúa hiện nay đã lên tới trên 150.000đ/công Việc khan hiếm và chi phí nhân công cao đã đẩy chi phí sản xuất lúa gạo không ngừng tăng lên, cản trở sự phát triển bền vững của các vùng sản xuất lúa tập trung, đặc biệt là vùng ĐBSCL và ĐBSH Mặt khác, nhiều nơi do thiếu nhân công nên không thể thu hoạch đúng thời vụ, gây ra tình trạng mất mát sau thu hoạch cao không những về số lượng mà còn về cả chất lượng Chi phí lao động cho sản xuất lúa ở nước ta hiện nay còn khá cao Nếu tính toán theo quy trình sản xuất lúa phổ biến ở miền Bắc: Làm đất và đập tuốt bằng máy, thu hoạch và làm mạ-cấy bằng thủ công thì chi phí lao động trên một ha vào khoảng 90–100 công Còn ở miền nam, nếu không dùng cấy
mà thay thế bằng phương pháp xạ thì chi phí lao động/ha sẽ vào khoảng 50–
60 công Trong khi đó, nếu tất cả các khâu được CGH đồng bộ thì chi phí công lao động theo tính toán sơ bộ ở cả hai miền sẽ chỉ vào khoảng 20-30 công/ha Đó là chưa tính đến năng suất cây trồng được tăng lên, giảm lượng giống, giảm tổn thất sau thu hoạch
Như vậy, CGH không những mang lại hiệu quả kinh tế mà còn mang lại hiệu quả về mặt xã hội, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định chính trị ở các vùng nông thôn
CGH sản xuất lúa gạo nhằm giảm lao động, giảm tổn thất và kịp thời vụ ngày càng trở thành nhu cầu bức xúc của các vùng sản xuất lúa tập trung Chính vì vậy, nhà nước cũng như các địa phương đã xây dựng và phê duyệt
Trang 19các đề án, chương trình hành động nhằm đẩy mạnh CGH và giảm tổn thất sau thu hoạch lúa gạo, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL và ĐBSH Năm 2006, Bộ nông nghiệp và PTNT cũng đã đề ra chương trình hành động về đẩy mạnh CGH và giảm tổn thất sau thu hoạch lúa ở ĐBSCL, chương trình gồm những nội dung chính như: Quy hoạch, cải tạo đồng ruộng thích hợp cho việc di chuyển và hoạt động của máy móc; Xây dựng và triển khai dự án về mô hình trình diễn CGH đồng bộ sản xuất lúa; Xúc tiến chương trình chế tạo máy gặt đập liên hợp và nhập khẩu một số máy phù hợp với điều kiện sản xuất lúa vùng ĐBSCL.v.v
Một số tỉnh như Nghệ An, Đắc Lắc, An Giang.v.v đã có chính sách hỗ trợ ưu tiên cho các chủ trang trại, HTX nông nghiệp vay vốn đầu tư trang bị máy làm đất, máy cấy và máy gặt đập liên hợp…bước đầu đã thu được nhiều kết quả khả quan
Cho đến thời điểm hiện nay đã có rất nhiều đề án, chiến lược, kế hoạch được vạch ra từ trung ương đến địa phương, song trên thực tế chưa có địa phương nào xây dựng được mô hình CGH sản xuất lúa mang tính đồng bộ mà chủ yếu chỉ mới dừng lại ở khâu làm đất, tuốt lúa, gần đây có thêm khâu thu hoạch và đánh giá đầy đủ hiệu quả các mặt để từ đó có biện pháp nhân rộng
vào sản xuất Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu lựa chọn quy trình công nghệ và hệ thống máy, thiết bị cho mô hình sản xuất lúa theo hướng CGH đồng bộ ở đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và vùng đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH)” nhằm thực hiện CGH đồng bộ tất cả các khâu từ làm
đất, gieo, cấy, chăm sóc và thu hoạch là việc làm hết sức cần thiết, nhằm tăng năng suất, giảm thất thoát, giải quyết được tình trạng bức xúc về lao động và tính khẩn trương của mùa vụ
Đề tài “Nghiên cứu lựa chọn quy trình công nghệ và hệ thống máy, thiết
bị cho mô hình sản xuất lúa theo hướng CGH đồng bộ ở đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và vùng đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH)”, Mã số
KC.07.06/06-10 thuộc chương trình KHCN phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp
Trang 20và nông thôn (KC.07/06-10) Thời gian thực hiện 30 tháng (12/2007 đến 5/2010), do TS Chu Văn Thiện làm chủ nhiệm đề tài Cơ quan chủ trì là Viện
Cơ Điện Nông Nghiệp và Công Nghệ sau thu hoạch
Mục tiêu của đề tài
1 Lựa chọn được quy trình công nghệ và hệ thống máy, thiết bị phù hợp
để thực hiện CGH đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, góp phần giải quyết tình trạng bức xúc về lao động và tính khẩn trương của mùa vụ tại hai vùng sản xuất lúa tập trung
2 Đề xuất và xây dựng được mô hình tổ chức sản xuất lúa bằng cơ giới phù hợp
3 Xây dựng được hai mô hình CGH đồng bộ sản xuất lúa tại hai vùng Nội dung nghiên cứu:
Nội dung 1: Nghiên cứu đề xuất mô hình tổ chức CGH sản xuất lúa tại hai vùng
1 Điều tra khảo sát thực trạng cơ giới hoá (tổ chức, sử dụng thiết bị.v.v) sản xuất lúa tại một số tỉnh ở hai vùng
2 Nghiên cứu đề xuất hình thức tổ chức mô hình CGH tại hai vùng Nội dung 2: Nghiên cứu xây dựng quy trình CGHSX lúa phù hợp với 2
mô hình
1 Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất mạ thảm trên ruộng
2 Nghiên cứu xây dựng quy trình CGH đồng bộ sản xuất lúa ở 2 MH thuộc 2 vùng
Nội dung 3: Nghiên cứu lựa chọn hệ thống thiết bị CGHSX lúa cho 2
mô hình
1 Lựa chọn máy kéo, hệ thống di động và máy làm đất
2 Nghiên cứu, lựa chọn hệ thống thiết bị sản xuất mạ thảm trên ruộng cho ĐBSCL
3 Nghiên cứu, lựa chọn máy cấy thích hợp với hai vùng
4 Lựa chọn máy phục vụ khâu thu hoạch thích hợp với hai vùng
Trang 215 Nghiên cứu, lựa chọn máy sấy thích hợp với vùng ĐBSCL
Nội dung 4: Xây dựng mô hình cơ giới hoá sản xuất lúa tại hai vùng
1 Xây dựng mô hình tổ chức cơ giới hóa:
2 Vận hành hệ thống thiết bị CGH đồng bộ tại hai mô hình
- Nghiên cứu tổ chức sử dụng các thiết bị và dịch vụ kỹ thuật
- Vận hành và theo dõi hoạt động hệ thống máy và thiết bị trong điều kiện sản xuất Xác định các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật của mô hình
- Đào tạo, tập huấn cho cán bộ quản lý và công nhân vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị, chuyển giao công nghệ cho cơ sở sản xuất
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu nội dung 1: Thu thập các dữ liệu điều tra,
khảo sát thông tin từ các kênh trong và ngoài nước, điều tra khảo sát thực trạng tại một số địa phương hai vùng, đặc biệt chú trọng phương pháp điều tra khảo sát trực tiếp làm cơ sở đánh giá thực trạng tình hình CGH sản xuất lúa hai vùng và xác định hình thức tổ chức và sử dụng thiết bị một cách có hiệu quả
- Phương pháp nghiên cứu nội dung 2: Kết hợp phương pháp chuyên gia
và thu thập thông tin với việc thực hiện thực nghiệm tại hiện trường Sử dụng nghiên cứu so sánh để xác định giá trị các chỉ tiêu thích hợp, tương ứng với từng quy trình công nghệ khi thực hiện CGH đồng bộ
- Phương pháp nghiên cứu nội dung 3: Kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm thực tế, sử dụng phương pháp chuyên gia để đưa ra các căn cứ lựa chọn mẫu máy và thiết bị phù hợp với từng khâu, từng vùng
- Phương pháp nghiên cứu nội dung 4: Tổ chức xây dựng mô hình Căn
cứ vào thực tế địa phương nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức Vận hành
hệ thống máy và thiết bị tất cả các khâu Tiến hành theo dõi hoạt động và thực nghiệm tại hiện trường với việc đo lường, xác định các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật Đánh giá hiệu quả sử dụng hệ thống máy và thiết bị; các bài toán về tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường để đánh giá hiệu quả của việc
Trang 22xây dựng mô hình CGH đồng bộ Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nhân rộng mô hình trong cả nước
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đã tiến hành nội dung và tiến độ như sau:
- Năm 2007-2008: Điều tra, khảo sát tình hình CGH sản xuất lúa tại
một số tỉnh hai vùng; Lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình; Nghiên cứu xây dựng quy trình và lựa chọn hệ thống thiết bị Bắt đầu xây dựng mô hình CGH sản xuất lúa và khảo nghiệm hệ thống thiết bị
- Năm 2009: Tiếp tục xây dựng mô hình CGH sản xuất lúa tại hai vùng
(thành lập ban quản lý mô hình, tổ dịch vụ CGH, chuẩn bị ruộng và cơ sở vật chất cần thiết) Tiếp tục khảo nghiệm hệ thống thiết bị, đánh giá tính ổn định
và hiệu quả của việc CGH
- Năm 2010: Tiếp tục khảo nghiệm hệ thống thiết bị, đánh giá hiệu quả
của việc CGH Tổng kết các kết quả đạt được của toàn bộ quá trình thực hiện
đề tài
Kết quả đạt được của đề tài:
- Đã điều tra khảo sát thực trạng CGH sản xuất lúa tại một số tỉnh ở hai vùng
- Đã nghiên cứu đề xuất hình thức tổ chức mô hình CGH tại hai vùng
- Đã xây dựng được quy trình CGHSX lúa phù hợp với 2 mô hình
- Đã lựa chọn được hệ thống thiết bị CGHSX lúa phù hợp cho 2 mô hình
- Đã xây dựng được hai mô hình CGH sản xuất lúa tại hai vùng và đánh giá được hiệu quả của việc ứng dụng CGH trong sản xuất lúa, cụ thể:
+ Hiệu quả kinh tế: Tổng chi phí sản xuất lúa nhờ đưa CGH vào giảm
20-28%; Công lao động giảm 20-33%; Tổn thất sau thu hoạch giảm khoảng 45-50% nhờ đưa máy gặt đập liên hợp vào sản xuất; Chi phí giống giảm khoảng 32-38% nhờ đưa máy cấy và thiết bị gieo vào ứng dụng
+ Hiệu quả xã hội: CGH có năng suất cao, ngoài việc giải phóng được sức lao động năng nhọc của người nông dân, đồng thời giải quyết kịp thời vụ
Trang 23để thâm canh nhằm tăng năng suất Đặc biệt, trong sản xuất nông nghiệp ở hai vùng, khâu thu hoạch còn theo phương pháp nhiều giai đoạn, gặt thủ công năng suất thấp, tình trạng thiếu lao động mùa vụ ngày càng nghiêm trọng, là
áp lực rất lớn nhất là đối với vụ thu hoạch hè thu thời gian chỉ 15-20 ngày Đưa máy GĐLH cũng như hệ thống gieo cấy vào mô hình CGH, sẽ giải quyết được những bức bách về thời vụ cũng như vấn đề lao động hiện nay ở nông thôn, đảm bảo thời vụ cây trồng vụ sau; CGH theo hướng ĐB góp phần làm
giảm sâu bệnh, tránh thời điểm phát triển sâu bệnh; Ngoài ra CGH làm tăng
khả năng tích tụ ruộng đất; tăng khả năng sản xuất hàng hóa quy mô lớn; Đồng đất được cải tạo nhờ có hệ thống thiết bị thích hợp với CGH sản xuất lúa
- Các kết quả khác:
+ Đã công bố được 01 bài báo trên tạp chí Nông Nghiệp & phát triển
Nông thôn: “Cơ giới hóa trong tiến trình hiện đại hóa Nông nghiệp nông thôn Việt Nam”, số 5/2010; 01 bài báo trên tờ thông tin Cơ điện Nông Nghiệp
và chế biến nông sản: “CƠ GIỚI HOÁ SẢN XUẤT LÚA Ở ĐỒNG BĂNG SÔNG CỬU LONG VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG THỜI GIAN TỚI“; 01 báo cáo khoa học tại hội nghị Quốc tế: Agricultural and bio-
systems engineering, 8-9 Decmber 2009, Hanoi, Vietnam: “THỰC TRẠNG CƠ GIỚI HOÁ SẢN XUẤT LÚA TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trang 24Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH CGH SẢN XUẤT LÚA Ở NƯỚC NGOÀI VÀ THỰC TRẠNG CGH SẢN XUẤT LÚA TRONG NƯỚC 1.1 TÌNH HÌNH CGH SẢN XUẤT LÚA Ở NƯỚC NGOÀI
Ở một số nước có nền sản xuất lúa nước phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, quá trình sản xuất lúa nước được CGH đồng
bộ với mức độ tương đối cao, có nước gần như được CGH đồng bộ hoàn toàn Thí dụ, để có thể ứng dụng khâu thu hoạch bằng máy tuốt trên cây, khâu cấy phải đảm bảo khoảng cách hàng tiêu chuẩn, ruộng đất phải được quy hoạch tốt, hệ thống thủy lợi phải được đầu tư đầy đủ, kế hoạch sản xuất phải được thiết lập đảm bảo cho việc ứng dụng máy móc một cách đồng bộ và triệt để
Về mô hình tổ chức CGH, tùy theo từng nước có sự khác nhau Ở Trung Quốc và Nhật Bản CGH chủ yếu theo mô hình tập thể, còn ở Hàn Quốc lại chủ yếu mang tính dịch vụ tư nhân Tuy nhiên dù ở hình thức nào đi chăng nữa, thì tính kế hoạch trong sản xuất ở các nước CGH sản xuất lúa phát triển cũng rất cao và được lập ra một cách khoa học
Trung Quốc là đất nước rộng lớn, nông nghiệp là nền tảng của nền
kinh tế quốc dân và CGH đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp Trải qua hơn 50 năm phát triển, nhất là khi Nhà nước thực hiện những chính sách đổi mới và mở cửa, CGH nông nghiệp của Trung Quốc đã duy trì được sự phát triển ở tốc độ cao và đã cung cấp rất nhiều loại máy móc
có hiệu quả, thích hợp cho nông nghiệp Theo số liệu thống kê, vào cuối năm
1999 Trung Quốc có hơn 1,8 triệu máy kéo cỡ lớn và cỡ trung, 25 triệu máy kéo cỡ nhỏ, 18 triệu xe vận tải dùng trong nông nghiệp, 300.000 máy gặt đập liên hợp và một luợng lớn máy cày, bừa, gieo và bảo vệ cây trồng Ngành CGH nông nghiệp đã cung cấp thiết bị và đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, tăng cuờng khả năng khắc phục những tác động xấu của tự nhiên, nâng cao mức thu nhập và tích luỹ cho
Trang 25sản xuất, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và chấn hưng kinh tế ở các vùng nông thôn, thúc đẩy quá trình phát triển nông nghiệp theo huớng công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Vào những năm đầu thập kỷ 80, nhờ có sự cải tổ hệ thống kinh tế nông thôn theo qui luật kinh tế thị truờng, kinh tế hộ gia đình đã có tác động mạnh đến các vùng nông thôn làm cho nền kinh tế nông thôn phát triển nhanh chóng Thu nhập của nông dân đã tăng nhanh, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của những loại máy nông nghiệp cỡ nhỏ như máy kéo nhỏ, ôtô ba bánh dùng trong nông nghiệp, máy liên hợp thu hoạch cỡ nhỏ và nhiều loại thiết bị
cỡ nhỏ khác
Những năm đầu thập kỷ 90, do nhu cầu của thị truờng về máy nông nghiệp cỡ trung và cỡ lớn tăng nhanh nên các nhà máy chế tạo máy nông nghiệp nổi tiếng trên thế giới lần luợt đặt văn phòng đại diện của họ tại Trung Quốc Nhiều hãng đầu tư 100% vốn để thành lập nhà máy hay liên doanh Ví
dụ như hãng John Deer đã thành lập Công ty TNHH Máy Thu hoạch Deer Jianlian và Công ty Máy kéo Deer Tiantuo; New Holland Beidahua Tractor và New Holland – Shanghai Tractor, các hãng Kubota và Yanmar của Nhật Bản, Tongyang của Hàn Quốc cũng đã thành lập công ty liên doanh hay công ty tự đầu tư toàn bộ vốn để chế tạo máy cấy và máy gặt đập liên hợp lúa
Cơ chế quản lý nông nghiệp Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng: Đã cùng trải qua một thời kỳ quản lý theo kiểu tập trung, bao cấp; Đã thực hiện chính sách cải cách, đổi mới, mở cửa; Hiện nay đều dựa trên cơ sở kinh tế hộ nông dân tự chủ làm nền tảng; Phần lớn kinh tế hộ nông dân còn ở quy mô nhỏ, năng lực kinh tế còn nhiều hạn chế TQ cải cách sớm hơn Việt Nam 10 năm và đang có bước phát triển khá mạnh Chuyển sang cơ chế mới, TQ đã khắc phục cơ bản những nhược điểm trên Kinh tế hộ nông dân từng bước được phục hồi và tăng trưởng Trong lĩnh vực CGH nông nghiệp, TQ có bề dày kinh nghiệm hơn 60 năm qua và gần đây TQ đã thu
Trang 26được nhiều kết quả đáng khích lệ Chính phủ Trung quốc (cả trung ương và địa phương) đã có những chính sách được đánh giá là khá hiệu quả trong việc thúc đẩy CGH nông nghiệp Nhiều chính sách như chính sách hỗ trợ tài chính cho người mua máy, chính sách hỗ trợ sản xuất phân phối máy nông nghiệp
và nhất là gần đây Quốc vụ Viện Trung quốc đã ban hành các luật về Cơ giới hoá nông nghiệp, Luật an toàn máy nông nghiệp, tất cả các chính sách này rất đáng để Việt nam tham khảo
Hiện nay Trung Quốc đang là nhà cung cấp máy GĐLH chủ yếu (chiến hơn 80%) lượng máy ở Việt nam và ở ĐBSCL Các máy GĐLH của Trung quốc được xuất khẩu nguyên chiếc sang Việt nam lần đầu tiên là năm 2003,
nhưng ngay sau đó đã được nông dân, đặc biệt là nông dân ĐBSCL đón nhận
Máy GĐLH của Trung quốc có nhiều ưu điểm như tiêu hao nhiên liệu ở mức trung bình, dễ sử dụng, giá cả không quá cao Năm 2008 và 2009, mỗi năm có
từ 600 đến gần 1000 máy GĐLH lúa được bán vào Việt nam [7, 24]
Tỷ lệ cơ giới hoá nông nghiệp của TQ hiện nay là: Khâu làm đất: 87%; Gieo cấy: 33%; Thu hoạch: 27% Từ năm 2003 tốc độ tăng trưởng hàng năm
về tổng giá trị sản phẩm và doanh thu bán hàng máy móc nông nghiêp đã vượt quá 25%, năm 2007 tổng giá trị sản phẩm đã đạt trên 150 tỷ NDT
Tổng số máy kéo công suất lớn và vừa năm 2008 đã gấp 5,0 lần năm
2002, số lượng gần 300.000 chiếc năm 2009 Số lượng máy gặt đập liên hợp năm 2006 tăng gấp 4,32 lần năm 2002, đạt đến 50.000 chiếc
Có 3 nguyên nhân chính sau đây tạo nên sự phát triển nhanh số lượng máy nông nghiệp ứng dụng vào sản xuất của Trung Quốc, đó là:
- Chính sách khuyến khích của Chính phủ Trung quốc: Chính phủ
Trung Quốc đã nhận thức rõ vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông thôn và nông dân, vì vậy đã ban hành nhiều chính sách phù hợp với nông dân, tăng thêm trợ cấp tài chính cho nông nghiệp, đặc biệt là thiết lập các chính sách trợ cấp cho nông dân trong việc mua máy móc nông nghiệp
Trang 27- Xã hội hoá hoạt động cơ khí nông nghiệp: Vấn đề xã hội hoá các
dịch vụ máy nông nghiệp ở Trung Quốc phát triển rất nhanh Đến năm 2007
đã có 35 triệu hộ chuyên môn hoá về máy nông nghiệp, thu nhập các hoạt động năm 2006 là 282,9 triệu RMB Yuan
Dịch vụ máy nông nghiệp đã bao trùm tất cả các lĩnh vực nông nghiệp: Hoạt động dịch vụ máy nông nghiệp đã tham gia vào các lĩnh vực canh tác, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngành nghề nông thôn Đến năm 2007, các doanh nghiệp Trung Quốc có thể chế tạo 3.000 loại máy nông nghiệp khác nhau Đến năm 2006 cả nước đã có 1.735 doanh nghiệp hoạt động, đưa lại giá trị sản lượng là 131,984 tỷ NDT, thu hút 369.000 người lao động [7,22]
- Điều chỉnh cơ cấu ngành nông nghiệp: Điều chỉnh cơ cấu ngành
nông nghiệp theo hướng ưu tiên sản xuất ngũ cốc để phát triển tổng thể các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, ngành nghề phụ, chuyển từ sản xuất nông
nghiệp truyền thống sang công nghiệp hoá nông nghiệp
Hàn Quốc với số dân là 44,5 triệu người, khoảng 1,56 triệu hộ nông
dân Lúa gạo là cây lương thực quan trọng nhất ở Hàn Quốc Máy móc nhỏ và vừa phục vụ CGH nông nghiệp đã thực sự hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế của đất nước và chuyển đổi lao động sang các khu vực khác, đồng thời giúp nông dân mở rộng dần quy mô sản xuất
CGH nông nghiệp Hàn Quốc đạt được trong giai đoạn dài Trước những năm 1960, dân số nông nghiệp chiếm hơn 50% tổng dân số, khi đó sức kéo động vật vẫn được sử dụng rộng rãi Từ năm 1970, với kế hoạch 5 năm đầu tiên, các máy móc thiết bị nông nghiệp công nghệ từ Nhật Bản bắt đầu được giới thiệu và đưa vào Hàn Quốc Đến những năm 1980, công nghiệp phát triển đã thu một số lượng lớn lao động, nhất là lao động nam giới, trẻ khoẻ từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và đô thị Ở nông thôn còn lại chủ yếu là phụ nữ, người già Từ đây Chính phủ đã bắt đầu áp dụng các chính sách CGH nông nghiệp toàn diện Máy móc thiết bị và động cơ đã dần dần
Trang 28thay thế sức kéo động vật Sang những năm 1990, trong ngành trồng lúa ở tất
cả các khâu như cày, bừa làm đất, cấy, chăm sóc bảo vệ thực vật và thu hoạch
về cơ bản đã được CGH Ở Hàn Quốc chủ yếu được áp dụng các máy móc nông nghiệp cỡ nhỏ [7,23]
Trong canh tác lúa Hàn Quốc mức độ CGH đã được hoàn thiện về cơ bản Các chính sách của Chính phủ thúc đẩy CGH nông nghiệp đã đóng một vai trò quan trọng vào thành công này Năm 1994, Hàn Quốc đã ban hành và thực hiện pháp luật "Khuyến khích CGH nông nghiệp" Trong luật này quy định, Chính phủ hoặc chính quyền địa phương sử dụng ngân sách để hỗ trợ nông dân mua máy móc thiết bị nông nghiệp hoặc liên kết với các hãng sản xuất máy móc thiết bị nông nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm do các hãng máy sản xuất ra Chính phủ cũng hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ nhu cầu tài chính, tín dụng cho các nhà sản xuất máy nông nghiệp, các nhà phân phối bán hàng Chính phủ luôn dành các khoản tín dụng ưu đãi đối với khu vực sản xuất máy nông nghiệp Đến năm 1995, khi nông nghiệp đã đạt được sự phát triển đáng kể Chính phủ hàn Quốc đã bắt đầu thực hiện chính sách giảm dần trợ cấp lãi suất cho nông dân vay vốn từ 4% xuống chỉ còn 3%/năm
Nhật Bản là một nước có dân số khá lớn, sản xuất lương thực có vị trí
quan trọng Sau Thế Chiến II, Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu quan tâm hơn tới nông nghiệp, phát triển mạnh mẽ CGH nông nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp Phát triển CGH nông nghiệp của Nhật Bản đã bắt đầu vào năm 1947, sau gần 40 năm, sản xuất lúa gạo đã hoàn toàn được CGH
Trang 29Hiện tại, Chính phủ khuyến khích các gia đình (từ 3 trở lên) mua chung các phẩm máy móc nông nghiệp bằng cách hỗ trợ từ 1/3 đến 1/2 giá máy Nếu nông dân mua các sản phẩm máy móc thiết bị nông nghiệp tiên tiến sẽ được hưởng vay vốn lãi suất thấp trên các khoản vay ngân hàng ở mức thấp hơn 3%, trong khi lãi suất trên thị trường lên đến 10% [7,22]
Năng suất lúa trung bình hiện nay của Nhật bản là 350 kg /acre Với sự cải thiện về cơ sở hạ tầng nông nghiệp và máy móc thiết bị nông nghiệp có hiệu năng cao, đơn vị thời gian lao động có xu hướng giảm, trong năm 2006 chi phí lao động tính bằng giờ lao động trực tiếp cho làm lúa chỉ là 20 giờ/acre Máy cấy hiện nay tỷ lệ đã đảm nhận 99,8% diện tích, máy gặt đập liên hợp là 91% Các tổ chức tập thể mua sử dụng chung máy móc thiết bị ngày càng được chính phủ khuyến khích Hiện nay, khâu làm mạ tập thể đã chiếm 17% diện tích, cơ sở sấy chung đảm nhiệm đến 29% sản lượng Hiện tại, một trong những ưu tiên về chính sách của Chính phủ Nhật bản trong CGH nông nghiệp hướng vào việc khuyến khích sản xuất và sử dụng các máy nông nghiệp an toàn với sức khoẻ con người, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường
Những năm 1950 của thế kỷ trước, khâu làm đất được cơ giới hoá cùng với việc phổ biến máy kéo nhỏ 2 bánh Những năm 1960, sản xuất trong nước các máy kéo 4 bánh (15 – 25PS), máy làm đất, máy cấy và máy thu hoạch liên hợp phát triển, đồng thời hệ thống CGH đồng bộ sản xuất lúa bắt đầu được thực hiện, đặc biệt là khâu cấy và khâu thu hoặch
Thái Lan có điều kiện sản xuất nông nghiệp khá giống với Việt Nam
Sản phẩm nông nghiệp của Thái bao gồm chủ yếu là lúa gạo, trái cây, thuỷ sản và một số sản phẩm chăn nuôi khác
Sản xuất của Thái lan với hơn 10 triệu ha canh tác là đối thủ canh tranh
số 1 với việt nam trong xuất khẩu gạo hiện nay Gạo thái lan hiện nay có chất
Trang 30lượng khá tốt, giá bán cạnh tranh một phần là nhờ thành quả của các chinh sách CGH ngành nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng Nếu mức độ trang bị động lực của nông nghiệp Việt Nam hiện nay bình quân chỉ đạt đạt 1,16 CV/ha, thì Thái Lan đã đạt 4,0 CV/ha, Hàn Quốc 4,2 CV/ha, Trung Quốc đạt trên 6 CV/ha [7]
Một trong những tiêu chí để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững và hiện đại hóa là CGH nông nghiệp và áp dụng các quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến Thái Lan chú trọng phát triển CGH nhằm đưa nông nghiệp
đi vào thâm canh, cải tạo và xây dựng nông thôn Thực hiện nhiều chính sách
ưu đãi đối với hệ thống sau thu hoạch như: Miễn thuế thu nhập cho các doanh nghiệp mới đầu tư vào nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch; Giảm 5-10%
số thuế phải nộp hàng năm đối với đầu tư vào các lĩnh vực bảo quản, chế biến nông sản
Xuất phát điểm không có ngành cơ khí phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc hay TQ, nhưng Thái lan đã khá thành công trong phát triển CGH nông nghiệp nhờ một chiến lược CGH hợp lý như: Nhà nước khuyến khích nhập máy móc và công nghệ phục vụ CGHNN Các máy móc công nghệ được nhà nước miễn giảm thuế nhập khẩu, hỗ trợ tài chính, tiếp cận thị trường Miễn thuế nhập khẩu máy móc thiết bị và chuyển giao công nghệ của nước ngoài; giảm 5% thuế thu nhập của công ty trong 5 năm sau thời kỳ được miễn thuế; giảm gấp đôi thuế thu nhập về điện nước, giao thông vận tải trong một năm cho các cơ sở kinh doanh xuất khẩu gạo; Xây dựng các bộ quy chuẩn chất lượng về máy nông nghiệp Các máy móc và phụ kiện bất kể có nguồn gốc từ đâu đều tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng máy nông nghiệp Nhờ vậy mà các máy móc có thể sử dụng linh kiện thay thế của nhau; Phát triển sản xuất linh kiện thay thế và hệ thống cơ sở sửa chữa nông cụ, máy nông nghiệp ở nông thôn Nhà nước khuyến khích thành lập và phát triển các
cơ sở sản xuất kể cả cơ sở sản xuất nhỏ tham gia sản xuất linh kiện máy nông
Trang 31nghiệp theo đúng tiêu chuẩn và quy chuẩn quốc gia Khuyến khích phát triển mạng lưới xí nghiệp cơ khí nhỏ và vừa của tư nhân ở các thành phố, thị trấn
và nông thôn Hiện Thái Lan có tới hơn 1/4 số xí nghiệp gia công sản phẩm được xây dựng ngay tại nông thôn; Hoàn thiện công nghệ và tổ chức sản xuất máy trong nước Khuyến khích nông dân mua máy móc do các xí nghiệp cơ khí trong nước chế tạo, có cơ chế bảo hành và sửa chữa miễn phí trong vòng
từ 1 đến 3 năm Nhờ vậy, mà hiện nay các máy kể cả máy gặt đập liên hợp mang nhãn hiệu Thái Lan đã ra đời Một số còn được xuất khẩu Ở ĐBSCL hiện nay đã có mặt nhiều sản phẩm cơ khí của người Thái
1.2 THỰC TRẠNG CGH SẢN XUẤT LÚA TRONG NƯỚC
1.2.1 CGH sản xuất lúa và vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá NNNT
Nghị quyết Trung ương 7 khoá X đã khẳng định mục tiêu đến năm
2020 “Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài” Với mục tiêu đó, vấn đề thúc đẩy CGH ngành nông nghiệp nói chung và CGH ngành trồng lúa nói riêng là yêu cầu cấp thiết
Thế kỷ 20, đã chứng kiến sự tiến bộ vượt bậc của quá trình cơ giới hóa
và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Các nền nông nghiệp được xem là hiện đại xuất hiện càng nhiều Nhưng đi kèm với nó là sự gia tăng khoảng cách của năng suất lao động giữa các loại hình nông nghiệp này
Vào đầu thế kỷ 20, khoảng cách trung bình về năng suất lao động (tính bằng sản lượng ngũ cốc sản xuất được/lao động/năm) giữa các nền nông nghiệp được coi là phát triển với các nền nông nghiệp kém phát triển chỉ là 10 lần Đến giữa thế kỷ 20, khoảng cách này là 50 lần và hiện nay, đầu thế kỷ 21, mức chênh lệch năng suất lao động này đã là 100 lần Sự gia tăng về khoảng
Trang 32cách năng suất lao động trên đây chủ yếu là do tiến bộ trong cơ khí hoá, hoá học hoá và công nghệ sinh học Để không tụt hậu, để có thể đạt được mục tiêu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, cần phải đẩy mạnh CGH trong nông nghiệp nói chung và CGH ngành trồng lúa nói riêng
Ở nước ta hiện nay, nền nông nghiệp gia đình đã được xác lập Hộ nông dân trở thành đơn vị sản xuất tự chủ Những thành tựu đổi mới ở Việt nam từ trước đến nay và cả từ nay về sau có thể nói phụ thuộc rất nhiều vào thái độ hỗ trợ của chúng ta đối với khu vực kinh tế này
Thực tế cho thấy trong thời gian qua, kinh tế của các nông hộ trồng lúa đang gặp nhiều khó khăn Một trong những trở ngại mà Việt Nam cũng như nhiều nước có nền văn minh lúa nước phát triển đó là mức độ tập trung dân số cao ở các vùng đồng bằng, các khu vực canh tác lúa nước khiến cho tình trạng manh mún đất đai diễn ra phổ biến Thu nhập của người trồng lúa vì thế càng thấp Để cải thiện tình trạng này, khoa học công nghệ (KHCN), trong đó có cả vấn đề CGH là giải pháp hàng đầu và quan trọng bậc nhất hiện nay Đây chính là giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế hộ nói chung và giảm nghèo nói riêng bởi vì quá trình CGH sản xuất lúa sẽ giúp họ nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm bớt chi phí và tăng thu nhập
Ở trong nước, gần 10 triệu hộ sản xuất lúa (trong đó ĐBSCL khoảng 3 triệu) đang gặp những khó khăn nhất định do khả năng tập trung vốn và đất khá hạn chế Tuy nhiên, theo cách hiểu một chiều từ xưa tới nay là cách hiểu chưa thật đầy đủ rằng chỉ một khi việc tích tụ ruộng đất thành công thì nhu cầu cơ giới hoá mới xuất hiện Trên thực tế đây là mối quan hệ tương hỗ Chính sự phát triển CGH nông nghiệp là biện pháp để thúc đẩy tăng quy mô của ruộng đất, tăng hiệu quả kinh tế nông hộ
Kinh nghiệm nhiều nước sản xuất lúa đã thành công trong việc CGH sản xuất (ví dụ Đài Loan, Nhật bản), không nhất thiết quy mô hộ sản xuất phải thật lớn thì hiệu quả công nghệ mới cao Những máy và thiết bị CGH có
Trang 33công suất trung bình và nhỏ, phương thức tổ chức khai thác máy kết hợp giữa
“đáp ứng nhu cầu dịch vụ của hộ và cung cấp dịch vụ cho các hộ khác” đã
giúp các nước này thành công khi mà quy mô hộ trồng lúa khá khiêm tốn,
khoảng 1,0 ha/hộ đối với Nhật bản và 3,0 ha/hộ đối với Đài loan [7]
1.2.2 Kết quả điều tra, khảo sát thực trạng CGH sản xuất lúa tại một
số tỉnh ở ĐBSCL và vùng ĐBSH
Phần này đã được nêu chi tiết trong các báo cáo chuyên đề, ở đây chúng tôi chỉ tổng hợp các nội dung chính sau đây
1.2.2.1 CGH sản xuất lúa ở ĐBSCL: ĐBSCL bao gồm 13 tỉnh, thành
phố là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, TP Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu và Cà Mau Tùy điều kiện địa hình, tính chất đất, chế độ thủy văn và phương thức trồng
lúa, ĐBSCL được chia thành ba vùng Vùng phía Bắc được giới hạn bởi sông
Vàm Cỏ Tây đến Tân An, qua Mỹ Tho, Cần Thơ rồi ngược lên Rạch Giá
Vùng Nam châu thổ bắt đầu từ đoạn sông Tiền phân nhánh chạy dài xuống biển Đông Vùng bán đảo Cà Mau ở phía Tây Nam châu thổ là một vùng đất
mới, xa hệ thống sông Cửu Long nhưng cũng được bồi đắp bằng phù sa sông Cửu Long do các dòng biển ở biển Đông và vịnh Thái Lan đưa xuống
ĐBSCL là vùng trồng lúa lớn nhất cả nước, với cánh đồng rộng từ 1.000 ÷ 2.000 ha; mỗi thửa ruộng từ 1÷5 ha Số thửa ruộng từ 0,5 ha với chiếm 60% tổng số diện tích của Vùng Về qui mô sử dụng, bình quân của hộ cũng khá lớn, trung bình cao gấp 3÷5 lần so với ĐBSH Tuy nhiên, khó khăn của vùng lúa ĐBSCL là bị kênh, rạch chia cắt, cản trở đến việc di chuyển thiết bị trong quá trình CGH Vì vậy, quy họach và cải tạo tốt đồng ruộng sẽ tạo điều kiện cho máy móc họat động tốt, tiết kiệm nhiên liệu, ít hư hỏng, hiệu quả kinh tế cao, người vận hành máy đỡ mệt mỏi do không phải tác động nhiều lên cơ cấu lái.v.v
Quy họach kết hợp cải tạo đồng ruộng là vấn đề cần thiết, để vừa thuận lợi cho việc sử dụng lại vừa thúc đẩy nhanh CGH sản xuất nông nghiệp nói
Trang 34chung và sản xuất lúa nói riêng Thực tế ở ĐBSCL cho thấy đồng ruộng không được quy họach (giao thông, thủy lợi nội đồng, hệ thống cung cấp điện, quy họach vùng sản xuất lúa tập trung v.v.) và không cải tạo (dồn thửa, san phẳng) thì việc sử dụng máy móc thiết bị rất khó khăn, như di chuyển đến đồng ruộng cũng rất khó, dễ bị lầy thụt, mặt ruộng mấp mô, lô thửa nhỏ, hẹp, gây khó khăn cho người lái, máy móc thường xuyên phải di chuyển để có địa bàn họat động,.v.v Ngòai những khó khăn trên, các ýêu tố này còn làm tăng chi phí khi di chuyển, khi quay vòng đầu bờ v.v làm giảm ngày họat động hữu hiệu trong vụ, cũng như diện tích thực hiện công việc của máy
Về địa hình đất đai của vùng ĐBSCL nhìn chung khá bằng phẳng, màu
mỡ, lô thửa một số vùng rộng lớn (như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên v.v), thuận tiện cho việc canh tác và sử dụng máy móc thiết bị phục
vụ các khâu canh tác các loại cây trồng cũng như cây lúa Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp ở ĐBSCL chiếm 63,1%, so với cả nước thì cao hơn rất nhiều Tổng diện tích đất canh tac nông nghiệp của cả vùng năm 2009 là trên 3 triệu
ha, trong đó đất trồng lúa là 2.704.128 ha, chiếm 88,3% Trong số 13 tỉnh có 6 tỉnh có diện tích trồng lúa trên 100.000ha và 3 tỉnh có diện tích trên 200.000ha, đó là An Giang (231.654 ha), Đồng Tháp (221.694 ha), Kiên Giang (266.500 ha) Dự kiến quy họach diện tích các lọai cây trồng, trong đó lúa vẫn có diện tích rất lớn: 2015: 3,5464 triệu ha, 2020: 3,4335 triệu ha
Kết quả “Điều tra thực trạng cơ giơi hoá sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long” cho thấy: Kích thước lô thửa của các hộ sử
dụng dịch vụ CGH, trình bày ở bảng 4-1, có 1.178 thửa của 195 hộ, thì tập trung nhiều trong khỏang từ 0,4ha đến 1ha, chiếm chiếm 63,8% (từ 0,7ha đến 1 ha chiếm 32%), kích thước từ 1,0-1,5ha chiếm 11%, từ 1,5 đến 2ha có 5 % và trên 2ha có 8 % nếu tính kích thước lô thửa từ 1,5ha trở lên có 12,8%, tính từ 1ha trở lên 24 % Điều này cho thấy kích thước
lô thửa rất nhỏ, từ 1ha trở xuống chiếm tới 76% Kích thước lô thửa càng
Trang 35nhỏ sẽ ảnh hưởng nhiều đến năng suất làm việc của máy, thời gian quay
đầu bờ tăng, thời gian hữu ích sẽ giảm, hiệu quả kinh tế không cao Vì
thế trong quá trình lựa chọn lọai động lực cũng chú ý đến lọai dải công
suất cho máy kéo như thế nào cho phù hợp với kích thước lô thửa Kích
thước lô thửa không lớn, còn diện tích đất nông nghiệp trống lúa của mỗi hộ
cũng không lớn Quy mô diện tích được điều tra trực tiếp 585 hộ của 13
tỉnh ĐBSCL, cho thấy quy mô diện tích trung bình của các hộ trồng lúa
là 2,206ha, diện tích 0,907ha và bình quân mỗi người là 0,467ha
Diện tích trung bình mỗi hộ ở mỗi tỉnh trong vùng cũng khác nhau Lớn
nhất là Đồng Tháp và Long An, được thể hiện trên bảng 1.1
Bảng 1.1
Tên tỉnh Diện tích trung
bình 1 hộ, ha
Diện tích trung bình ha/người
Diện tích trung bình 1 thửa, ha
Trang 36Kế đền là các tỉnh có diện tích trung bình mỗi hộ cũng tương đối lớn là Kiên Giang (3,314ha); Cần Thơ (2,496ha); Bạc Liệu (2,32ha); Trà Vinh, An Giang, Sóc Trăng (trên 2ha), còn lại là các tỉnh có diện tích trung bình mỗi hộ dưới 1,5 ha, đặc biệt là Bến Tre chỉ có 0,561ha mà thôi Dựa trên diện tích canh tác lúa của các hộ và diện tích trung bình lô thửa, cho thấy mỗi hộ cũng phải có trung bình 4-7 thửa Như vậy việc vận hành máy cũng khó khăn về nhiều vấn đề, anh hưởng năng suất của máy, lợi nhuận của người làm dịch vụ cơ giới hóa
Hệ thống kênh mương nội đồng và giao thông nông thôn của ở ĐBSCL chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất, nhiều hệ thống xuông cấp chỉ phát huy được 60-70% công suất thiết kế, 19% kênh mương được kiên cố hóa Phần lớn đường nông thôn chất lượng thấp, việc duy tu bảo dưỡng kém, thiếu nhiều đường liên thôn Hệ thống thủy lợi nội đồng, giao thông nông thôn, chưa được đầu tư nhiều, nên rất khó vận chuyển máy móc ra vào đồng ruộng Điều này cũng ảnh hưởng trong việc đưa thiết bị lớn vào sản xuất
Quy họach và cải tạo đồng ruộng cũng là vấn đề đang được bà con nông dân quan tâm Đồng ruộng được quy họach thành các vùng sản xuất tập trung, không những có lợi cho việc có nguồn cung cấp hàng hóa lớn cho xuất khẩu, mà còn có lợi cho việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất Hiện nay ở ĐBSCL chưa quy họach được nhiều các vùng sản xuất tập trung theo hướng hiện đại, mà chỉ mới tập trung sản xuất độc canh theo vùng Bên cạnh quy họach cũng cần quan tâm đến cải tạo mặt bằng đồng ruộng và độ phì nhiêu cho đất Trong đó cải tạo mặt bằng đồng ruộng sẽ cho năng suất lúa cao, tiết kiệm nước, phân và các chi phí sản xuất Đồng ruộng bằng phẳng sẽ làm cho ruộng khô đều, không bị đọng nước, nền ruộng cứng đều, tránh cho máy móc
bị lầy thụt Công việc cải tạo đồng ruộng ở ĐBSCL chưa được chú ý và quan tâm nhiều của các cấp quản lý nhà nước, do vậy còn nhiều khu mức chênh lệch mặt bằng còn rất lớn, có khi cả nửa mét chênh lệch độ cao, điều này ảnh hưởng đến quá trình họat động của máy
Trang 37Cũng trong đợt điều tra vừa qua cho thấy 10 yếu tố chính tác động dẫn đến hạn chế CGH trong sản xuất lúa ở ĐBSCL, thì đa số các yếu tố có mức hạn chế lớn tới khả năng sử dụng máy Trong đó có các yếu tố: Kích thước ruộng nhỏ, phân tán, sản xuất nông nghiệp phân tán chưa hình thành vùng chuyên canh tập trung (có tỷ lệ của mức lớn và rất lớn làm hạn chế khả năng
sử dụng máy lên tới 83,4%), Thuỷ lợi giao thông chưa bảo đảm (có tỷ lệ 54,9%), là những yếu tố có tác động mạnh làm cho việc sử dụng cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp [3]
Từ những kết qua thu thập và khảo sát trong điều tra, phần nào cho thấy nhiều vấn đề cần quan tâm đến việc đưa cơ giới vào sản xuất lúa ở ĐBSCL Trước hết trong những năm tới đây cần đầu tư mạnh vào các khâu quy họach
và cải tạo đồng ruộng, tránh tình trạng sản xuất manh múm Thực hiện quy họach và cải tạo mới có thể biết rõ hướng đầu tư máy móc cho phù hợp Cải tạo đồng ruộng mới có lô thửa rộng, mặt ruộng bằng phẳng, sẽ giúp cho việc họat động của máy tốt hơn
Hiện trạng kích thước lô thửa còn nhỏ, diện tích sản xuất lúa của nông
hộ còn chưa lớn, vì vậy cũng cần có những chủ trương ”dồn điền đổi thửa” và
mở rộng ”hạn điền” Riêng ”dồn điền đổi thửa” ở ĐBSCL không cần phải áp dụng như các khu khác trong cả nước, mà cần có sự tác động của nhà nước và chính quyền địa phương các cấp.Do đặc điểm đồng ruộng của ĐBSCL là tương đối bằng phẳng Do vậy chỉ cần tổ chức các hộ trong các cánh đồng vào các tổ hay hợp tác xã Tổ chức tổ hay hợp tác xã chỉ cần tập trung kinh doanh một hay hai lĩnh vực như bơm nước, làm đất, thu họach, cung cấp vật tư v.v Ranh giới ruộng của các hộ chỉ cần đánh dấu bằng các cọc mốc là có thể tập trung được các lô thửa lớn Nhưng vùng có mức chênh lệch lớn thì cần ”dồn điền đổi thửa” và khoanh vùng đắp đập
Cơ giới hoá khâu làm đất: Theo tài liệu Tổng điều tra nông thôn, nông
nghiệp và thuỷ sản năm 2006 và qua kiểm tra, tổng hợp của chúng tôi năm
Trang 382008, CGH khâu làm đất trồng cây hàng năm và đất trồng lúa của toàn vùng
ĐBSCL và của từng tỉnh cho thấy mức độ CGH làm đất là rất cao, trên 80%,
được thể hiện trên bảng 1.2 [4]
CGH khâu gieo cấy: Cho đến nay, ở ĐBSCL đa số nông dân dùng
phương pháp sạ lan (85-90%) Nguyên nhân một phần là do tập quán từ lâu
đời, một phần là từ khi chuyển canh tác lúa mùa một vụ sang trồng lúa cao
sản, nếu cấy thủ công, với mật độ mùa vụ trong năm: 2-3 vu và mật độ cấy
trên 1 m2 đối với giống lúa cao sản rất lớn sẽ tốn rất nhiều công
Phương pháp sạ lan có ưu điểm là đơn giản, dễ thao tác, không đòi hỏi
mặt đồng phải bằng phẳng, v.v… nhưng cũng có một số nhược điểm như: tốn
nhiều hạt giống (200 - 300kg/ha), cây lúa dễ đổ ngả và phát sinh nhiều sâu
bệnh (do sạ dày), mầm mạ là mồi ngon cho ốc bươu vàng và chuột phá hại,
khó cơ giới trong các khâu chăm sóc và thu hoạch Với công cụ và máy gieo
Trang 39lúa theo hàng (cải tiến) của Viện lúa ĐBSCL, mật độ gieo giảm hơn một nửa
so với sạ lan (chỉ 70 - 100kg/ha), vì vậy công cụ này vừa rẻ tiền vừa rất phù hợp trong khâu gieo lúa, mang lại hiệu quả lớn
Đến nay, có khoảng 10-15% diện tích trồng lúa trong vùng dùng công
cụ và máy gieo lúa theo hàng Để đáp ứng nhu cầu gieo bằng máy trên diện rộng, Viện lúa ĐBSCL đã nghiên cứu chế tạo ra máy gieo lúa liên hợp với máy kéo 4 bánh, năng suất khoảng 5ha/ngày, nhưng đến nay chỉ dùng ở nơi
có diện tích ruộng lớn
Hiện nay đã có một số công ty từ các nước Nhật Bản, Đức và Hàn Quốc đang tìm kiếm cơ hội đưa máy cấy lúa vào vùng ĐBSCL Công ty MITSUBISHI đã đưa vào thử nghiệm máy cấy tại ĐBSCL
CGH khâu cấy lúa và làm mạ đang được thí điểm ở các tỉnh trong vùng lúa cả Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và ĐBSCL Nhưng đang ở quy mô nhỏ
vì chưa có được máy cấy và quy trình làm mạ thích hợp với từng vùng
Cơ giới hoá khâu thu hoạch: CGH khâu gặt lúa phát triển nhanh
trong ba năm trỏ lại đây Về số lượng máy luôn thay đổi theo thời gian ở ĐBSCL Do hiện nay chúng ta chưa tổ chức đăng kí hoặc có biện pháp quản lí
cụ thể nên rất khó xác định chính xác số lượng máy thu hoạch ở ĐBSCL nhất
là trong điều kiện các nguồn cung cấp máy liên tục cung cấp ra thị trường (máy nhập khẩu, máy nội địa) Các số liệu máy nhập khẩu mà chúng tôi có được từ hệ thống thương mại cho thấy từ tháng 1/2009 đến tháng 9/2009 tổng
số máy đưa về vùng này ước trong khoảng 1.500 chiếc Vì thế đến nay tổng
số lượng máy GĐLH ở ĐBSCL ước tính phải vào khoảng khoảng 4.200 chiếc, tăng khoảng 40% so với năm 2008 [1]
Do chuyển dịch cơ cấu sản xuất và các khu công nghiệp, khu chế xuất phát triển nhanh, thu hút nhiều lao động trẻ ở nông thôn, Mặt khác cũng do sự phá họai của bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá, mà tác nhân là rầy nâu, vì thế cần
Trang 40phải sạ đồng lọat để né rầy, nên khi thu họach lại cần nhiều lao động tập trung trong thời gian ngắn Vì vậy, máy gặt đập liên hợp đã phát triển khá nhanh Kiên Giang gần 1.000 chiếc (cuối 2008); An Giang 267 chiếc Máy gặt xếp dải cũng phát triển nhanh Long An gần 2.000 chiếc, Đồng Tháp 550 chiếc; Tiền Giang 300 chiếc, v.v… Diện tích thu hoạch bằng máy ước đạt khoảng 15% tổng diện tích trồng lúa của cả vùng Mặc dù thị trường máy gặt đập liên hợp phát triển khá nhanh, nhưng do công nghệ chế tạo máy của các cơ sở trong nước còn yếu, vì vậy số lượng máy gặt đập nhập từ Trung Quốc về được nông dân ưa chuộng, mặc dù còn nhiều nhược điểm cần được hoàn thiện cho phù hợp điều kiện vùng lúa ở ĐBSCL
Hiện nay cũng đã có một số công ty của Nhật (KUBOTA) và công ty trong nước nhập máy từ Hàn Quốc về Các máy của hai nước này có chất lượng cao, nhưng giá cả quá cao, chưa phù hợp với khả năng đầu tư của bà con nông dân trong nươc Nhưng do lợi nhuận từ khâu thu họach lúa bằng máy GĐLH, lọai máy này hiện nay đang được tiêu thụ nhanh ở ĐBSCL
CGH khâu đập lúa đạt mức độ rất cao Cho100 hộ nông nghiệp từ 0,3÷2,5 máy và trên 100ha đất trồng lúa đạt từ 0,8÷3,12 máy Với mức độ đầu
tư như trên, diện tích lúa được đập bằng máy đạt gần 100%
Cơ giới khâu làm khô và bảo quản: Trong vài năm gần đây, với sự nỗ
lực của Trung tâm Khuyến nông các tỉnh, được trợ giúp của dự án DANIDA [1], nông dân ĐBSCL đã quan tâm đến việc dùng máy sấy lúa sau thu hoạch Hiện toàn vùng có khoảng 12.025 máy sấy, chủ yếu l máy sấy tĩnh vỉ ngang 4 - 16T/mẻ Ngoài ra, ở các nông trường lớn sử dụng máy sấy tuần hoàn năng suất đến 100 tấn/ngày Tính đến nay, ĐBSCL có khoảng 30% tổng sản lượng lúa sau thu hoạch dùng máy sấy làm khô hạt trong mùa mưa Thu hoạch trong mùa nắng (vụ Đông Xuân) rất ít người dùng máy sấy mà phơi nắng tự nhiên là chính [1,2,5,6,24]