TÓM TẮTNhằm hạn chế những tổn thất về kinh tế trong sản xuất kinh doanh, đề tài "Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật phòng trừ triệu chứng bệnh u bướu trên cây bạch đàn U6" đã được thực hiện t
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
CẤP BỘ NĂM 2010
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ TRIỆU CHỨNG BỆNH U BƯỚU TRÊN CÂY BẠCH ĐÀN U6”
Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ trì: VIỆN NGHIÊN CỨU
Chủ nhiệm đề tài: KS Hà Ngọc Anh
8683
PHÚ THỌ, 2010
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt… ……… ……… i
Danh mục các bảng……… ……… ii
Danh mục các biểu đồ và hình vẽ……… iii
Tóm tắt……….……… ……… iv
PHẦN I: TỔNG QUAN……….……… 1
1.1 Cơ sở pháp lý……….………… 1
1.2 Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài……….……… 1
1.2.1 Tính cấp thiết của đề tài……… ……… 1
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài……… ………… 3
1.3 Địa điểm, đối tượng và nội dung nghiên cứu……… 3
1.3.1 Địa điểm nghiên cứu……….……… ……… 3
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu……… ….… 3
1.3.3 Nội dung nghiên cứu……… …… 3
1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu……… 4
1.4.1 Trên thế giới……… 4
1.4.2 Ở Việt Nam……… … 8
PHẦN II: THỰC NGHIỆM……… 13
2.1 Phương pháp nghiên cứu……… ……… 13
2.1.1 Nghiên cứu phân bố và mức độ gây hại của bệnh……….… 13
2.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh hại đến chất lượng cây con và tiêu chuẩn hom……… ……… 15
2.1.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của vật gây hại để làm cơ sở cho việc phòng trừ……… ……….… 16
2.1.4 Thử nghiệm biện pháp phòng trừ đối với vật gây hại……… 16
2.2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận……… ……… 18
2.2.1 Nghiên cứu phân bố và mức độ gây hại của bệnh……….… 18
2.2.1.1 Phân bố của bệnh hại……… 20
2.2.1.2 Mức độ gây hại của bệnh……… ……… 20
2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh hại đến chất lượng cây con và tiêu chuẩn hom……… ……… 21
2.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của vật gây hại để làm cơ sở cho việc phòng trừ……… ….……… 23
2.2.3.1 Quá trình phát triển của u bướu và vòng đời của L invasa………….………… ……… 23
2.2.3.2 Mùa phát triển của L invasa…… ……… 24
2.2.3.3 Tìm hiểu mối quan hệ giữa sự xuất hiện của L invasa với điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa…… …… …… 25
2.2.4 Thử nghiệm biện pháp phòng trừ đối với vật gây hại……… 28
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 31
3.1 Kết luận……… ……… ………… 31
3.2 Kiến nghị……… ……… 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….… 33
PHỤ LỤC
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
IPM: Quản lí sinh vật hại tổng hợp
N: Dung lượng mẫu
NN & PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 01: Quá trình theo dõi u bướu trên cây con Bạch đàn U6…… ……… 18Bảng 02: Quá trình theo dõi u bướu ở vườn cấp hom Bạch đàn U6…… ……… 19Bảng 03: Phân bố của sinh vật gây hại ở vườn cấp hom Bạch đàn U6 20Bảng 04: Mức độ bị hại của vườn cấp hom Bạch đàn U6……… 20Bảng 05: Tiêu chuẩn hom Bạch đàn U6 bình thường và hom bị u bướu 22
Bảng 06: Kết quả thử nghiệm biện pháp phòng trừ L invasa trên Bạch đàn
U6 28
Bảng 07 Hiệu lực của thuốc trong thử nghiệm biện pháp phòng trừ L invasa
trên Bạch đàn U6 29
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Hình 1 - 4: Quá trình phát triển của u bướu trên Bạch đàn U6……… ……
(1) U bướu thời điểm 2,5 - 3 tháng tuổi có hình dạng, màu sắc và vị trí điển hình (2) Ấu trùng (màu trắng) và nhộng sắp trưởng thành (màu đen) trong u bướu
(3) Các lỗ nơi mà sâu trưởng thành vũ hóa
(4) Sâu trưởng thành
23
Hình 5 - 7: L invasa tại địa điểm nghiên cứu tháng 10/2010……… … …
(5) L invasa xuất hiện và hoạt động
(6) & (7) L invasa thực hiện công việc đẻ trứng
24
Hình 8: Biểu đồ nhiệt độ trung bình của 12 tháng năm 2009 và 2010 26 Hình 9: Biểu đồ độ ẩm không khí trung bình của 12 tháng năm 2009 và 2010 27 Hình 10: Biểu đồ lượng mưa trung bình của 12 tháng năm 2009 và 2010……… 27
Trang 6TÓM TẮT
Nhằm hạn chế những tổn thất về kinh tế trong sản xuất kinh doanh, đề tài
"Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật phòng trừ triệu chứng bệnh u bướu trên cây bạch đàn U6" đã được thực hiện từ năm 2009 đến năm 2010 Trong năm 2010 đề tài có
ba mục tiêu: (i) xác định phân bố của vật gây hại và mức độ bị hại trên cây con và vườn cấp hom; (ii) xác định ảnh hưởng của vật gây hại đến chất lượng cây con và tiêu chuẩn hom; (iii) đề xuất biện pháp kĩ thuật phòng trừ vật gây hại Bằng những phương pháp nghiên cứu cơ bản đối với sâu bệnh hại, đề tài đã thực hiện theo dõi cho cây con và vườn cấp hom Tại địa điểm nghiên cứu trong năm 2010, u bướu bắt đầu xuất hiện từ tháng 10, xuất hiện nhiều và gây hại mạnh từ tháng 11 cho đến
tháng 12 Với tỉ lệ có bệnh là P% = 26,8%, phân bố của L invasa được xếp ở mức
loài ít gặp Với chỉ số hại trung bình là R = 0,11, mức độ bị hại của Bạch đàn U6 là
nhẹ U bướu do L invasa tạo ra trên Bạch đàn U6 ảnh hưởng rõ rệt đến tiêu chuẩn hom, tỉ lệ hom đạt tiêu chuẩn khi bị u bướu chỉ còn 82,2% Một vòng đời của L invasa dài khoảng 4,5 tháng, trong đó các giai đoạn sâu non (ấu trùng) và nhộng có thời gian tồn tại rất dài trong u bướu L invasa xuất hiện và hoạt động mạnh từ
tháng 4 cho đến tháng 10, u bướu của do nó gây ra được phát hiện và gây hại Bạch đàn U6 từ tháng 6 đến tháng 12 Nhiệt độ môi trường ấm là điều kiện thuận lợi giúp
cho L invasa phát triển Để phòng trừ dịch hại u bướu cho Bạch đàn U6 tại vườn
ươm, nghiên cứu đã thử nghiệm 6 chế phẩm bảo vệ thực vật Kết quả cho thấy Conphai 15WP và BrighTin 1.8EC có tác dụng làm giảm số lượng u bướu mạnh nhất Conphai 15WP làm giảm số lượng u bướu từ 19,3 cái xuống còn 8,7 cái, hiệu lực giảm đạt 55,2% BrighTin 1.8EC làm giảm số lượng u bướu từ 16,7 cái xuống còn 8,0 cái, hiệu lực giảm đạt 52,0% Các thuốc bảo vệ thực vật khác cũng có tác dụng làm giảm đáng kể số lượng u bướu và vượt xa so với đối chứng
Trang 7PHẦN I: TỔNG QUAN 1.1 Cơ sở pháp lý
- Căn cứ quyết định số: 6228/QĐ-BCT, ngày 10 tháng 12 năm 2009 của Bộ Công thương về việc Đặt hàng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2010;
- Căn cứ Hợp đồng số: 13.10.RD/HĐ-KHCN ngày 01 tháng 02 năm 2010 về việc Đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
- Căn cứ quyết định số: 09/VNC-QĐ.KHKH ngày 4 tháng 2 năm 2010 của Viện trưởng Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy về việc Giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ năm 2010
1.2 Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Tính cấp thiết của đề tài
Với những ưu điểm về khả năng sinh trưởng và cung cấp gỗ nguyên liệu, bạch đàn là một trong những đối tượng cây trồng rừng chủ yếu ở Việt Nam trong nhiều năm qua Cũng vì lẽ đó, công tác nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao năng suất rừng trồng bạch đàn đã được thực hiện tại nhiều vùng trồng rừng tập trung trên
cả nước Bên cạnh công tác giống và biện pháp kĩ thuật lâm sinh, các hoạt động nghiên cứu quản lí sâu bệnh hại cũng đã đạt được những thành công nhất định đối với bạch đàn ở Việt Nam
Theo Bộ NN & PTNT (2006), thành phần loài sâu hại rừng trồng bạch đàn tương đối phong phú, mức độ hại nhìn chung là trung bình và nhẹ Các loài sâu hại chủ yếu có mức độ nguy hiểm đối với rừng trồng bạch đàn là loài sâu Xén tóc đục
thân (Aristibia approximator) đã gây thành dịch tại Kiên Giang, các loài mối thuộc giống Odontotermes thường phá hại rễ và phần dưới thân của bạch đàn gây thiệt hại
cho rừng non ở miền Bắc và miền Trung Những loài sâu khác tuy gây thiệt hại cho rừng bạch đàn ở các địa phương nhưng diện tích bị hại không lớn Thành phần sâu hại và mức độ phá hại nhiều nhất ở giai đoạn cây mới trồng cho đến 4, 5 năm tuổi
và giảm dần cho đến khi cây 10 năm tuổi
Đối với bệnh hại bạch đàn, bệnh cháy lá do nấm Cylindrocladium
quinqueseptatum rất nghiêm trọng đối với các loài bạch đàn ở miền Trung và miền
Trang 8Nam Việt Nam và cũng có một vài ghi nhận sự xuất hiện của loài nấm này ở miền Bắc (Phạm Quang Thu, 2002; Phạm Quang Thu, 2005a; Bộ NN & PTNT, 2006)
Bệnh khô cành ngọn và đốm lá do nấm Cryptosporiopsis eucalypti phân bố rộng rãi
trên các loài bạch đàn ở các vùng Đông Nam Châu Á, Australia, Ấn Độ và Nam
Mỹ, tuy nhiên mới chỉ được mô tả gần đây (Phạm Quang Thu, 2002; Phạm Quang
Thu, 2005b; Bộ NN & PTNT, 2006) Bệnh héo do vi khuẩn Ralstonia solanacearum mới được phát hiện ở Việt Nam gây hại nghiêm trọng cho Bạch đàn uro (Eucalyptus urophylla) ở vùng Đông Bắc (Phạm Quang Thu, 2006; Bộ NN &
PTNT, 2006) Khu vực bị nhiễm bệnh nặng khoảng 30% cây non bị chết, phổ biến
ở mức 8 - 10% Đối với Bạch đàn uro, bệnh xuất hiện nặng hơn trên những lập địa
đã canh tác lạc hoặc sắn Khi cây trồng trên 2 tuổi bệnh có xu hướng giảm
Tại Trạm thực nghiệm sản xuất giống cây lâm nghiệp, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy - nơi hàng năm sản xuất khoảng trên một triệu cây bạch đàn, thời gian gần đây đã có hiện tượng u bướu gây hại trên dòng Bạch đàn U6 U bướu đã được phát hiện trên cả cây con và vườn cấp hom Dịch hại đã ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng cây con, ảnh hưởng đến chất lượng hom, dẫn đến ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh
Theo Phạm Quang Thu (2004), hiện tượng u bướu đối với các loài bạch đàn
do một loài ong gây ra Đây là loài côn trùng mới xuất hiện ở Việt Nam, gây hại mạnh cho bạch đàn ở vườn ươm và bạch đàn và rừng trồng tuổi non; có xu hướng lan nhanh và đã gây hại trên diện rộng của một số nước trên thế giới Loài ong này
sau đó được xác định là Leptocybe invasa Fisher & La Salle (Phạm Quang Thu và
Nguyễn Quang Dũng, 2008)
Với việc xuất hiện triệu chứng u bướu trên một số loài bạch đàn đang trồng trong nước, cho đến nay, những nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít Bên cạnh thông báo của Phạm Quang Thu từ năm 2004, đến nay mới chỉ có nghiên cứu của chính tác giả này về biện pháp phòng trừ ong u bướu Tác giả đã đi theo hướng tuyển chọn loài, xuất xứ có khả năng chống chịu sự tấn công của ong, đó là một trong những hướng được các nhà khoa học trên thế giới khuyến khích (Phạm Quang Thu và Nguyễn Quang Dũng, 2008)
Trang 9Sâu hại trong vườn ươm tuy mức độ và quy mô hại không lớn như ở rừng trồng nhưng hậu quả của chúng sẽ tồn tại lâu dài, ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng sau này Cây con trong vườn ươm bị sâu hại thường còi cọc, dị dạng, nếu đem trồng tỉ lệ sống thấp và sinh trưởng kém (Nguyễn Văn Độ và Đào Ngọc Quang, 2006) Chọn giống kháng bệnh để sử dụng là một biện pháp có hiệu quả trong việc ngừa bệnh Biện pháp này rất kinh tế vì vừa rẻ tiền, vừa có hiệu quả cao Tuy nhiên, với Bạch đàn U6 tại vườn ươm, các nghiên cứu đến nay chưa đề cập đến Mặt khác, sản xuất vườn ươm cũng có đặc thù riêng, cây con Bạch đàn U6 hiện là một sản
phẩm đang được sử dụng để trồng rừng rộng rãi Vì vậy, thực hiện đề tài "Nghiên
cứu biện pháp kỹ thuật phòng trừ triệu chứng bệnh u bướu trên cây bạch đàn U6" là cần thiết để tránh những tổn thất về kinh tế trong sản xuất kinh doanh
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.2.1 Mục tiêu tổng quát (năm 2009 - 2010)
Nghiên cứu biện pháp phòng trừ tổng hợp triệu chứng u bướu trên cây Bạch đàn U6
1.2.2.2 Mục tiêu trong năm 2010
- Xác định phân bố của vật gây hại và mức độ bị hại trên cây con và vườn cấp hom
- Xác định ảnh hưởng của vật gây hại đến chất lượng cây con và tiêu chuẩn hom
- Đề xuất biện pháp kĩ thuật phòng trừ vật gây hại
1.3 Địa điểm, đối tượng và nội dung nghiên cứu
1.3.1 Địa điểm nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu đã được thực hiện tại Trạm thực nghiệm sản xuất giống cây lâm nghiệp, Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, Phù Ninh, Phù Ninh, Phú Thọ
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
Cây con giai đoạn vườn ươm và vườn cấp hom của dòng Bạch đàn U6 bị u bướu
1.3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu phân bố và mức độ gây hại của bệnh
Trang 10- Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh hại đến chất lượng cây con và tiêu chuẩn hom
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của vật gây hại để làm cơ sở cho việc phòng trừ
- Thử nghiệm biện pháp phòng trừ đối với vật gây hại
1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.4.1 Trên thế giới
Hiện tượng bất thường do u bướu ở thực vật đã xuất hiện khá nhiều trên thế giới, gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế và môi trường sinh thái Ở Australia, một
sinh vật gây hại có tên Bruchophagus fellis Giraul đã gây hại cho loài cam quýt vào
năm 1898 ở khu vực giữa Queensland và New South Wales (Papacek và Smith, 1989) Sự gây hại sau đó đã lan rộng ra nhiều vùng khác ở dọc bờ biển của đất nước này Tuy nhiên, các nghiên cứu để phòng trừ vật gây hại này, lâu sau đó, mới được nghiên cứu ở New South Wales (1958-1973) và ở Queensland (1981-1987)
Gần đây, một sinh vật khác gây hại hàng loạt cho loài Erythrina cũng được phát hiện ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như: Singapore, Đài Loan, Hồng Kông,
Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, Samoa, Guam, Hawaii (La Salle et al., 2009) U bướu do sinh vật gây hại này tạo ra đã ảnh hưởng đến phát triển của lá
và cành non, gây tác động xấu đến hoạt động sinh lí của cây Việc gây hại xảy ra nhiều lần có thể dẫn đến lá rụng và cây chết
Đối với bạch đàn, hiện tượng u bướu hại cây đã xuất hiện nhiều lần từ năm
2000 trở lại đây tại khu vực Đông Bắc Phi, Trung Đông và các nước khu vực Địa
Trung Hải (Mendel et al., 2004) Sinh vật gây hại được xác định là một loài ong có tên Leptocybe invasa Fisher & LaSalle, thuộc họ Eulophidae, bộ cánh màng
(Hymenoptera) Đây cũng là một loài mới được xác định và đặt tên trong thời gian này Loài vật gây hại này tạo ra các u bướu trên gân lá, cuống lá và các thân non của bạch đàn Sự phá hại đó có thể gây tổn thương đáng kể đến cây non, thậm chí làm cây yếu đi một cách nghiêm trọng
Theo Aytar (2006), tại Thổ Nhĩ Kỳ lần đầu tiên L invasa đã được tìm thấy trên lá của Eucalyptus camaldulensis vào năm 2000 Hàng năm ở đây, loài ong này
đã sinh sản 2 hoặc 3 thế hệ gối nhau Mặc dù nó tấn công vào cả cây con vườn ươm,
Trang 11rừng trồng non và già nhưng cây con và rừng non bị ảnh hưởng nhiều hơn so với
rừng già Tại Thổ Nhĩ Kỳ cây chủ thích hợp với L invasa là E camaldulensis và E grandis Tuy nhiên, một vài dòng của E camaldulensis có thể kháng cự lại được sự tấn công của loài ong này, vấn đề vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu L invasa có
thể đẻ chứng từ mặt đất cho đến độ cao 32,7 m trên cây bạch đàn Đây chính là loài chủ yếu hại bạch đàn ở đất nước này
Tại Florida và Bắc Mỹ, L invasa được mô tả khá kĩ lưỡng về hình thái, cây
chủ và ảnh hưởng của loài gây hại này đến bạch đàn Con cái trưởng thành dài 1,1 - 1,4 mm, thân có màu nâu Con đực cho đến nay vẫn chưa được biết đến Con cái đẻ trứng lên mặt trên của lá và cành non Khi ấu trùng phát triển, u bướu được hình thành và lá cây từ màu xanh chuyển dần sang màu hồng sáng bóng, sau đó u bướu chuyển sang màu đỏ Khi ong vũ hóa, u bướu trên lá chuyển sang màu hơi nâu và u bướu trên cành non chuyển sang nâu đỏ U bướu ở bạch đàn có thể gây tổn thương đáng kể đến cây non và có thể dẫn đến chết
Với sự xuất hiện của L invasa ở Kenya, các nhà khoa học cũng đang tìm
hướng giải quyết theo con đường phòng trừ tổng hợp (IPM) Các nghiên cứu được
đề xuất gồm: tìm ra loài bạch đàn có khả năng kháng lại vật gây hại này và tìm ra
thiên địch của L invasa
Tại Bồ Đào Nha, u bướu do L invasa gây hại trên bạch đàn đã được phát
hiện vào năm 2003 ở gần biên giới Tây Ban Nha U bướu lúc đó được phát hiện trên
Eucalyptus camaldulensis trồng ven đường Sau đó hiện tượng này đã lan rộng ra toàn bộ miền Nam nước này và một phần ở vùng trung tâm của đất nước (Branco et al., 2005)
Với 8 triệu ha rừng trồng bạch đàn tại Ấn Độ, sự bùng phát của ong u bướu
đã trở thành vấn đề lớn đối với đất nước này Diện tích lớn như vậy đã trở thành nơi
lí tưởng cho sự sinh sản của loài ong Vì thế, trong trường hợp u bướu ít, người ta
có thể cắt tỉa rồi đem đốt Trong trường hợp nhiều và rộng, người ta đã bắt buộc
phải sử dụng đến thuốc để kìm hãm sự phát triển (Jacob et al., 2007)
Như vậy, với việc bùng phát ở Địa Trung Hải từ năm 2000 nhưng cho đến
nay L invasa đã được phát hiện ở nhiều nước như: Algeria, Etyopia, Hy Lạp, Iran,
Israel, Italy, Jordan, Kenya, Morocco, Tây Ban Nha, Syria, Bồ Đào Nha, Tanzania,
Trang 12Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Uganda, Kenya và Nam Phi Cây chủ thích hợp cho loài gây
hại này bao gồm: E camaldulensis, E globulus, E gunii, E grandis, E botryoides,
E saligna, E robusta, E bridgesiana, E viminalis và E.tereticornis (Mendel et al.,
2004)
Bên cạnh Leptocybe invasa, một loài sinh vật gây hại khác cũng đã tấn công
bạch đàn trong cùng khoảng thời gian của thập kỉ vừa qua Loài sinh vật đó được
xác định là Ophelimus maskelli - một loài ong u bướu bạch đàn khác, nhỏ hơn L invasa Sinh vật gây hại này tạo thành các u bướu trên bề mặt của lá Các u bướu rất
nhỏ, được sắp xếp tách rời với mật độ khá dày Việc tấn công được tái diễn sẽ phá hủy dần lá trên cành Loài này đã được phát hiện ở một số nước như: Israel, New Zealand và Thổ Nhĩ Kỳ
Ở Thổ Nhĩ Kỳ, O maskelli lần đầu tiên được phát hiện vào năm 2005, cây chủ là E camaldulensis Những nghiên cứu về loài này ở đây cho thấy, ong trưởng
thành dài khoảng 1 mm, màu đen, khó có thể nhìn thấy bằng mắt thường Râu đầu
có 2 cái, 3 đốt Ấu trùng nhỏ màu trắng, được tìm thấy trong các u bướu của cây chủ Ấu trùng phát triển thành nhộng trong u bướu và ong trưởng thành vũ hóa thông qua các hố mà chúng tạo ra trên bề mặt lá Quá trình đẻ trứng được xảy ra sớm, ngay sau khi sâu trưởng thành thoát ra khỏi u bướu (Aytar, 2006)
Để góp phần hạn chế và ngăn chặn tình trạng gây hại của ong gây u bướu, các nghiên cứu xác định biện pháp phòng trừ cũng đã được một số nước trên thế giới quan tâm thực hiện, trong đó phải kể đến việc thử nghiệm các chế phẩm bảo vệ thực vật Đây được xem là cách giải quyết khá phù hợp với bạch đàn ở vườn ươm
và rừng trồng non - hai đối tượng thường bị ong u bướu gây hại
Jhala, Patel và Vaghela (2010) đã thử nghiệm 17 công thức thí nghiệm khác nhau nhằm đánh giá hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật trong việc phòng và chống
sự gây hại của L invasa đối với cây con bạch đàn tại Gujarat (Ấn Độ) Thí nghiệm
đã được đã được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2009 tại vườn ươm Ngoài đối chứng (không sử dụng thuốc BVTV), các công thức thí nghiệm có thể chia làm hai nhóm chính: nhóm thứ nhất gồm 8 công thức, đều được bón vào bầu ươm cây hoạt chất Carbofuran 3G dạng hạt với liều lượng 1g/cây; nhóm thứ hai gồm 8 công thức, đều được bón vào bầu ươm cây hoạt chất Phorate 10G dạng hạt với liều lượng
Trang 131g/cây Cả hai nhóm công thức thí nghiệm này đều được phun cùng một chế độ với
8 loại thuốc bảo vệ thực vật khác nhau Số lần phun thuốc của thí nghiệm được thực hiện 2 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày Thu thập số liệu về mức độ gây hại và số lượng u bướu được thực hiện một ngày trước phun thuốc và 14 ngày sau mỗi lần phun
Qua thử nghiệm của Jhala, Patel và Vaghela (2010) cho thấy: các công thức được phun thuốc có tác dụng rõ ràng trong việc làm giảm mức độ gây hại và số
lượng u bướu của L invasa Các xử lí Carbofuran 3G hoặc Phorate 10G được bón
vào trong bầu ươm cây với lượng 1g/cây và sau đó phun Dimethoate 0,03% hoặc Phosphamidon 0,04% hoặc Methyl-o-demeton 0,025% hoặc Acephate 0,075% có
thể xem là giải pháp hiệu quả trong việc hạn chế sự gây hại của L invasa tại vườn
ươm
Đối với rừng trồng bạch đàn, Javaregowda, Prabhu và Roopa (2010) đã thử nghiệm phòng trừ cho rừng trồng 2 năm tuổi tại Sirsi (Ấn Độ) vào năm 2008 Để đánh giá hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật đến việc hạn chế sự phát triển và gây
hại của u bướu L invasa, thí nghiệm đã được bố trí bài bản ngoài hiện trường gồm
10 công thức: không phun thuốc (đối chứng), bón Carbofuran 3G với hai liều lượng 0,5g và 1,0g/cây, phun Methyl parathion 50EC (1ml/l), phun Imidacloprid 17,8SL (0,25ml/l) và phun một số chế phẩm được sản xuất từ thảo mộc địa phương Các công thức phun thuốc được thực hiện hai lần phun, mỗi lần cách nhau 15 ngày Số liệu về số lượng u bướu (sống) đã được thu thập một ngày trước khi phun thuốc, 7 ngày và 15 ngày sau mỗi lần phun
Từ thử nghiệm biện pháp phòng trừ đối với rừng trồng bạch đàn tuổi 2 này thấy rằng, các thuốc bảo vệ thực vật hóa học đều có khả năng hạn chế và làm giảm
số lượng u bướu tốt hơn nhiều so với các chế phẩm được sản xuất từ thảo mộc Tuy nhiên, các loại thuốc hóa học này vẫn chưa có khả năng diệt trừ hoàn toàn số lượng
u bướu, có thể do quá trình theo dõi chưa đủ Trong số các xử lí có hiệu quả, công thức Imidacloprid 0,25ml/l cho kết quả tốt nhất, sau 30 ngày nó làm số u bướu trên
lá từ 12,7 giảm xuống còn 6,0 cái Công thức Methyl parathion 1ml/l cũng tỏ ra rất
có triển vọng Bên cạnh đó, việc phun thuốc hai lần trong vòng 30 ngày thể hiện hiệu quả rõ rệt trong việc hạn chế sự phát triển của u bướu
Trang 14Như vậy, qua hai thử nghiệm phòng trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật thấy
rằng, có khá nhiều chế phẩm có thể sử dụng để hạn chế sự gây hại của u bướu L invasa Do L invasa chỉ gây hại chủ yếu đối với vườn ươm và rừng trồng non nên
sử dụng chế phẩm bảo vệ thực vật được xem là hiệu quả đối với những giống bạch đàn đã được sử dụng rộng rãi Trong khi ở thí nghiệm tại vườn ươm, các hoạt chất Thiomethoxam 0,0125%, Imidacloprid 0,008% là những công thức có hiệu lực kém hơn so với các công thức còn lại (Jhala, Patel và Vaghela, 2010) thì kết quả thử nghiệm ở rừng trồng đã cho kết quả ngược lại Trong thử nghiệm của Javaregowda, Prabhu và Roopa (2010) tại rừng trồng, công thức Imidacloprid 0,25ml/l đã cho kết quả tốt nhất Như vậy, các kết quả có được cũng không giống nhau
1.4.2 Ở Việt Nam
1.4.2.1 Một số thông tin về dòng Bạch đàn U6
Theo Nguyễn Quang Đức (2002), dòng Bạch đàn U6 có nguồn gốc từ Trung Quốc, do Công ty Giống Lâm nghiệp Trung ương đề xuất và đã được Bộ NN & PTNT cho phép đưa vào trồng thử trên diện rộng ở vùng Đông Nam Bộ từ năm
1998 Từ năm 1999, được sự hỗ trợ và chỉ đạo của Cục Phát triển Lâm nghiệp, Vụ Khoa học công nghệ và Chất lượng sản phẩm - Bộ NN & PTNT, Trung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã phối hợp với các cơ sở sản xuất ở vùng Trung tâm và vùng Đông Bắc thiết lập các mô hình và trồng rừng công nghiệp Kết quả cho thấy cây sinh trưởng khá tốt, chưa phát hiện có dấu hiệu sâu bệnh hại nguy hiểm, được đánh giá là dòng có triển vọng
Cho đến gần 10 năm sau, mặc dù số lượng các giống bạch đàn đã được công nhận để áp dụng cho sản xuất khá nhiều nhưng cùng với PN14, U6 vẫn là giống trồng rừng chính đối với bạch đàn ở vùng Trung tâm (Hà Ngọc Anh, 2008) Lí do dẫn đến điều này là do các giống mới cần có thêm thời gian để khảo nghiệm trên diện rộng và hoàn thiện kĩ thuật nhân giống
Như vậy, sau một thời gian dài đưa vào trồng rừng sản xuất, U6 vẫn đang được sử dụng khá rộng rãi ở vùng Trung tâm Ước tính tại Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, tỉ trọng sản xuất cây con Bạch đàn U6 trong những năm gần đây vẫn chiếm đến 50% Điều đó cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu biện pháp phòng trừ triệu chứng u bướu cho dòng bạch đàn này
Trang 151.4.2.2 Đặc điểm vườn ươm Trạm thực nghiệm sản xuất giống cây lâm nghiệp, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
- Tổng diện tích: 3,0 ha
- Công suất vườn ươm: 1.500.000 cây/lần
- Diện tích nền cứng: 7.500 m2
- Diện tích nhà giâm hom: 800 m2
- Khả năng tưới tiêu, hệ thống tưới phun:
+ Có 2 hệ thống giếng khoan cấp nước và một tháp chứa nước cao 20 m phân phối cho toàn bộ hệ thống tưới tiêu
+ Có hệ thống rãnh tiêu nước cho các bể nên không xảy ra hiện tượng ngập úng
+ Hệ thống tưới phun phù hợp, thuận lợi đến tận địa điểm sản xuất
+ Hệ thống phun sương nhà giâm hom đủ cho 21 bể, mỗi bể có công suất khoảng 10.000 cây
- Chế độ vệ sinh vườn ươm: Vệ sinh thường xuyên 1 lần/1 tháng, vệ sinh tổng thể 2 lần /1 năm
- Tổng diện tích vườn cấp hom: 2.000 m2, trong đó diện tích vườn cấp hom Bạch đàn U6: 500 m2 (khoảng 5.000 cây)
- Chế độ chăm sóc vườn cấp hom: Được cung cấp nước đầy đủ Bón phân vào mùa vụ khai thác hom 2 tháng/1 lần Vệ sinh cỏ, tạo tán và phun thuốc bảo vệ thực vật thường xuyên
- Tình hình sản xuất các loại cây con:
+ Tổng số cây các loại: 2.000.000 cây
+ Cây mô: 1.000.000 cây, trong đó Bạch đàn U6 có 600.000 cây (chiếm 60% tổng số cây mô, chiếm 30% tổng số cây các loại)
+ Cây hom: 300.000 cây, trong đó Bạch đàn U6 có 100.000 cây (chiếm 33% tổng số cây hom, chiếm 5% tổng số cây các loại)
+ Cây hạt: 700.000 cây Keo tai tượng (chiếm 35% tổng số cây các loại), không có bạch đàn
Như vậy, các thông tin về vườn ươm được thể hiện ở trên đã cho thấy những đặc điểm cơ bản của một vườn ươm hiện đại, chuyên sản xuất cây con keo và bạch
Trang 16đàn để phục vụ trồng rừng sản xuất Trong số các đối tượng cây con được sản xuất, Keo tai tượng cùng với Bạch đàn U6 có số lượng cây nhiều nhất Mỗi loại cây này cùng chiếm tới 35% tổng số cây con của cả vườn Với một tỉ trọng lớn như vậy, việc nghiên cứu để giải quyết hiện tượng u bướu đối với Bạch đàn U6 là thực sự quan trọng
1.4.2.3 Tình hình u bướu gây hại bạch đàn và những nghiên cứu về vấn đề này
với loài Leptocybe invasa Fisher & La Salle
Kết quả điều tra khảo sát, thu mẫu của Phạm Quang Thu (2004) tại các khu
khảo nghiệm hậu thế các dòng bạch đàn E camaldulensis và các dòng, các tổ hợp
bạch đàn lai tại Lâm trường Minh Đức, tỉnh Bình Phước cho thấy mật độ ong trưởng thành tại các khu rừng bị bệnh khá cao Mức độ bị hại rất khác nhau giữa các dòng và các tổ hợp lai Một số dòng rất mẫn cảm, bị ong kí sinh gây u bướu toàn bộ
lá và cành non dẫn đến chết hàng loạt Các vườn ươm cây bạch đàn tại thành phố
Hồ Chí Minh và Đồng Nai cũng bị thiệt hại khá nghiêm trọng Ong kí sinh làm lá
và thân bị u bướu, phát triển dị dạng và chết, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và ảnh hưởng tới kế hoạch trồng rừng của nhiều địa phương
Theo Chi cục Phát triển Lâm nghiệp tỉnh Bình Định (Báo điện tử Bình Định, 2006), nhiều lô bạch đàn giống do các đơn vị trong tỉnh sản xuất đã bị nhiễm bệnh u bướu, điều này ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện kế hoạch trồng rừng của tỉnh Theo đó, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn có 6.000/20.000 cây Bạch đàn
trắng (E camaldulensis) gieo ươm bằng hạt bị bệnh; Lâm trường Quy Nhơn có
14.000 cây bị bệnh; cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp Hoa Đôn có 7.500 cây
Trang 17giống nuôi cấy mô dòng Bạch đàn U6 cũng bị chứng bệnh này Cây bị bệnh sinh trưởng phát triển chậm, thời tiết nắng nóng kéo dài bệnh có xu hướng tăng và nặng hơn Các đơn vị nói trên đã áp dụng nhiều biện pháp phòng, trị bệnh, chống lây lan nhưng chưa đạt kết quả như mong muốn
Tại Trạm thực nghiệm sản xuất giống cây lâm nghiệp, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy - nơi có công suất hơn một triệu cây bạch đàn một năm, trong vài năm trở lại đây đã xuất hiện hiện tượng u bướu trên dòng Bạch đàn U6 Cây con mới cấy xuất hiện nhiều u bướu ở cuống lá và rải rác trên thân Vườn cây cấp hom cũng xuất hiện triệu chứng tương tự Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 12, dịch hại đã ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng cây giống, số lượng và chất lượng hom, dẫn đến ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất và chất lượng cây giống của đơn vị Hiện tượng trên nếu không có biện pháp phòng trừ kịp thời sẽ dẫn đến những tổn thất lớn về kinh tế
Với việc xuất hiện triệu chứng u bướu trên một số loài bạch đàn đang trồng trong nước, cho đến nay, những nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít Bên cạnh thông báo của Phạm Quang Thu (2004), đến nay mới chỉ có nghiên cứu của chính tác giả này về biện pháp phòng trừ ong u bướu Tác giả đã đi theo hướng tuyển chọn loài, xuất xứ có khả năng chống chịu sự tấn công của ong, đó là một trong những hướng được các nhà khoa học trên thế giới khuyến khích (Phạm Quang Thu
và Nguyễn Quang Dũng, 2008) Theo kết quả nghiên cứu, trong tổng số 18 loài
khảo nghiệm, xác định được 4 loài bạch đàn không bị ong gây hại là Corybia henry, Corymbia citriodora, Corymbia tessellaris và Eucalyptus cloeziana Số loài bị hại
nhẹ là 10 và có 4 loài bị hại ở mức trung bình đến nặng Xét về xuất xứ, có 5 xuất
xứ thuộc 5 loài không bị hại, 11 xuất xứ của 10 loài bị hại ở mức độ nhẹ và 7 xuất
xứ của 3 loài bị hại ở mức độ trung bình và nặng
Trong khuôn khổ của đề tài này được thực hiện vào năm 2009 (Hà Ngọc Anh, 2009), u bướu trên cây con và vườn cấp hom Bạch đàn U6 được xác định là
do Leptocybe invasa Fisher & La Salle gây nên Loài sinh vật này đã gây hại bằng
cách đẻ trứng vào cuống lá non, thân non Trứng đó phát triển thành sâu non, rồi thành nhộng, tạo nên các u bướu Bên trong u bướu chính là các pha sâu non và nhộng của loài côn trùng này Theo kết quả nghiên cứu của đề tài, số lượng u bướu
Trang 18trung bình do L invasa tạo ra trên cây con là 1,7 cái và trên hom là 2,5 cái U bướu
do L invasa tạo nên có hình đa giác, phần lớn là màu hồng, dài khoảng 3,9 - 4,1
mm, rộng khoảng 2,9 mm, vị trí của các u bướu nằm chủ yếu trên cuống lá Tại
vườn ươm Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, L invasa xuất hiện nhiều và gây
hại mạnh vào khoảng thời gian từ tháng 6 cho đến tháng 11 Kết quả nghiên cứu cũng đã ghi nhận tỉ lệ bị hại có lúc lên đến 15,8% ở vườn ươm sản xuất cây con và 64,4% ở vườn cấp hom Tuy nhiên, mức độ bị hại của cây con và vườn cấp hom Bạch đàn U6 đều ở mức hại nhẹ (R < 1,0)
Như vậy, thông qua các tài liệu về ong u bướu gây hại bạch đàn trên thế giới
và Việt Nam thấy rằng, tình hình diễn biến rất phức tạp và có nhiều đặc điểm chung giữa các quốc gia Do là một loài mới được phát hiện và với sự phá hại đáng kể, loài ong đã được nghiên cứu khá nhiều ở trên thế giới về đặc điểm sinh học và hướng phòng trừ Trong các biện pháp phòng trừ đã được nghiên cứu và đề xuất áp dụng,
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng cho thấy sự phù hợp khi áp dụng ở vườn ươm
và rừng trồng non Tuy nhiên, qua một số thử nghiệm được đánh giá là có hiệu lực cao trong một số nghiên cứu mới nhất ở trên thế giới thấy rằng, một số chế phẩm bảo vệ thực vật được sử dụng có độc tố cao, đã bị hạn chế sử dụng (Carbofuran 3G) hoặc cấm sử dụng (Methyl parathion 50EC) ở Việt Nam (Bộ NN& PTNT, 2010) Trong khi đó, những nghiên cứu về ong u bướu gây hại bạch đàn ở Việt Nam cho đến nay còn rất ít, bao gồm cả đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ Mặt khác, bạch đàn ở Việt Nam cũng có nhiều loài khác nhau, những nghiên cứu cho Bạch đàn U6 tại vườn ươm cho đến nay chưa được quan tâm Với vị trí là một sản phẩm đang được sử dụng rộng rãi, để đáp ứng cho yêu cầu của sản xuất kinh doanh, nghiên cứu biện pháp kĩ thuật phòng trừ triệu chứng u bướu đối với dòng Bạch đàn U6 đặt ra trong thời điểm hiện nay là cần thiết
Trang 19PHẦN II: THỰC NGHIỆM
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu phân bố và mức độ gây hại của bệnh
Nội dung nghiên cứu này được thực hiện thông qua ô điều tra Cách lập ô điều tra cụ thể như sau:
+ Đối với cây con: Ô điều tra được xác định là đại diện với tình hình bị hại chung của vườn và cấp tuổi Chọn ô trên luống theo phương pháp hệ thống Cách một luống chọn một luống để đặt ô điều tra Tại mỗi luống chọn đặt 2 ô điều tra ở hai đầu luống, 1 ô ở giữa luống Diện tích ô điều tra là 1,0 m2 Tổng diện tích các ô điều tra không nhỏ hơn 2% tổng diện tích sản xuất cây con Bạch đàn U6
+ Đối với vườn cấp hom: Ô điều tra được xác định là đại diện với tình hình
bị hại chung của vườn và cấp tuổi Diện tích ô phụ thuộc vào mật độ trồng nhưng phải đảm bảo có ít nhất 30 cây Tổng diện tích các ô điều tra không nhỏ hơn 2% tổng diện tích vườn cấp hom Bạch đàn U6
∗ Nghiên cứu phân bố của sinh vật gây hại trên Bạch đàn U6:
Theo Nguyễn Thế Nhã và cộng sự (2001), tỉ lệ có sâu hoặc tỉ lệ có bệnh (gọi chung là chỉ số P%) thể hiện đặc điểm phân bố hay mức độ gặp sâu bệnh trong khu vực điều tra Vì vậy, để xác định được phân bố của sinh vật gây hại trong nghiên cứu này, cần xác định số cây con và số hom bị hại trên tổng số cây con và số hom được điều tra Đối với cây con, chỉ số P% được gọi là tỉ lệ cây con bị hại Đối với vườn cấp hom, chỉ số P% được gọi là tỉ lệ hom bị hại Việc xác định phân bố của sinh vật gây hại không cần chú ý đến số lượng mà chỉ cần xem có hay không có u bướu trên cây con hoặc hom Bạch đàn U6
Tỉ lệ có sâu hay tỉ lệ có bệnh (P%) để đánh giá phân bố của sinh vật gây hại được tính theo công thức:
Trong đó: n là số cây con hoặc số hom bị hại
N là tổng số cây con hoặc tổng số hom điều tra Đánh giá chỉ số P% theo Nguyễn Thế Nhã và cộng sự (2001):
P% < 25%: loài ngẫu nhiên gặp
P% = 25 - 50%: loài ít gặp
Trang 20P% > 50%: loài thường gặp
∗ Nghiên cứu mức độ bị hại của Bạch đàn U6:
+ Điều tra đánh giá chỉ số hại cho cây con và hom:
Được thực hiện đồng thời với điều tra phân bố của sinh vật gây hại Đối với cây con, thu thập chỉ số hại cho toàn bộ số cây trong ô điều tra Đối với vườn cấp hom, thu thập chỉ số hại cho toàn bộ số hom trên tất cả 30 cây trong ô điều tra Phân cấp chỉ số bị hại được xác định dựa vào phương pháp của Phạm Quang Thu và Nguyễn Quang Dũng (2008), cụ thể như sau:
Chỉ số hại Biểu hiện bên ngoài
0 Cành non, gân lá không bị u bướu, cây sinh trưởng phát triển khỏe
mạnh
1 < 25% hệ lá bị hại, cành non và gân lá bị u bướu < 25%
2 25-50% hệ lá bị hại, cành non và gân lá bị u bướu từ 25-50%
3 51-75% hệ lá bị hại, cành non và gân lá bị u bướu từ 51-75%
4 > 75% hệ lá bị hại, cành non và gân lá bị u bướu từ > 75%
+ Đánh giá mức độ bị hại:
Mức độ bị hại dựa vào chỉ số bị hại trung bình (R) của Phạm Quang Thu và
Nguyễn Quang Dũng (2008), được tính theo công thức:
R = Σni.vi/N.V (2.2) Trong đó: ni là số cây con (hoặc hom) bị hại với chỉ số bị hại i
vi là chỉ số của cấp bị hại thứ i (từ 0 đến 4)
N là tổng số cây con (hoặc hom) điều tra
V là trị số của cấp bị hại cao nhất (bằng 4)
Đánh giá mức độ hại dựa vào R:
R = 0: Cây con (hoặc hom) khỏe
0 < R ≤ 1,0: Cây con (hoặc hom) bị hại nhẹ 1,1 ≤ R ≤ 2,0: Cây con (hoặc hom) bị hại trung bình 2,1 ≤ R ≤ 3,0: Cây con (hoặc hom) bị hại nặng 3,1 ≤ R ≤ 4,0: Cây con (hoặc hom) bị hại rất nặng
Trang 212.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh hại đến chất lượng cây con và tiêu chuẩn hom
- Nghiên cứu này cũng được thực hiện trên các ô điều tra đã thiết lập
- Điều tra chất lượng của cây con và tiêu chuẩn của hom Bạch đàn U6 được dựa trên cơ sở phân cấp 30 cây con và 30 hom tiêu chuẩn Đối với cây con, trong ô điều tra chọn 30 cây tiêu chuẩn theo phương pháp hệ thống (cách 1 hàng điều tra 1 hàng để chọn ra cây có u bướu cho đến khi đủ 30 cây) Đối với vườn cấp hom, trong ô điều tra cách 3 cây chọn 1 cây để điều tra Trên cây chọn tiến hành thu thập tất cả các hom đủ tuổi có u bướu để đo đếm Số hom có u bướu được chọn cho đến khi đủ 30 hom thì dừng lại
- Trong nội dung này, bên cạnh việc điều tra các đối tượng bị u bướu, nghiên cứu cũng tiến hành thu thập các chỉ tiêu tương tự cho các đối tượng bình thường trong cùng ô điều tra để làm đối chứng so sánh, đánh giá Cách lựa chọn đối tượng bình thường tương tự như cách chọn cây con và hom tiêu chuẩn
- Đối với cây con, đánh giá ảnh hưởng của vật gây hại được thực hiện thông qua các chỉ tiêu: Hvn, Dg và cấp sinh trưởng Trong đó, Hvn và Dg được đo trực tiếp bằng thước đo chuyên dụng của ngành Lâm nghiệp Cấp sinh trưởng được đánh giá thông qua mục trắc và dựa vào 3 cấp như sau:
+ Cấp 1: Cây sinh trưởng tốt, sức sống tốt, hình thái cân đối
+ Cấp 2: Cây sinh trưởng bình thường
+ Cấp 3: Cây sinh trưởng chậm, sức sống kém, bị sâu hoặc bệnh làm ảnh hưởng đến sức sinh trưởng
Tuy nhiên, trong quá trình đánh giá cấp sinh trưởng, đề tài căn cứ vào tình hình thực tế để phân cấp vì nếu căn cứ vào tiêu chí bị sâu bệnh hại, sẽ không thể có cây con sinh trưởng cấp 1 và hom đạt tiêu chuẩn Trên thực tế, có những cây con và hom chỉ bị hại nhẹ nên vẫn có thể vượt qua những tác động có hại và sinh trưởng bình thường, thậm chí sinh trưởng tốt Do vậy, tiêu chí chủ đạo trong quá trình đánh giá cấp sinh trưởng tập trung vào sức sống và hình thái
- Đối với hom, đánh giá ảnh hưởng của vật gây hại thông qua tỉ lệ hom đạt tiêu chuẩn Theo Quy trình kỹ thuật nhân giống bằng hom chồi non cây Bạch đàn
(Eucalyptus urophylla) của Tổng Công ty Giấy Việt Nam (2002), hom đạt tiêu
Trang 22chuẩn là hom bánh tẻ (tỉ lệ hoá gỗ 50%), dài từ 7 - 10 cm, gồm 2 - 3 cặp lá và 1 đỉnh chồi Tùy thuộc mùa sinh trưởng, đánh giá hom được thực hiện trong khoảng thời gian 20 - 25 ngày sau khi cắt tán tạo hom
2.1.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của vật gây hại để làm cơ sở cho việc phòng trừ
- Nội dung nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở 30 cây con và 30 hom tiêu chuẩn
- Các nghiên cứu bổ sung về đặc điểm sinh học, sinh thái trong năm 2010 để làm cơ sở cho việc phòng trừ gồm có:
+ Quá trình phát triển của u bướu và vòng đời của vật gây hại: Được xác định thông qua quá trình theo dõi sự phát triển của u bướu Các giai đoạn phát triển của u bướu được xác định thông qua việc giải phẫu các u bướu để xác định các pha
ấu trùng và nhộng Quá trình phát triển của u bướu được mô tả chủ yếu thông qua hình ảnh Vòng đời của sinh vật gây hại được xác định từ quá trình đẻ trứng đến khi hình thành u bướu và kết thúc vào thời điểm ong trưởng thành vũ hóa
+ Mùa phát triển của vật gây hại: Được xác định trên cơ sở theo dõi sự hoạt động đẻ trứng của ong trưởng thành trong năm, đồng thời dựa vào các số liệu điều tra về tình hình xuất hiện u bướu trong quá trình theo dõi về phân bố và mức độ gây
hại của L invasa
+ Tìm hiểu mối quan hệ giữa sự xuất hiện của vật gây hại với điều kiện nhiệt
độ, độ ẩm và lượng mưa: Theo dõi diễn biến của các nhân tố khí tượng trong năm
để phục vụ cho nội dung nghiên cứu này
2.1.4 Thử nghiệm biện pháp phòng trừ đối với vật gây hại
- Công thức thí nghiệm:
Thử nghiệm tại hiện trường được thực hiện cho 01 xử lí không phun thuốc (đối chứng) và 06 chế phẩm bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT, 2010), bao gồm:
+ BrighTin 1.8EC
Hoạt chất: Abamectin 18g/l
Cơ chế tác động: Vị độc (mạnh), thấm sâu
Trang 23+ Conphai 15WP
Hoạt chất: Imidacloprid 15%
Cơ chế tác động: Lưu dẫn mạnh
+ Ecasi 20EC
Hoạt chất: Acetamiprid 2% + Chlorpyrifos Ethyl 18% + Dầu cọ
Cơ chế tác động: Tiếp xúc, lưu dẫn
+ Mopride 20WP
Hoạt chất: Acetamiprid (200g/kg thuốc)
Cơ chế tác động: Lưu dẫn
+ Oncol 20EC
Hoạt chất: Benfuracarb (thuộc nhóm Carbamate)
Cơ chế tác động: Nội hấp, tiếp xúc, vị độc
+ Tasodant 600EC
Hoạt chất: Chlorpyrifos Ethyl 500g/l + Permethrin 100g/l
Cơ chế tác động: Tiếp xúc, vị độc, xông hơi
- Bố trí thí nghiệm (phụ lục 01): Thí nghiệm tại vườn cấp hom Bạch đàn U6 gồm 07 công thức, được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, đảm bảo nguyên tắc lặp lại 3 lần trên hiện trường
- Liều lượng và số lần phun thuốc:
+ Liều lượng phun: Theo khuyến cáo của nhà sản xuất
+ Số lần phun: Thực hiện 2 lần phun, lần thứ hai cách lần thứ nhất 15 ngày Liều lượng phun cho hai lần như nhau
- Thu thập số liệu: Trong khoảng thời gian của mỗi đợt phun thuốc (15 ngày), tiến hành đếm số lượng u bướu sống vào 3 thời điểm: trước khi phun thuốc 1 ngày, 7 ngày sau khi phun thuốc và 15 ngày sau khi phun thuốc Như vậy, sau hai lần phun thuốc của thí nghiệm, số liệu của 6 lần quan sát đã được ghi lại
- Xử lí số liệu:
Đánh giá hiệu lực của thuốc theo công thức Henderson - Tilton:
E (%) = [1 - (Ta × Cb)/(Ca × Tb)] × 100 (2.3) Trong đó: E (%) là hiệu lực của thuốc
Ta là số u bướu sống ở công thức phun thuốc sau khi xử lí
Trang 24Tb là số u bướu sống ở công thức phun thuốc trước khi xử lí
Ca là số u bướu sống ở công thức đối chứng sau khi xử lí
Cb là số u bướu sống ở công thức đối chứng trước khi xử lí Ngoài ra, các nội dung xử lí số liệu khác trong quá trình nghiên cứu như: tính toán các đặc trưng mẫu (X , Sd, S%), so sánh các mẫu quan sát, kiểm định tính độc lập (tiêu chuẩn χ2) được thực hiện theo hướng dẫn của Nguyễn Hải Tuất và Nguyễn Trọng Bình (2003) trên chương trình Microsoft Office Excel 2007 và phần mềm SPSS 13.0
2.2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.2.1 Nghiên cứu phân bố và mức độ gây hại của bệnh
Để xác định được phân bố và mức độ gây hại của bệnh, công tác điều tra đã được thực hiện đối với cây con và vườn cấp hom Bạch đàn U6 từ tháng 2 đến tháng
12 năm 2010 tại địa điểm nghiên cứu Quá trình theo dõi về tình hình bệnh cho đối tượng nghiên cứu được thể hiện trong bảng 01 và bảng 02
Bảng 01: Quá trình theo dõi u bướu trên cây con Bạch đàn U6
Tuổi cây Thời
ngày ngày 30 ngày 45 ngày 60 ngày 75 ngày 90 ngày 105 ngày 120 ngày 135 ngày 150 Tháng 2 × × ∗ ∗ + + Tháng 3 × × ∗ ∗ + + Tháng 4 × × ∗ ∗ + + Tháng 5 × × ∗ ∗
Ghi chú: + cây con được cấy trong tháng 11-12/2009
∗ cây con được cấy trong tháng 01/2010
× cây con được cấy trong tháng 02/2010