Chính vì vậy, trong thời gian tới chăn nuôi lợn và gà phải triển khai theo mô hình tập trung sản xuất hàng hoá, khép kín từ việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị chuồng nuô
Trang 1TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIA CẦM THỤY PHƯƠNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ ĐỒNG BỘ XÂY DỰNG VÙNG NGUYÊN LIỆU TRONG CHĂN NUÔI LỢN, GÀ AN TOÀN THỰC PHẨM CÓ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH PHỤC VỤ NÔI TIÊU VÀ XUẤT KHẨU
CNĐT: NGUYỄN QUÝ KHIÊM
8576
HÀ NỘI – 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Sau hơn 20 năm đổi mới, đến nay ngành chăn nuôi đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2009, đàn lợn cả nước đạt 27,6 triệu con, sản xuất 2,91 triệu tấn thịt, đàn gà đạt 208,2 triệu con, sản xuất 518,3 ngàn tấn thịt.[21]
Trong quá trình đổi mới đất nước, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn, gà nói riêng đã được quan tâm đầu tư chuyển đổi mạnh mẽ từ chăn nuôi nhỏ hộ gia đình sang chăn nuôi trang trại, gia trại và từng bước hình thành vùng chăn nuôi tập trung sản xuất hàng hoá Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các
cơ sở chăn nuôi chưa đảm bảo được điều kiện an toàn sinh học, năng suất chất lượng sản phẩm thấp, sức cạnh tranh yếu Đặc biệt, trong tình hình dịch bệnh ở gia súc và gia cầm đang diễn biến phức tạp tại nước ta và nhiều nước trong khu vực, việc quản lý chất lượng sản phẩm chăn nuôi rất cần được xã hội và các cấp các ngành cùng đặc biệt quan tâm
Chăn nuôi lợn, gà muốn trở thành ngành sản xuất sản phẩm hàng hoá có thị phần, thị trường thì sản phẩm sản xuất ra phải đạt được những tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phẩm Chính vì vậy, trong thời gian tới chăn nuôi lợn và gà phải triển khai theo mô hình tập trung sản xuất hàng hoá, khép kín từ việc đầu
tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị chuồng nuôi đến việc áp dụng các giải pháp khoa học tiên tiến trong quy trình chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y phòng bệnh, kết hợp xử lý tốt môi trường sinh thái, xây dựng được các dây chuyền giết mổ đủ điều kiện vệ sinh thực phẩm, đồng thời phải đạt được các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cao, giá thành hạ Khi đó sản phẩm thịt lợn, gà sau giết mổ
sẽ đáp ứng được các tiêu chí vệ sinh an toàn thực phẩm và hoàn toàn có khả năng cạnh tranh trong nước và tiến tới xuất khẩu Chính vì những vấn đề nêu
trên cần thiết phải triển khai đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ đồng bộ
xây dựng vùng nguyên liệu trong chăn nuôi lợn, gà an toàn thực phẩm có khả năng cạnh tranh phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”
Trang 32 Mục tiêu đề tài
- Tạo được vùng nguyên liệu lợn, gia cầm an toàn thực phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, giá thành cạnh tranh cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu để góp phần phát triển bền vững ngành chăn nuôi lợn và gia cầm của Việt Nam
- Hình thành hệ thống giải pháp khoa học, công nghệ và quản lý đồng bộ
từ chăn nuôi đến giết mổ, chế biến
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đối với thế giới, sản xuất nông nghiệp theo hướng trang trại là quá trình tất yếu của nền sản xuất hàng hoá Sản xuất trang trại có lịch sử hình thành, phát triển trên 300 năm và hiện có trên 300 triệu trang trại giữ vai trò trọng yếu trong sản xuất các sản phẩm nông nghiệp Các công trình nghiên cứu đều nhận định: Trang trại, trong tiến trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội là loại hình sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân từ tự cấp, tự túc đi lên sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn trong cơ chế thị trường
Đặc điểm của chăn nuôi trang trại là vật nuôi tập trung qui mô lớn, thường là nuôi chuyên biệt các loài, các loại vật nuôi có năng suất cao Chăn nuôi trang trại đòi hỏi đầu tư lớn về khoa học công nghệ, thức ăn, chuồng trại, trang thiết bị, lao động, kỹ thuật tiên tiến từ đó tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, tập trung, đồng đều, giá thành cạnh tranh, đáp ứng được các yêu cầu vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm
Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Điều này được trải qua ở tất cả mọi quốc gia phát triển Bởi vì chỉ có chăn nuôi trang trại - công nghiệp mới có điều kiện ứng dụng các giải pháp đồng bộ như: cơ giới hoá và tự động hoá, sử dụng các trang thiết bị hiện đại điều khiển tự động từ khâu sản xuất giống, chế biến thức ăn, kiểm soát chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh phòng trừ dịch bệnh đến giết mổ, chế biến bảo quản sản phẩm, xử lý các phụ phẩm và vệ sinh môi trường
Các nước phát triển có quy hoạch, hình thành các vùng chăn nuôi chuyên hoá với các trang trại lớn được đầu tư thoả đáng tạo ra sản phẩm không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn là thương hiệu nổi tiếng xuất khẩu đi khắp thế giới như thịt bò Úc, thịt bò Bzaxin (năm 2006 Úc xuất khẩu 1480 ngàn tấn, Bzaxin xuất khẩu 1800 ngàn tấn); thịt lợn EU, Canađa, Trung Quốc (năm 2006 EU xuất
1450 ngàn tấn, Canada xuất 1100 ngàn tấn, Trung Quốc xuất 415 ngàn tấn); thịt
Trang 5gà Bzaxin, Mỹ, Thái lan (năm 2006 Bzaxin xuất 3040 ngàn tấn, Mỹ xuất 2538 ngàn tấn, Thái Lan xuất 400 ngàn tấn) (số liệu FAO, 2006) [42]
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về chăn nuôi lợn, nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi và đáp ứng nhu cầu sản phẩm thịt lợn của người tiêu dùng Các nhà chọn giống lợn trên thế giới đã sử dụng các phương pháp lai, tạo ưu thế lai nhằm tạo ra con lai thương phẩm nhiều giống có năng suất và tỷ lệ nạc cao Nhiều giống lợn cao sản đã được sử dụng làm nguyên liệu cho các công thức lai như Yorkshire (Y), Landrace (L), Duroc (D), Hampshire (H), Pietrain (P)… Các tác giả Kovalenco và cộng sự (1990),[48] Tristan và Andryushenko (1991),[61] kết luận rằng những tổ hợp lai của nhiều giống khác nhau (từ 2 đến 4 giống) đều có xu hướng tăng số con sơ sinh sống mỗi ổ, nâng cao khả năng sinh trưởng, giảm chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng trọng, nâng cao
tỉ lệ và chất lượng thịt nạc Tuỳ theo đặc điểm từng nước các nhà tạo giống đã tiến hành các công thức lai khác nhau Một trong các công thức đó là lai tạo giữa lợn đực D với lợn nái F1 (L/Y) hoặc F1 (Y/L)
Theo Kim và cộng sự (1994) [49] kết quả nghiên cứu trên lợn lai 3 giống, lợn đực D lai với lợn cái F1(L/Y) cho chỉ tiêu số con sơ sinh trong ổ cao hơn và con lai có khối lượng đạt đến 110 kg sớm hơn 20 ngày so với các giống thuần nuôi trong cùng điều kiện
Ở Hà Lan có tới 90% lợn nuôi vỗ béo là lợn lai, trong đó lợn lai 3 máu D(Y/L) rất được ưa chuộng bởi năng suất vỗ béo của chúng cao hơn các lợn lai khác (tăng trọng bình quân 750 g/ngày vỗ béo, tiêu tốn thức ăn 2,7-3,1 kg/kg tăng trọng, tỉ lệ thịt nạc đạt trên 62 % và độ dày mỡ lưng chỉ 22-23 mm (Đỗ Thị
Trang 6hơn (93,28 và 93,01 ngày), tiêu tốn thức ăn cũng thấp hơn và tỉ lệ móc hàm cao hơn 1,8% so với lợn lai 2 máu L/Y
Trong chương trình lợn lai của Đan Mạch, hai giống lợn thuần Yorkshire
và Landrace là những giống lợn lý tưởng để sản suất lợn nái lai F1 có năng suất sinh sản cao (nhiều hơn 1,5 lợn con cai sữa/ổ so với Y hoặc L nuôi thuần chủng), nuôi con khéo và cho năng suất sinh trưởng, khả năng cho thịt cao Hai giống lợn này được sử dụng để tạo ra lợn nái lai DannHybrid L/Y và Y/L Lợn đực cuối cùng được sử dụng là D Tổ hợp lợn lai 3 máu D(L/Y) đã đạt được năng suất cai sữa 26,1con/nái/năm, tăng trọng 850 gr/ngày trong giai đoạn vỗ béo từ 30-100 kg, tiêu tốn thức ăn 2,75 kg/kg và tỉ lệ thịt nạc đạt tới 58,8% (DanBred, 2003) [39]
Về các giống gà trong những thập kỷ qua nhiều hãng gia cầm lớn đã nghiên cứu chọn tạo ra nhiều dòng, giống gà chuyên dụng thịt như: BE88, Ross
308, AA, Cobb, Hubbard, Avian, ISA MPK Các giống gà lông màu năng suất chất lượng thịt thơm ngon như Sasso - Pháp đã tạo ra 17 dòng trống và 2 dòng mái SA31 và SA51 Hãng HUBBARD - ISA đã tạo ra gà ISA color, ISA-JA57 Tại Isarael hãng Kabir đã tạo ra 36 dòng gà lông màu có năng suất chất lượng cao nổi tiếng thế giới, Trung Quốc tạo ra các giống gà Tam Hoàng, Lương Phượng có năng suất, chất lượng cao, sức chịu đựng tốt phù hợp với phương thức chăn nuôi trang trại quy mô hàng hoá
Ngoài việc đẩy mạnh chăn nuôi trang trại, chọn tạo các giống năng suất chất lượng cao, đi kèm theo đó là các yêu cầu nghiêm ngặt về kiểm soát chất lượng thức ăn trong chăn nuôi Tại Hà Lan tất cả các nhà máy sản xuất thức ăn gia súc đều phải áp dụng tiêu chuẩn GMP (Good Manufacture Product) Một số nước thuộc EU đã không cho phép sử dụng Protein có nguồn gốc động vật trong sản phẩm thức ăn gia súc để tránh mầm bệnh trong thịt sau giết mổ ở EU đặc biệt quan tâm đến thịt gà sản xuất bằng công nghệ nào, có nuôi bằng ngũ cốc biến đổi gen không Thức ăn lợn và gia cầm ngoài việc đáp ứng các chỉ tiêu dinh dưỡng còn kiểm soát chặt chẽ Aflatocxin, kim loại nặng, kháng sinh Cùng
Trang 7với việc kiểm soát thức ăn thì nước cũng được giám sát chặt chẽ các chỉ tiêu vi sinh vật và kim loại nặng
Trong chăn nuôi, thú y phòng bệnh được coi là biện pháp hàng đầu trong
đó an toàn sinh học là trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả cho ngành chăn nuôi, đặc biệt là những năm gần đây ở nhiều nước dịch lở mồm long móng, bệnh Đóng dấu ở lợn và dịch cúm gia cầm đang có chiều hướng diễn biến phức tạp
Trong hướng dẫn an toàn sinh học của Hugh Milla, Attwood (2004) [47]
đã chỉ rõ an toàn sinh học giúp làm giảm các bệnh truyền nhiễm nói chung như bệnh E Coli, Cầu trùng, Marek, viêm thanh khí quản truyền nhiễm…giảm nguy
cơ lây lan bệnh tật trong cơ sở chăn nuôi cũng như việc lây lan bệnh tật ra môi trường bên ngoài và lây lan giữa các trang trại, ngoài ra an toàn sinh học còn mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trong nghiên cứu về yếu tố lây truyền bệnh thì Mc Quinston và cộng sự (2005) [63] đã chỉ ra rằng sự tiếp xúc giữa những con vật hoang dã và con vật nuôi trong nhà có ý nghĩa rất lớn trong việc lây lan mầm bệnh, tuy nhiên nếu thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học thì nguy cơ lây lan mầm bệnh được giảm đi rõ rệt
Trường đại học Maryland cũng cho biết nguyên nhân để dẫn tới việc lợn, gia cầm mắc bệnh phụ thuộc phần lớn vào dịch tễ của trang trại, muốn giữ không cho mầm bệnh xâm nhập trước hết trang trại đó phải có điều kiện vệ sinh tốt Ở đây người ta cũng chỉ ra rằng bệnh tụ huyết trùng và bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm cũng chiếm tỷ lệ chết từ 10-20%, bệnh CRD chiếm từ 30-50% còn lại là các bệnh khác Các bệnh này hầu hết đều liên quan chủ yếu đến môi trường chăn nuôi
Bộ nông nghiêp và phát triển nông thôn của Bắc Ailen đã khẳng định muốn cho vật nuôi không mắc bệnh thì trước hết phải giữ cho chuồng trại thật sạch sẽ, các chỉ tiêu về tiểu khí hậu chuồng nuôi phải đảm bảo và các biện pháp
vệ sinh an toàn sinh học là điều kiện quyết định đến chất lượng sản phẩm và chi phí cũng rẻ nhất
Trang 8Bộ nông nghiệp Thái Lan có những tiêu chuẩn về an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm như: trại chăn nuôi phải cách xa khu dân cư ít nhất là 5 km, quy cách các cổng ra vào trại chăn nuôi, trong trại phải tuân thủ các biện pháp
vệ sinh an toàn sinh học, giám sát thức ăn, nước uống cũng như quy cách đốt xác gia cầm, quản lý người và xe cộ ra vào bằng cách ghi chép cụ thể…
Trong thời gian gần đây do dịch cúm gia cầm nên việc thực hiện an toàn sinh học, nhất là các nước đang phát triển được chú trọng hơn bao giờ hết Trung quốc đã phải chi 2 tỷ nhân dân tệ, các nước EU đã chi 1 tỷ Ero, Indonesia
đã chi 15,8 triệu USD và World Bank đã chi khoảng 500 triệu USD dự kiến sẽ phải chi tiếp 1 tỷ USD trong năm tới để hỗ trợ cho việc khống chế dịch cúm gia cầm Như vậy cho thấy vấn đề an toàn sinh học là điều kiện tiên quyết cho sản xuất hàng hoá quy mô lớn
Sự phát hiện ra kháng sinh là một thành tựu rất quan trọng của loài người trong chăn nuôi Hơn 50 năm qua, nhiều loại kháng sinh đã được sử dụng để phòng ngừa bệnh đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi Việc
bổ sung kháng sinh với liều thấp được xác nhận là đã cải thiện được các chỉ tiêu: lượng thức ăn thu nhận, tăng khối lượng/ngày 4-15%, hệ số chuyển hoá thức ăn 2-6%, (Morz, 2003) [53] Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có nhiều tài liệu đề cập đến việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và các cảnh báo về nguy cơ an toàn thực phẩm, khả năng kháng kháng sinh của vi sinh vật đối với con người và vật nuôi
Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn đã ảnh hưởng đến công tác điều trị gia súc ốm và đặc biệt là ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người (The World health Organization, the Steering Committee on Antimicrobial Resistance) [62] Việc
sử dụng kháng sinh trong thức ăn gia súc đã tạo ra các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh Khi sử dụng kháng sinh như là chất kích thích sinh trưởng đã xuất hiện tính kháng thuốc trong việc dùng oxytetracycline đối với vi khuẩn E.coli Năm 1983, ở Đông Đức người ta đã sử dụng streptothricine để thay thế cho oxytetracycline trong thức ăn gia súc và không thấy xuất hiện tính kháng thuốc
Trang 9của các vi khuẩn đường ruột ở người và gia súc Sau đó 2 năm, người ta đã phát hiện ra tính kháng thuốc của vi khuẩn E.coli ở đường ruột lợn và tiếp theo là vi khuẩn Salmonella và Shigella trong những trường hợp tiêu chảy Sự chuyển đổi
vi khuẩn kháng kháng sinh từ gia súc sang người cũng đã được chứng minh Đây là mối đe dọa nghiêm trọng đối với con người
Trước những tác động xấu của kháng sinh, thế giới đã và đang từng bước bãi bỏ, nghiêm cấm việc sử dụng kháng sinh bổ sung trong thức ăn cho gia súc nói chung và cho lợn nói riêng Đan Mạch cấm sử dụng avoparcin vào năm 1995 và năm 1998 cấm sử dụng virginiamycin Ủy ban quốc gia về chăn nuôi lợn của Đan Mạch đã có nhiều cuộc thảo luận và ra quyết định nghiêm cấm sử dụng kháng sinh như là chất kích thích sinh trưởng cho lợn vỗ béo, từ tháng tư năm 1998 và đến tháng một năm 2000 đã cấm sử dụng cho lợn ở tất
cả các lứa tuổi
Không sử dụng kháng sinh nhưng vẫn đảm bảo khả năng sản xuất của gia súc, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi nông hộ và đặc biệt là bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng là vấn đề được đặt ra và được nhiều nhà khoa học quan tâm
Chăn nuôi lợn không sử dụng chất kích thích sinh trưởng bằng kháng sinh là một trong những hướng đi trong tương lai Vấn đề này đã được nêu ra và thảo luận tại phiên họp thường niên lần thứ 50 của Hiệp hội chăn nuôi Châu Âu
tổ chức tại Muric – CHLB Đức tháng 8 năm 1999
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học để bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn, gia cầm, nhằm giảm việc sử dụng kháng sinh Một số chế phẩm sinh học như Orgacids, Allzym, dung dịch hoạt hoá điện hoá… có tác dụng kích thích tính ăn ngon miệng, làm giảm pH trong đường ruột, trong máu và trong phân đồng thời ức chế virus, vi khuẩn gây bệnh làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như cúm gia cầm, Newcasstle, Gumboro, E.coli, Salmonella, Clostridia…, các chế phẩm này cũng kích thích sự phát triển của vi khuẩn hữu ích giúp ổn định hệ vi sinh vật trong đường ruột (Mingan Choct,
Trang 102002) [52] Mặt khác khi sử dụng các chế phẩm này không ảnh hưởng đến chất lượng thịt cũng như ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và không tạo điều kiện cho vi khuẩn có khả năng gây nhờn thuốc (J.A Patterson, 2002) [59]
Quy định an toàn dịch bệnh của OIE được nêu rõ trong (Terrestrial Animal Health Code)[56] gồm 4 nội dung chính trong đó có những quy định cụ thể về thú y cho gia cầm và lợn, đưa ra những danh sách những bệnh cần kiểm soát
Trong quy định chung về an toàn dịch và vệ sinh thú y các cơ sở giống và
ấp trứng gia cầm có những nội dung quy định về địa điểm chăn nuôi, chế độ cách ly, quy định về vệ sinh chuồng trại và trang thiết bị chăn nuôi, ấp trứng đặc biệt là sự kiểm soát Salmonella và vệ sinh thức ăn, nước uống Gia súc, gia cầm chết xử lý trong hệ thống nhiệt độ áp suất cao là tốt nhất nhưng cũng có thể sử dụng phương pháp đốt thủ công bằng thiết bị chuyên dùng
Tiêu chuẩn về sức khoẻ của gia súc, gia cầm (Part1 Section1.2 Chapter1.2.1) và trách nhiệm của các nước xuất khẩu đã nêu rõ: thông tin về tình hình sức khoẻ gia súc gia cầm, xác định nước xuất khẩu không mắc một số bệnh nào đó, chi tiết khả năng của quốc gia xuất khẩu áp dụng các biện pháp kiểm soát và ngăn ngừa các bệnh có trong danh sách, thông tin về việc sử dụng vaccin…
Việc kiểm soát Salmonella enteritidis và Salmonella typhimurium ở gia cầm theo quy định của OIE (Part 2 Section 2.10 Chapter 2.10.2) chỉ ra rằng đối với các nước nhập khẩu từ nơi không có biểu hiện về bệnh này, trứng giống cũng như các thiết bị ấp cũng phải âm tính với hai loại mầm bệnh này
Đối với các bệnh Mycoplasmosis thường được kiểm tra với 5% tổng đàn
ở các độ tuổi 10, 15 và 26 tuần tuổi bằng phương pháp ngưng kết nhanh trên phiến kính (Part 2 Section 2.7 Chapter 2.7.3)
Với bệnh cúm gia cầm (Part 2 Section 2.7 Chapter 2.7.12) OIE cũng quy định: gà nhập khẩu từ những nước không có bệnh cúm gia cầm, những nơi xảy
ra cúm gia cầm phải để trống chuồng và sát trùng định kỳ sau 3 tháng thì được
Trang 11nuôi mới gia cầm và đặc biệt nghiêm cấm giết thịt những gia cầm bị dương tính với virus cúm gia cầm độc lực cao Khi nhập khẩu thịt gia cầm phải từ nơi không có dịch cúm gia cầm
Để kiểm soát an toàn thực phẩm các nước, tổ chức quốc tế còn đặt ra một loạt các tiêu chuẩn, các biện pháp giám sát, kiểm tra thú y đối với tất cả các công đoạn sản xuất, giết mổ chế biến và phân phối tiêu thụ
Năm 1996, ủy ban Châu Âu đã chỉ rõ “các tác nhân sinh học, hoá học gây ngộ độc thực phẩm rất đa dạng nhưng chúng có chung một điểm: song hành cùng vật nuôi “từ trang trại đến bàn ăn” Do vậy, việc quản lý kiểm tra vệ sinh
an toàn thực phẩm cũng phải khép kín “từ trang trại đến bàn ăn” Tại hội thảo
về vệ sinh thực phẩm tại Hà Lan, Noordhuizen và cs (1997) [54] cho biết: trang trại là điểm bắt đầu của quá trình sản xuất thực phẩm, tiếp đến là khâu giết mổ, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm
Trên thế giới đã thiết lập nhiều tổ chức quốc tế hoạt động về chương trình
Hà Lan là nước chủ trì Đến nay ISO đã biên soạn được 485 tiêu chuẩn về nông sản thực phẩm trong đó có 129 tiêu chuẩn về thức ăn gia súc, thịt, sữa
Uỷ ban tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (CAC): tổ chức này có 158 thành viên Việt Nam tham gia vào tổ chức này năm 1989 Hiện nay uỷ ban có 25 ban
kỹ thuật, và uỷ ban đã ban hành khoảng 400 tiêu chuẩn và kiến nghị thực hành
về thực phẩm
Khối thị trường chung châu Âu (EEC) cũng thành lập các uỷ ban tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm cho khối
Trang 12Hội vệ sinh thực phẩm thú y thế giới (WAFVH) thành lập năm 1952, thường xuyên tổ chức các hội nghị hội thảo về vệ sinh thực phẩm để trao đổi thông tin và phát hiện những bệnh mới phát sinh từ thực phẩm, các phương pháp chẩn đoán, kỹ thuật phân tích
Mỹ có tổ chức chăm sóc sức khoẻ cộng đồng (APHA) Tổ chức này nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm và đưa ra các phương pháp hạn chế những rủi ro do ngộ độc thực phẩm gây ra
Đức có Viện Thú y bảo vệ quyền lợi và sức khoẻ người tiêu dùng (BgVV) NewZealand có Viện nghiên cứu thịt (MIRIN)
Các nước Mỹ, Nhật, Anh, Pháp đều có luật riêng về thực phẩm (Food Act) rất sớm Thái Lan, bộ luật thực phẩm (Food Act) BE2522 năm 1979 gồm
78 điều, luật gồm 8 chương quy định khá tường tận yêu cầu về chất lượng thực phẩm, tổ chức giám sát chất lượng, xử phạt vi phạm,
Malayxia luật 281 có tên là “Luật thực phẩm 1983” Luật gồm 5 chương 36 điều Các quy định bổ sung 1985 (Food Act, 1983 and Food Regulations, 1985) gồm 399 điều trong đó mục các tiêu chuẩn và yêu cầu dán nhãn trên thực phẩm
Từ trước tới nay, có nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng thịt gà ở các góc độ khác nhau, tác giả David Wallinga (2002) [40] chỉ rõ Salmonella, Campylobacter là 2 vi khuẩn hàng đầu gây ra ngộ độc thực phẩm ở Mỹ Theo
dự đoán hàng năm có đến 3,3 triệu ca ngộ độc thực phẩm và hơn 650 ca tử vong Trẻ em có nguy cơ nhiễm Salmonella gấp 10 lần ở người lớn
Theo báo cáo của quan chức y tế Jerusalem tháng 11/2009 thì trong khi
sự nhiễm vi khuẩn Salmonella và Shigella đang giảm đi thì sự nhiễm Campylobacter đang gia tăng Nghiên cứu tập trung vào sự nhiễm khuẩn đường tiêu hoá ở Jerusalem trong giai đoạn từ năm 1990-2008 phát hiện trên 32408 trường hợp trong đó trường hợp nhiễm Sal đã giảm từ 200 người/100000người xuống còn 39 người năm 2008 Trong lúc đó, Campylobacter đã trở thành nguyên nhân hàng đầu dẫn đến trẻ em bị nhập viện với các triệu chứng về
Trang 13đường tiêu hoá ở miền Tây của Galilee - nhiều hơn rất nhiều so với Salmonella
và Shigella Những trường hợp bị Campylobacter vẫn tăng đều trên 20 năm qua, bắt đầu là 15 trường hợp/100000 người vào năm 1990 và tăng lên 100 trường hợp năm 2008 Đối với Shigella, số lượng đã nhảy vọt với 105 trường hợp/100000 người vào năm 2008 (WorldPoultry.net, 3/2010) [66]
Cũng theo nguồn thông tin này thì một nghiên cứu ở Nasharya đã tìm ra rằng trong 99 trường hợp trẻ em nhập viện vì nhiễm vi khuẩn đường ruột ttrong thời gian từ năm 2007 đến tháng 8/2009 thì có 59% là do Campylobacter trong khi đó chỉ có 24% là do Shigella và 14% do Salmonella
Dr Danny Glickman - người đứng đầu phòng bệnh nhiễm khuẩn ở bệnh viện cho biết ở Isarel cho biết Campylobacter trở thành nguyên nhân chính ở những đứa trẻ phải nằm viện do bị nhiễm khuẩn đường ruột và bệnh lỵ và gây nên bệnh tiêu chảy Ông này nói rằng thịt gia cầm giết mổ không thích hợp là nguyên nhân chính cho sự gia tăng những trường hợp nhiễm Campylobacter Vi khuẩn lây từ gia cầm sang người khi con người rửa tay không sạch sau khi giết
mổ gia cầm (WorldPoultry.net, 3/2010) [66]
Theo EFSA, (2010) [67] đã công bố kết quả điều tra về Campylobacter
và Salmonella trên gia cầm ở các nhà máy giết mổ của các nước Liên minh Châu Âu cho thấy rằng tất cả các thành viên tham dự cuộc điều tra năm 2008 phát hiện có Campylobacter trong gia cầm ở mẫu họ thử Trung bình vi khuẩn Campylobacter được tìm thấy ở ruột non là 71% cho thấy rằng chúng đã bị nhiễm khi còn sống, và 76% thân thịt bị nhiễm vi khuẩn chứng tỏ rằng bị nhiễm trong qúa trình giết mổ (số liệu ở các nước là khác nhau) Các chuyên gia đã thừa nhận vi khuẩn Campylobacter trong thịt gia cầm là một nguồn chính nếu không nói là lớn nhất gây bệnh cho người Trong khi đó vi khuẩn Salmonella cũng đã tìm thấy ở những mẫu thân thịt đem xét nghiệm Trung bình, có 15,7% mẫu thân thịt bị nhiễm Salmonella mặc dù số lượng ở các nước thành viên là khác nhau Có nhiều chủng Salmonella khác nhau nhưng 17 nước thành viên
Trang 14đều thông báo chủng Enteritidis và Typhimurium là hai chủng có liên quan đến việc nhiễm bệnh cho người nhất
Song song với các loại vi khuẩn thì các kim loại nặng như: Chì (Pb); Cadimi (Cd); Thuỷ ngân (Hg) cũng gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống của con người Canadian Food Inspection System 1/1/2004 khẳng định về lượng kháng sinh tồn dư tối đa trong thịt gà: Amprolium 0,5 ppm ở cơ; 1,0 ppm ở phổi, thận; 7,0 ppm ở tuỷ; Tylosin 0,2 ppm ở cơ, phổi, thận, mỡ [69]
Quản lý chất lượng an toàn thực phẩm luôn là vấn đề thời sự ở hầu khắp mọi quốc gia trên thế giới Trình độ dân trí và nền kinh tế phát triển ở mỗi nước khác nhau mức yêu cầu chất lượng an toàn thực phẩm khác nhau Thực phẩm
an toàn là thực phẩm không chứa mầm bệnh lây sang người, không bị nhiễm khuẩn ở mức nguy hại, tồn dư về thuốc kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng thấp hơn giới hạn cho phép
Sự tồn dư kháng sinh họ Tetraxyclin ở Mỹ 0,1 ppm, ở Úc 0,25 ppm và ở khối EEC 0,3 ppm
Tiêu chuẩn nhập khẩu thịt gà vào Nhật Bản cho phép tồn dư: Oxytetracycline 0,3 ppm ở gan; 0,6 ppm ở thận; 0,1 ppm ở cơ; Sunfadimidine 0,1 ppm ở gan, thận; 0,01 ppm ở mỡ
Theo Codex (CAC) FAO [41], hàm lượng tồn dư một số loại kháng sinh trong thịt gà được quy định: Procaine benzylpenicillin 50 µg/kg trong cơ, thận, gan; Dihydrostreptomycin/Streptomycin 500 µg/kg trong cơ, gan, mỡ; Neomycin 500 µg/kg; Oxytetracycline 100 µg/kg
Khối EU đặc biệt quan tâm đến thịt gà sản xuất bằng công nghệ nào, có nuôi bằng ngũ cốc biến đổi gen không? Như các nước Mỹ, Nhật, Anh, Pháp các sản phẩm chăn nuôi được thu gom giết mổ chế biến trong điều kiện vệ sinh nghiêm ngặt, yêu cầu vệ sinh đối với nhà xưởng, thiết bị, công nhân chế biến đều được quy định rất chặt chẽ trong các tiêu chuẩn
Tuy nhiên, các nước đang phát triển công nghiệp chế biến còn yếu, sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tiêu thụ tươi sống, điều kiện vệ sinh thực phẩm kém
Trang 15Để kiểm soát an toàn và chất lượng thịt gà cần phải chú ý đến các nhân tố như: giá trị dinh dưỡng của thực phẩm, khả năng tích luỹ chất độc hại và vi sinh vật có hại ở các công đoạn sản xuất
Theo tạp chí FVE (2007) [43] ngày nay cần kiểm soát thực phẩm một cách hệ thống từ khâu sản xuất thức ăn đến chăn nuôi, giết mổ, chế biến thực phẩm và bán thực phẩm đến người tiêu dùng
Kết quả nghiên cứu của David Wallinga (2002) [40] cho thấy để có nguồn thịt gà an toàn cần nâng cao chất lượng vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi, giết mổ Mặt khác tránh sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt bởi lẽ khi sử dụng kháng sinh cho gà thịt sẽ dẫn đến thịt gà khi giết mổ bị nhiễm vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh Kết quả nghiên cứu của ông cũng chỉ rõ để có sản phẩm thịt gà an toàn cần phải kiểm soát chặt chẽ các khâu thức ăn, vận chuyển, chế biến và quá trình lưu thông thịt gà trên thị trường
Theo kết quả nghiên cứu của M.Petrracci (2010) [65], chất lượng thịt gia cầm bị ảnh hưởng bới nhiều yếu tố tướng tác lẫn nhau bao gồm giống, thức ăn, chăn nuôi, quá trình vận chuyển, giết mổ, chế biến và điều kiện bảo quản
Để phát triển chăn nuôi bền vững tạo sản phẩm có chất lượng tốt, các trang trại trên thế giới đều rất quan tâm đến môi trường xung quanh một cách thường xuyên Theo WHO (2005) [62] khuyến cáo phải có các giải pháp tăng cường sự trong sạch môi trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, tăng cường sức khỏe vật nuôi
Việc thải amoniac từ phân ảnh hưởng mạnh mẽ tới chất lượng môi trường Hàm lượng amoniac quá nhiều trong không khí chuồng nuôi trong trường hợp ẩm độ cao có thể dẫn đến axit hoá không khí và nước trong máng uống , gây ra những hiểm họa cho đường hô hấp, viêm loét các giác mạc cho vật nuôi và người công nhân trực tiếp chăn nuôi
Kết quả phân tích 60 mẫu phân gà thương phẩm thịt của phòng thí nghiệm trường Đại học Arkansas cho thấy hàm lượng nitơ chứa trong phân gà trung bình 2,55% , kali là 1,71% (ở độ ẩm 22,1% của mẫu phân) Chapman và
Trang 16Snyder, 1992 (Nguyễn Văn Hải dịch) [45] Nhưng khoảng 1/2 lượng nitơ này bay hơi vào khí quyển Việc mất nitơ có chiều hướng tăng theo mức độ kéo dài thời gian cất trữ phân (Patterson, 1994); Sharplex và cs, (1996) (Nguyễn Văn Hải dịch) [45] đã thông báo rằng việc tăng thời gian chất độn chuồng được ủ mục và sử dụng chúng khi gặp thời tiết trời mưa kéo dài từ 10 đến 35 ngày nitơ
dễ khuếch tán đi các nơi, thẩm thấu xuống đất nên nhanh chóng giảm hàm lượng từ 7,54% xuống 2,34%, ammonium (NH3-N) từ 5,53% xuống 0,11%, photpho hoà tan (dissolved phosphorus DP) do bám vào đất nên giảm từ 0,74% xuống 0,45% và photpho (bioavailable phosphorus (BAP) từ 0,40 xuống 0,25mg/lít…
Như vậy, trong chăn nuôi gia súc, gia cầm các chất thải vào không khí như amoniac, H2S, vào đất như Nitơ, phot pho , các vi sinh vật, bụi là những chất chính làm cho môi trường xấu đi
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy việc sản xuất thịt gà an toàn không chỉ đơn thuần ở một khâu nào mà phải bắt đầu từ việc lựa chọn giống, chế độ dinh dưỡng, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình phòng bệnh, kiểm soát giết mổ, chế biến và vận chuyển tiêu thụ đúng như Franz Geiser đã khẳng định
“From Stable to table” phải kiểm soát từ chuồng nuôi đến bàn ăn
Có thể chia quá trình sản xuất thịt gà, thịt lợn đáp ứng được tiêu chí an toàn thực phẩm thành 3 công đoạn được kiểm soát chặt sau:
Công đoạn 1: Lựa chọn giống lợn, gà Quy trình sản xuất giống thương phẩm và chăn nuôi thịt
Công đoạn 2: Giết mổ và chế biến thịt lợn, gà
Công đoạn 3: Lưu thông thịt lợn, gà trên thị trường
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước :
Trong thời gian hơn 2 thập kỷ gần đây, chăn nuôi lợn và gà đã đạt được
cả về số lượng và chất lượng Đặc biệt phải kể đến phương thức chăn nuôi trang trại phát triển nhanh về số lượng và quy mô, công nghệ chăn nuôi đã có nhiều tiến bộ Hiện nay cả nước có 20.809 trang trại chăn nuôi, tăng gấp hơn 10 lần so
Trang 17với năm 2001, chăn nuôi lợn có 7.475 trang trại chiếm tỷ lệ lớn nhất 42,2%/ tổng số trang trại, kế đến là chăn nuôi bò, với 6.405 trang trại chiếm 36,1%; chăn nuôi gia cầm đứng vị trí thứ 3, với 2.838 trang trại chiếm 16% (Tổng cục Thống kê, 2009) [21]
Từ khi ban hành nghị quyết 03 của chính phủ về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại thì số lượng trang trại tăng lên nhanh chóng Mô hình kinh tế trang trại có vai trò thúc đẩy sản xuất nông nghiệp đặc biệt hình thức sản xuất nông sản hàng hoá, khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đất đai, lao động, huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, từng bước mở rộng sản xuất đổi mới công nghệ, trang thiết bị tạo ra thu nhập của trang trại vượt trội so với kinh
tế hộ
Kinh tế trang trại đã tự khẳng định được tính linh hoạt, khả năng liên doanh, liên kết và hiệu quả kinh tế, đồng thời phát huy nội lực mở rộng quy mô sản xuất nông sản hàng hoá Năm 2004, tổng giá trị hàng hoá của các trang trại ước tính 70.047 tỷ đồng, bình quân 1 trang trại đã tạo ra giá trị sản xuất 980 triệu đồng, gấp 6-8 lần so với bình quân sản xuất của 1 hộ nông nghiệp
Chăn nuôi trang trại phát triển tạo điều kiện cho việc áp dụng những giải pháp, tiến bộ khoa học mới trong lĩnh vực chăn nuôi, nhất là xử lý dịch bệnh và giải quyết ô nhiễm môi trường Tuy vậy, nhìn chung việc áp dụng tiến
bộ kỹ thuật vào chăn nuôi trang trại chưa cao, lao động thủ công còn chiếm trên 70%, mới chỉ cơ khí hoá một số khâu như điều hoà không khí, ấp trứng quy mô nhỏ, cung cấp nước uống, phun thuốc phòng trừ dịch bệnh, và công cụ phân phối thức ăn, thu dọn phân Người lao động còn nhiều việc thủ công, vất
vả, năng suất lao động thấp (định mức 1 lao động chỉ chăm sóc 120 lợn, hoặc
1200 gà) Nếu đẩy tới được trang bị 30% cơ khí hoá sẽ tăng năng suất lao động 1,5- 3 lần vì vậy nghiên cứu tăng cường đầu tư trang bị cho trang trại chăn nuôi là việc làm cần thiết
Trong chương trình giống quốc gia đã cho phép một số cơ sở của Viện Chăn nuôi nhập các thiết bị chăn nuôi đồng bộ, chuồng nuôi sinh sản khép kín
Trang 18tự động điều khiển tiểu khí hậu chuồng nuôi (tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương, Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương và Trung tâm chuyển giao tiến bộ TP HCM với các thiết bị chuồng nuôi khép kín mỗi năm có thể sản xuất hàng chục nghìn lợn giống và trên 2 triệu gà giống chất lượng cao) Ngoài
ra còn có các thiết bị ấp nở hiện đại đó là những thực tiễn sinh động để làm căn
cứ áp dụng các giải pháp khoa học công nghệ và quản lý trong tổ chức sản xuất quy mô lớn
Để phù hợp với phương thức chăn nuôi trang trại đang phát triển đã có nhiều giống mới chất lượng cao được nghiên cứu đưa vào sản xuất
Nghiên cứu về lai kinh tế lợn đã thu được nhiều thành tựu Tính đến nay
cả nước đã nghiên cứu khảo sát trên 45 tổ hợp lợn lai Phần lớn trong số đó là các lợn lai giữa các giống lợn nội với ngoại và ngoại với ngoại
Từ những năm 80, chương trình nghiên cứu các giống lợn đã được triển khai mạnh mẽ, trong đó có việc thăm dò các tổ hợp lai giữa các giống lợn ngoại: bao gồm tổ hợp lợn lai 3 giống ngoại là (DYL); (DLY) và tổ hợp lai 2 giống (YL); (LY) Các chỉ tiêu năng suất chất lượng thịt xẻ của lợn lai 3 giống ngoại này đều tốt hơn so với lợn lai 2 giống như tỉ lệ thịt xẻ (77,5% và 76,3%), tỉ lệ thịt loại I xuất khẩu (40,8% và 37,8%) và độ dày mỡ lưng thấp hơn 2,37mm và 2,61mm (Lê Thanh Hải và cs, 1990) [8]
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Viễn và cộng sự (2001), [31] khi nghiên cứu
về ưu thế lai thành phần và di truyền cộng gộp của các tổ hợp lợn lai 3 giống ngoại D(LY) và D(YL) tại các tỉnh phía Nam cho thấy lợn Duroc cho kết quả tốt nhất về tiêu tốn thức ăn và độ dày mỡ lưng, trong khi đó lợn Yorkshire đóng góp nhiều nhất cho tổ hợp lai về khả năng tăng trọng và lợn Landrace có ưu thế
về cải thiện độ dày mỡ lưng Kết qủa nghiên cứu cho thấy, các chỉ tiêu năng suất của tổ hợp lợn lai 3 giống ngoại D(YL) và D(LY) đạt: tăng trọng từ 558 đến 593 g/ngày, tiêu tốn thức ăn 3,12 - 3,28 kg/kg tăng trọng và độ dày mỡ lưng
từ 13,2 đến 16,5mm
Trang 19Các nghiên cứu về lợn lai 3, 4 và 5 máu cũng đã được tiến hành tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương, Viện Chăn nuôi Khi nghiên cứu về năng suất của lợn lai 3 giống D(LY) và D(YL), tác giả Phùng Thị Vân và cộng sự (2001) [29] đã khẳng định 2 tổ hợp lợn lai này có ưu thế tốt hơn về khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn so với các nhóm lợn lai 2 giống ngoại Các chỉ tiêu năng suất của lợn lai 3 giống D(YL) và D(LY) cho thấy: số con cai sữa 35 ngày tuổi đạt 9,6 - 9,7 con/ổ, khối lượng lợn lúc 60 ngày tuổi 166 - 171 kg/ổ, thời gian vỗ béo trong giai đoạn từ 22 đến 92 kg là 104 ngày, tiêu tốn thức ăn ở mức 2,89 - 3,17 kg/kg tăng trọng, tăng trọng trung bình đạt 630,8 - 708,7g/ngày, tỷ lệ thịt móc hàm đạt 70,8 - 70,9% và tỷ lệ thịt nạc là 56,39 - 60,63%
Nguyễn Văn Đồng và cộng sự (2004)[4] nghiên cứu khả năng sinh trưởng và sinh sản của 2 tổ hợp lợn lai CA và C22 (nguồn gốc PIC) đã cho kết quả chỉ tiêu số con sơ sinh sống của 2 tổ hợp lợn lai bố mẹ CA và C22 từ lứa 2 đến lứa 4 tương ứng là 10,12 và 10,21 con; số con để nuôi là 9,82 và 9,96; khối lượng cai sữa tương ứng là 6,12 kg và 6,01 kg ở thời điểm 23 ngày tuổi Các kết quả của nghiên cứu này chứng minh tính thích nghi của 2 tổ hợp lợn lai bố mẹ
có nguồn gốc PIC trong điều kiện chăn nuôi Việt Nam
Bên cạnh các kết quả nghiên cứu về giống lợn, các công trình nghiên cứu
về các giống gà đã đạt được kết quả đáng khích lệ Từ những năm 1970 chăn nuôi gà công nghiệp đã hình thành và phát triển với những giống gà chuyên thịt nổi tiếng đã được nhập và nuôi cho kết quả tốt như: gà Plymouth, Hybro, BE, Ross 208, Ross 308, Avian, Cobb, AA, Lohmann Thời gian nuôi gà broiler đã rút ngắn chỉ nuôi đến 42 ngày tuổi, khối lượng cơ thể đạt 2,1 - 2,2kg/con với tiêu tốn thức ăn thấp 1,7 - 1,8kg/kg tăng trọng Chăn nuôi gà công nghiệp phát triển theo hướng trang trại quy mô hàng hoá Các giống đang nuôi phổ biến: AA (Arbor acress), Avian, Ross 208, 308, Cobb
Từ những năm 1990, theo xu thế chung của thế giới, khu vực và với nét văn hoá ẩm thực riêng, nước ta đã đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển nhiều
Trang 20giống gà lông màu năng suất chất lượng cao Trong những năm gần đây, nhiều giống gà chăn thả lông màu đã được nhập vào nước ta do có ưu điểm: dễ nuôi, thịt ngon, khả năng cho thịt cao, sinh sản tốt như: Tam Hoàng 882 nhập năm
1992, Tam Hoàng Jiangcun nhập năm 1995 và Lương Phượng của Trung Quốc nhập năm 1997; Kabir của Israel nhập năm 1997; gà Ai Cập nhập năm 1997; ISA 57 nhập năm 1999; ISA Color nhập năm 2000, gà Sasso nhập năm của công hoà Pháp… Các giống gà này đã được thị trường ưa chuộng nên phát triển nhanh trong sản xuất Hàng năm đã cung cấp cho thị trường hàng chục triệu con giống gà lông màu nuôi thịt
Tuy nhiên các giống nhập trên chủ yếu là giống bố mẹ, thương phẩm, mặt khác nuôi trong điều kiện trang thiết bị lạc hậu xuống cấp, chế độ dinh dưỡng chưa hợp lý chưa có quy trình phù hợp nên không phát huy được tiềm năng con giống, năng suất chỉ đạt 80 - 85% nguyên gốc, hiệu quả chăn nuôi thấp hạn chế sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
Từ nguyên liệu các giống gà nhập nội trên, kết hợp với nguồn gen trong nước nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu chọn tạo các giống gà năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện Việt Nam:
Trần Công Xuân và cộng sự, 2004 [34] đã nghiên cứu chọn tạo 3 dòng
gà LV, được công nhận là dòng ông bà và đưa vào danh mục giống gốc quốc gia
Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2004 [25] đã nghiên cứu chọn lọc nhân thuần dòng gà chăn thả của Ai Cập có chất lượng và màu sắc vỏ trứng được thị trường ưa chuộng và đã được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận là dòng thuần và được đưa vào danh mục giống gốc quốc gia
Phùng Đức Tiến và cộng sự (2010)[26], đã chọn tạo thành công 4 dòng
gà lông màu hướng thịt TP1, TP2, TP3 và TP4 Các dòng gà này đang phát triển rộng khắp các vùng sinh thái trên cả nước
Tuy đạt được một số thành tựu nhất định trong nghiên cứu nhưng hệ thống giống gia cầm còn nhiều bất cập, chưa phát huy được ưu thế lai trong sản
Trang 21xuất Sử dụng nhiều giống không rõ nguồn gốc, giống nhập lậu kém chất lượng nhập tràn lan không được kiểm soát, giống tự giao từ đàn thương phẩm, tiềm năng di truyền các giống trong nước còn quá thấp, chưa được chọn lọc nâng cao Mặt khác, chăn nuôi trong nông hộ chưa được đầu tư về khoa học công nghệ, năng suất thấp, luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dich bệnh…
Tiểu khí hậu chuông nuôi có ảnh hưởng đặt biệt quan trọng đến năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Tiểu khí hậu chuồng nuôi bao gồm các yếu tố môi trường trong chuồng nuôi ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến vật nuôi: Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, độ bụi,
vi sinh vật và các loại khí thải (NH3, CO2, H2S, …)
Về tiểu khí hậu chuồng nuôi đã được các tác giả Nguyễn Hữu Cường, Đỗ Ngọc Hoè và các cộng sự 1995[3], nghiên cứu một số chỉ tiêu vệ sinh ở các chuồng gà công nghiệp trong mùa hè, mùa đông và nguồn nước cho chăn nuôi ở
Hà Nội Kết quả cho thấy cải tiến chuồng nuôi bằng lắp trần cách nhiệt và đặt quạt thông gió đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong chăn nuôi gà công nghiệp, tỷ lệ nuôi sống tăng lên từ 94,2 - 96% của lô đối chứng, lên đến 98% lô làm trần và 98,6% lô lắp quạt Tỷ lệ đẻ trứng tăng lên đáng kể: 49,2% (lô có quạt) so với 45,8% (lô đối chứng); trong khi đó tỷ lệ loại thải ở chuồng có trần giảm xuống
rõ rệt từ 27,4% (lô đối chứng) xuống 15,86% (lô có trần) và 6,3% (chuồng có quạt) Chính vì vậy đã làm giảm lượng tiêu tốn thức ăn/10quả trứng từ 3,5 kg ở chuồng không có quạt xuống còn 3,27 kg ở chuồng có quạt Tuy nhiên, các nghiên cứu về hệ thống chuồng nuôi và nhất là tiểu khí hậu chuồng nuôi còn đơn lẻ và chưa có tính hệ thống đồng bộ với chăm sóc nuôi dưỡng, an toàn sinh học
Nhiệt độ chuồng nuôi là nhân tố ảnh hưởng lớn đến năng suất và sức khoẻ vật nuôi Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nhiệt độ <120C và > 260C lợn bắt đầu phải điều tiết thân nhiệt, do vậy chúng sẽ tốn hao một nguồn năng lượng đáng kể để duy trì thân nhiệt cơ thể Richard, Ephilips, William (1996) đã đưa ra giới hạn nhiệt cho các loại lợn như sau: lợn choai, lợn vỗ béo, lợn nái
Trang 22nuôi con, lợn nái chửa, lợn đực giống là từ 10 - 230C; lợn con sau cai sữa 24 -
300C; lợn sơ sinh 32 - 380C
Khi nhiệt độ chuồng nuôi quá nóng, lợn giảm ăn, tốc độ sinh trưởng giảm, giảm năng suất sinh sản: chỉ số lứa đẻ giảm, số con sơ sinh/ổ giảm, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa giảm Đối với lợn choai và lợn thịt, nhiệt độ chuồng nuôi tăng hơn so với nhiệt độ thích hợp 30c lợn giảm ăn và giảm tăng trọng 10- 15%; lợn nái nuôi con giảm lượng thức ăn thu nhận từ 0,5- 1,8 kg thức ăn, tỷ lệ nái hao mòn cao, giảm trọng lượng con cai sữa và kéo dài thời gian động dục trở lại sau cai sữa (Ngọc Tiến, 2005)[68] Cách chống nóng tốt nhất là chuồng phải cao ráo, thông thoáng, làm trần chống nóng, lắp hệ thống phun mưa làm mát trên mái, đặt hệ thống ống nước giỏ giọt trên gáy lợn v.v
Đã có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học để thay thế kháng sinh trong chăn nuôi lợn như bổ sung chế phẩm acid hữu cơ ultracidlacdry và adimixbutyrate trong thức ăn cho lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi hay Sử dụng acid formic và các acid hữu cơ thay thế kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi (Phạm Duy Phẩm, 2006)[11]
Nước ta mang khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện thuận lợi cho các loại bệnh: Dịch tả lợn, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng và Đóng dấu lợn lưu hành và phát triển Để khống chế dịch bệnh, ngoài các giải pháp về vệ sinh an toàn sinh học, sử dụng các chế phẩm sinh học để thay thế kháng sinh, việc sử dụng các loại vaccine để giúp gia súc chủ động tạo kháng thể phòng chống mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể cũng là giải pháp đặc biệt hữu hiệu
Sau khi lợn được tiêm vaccine, kháng nguyên từ vaccine đã kích thích hệ thống miễn dịch sản sinh ra kháng thể miến dịch Kháng thể là các protein có trong huyết thanh hoặc dịch sinh học của cơ thể (nước tiểu, sữa ) có khả năng liên kết đặc hiệu với kháng nguyên đã kích thích sinh ra nó
Khả năng sản sinh ra kháng thể khi cơ thể gia súc được tiếp xúc với kháng nguyên gọi là khả năng đáp ứng miễn dịch Khả năng đáp ứng miến dịch
Trang 23của gia súc phụ thuộc vào nhiều yếu tố Môi trường nuôi dưỡng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn
Xí nghiệp chăn nuôi heo Đồng Hiệp - TP Hồ Chí Minh, với tổng đàn 18.000 con (có 2.500 lợn nái sinh sản) hàng năm cung cấp cho các đơn vị, hộ chăn nuôi 30.000 - 35.000 lợn con (20kg/con); 1.500 - 2.000 lợn hậu bị và cung ứng cho thị trường gần 15.000 con lợn thịt (90-100kg/con) đã đưa ra quy trình chăn nuôi lợn an toàn nhằm đạt các tiêu chuẩn về an toàn theo tiêu chuần ngành quy định Muốn có thịt sạch phải có sự đồng bộ: Thức ăn phải đúng tiêu chuẩn không chứa các chất cấm Cơ sở chăn nuôi phải đảm bảo vệ sinh, an toàn cho đàn lợn, thức ăn đảm bảo chất lượng, nước uống đầy đủ không bị ô nhiễm Khâu giết mổ, pha lóc, chế biến, vận chuyển, phân phối đảm bảo đúng các tiêu chuẩn vệ sinh Thực hiện quy trình “cùng vào cùng ra” đối với đàn nái GP (ông bà), PS (bố mẹ), hậu bị thương phẩm và lợn thịt [36]
Cho đến nay, việc nghiên cứu môi trường chăn nuôi ở nước ta chưa được thực hiện một cách toàn diện và có hệ thống Có một số ít công trình nghiên cứu tại các địa điểm đơn lẻ Theo thông báo của Phùng Thị Vân và cộng sự (2004)[30], khảo sát tại hai xã Trực Thái (Nam Định) và Trung Châu (Hà Tây) cho thấy hầu hết các hộ chăn nuôi đều để nước thải và chất thải chảy tự do ra môi trường xung quanh gây mùi hôi thối, nồng nặc, đặc biệt vào những ngày oi bức, chuồng nuôi có độ thông thoáng kém gây cảm giác ngột ngạt, khó chịu Nồng độ khí H2S và NH3 đều cao hơn mức cho phép tới 4,7 lần Tổng số vi sinh vật và bào
tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần, nếu so với tiêu chuẩn của Nga (1991) thì cao gấp 12 lần về chỉ tiêu vi sinh vật và 8,3 lần về nấm Ngoài ra, nước thải chăn nuôi còn có chứa hàm lượng Coliform, E.Coli, COD, BOD và lượng trứng giun trung bình 4025 trứng/500ml, cao hơn rất nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép
Kết quả nghiên cứu của Viện Công nghệ môi trường kết hợp với Viện Thú
y Quốc gia kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn chuồng nuôi gà tại khu vực Hà Nội cho thấy tổng số vi khuẩn trong không khí ở chuồng nuôi cao gấp 30 đến 40 lần so
Trang 24với không khí bên ngoài Như vậy vấn đề thường xuyên đánh giá được chất lượng không khí trong chuồng nuôi để có giải pháp kiểm soát là cần thiết (Nguyễn Hoài Châu, 2005)[2]
Để xử lý vấn đề ô nhiễm và nâng cao năng suất chăn nuôi một cách hữu hiệu các tác giả Phùng Thị Vân và cộng sự (2004) [30] đã đề xuất giải pháp xử lý chất thải bằng Biogas kết hợp với biện pháp nâng độ cao chuồng nuôi, cải tạo mái tạo độ thông thoáng, cải tạo mặt bằng san lấp các vũng lầy, trũng tù đọng nước trong khu vực chăn nuôi Kết quả cho thấy chuồng trại được thông thoáng, khí độc trong chuồng nuôi NH3 giảm 46,81%, khí H2S giảm 28,9%, bụi lơ lửng giảm 15,4% Tổng số VSV trong không khí chuồng nuôi giảm 62,28%, E.Coli giảm 46,5%, bào tử nấm giảm 53,9% Hàm lượng COD và BOD5 giảm tương ứng 63,45% và 37,39% Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp giảm được 4,06 - 4,42%, bệnh tiêu chảy giảm được 7,66 - 10,99% Để xây dựng vùng sản xuất hàng hoá quy mô lớn đòi hỏi có những giải pháp xử lý bảo vệ môi trường đồng
bộ đi cùng
Ngày nay đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao Nhu cầu của xã hội về thực phẩm cũng đi theo xu hướng an toàn và chất lượng cao Song, từ thực trạng sản xuất cho thấy còn nhiều vấn đề phải giải quyết trước mắt cũng như lâu dài để phát triển bền vững ngành chăn nuôi lợn và gia cầm Việt Nam
Hiện nay, ở nước ta hầu hết các tỉnh thành, thị trường thực phẩm thịt gà, lợn cũng như các loại thịt khác chưa được kiểm soát quản lý chặt chẽ theo hệ thống khép kín từ sản xuất con giống, kỹ thuật chăn nuôi, thú y phòng bệnh, an toàn sinh học, giết mổ, bảo quản đến tiêu thụ Điều kiện giết mổ còn thủ công, lạc hậu, thịt được bày bán tràn lan ở các chợ, mức độ nhiễm vi sinh vật, tồn dư kháng sinh, kim loại nặng chưa được kiểm soát, chất lượng sản phẩm còn nhiều bất cập
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước về vấn đề ô nhiễm
vi sinh vật trong thực phẩm đã được công bố như
Trang 25Lê Minh Sơn (1998) [14] nghiên cứu sự ô nhiễm Salmonella trong thịt xuất khẩu vùng hữu ngạn sông Hồng
Đặng Thị Hạnh và cs (1999) [7] đã nghiên cứu và báo cáo về tình hình nhiễm khuẩn trên thịt lơn tươi tại một số chợ ở thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy 100% mẫu thịt lợn đều không đạt yêu cầu về tiêu chuẩn vi sinh đối với các chỉ tiêu: tổng số vi khuẩn hiếu khí, E.coli, Staphyloccocus Aureus, Clostridium sinh H2S, Salmonella, Sigella và Vibrio
Kết quả xét nghiệm các mẫu thịt tại các trạm kiểm dịch, lò mổ, chợ đầu mối, chợ bán lẻ ở thành phố Hồ Chí Minh (Hồ Thị Thu Nguyệt, 2000) (dẫn theo
Lã Văn Kính, 2001) [9] cho thấy: 75,46% số mẫu tại chốt kiểm dịch động vật; 52,3% số mẫu tại lò mổ; 79,49% số mẫu tại các chợ bán xỉ và 95,21% số mẫu tại chợ bán lẻ là không đạt yêu cầu vệ sinh vi sinh
Theo Nguyễn Ngọc Tuân (2002) [27] kết quả khảo sát tình hình vệ sinh thịt lợn tại chợ bán lẻ ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy: mức độ nhiễm E.coli từ 0 - 7,5.105CFU/g; Staphyloccocus aureus từ 0 - 1.105 CFU/g; Clostridium perfringens từ 20 - 5.102 CFU/g; 11,9% quầy thịt nhiễm Vibrio cholerae với tỉ lệ nhiễm là 7,1%
Các kết quả đi sâu nghiên cứu tác động, tồn dư các chất kháng sinh, dư lượng các chất hormon, kim loại nặng và các chất bảo vệ thực vật trong thịt cũng cho thấy những hồi chuông báo động
Kết quả điều tra của Lã Văn Kính, 2001 [9] về tình hình sử dụng kháng sinh trong thức ăn hỗn hợp cho lợn và gà cho thấy: 100% số mẫu có sử dụng Oxytetracyclin, 67% có Chloramphenicol, 30% có Olaquindox và về tồn dư kháng sinh trong sản phẩm thịt lợn và gà thì có tới 52,17% số mẫu thịt lợn và thịt gà
có tồn dư kháng sinh ở mức cao gấp hàng chục, hàng trăm ngàn lần so với tiêu chuẩn quốc tế và hàng chục, hàng trăm lần so với tiêu chuẩn Việt Nam
Đinh Thiện Thuận (2001) [20] đã điều tra tình hình sử dụng kháng sinh tại một số cơ sở chăn nuôi lợn, gà ở Bình Dương, kết quả cho thấy: 82,89% số
cơ sở sử dụng kháng sinh không hợp lý (sử dụng theo kinh nghiệm, không đúng
Trang 26liều lượng và liệu trình điều trị, không xét nghiệm kháng sinh đồ); 40,13% số cơ
sở không ngừng thuốc đúng quy định, bán chạy khi điều trị không hiệu quả Khi phân tích mẫu thịt lợn cho thấy tỷ lệ tồn dư kháng sinh là 62,5%
Kết quả khảo sát tại các trại chăn nuôi lợn ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Như Pho (2003)[12], cho thấy: 20% số trại sử dụng kháng sinh theo hướng dẫn của cán bộ thú y; 39,05% số trại sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất và không có trại nào sử dụng kháng sinh theo kết quả xét nghiệm và thử kháng sinh đồ Kết quả kiểm tra tồn dư kháng sinh cho thấy 28,6% số mẫu thận lợn và 13,2% số mẫu thịt lợn có tồn dư kháng sinh
Theo kết quả khảo sát của Trường đại học Nông lâm - Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong 149 mẫu thịt gà được kiểm tra có đến 44,96% mẫu có hàm lượng kháng sinh vượt quá mức cho phép từ 2,5 đến 1100 lần so với tiêu chuẩn ngành Trong đó Chloramfenicol chiếm 87,5%; Flumequin chiếm 83,3%; Chlotetracycline chiếm 62,5%; Amoxicilin 60% Kết quả điều tra 628 hộ chăn nuôi gà còn sử dụng kháng sinh không hợp lý: dùng liên tục làm cho người sử dụng sản phẩm chịu tác động bất lợi về sức khoẻ (dẫn theo Phùng Đức Tiến và
cs, 2007[23])
Trong những năm từ 2004 - 2006 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi đã triển khai đề tài nghiên cứu sản xuất thịt gà an toàn chất lượng cao ở khu vực đồng bằng sông Hồng và miền Đông Nam bộ Kết quả nghiên cứu cho thấy: phân tích mẫu thịt gà, mức nhiễm kháng sinh Oxytetraxyclin 2,33 ± 0,08mg/kg, mức nhiễm kháng sinh Clotetraxyclin 0,25 ± 0,09mg/kg vượt xa giới hạn cho phép (0,1mg/kg) theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7047 - 2002 Nguyên nhân của sự tồn dư kháng sinh này trong thịt gà là
do các chủ trang trại thường dùng Oxytetraxyclin hoặc Clotetraxyclin pha vào nước cho gia cầm uống để phòng bệnh Qua phân tích mẫu điều tra của 18 cơ sở giết mổ tại ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai được thực hiện năm
2004 thấy rằng sự ô nhiễm vi sinh vật ở dụng cụ giết mổ, ở nguồn nước và trên thịt gà nhiễm với mức cao 100% mẫu nhiễm E.coli, vượt mức cho phép từ 1,3 -
Trang 273,3 lần, 100% số mẫu nhiễm Coliform vượt mức cho phép 3 - 6 lần Mức nhiễm Clostridium perfringe và Stapylococus aureus khá cao Đặc biệt có 11% số mẫu
ở dụng cụ giết mổ có phản ứng dương tính với Salmonella là mối nguy hiểm có thể gây nên ngộ độc, Phùng Đức Tiến và cộng sự (2007)[23]
Nghiên cứu xây dựng mô hình Từ kết quả nghiên cứu về giống, thức ăn dinh dưỡng, thú y phòng bệnh đã nghiên cứu xây dựng được các mô hình trong sản xuất có sức lan toả lớn (các tác giả: Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Hoàng Văn Lộc[35])
Phùng Thị Vân và ctv (2004)[30], xây dựng mô hình chăn nuôi lợn trong nông hộ nhằm giảm ô nhiễm môi trường và nâng cao năng suất chăn nuôi
Sau 15 năm đổi mới đời sống ngày một nâng cao đòi hỏi phải có những sản phẩm an toàn chất lượng cao và đã có nhiều doanh nghiệp trong nước, liên doanh nước ngoài có hệ thống cửa hàng phân phối sản phẩm như các siêu thị, các cửa hàng rất thuận tiện cho người tiêu dùng Tuy nhiên đối với sản phẩm thịt gà của Việt Nam còn nhỏ lẻ và chủ yếu tiêu thụ ở các chợ chưa được đánh giá và kiểm soát
Để đảm bảo giám sát và quản lý chăn nuôi Chính phủ đã ban hành nghị định số 14 CP ngày 19/03/1996 về việc quản lý giống vật nuôi, nghị định số 15
CP về quản lý thức ăn chăn nuôi và chuẩn bị công bố pháp lệnh về giống vật nuôi cây trồng
Đã có một số tiêu chuẩn cũng được công bố như TCVN 7046 - 2002 về thịt tươi - quy định kỹ thuật [16].Bên cạnh đó có tiêu chuẩn TCN 875 - 2006 quy trình kiểm tra giám sát vệ sinh thú y cơ sở chăn nuôi; TCN 680 - 2006, tiêu chuẩn vệ sinh nước dùng trong chăn nuôi TCN 876 - 2006, tiêu chuẩn vệ sinh thú y đối với thiết bị dụng cụ dung trong cơ sở chăn nuôi; TCN 861 - 2006, tiêu chuẩn quy định giới hạn tối đa hàm lượng kháng sinh dược liệu trong thức ăn cho gia cầm; TCN687- 2006, tiêu chuẩn vệ sinh nước thải chăn nuôi [22].Tuy nhiên những cơ chế chính sách trên chưa thực sự đi vào đời sống xã hội
Trang 28Mặc dù trong điều kiện khó khăn chăn nuôi còn mang tính tự cấp tự túc, nhưng trong những năm qua chúng ta đã xuất khẩu thịt lợn sang các thị trường Nga (năm 2001 xuất 15.000 tấn thịt lợn mảnh), Hồng Kông (năm 2004 xuất 13.000 tấn lợn sữa, 7.000 tấn lợn choai), Trung Quốc (năm 2001 xuất trên 1500 tấn), Malaysia (từ 1999 - 2001 mỗi năm xuất 600 - 700 tấn/năm),
Hiện nay thị trường xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam chủ yếu là Hồng Kông Sản phẩm chính là lợn choai và lợn sữa Do ảnh hưởng của dịch bệnh nên giá thịt lợn ở Việt Nam hiện nay khá cao Tính thời điểm tháng 9/2007 giá FOB (Hải Phòng) thịt lợn choai là 2,5 USD/kg, lợn sữa là 3 USD/kg
Trước mắt và lâu dài Hồng Kông vẫn là thị trường chính cho chúng ta xuất khẩu thịt lợn choai và lợn sữa Còn thịt lợn mảnh ở dạng mát và đông thì Việt Nam không thể cạnh tranh được về chất lượng và giá cả so với thịt lợn của
Mỹ, Canada, Brazil và Trung Quốc
Thực tế sản xuất chăn nuôi ở Việt Nam còn nhiều bất cập, giá thành sản phẩm còn cao, sức cạnh tranh trên thị trường yếu Do vậy trong đề tài này đồng thời với các giải pháp khoa học công nghệ phải đi sâu nghiên cứu công tác quản
lý, cơ cấu giá thành và các giải pháp hạ giá thành sản phẩm trong các công đoạn chăn nuôi và giết mổ chế biến Kết thúc đề tài chúng ta sẽ có sản phẩm đạt các tiêu chí an toàn thực phẩm và giá thành cạnh tranh
Trang 29CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1 Nghiên cứu ứng dụng quy trình kỹ thuật và quản lý chăn nuôi lợn, gà đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
1.1 Nghiên cứu lựa chọn giống cho năng suất chất lượng cao
1.1.1 Nghiên cứu lựa chọn giống lợn:
+ Bố mẹ: đực Duroc (DD) x nái (YL); đực TM606 x nái NB201, đực (PiD) x nái (YL)
+ Thương phẩm: Con lai DYL; PiYDLMs, PiDYL
1.1.2 Nghiên cứu lựa chọn giống gà:
1.1.2.1.Gà công nghiệp:
+ Bố mẹ: Ross 308, Marshall (MR x MY)
+ Thương phẩm: Ross 308, Marshall RY
1.1.2.1.Gà lông màu:
+ Bố mẹ: Trống Sasso x mái TP3; Hubbard Redbro (AB x CD)
+ Thương phẩm: SP3, Hubbard Redbro ABCD
1.2 Kiểm soát thức ăn, nước uống:
+ Giám sát chất lượng thức ăn, nước uống đàn bố mẹ
+ Giám sát chất lượng thức ăn, nước uống đàn thương phẩm
1.3 Nghiên cứu phương thức chăm sóc nuôi dưỡng
1.3.1 Phương thức nuôi:
Áp dụng qui trình chăm sóc nuôi dưỡng cho từng giống lợn, gà (bố mẹ, thương phẩm) theo phương thức nuôi:
+ Chuồng kín
+ Chuồng thông thoáng tự nhiên
1.3.2 Đánh giá tiểu khí hậu chuồng nuôi lợn, gà theo phương thức nuôi:
+ Chuồng kín
+ Chuồng thông thoáng tự nhiên
Trang 301.4 Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp xử lý môi trường
1.4.1 Đánh giá môi trường: đất và không khí xung quanh khu vực chăn nuôi 1.4.2 Xử lý chất thải chăn nuôi
+ Sử dụng chế phẩm sinh học và ủ nhiệt sinh học để xử lý (phân gà)
+ Sử dụng hầm biogas và chế phẩm sinh học để xử lý (phân lợn)
1.5 Giải pháp giết mổ, đóng gói, bảo quản sản phẩm
Nghiên cứu hoàn thịên quy trình giết mổ lợn, gà đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu
- Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật xử lý nước làm sạch thân thịt sau giết mổ
- Nghiên cứu sử dụng dung dịch Anolyte và dung dịch Cloramin B để xử lý thân thịt lợn, gà trước khi bảo quản
Nội dung 2 Nghiên cứu cơ cấu và biện pháp hạ giá thành để sản phẩm có giá thành cạnh tranh trong khu vực đảm bảo xuất khẩu
2.1 Nghiên cứu cơ cấu giá thành đối với lợn, gà ở các công đoạn
+ Chăn nuôi (với hai phương thức nuôi chuồng kín và chuồng thông thoáng tự nhiên)
+ Giết mổ, chế biến, bảo quản (ở 2 phương thức bán công nghiệp và công
nghiệp)
2.2 Nghiên cứu giải pháp hạ giá thành sản phẩm
+ Trong chăn nuôi: Sử dụng nguyên liệu thức ăn địa phương để phối trộn khẩu phần nhằm giảm chi phí, áp dụng chế độ nuôi dưỡng hợp lý, vệ sinh thú y phòng bệnh triệt để hạn chế sử dụng kháng sinh
+ Trong giết mổ, chế biến bảo quản: Khai thác công suất máy móc thiết bị
có hiệu quả, cải tiến nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Nội dung 3 Nghiên cứu ứng dụng quy trình an toàn dịch bệnh theo quy định của OIE , TCVN
3.1 Nghiên cứu ứng dụng quy trình vệ sinh an toàn sinh học
Kiểm soát vệ sinh an toàn sinh học: chế độ cách ly, chế độ phun phòng, chế độ vệ sinh chuồng trại và môi trường xung quanh
3.1.1 Trong chăn nuôi lợn:
Trang 31+ Chuồng kín
+ Chuồng thông thoáng tự nhiên
3.1.2 Trong chăn nuôi gà:
+ Chuồng kín
+ Chuồng thông thoáng tự nhiên
3.2 Nghiên cứu ứng dụng quy trình phòng trị bệnh
3.2.1 Trong chăn nuôi lợn:
+ Chuồng kín
+ Chuồng thông thoáng tự nhiên
3.2.2 Trong chăn nuôi gà:
+ Chuồng kín
+ Chuồng thông thoáng tự nhiên
3.3 Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học để thay thế kháng sinh trong chăn nuôi lợn, gà thịt
3.3.1 Xác định hiệu quả và an toàn thực phẩm khi bổ sung chế phẩm Adimix và All - Zym vào thức ăn thay thế kháng sinh trong chăn nuôi lợn thịt
3.3.2 Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học Luctacid, Nutrilaczym, Glucan để thay thế kháng sinh trong chăn nuôi gà lấy thịt
Nội dung 4 Nghiên cứu xây dựng 2 vùng nguyên liệu chăn nuôi lợn thịt có 10-15 nghìn con; 2 vùng chăn nuôi gà thịt có 50-100 nghìn con được nuôi theo quy trình vệ sinh và quản lý đồng bộ từ chăn nuôi đến giết mổ đủ điều kiện xuất khẩu
4.1 Chọn vùng gồm các trang trại chăn nuôi đáp ứng các yêu cầu tạo vùng nguyên liệu
Chọn vùng có điều kiện sinh thái phù hợp để phát triển chăn nuôi, đã có những trang trại chăn nuôi quy mô sản xuất hàng hoá, có vị trí thuận lợi để vận chuyển nguyên liệu đến cơ sở giết mổ
- Đối với vùng chăn nuôi lợn, chọn những trang trại chăn nuôi khép kín
có quy mô lợn nái 50 - 200con và 1000 - 2000 lợn thịt
Trang 32- Đối với vùng chăn nuôi gà, chọn những trang trại chăn nuôi gà thịt có quy mô 3.500 - 7.000 gà thịt, được cung cấp con giống thương phẩm từ một cơ
sở nuôi gà bố mẹ an toàn dịch bệnh
4.2 Phương thức chuyển giao công nghệ vùng nguyên liệu
Tập huấn chuyển giao công nghệ chăn nuôi, vệ sinh an toàn sinh học, thú y phòng bệnh, xử lý môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm
4.3 Quản lý xây dựng vùng nguyên liệu chăn nuôi lợn, gà thịt
4.4.1 Quản lý xây dựng vùng chăn nuôi lợn, gà ở miền Bắc và miền Nam: giống, chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh môi trường
4.4.2 Quản lý giám sát vệ sinh an toàn dịch bệnh đối với cơ sở chăn nuôi lợn,
gà sản xuất thực phẩm an toàn, vận chuyển nguyên liệu đến nơi giết mổ
4.4 Giám sát thực hiện quy trình giết mổ theo tiêu chuẩn ngành về an toàn thực phẩm
Bao gồm các công đoạn: giám sát nguyên liệu trước khi đưa vào giết mổ, tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị, điều kiện vệ sinh thú y về nước, dụng cụ, nhà xưởng giết mổ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
4.4.1 Giám sát vật nuôi đưa vào giết mổ về nguồn gốc và dịch bệnh theo tiêu chuẩn của kiểm dịch thú y
4.4.2 Điều kiện vệ sinh thú y nước trong giết mổ
4.4.3 Điều kiện vệ sinh thú y ở dụng cụ trang thiết bị
4.4.4 Điều kiện vệ sinh thú y về nhà xưởng
4.4.5 Giám sát vệ sinh an toàn thịt lợn, gà sau giết mổ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
1 Nghiên cứu ứng dụng quy trình kỹ thuật và quản lý chăn nuôi lợn, gà đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
1.1 Nghiên cứu lựa chọn giống cho năng suất chất lượng cao
1.1.1 Nghiên cứu lựa chọn giống lợn:
1.1.1.1 Nghiên cứu lựa chọn giống bố mẹ:
Trang 33Sơ đồ 1: 2 Đực Duroc x 30 Nái F1 (DD) (YL)
Thương phẩm (DYL)
Sơ đồ 2: 2 Đực TM606 x 30 Nái (NB201) (PiY) (DLMs)
Thương phẩm (PiYDLMs)
Sơ đồ 3: 2 Đực PiD x 30 Nái YL
Thương phẩm (PiDYL)
1.1.1.2 Nghiên cứu lựa chọn lợn thương phẩm:
+ Con lai : DYL + Con lai : PiYDLMs + Con lai : PiDYL
Nuôi thử nghiệm để chọn giống phù hợp đưa vào vùng nguyên liệu (mỗi
Công thức lai gồm 50 con - lặp lại 2 lần)
1.1.2 Nghiên cứu lựa chọn giống gà
1.1.2.1 Nghiên cứu lựa chọn giống bố mẹ năng suất chất lượng cao:
+ Lựa chọn giống gà công nghiệp:
* Ross 308:
Bố mẹ: ST14 x ST78
Thương phẩm: Ross 308 (1478) Quy mô 3.500 con sinh sản
* Marshall:
Bố mẹ: MR x MY
Thương phẩm: Marshall RY Quy mô: 2.000 con sinh sản
+ Lựa chọn giống gà lông màu:
Trang 34* Trống Sasso x mái TP3
Bố mẹ: Sasso x TP3
Thương phẩm: SP3 Quy mô: 3.500 con sinh sản
* Hubbard Redbro (Trống AB x Mái CD)
Bố mẹ: AB x CD
Thương phẩm: Hubbard Redbro (ABCD)
Quy mô: 1.500 con sinh sản
1.1.2.2 Nghiên cứu lựa chọn giống gà thương phẩm:
+ Giống gà công nghiệp:
- Hubbard Redbro (ABCD)
Lựa chọn giống gà thương phẩm phù hợp với vùng nguyên liệu (2 giống x
500 con x 2 lần lặp lại)
1.2 Kiểm Soát thức ăn, nước uống
1.2.1 Kiểm soát chất lượng thức ăn
1.2.1.1 Kiểm soát thức ăn đàn bố mẹ:
- Đàn lợn: 2 mẫu x 2 lần = 4 mẫu
- Đàn gà : 2 mẫu x 3 lần = 6 mẫu 1.2.1.2 Kiểm soát thức ăn đàn thương phẩm:
- Đàn lợn: 2 mẫu x 2 lần = 4 mẫu
- Đàn gà : 2 mẫu x 2 lần = 4 mẫu
Phân tích theo phương pháp TCVN 4325 - 86
Trang 35Các chỉ tiêu phân tích theo tiêu chuẩn sau:
Được giám sát theo tiêu chuẩn ngành TCN 661 - 2006
1.2.2 Kiểm soát nước uống
1.2.2.1 Kiểm soát nước uống đàn bố mẹ
1 Chỉ tiêu cảm quan và thành phần vô cơ
Trang 36Nitrit(NO2) TCVN 6178 -1996 (ISO 6777-1984) mg/lít
Nhu cầu oxy hoá học (COD) TCVN 6195-1996 (ISO 9298-1989) mg/lít
Nhu cầu oxy sinh hoá (BOD) Pha loãng tới hạn mg/lít Tổng số chất rắn (TS) TCVN 6053-1995 (ISO 9696-1992) mg/lít
1.3 Nghiên cứu phương thức chăm sóc nuôi dưỡng
1 3.1 Phương thức nuôi:
Dùng phương pháp phân lô so sánh với 2 phương thức chăn nuôi trên cơ
sở áp dụng qui trình chăm sóc thuộc đề tài: “Nghiên cứu sản xuất thịt lợn, thịt
gà an toàn chất lượng cao” của Viện Chăn nuôi và Viện KHKHNN Miền Nam
Trang 37Lô 2 (Chuồng thông thoáng tự nhiên): Số lượng lợn nái nuôi thử nghiệm
50 con, đực 3 con
* Đàn thương phẩm:
Lô 1 (Chuồng kín): Số lượng lợn thịt nuôi thử nghiệm 50 con/lần, lặp lại 2 lần
Lô 2 (Chuồng thông thoáng tự nhiên): Số lượng lợn thịt nuôi thử nghiệm
50 con/lần, lặp lại 2 lần
1.3.1.2 Đối với đàn gà
* Đàn bố mẹ:
Lô 1 (Chuồng kín): Số lượng nuôi thử nghiệm 3.500con
Lô 2 (Chuồng thông thoáng tự nhiên): Số lượng nuôi thử nghiệm 3.500 con
1.3.2 Tiểu khí hậu chuồng nuôi:
So sánh để đánh giá tiêu chuẩn điều kiện vệ sinh thú y tiểu khí hậu chuồng nuôi:
Lấy 3 mẫu không khí ở cả 3 điểm trong chuồng nuôi vị trí đặt đĩa thạch cao 1m
so với nền chuồng, thời gian mở nắp đĩa 3 phút Các chỉ tiêu phân tích: Vi khuẩn hiếu khí, Vi khuẩn gây dung huyết Thí nghiệm lặp lại 3 lần theo 3 giai đoạn nuôi
1.3.2.1 Đối với đàn lợn:
* Nuôi bố mẹ: 2 kiểu chuồng x 3 mẫu x 3 giai đoạn x 2 lần lặp lại (36 mẫu)
* Nuôi thương phẩm: 2 kiểu chuồng x 3 mẫu x 3 giai đoạn x 2 lần lặp lại (36 mẫu)
1.3.2.2 Đối với đàn gà:
* Nuôi bố mẹ: 2 kiểu chuồng x 3 mẫu x 3 giai đoạn x 2 lần lặp lại (36 mẫu)
* Nuôi thương phẩm: 2 kiểu chuồng x 3 mẫu x 3 giai đoạn x 2 lần lặp lại (36 mẫu)
Trang 38Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích:
5 Vi khuẩn hiếu khí AOAC 2000 (966.23);TCVN 5165-90 VK/m3
Nhiệt độ, ẩm độ , tốc độ gió, độ bụi, nồng độ khí NH 3 , CO 2 , H 2 S được đo theo tiêu
chuẩn, quy trình ngành thú y (năm 2007)
1.4 Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp xử lý môi trường
1.4.1 Nghiên cứu sử dụng Anolyte, Bioclean phun khử trùng định kỳ môi trường
xung quanh chuồng nuôi
1.4.1.1 Mẫu phân tích bề mặt đất:
Lấy 3 mẫu bề mặt đất (1cm2) xung quanh chuồng nuôi, vào 3 thời điểm:
trước khi phun, sau khi phun 2 giờ và 8 giờ Phân tích 3 chỉ tiêu: tổng số vi khuẩn
hiếu khí, Coliforms, nấm mốc
Số chỉ tiêu phân tích: 2 chất sát trùng x 3 mẫu x 3 thời điểm x 2 lần lặp
lại (36 mẫu)
1.4.1.2 Mẫu không khí:
Lấy 3 mẫu không khí chuồng nuôi ở các thời điểm: trước khi phun, sau
khi phun 2 giờ và 8 giờ, vị trí đặt đĩa thạch cao 1m so với nền chuồng, thời gian
mở nắp đĩa 3 phút, phân tích các chỉ tiêu: tổng số vi khuẩn hiếu khí, Coliforms,
Trang 391.4.2.1 Đối với lợn:
Áp dụng 2 phương thức:
+ Sử dụng hầm biogas để xử lý chất thải lỏng và phân
+ Sử dụng chế phẩm sinh học Compose Maker để xử lý chất thải rắn Lấy 3 mẫu trên mỗi phương thức đánh giá các chỉ tiêu: độ pH, số lượng trứng giun sán, mật độ E.Coli, Salmonella và Coliform (thí nghiệm lặp lại 3 lần)
Số chỉ tiêu phân tích: 2 phương thức x 3 mẫu x 2 lần lặp lại (12 mẫu) 1.4.2.2 Đối với gà:
Áp dụng 2 phương thức:
+ Sử dụng ủ sinh học để xử lý chất thải
+ Sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý chất thải
Số lượng chế phẩm sinh học: 50 tấn phân x 0,1% = 50 kg
Lấy 3 mẫu trên mỗi phương thức đánh giá các chỉ tiêu: pH, số lượng trứng giun sán, mật độ Salmonella, E.Coli và Coliform Thí nghiệm lặp lại 3 lần
Số chỉ tiêu phân tích: 2 phương thức x 3 lần lấy mẫu x 2 lần lặp lại (12 mẫu)
1.5 Giải pháp giết mổ, đóng gói, bảo quản
1.5.1 Cải tiến hệ thống nước làm sạch thân thịt sau mổ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Lấy mẫu sản phẩm trước và sau khi cải tiến phân tích các chỉ tiêu VSV:
+ Trong giết mổ lợn: 3 mẫu x 2 lần (6 mẫu)
+ Trong giết mổ gà: 3 mẫu x 2 lần (6 mẫu)
1.5.2 Xác định phương pháp phun, nhúng sản phẩm thịt lợn, gà vào dung dịch Anolyte
và Cloramin B trước khi bảo quản đảm bảo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm
+ Phương pháp phun: 3 mẫu x 2 lần (6 mẫu)
+ Phương pháp nhúng: 3 mẫu x 2 lần (6 mẫu)
Trang 402 Nghiên cứu cơ cấu và biện pháp hạ giá thành để sản phẩm có giá thành cạnh tranh trong khu vực đảm bảo xuât khẩu
Dùng phương pháp thống kê, phân tổ, phân tích hoạt động kinh tế, dùng hàm sản xuất để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tổng chi phí
2.1 Nghiên cứu cơ cấu giá thành đối với lợn gà, ở các công đoạn
2.1.1 Trong chăn nuôi:
Theo dõi các chi phí đầu vào cho sản xuất, sản phẩm đạt tiêu chuẩn đưa vào giết mổ
2.1.1.1 Cơ cấu giá thành sản xuất lợn thịt
2.1.1.2 Cơ cấu giá thành sản xuất gà thịt
2.1.2 Trong giết mổ, chế biến, bảo quản:
Theo dõi các chi phí đầu vào cho từng khâu vận chuyển, giết mổ, chế biến bảo quản
2.1.2.1 Cơ cấu chi phí trong giết mổ lợn bán công nghiệp và công nghiệp
2.1.2.2 Cơ cấu chi phí trong giết mổ gà bán công nghiệp và công nghiệp
2.2 Nghiên cứu giải pháp hạ giá thành sản phẩm
Trên cơ sở phân tích cơ cấu giá thành trong các công đoạn để đưa ra các giải pháp hạ giá thành
2.2.1 Trong chăn nuôi:
2.2.1.1 Giải pháp hạ giá thành sản phẩm trong chăn nuôi lợn
2.2.1.2 Giải pháp hạ giá thành sản phẩm trong chăn nuôi gà
2.2.2 Trong giết mổ, chế biến bảo quản:
2.2.2.1 Giải pháp hạ giá thành trong giết mổ chế biến bảo quản thịt lợn
2.2.2.2 Giải pháp hạ giá thành trong giết mổ chế biến bảo quản thịt gà
3 Nghiên cứu ứng dụng quy trình an toàn dịch bệnh theo quy định của OIE, TCVN
3.1 Ứng dụng quy trình vệ sinh an toàn sinh học theo quy định của OIE, TCVN
3.1.1 Trong cơ sở chăn nuôi lợn: