Nghiên cứu đánh giá thực trạng, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng nông hóa và đề xuất giải pháp cải tạo đất tại Trung tâm sản xuất giống Trảng Bàng - Tây Ninh
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG, XÂY DỰNG BẢN ĐỒ THỔ NHƯỠNG NÔNG HÓA VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẢI TẠO ĐẤT TẠI TRUNG TÂM SẢN XUẤT
GIỐNG TRẢNG BÀNG - TÂY NINH
CNĐT: LÊ CÔNG NÔNG
8280 TP.HCM – 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
Đất là tài sản Quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động, đồng thời cũng là sản phẩm của lao động Vì vậy, điều tra đánh giá tài nguyên đất đai, làm căn cứ khoa học cho việc hoạch định những chiến lược khai thác nguồn tài nguyên quan trọng này là rất cần thiết và cấp bách
Tỉnh Tây Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ (ĐNB), có diện tích tự nhiên 402.960 ha, với dân số 1.029.894 người (2003) Tài liệu bản đồ đất tỉnh Tây Ninh đã được nghiên cứu khá nhiều và trải qua các thời kỳ khác nhau, các tài liệu này đã đáp ứng kịp thời và thiết thực cho thực tiễn sản xuất của tỉnh Mặt khác trong những năm gần đây, dưới tác động của kinh tế thị trường việc
sử dụng đất trên địa bàn tỉnh có nhiều biến động Tình trạng biến động nói trên
đã làm thay đổi rõ rệt đặc điểm, ranh giới và quy mô phân bố của nhiều loại đất; bản đồ đất không còn phản ánh đúng đặc điểm của tài nguyên đất hiện nay của nhiều vng trong tỉnh Vì vậy, cần thiết phải bổ sung, điều tra đánh giá lại chất lượng đất làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược sử dụng tài nguyên đất cho hiện tại và tương lai
Mặt khác, với những công nghệ mới về kỹ thuật bản đồ số, cần thiết phải
áp dụng để xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên đất theo một quy định thống nhất cho vùng
Trung tâm sản xuất thực nghiệm giống Trảng Bàng là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học có thu trực thuộc Viện nghiên cứu Dầu và cây có dầu, được thành lập theo Quyết định số 2540/QĐ-TCCB, ngày 01/11/2001 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) và Trung tâm có các nhiệm
- công nghiệp công nghệ cao;
3 Xây dựng các mô hình trình diễn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, sản xuất thử nghiệm các sản phẩm từ cây có dầu, cây tinh dầu, các loại cây, con khác và các chế phẩm phục vụ nông nghiệp;
4 Tổ chức các dịch vụ khoa học kỹ thuật, thông tin chuyên ngành, các lớp tập huấn kỹ thuật và giới thiệu các sản phẩm;
Cơ sở pháp lý/xuất xứ của đề tài
Đề tài được thực hiện theo Quyết định số 6363/QĐ-BCT ngày 02/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc đặt hàng thực hiện các nhiệm vụ Khoa học và công nghệ năm 2009 cho Viện Nghiên cứu Dầu và Cây
có dầu và hợp đồng số 201.RD/2009/HĐ-KHCN ngày 16/03/2009 của Bộ Công Thương ký với Viện, Hợp đồng giao khóan nội bộ số 11/HĐGK-VD ngày 7/4/2009 giữa Viện trưởng và Chủ nhiệm đề tài
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước:
1.1.1 Vị trí địa lý của tỉnh Tây Ninh
Tây Ninh là một tỉnh nằm ở miền Đông Nam bộ có tổng diện tích đất tự nhiên 402.960 ha Có tọa độ từ 105o48’ độ kinh đông thuộc xã Tân Bình – Huyện Tân Biên đến 106022’ thuộc xã Tân Đồng – Huyện Tân Châu và từ
10o57’ độ vĩ bắc thuộc xã Phước Chĩ – Huyện Trảng Bàng đến 11o46’ thuộc xã Tân Lập – Huyện Tân Biên Phía Bắc và Tây của tỉnh giáp Cămpuchia, phía đông giáp tỉnh Bình Dương, phía Nam giáp Tp HCM và tỉnh Long An
1.1.2 Những nghiên cứu về đất vùng miền Đông Nam bộ và tỉnh Tây Ninh trước năm 1975:
Cùng với vùng Đông Nam bộ (ĐNB), ngay từ những năm 1930 các chuyên gia thổ nhưỡng người Pháp đã có những công trình nghiên cứu về đất và
sử dụng đất ở vùng ĐNB nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng nhằm mục đích cho việc xây dựng các đồn điền Cao su Đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu và lập bản đồ đất của FR Moorman (1958, 1959, 1961); Moorman, Goden (1960); Thái Công Tụng, Moorman (1958); Thái Công Tụng (1972, 1973) Các công trình này đã phản ánh khái quát về sự phân bố địa lý, đặc điểm một số loại đất chính và phần nào đề cập đến việc sử dụng đất Trong đó hai tài liệu đã đóng góp những hình ảnh khái quát căn bản đầu tiên cho các khu vực phía nam nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng về bản đồ thổ nhưỡng và các loại đất trong vùng:
1.1.2.1 Bản đồ đất tổng quát Nam Việt Nam (General soil map of south
V.N): tỷ lệ 1/1.000.000, FR Moorman, 1961 Trên cơ sở những giải đoán không ảnh, bằng việc sử dụng các tổ hợp và các nhóm đất có cùng nguồn gốc phát sinh, tác giả đã xây dựng chú dẫn tổng quát cho bản đồ này gồm 25 đơn vị Trong đó tỉnh Tây Ninh có các đơn vị sau: Đất phù sa không phân biệt (Undifferentiated Alluvial soil);Đất Podzolic xám trên phù sa cổ (Gray podzolic soils on old alluvial sediments); Tổ hợp đất núi (Complex of mountainous soils) Từ bản đồ đất của Moorman đã phóng ra bản đồ đất tỷ lệ 1/200.000 cho các tỉnh (1972, Bộ canh nông cũ) Trong đó bản đồ đất Tây Ninh, với các đơn vị tương tự như bản đồ của Moorman, có bổ sung về thành phần sa cấu
1.1.2.2 Thái Công Tụng: thuộc sở Địa học biên soạn tài liệu nghiên cứu
về đất đai miền cao nguyên Trung phần và miền Đông Nam phần năm 1971 Trong tài liệu này tác giả đã mô tả 5 nhóm đất chính của miền ĐNB về nguồn gốc phát sinh, tính chất lý hóa học, phân bố và khả năng sử dụng Bao gồm: Đất Podzolic xám tương đương với đơn vị số 14 của Moorman, có nguồn gốc từ phù
sa cổ sinh; Đất Latosols nâu đỏ, tương ứng với đơn vị số 8 và số 19 của Moorman, đất được hình thành do sự hủy hoại của đá basalt; Đất có ít chất hữu
cơ và có đốm rỉ (Low humic gley soils), có nguồn gốc từ phù sa cổ; Đất Latosols nâu và cạn trên đá basalt (Terres brunes basaltiques), có nguồn gốc từ
Trang 4đá bọt basalt trong điều kiện úng thủy; Đất phù sa tương ứng với đơn vị số 01 của Moorman
Thực chất tài liệu của Thái Công Tụng là làm rõ thêm các tính chất các loại đất mà Moorman đã phát hiện Tài liệu của Moorman có tính khái quát chung toàn Miền Nam, còn tài liệu của Thái Công Tụng làm rõ thêm tài liệu của Moorman và cũng là chú giải bản đồ đất 1/200.000 các tỉnh Đây là hai tài liệu điều tra đất đầu tiên của các tỉnh phía nam, đã gây những ấn tượng quan trọng cho những nghiên cứu về sau
1.1.3 Những nghiên cứu về đất vùng miền Đông Nam bộ và tỉnh Tây Ninh sau năm 1975
1.1.3.1 Giai đoạn trong năm 1975 sau ngày giải phóng, trên cơ sở
những tài liệu của Moorman và Thái Công Tụng, Viện quy hoạch thiết kế Nông nghiệp với một số tuyến khảo sát bổ sung đã xây dựng sơ đồ đất tỷ lệ 1/250.000 cho các tỉnh (Nguyễn Khang và ctv, 1975) Các tác giả công trình này đã chuyển đổi phân loại đất theo quan điểm phát sinh và chia đất Miền ĐNB ra 9 nhóm đất chính: Đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất đen, đất xám, đất đỏ vàng, đất dốc tụ và đất trơ sỏi đá Tài liệu này phát hiện tương đối đầy đủ các nhóm đất chính nhưng các contour đất rất đơn điệu Nhóm đất phèn có phát hiện nhưng không thấy rõ bản chất mà chỉ dựa vào hàm lượng SO42- và pH tầng đất mặt để chia ra đất phèn ít và phèn trung bình
1.1.3.2 Giai đoạn năm 1977-1978, Viện quy hoạch và thiết kế Nông
nghiệp đã tổ chức đợt điều tra khá chi tiết cho tỉnh Tây Ninh Trên quan điểm thổ nhưỡng phát sinh học, một bảng phân loại đất với các đơn vị bản đồ được phân chia kỹ tới chủng và biến chủng, rất coi trọng các chỉ tiêu kết von, thành
cơ giới, đá mẹ, độ dốc địa hình, độ dầy tầng đất mịn Các khoanh đất được khoanh chi tiết hơn hẳn các tài liệu trước đó Các tác giả tài liệu này đã chia đất tỉnh Tây Ninh ra 6 nhóm đất và 13 đơn vị bản đồ tương đương loại phát sinh Bao gồm:
(1) Nhóm đất phèn, có 2 đơn vị: Đất phèn nhiều; Đất phèn ít và trung bình (2) Nhóm đất phù sa, có 3 đơn vị: Đất phù sa gley; Đất phù sa có tầng loang
(5) Nhóm đất thung lũng dốc tụ, có 1 đơn vị: Đất dốc tụ
(6) Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá, có 1 đơn vị là: Đất xói mòn trơ sỏi đá Đây là tài liệu làm nền tảng cho những nghiên cứu đất trên phạm vi tỉnh Tây Ninh tiếp theo và trong nhiều năm đã trở thành tài liệu đóng góp phần quan trọng trong quy hoạch và định hướng sử dụng đất trong phạm vi toàn tỉnh
Trang 5Tuy vậy lúc đó do việc đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt, an ninh phức tạp, cũng phải kể đến những thiếu thốn về cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật Một số vùng khảo sát với mật độ thưa, các mẫu đất chưa được phân tích đầy đủ, cũng còn phải kể đến những hạn chế về sự hiểu biết về đất phèn lúc đó Cho đến nay tài liệu đã quá cũ và lạc hậu
1.1.3.3 Giai đoạn những năm 1980-1988: Những năm 1980-1988, Phân
viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp điều tra chi tiết xây dựng bản đồ đất ở bản đồ tỷ lệ 1/10.000 cho các nông trường và các vùng chuyên canh lúa, lạc: (1) Bản đồ đất nông trường mía Nước Trong; (2) Bản đồ đất-nông hóa vùng chuyên canh lạc huyện Gò Dầu và vùng thâm canh lúa huyện Hòa Thành Các bản đồ đất tỷ lệ chi tiết nêu trên được xây dựng với một quy trình thống nhất, tài liệu khá chi tiết, đáp ứng tốt cho các công tác quy hoạch, chỉ đạo sản xuất
1.1.4 Kết quả phân loại đất tỉnh Tây Ninh
Theo bản đồ đất tỉnh Tây Ninh tỷ lệ 1/100.000 thì tỉnh Tây Ninh có các loại đất như sau (GS.TS Phan Liêu và ctv):
a/ Đất phèn: Gồm có 3 loại: i) Đất phèn tiềm tàng; ii) Đất phèn hoạt động; iii) Đất phèn thủy phân.; chúng được phân bố và sử dụng như sau:
* Đất phèn tiềm tàng: Diện tích 5.100 ha, chiếm 1/5 tổng diện tích các loại đất phèn của tỉnh Xuất hiện ở các địa hình thấp trũng thường ngập nước thời gian dài, chúng có mặt ở xung quanh các khúc uốn hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông, phân bố rãi rác ở phía tây nam huyện Châu Thành, Hòa Thành và nối liền trên diện tích khá lớn ở huyện Gò Dầu và Bến Cầu
Đất phèn tiềm tàng được trồng 1 vụ lúa vào mùa mưa hoặc hai vụ lúa Đông Xuân và Hè Thu, năng suất lúa đạt từ 1,5 – 2,0 tấn/ha Một phần diện tích được lên líp để trồng mía và cây ăn quả Nếu lên líp đúng kỹ thuật (không bốc phần chứa pyrit lên mặt hoặc phải để qua 1-2 vụ để nước mưa rửa bớt phèn kết hợp với việc xây dựng hệ thống kênh mương tưới tiêu chủ động, bón bột phosphorit (600 kg/ha) và bón vôi (1-3 tấn CaO/ha/vụ, bón liên tục 2-3 vụ) trước khi cấy 15-20 ngày kết hợp với bón đạm, lân, kali thích hợp thì có thể đạt năng suất lúa bình quân 5-6 tấn/ha
* Đất phèn hoạt động: Diện tích 9.335 ha, chiếm 2/5 tổng diện tích đất phèn của tỉnh Xuất hiện ở các địa hình cao hơn, nơi có thời kỳ khô bề mặt tới 6 tháng trong năm, được phân bố rãi rác xung quanh sông Vàm Cỏ Đông từ nam huyện Châu Thành qua phía nam Hòa Thành tới bắc Bến Cầu và Gò Dầu Ở góc tây – nam của vùng nam Bến Cầu, Gò Dầu và Trảng Bàng đất phèn hoạt động xuất hiện thành những vùng rộng lớn
Đất phèn hoạt động có độ chua lớn và nhiều độc tố nên thường bị bỏ hoang hóa (cỏ năn, lác, tràm ) Nếu được lên líp và bón phân (phosphorit, vôi, tro kết hợp rữa phèn) có thể trồng mía, dứa, đậu đen, điều là những cây có thể chịu được đất chua
Trang 6* Đất phèn thủy phân: Diện tích 10.924 ha, chiếm 2/5 tổng diện tích đất phèn của tỉnh Xuất hiện trong vùng phèn tại các địa hình cao hơn có bề mặt khô 6 tháng trong năm
Phân bố khá tập trung ở nam Châu Thành tới Hòa Thành xung quanh sông Vàm Cỏ Đông
Đất phèn thủy phân có thể trồng lúa hoặc các loại hoa màu khác
b/ Đất than bùn: Diện tích 1.072 ha, chiếm 0,26% tổng diện tích quỹ đất của tỉnh Xuất hiện từng vệt rải rác, thường xen trong vùng phèn dọc theo hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông tại những địa hình thấp trũng, phân bố ở huyện Châu Thành, nam Hòa Thành, Gò Dầu và Bến Cầu
Đất than bùn ngoại trừ các diện tích có lớp than bùn rất dày dùng để khai thác than, diện tích còn lại có thể trồng lúa, rau màu (cải, bầu bí, đậu, dưa ) Khi trồng trọt chú ý thoát nước, cày sâu, bón vôi
c/ Đất phù sa: Gồm có 2 loại: i) Đất phù sa có tầng loang lỗ; ii) Đất phù
sa gley Chúng được phân bố và sử dụng như sau:
* Đất phù sa có tầng loang lỗ: Diện tích 1.685 ha, chiếm > 0,4% tổng diện tích quỹ đất của tỉnh Xuất hiện ở địa hình thấp, một ít ở xa sông, mùa mưa
ít ngập nước, mùa khô không ngập nước Phân bố tập trung xung quanh sông Sài Gòn ở huyện Trảng Bàng, Dương Minh Châu và một vệt xung quanh rạch Bến Đá ở huyện Châu Thành
Đất phù sa được sử dụng để trồng lúa 2 vụ hoặc 1 vụ lúa – 1 vụ màu Cần chú ý bón phân hữu cơ, vôi, tăng cường cày bừa xới xáo, bón thêm bột Phosphorit, đạm và lân
* Đất phù sa gley: Diện tích nhỏ khoảng 90 ha Xuất hiện ở vùng có địa hình thấp không xa các sông lớn hoặc các kênh rạch, thường ngập nước từ 8-9 tháng/năm Phân bố tập trung ở huyện Trảng Bàng
Đất phù sa gley thường được sử dụng để trồng lúa 1 vụ nhưng năng suất thấp Trong quá trình sử dụng cần chú ý bón vôi, phosphorit, tránh bón các phân
có gốc sulphat
d/ Đất xám: Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất tỉnh Tây Ninh có diện tích 338.833 ha đất xám chiếm khoảng 84,13% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, địa hình bằng phẳng thuận tiện cho việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, phù hợp để trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày
Gồm có 6 loại: i) Đất xám điển hình; ii) Đất xám có tầng loang lổ; iii) Đất xám có tầng kết von đá ong; iv) Đất xám mùn; v) Đất xám gley; vi) Đất xám đọng mùn gley Chúng được phân bổ và sử dụng như sau:
* Đất xám điển hình: Diện tích 195.875 ha Thường xuất hiện ở các địa hình cao Phân bố ở tất cả các huyện trong tỉnh, diện tích tập trung nhiều nhất ở huyện Tân Châu, Tân Biên, Dương Minh Châu, Châu Thành
Trang 7Đất xám điển hình thường được sử dụng để trồng các loại cây công nghiệp có giá trị như cao su, mía, lạc, hoặc hoa màu như khoai lang, sắn Độ màu mỡ của đất xám thấp vì vậy trong quá trình sử dụng cần bón nhiều chất hữu cơ (phân chuồng, thân cây sau thu hoạch, phân xanh, phân rác ), vôi, lân, đạm và kali hoặc tro thực vật kết hợp xới xáo và che phủ đất để giữ ẩm Cần chú ý tưới nước trong mùa khô kết hợp với sử dụng và cải tạo đất hợp lý để khai thác hiệu quả và bền vững
* Đất xám có tầng loang lổ và đất xám có tầng kết von đá ong:
- Diện tích đất xám có tầng loang lổ: 109.446 ha Xuất hiện ở các địa hình cao đến vừa
- Diện tích đất xám có tầng kết von đá ong: 7.140 ha Xuất hiện ở chân đồi, phần cuối dốc là nơi chuyển tiếp từ đồi phù sa cổ xuống đồng bằng phù sa trẻ hoặc thung lũng thấp
- Việc sử dụng hai loại đất này tương tự nhau, có thể sử dụng để trồng cao su, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày Nếu có tầng đá ong ở độ sâu 50-
120 cm thì nên sử dụng để trồng lúa hoặc hoa màu ngắn ngày chứ không nên trồng cao su Trong quá trình sử dụng nên chú ý bón phân hữu cơ, vô cơ, vôi kết hợp cày sâu, bừa kỹ, tiêu thoát nước tốt trong mùa mưa
* Đất xám mùn: Diện tích 18.938 ha Xuất hiện ở những vùng thấp vừa ở triền đồi phẳng phía cuối bề mặt dốc hoặc ở phần giữa hai đồi lượng sóng, nằm xen lẫn với các loại đất xám khác
Việc sử dụng đất xám mùn tùy thuộc vào mức độ ngập nước để sử dụng trồng lúa 1 vụ, hoa màu hoặc cao su Trong quá trình sử dụng cần chú ý thiết kế
hệ thống tiêu nước để trồng màu và cây công nghiệp, tăng cường bón vôi, cân đối đạm, lân, kali
* Đất xám gley và đất xám đọng mùn gley:
- Diện tích đất xám gley 10.145 ha
- Diện tích đất xám đọng mùn gley 6.025 ha
Cả hai loại đất này phân bố ở những địa hình thấp, xen lẫn với những loại đất xám khác nhất là đất xám mùn và đất xám có tầng kết von đá ong
Việc sử dụng hai loại đất này tương tự nhau, có thể trồng lúa 1-2 vụ, hoặc
có thể trồng thêm 1 vụ hoa màu như khoai lang, đậu nành nếu được tiêu nước tốt Nên bón nhiều vôi (2-4 tấn/ha), phosphorit, apatit kết hợp làm cỏ, sục bùn
để hạn chế tác hại của gley
d/ Đất đỏ vàng: Gồm có 3 loại: i) Đất đỏ nâu bazan; ii) Đất vàng đỏ granit; iii) Đất vàng đỏ đá phiến Chúng được phân bố và sử dụng như sau:
* Đất đỏ nâu trên bazan: Diện tích 3.970 ha Xuất hiện trên các mỏm đồi,
ở gần biên giới Cămpuchia được rừng che phủ
Việc sử dụng loại đất này cần được chú ý để trồng các loại cây có giá trị
Trang 8chống hạn, xen canh cây ngắn ngày để phủ đất, bón vôi, super lân và kali để cân đối dinh dưỡng cho cây
* Đất đỏ vàng granit: Diện tích 1.100 ha Xuất hiện ở các vùng đất đồi dốc, cây rừng còn che phủ Phân bố chủ yếu ở núi Bà Đen, huyện Hòa Thành Hiện tại chủ yếu là rừng che phủ, một ít diện tích khoảng 100 ha được dân khai phá trồng hoa màu, cần chú ý bón phân nhất là phân hữu cơ trong quá trình sử dụng
* Đất vàng đỏ đá phiến: Diện tích 1.780 ha Xuất hiện duy nhất trên đồi
85 ở phía nam huyện Tân Biên.Chủ yếu là cây bụi thưa, dốc và xói mòn mạnh xuất hiện nhiều đá lộ đầu, khó cày bừa và canh tác.Vì vậy đất này ít được sử dụng trong nông nghiệp, chỉ nên sử dụng để trồng rừng che phủ tạo môi trường sinh thái và giữ nước
Ở Miền Nam Việt Nam các đất xám chiếm rất nhiều diện tích ở miền Đông Nam bộ (Bình Dương, Tây Ninh, Biên Hòa) Còn ở miền cao nguyên đất xám có nhiều ở phía Tây bắc Ban Mê Thuột và lan mãi chiếm các bực thềm phù sa cổ sinh của hệ thống sông ngòi của vùng này Trước đây, năng suất lúa trên đất bạc màu rất thấp, nhưng hiện nay lại khác Những tính chất "nghèo, chua, khô, rắn" dần dần được cải thiện Ở Đông Nam Bộ, rải rác một số nơi ở Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, người dân biết rõ mặt mạnh, mặt yếu, từ đó cải tạo lớp đất mặt, tăng lượng hữu cơ và các chất dinh dưỡng khác như: đạm, lân và kali đi đôi với áp dụng giống mới Do địa hình cao, đất nhẹ, dễ thoát nước nên cũng dễ tăng vụ, dễ đưa các cây trồng khác vào, hiệu quả kinh tế cao hơn lúa
Theo TS Nguyễn Thanh Phương, Viện KHKT nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ, kết quả từ mô hình đậu phộng xen mì thực hiện ở xã Cát Hiệp
và Cát Lâm mở ra triển vọng tăng hiệu quả kinh tế cho các vùng đất xám bạc màu trong tỉnh Với mô hình trên, khi áp dụng vào sản xuất không những nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên đất, giúp quá trình canh tác bền vững hơn
Theo Sở NN & PTNT Tây Ninh : Nhằm sử dụng hợp lý và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất lúa vùng tưới Dầu Tiếng, Sở Nông nghiệp đã điều chỉnh,
tổ chức sản xuất nông nghiệp dự kiến chuyển đổi theo hướng như sau:
- Sản xuất lúa: mặc dù được đánh giá là kém lợi thế về sản xuất nhưng lúa vẫn còn là cây trồng truyền thống, đảm bảo cuộc sống cho phần lớn hộ nông dân chỉ có đất ruộng, do vậy, vẫn duy trì một cơ cấu diện tích hợp lý đất lúa; tiếp tục duy trì công tác khuyến nông, nhất là các biện pháp: “ 3 giảm, 3 tăng”
để nâng cao năng suất, giảm chi phí, cải thịên thu nhập cho nông dân Cần có chính sách hỗ trợ để đưa cơ giới vào các khâu canh tác, nhất là thu hoạch lúa nhằm giảm căng thẳng về lao động và giảm chi phí sản xuất
- Sản xuất bắp: lợi thế là có thị trường lớn, hiện tại trên địa bàn tỉnh, bắp được trồng trên đất ruộng có tưới luân canh với lúa tập trung ở 03 huyện Dương
Trang 9Minh Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng; trong tương lai diện tích bắp có thể mở rộng đến các huyện Châu Thành và Tân Biên
- Sản xuất lạc: là cây trồng truyền thống của tỉnh, diện tích cao nhất đạt được (năm 1995) là 41.200 ha Tuy nhiên sản phẩm lạc nhân chủ yếu phục vụ xuất khẩu nên quy mô sản xuất phụ thuộc vào giá cả thị trường thế giới Ngoài ý nghĩa kinh tế, trồng lạc còn bảo vệ và cải tạo đất, nhất là đất xám nên cần đầu tư nghiên cứu về giống, kỹ thuật canh tác và cơ giới hoá để duy trì cơ cấu, diện tích thích hợp
- Sản xuất thuốc lá: Các Công ty nguyên liệu thuốc lá vẫn đang đầu tư trồng thuốc lá sợi vàng ở các huyện trong cơ cấu luân canh với lúa Để phát triển thuốc lá ổn định cần tiếp tục củng cố hệ thống tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ đã và đang được hình thành như hịện nay, thông qua hệ thống trạm, ký hợp đồng với nông dân
- Sản xuất mía đường: trên địa bàn Tỉnh có 3 nhà máy chế biến có công suất hiện tại 12.500 tấn mía cây/ ngày Để ổn định sản xuất mía đường cần thực hiện đúng quy hoạch vùng nguyên liệu cho từng nhà máy, đảm bảo cự ly vận chuyển ngắn nhất, các nhà máy và địa phương có các biện pháp kinh tế hỗ trợ nông dân để ổn định vùng nguyên liệu; tổ chức lại sản xuất của các nhà máy để giảm chi phí chế biến
- Sản xuất rau thực phẩm: khi công nghiệp và đô thị phát triển nhanh thì các vùng rau truyền thống ven đô của Tp, HCM sẽ chịu sức ép về đất đai, nguồn nước, lao động và môi trường; do vậy Tây Ninh sẽ có cơ hội tốt để phát triển rau thực phẩm
- Sản xuất hoa, cây cảnh: để phát triển hoa, cây cảnh cần ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất trong đó đặc biệt là công nghệ sinh học, hình thành các tổ chức hiệp hội, đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là các nghệ nhân trong sản xuất cây kiểng, tìm kiếm thị trường để tổ chức sản xuất xuất khẩu
- Trồng cỏ chăn nuôi: dự báo khi gia nhập WTO, ngành chăn nuôi nước ta phải chuyển sang phương thức tập trung, khép kín với sự kiểm soát chặt chẽ về thú y và an toàn vệ sinh thực phẩm, áp dụng công nghệ tiên tiến Để đáp ứng nhu cầu thức ăn xanh cho đại gia súc, cần dành diện tích đất thích hợp trồng thức ăn xanh trong đó chủ yếu là chuyển từ đất trồng lúa
- Sản xuất cây ăn trái: theo Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam chuyển đổi đất lúa sang cây ăn trái nên thực hiện ở các huyện Hoà Thành, thị xã Tây Ninh, Dương Minh Châu có kết hợp dịch vụ du lịch
- Nuôi trồng thuỷ sản: hiện nay, nuôi trồng thuỷ sản đang là hướng chuyển đổi có hiệu quả ở những khu vực có điều kiện; khu vực ven sông Vàm
Cỏ Đông và một số vùng trũng thấp khác có điều kiện nuôi thuỷ sản nước ngọt
Để phát triển thuỷ sản cần xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đê bao an toàn chống lũ; nghiên cưu xác định loài, giống thuỷ sản nuôi phù hợp, chuyển giao công nghệ cho người nuôi, xây dựng cơ sở giống và chế biến, bảo quản thuỷ
Trang 101.1.5 Kết quả nghiên cứu về vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng:
Trong nhiều năm qua, việc nghiên cứu đã làm nổi bật được vai trò quan trọng của các nguyên tố đa lượng (N, P, K) trong việc nâng cao năng suất cây trồng Tuy nhiên, các nguyên tố trung lượng (Ca, Mg, S), đặc biệt là các nguyên tố vi lượng, mặc dù là một bộ phận không thể tách rời trong dinh dưỡng cây trồng nhưng hầu như ít được quan tâm nghiên cứu nhiều
Các nghiên cứu về đa lượng và vi lượng chủ yếu thông qua các thí nghiệm phun hoặc bón phân cho cây trồng, sau đó theo dõi tình hình sinh trưởng và năng suất Như vậy, các nghiên cứu chủ yếu mang tính thăm dò – thông qua phản ứng của cây trồng mà chưa đi từ cơ sở cơ bản – đó là hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng đa, trung, vi lượng có trong đất Cho đến nay, có rất ít khảo sát, nghiên cứu về tính trạng vi lượng trong đất, đặc biệt trên địa bàn đất của Trung tâm sản xuất thực nghiệm giống Trảng Bàng – Tây Ninh thì hầu như chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này Có thể nêu một
số nguyên nhân chính của sự bất cập đó như sau:
a) Trước đây, trong cơ chế cũ, vấn đề đáp ứng phân đa lượng gặp trở ngại lớn đến mức nhiều nhà sản xuất - nghiên cứu - quản lý cho rằng trong khi chưa đáp ứng đủ đa lượng thì đừng vội nghĩ đến trung, vi lượng
b) Vấn đề nghiên cứu trung lượng, đặc biệt là vi lượng bản thân nó cũng gặp khó khăn thực sự do giá phân tích mẫu quá đắt
c) Các giống sử dụng chưa phải là giống tiềm năng năng suất cao, giống lai
vì vậy nhu cầu trung - vi lượng chưa cao
d) Chúng ta quá chú trọng đến năng suất tối đa mà chưa quan tâm nhiều đến vấn đề chất lượng sản phẩm
Biểu hiện rối loạn dinh dưỡng do thiếu trung và vi lượng thể hiện phổ biến trên thực tế, một phần do nhu cầu sinh lý của các giống mới, mặt khác do một thời gian dài khai thác tiềm năng của đất mà thiếu bổ sung các nguyên tố này làm cho đất bị suy kiệt
Về phương diện sinh lý thực vật, các nguyên tố vi lượng mặc dù được tiêu thụ với lượng ít hơn so với đa lượng, các nguyên tố trung, vi lượng vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cây trồng Vi lượng tham gia tạo thành các enzim, coenzim, các men xúc tác sinh học, trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào quá trình tổng hợp phytohocmôn, gây ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, trao đổi chất và vì thế các yếu tố này sẽ điều khiển quá trình sinh trưởng cũng như tác động mạnh tới năng suất của cây trồng Thiếu vi lượng có thể dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh lý, cây sinh trưởng kém, năng suất cây trồng giảm mạnh Việc thiếu nguyên tố Bo làm cho hạt phấn và vòi phấn phát triển kém, quá trình thụ tinh xảy ra không hoàn chỉnh, phôi phát triển kém và vì thế năng suất cây trồng giảm là điều dễ hiểu Theo nhiều tài liệu sơ bộ, bội thu do sử dụng vi lượng có thể đạt 25 - 35% so với đối chứng không dùng vi lượng Thậm chí trong một số trường hợp cá biệt, chỉ cần phun
vi lượng 1 lần cho 1 chu kỳ sinh trưởng có thể cho bội thu năng suất trên 50%
Trang 11Đối với các nguyên tố trung lượng, hiện tượng thiếu canxi (Ca) trên đất chua cũng có thể làm cho cây phát triển kém Đặc biệt đối với cây ăn trái, cây lấy dầu nếu thiếu Ca, tỷ lệ rụng quả sẽ cao, thành quả mềm, dễ bị tổn thương,
độ axít cao và chất lượng quả thường thấp Ngược lại với yếu tố Ca, với vùng đất xám bạc màu như ở tỉnh Tây Ninh, trong nhiều trường hợp nguyên tố lưu huỳnh (S) có thể trở nên độc đối với cây trồng Tiếc rằng trên thực tế, bất chấp những nhận định này, nhiều phân bón chứhi a lưu huỳnh (thông thường có cộng thêm 13 S) đang được bán nhiều ở tỉnh Tây Ninh Việc này không những gây lãng phí mà còn có khả năng phản tác dụng gây độc vì một phần không nhỏ đất ở tỉnh Tây Ninh là đất chua
Vai trò của nguyên tố trung lượng Mg đối với năng suất và chất lượng nông phẩm cũng cần phải được đánh giá đúng mức Xác định rõ vai trò của
Mg và Ca đối với từng loại đất sẽ giúp quyết định được nên chọn loại phân lân nung chảy (Thermophosphate) chứa nhiều Mg hay super lân chứa ít Mg để có thể đạt hiệu quả đầu tư cao nhất
Đã đến lúc phải xem xét vấn đề trung, vi lượng như một bộ phận cấu thành quan trọng trong giải pháp tổng thể nâng cao năng suất cây trồng, phát huy tối đa tiềm năng của đất
Sử dụng phân bón cho cây lạc:
• Bón phân cho lạc là yếu tố kỹ thuật quan trọng để cây lạc cho năng suất cao Để bón phân cho lạc, cần xác định thời kỳ bón thích hợp, lượng phân, dạng phân bón và cân đối các yếu tố dinh dưỡng để tạo điều kiện tốt nhất cho cây lạc hấp thu dinh dưỡng, sinh trưởng và phát triển, cho năng suất cao
• Phân chuồng: Là yếu tố kỹ thuật không thể thiếu để có được năng suất trong trồng lạc Lượng phân chuồng bón cho lạc trong khoảng 8-12 tấn/ha Phân chuồng bao gồm phân gia súc và chất độn chuồng cần được
ủ thật hoai mục, tốt nhất là chuẩn bị trước khi gieo 1 tháng
Dùng toàn bộ phân chuồng để bón lót Bón theo hàng trước khi gieo hạt Nếu phân chuồng thật hoai mục, có thể bón trực tiếp vào hạt
• Phân đạm vô cơ: Nên dùng phân đạm vô cơ để bón lót vào 2 thời điểm: sau gieo 15 ngày (khi lạc có 2-3 lá kép) và khi lạc ra hoa
Bón phân đạm cho lạc đòi hỏi hết sức thận trọng Nếu bón không đúng kỹ thuật, đôi khi dẫn đến giảm năng suất do hiện tượng lạc lốp đổ Chỉ bón đạm vô cơ cho những trường hợp sau:
- Lượng phân chuồng bón lót không đủ, đất xấu, thiếu dinh dưỡng
- Cây sinh trưởng kém, có biểu hiện thiếu đạm Bộ rễ lạc tạo nốt sần kém, lượng đạm cố định do vi khuẩn cung cấp cho cây ít
Trang 12- Bón đạm vô cơ trên cơ sở bón lân, kali và bón vôi đầy đủ, tạo sự cân đối trong dinh dưỡng khoáng Lượng phân đạm vô cơ có thể bón tối đa tới 40kg đạm nguyên chất cho 1ha
Phân lân
• Lượng lân (P2O5) bón cho lạc khoảng 40-60kg/ha Tất cả các dạng lân đều có tác dụng tốt đối với lạc Các loại lân khó tiêu như apatit, tecmophotphat thì nên ủ với phân chuồng để tăng lượng dễ tiêu và chỉ dùng để bón lót, còn super lân có thể bón trực tiếp (bón thúc) cho lạc Thời kỳ bón thúc lân cũng trùng với thời kỳ bón đạm vô cơ (khi cây lạc 2-3 lá
và thời kỳ ra hoa) Lượng lân nên dùng 50% để bón lót và bón thúc 50% (bằng super lân)
Phân kali
• Bón kali (K2O) cho lạc phát huy tác dụng tốt trên các loại đất bạc màu, đất nghèo dinh dưỡng Dạng kali sulphat hay kali clorua đều tốt đối với cây lạc Lượng bón cho 1ha là 40-60kg K2O Nên ủ kali cùng phân chuồng để bón cho lạc Nhiều nơi dùng tro bếp thay kali để bón cho lạc cũng rất tốt vì hàm lượng kali trong tro khá cao
Hiệu quả của kali đối với lạc thường thấp hơn lân, song việc bón kali cho lạc để
có năng suất cao là điều cần thiết
Bón vôi
• Bón vôi cho lạc vừa nâng pH đất, cải tạo những vùng đất chua đồng thời cung cấp canxi cho cây Bón vôi cho lạc đem lại hiệu quả tăng năng suất trên tất cả các loại đất Vôi được bón với lượng 600-800 kg/ha chia làm 2 lần, bón lót 50% và bón thúc vào thời kỳ ra hoa rộ
• Phân vi lượng: Lạc rất cần những nguyên tố vi lượng như Mo, Bo, Cu,
Mg Không nên bón riêng rẽ từng nguyên tố vi lượng mà dùng phân vi lượng hỗn hợp để bón, như vậy sẽ hiệu quả hơn do có tác dụng hỗ trợ của các nguyên tố, làm cho hiệu quả sử dụng phân tăng
Phân vi lượng thường dùng dưới dạng phun lên lá, bón vào thời kỳ 5-6 lá, thời
kỳ ra hoa rộ và phát triển quả
o Phân vi sinh: Phân vi sinh Nitrazin được sản xuất từ những chủng vi khuẩn có hoạt tính cố định đạm cao, bằng cách nhân và cố định chúng trong than bùn để sử dụng làm phân bón cho lạc Phân vi sinh có tác dụng tốt đối với lạc trên các loại đất mới khai phá chưa trồng lạc, đất chua, đất bạc màu
Hiện nay việc sử dụng phân vi sinh cho lạc chưa nhiều vì bà con chưa quen dùng Việc dùng phân vi sinh không những có tác dụng làm tăng hiệu quả sử dụng các loại phân vô cơ, tăng năng suất lạc, mà còn làm tăng cấu tượng đất, tăng hàm lượng các chất dễ tiêu, tạo điều kiện dinh dưỡng tốt cho cây trồng ở
vụ kế tiếp
Trang 131.1.6 Mối quan hệ đất – cây và các kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng:
• Giữa đất và cây trồng có mối quan hệ rất chặt chẽ, việc phân tích, khảo sát đánh giá chất lượng đất để quy hoạch phát triển cho mỗi loại cây trồng
là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng cho cây và khai thác tốt lợi thế về độ màu mỡ của đất Vì vậy có thể nói rằng “đất nào – cây ấy”
• Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho mỗi loại cây chúng ta phải biết được khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất cho cây (đất tốt – xấu…), yêu cầu dinh dưỡng của mỗi loại cây từ đó nghiên cứu xây dựng quy trình bón phân thích hợp, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao
• Trong nhiều năm qua, nhiều nghiên cứu đã làm nổi bật được vai trò của các nguyên tố N,P,K trong việc nâng cao năng suất cây trồng Tuy nhiên các nguyên tố trung lượng Ca, Mg, S và đặc biệt là các nguyên tố vi lượng mặc dù là một bộ phận không thể tách rời trong dinh dưỡng cây trồng nhưng hầu như ít được quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu về trung, vi lượng chủ yếu thông qua các thí nghiệm phun hoặc bón vào đất sau đó theo dõi tình hình sinh trưởng và năng suất Như vậy các nghiên cứu chủ yếu mang tính thăm dò thông qua phản ứng của cây trồng mà chưa đi từ nghiên cứu cơ bản – đó là thực trạng của chúng có ở trong đất
• Nguyễn Thị Liên Hoa và CTV (1995 – 1998) đã nghiên cứu thành công phân ACA (N,P,K, Mg, Ca, Bo…) chuyên dùng cho cây lạc thay thế tro dừa đã làm tăng năng suất lạc 30-36% so với đ/c không bón phân, tăng 1-5% năng suất và tăng hàm lượng dầu từ 1,5 – 3% so với bón tro dừa nguyên chất, đồng thời chi phí bón phân ACA thấp hơn 24% so với bón tro dừa nguyên chất và giá thành sản xuất 1 kg lạc vỏ sử dụng phân ACA thấp hơn so với sử dụng tro dừa là 10% đã được Bộ NN & PTNT cho phép sản xuất và được nông dân chấp nhận
• Nguyễn Thị Liên Hoa, Ngô Thị Lam Giang và ctv (1999-2004) đã nghiên cứu xây dựng mô hình thâm canh cây lạc trên đất xám (Acrisols) ở Đông Nam bộ cho thấy việc sử dụng màng phủ PE + phân ACA + vôi + phân chuồng đã cho năng suất vượt đối chứng của nông dân 25%, chi phí đầu
tư thấp hơn 10% và giá thành sản xuất 1 kg lạc vở giảm 29%, đồng thời làm tăng 7% khối lượng 100 hạt, tăng 5% tỷ lệ hạt chắc, 5% tỷ lệ nhân, tăng 29% số trái/bụi
• Diệp Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Liên Hoa và ctv (1987-1999) nghiên cứu bón phân cho Dừa trên đất phèn Thủ đức – TPHCM (dừa Dâu) và Bến Lức – Long An (dừa lai PB121), cho thấy: N và P dạng thiên nhiên có ảnh hưởng rõ đến chu vi cổ thân, số lá mọc thêm, tỷ lệ ra hoa và hàm lượng dinh dưỡng tập trung trong lá Kali chưa thấy có ảnh hưởng trong 2-5 năm đầu
Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu đã nghiên cứu đưa ra công thức bón
Trang 14nhiễm mặn nhẹ Thủ Đức (Nguyễn Thị Liên Hoa, 1982), trong đó đưa ra lượng phân/cây/năm từ năm thứ 5 trở đi: (0,7 kg Urê + 2,0 kg Super lân + 0,5 kg KCl)/cây/năm Đối với dừa Ta, Dâu địa phương vào thời kỳ cho trái ổn định, liều lượng phân bón thích hợp là: (0,8 kg Urê + 1,2 kg Super lân + 0,8 kg KCl)/cây/năm tại xã Lương Hòa và Hưng Phong, cho năng suất tăng gấp 30-50% so với bón phân theo kinh nghiệm của nông dân (Phạm Thị Lan, 2004) Lượng phân N và K2O thích hợp cho cây dừa lai PB121 thời kỳ kiến thiết cơ bản trên vùng đất phèn Bến Lức- Long An (Diệp Thị Mỹ Hạnh, 1999), trong đó
đã nghiên cứu lượng phân N (dùng Ure) và K2O (dùng KCl) thích hợp cho cây dừa lai từ năm thứ 1 đến năm thứ 4 (năm thứ 4 với lượng phân bón/cây/năm là: 1,0 kg Urê + 1,5 kg Super lân + 0,8 kg KCl) Kết quả điều tra khảo sát tình hình bón phân cho cây dừa Ta, Dâu đang ra trái tại xã Lương Hòa-Giồng Trôm-Bến Tre, cho thấy, 50% số hộ nông dân không bón phân, 50% còn lại có bón phân cho cây dừa, song lượng phân bón không ổn định (tùy theo điều kiện kinh tế và giá cả của trái dừa) Khi bón, loại phân được dùng chủ yếu là NPK (16:16:8) với liều lượng 1,0 kg /cây/năm, năng suất giao động từ 35-50trái/cây/năm (Lưu Quốc Thắng, 2005)
Năm 2003-2004, kết quả điều tra tại huyện Hoài Nhơn - Bình Định cho thấy 85% số hộ nông dân không bón phân cho cây dừa, năng suất trung bình chỉ đạt từ 25-30 trái/cây/năm (Phạm Thị Lan, 2004)
Cây Lạc thích ứng với khí hậu bán khô hạn hoặc bán ẩm ướt, với lượng mưa khoảng 500-1200 mm/năm Cây lạc ưa đất nhẹ, tơi xốp, từ cát pha thịt đến thịt pha cát Giới hạn pH thích hợp là 5,5-6,5
Nhu cầu dinh dưỡng cây lạc rất lớn, nhất là đạm Tuy nhiên, trên thực tế, nhu cầu bón đạm cho cây lại rất thấp Do cây có vi khuẩn cộng sinh trong nốt sần ở rễ, có khả năng đồng hóa được đạm khí trời để cung cấp cho cây Nếu sản lượng thu hoạch khoảng 3 tấn quả (củ)/ha, cây lạc lấy đi cho cả quả và thân lá là
192 kg N, 48 kg P2O5, 80 kg K2O, 79 kg CaO/ha Ngoài ra, cây còn cần rất nhiều các nguyên tố trung lượng và vi lượng khác như magiê, lưu huỳnh, đồng, kẽm, bo, molypđen, mangan, sắt v.v Như vậy, nếu xét về tỷ lệ phân bón đa lượng cho cây, thì lạc có nhu cầu tỷ lệ N:P2O5:K2O là xấp xỉ 4-1-2 Tuy nhiên, trên thực tế, bón phân cho lạc thì lượng đạm cần bón được hạ thấp rất nhiều, do đặc điểm tự tổng hợp đạm khí trời nhờ vi khuẩn cộng sinh Lượng canxi cây cần
và lấy đi từ đất cũng tương đương lượng kali, do vậy, cần chú ý đặc điểm này Theo một số tài liệu, lượng magiê cây hút cũng tương đương hoặc cao hơn lượng canxi Ngoài ra, cây lạc cũng rất cần lưu huỳnh như những cây lấy dầu khác
Sử dụng phân bón cho lạc: Vôi là một yếu tố quan trọng trong phân bón
cho cây lạc, nếu pH đất thấp, thì nên bón vôi bằng cách rải trên ruộng và cày bừa để trộn vào đất trước khi trồng ít nhất 10 ngày Đối với phân đạm, chỉ nên bón lượng cao, khi không hy vọng có đủ số lượng nốt sần cần thiết Lân và kali luôn luôn là 2 nguyên tố cần thiết cho cây họ đậu, nhưng thường ở đất tốt thì
Trang 15hiệu lực của 2 nguyên tố này không rõ Ngược lại, ở những đất có độ phì thấp, thì hiệu lực của 2 nguyên tố này rất rõ, nhất là đất có độ cố định lân cao
Ở Việt Nam, cây lạc thường được trồng ở những chân đất rất xấu, phần
lớn là đất xám và xám bạc màu do vậy, ngoài các loại phân bón chính, nông dân thường phải bắt buộc bón "Tro dừa" như là phần thay thế cho một số nguyên tố
vi lượng quan trọng mà đất thiếu Lượng phân bón khuyến cáo dùng ở Việt
Nam là:
- Phân chuồng: 8-12 tấn /ha (ở miền Bắc)
- Tro dừa: 1,5-2 tấn /ha (ở miền Đông Nam bộ)
- Vôi bột: 300-500 kg/ha
- Phân đạm: 30-40 kg N/ha
- Phân lân: 40-60 kg P2O5/ha
- Phân kali: 40-60 kg K2O/ha
Chú ý, toàn bộ lượng phân đạm cho cây lạc nói trên, nên dùng ở dạng phân SA, vì có như vậy mới cung cấp đồng thời cho cây lượng dinh dưỡng lưu huỳnh cần thiết Nên dùng toàn bộ lượng phân lân nung chảy Về phân vi lượng, các cây họ đậu nói chung thường rất cần molypđen, bo và đồng Các loại phân này thường được dùng dưới dạng vi lượng tổng hợp để phun lên lá hoặc xử lý hạt là kinh tế nhất Hiện Xí nghiệp Phân bón Chánh Hưng đã sản xuất phân
chuyên NPK "Con ó đen” cho cây lạc, có thể kết hợp dùng phân đơn theo liều
lượng trên kết hợp với việc bón vôi, tro dừa và các loại phân vi lượng bổ sung
nếu cần (Nguồn:Nông nghiệp Việt Nam, ngày 10/12/2003, Số 246 (1788), tr.11)
Phân bón cho Vừng: Theo kết quả nghiên cứu của TS Ngô Thị Lam
Giang và ctv, 2006, cho thấy: Phân Đạm làm tăng năng suất vừng 1 cách rõ rệt, bón đến 135 kg N vẫn còn có tác dụng làm tăng năng suất (đạt 1,27 tấn/ha) so với không bón đạm (đạt 0,83 tấn/ha) Lân và kali không có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất, công thức bón phân cho năng suất cao là 135 N- 0 P205 – 30 K20 ,
135 N – 30 P205 – 60 K20 và 135 N- 60 P205 – 0 K20/ha đạt năng suất từ 1,28 – 1,39 tấn/ha Lượng phân khuyến cáo đưa vào quy trình kỹ thuật canh tác vừng
là 50 N – 60 P205 – 60 K20/ha
Theo KS Đào Ngọc Hải, 2006, phun phân bón lá 16-16-8 hai lần vào 15
và 30 ngày sau gieo cho vừng đạt năng suất cao hơn đối chứng không phun 0,19 tấn/ha có ý nghĩa so sánh
Hiện nay, theo www.agroviet.com khuyến cáo bón phân cho vừng như sau: Vôi bột: 400kg/ha (bón trước khi cày bừa) + Phân chuồng: 4-5 tấn/ha + Phân NPK 500 kg/ha loại 3:9:6 Tất cả các loại phân này đều bón lót vào lần cày bừa cuối cùng (đối với đất không cày thì bón trước khi bừa) Riêng đất quá xấu bón thúc 2kg urê/sào khi vừng 2-3 lá Tùy theo đất tốt hay xấu mà ta đầu tư phân bón nhiều hay ít, nhưng phải cân đối theo tỷ lệ 1 đạm 1 lân và 1 kali (1:1:1) Mức bón 45N + 45 P205 + 45 K20/ha
1.1.7 Thực trạng đất canh tác ở Trảng Bàng:
Trang 16- Đất tại Trung tâm Sản xuất giống Trảng Bàng – Tây Ninh chủ yếu là đất xám bạc màu (Haplic Acrisol), đất xấu (chua, nghèo chất hữu cơ, N, P, K, Ca, Mg…), kết cấu kém, theo số liệu phân tích (04 mẫu đất) của Trường Đại học Nông Lâm TP HCM năm 2002 - 2003 cho thấy pHKCL= 3,94 - 4,01; N tổng số = 0,03 – 0,04%; lân tổng số = 0,021 – 0,023%; lân dễ tiêu = 0,9 – 2,6 mg/100g đất; kaili tổng số = 0,006 – 0,13%; kali dễ tiêu = 0,4 -0,5 mg/100g đất; mùn = 0,4 - 0,6%; Ca = 0,2 - 0,4 meq/100g đất; Mg > 0,1 meq/100g đất,v.v…
- Các nghiên cứu về cây có dầu (lạc, đậu tương, vừng, dừa …) trên đất xám tại Trung tâm Sản xuất giống Trảng Bàng – Tây Ninh chưa thấy ghi nhận về đặc điểm dinh dưỡng đất nghiên cứu
- Chưa đánh giá được hàm lượng dinh dưỡng ở các lô đang sản xuất tại Trung tâm
- Chưa có nghiên cứu xây dựng quy trình bón phân thích hợp cho các loại cây có dầu
- Năm 2007 đã được Bộ Công Thương đầu tư xây dựng được 720m kênh tưới cấp 1 có khả năng đáp ứng nhu cầu nước cho các loại cây có dầu theo hướng thâm canh
- Định hướng nghiên cứu xây dựng các mô hình Nông – Công nghiệp công nghệ cao nhằm gia tăng thu nhập trên/ha hàng năm theo quyết định số 2540/QĐ-TCCB ngày 01/11/2001 về việc thành lập Trung tâm Sản xuất giống Trảng Bàng của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương), trong đó
có giao cho Trung tâm nhiệm vụ “Liên kết với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, tiếp nhận kỹ thuật mới và nguồn vốn đầu tư để xây dựng Trung tâm thành khu nông công nghiệp công nghệ cao”
- Từng bước quy hoạch các khu trồng các loại cây có dầu thích hợp trên cơ
sở đặc điểm dinh dưỡng đất các lô
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Đất hiện đang được nhìn nhận là hợp phần mấu chốt của môi trường, nó
có thể dễ dàng hủy hoại và mất đi Đất còn được coi là nguồn tài nguyên có hạn Các nhà khoa học đất ở thế kỷ XXI đã và đang cùng với các nhà khoa học khác xây dựng các thể chế để chống lại sự hủy hoại đất và nêu cao vai trò của đất trong phạm vi môi trường toàn cầu Theo Oguike, PC; Chukwu GO và Njoku
NC thuộc Đại học Nông nghiệp Umudike và Viện nghiên cứu nông nghiệp Umudike - Nigeria nghiên cứu cho thấy:
Nghiên cứu hiệu quả của chất thải xay lúa (rice mill waste - RMW) kết hợp có bón hoặc không bón NPK theo tỷ lệ 15:15:15 đã có ảnh hưởng đến một
số tính chất hóa học của đất xám (Haplic Acrisol) vùng Umudike, Đông Nam Nigeria Các thử nghiệm bao gồm 10 công thức (20, 10, 5 và 2,5 tấn RMW/ha kết hợp với 200 hoặc 400 kg/ha NPK, 30 tấn RMW/ha, 400 kg NPK/ha NPK và đối chứng) Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối đầy đủ ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần lặp lại Kết quả cho thấy bón RMW 30 tấn/ha đã có tác dụng làm tăng lân tổng số Tương tự, công thức bón kết hợp 20 tấn RMW/ha +
Trang 17NPK tại 200-400 kg/ha và bón 30 tấn RMW/ha đã làm tăng đáng kể hàm lượng chất hữu cơ (OM) điều này cho thấy tiềm năng của RMW trong việc cải thiện lý hoá tính của đất nghèo dinh dưỡng như đất xám
Theo SN Sharma; R Prasad; MK Dwivedi; Sandeep Kumar; MR Davari và Moola Ram thuộc Viện Nghiên cứu Nông nghiệp New Delhi, Ấn Độ
đã nghiên cứu trong ba năm (2001 đến 2004) để tìm hiểu tác dụng của hệ thống canh tác và ảnh hưởng của chúng đến tính chất hóa học và đặc tính sinh học của đất Kết quả cho thấy hệ thống canh tác: Lúa - khoai tây – đậu xanh đã cho năng suất cao hơn so với đối chứng 59-89%, sản lượng tăng 18-38% và hàm lượng lân trong đất tăng 7-16% cao hơn so với hệ thống canh tác lúa - lúa mì Tương tự hệ thống canh tác lúa - cải dầu –
đậu xanh cũng đã cho kết quả năng suất cao hơn 12-15%, sản lượng tăng 26% và hàm lượng lân trong đất tăng 11-18% cao hơn so với hệ thống canh tác lúa – lúa
19-Theo Majid Gholamhoseini; Amir Ghalavand ; Aria Dolatabadian ; Ehsan Jamshidi; Aydin Khodaei Joghan thuộc Trường Đại học Tarbiat Modares, Tehran, Cộng hòa Hồi giáo Iran đã nghiên cứu chế độ phân bón hợp lý cho cây hướng dương để đạt được năng suất cao và bền vững theo các chế độ tưới tiêu khác nhau Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu quản lý phân bón tổng hợp được tiến hành trong thời gian 2005-2006 để đánh giá tác động của phân urê đến một số đặc điểm của cây hướng dương dưới các chế độ tưới tiêu khác nhau Các kết quả đã chứng minh rằng các chế độ tưới tiêu khác nhau có tác dụng đáng kể làm tăng sản lượng hạt giống, vật chất khô, hàm lượng diệp lục, chỉ số diện tích lá (LAI) và sản lượng dầu Nhưng các yếu tố về chất lượng hạt giống đã không bị ảnh hưởng bởi các chế độ tưới tiêu Các tác giả đã đề xuất liều lượng tốt nhất là cung cấp 80 kg N/ha dạng urê và 50 kg N/ha phân kết hợp với 15% khoáng Zeolite
Phân bón đã được xác định là 1 yếu tố quan trọng làm ảnh hưởng tới năng suất cây trồng Năm 1999 tại Đài Loan, Trung tâm kỹ thuật bón phân cho cây lương thực đã đưa ra các mức khuyến cáo để đánh giá tình trạng dinh dưỡng (đa, trung, vi lượng) ở trong đất, trong cây và ảnh hưởng của chúng tới năng suất cây trồng Hầu hết các quốc gia Châu Á đã tái khẳng định rằng việc thiếu hụt hàm lượng dinh dưỡng ở trong đất là 1 trong những yếu tố làm giảm năng suất cây trồng khu vực Châu Á Việc nghiên cứu, nhận dạng tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng trong mối quan hệ đất – cây trồng là một việc làm rất cần thiết để nâng cao tiềm năng của đất
Trung và vi lượng từ lâu đã được khẳng định là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng suất cây trồng Ở Fiji, trong cuốn “Hướng dẫn đánh giá các kết quả phân tích các mẫu đất nông nghiệp” đã đưa ra các ngưỡng đánh giá trung, vi lượng trong đất và trong cây cho phần lớn các cây trồng nhiệt đới Trung tâm kỹ thuật bón phân cho cây lương thực ở Châu Á cũng đã đưa ra các thang khuyến cáo đánh giá tình trạng trung, vi lượng trong đất Chỉ riêng ở châu
Trang 18với cây trồng Tại hội nghị này, các báo cáo của các quốc gia Châu Á đã tái khẳng định rằng thiếu hụt vi lượng là một trong những yếu tố giảm năng suất cây trồng ở vùng châu Á và nghiên cứu , nhận dạng tình trạng thiếu hụt vi lượng trong mối quan hệ đất – cây trồng là một việc làm rất cần thiết để nâng cao tiềm năng của đất
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây lấy dầu và dùng làm thực phẩm khá
phổ biến ở trên thế giới và được trồng ở 115 nước Trung bình một vụ cây lạc lấy đi của đất 112 kg N + 27 kg P205 + 34 kg K20/ha Tại bang Andhra Pradesh -
Ấn Độ đã khuyến cáo bón phân cho lạc trong điều kiện trồng lạc có tưới là : 30
kg N + 60 kg P205 + 45 kg K20/ha và trong điều kiện trồng lạc nhờ nước trời là:
20 kg N + 40 kg P205 + 20 kg K20/ha Theo nghiên cứu của Ấn Độ, đất trồng lạc
có pH > 8 hoặc pH < 6 là không thích hợp cho trồng lạc (theo www Ikisan.com)
Ngoài Đạm, Lân, Kali rất cần thiết cho sinh trưởng, phát triển và tăng năng suất lạc, các nguyên tố Canxi, Lưu huỳnh, Magiê, Bo, Sắt, Đồng, Mangan, Molipđen… đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc làm tăng năng suất lạc Tùy thuộc vào điều kiện đất của mỗi nơi, để khắc phục tình trạng thiếu hụt các nguyên tố dinh dưỡng trung lượng, vi lượng, nhiều kết quả nghiên cứu đã khuyến cáo liều lượng bón và phun thích hợp cho cây lạc như sau:
- Canxi và Lưu huỳnh: Bón 250 -500 kg CaSO4.2H2O/ha ở độ sâu 0 – 5 cm trong vùng hình thành củ, có tác dụng cung cấp được 24% CaO + 18,6% S/ha cho cây;
- Magiê: Phun qua lá 1% MgS04.7H2O;
- Sắt: Bón 10 kg FeS04.7H2O/ha hoặc phun qua lá FeS04.7H2O 0,5%;
- Kẽm:Bón 15 kg ZnS04.7H2O/ha hoặc phun qua lá 10 kg ZnS04.7H2O /ha;
- Bo: Bón 10 kg Borax/ha hoặc phun qua lá 0,1ppm Bo vào giai đoạn nở hoa;
- Đồng: Bón 2-6 kg CuS04.5H2O /ha hoặc phun qua lá 0,1% CuS04.5H2O /ha;
- Molipđen: Bón 1 kg Molipđat amôn hoặc phun qua lá Molipđat amôn 200 ppm trước khi nở hoa;
- Măng gan: Bón 10 kg MnS04.H2O /ha hoặc phun qua lá 0,12 kg Mn/ha
Cây lạc ở Mỹ thường được khuyến cáo bón như sau: Bột đá vôi được rải
ra và vùi vào đất trước khi gieo hạt nếu pH 5,5 -6,0 Lân và Kali cũng được rải
ra và vùi vào đất trước khi gieo hạt với liều 45-90 kg/ha P2O5 và 50-95 kg/ha
K2O, tùy thuộc vào số liệu phân tích đất Mg cũng được bón với liều 50 kg /ha MgO, nếu hàm lượng thấp và nếu không được bón vôi Thạch cao cũng được bón lúc cây có hoa đối với giống có hạt nhỏ với mức 250-315 kg/ha CaO hay mức thấp hơn nếu bón theo hàng hoặc băng Liều thạch cao gấp đôi như vậy được bón cho các giống hạt lớn bất kể hàm lượng canxi thế nào Bo ở mức 0,6 kg/ha B (trừ khi mức Bo 0,5 mg B/kg đất) thường bằng con đường phun qua lá
và được chia ra giữa 2 lần phun trừ nấm đầu tiên Đối với đạm, có thể bón thúc với mức 30-40kg N/ha lúc cây con
Trang 19Cây Vừng (Sesamum indicum L.) là một trong những cây có dầu ngắn
ngày dùng để làm nguyên liệu để sản xuất các loại dầu ăn và nhiều loại hàng thực phẩm cao cấp khác Cây Vừng được trồng ở nhiều nước trên thế giới Theo Faostat 2005, trên toàn thế giới có 7,561 triệu ha vừng, năng suất bình quân đạt 8,78 tạ/ha, sản lượng đạt 3,32 triệu tấn và được trồng tập trung ở Ấn Độ với 2.670.000 ha chiếm 30% tổng diện tích của thế giới Trung Quốc cũng là một trong những nước sản xuất vừng lớn trên thế giới với khoảng 670.000 – 1.000.000 ha/năm và đạt sản lượng 500.000 – 700.000 tấn Ngoài ra Xu Đăng, Myanma và Uganda cũng có diện tích vừng trên 670.000 ha Trung Quốc là nước có năng suất vừng cao nhất thế giới, trong đó có 4 tỉnh là Hồ Nam, An Hụy, Hồ Bắc và Giang Tây có diện tích vừng trên 33.340 ha chiếm 78,1% diện tích của cả nước, riêng Hồ Bắc là tỉnh đạt năng suất cao nhất 1.512 kg/ha vượt năng suất bình quân của cả nước Trung Quốc 50,7%
Ở Triều Tiên, những năm gần đây cây vừng cũng được xem là một trong những cây đem lại lợi ích quan trọng nhất và đang được Nhà nước quan tâm nghiên cứu và phát triển
Nghiên cứu phân bón cho vừng ở Ấn Độ cho thấy: Tại Hoshangabad, Madhya Pradesh, India lượng phân bón thích hợp cho vừng là: 60 kg N: 40 kg P2O5: 20
kg K2O/ha (Journal of Oilseeds Research, 2005 (Vol.22) (No.1) 63-65)
Ở Thái lan, theo Laksanawadee Panpruik, Sootin Claimon và Pairoj Panpruik (Nhóm nghiên cứu đất và phân bón cho cây trồng cạn hàng năm, Bộ môn Khoa học đất, Bộ Nông nghiệp Thái Lan (Bangkok)) tại Hội thảo về cây vừng ở Ubon Ratchathani (Thailand), ngày 20-22 tháng 8 năm 1996, cho thấy: Phân bón đã có tác dụng làm tăng sinh trưởng và năng suất vừng có ý nghĩa thống kê ở tỷ lệ 4-4-2 kg N-P2O5-K2O/rai và không ghi nhận được sự tương tác giữa phân bón với 4 giống vừng MK.60, Ubonratchathani 1, MKS-I-84001, KU.18 tham gia nghiên cứu
Ở Úc đã nghiên cứu và khuyến cáo kỹ thuật bón phân cho 4 giống vừng: Yori 77, Aussie Gold, Edith và Beach Choice như sau: Bón 60 kg N/ha và nhu cầu phân bón cho vừng phụ thuộc vào độ phì của đất, thường sử dụng phân bón lót và không cần thiết bón thúc vì hầu hết đất thịt pha cát ở Úc đã có khá đầy đủ
P, K, S, Cu, Zn và B (dẫn theo Ks Đào Ngọc Hải)
Trang 20CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM NỘI DUNG NGHIÊN CỨU NĂM 2009
2.1 Điều tra xây dựng bản đồ đất
2.1.1 Điều tra, phân tích, đánh giá các tài liệu bản đồ, kết quả nghiên cứu có liên quan
- Thu và nghiên cứu các tài liệu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên có liên quan đến vùng nghiên cứu như: Địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thực vật, các tài liệu đất trước đây, tình hình sử dụng đất, các loại cây trồng, năng suất, sản lượng
- Thu thập, nghiên cứu bản đồ nền: Bản đồ địa hình và bản đồ giải thửa
- Tổng hợp đánh giá các tài liệu đã thu thập được, phân tích xử lý số liệu làm cơ sở ban đầu so sánh với kết quả hiện trường
2.1.2 Khảo sát thực địa:
- Đào, mô tả phẫu diện đất, lấy tiêu bản và mẫu đất phân tích, quan trắc
và xác định ranh giới đất Theo Quy phạm điều tra lập bản đồ đất tỷ lệ lớn (10 TCN 68- 84), áp dụng cho Vùng đồi lượn sóng, dốc thoải, độ dốc <10o, không
bị cây trồng hoặc rừng cây che phủ (vùng III1), số phẩu diện quan trắc và mô tả
60 phẫu diện, trong đó có 10 phẫu diện chính phân tích, 10 phẫu diện chính không phân tích và 40 phẩu diện thăm dò Các phẫu diện đất phân tích cần phải đại diện cho tất cả các dạng đất, các dạng địa hình và các loại hình sử dụng đất
- Chụp ảnh cảnh quan và hình thái phẫu diện đất Tất cả các phẫu diện đất nghiên cứu đều được chụp các loại ảnh: ảnh cảnh quan, ảnh hình thái phẫu diện đất, ảnh các loại hình sử dụng đất đại diện và các đặc trưng khác
2.1.3 Tập hợp, kiểm tra các tài liệu, biên tập và xây dựng các tài liệu gốc
- Tập hợp, kiểm tra các tài liệu, thông tin thu thập được trong quá trình khảo sát thực địa
- Xây dựng bản đồ gốc đất (bản đồ dự thảo) và Xây dựng bản đồ chính thức
- Đo và thống kê diện tích các loại đất và Biên tập ảnh phẫu diện đất và cảnh quan
- Lập hồ sơ bản tả các phẫu diện đất phân tích
Trang 215 P2O5 tổng số 15 SO4
2.1.6 Viết báo cáo chuyên đề Chú giải bản đồ đất
2.2 Điều tra xây dựng bản đồ hiện trạng và bản đồ đánh giá đất
Đánh giá đất đai là một nội dung làm mới, được thực hiện theo quy trình đánh giá đất đai do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành (10 TCN 343-98) Bao gồm các nội dung sau:
2.2.1 Khảo sát thực địa và điều tra tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Khảo sát về tình hình bố trí sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
- Xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Điều tra thu thập các thông tin về các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông nghiệp, về đầu tư thu nhập của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
2.2.2 Xử lý thông tin, xây dựng các bản đồ gốc và viết báo cáo chuyên đề
- Tập hợp và xử lý các thông tin thu thập được qua khảo sát thực địa và lập các biểu kết quả xử lý
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, gồm: Tập hợp thông tin và tình hình sử dụng đất, xử lý thông tin, thành lập các biểu số liệu về cơ cấu sử dụng đất, diễn biến sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất
- Đánh giá khả năng thích nghi đất đai (TNĐĐ): Lựa chọn các loại hình sử dụng đất dùng cho đánh giá đất, xây dựng yêu cầu đất đai của các loại hình sử dụng đất, xây dựng cây quyết định cho đánh giá TNĐĐ, xác định khả năng TNĐĐ, xây dựng bản đồ đánh giá TNĐĐ và thống kê diện tích đất theo khả năng TNĐĐ
2.2.3 Số hóa bản đồ đơn vị tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất:
gồm số hoá các bản đồ đơn tính, bản đồ tài nguyên đất đai và bản đồ hiện trạng
sử dụng đất
Trang 222.2.4 Viết báo cáo chuyên đề Đánh giá đất đai
2.3 Tổng hợp, xử lí các tư liệu, xây dựng báo cáo khoa học và tổng kết
2.3.1 Tổng hợp xây dựng các tư liệu thành phần
- Xây dựng các loại bản đồ khổ A-4, gồm: Bản đồ đất, Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, Bản đồ các đơn vị tài nguyên đất đai và Bản đồ đánh giá đất đai
- Xây dựng các trang ảnh màu về cảnh quan, địa mạo, phẫu diện đất và hiện
trạng sử dụng đất loại bản đồ khổ A-4
- Xây dựng các bảng số liệu, biểu đồ
2.3.2 Xây dựng báo cáo: Báo cáo tổng hợp về Đất, đánh giá đất và đề xuất sử dụng tài nguyên đất Trung tâm sản xuất giống Trảng Bàng – Tây Ninh
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU NĂM 2010
2 4 Điều tra xây dựng bản đồ Nông hóa
2.4.1 Điều tra, lấy mẫu đất phân tích các chỉ tiêu về nông hóa dựa trên bản đồ giải thửa hiện có của vùng nghiên cứu Độ sâu lấy mẫu đất theo quy định của
Bộ NN & PTNT áp dụng cho vùng trồng cây lâu năm là tầng 0-30cm và 30-60 cm; vùng trồng cây hàng năm là 0-30 cm
2.4.2 Phân tích đất : Các chỉ tiêu phân tích như sau;
2.5 Xây dựng bản đồ quy hoạch
2.5.1 Điều tra thu thập thông tin và xây dựng bản đồ quy hoạch dựa trên cơ sở các tài liệu và phương pháp sau:
- Kết quả phân loại đất; - Độ phì đất
- Định hướng phát triển Trung tâm Sản xuất Giống Trảng Bàng
- Thông tư 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch kế hoạch
sử dụng đất;
- Quy trình lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kèm theo Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
2.6 Xây dựng mô hình sử dụng và cải tạo đất thích hợp cho một số cây có dầu
Trang 232.6.1 Đề xuất biện pháp sử dụng đất hợp lý và theo hướng cải tạo độ phì đất dựa trên kết quả đánh giá độ phì đất vùng nghiên cứu khuyến cáo theo quan điểm thổ nhưởng
2.6.2 Thí nghiệm Cải tạo đất theo hướng sử dụng phân bón hợp lý, bao gồm các công thức dự kiến như sau:
CT1 Đối chứng (bón nền) CT2: Bón theo tập quán của nông dân trong vùng
CT3: Nền + Lân Thermo + phân vi sinh
CT4: Nền + Vôi + phân vi sinh
Diện tích ô = 50-100 m2 Bố trí theo Phương pháp RCBD, 3 lần nhắc lại Cây trồng: lạc, vừng
Chỉ tiêu theo dỏi: - Thời gian sinh trưởng qua các giai đọan
- Chiều cao cây
2.7 Báo cáo tổng kết đề tài và tổ chức nghiệm thu đề tài
2.8 Mô tả phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật thực hiện đề tài:
Điều tra, lấy mẫu đất phân tích hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng trong đất và lập các loại bản đồ theo các Tiêu chuẩn ngành của Bộ NN & PTNT, Hội khoa học đất Việt Nam ban hành
Sử dụng các phần mềm chuyên dụng GPS, GIS, v.v để xây dựng bản đồ, phân tích và xử lý số liệu trên máy vi tính
2.8.1 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu dưới
đây:
2.8.1.1 Phương pháp chung sử dụng trong điều tra xây dựng bản đồ đất
Bao gồm các phương pháp điều tra ngoại nghiệp truyền thống được sử dụng
trong điều tra xây dựng bản đồ đất ngoài thực địa như:
- Phương pháp quan trắc, mô tả phẫu diện đất và lấy mẫu đất phân tích
được thực hiện theo hướng dẫn của FAO và đã cụ thể hóa ở điều kiện Việt Nam trong “Sổ tay Điều tra Phân loại, Đánh giá đất” của Hội Khoa Học Đất Việt Nam (1999)
-Phương pháp xây dựng khóa chuẩn và phương pháp chuyên gia sẽ được
sử dụng trong phân loại đất, chuyển đổi phân loại, tổng hợp đất và biên hội bản
Trang 24- Thu thập các bản đồ, tài liệu, số liệu có liên quan đến đất vùng nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng các bản đồ, tài liệu đã thu thập được
- Xây dựng kế hoạch điều tra chi tiết
- Xây dựng bảng dự thảo phân loại đất
(ii) Điều tra chi tiết ngoài đồng
- Bố trí mạng lưới phẫu diện: Căn cứ vào bản đồ địa hình và thực trạng bản đồ
đất đã có, bố trí mạng lưới phẫu diện và xác định những vấn đề, những khu vực cần phải xem xét chi tiết hơn để xác định ranh giới đất
- Điều tra thực địa: Thực hiện các nội dung sau:
+ Đào các phẫu diện định giới, phẫu diện phụ và phẫu diện chính không phân tích để xác định tên đất; xác định ranh giới các nhóm, loại đất và khoanh
vẽ ranh giới đất lên bản đồ giã ngoại
+ Đào, quan trắc, mô tả phẫu diện và thu thập mẫu đất đối với các phẫu diện chính có phân tích; trong đó, mỗi một loại đất trong dự thảo phân loại ít nhất phải có một phẫu diện chính có phân tích
+ Chụp ảnh hình thái phẫu diện, cảnh quan hoặc hiện trạng sử dụng đất
(iii) Phân tích đất và xây dựng bản đồ gốc
- Phân tích đất: Mẫu đất được xử lý và phân tích trong phòng thí nghiệm
nhằm làm rõ các chỉ tiêu về phân loại đất và đặc tính lý- hóa- nông học của loại đất (chỉ tiêu và phương pháp phân tích xem phụ lục 1)
- Biên vẽ bản đồ gốc đất: Sau khi kết thúc điều tra ngoại nghiệp, tiến hành
phân tích, tổng kết và đánh giá quy luật phân bố, mối tương quan giữa các yếu tố địa hình, địa chất, thực vật với hình thái phẫu diện đất và số liệu phân tích đất để xác định tên đất chính thức và xây dựng bản đồ gốc đất
(iv) Biên tập bản đồ đất, xây dựng cơ sở dữ liệu, tổng hợp và viết báo cáo
- Quét và số hóa bản đồ: Bản đồ gốc chính thức được quét và số hóa trên máy
tính
- Biên tập bản đồ đất kỹ thuật số: Bản đồ sau khi số hoá được chuyển đổi về
khuôn dạng MapInfo để biên tập bản in; bao gồm 2 nhóm thông tin chính: Nền địa hình và thổ nhưỡng
+ Các lớp dữ liệu nền địa hình được biên tập màu sắc, kích thước, kiểu, phông chữ, cỡ chữ theo qui phạm bản đồ địa hình do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
+ Các chỉ tiêu của lớp dữ liệu thổ nhưỡng: thể hiện ở nhãn (label) trên khoanh đất theo trình tự: Cấp độ dốc- địa hình, loại đất, mẫu chất- đá mẹ, thành phần cơ giới, độ dày tầng đất mịn và các yếu tố phụ như glây, kết von, đá lẫn,
đá lộ đầu
+ Màu sắc khoanh đất lấy theo tên đất, thực hiện theo qui phạm bản đồ thổ nhưỡng
Trang 25- In bản đồ, kiểm tra, chỉnh lý, hoàn thiện bản đồ đất: Sau khi biên tập, bản
đồ gốc đất được in ra giấy để kiểm tra, phát hiện những sai sót Chỉnh lý và hoàn thiện lần cuối In bản đồ đất màu chính thức Đo và tổng hợp diện tích các loại đất
- Tổng hợp, viết báo cáo thuyết minh: Nội dung báo cáo chú giải như quy
định tại quy phạm điều tra lập bản đồ đất của Bộ Nông nghiệp ban hành năm
1984
2.8.1.2 Phương pháp nghiên cứu đánh giá thích nghi đất đai:
(1) Phương pháp đánh giá thích nghi đất đai: Được áp dụng theo ”Quy trình
đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp” (số 10 TCN 343-98), đồng thời có chi tiết và cụ thể hoá cho phù hợp với mục tiêu và đặc điểm tài nguyên đất đai của vùng nghiên cứu
(2) Phương pháp chuyên gia: được sử dụng trong giám định kết quả đánh giá
đất đai và đề xuất bố trí sử dụng đất nông- lâm nghiệp
a/ Kỹ thuật sử dụng
- Kỹ thuật GIS được sử dụng để số hoá, chồng xếp, tích hợp các lớp bản đồ,
số liệu, biên tập tổng hợp kết quả đánh giá đất đai và lưu vào máy tính các lớp thông tin của bản đồ như: địa hình, loại đất, tầng dày và thành phần cơ giới…
- Phần mềm GIS ArcInfo và ArcView được sử dụng để: (i) Thiết lập
khuôn dạng dữ liệu, quản lý và lưu trữ các lớp số liệu không gian (spatial data
layers) của bản đồ gắn với các lớp dữ liệu thuộc tính (attribute data) của từng
contour và được thống nhất trên cùng một hệ tọa độ quốc gia; từ đó, xây dựng
cơ sở dữ liệu (database) về tài nguyên đất đai và sử dụng đất; (ii) Sử dụng trong
phân tích, tổng hợp các lớp thông tin về tài nguyên đất (như chồng xếp các bản
đồ thành phần, đo đạc- tổng hợp diện tích,…), truy xuất thông tin (biên tập, in
ấn bản đồ kết quả,…)
* Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, gồm:
- Các kết quả nghiên cứu về đất và phân bón có liên quan đến đất và sử dụng đất vùng nghiên cứu;
- Kết quả kiểm kê đất đai năm 2007 của vùng nghiên cứu;
- Các tài liệu, số liệu, bản đồ và kết quả nghiên cứu khác có liên quan: Địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thực vật, tình hình sản xuất nông nghiệp
* Điều tra xây dựng bản đồ đất, được thực hiện theo Quy phạm điều tra lập
bản đồ đất tỷ lệ lớn (10 TCN 68-84)
* Phương pháp quan trắc, mô tả phẫu diện đất, lấy mẫu đất phân tích: Thực
hiện theo hướng dẫn của FAO và đã được cụ thể hóa ở điều kiện Việt Nam trong “Sổ tay Điều tra Phân loại, Đánh giá đất” của Hội Khoa học Đất Việt Nam (1999)
* Phương pháp phân tích đất: Mẫu đất được phân tích một số chỉ tiêu sử dụng
các phương pháp phân tích đất chuẩn hóa của Quốc tế (ISO 10381-2: 2002 =
Trang 2610 Ca2+ trao đổi Sổ tay phân tích đất, nước, phân bón - Viện TN-NH
11 Mg2+ trao đổi Sổ tay phân tích đất - nước – phân bón - Viện TN-NH
* Phương pháp phân loại đất: Thực hiện theo phân loại đất Quốc gia Việt
Nam (Bảng phân loại đất Việt Nam, Bộ Nông nghiệp Việt Nam, 1984) đồng thời
có hiệu chỉnh căn cứ vào các thành tựu của thổ nhưỡng học Việt Nam và trên thế giới trong những thập niên gần đây; đặc biệt có vận dụng một số tiêu chuẩn
chẩn đoán đất trong phân loại đất quốc tế của FAO/WRB, 1988-2006
Như vậy, thuật ngữ gọi tên đất sẽ được áp dụng theo tên đất truyền thống của thổ nhưỡng học Việt Nam; bên cạnh đó, nhằm tạo thuận lợi cho việc trao đổi thông tin quốc tế, trong bảng phân loại đất, các đơn vị chú dẫn bản đồ
có đính kèm tên tương đương theo phân loại đất của FAO/WRB, 2006
6 Đánh giá đất đai: Được thực hiện theo Quy trình đánh giá đất đai phục vụ
nông nghiệp (10 TCN 343-98) sử dụng trong đánh giá mức độ thích hợp của đất đai với các loại sử dụng đất được lựa chọn
* Phương pháp chuyên gia được áp dụng trong lựa chọn, triển khai mô hình,
hiệu chỉnh các modul phân tích /dự báo…
2.8.1.3 Thiết bị, dụng cụ và kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu:
Trang 27a Kỹ thuật GPS (Global Position System) được sử dụng trong điều tra khảo sát
xây dựng bản đồ đất và bản đồ hiện trạng sử dụng đất
b Kỹ thuật thông tin GIS (Geographic Information System) được sử dụng để
số hoá, lưu vào máy tính, tích hợp các lớp thông tin, kết nối số liệu với bản đồ, tích hợp, biên tập các bản đồ thành quả, hỗ trợ ALES trong đánh giá đất đai
Sử dụng các phần mềm GIS bao gồm:
+ Microstation 8.0: dùng để số hóa bản đồ
+ Hệ thống phần mềm IRAS (IRAS B, IRAS C), GEOVEC chạy trên nền Microstation: dùng để hiển thị, đăng ký tọa độ, xử lý chất lượng ảnh nền raster
để phục vụ cho việc số hóa bản đồ
+ Mapinfo 7.5: Biên tập, xây dựng cơ sở dữ liệu cho các bản đồ chuyên đề
và chuẩn bị xuất thông tin.ra máy in
+ ARCVIEW 3.2a và ARCGIS 9.2: chồng xếp (overlay) các bản đồ đơn tính, tạo và chỉnh sửa các dữ liệu tích hợp; hiển thị, truy vấn, nội suy và phân tích dữ liệu không gian
c Phần mềm đánh giá đất đai tự động (ALES - Automated Land Evaluation System) có sự hỗ trợ của GIS được sử dụng trong đánh giá mức độ thích hợp
của các loại sử dụng đất
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN 3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC KHẢO SÁT TRUNG TÂM SẢN XUẤT GIỐNG TRẢNG BÀNG – TÂY NINH
3.1.1.Vị trí địa lý vùng nghiên cứu (Hình 1):
Trung tâm sản xuất Giống Trảng Bàng nằm sát ven bờ kênh Đông của Hồ Dầu Tiếng, thuộc địa giới hành chính của xã Đôn Thuận - Huyện Trảng Bàng - Tỉnh Tây Ninh, cách thị trấn Trảng Bàng 11 km về phía Đông Bắc theo đường chim bay, cách sông Sài Gòn 4 km về phía Tây Nam
Tổng diện tích tự nhiên vùng nghiên cứu là 103,10 ha, chạy dài phía Hữu Ngạn kinh Đông với vị trí tọa độ được xác định:
- Từ 11o 08’ 54’’ đến 11o 09’ 39’’ vĩ độ Bắc,
- Từ 106o 21’ 21’’ đến 106o 22’ 10’’ kinh độ Đông
3.1.2 Đặc điểm địa hình:
Đất Trung tâm sản xuất Giống Trảng Bàng nằm trên các bậc thềm phù sa
cổ (ancient – allivium terrace), do đó đặc điểm điạ hình chủ yếu là lượn sóng nhẹ kết hợp với đồi thấp
Trung tâm nằm ở khu vực hữu ngạn kênh đông được hình thành bởi một dải đất rộng 02 km có địa hình lượn sóng chạy dọc kênh Đông và được giới hạn bởi các hệ thống kênh nhánh cấp 1 là: kênh 14 và kênh 18
3.1.3 Đặc điểm về lịch sử:
Trung tâm sản xuất Giống Trảng Bàng được xây dựng trên một vùng chiến khu trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, do đó hầu hết thảm thực vật tự nhiên và ngay cả đất cũng không còn nguyên vẹn vì ảnh hưởng của bom đạn trong chiến tranh Vào thời điểm khảo sát (5/2009) rải rác trong địa giới của Trung tâm vẫn còn một số vết tích của nhiều hố bom mới được san lấp, do đó
đã ảnh hưởng nhiều đến việc chuẩn bị mặt bằng cho sản xuất cũng như thiết kế đồng ruộng
Thời gian gần đây, do tác dụng của hệ thống kênh Đông (Hồ Dầu Tiếng) toàn bộ tình hình thủy văn và nước ngầm trong khu vực đã bị thay đổi, chính điều này đã tác động đến việc điều chỉnh một cách tự nhiên hệ thống canh tác
mà nhân dân đã tiến hành lâu đời ở đây
Trang 29Hình 1:
Trang 303.2 CÁC YẾU TỐ CỦA MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ
TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT:
3.2.1 Chế độ khí hậu và sự biến đổi của đất
Khu vực Trảng Bàng nói chung nằm trọn trong vành đai xích đạo bắc chí tuyến, vì thế, đặc trưng của khí hậu ở đây là có nền nhiệt độ cao và phân phối đều trong năm, có lượng mưa khá lớn và không có những cực đoan đáng kể về khí hậu như mùa đông lạnh, gió nóng, gió bão, sương muối và sương mù
Đất của Trung tâm sản xuất Giống Trảng Bàng chuyển biến nhanh chóng dưới ảnh hưởng của chế độ khí hậu, rõ rệt nhất và quan trọng nhất là chế độ mưa
Theo những tài liệu quan trắc khí tượng thu thập được (Trạm Dầu Tiếng), lượng mưa bình quân hàng năm là 2.124,5mm (năm 2008) phân bố không đều trong năm, mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa chiếm khoảng 2/3 lượng mưa cả năm, trong khi mùa khô tập trung từ tháng 11 đến tháng 5 với lượng chiếm khoảng 1/3 lượng mưa cả năm
Bảng 3.1 Tình hình Khí hậu thời tiết tỉnh Tây Ninh năm 2005
Chỉ tiêu
Tháng
Nhiệt độ ( 0 C)
Ẩm độ (%)
Lượng mưa (mm)
Bốc hơi (mm)
Số giờ nắng/ ngày (giờ)
trình khoáng hóa các chất hữu cơ (đặc biệt ở các khu vực có địa hình cao)
Trang 31Bảng 3.2 Tình hình Khí hậu thời tiết tỉnh Tây Ninh năm 2008
Chỉ tiêu
Tháng
Nhiệt độ ( 0 C)
mưa kéo dài, tính trung bình năm, lượng mưa và số ngày mưa đều khá cao, lên
đến 2.101 mm và 141 ngày có mưa Tuy nhiên, cũng như đặc điểm chung của các tỉnh phía nam, sự phân bố lượng mưa trong năm không đều, có đến gần 91% lượng mưa năm được rơi vào mùa mưa (đầu tháng 5 đến trung tuần tháng 11) Mưa nhiều làm cho một số khu vực đất thấp trong vùng bị ngập úng; ngoài
ra, ở các khu vực có địa hình cao, quá trình rửa trôi các cation kiềm và một số yếu tố dinh dưỡng xảy ra mạnh mẽ, dẫn đến chua hoá và giảm thấp dinh dưỡng trong đất Chất hữu cơ ít được tích lũy, do thảm thực vật bị phá hủy, đã bị khoáng hóa nhanh chóng trong mùa khô và rửa trôi ngay trong những cơn mưa tập trung, đất trở nên chua và nghèo kiệt độ phì
3.2.2/ Địa chất khu vực
Theo các tài liệu đã có, gồm: Báo cáo chú giải bản đồ địa chất Việt Nam
tỉ lệ 1/ 500.000; Địa chất và khoáng sản tờ Tp Hồ Chí Minh (C48-XI), lịch sử
kiến tạo, cấu trúc địa chất và thành phần mẫu chất tạo đất khu vực Trảng Bàng như sau:
Về lịch sử kiến tạo: Phạm vi huyện Trảng Bàng nói chung nằm trên khối
nâng móng kết tinh Sài Gòn thuộc miền vỏ lục địa tiền Cambri Nam Việt Nam Khối nâng này với lớp phủ mỏng trầm tích Trias-Jura hạ Từ Jura thượng đến Creta các trầm tích vụn lục địa của hệ tầng Dầu Tiếng đã hình thành trên một
phần thềm lục địa này
Trang 32Đến Pliocene-Pleistocene, các lớp phủ trầm tích bở rời hoặc gắn kết yếu của các hệ tầng Củ Chi và Mộc Hoá phát triển mạnh mẽ đã lấp đầy các vùng thung lũng, tạo thành những vùng rộng lớn với bề mặt bậc thềm nghiêng nhẹ
Về sau, các quá trình phong hoá, xâm thực và bào mòn chiếm vai trò chủ đạo trong hoạt động ngoại sinh ở những vùng đồi và bề mặt san phẳng
Về cấu trúc địa chất và thành phần mẫu chất tạo đất: Trong quá trình
kiến tạo trên, tham gia vào cấu trúc địa chất vùng nghiên cứu chủ yếu là trầm tích sông, tuổi Pleistocene thượng của hệ tầng Củ Chi (aQIII3 cc) Thành phần trầm tích chủ yếu là bột kết cát, bột, ít sét kaolin gắn kết yếu, có thể có cuội-sỏi hoặc kết von laterit mức độ khác nhau Dựa vào những phân biệt về thành phần mẫu chất giữa các loạt trầm tích, kết hợp với những phân biệt về đặc điểm lý hoá đất, hình thái phẫu diện, màu sắc chủ đạo, cũng như diện mạo bề mặt, các đất trên phù sa cổ được xếp vào đất nâu vàng hoặc các đất xám trên phù sa cổ
3.2.3/ Địa hình- địa mạo
Địa mạo vùng nghiên cứu thuộc dạng bậc thềm phù sa cổ thấp, có độ cao thay đổi từ 13,6 đến 15,1 m so với mực nước biển Nhìn chung bề mặt địa hình khá bằng phẳng và có xu hướng nghiêng nhẹ từ Đông Bắc xuống Tây Nam và
từ Đông sang Tây, với độ nghiêng chừng một- hai độ và ít nhấp nhô
Xét về khả năng bố trí sử dụng đất, căn cứ vào hình thể bề mặt đất kết hợp với độ sâu và chế độ ngập nội đồng, có thể phân chia ra 3 cấp địa hình tương đối quy mô diện tích của từng cấp như sau (bảng 3)
Bảng 3.3: Diện tích vùng nghiên cứu chia theo dạng địa hình
Với những đặc trưng như trên kết hợp với nền móng phù sa cổ ổn định vững chắc, địa hình khu vực không những thuận lợi cho bố trí cây trồng và thực hiện các biện pháp canh tác trong sản xuất nông nghiệp mà còn thuận lợi cho xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng và nhà ở
3.2.4/ Nguồn nước
(1) Nước mặt: Bên cạnh lượng mưa khá lớn (2.100 mm/năm), vùng nghiên
cứu còn nằm ngay bên kênh Đông, một trong hai hệ thống kênh chính dẫn nước
từ hồ Dầu Tiếng- một hồ chứa nước thủy lợi lớn nhất phía Nam- với dung tích
Trang 33trên 1,5 tỷ m3 nước tưới cho sản xuất nông nghiệp Vì vậy nguồn nước mặt trong khu vực là khá dồi dào và rất thuận lợi cho sử dụng trong nông nghiệp
(2) Nước ngầm: Huyện Trảng Bàng nói chung có nguồn nước ngầm rất
phong phú, phân bố rộng khắp, chiều dày tầng chứa nước ổn định, chất lượng nước tốt Đặc biệt sau khi có hồ Dầu Tiếng, mực nước ngầm đã được nâng lên
rõ rệt Lưu lượng nước ngầm tại các giếng đào khoảng 50 m3/h Những quan sát các giếng đào trong khu vực Trảng Bàng cho thấy, mực nước phổ biến 2-5 m Ngay trong mùa khô, nước ngầm vẫn có khả năng khai thác tốt cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân
3.2.5/ Thảm thực vật che phủ
Thảm thực vật tự nhiên: Trong phạm vi vùng nghiên cứu, thảm thực vật
tự nhiên chủ yếu là các loài thân thảo tồn tại trong một số khu vực đất bỏ hoang
và mọc xen trong các khu vực đất sản xuất nông nghiệp Mặc dù đã bị những tác động rất mạnh mẽ của con người, song trên những vùng đất khác nhau, ưu thế về thành phần chủng loại của các loài thảo mộc thiên nhiên vẫn còn có những phân biệt khá rõ
Trên các khu vực đất nâu vàng hoặc đất xám có địa hình cao, mặt đất khô, nghèo mùn và chua, phần nhiều là đất trồng sắn hoặc dừa, các loại cỏ xen trong cây trồng nông nghiệp thường gặp gồm: cỏ tranh (imperata cylindrica), trinh nữ (mimosa pudica), sim (rhodomyrtus tomentosa), mua (melastoma candidum), cỏ mỹ (pennisetum polystachyon), cỏ chỉ (digitaria adscendens),
Trên các khu vực đất nâu vàng hoặc đất xám có địa hình trung bình hoặc trung bình cao, mặt đất hơi ẩm và có mùn khá hơn, phần nhiều là đất trồng dừa,
cọ dầu, dầu mè hoặc sắn, các loại cỏ xen trong cây trồng nông nghiệp thường gặp gồm: cỏ hôi (actaea spicata), cỏ mỹ (pennisetum polystachyon), cỏ lá tre (paspalum conjugatum), cỏ chỉ (digitaria adscendens), cỏ mật (chloris barbata),
cỏ gà (echinochloa), cây cối xay (abutilon indicum),
Trên các khu vực đất xám có địa hình trung bình thấp hoặc thấp, mặt đất hơi ẩm, có mùn khá hơn song chua, phần nhiều là đất bỏ hoang hoặc trồng dừa
và cọ dầu, các loại cỏ thường gặp gồm: cỏ chát (fimbristylis miliacea), cỏ ống (agrostis stolonifera), cỏ cháo (cyperus difformic), cỏ lồng vực (echinochloa crus-galli), rau mác (monochoria hastaefolia), rau nghễ nước (polygonum amphibium), rau bợ (marsilea quadrifolia),
Thảm thực vật trồng: Trong tổng diện tích tự nhiên 103,10 ha, diện tích
đất có thảm cây trồng nông nghiệp là 85,81 ha, chiếm 83,23% DTTN Trong đó, cây trồng phổ biến là dừa (trồng thuần hoặc có xen sắn, dứa hoặc cây sanh): 49,44 ha (chiếm đến 57,62% DT đất nông nghiệp); kế đến là sắn: 26,21 ha (30,54% DT đất NN); cọ dầu: 4,48 ha (5,22% DT đất NN); diện tích còn lại 5,68 ha (6,62% DT đất NN) gồm: cây vừng (1,79 ha), ngô (1,76 ha), lạc (1,04 ha) và cây cảnh (1,09 ha)
Trang 343.2.6/ Tác động của con người
Hoạt động sản xuất của con người tác động đến phát sinh phát triển đất vùng đồi núi cần được nhìn nhận trong 02 khía cạnh: (i) Mức độ phù hợp của các loại thảm phủ so với điều kiện đất đai và (ii) Các biện pháp bảo vệ cải tạo đất được áp dụng
Đối với thảm thực vật che phủ, như đã được trình bày trong phần 4.2.5,
có đến 83% DTTN của vùng nghiên cứu là đất có thảm cây trồng nông nghiệp; trong đó, khoảng 53% DTTN là cây lâu năm và khoảng 30% DTTN là cây hàng năm Trong diện tích cây lâu năm phần lớn là dừa trồng thưa và cây hàng năm hầu hết là cây sắn; nhìn chung, chúng có mức độ che phủ thấp Trong điều kiện nhiệt đới mưa mùa, mức độ che phủ thấp sẽ tạo thuận lợi cho quá trình khoáng hóa vào mùa khô và rửa trôi xói mòn vào mùa mưa ảnh hưởng đến duy trì hữu
cơ và các chất dinh dưỡng trong đất Thực tế, ở lớp đất mặt của phần lớn diện tích đất trong vùng nghiên cứu đã có biểu hiện giảm thấp lượng hữu cơ và chai cứng về cơ lý Vì vậy cần chú ý bón thêm phân hữu cơ cho đất và giữ ẩm cho đất vào mùa khô
Về các biện pháp bảo vệ cải tạo đất: Hiện tại vẫn chưa có những biện pháp bảo vệ cải tạo đất cụ thể cũng như quy trình bón phân thích hợp cho các loại cây trồng trong vùng Vì vậy trong thời gian tới cần chú ý đến các biện pháp bảo vệ và cải tạo đất như đảm bảo độ che phủ mặt đất, giữ ẩm đất vào mùa khô, tăng cường bón phân hữu cơ và các loại phân hóa học tổng hợp nhằm tăng năng suất cây trồng, đồng thời bảo vệ cải tạo đất cho sử dụng bền vững
3.2.7/ Đánh giá chung về các điều kiện hình thành đất
Những đặc trưng tự nhiên có liên quan đến đất và sử dụng đất vùng nghiên cứu được đánh giá như sau:
1 Toàn bộ mẫu chất tạo đất trong vùng là phù sa cổ của hệ tầng Củ Chi, với thành phần mẫu chất chủ yếu là cát- thịt và ít sét, vì vậy chúng tạo ra các đất có thành phần cơ giới nhẹ
2 Điều kiện địa hình khá bằng phẳng, thuộc dạng bậc thềm phù sa cổ thấp Đây
là một trong những điều kiện tạo thuận lợi cho bố trí sản xuất nông nghiệp và thực hiện các biện pháp canh tác, cũng như cho tiến hành các biện pháp bảo vệ cải tạo và bồi dưỡng đất
3 Nằm trong khu vực khí hậu gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt độ cao và hai mùa, mưa - khô xen kẽ trong năm; thuận lợi cho việc tạo ra sinh khối lớn của thực vật đồng thời cho các quá trình chu chuyển vật chất xảy ra trong đất Tuy nhiên, cũng có những mặt hạn chế cho quản trị và sử dụng đất như tăng quá trình khoáng hoá chất hữu cơ vào mùa khô và tăng quá trình rửa trôi xói mòn đất vào mùa mưa
4 Thảm thực vật che phủ đất trên phần lớn diện tích của vùng nghiên cứu là thảm cây trồng nông nghiệp, với mức độ che phủ thấp Trong điều kiện địa hình cao thoát nước ở vùng nhiệt đới ẩm mưa mùa, mức độ che phủ thấp thường tạo
Trang 35thuận lợi cho bề mặt đất tiếp xúc trực tiếp với những tác động cực đoan của khí hậu như nắng nóng và mưa lớn sẽ làm tăng quá trình xói mòn rửa trôi đất vào mùa mưa và giảm thiểu độ ẩm trong đất vào mùa khô; từ đó làm cho các lớp đất mặt mất dần lượng hữu cơ, giảm dần cấp hạt mịn và tăng dần các cấp hạt thô và sỏi sạn, thay đổi về cấu trúc vật lý và trở nên chai cứng
5 Ngoài ra, nguồn nước tưới từ hồ Dầu Tiếng đã có những tác động rất lớn đến phát sinh, tính chất và sử dụng đất như: làm thay đổi chế độ nước mặt, nâng cao mực nước ngầm, điều tiết chế độ nhiệt ẩm và thúc đẩy một số quá trình chuyển hoá vật chất trong đất cho khu vực lân cận và vùng hạ lưu Kết quả là làm phân hoá một khu vực rộng lớn đất xám điển hình, một số trong chúng tạo thành đất xám có tầng loang lổ và ít hơn là đất xám glây
6 Trong những điều kiện như trên, các quá trình thổ nhưỡng thứ cấp xảy ra mạnh mẽ trong đất; đáng kể là quá trình rửa trôi sét và các cation kiềm, quá trình phá hủy khoáng sét kèm theo rửa trôi và tích tụ sắt-nhôm và quá trình khoáng hoá các hợp hữu cơ làm giảm thấp lượng mùn trong đất Tác động của những yếu tố phát sinh và quá trình thổ nhưỡng nói trên đã phân chia đất vùng nghiên cứu ra các đơn vị phân loại khác nhau Kết quả sẽ được trình bày trong phần 4.3 tiếp sau
3.3 ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN ĐẤT
3.3.1/ PHÂN LOẠI ĐẤT
3.3.1.1/ Phương pháp phân loại đất
Trong tài liệu này, phân loại đất được xác định theo truyền thống phân
loại đất Quốc gia Việt Nam (Bộ Nông nghiệp Việt Nam, 1984) đồng thời có hiệu
chỉnh căn cứ vào các thành tựu của thổ nhưỡng học Việt Nam và trên thế giới trong những thập niên gần đây; đặc biệt có vận dụng một số tiêu chuẩn chẩn
đoán đất trong phân loại đất quốc tế của FAO/WRB, 1988-2006 Theo những tài
liệu trên, việc phân loại đất được dựa trên quan điểm phát sinh, đồng thời mức
độ hiện diện của các tầng phát sinh đã được xem xét dưới những tiêu chuẩn chuẩn đoán định lượng thông qua các kết quả phân tích lý-hóa học đất Như vậy, tên đất được kết luận dựa trên cơ sở xem xét tổng hợp cả 3 nhóm chỉ tiêu:
1 Đặc điểm của các yếu tố và các quá trình hình thành đất,
2 Hình thái phẫu diện đất, và
3 Kết quả phân tích lý hóa-học đất
3.3.1.2/ Tên đất và thứ tự sắp xếp trong chú dẫn bản đồ
Tên đất được phân chia ở 2 cấp phân vị: Nhóm đất (soil groups) và đơn
vị chú dẫn bản đồ đất (soil mapping units) Trong đó, đơn vị chú dẫn bản đồ đất tương đương với loại (soil class) hoặc loại phụ (soil sub-class)
Trong bảng phân loại đất và chú dẫn bản đồ, các đơn vị chú dẫn bản đồ được xếp ngay dưới nhóm đất và được đánh số liên tục theo thứ tự xuất hiện trong bảng phân loại Thuật ngữ gọi tên đất được áp dụng theo tên đất truyền
Trang 36đổi thông tin quốc tế, các đơn vị chú dẫn bản đồ có đính kèm tên tương đương
theo phân loại đất của WRB, 2006
3.3.1.3/ Các yếu tố phụ kèm theo tên đất trên bản đồ
Để nắm rõ hơn về quỹ đất, bên cạnh tên đất, một số yếu tố có liên quan
đến việc sử dụng và quản trị đất như địa hình, độ dày tầng đất, thành phần cơ
giới cũng được phân chia Tiêu chuẩn phân chia và ký hiệu của một số yếu tố
phụ như sau:
Yếu tố
phân cấp
Tiêu chuẩn phân chia
Ký hiệu
Yếu tố phân cấp
Tiêu chuẩn phân chia
Ký hiệu
Ngoài 3 yếu tố nêu trên, độ sâu và mức độ xuất hiện kết von và glây cũng
được phân chia theo quy định và được định ranh phân bố không gian trên bản
đồ đất
3.3.1.4/ Bảng phân loại đất
Theo phương pháp phân loại nói trên, đất vùng nghiên cứu được chia ra 4
đơn vị chú dẫn bản đồ, thuộc 2 nhóm đất Tên đất theo phân loại đất Việt Nam,
tên tương đương theo phân loại của WRB và quy mô diện tích của các đơn vị
chú dẫn bản đồ được trình bày ở bảng 3.4, phân bố không gian của đất được
trình bày trong hình 2, diện tích đất chia theo cấp địa hình và thành phần cơ giới
được trình bày trong phụ lục 2
Trang 37Hình 2: BẢN ĐỒ ĐẤT KHU TRUNG TÂM SẢN XUẤT GIỐNG TRẢNG BÀNG - TÂY NINH
Trang 38Bảng 3.4: Phân loại và quy mô diện tích các loại đất
Tên đất Diện tích
Ký hiệu ha %
- Đất xây dựng (văn phòng, kho,
- Đường giao thông Ekranic Technosols/Linic Technosols 2,96 2,87
Tổng cộng 103,10 100,00
(*) WRB = World Reference Base for Soil Resources, ISSS/FAO/ISRIC, 2006
= Cơ sở tham chiếu tài nguyên đất Thế Giới, ISSS/FAO/ISRIC, 2006
3.3.2/ ĐẶC ĐIỂM CÁC LOẠI ĐẤT
3.3.2.1/ Đất xám vàng trên phù sa cổ (Xv)
(1) Diện tích và phân bố: Đất xám vàng trên phù sa cổ có diện tích là 63,05 ha;
chiếm 61,15% diện tích tự nhiên (DTTN); phân bố tập trung ở phía Đông, Đông
Bắc vùng nghiên cứu, trên 02 dạng địa hình vàn cao (35,29 ha) và vàn trung bình
(27,76 ha)
(2) Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái: Các đất trong nhóm đất
xám bạc màu, được hình thành trên phù sa cổ, phân bố trên địa hình cao thoát
nước, có màu xám vàng chủ đạo, không có tầng glây và/hoặc tầng loang lổ xuất
hiện trong vòng 80 cm được xếp vào đất xám vàng trên phù sa cổ
Về hình thái, đất xám vàng trên phù sa cổ có tầng đất hữu hiệu dày
(>100cm), có hình thái đặc trưng kiểu A-AB-Bt1-Bt2 hoặc A-AB-Bt-Btg Trong đó
tầng tích sét (Bt) có màu xám vàng đặc trưng, được xem như tầng chẩn đoán chính
cho loại đất này, nó thường xuất hiện trong khoảng độ sâu ≥30 cm Ngoài ra, dưới
hoặc phần dưới của tầng Bt trong vòng 80-125 cm có thể có glây nhẹ (tầng Btg)
Theo phân loại đất của WRB (2006), đất Xv tương đương với đơn vị đất Haplic
Acrisols (Chromic) hoặc ít hơn là Haplic Acrisols (Chromic, Gleyic)
Trang 39(3) Tính chất lý hoá học: Kết quả nghiên cứu 5 phẫu diện điển hình của đất xám
vàng trên phù sa cổ (Phụ lục 3 và 4), cho thấy: Đất xám vàng có thành phần cơ giới nhẹ, cấu trúc cục nhỏ dễ bở rời mức độ cấu trúc kém, dung tích hấp thu thấp, chua
và thường có hàm lượng dinh dưỡng thấp:
- Tỷ lệ cấp hạt cát ở tầng đất mặt trong các phẫu diện lên đến 66,7 - 70,2%, trong khi đó cấp hạt sét chỉ khoảng 4,2 - 9,1%, song ở các tầng sâu hơn 30 hoặc hơn
40 cm, tỷ lệ cấp hạt sét tăng lên rất rõ, chiếm đến 10,4 - 15,6%
- Dung tích hấp thu (CEC) rất thấp, ở tầng đất mặt chỉ đạt 2,33 - 2,68 me/100gđ
- Đất chua, độ chua hoạt tính (pHH2O) và độ chua trao đổi (pHKCl), theo thứ tự chỉ đạt 4,57 - 4,90 và 3,98 - 4,18 đơn vị pH; bảo hòa bazơ rất thấp, chỉ đạt 20,1 - 29,3%, thậm chí xuống 10,7 - 12,1%
- Mùn rất thấp chỉ khoảng 1,12 - 1,75% OM, có khi chỉ đạt 0,9 - 1,0% OM
- Các chất dinh dưỡng đa lượng (N-P-K) cả tổng số và dễ tiêu đều nghèo đến rất nghèo; ở tầng đất mặt, đạm tổng số chỉ đạt 0,081 - 0,098% có nơi chỉ đạt 0,059
- 0,060%; lân tổng số: 0,008 - 0,014%; kali tổng số: 0,007 - 0,015%; đạm dễ tiêu: 1,26 - 1,82 mg/100gđ; lân dễ tiêu: 2,39 - 2,56 mg/100gđ, có nơi chỉ đạt 0,38 - 0,95 mg/100gđ và kali dễ tiêu là 1,42 - 2,84 mg/100gđ
- Dinh dưỡng trung lượng trong đất cũng rất thấp, can xi và magiê dưới dạng cation trao đổi, theo thứ tự chỉ đạt 0,15 – 0,55 me/100 gđ và 0,12 – 0,23 me/100 gđ; lưu hùynh dưới dạng SO42- hòa tan là 1,22 – 2,23 mg/100 gđ
- Các nguyên tố vi lượng trong đất rất nghèo nàn, tính theo nồng độ phần triệu (ppm) chỉ đạt: Bo: 0,42 - 0,64; mangan (Mn): 6,13 - 8,84; kẽm (Zn): 5,49 - 6,51
và molipden (Mo): 0,06 - 0,81
- Tuy nhiên, sắt và nhôm là những chất có thể gây độc cho cây trồng: sắt hòa tan
ở mức thấp (Fe2+) chỉ khoảng 2,23 – 2,85 mg/100 gđ và nhôm di động ở mức cao (Al3+) là 5,95 – 8,60 mg/100 gđ
(4) Khả năng sử dụng: Mặc dù có nhiều nhược điểm về dinh dưỡng trong đất,
song đất xám vàng có thành phần cơ giới nhẹ, dễ cải tạo, lại được phân bố ở địa hình khá bằng phẳng; vì vậy, có thể thích hợp với nhiều loại cây trồng cạn nhiệt đới
Hiện nay hầu hết diện tích đất xám vàng ở vùng nghiên cứu đang được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp Các loại cây trồng phổ biến là dừa, cọ dầu, sắn, lạc, vừng, ngô; chúng sinh trưởng phát triển ở mức trung bình thấp Do đó, cần phải tăng cường đầu tư phân bón, đặc biệt là phân hữu cơ và các phân trung - vi lượng, đồng thời tăng cường các biện pháp bảo vệ, cải tạo đất để tăng năng suất cây trồng trên loại đất này
Trang 403.3.2.2/ Đất xám có tầng đốm rỉ trên phù sa cổ (Xf)
(1) Diện tích và phân bố: Đất xám có tầng đốm rỉ trên phù sa cổ có diện tích là
15,29 ha, chiếm 14,83% DTTN; phân bố tập trung ở phần phía Nam, Tây nam vùng nghiên cứu, trên dạng địa hình vàn thấp
(2) Đặc điểm phát sinh, phân loại và đặc điểm hình thái: Phân bố ở địa hình bằng
và tương đối thấp, nơi có mực nước mạch ngầm lên xuống nông và có thể có điều kiện bão hòa nước mặt một số giai đoạn trong năm Quá trình rửa trôi bề mặt và tích tụ sét, sắt, nhôm xảy ra đồng thời với quá trình ôxy hoá-khử xen kẽ ở các tầng đất trong vòng 30-100 cm, tạo cho các lớp đất này có các đốm rỉ loang lổ đỏ vàng
và có glây yếu, vì vậy, được xếp vào loai đất xám có tầng đốm rỉ (Xf) Về hình thái, toàn bộ đất xám có tầng đốm rỉ là đất có tầng dày (> 100 cm) và có các kiểu hình thái đặc trưng là A-AB-Bt-Btg hoặc A-AB-Btg1-Btg2 Theo phân loại đất của WRB (2006), đất Xf tương đương với đơn vị đất Haplic Acrisols (ferric, gleyic)
(3) Tính chất lý hoá học: Kết quả nghiên cứu 3 phẫu diện điển hình của đất xám
có tầng đốm rỉ trên phù sa cổ (Phụ lục 3 và 4) cho thấy: Đất xám có tầng đốm rỉ có thành phần cơ giới nhẹ, cấu trúc cục nhỏ dễ bở rời mức độ cấu trúc kém, dung tích hấp thu thấp, chua đến chua vừa và có hàm lượng dinh dưỡng tương đối thấp:
- Tỷ lệ cấp hạt sét ở các tầng đất mặt chỉ đạt 4,8 - 5,9%, trong khi đó cấp hạt cát lên đến 66,7 - 70,1% Hiện tượng gia tăng sét theo chiều sâu được thể hiện khá
rõ, ở các tầng sâu hơn 60 cm, tỷ lệ cấp hạt sét chiếm đến 12,4 - 15,5%
- Dung tích hấp thu rất thấp, ở tầng đất mặt chỉ đạt 2,07 - 2,58 me/100gđ
- Đất chua đến chua vừa, độ chua hoạt tính (pHH2O) và độ chua trao đổi (pHKCl), theo thứ tự đạt 4,58 - 5,12 và 4,03 - 4,27 đơn vị pH; bảo hòa bazơ thấp đến rất thấp, thay đổi từ 26,2 - 47,3%, thậm chí xuống 11,0 - 12,0%
- Mùn rất thấp chỉ khoảng 1,39 - 1,42% OM, có khi chỉ đạt 0,7 - 0,8% OM
- Các chất dinh dưỡng đa lượng (N-P-K) cả tổng số và dễ tiêu đều nghèo đến rất nghèo; ở tầng đất mặt, đạm tổng số chỉ đạt 0,055 - 0,096%; lân tổng số: 0,010 - 0,013%; kali tổng số: 0,006 - 0,008%; đạm dễ tiêu: 1,336 - 1,96 mg/100gđ; lân
dễ tiêu: 1,42 - 3,26 mg/100gđ và kali dễ tiêu là 1,42 - 3,54 mg/100gđ
- Dinh dưỡng trung lượng trong đất cũng rất thấp, can xi và magiê dưới dạng cation trao đổi, theo thứ tự chỉ đạt 0,17 – 0,77 me/100 gđ và 0,07 – 0,45 me/100 gđ; lưu hùynh dưới dạng SO42- hòa tan là 0,93 – 1,29 mg/100 gđ
- Các nguyên tố vi lượng trong đất rất nghèo nàn, tính theo nồng độ phần triệu (ppm) chỉ đạt: Bo: 0,61 - 0,84; mangan (Mn): 4,74 - 6,76; kẽm (Zn): 4,49 - 7,50
và molipden (Mo): 0,08 - 0,11