Giai đoạn gà dò 7 - 20 tuần tuổi Tiếp tục đánh giá chỉ tiêu về tỷ lệ nuôi sống và khối lượng cơ thể giai đoạn gà do 7 - 20 tuần tuổi của đàn gà TĐ ông bà sau khi điều chỉnh lại mức năng
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN CHĂN NUÔI
DỰ ÁN ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ DỰ ÁN HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KỸ THUẬT NUÔI DƯỠNG
ĐỂ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GÀ SASSO
Trang 2TĐ1, TĐ2, TĐ3 và TĐ4 Sau khi chọn tạo cả 4 dòng gà TĐ1, TĐ2, TĐ3 và TĐ4đều giữ được các đặc điểm ngoại hình đặc trưng của từng dòng, các chỉ tiêu năng suất, chất lượng đàn giống đạt xấp xỉ các chỉ tiêu khuyến cáo của hãng Các đàn gà giống bố mẹ TĐ12, TĐ34 và con thương phẩm đưa ra sản xuất phát triển tốt Trong thực tế, để phát huy hết tiềm năng của các dòng các giống đều phải có quy trình chăm sóc nuôi dưỡng riêng Đối với 4 dòng gà vừa mới chọn tạo, thời gian qua vẫn sử dụng quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng theo khuyến cáo của hãng Sasso Từ kết quả theo dõi các đàn gà ông bà, bố mẹ cũng như gà thương phẩm TĐ được nuôi theo quy trình cũ không phù hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm của việt Nam Cụ thể là khẩu phần thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ bảo quản trứng, quy trình phòng chữa bệnh…Xuất phát từ thực tế đó Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi
đề xuất triển khai dự án “Hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng để phát triển chăn nuôi gà Sasso”
2 Mục tiêu của dự án
Hoàn thiện được các quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng giống gà Sasso phù hợp với điều kiện Việt nam
Trang 33 Cơ sở lý luận để hoàn thiện quy trình
Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến toàn bộ các giai đoạn sinh trưởng phát dục và năng suất của gia súc, gia cầm Khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng theo giai đoạn sẽ thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục, ngược lại nếu thiếu thì quá trình sinh trưởng phát dục sẽ chậm lại Thành phần dinh dưỡng quan trọng trong trong thức ăn không thể không đề cập đến đó là năng lượng và protein Ngoài ra môi trường sống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng lớn tới khả năng sinh trưởng sinh sản của gia súc gia cầm Do đó để hoàn thiện được quy trình chăm sóc nuôi dường phù hợp cần phải quan tâm tới các yếu tố sau:
3.1 Nhu cầu năng lượng và protein của gà thịt Broiler
Theo Lasley (1973) khả năng di truyền tốt nhất cũng không đưa đến một đàn gà tốt nhất, nếu không có ngoại cảnh thích hợp để các cá thể đạt tới giới hạn mà di truyền đã có Trong các yếu tố ngoại cảnh, thức ăn là yếu tố quan trọng nhất Nếu mức dinh dưỡng cao con vật sẽ tăng khối lượng nhanh
và đạt được khối lượng tối đa trong thời gian ngắn, nếu mức dinh dưỡng thấp con vật tăng khối lượng chậm và thời gian kéo dài
Nghiên cứu của Lê Hồng Mận (1996) về nhu cầu Protein trong thức ăn hỗn hợp của gà Broiler đã kết luận trong giai đoạn khởi động 0 - 4 tuần tuổi nên cho gà trống ăn loại thức ăn hỗn hợp có tỷ lệ protein 24%, gà mái ăn thức
ăn hỗn hợp có tỷ lệ protein 22% Từ 5 tuần tuổi trở lên cho gà trống ăn thức
ăn hỗn hợp có tỷ lệ protein 22%, gà mái 20%
Theo Bùi Đức Lũng (1995) yêu cầu năng lượng của gà Broiler từ 3.000
- 3.300 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp
Nghiên cứu của Trần Công Xuân (1999) về mức protein và năng lượng thích hợp cho gà Ross 208 và V35 kết luận từ 0 - 10 ngày tuổi nên sử dụng thức ăn có tỷ lệ protein là 24%, năng lượng trao đổi 3.100 Kcal/kg thức ăn
Trang 4Từ 11 - 28 ngày nên sử dụng khẩu phần có mức protein là 22%, năng lượng trao đổi 3.200 Kcal/kg
Theo tài liệu của Hãng Sasso (Pháp) thì nhu cầu năng lượng của gà Sasso nuôi thịt từ 1 - 5 tuần tuổi 3.050 - 3.100 Kcal/kg thức ăn và mức protein thô 22 - 24%; giai đoạn từ 6 tuần tuổi đến khi xuất bán mức mức năng lượng
là 3.100 - 3.150 Kcal/kg thức ăn và protein là 20 - 22%
Theo Đoàn Xuân Trúc (2006) gà Sasso thương phẩm giai đoạn 1 - 3 tuần tuổi có nhu cầu năng lượng là 2.900 - 3.000 Kcal/kg thức ăn và 22 - 23% protein thô, giai đoạn 4 - 6 tuần tuổi mức năng lương yêu cầu là 3.050 - 3.100 Kcal/kg thức ăn và 19 - 20% protein thô, và giai đoạn từ 7 tuần tuổi đến xuất chuồng mức năng lượng yêu cầu là 3.100 - 3.150 Kcal/kg thức ăn và protein thô là 17 - 18%
3.2 Nhu cầu năng lượng và protein của gà sinh sản
Nhu cầu protein cho gà mái đẻ có thể hiểu là số lượng protein cần phải
có trong khẩu phần khi gà ăn vào để đảm bảo các nhu cầu sinh lý cần thiết như tái tạo các protein bị phân giải thường xuyên, tổng hợp các chất xúc tác sinh học cho toàn bộ hoạt động sống và tổng hợp protein cho trứng Theo Popov và cộng sự (1980) thì nhu cầu chia làm 2 loại là nhu cầu thuần hay nhu cầu thực sự đáp ứng đủ cho duy trì và cho sản xuất trứng; và nhu cầu thức ăn
là lượng protein cần được sử dung cùng khẩu phần để đảm bảo thỏa mãn nhu cầu thực sự của cơ thể
Lượng Protein cần thiết tiêu thụ cho một gà/ngày phụ thuộc vào các yếu tố: khối lượng cơ thể, tỷ lệ đẻ, mức độ tăng khối lượng cơ thể (Summer
JD, 1984; Bùi Đức Lũng, 1990), không những thế còn phụ thuộc vào mức năng lượng trong khẩu phần Để thỏa mãn số lượng protein thô cần thiết cho
gà mái đẻ ở mố số nước và hãng khác nhau đã nghiên cứu đưa ra các mức tiêu chuẩn không giống nhau Sau đây là trích dẫn một số các số liệu đó: tỷ lệ
Trang 5protein thô (%) trong thức ăn hỗn hợp Quy định về tỷ lệ protein trong thức ăn
gà đẻ:
- TCVN 2265 (1989) 16 - 17%
- Liên hiệp XN gia cầm Việt Nam (1988) 17 - 19%
- Euribrid (1985) 16 - 17%
Đoàn Xuân Trúc (2006) cho biết nhu cầu dinh dưỡng của gà Sasso bố
mẹ giai đoạn 0 - 3 tuần tuổi là 2.800 Kcal ME/kg thức ăn, protein thô 18%; giai đoạn 4 - 20 và 21 - 38 tuần tuổi mức năng lượng là 2.700 Kcal ME/kg thức ăn, protein thô là 16%; giai đoạn 39 - 64 tuần tuổi mức năng lượng yêu cầu là 2.700 Kcal ME/kg thức ăn và 15,5% protein thô
3.3 Ảnh hưởng của môi trường đến kết quả ấp nở
Ấp trứng nhân tạo là cách thức tạo môi trường ấp trứng tương tự như gà mái mẹ tạo ra khi ấp trứng Ấp trứng nhân tạo có một ý nghĩa rất quan trọng
vì điều này giúp cho việc ấp trứng trở lên dễ dàng hơn Điều này không chỉ có
ý nghĩa đối với việc chăn nuôi các giống gà hướng trứng cao sản vì trong quá trình chọn tạo nâng cao khả năng sinh sản đã loại bỏ hoàn toàn bản năng ấp tự nhiên của đàn gà, bên cạnh đó việc ấp trứng nhân tạo còn có khả năng ấp cùng một lúc hàng vạn đến hàng chục vạn trứng một lúc, điều này đặc biệt có
ý nghĩa đối với các trại chăn nuôi lớn khi hàng ngày sản xuất ra hàng chục nghìn trứng
Ấp trứng nhân tạo đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố, như: độ ẩm, nhiệt độ và đặc biệt là chế độ bảo quản Đối với việc bảo quản trứng, điều kiện lý tưởng là có phòng lạnh với nhiệt độ 15 - 180C và ẩm độ 75
- 80% Tuy nhiên, trong thực tế chỉ có các trại sản xuất lớn hoặc các cơ sở giữ giống mới có phòng lạnh để bảo quản trứng còn đối với các nông hộ sản xuất với quy mô ít hơn việc đầu tư có một phòng lạnh để bảo quản trứng là điều khó khăn vì chi phí đầu tư cũng như duy trì hoạt động là khá lớn Thông
Trang 6để ở những nơi mát mẻ trong gia đình Điều này thường làm giảm khả năng
ấp nở của trứng đặc biệt là vào những ngày hè khi nhiệt độ lên khá cao đã khiến cho hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi không cao Bên cạnh đó thời gian bảo quản cũng là điều kiện ảnh hướng đến khả năng ấp nở của trứng Đối với trứng gia cầm được bảo quản trong điều kiện phòng lạnh theo khuyến cáo cũng không nên quá 7 ngày vì từ 7 ngày trở đi khả năng phát triển của phôi giảm đi rất nhanh theo thời gian bảo quản Độ haugh (Hu) của trứng sẽ giảm
đi theo thời gian bảo quản trứng, mức độ giảm của đơn vị Hu tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường Các thí nghiệm của Coutts và Wilson (1986) cho thấy, trứng trước khi bảo quản Hu là 90 đơn vị, ở -1oC, sau 5 ngày bảo quản giảm
đi 5 đơn vị, trong khi đó ở 10oC giảm đi 15 đơn vị, 15oC giảm đi 18 đơn vị và
21oC giảm đi 25 đơn vị, 24oC giảm đi 30 đơn vị Vậy trong điều kiện chăn nuôi nông hộ không có phòng lạnh để có thể giữ trứng giống được lâu thì nên giữ bao nhiêu lâu thì trứng gà vẫn cho kết quả ấp nở tốt là điều cần xem xét
Gà Sasso là một giống gà chuyên thịt lông màu được chọn nhập vào nước ta từ Pháp Đoàn Xuân Trúc cùng cộng sự (2006) đã chọn tạo thành công bộ giống gà TĐ từ giống gà này Đến nay, gà TĐ đã thích nghi với điều kiện của Việt Nam và đã phát triển khá mạnh trong sản xuất trong những năm qua Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có quy trình ấp trứng nhân tạo đối với giống gà này Đặc biệt là thời gian bảo quản trứng trong điều kiện chăn nuôi nông hộ là điều người chăn nuôi đang rất quan tâm để đảm bảo được hiệu quả kinh tế của sản phẩm sản xuất ra
3.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng vác xin đến chất lượng các đàn gà
Cúm gia cầm (CGC) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra, lây lan nhanh và tỷ lệ chết rất cao ở gia cầm, được tổ chức thú y thế giới xếp vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất của động vật Virus CGC có tên khoa học là avian influenza (AI) thuộc nhóm virus cúm A của họ Orthomyxoviridae Đây là những retrovirus, mang vật liệu di truyền là những
Trang 7đoạn phân tử RNA, sợi đối mã (sợi âm tính), có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học và miễn dịch học
Ở Việt Nam, dịch CGC đã xảy ra vào giữa năm 2003 và bùng phát dữ dội hầu như trên khắp cả nước vào cuối năm 2003 đầu năm 2004, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng đến ngành chăn nuôi gia cầm và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Đoàn Xuân Trúc (2006) cũng đã xây dựng được quy trình thú y phòng bệnh cho đàn gà Sasso, tuy nhiên vào thời điểm đó do dịch Cúm gia cầm mới bùng phát nên chưa có lịch tiêm phòng cụ thể đối với bệnh Cúm gia cầm cho
gà Sasso
Trong thực tế sản xuất đã sử dụng vacxin cúm cho các đàn gà giống theo đúng sự hướng dẫn của nhà sản xuất, tuy vậy vẫn còn một vấn đề nổi cộm lên ở các đàn gà sinh sản đó là tỷ lệ đẻ giảm đáng kể nhất là sau khi tiêm vacxin cúm lần thứ 3 gây ảnh hưởng không ít đến quá trình phát triển cũng như hiệu quả kinh tế của đàn gà giống
Bên cạnh đó việc đánh giá tác động của vacxin Cúm gia cầm đối với đáp ứng miễn dịch của các bệnh khác cũng chưa được nghiên cứu sâu, nhất là đối với gà Sasso
Xuất phát từ vấn đề đó chúng tôi tiên hành nghiên cứu với các mục tiêu sau:
- Đánh giá đáp ứng miễn dịch của đàn gà Sasso sau khi dùng vacxin H5N2
- Xác định mức độ ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch của các bệnh ND, Bạch lỵ và CRD sau khi tiêm vacxin Cúm gia cầm H5N2
- Đưa ra lịch dùng vacxin cúm gia cầm phù hợp với các đàn gà Sasso
- Xác định các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi gà Sasso nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi
Trang 8Chương 1: ĐỊA ĐIỂM, KINH PHÍ, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI DỰ ÁN 1.1 Địa điểm triển khai
Dự án đã được triển khai tại:
- Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi - Viện Chăn nuôi
- Các tỉnh: Hưng Yên, Hà Tây (Hà Nội) và Hải Dương
1.2 Thời gian triển khai
Dự án thực hiện trong thời gian 24 tháng từ 01/2008 đến 12/2009
1.3 Kinh phí thực hiện
- Tổng kinh phí thực hiện dự án: 8.150,0 triệu đồng
- Tổng kinh phí NSNN được duyệt: 2.450,0 triệu đồng
Trong đó:
+ Năm 2008: 1.200,0 triệu đồng + Năm 2009: 1.250,0 triệu đồng
- Tổng kinh phí phải nộp lại NSNN: 1.470,0 triệu đồng
1.4 Nội dung triển khai dự án
Xây dựng và cung cấp giống theo hệ thống hình tháp 3 cấp:
- Các dòng đơn tính biệt của dòng ông bà được nuôi tại trung tâm Từ đàn ông bà này sản xuất gà bố mẹ TĐ12 và TĐ34
- Các đàn bố mẹ TĐ12 và TĐ34 được cung cấp ra ngoài cho các trang trại và nông hộ chăn nuôi gà sinh sản
- Từ đàn bố mẹ tiếp tục sản xuất con thương phẩm cung cấp cho các trang trại và nông hộ chăn nuôi gà thịt trong tỉnh và các vung lân cận sản phẩm cuối cùng cung cấp cho thị trường tiêu dùng gà thịt
Xây dựng mô hình chăn nuôi:
- Xây dựng mô hình chăn nuôi gà sinh sản ở các tỉnh Hà Tây, Hưng Yên và Hải Dương (3 - 4 mô hình/tỉnh) với quy mô 500 mái/hộ chăn nuôi
Trang 9- Xây dựng mô hình chăn nuôi gà thịt ở các tỉnh Hà Tây, Hưng Yên và
Hải Dương (10 - 12 mô hình/tỉnh) với quy mô 500 con/hộ chăn nuôi
1.5 Phương pháp hoàn thiện các quy trình
Bằng phương pháp phân lô so sánh, bố trí thí nghiệm khác nhau về
thành phần dinh dưỡng trong thức ăn, tiêu chuẩn ăn của từng giai đoạn, thông
qua kết quả nghiên cứu hoàn thiện:
+ Đối với gà ông bà:
Hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà ông bà Sasso thông qua
xác định lại tiêu chuẩn ăn Tiến hành theo dõi 2 lô thí nghiệm:
- Lô Đối chứng: Áp dụng tiêu chuẩn ăn cũ đã khuyến cáo (Đoàn Xuân
Trúc, 2006)
- Lô Thí nghiệm: Điều chỉnh lại mức Năng lượng trao đổi (ME) và tỷ lệ
Protein thô trong công thức thức ăn
Chỉ tiêu ĐVT Đối chứng Thí nghiệm
Giai đoạn gà con (1 - 6TT)
Giai đoạn gà đẻ pha I (21 - 44TT)
Trang 10Protein thô % 16 17
Giai đoạn đẻ pha II (45 - 60TT)
Hoàn thiện quy trình thú y đối với gà ông bà Sasso thông qua việc đánh
giá khả năng đáp ứng miễn dịch của gà ông bà Sasso đối với vacxin Cúm gia
cầm Tiến hành theo dõi thí nghiệm trên đàn gà Sasso ông bà:
- Theo dõi trên 300 con gà ông bà Sasso từ 1 - 360 ngày tuổi, trong đó
250 con được tiêm vacxin Cúm gia cầm còn 50 con không được tiêm có đánh
dấu để làm gà chỉ báo
- Vacxin Cúm gia cầm sử dụng là chủng H5N2
- Thời điểm tiêm vacxin vào lúc: 8, 38 và 150 ngày tuổi
- Tiến hành lấy mẫu huyết thanh gà sau khi tiêm lần 1, lần 2 và lần 3 để
xác định hàm lượng kháng thể bằng phản ứng HI Thời điểm lấy mẫu huyết
thanh để kiểm tra như sau:
+ Lấy huyết thanh sau khi tiêm lần 1 được 30 ngày
+ Lấy huyết thanh sau khi tiêm lần 2 được 30, 60, 120 và 150 ngày
+ Lấy huyết thanh sau khi tiêm lần 3 được 30 ngày
+ Đối với gà bố mẹ:
Hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà bố mẹ Sasso thông qua
xác định lại tiêu chuẩn ăn Tiến hành theo dõi 2 lô thí nghiệm:
Trang 11- Lô Đối chứng: Áp dụng tiêu chuẩn ăn cũ đã khuyến cáo (Đoàn Xuân
Trúc, 2006)
- Lô Thí nghiệm: Điều chỉnh lại mức Năng lượng trao đổi (ME) và tỷ lệ
Protein thô trong công thức thức ăn
Chỉ tiêu ĐVT Đối chứng Thí nghiệm
Giai đoạn gà con (1 - 6TT)
Giai đoạn gà đẻ pha I (21 - 44TT)
Giai đoạn đẻ pha II (45 - 64TT)
Trang 12Hoàn thiện quy trình ấp trứng nhân tạo thông qua xác định điều kiện bảo quản trứng và điều kiện ấp nở:
Xác định điều kiện bảo quản trứng:
Điều kiện bảo quản Mùa hè Mùa đông Ghi chú
Phòng lạnh 15 - 180C, 75 - 80%Å 7 ngày
Mỗi lô theo dõi 1.000 quả với 3 lần lặp lại Điều kiện ấp nở:
lệ nhiễm Bạch lỵ và CRD sau khi tiêm vacxin Cúm gia cầm
- Tiến hành theo dõi 500 con gà bố mẹ từ 1 - 38 tuần tuổi, đàn gà được tiêm vacxin Cúm gia cầm lúc 8, 38 và 150 ngày tuổi
- Tiến hành đánh giá hiệu giá kháng thể sau khi tiêm vacxin Newcastle
hệ I và vacxin Newcastle vô hoạt nhũ dầu được 30 ngày
- Đánh giá tỷ lệ nhiễm Bạch lỵ và CRD của đàn gà thí nghiệm
+ Đối với gà thương phẩm:
Hoàn thiện tiêu chuẩn ăn ở 2 giai đoạn 1 - 6 tuần tuổi và 7 tuần tuổi đến xuất chuồng thông qua tiến hành nghiên cứu thí nghiệm với 2 lô:
Trang 13- Đối chứng: Áp dụng tiêu chuẩn của quy trình cũ (Đoàn Xuân Trúc,
2006)
- Thí nghiệm: Điều chỉnh lại mức Năng lượng ME và tỷ lệ Protein trong
công thức thức ăn
Chỉ tiêu ĐVT Đối chứng Thí nghiệm
Giai đoạn gà con (1 - 6TT)
Giai đoạn 7TT - Xuất chuồng
Hoàn thiện quy trình thú y đối với gà thương phẩm thông qua theo dõi và
đánh giá việc áp dựng biện pháp an toàn sinh học chăn nuôi với 2 lô thí nghiệm:
- Lô Đối chứng: Không áp dụng biện pháp an toàn sinh học
- Lô Thí nghiệm: Áp dụng biện pháp an toàn sinh học
Biện pháp áp dụng chứng Đối nghiệm Thí
Thay quần áo, ủng trước khi vào chuồng - +
(Ghi chú: + áp dụng; - không áp dụng)
Trang 14Chương 2: KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN 2.1 KẾT QUẢ NUÔI GIỮ ĐÀN ÔNG BÀ TẠI TRUNG TÂM
Để sản xuất gà bố mẹ cung cấp cho các cơ sở chăn nuôi cho dự án và các trang trại chăn nuôi khác, đồng thời tiến hành theo dõi khả năng sinh trưởng sinh sản của đàn ông bà TĐ, trong thời gian thực hiện Dự án Trung tâm đã tiến hành nuôi giữ 1000 mái sinh sản dòng TĐ2; TĐ4 và 120 trống TĐ1; TĐ3, kết quả theo dõi trên đàn gà ông bà như sau:
2.1.1 Đặc điểm ngoại hình của gà ông bà Sasso
Đặc điểm ngoại hình của gà ông bà Sasso được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Đặc điểm ngoại hình của gà ông bà Sasso
Qua theo dõi đặc điểm ngoại hình của đàn gà Sasso nuôi giữ tại Trung tâm cho thấy đàn gà Sasso vẫn giữ được màu lông đặc trưng của giống Gà 01 ngày tuổi của 3 dòng TĐ1, TĐ2 và TĐ3 có màu lông nâu vàng còn dòng TĐ4
có màu lông trắng, đến 20 tuần tuổi ba dòng TĐ1, TĐ2 và TĐ3 có lông màu nâu đỏ hoặc nâu nhạt còn dòng TĐ4 có màu lông trắng
2.1.2 Khối lượng cơ thể của gà ông bà Sasso
Trang 15Bảng 2.2: Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi của gà ông bà Sasso (g/con)
Trang 16Kết quả theo dõi khối lượng cơ thể của đàn gà ông bà Sasso được trình bày ở bảng 2.2 Qua kết quả theo dõi cho thấy khối lượng cơ thể của 4 dòng lúc 01 ngày tuổi đối với TĐ1 là 40,25 g, TĐ2 là 38,25 g, TĐ3 là 40,2 g và TĐ4 là 39,6g; lúc 20 tuần tuổi đối với TĐ1 là 3036,22 g, TĐ2 là 2370,76 g, TĐ3 là 2718,2 g và TĐ4 là 2447,4 g Như vậy đối với các dòng TĐ1, TĐ3 và TĐ4 khối lượng cơ thể 01 ngày tuổi và 20 tuần tuổi đều đạt mục tiêu đề ra còn khối lượng của dòng TĐ2 thấp hơn so với mục tiêu đề ra (lúc 01 ngày tuổi thấp hơn 0,75 g, lúc 20 tuần tuổi thấp hơn 29,24 g)
2.1.3 Thức ăn tiêu thụ của gà ông bà Sasso
Kết quả theo dõi tiêu thụ thức ăn của gà Sasso ông bà được trình bày ở bảng 2.3 Giai đoạn 1 - 6 tuần tuổi gà được cho ăn tự do và do nuôi chung đàn nên mức tiêu thụ của 2 dòng TĐ1, TĐ2 và 2 dòng TĐ3, TĐ4 tương tự như nhau Kết thúc 20 tuần tuổi tổng thức ăn tiêu thụ bình quân của gà TĐ1 là 11.287 g/con, TĐ2 là 10.516 g/con, TĐ3 là 11.114 g/con và gà TĐ4 là 10.570 g/con
Bảng 2.3: Thức ăn tiêu thụ của gà ông bà Sasso (g/con)
Trang 172.1.4 Tuổi thành thục và năng suất trứng của gà ông bà Sasso
Kết quả theo dõi về tuổi thành thục của 2 dòng mái TĐ2 và TĐ4 cho
thấy tuổi đẻ quả trứng đầu của cả 2 dòng lần lượt là 154 và 150 ngày tuổi So
với kết quả của Đoàn Xuân Trúc (2006) thì tuổi đẻ quả trứng đầu của gà TĐ2
sớm hơn 4 ngày còn gà TĐ4 thì tương đương
Bảng 2.4: Tuổi thành thục sinh dục và năng suất trứng
của gà ông bà Sasso
Trang 18Sản lượng trứng bình quân đến 60 tuần tuổi của gà TĐ2 là 127,4 quả/mái và TĐ4 là 153,3 quả/mái Kết quả này so với kết quả của Đoàn Xuân Trúc (2006) thì gà TĐ2 cao hơn 4,2 quả/mái còn gà TĐ4 cao hơn 3,2 quả/mái; so với mục tiêu đề ra thì cả gà TĐ2 và TĐ4 đều vượt 100,9 - 101,9%
2.1.5 Chất lượng trứng và kết quả ấp nở của gà ông bà Sasso
Bảng 2.5: Chất lượng trứng của gà ông bà Sasso (n=35)
Khối lượng trứng đẻ 5% g 45,2 ± 0,8 44,0 ± 0,9Khối lượng trứng đẻ 30% g 47,1 ± 0,9 46,5 ± 0,8Khối lượng trứng đẻ đỉnh cao g 55,0 ± 1,8 55,0 ± 2,0
Kết quả ấp nở của gà TĐ2 và TĐ4 được thể hiện ở bảng 2.6 Qua theo dõi trên 1850 quả đối với dòng TĐ2 và 4575 quả đối với dòng TĐ4 cho thấy
tỷ lệ có phôi của cả 2 dòng gà 94,2 - 94,5%, tỷ lệ ấp nở 88,6 - 89,1% và tỷ lệ
Trang 19gà loại I 81,0 - 81,6% Kết quả này so với kết quả của Đoàn Xuân Trúc
2.2 HOÀN THIỆN CÁC QUY TRÌNH CHĂN NUÔI
2.2.1 Kết quả hoàn thiện các quy trình trên đàn gà ông bà
Đối với gà ông bà tập trung vào đánh giá đối với 2 dòng mái TĐ2 và
TĐ4 còn đối với dòng trống TĐ1 và TĐ3 do số lượng hạn chế nên không tiến
hành theo dõi Kết quả đạt được như sau:
2.2.1.1 Giai đoạn gà con 1 - 6 tuần tuổi
Kết quả theo dõi về tỷ lệ nuôi sống của gà TĐ2 và TĐ4 cho thấy: gà TĐ
2 tính chung cho cả giai đoạn lô thí nghiệm có tỷ lệ nuôi sống cao hơn so với
lô đối chứng tuy nhiên không đáng kể; còn gà TĐ4 tỷ lệ nuôi sống của cả 2 lô
thí nghiệm và đối chứng đều tương đương nhau với tỷ lệ nuôi sống là 94,5 -
95,5%
Bảng 2.7: Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn gà con của gà TĐ ông bà (%)
TĐ2 TĐ4 TĐ2 TĐ4
1 98,5 99,1 99,0 98,6
2 98,0 98,6 99,0 999,1
Trang 204 99,5 99,1 99,0 99,1
Chỉ tiêu về khối lượng cơ thể của đàn gà ông bà TĐ2 và TĐ4 ở các tuần
tuổi của lô thí nghiệm tương đương với tiêu chuẩn của giống còn lô đối chứng
có khối lượng thấp hơn
Bảng 2.8: Khối lượng cơ thể giai đoạn gà con của gà TĐ ông bà (g)
ăn của gà ông bà TĐ đã làm cho đàn gà có khối lượng cơ thể tại các tuần tuổi
đạt được đúng với tiêu chuẩn của giống Điều này giúp cho đàn gà phát triển
tốt và đạt được khối lượng chuẩn trong quá trình nuôi
2.2.1.2 Giai đoạn gà dò 7 - 20 tuần tuổi
Tiếp tục đánh giá chỉ tiêu về tỷ lệ nuôi sống và khối lượng cơ thể giai
đoạn gà do 7 - 20 tuần tuổi của đàn gà TĐ ông bà sau khi điều chỉnh lại mức
năng lượng và protein trong khẩu phần cho thấy:
Trang 21Tỷ lệ nuôi sống của cả 2 đàn gà TĐ2 và TĐ4 ở cả 2 lô thí nghiệm và đối
chứng đều không có sự khác nhau lớn, với tỷ lệ nuôi sống cho cả giai đoạn 7 -
20 tuần tuổi của cả 2 đàn gà TĐ2 và TĐ4 ở cả 2 lô thí nghiệm đều ở mức 94,4
- 95,6% Điều này cho thấy mức năng lượng và protein thay đổi trong khẩu
phần ăn của lô thí nghiệm không ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của cả 2 đàn
gà TĐ2 và TĐ4
Bảng 2.9: Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn gà dò của gà TĐ ông bà (%)
Trang 22Kết quả theo dõi về khối lượng cơ thể của 2 đàn gà TĐ2 và TĐ4 trong lô thí nghiệm qua các tuần tuổi đều đạt khối lượng tương đương với tiêu chuẩn Trong khi đó ở lô đối chứng các kết quả thu được đều thấp hơn so với tiêu chuẩn
Bảng 2.10: Khối lượng cơ thể giai đoạn gà dò của gà TĐ ông bà (g)
2.2.1.3 Kết quả theo dõi giai đoạn đẻ pha I (21 - 44 tuần tuổi)
Kết quả điều chỉnh lại mức năng lượng và protein giai đoạn đẻ pha I của đàn ông bà như sau:
Qua bảng 2.11 cho thấy cả lô thí nghiệm và đối chứng của gà TĐ2 đều
đẻ quả trứng đầu ở 22 tuần tuổi; tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao của lô đối chứng ở 32 tuần tuổi còn lô thí nghiệm ở 31 tuần tuổi Kết thúc giai đoạn đẻ pha I gà TĐ2
ở lô thí nghiệm có sản lượng trứng là 82,05 quả/mái với tỷ lệ đẻ trung bình là 51,2 và mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 2,66 kg So với lô đối chứng thì lô thí nghiệm có sản lượng trứng cao hơn là 3,8 quả/mái và mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng cũng thấp hơn 0,13 kg
Trang 23Kết quả ở bảng 2.12 cho thấy gà ông bà TĐ4 ở cả 2 lô đối chức và thí nghiệm cũng bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên ở tuần tuổi 22; tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao của lô thí nghiệm ở tuần tuổi 31 và lô đối chứng ở tuần tuổi 32 Tính đến kết thúc giai đoạn đẻ pha I lô thí nghiệm có sản luợng trứng là 93,98 quả/mái với tỷ lệ đẻ trung bình là 58,4% và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 2,32
kg, trong khi đó ở lô đối chứng gà TĐ4 có sản lượng trứng là 90,79 quả/mái
với tỷ lệ đẻ trung bình là 56,4% và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 2,41
kg Như vậy lô thí nghiệm ở giai đoạn đẻ pha I có sản luợng trứng cao hơn so với lô đối chứng là 3,19 quả/mái và mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng cũng thấp hơn so với lô đối chứng là 0,09 kg
Bảng 2.11: Kết quả sinh sản giai đoạn đẻ pha I của gà ông bà TĐ 2
Tỷ lệ đẻ (%)
Trứng/ mái (quả)
TTTA/ 10 trứng (kg)
Trang 24Tỷ lệ đẻ (%)
Trứng/ mái (quả)
TTTA/ 10 trứng (kg)
Trang 25Bảng 2.13: Chỉ tiêu ấp nở tuần 32;38 của gà TĐ ông bà
Chỉ tiêu ĐVT Đối chứng Thí nghiệm
TĐ2 TĐ4 TĐ2 TĐ4 Tổng số trứng ấp quả 1000 1500 1000 1500
Qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy điều chỉnh lại mức năng lượng
và protein trong khẩu phần ăn đối với gà ông bà (TĐ2 và TĐ4) là cần thiết nhằm nâng cao năng suất của đàn gà Việc tăng mức năng luợng và protein đã làm cả 2 đàn gà ông bà TĐ2 và TĐ3 nâng cao được sản lượng trứng đồng thời giảm được mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng và không ảnh hưởng đến kết quả ấp nở của cả 2 đàn gà
2.2.1.4 Kết quả theo dõi giai đoạn đẻ pha II (45 - 60 tuần tuổi)
Tiếp tục theo dõi và đánh giá hiệu quả của việc điều chỉnh lại nhu cầu dinh dưỡng đối với đàn gà TĐ ông bà ở giai đoạn đẻ pha II cho thấy:
Trang 26Qua bảng 2.14 cho thấy gà TĐ2 ở lô thí nghiệm giai đoạn đẻ pha II (45 – 60 tuần tuổi) có sản lượng trứng là 49,35 quả/mái với tỷ lệ đẻ trung bình là 44,1% và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 2,93 kg Kết quả này so với lô đối chứng thì sản lượng trứng của lô thí nghiệm cao hơn 1,67 quả/mái đồng thời giảm được mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng 0,1 kg Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa lô thí nghiệm và đối chứng này là không đáng kể
Bảng 2.14: Kết quả sinh sản giai đoạn đẻ pha II của gà ông bà TĐ 2
Tỷ lệ đẻ (%)
Trứng/
mái (quả)
TTTA/ 10 trứng (kg)
Trang 27Đối với gà TĐ4 (bảng 2.15) giai đoạn đẻ pha II (45 - 60 tuần tuổi) ở lô thí nghiệm có sản lượng trứng là 58,11 quả/mái với tỷ lệ đẻ trung bình là 51,9% và mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 2,748 kg Kết quả này so với lô đối chứng là tương đương
Bảng 2.15: Kết quả sinh sản giai đoạn đẻ pha II của gà ông bà TĐ 4
Tỷ lệ đẻ (%)
Trứng/
mái (quả)
TTTA/ 10 trứng (kg)
Trang 28lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở/tổng ấp và tỷ lệ gà con loại I/tổng ấp của của gà TĐ2
và TĐ4 ở lô thí nghiệm và lô đối chứng đều tương tự nhau
Bảng 2.16: Chỉ tiêu ấp nở 48, 52 tuần tuổi của gà TĐ ông bà
Chỉ tiêu ĐVT Đối chứng Thí nghiệm
TĐ2 TĐ4 TĐ2 TĐ4 Tổng số trứng ấp quả 800 1.200 800 1.200
Tỷ lệ gà con loại I/tổng ấp % 81,2 80,1 80,9 82,9 Như vậy việc thay đổi mức năng lượng và protein ở giai đoạn đẻ pha II không làm ảnh hưởng để khả năng sản xuất cũng như khả năng ấp nở của cả
gà TĐ2 và TĐ4 Điều này cho thấy việc giữ mức năng lượng và protein như ở
lô đối chứng sẽ cho hiệu quả về kinh tế hơn so với lô thí nghiệm
2.2.1.5 Xác định hàm lượng kháng thể sau khi tiêm vacxin Cúm gia cầm
Bảng 2.17: Hiệu giá kháng thể cúm gà của các đàn gà ông bà sau khi tiêm
vắc xin cúm H5N2 lần 1 được 30 ngày
Hiệu giá kháng thể
Số mẫu kiểm tra Số mẫu
dương tính (+) 1/2 1/4 1/8 1/16 1/32 1/64 GMT (%) CD
Trang 29chống lại với virus cúm cường độc ở bên ngoài môi trường Còn đối với đàn
gà đối chứng không được tiêm cúm gia cầm nên cả 10 mẫu kiểm tra đều không có kháng thể cúm gia cầm Cùng với việc kiểm kha hàm lượng kháng thể cúm gà trong máu, còn tiến hành kiểm tra sự bài tiết virus ra ngoài môi trường thông qua kiểm tra các mẫu dịch ổ nhớp Kết quả cho thấy cả 45 mẫu kiểm tra đều cho kết quả âm tính
Sau khi tiêm vacxin cúm gia cầm lần 2 được 30, 60, 120 và 150 ngày tiếp tục lấy mẫu máu kiểm tra hàm lượng kháng thể để xem sự biến động của hàm lượng kháng thể cúm tại các thời điểm trên
Bảng 2.18: Hiệu giá kháng thể cúm gà của các đàn gà ông bà sau khi tiêm vắc
xin cúm H5N2 lần 2 được 30, 60, 120 và 150 ngày
Hiệu giá kháng thể Thời gian
g tính (+)
Trang 30Ở thời điểm 120 ngày sau khi tiêm vacxin cúm H5N2 lần 2 hiệu giá kháng thể đã giảm xuống còn 4,1 log2 và tỷ lệ bảo hộ cũng chỉ còn 65%
Đến thời điểm 150 ngày sau khi tiêm vacxin cúm HN2 lần 2 hiệu giá kháng thể đã giảm xuống rất thấp là 2,0 log2 và tỷ lệ bảo hộ chỉ còn 40% Với hiệu giá kháng thể thấp dưới mức cho phép (4,0 log2) như vậy đàn gà không còn được bảo hộ với virus cúm gia cầm cường độc ngoài môi trường
Như vậy, sau khi tiêm vacxin cúm gia cầm H5N2 lần 2 được 120 ngày cần phải tiêm nhắc lại để nâng cao hàm lượng kháng thể cho đàn gà
Các mẫu của đàn gà đối chứng không được tiêm vacxin cúm tại các thời điểm kiểm tra trên đều không có kháng thể cúm gia cầm trong cơ thể
Ngoài ra, tiếp tục kiểm tra sự bài tiết virus cúm ra ngoài môi trường qua kiểm tra mẫu dịch ổ nhớp, 45 mẫu kiểm tra đều cho kết quả âm tính Như vậy chứng tỏ không có sự lưu hành virus ở ngoài môi trường
Bảng 2.19: Hiệu giá kháng thể cúm gà của các đàn gà ông bà sau khi tiêm
vắc xin cúm H5N2 được 30 ngày
Hàm lượng kháng thể
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu dương tính (+) 1/8 1/16 1/32 1/64 1/128 1/256 1/512 GMT (%)CD
Tiếp tục kiểm tra hàm lượng kháng thể sau khi tiêm vacxin cúm gia cầm lần 3 được 30 ngày cho thấy hiệu giá kháng thể tăng lên rất cao 7,3 log2 và tỷ
lệ bảo hộ là 90%, với mức hiệu giá kháng thể và tỷ lệ bảo hộ như vậy thì đàn
gà hoàn toàn được bảo hộ với bệnh cúm gia cầm
Kết luận:
Qua các nghiên cứu trên cho thấy việc thay đổi mức năng lượng và protein trong khẩu phần ăn đối với gà ông bà TĐ giai đoạn hậu bị đã giúp cho đàn gà đạt được khối lượng cơ thể tương đương với tiêu chuẩn đồng thời không làm ảnh hưởng tới tỷ lệ nuôi sống của đàn gà; đối với giai đoạn đẻ pha
Trang 31I (21 - 44 tuần tuổi) việc điều chỉnh lại mức năng lượng và protein trong khẩu phần cũng đã nâng cao được sản lượng trứng của đàn gà, giảm được mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng và không làm ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở; giai đoạn đẻ pha II (45 - 60 tuần tuổi) việc thay đổi mức năng lượng và protein trong khẩu phần không ảnh hưởng đến khả năng sản xuất và ấp nở của đàn gà
đo đó việc áp dụng mức năng lượng và protein như hiện tại sẽ cho hiệu quả kinh tế hơn
Đánh giá hiệu quả của việc tiêm vacxin Cúm gia cầm H5N2 đối với gà ông bà cho thấy ở lần tiêm thứ 2 sau khi tiêm 120 ngày cần phải tiến hành tiêm nhắc lại để bổ sung hàm lượng kháng thể cúm trong cơ thể đàn gà
2.2.2 Kết quả hoàn thiện các quy trình trên đàn gà bố mẹ
2.2.2.1 Giai đoạn gà con 1 - 6 tuần tuổi
Kết quả đánh giá khi điều chỉnh lại mức chất lượng trong khẩu phần ăn của gà Sasso bố mẹ giai đoạn 1 - 6 tuần tuổi thể hiện ở 2 chỉ tiêu chính là tỷ lệ nuôi sống và khối lượng cơ thể
Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống của 2 lô thí nghiệm và đối chứng giai đoạn 1 - 6 tuần tuổi cho thấy tỷ lệ nuôi sống của gà bố mẹ TĐ khá cao, tỷ lệ nuôi sống từng tuần đều trên 98% Tính chung cho cả giai đoạn 1- 6 tuần tuổi
tỷ lệ nuôi sống của gà bố mẹ TĐ ở cả 2 lô thí nghiệm và đối chứng đều tương
tự như nhau 94 - 96%
Bảng 2.20: Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn gà con của đàn gà bố mẹ (%)
Trống TĐ12 Mái TĐ34 Trống TĐ12 Mái TĐ34
Trang 324 98,6 99,3 99,0 99,5
Bảng 2.21: Khối lượng cơ thể giai đoạn gà con của gà bố mẹ (g)
Tuần
tuổi Trống TĐ12 Mái TĐ34 Trống TĐ12 Mái TĐ34 Trống
TĐ12
Mái TĐ34
2.2.2.2 Giai đoạn gà dò 7 - 20 tuần tuổi
Tiếp tục đánh giá việc điều chỉnh lại mức năng lượng và protein đối với đàn gà bố mẹ ở giai đoạn gà do 7 - 20 tuần tuổi trên 2 chỉ tiêu tỷ lệ nuôi sống
và khối lượng cơ thể Kết quả cho thấy:
Trang 33Đối với tỷ lệ nuôi sống từ 7 - 20 tuần tuổi của cả 2 lô thí nghiệm và đối
chứng đều khá cao và tương đương nhau Tính chung cho cả giai đoạn tỷ lệ
nuôi sống đối với gà trống là 95,5 - 95,9 % và đối với gà mái là 96,7 - 96,9%
Bảng 2.22: Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn gà dò của gà bố mẹ (%)
Đối với chỉ tiêu khối lượng cơ thể sau khi điều chỉnh lại mức năng lượng
và protein trong công thức thức ăn cũng cho thấy kết quả tốt, lô thí nghiệm có
khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi tương đương với tiêu chuẩn trong khi đó lô
đối chứng đều thấp hơn ở các tuần tuổi
Trang 34Bảng 2.23: Khối lượng cơ thể giai đoạn gà dò của gà bố mẹ (g)
Mái TĐ34
2.2.2.3 Kết quả theo dõi giai đoạn đẻ pha I (21 - 44 tuần tuổi)
Kết quả điều chỉnh lại mức năng lượng và protein giai đoạn đẻ pha I của đàn bố mẹ như sau:
Theo dõi năng suất trứng của 2 lô thí nghiệm và đối chứng đến kết thúc giai đoạn đẻ pha 1 (44 tuần tuổi) tương ứng là 99,94 và 96,93 quả/mái so với tiêu chuẩn thì cả lô thí nghiệm và lô đối chứng đều cao hơn tương ứng là 105,0 và 101,9% với tỷ lệ đẻ trung bình là 62,1 và 60,2%; mức tiêu tốn thức
ăn cho 10 quả trứng là 2,19 và 2,25 kg Kết quả này cho thấy việc điều chỉnh lại mức năng lượng và protein trong khẩu phần của gà bố mẹ trong giai đoạn
đẻ pha I đã làm tăng sản lượng trứng của đàn gà
Bảng 2.24: Kết quả sinh sản giai đoạn đẻ pha I của gà bố mẹ TĐ 34
Tỷ lệ đẻ (%)
Trứng/ mái (quả)
TTTA/ 10 trứng (kg)
Trang 36tuần tuổi Kết quả cho thấy khối lượng trứng ở các thời điểm theo dõi của cả 2
lô thí nghiệm và đối chứng đều tương đương nhau
Bảng 2.25: Khối lượng trứng giai đoạn đẻ pha I của gà bố mẹ TĐ34 (g)
Bảng 2.26: Chỉ tiêu ấp nở 38 tuần tuổi của gà bố mẹ
Chỉ tiêu ĐVT Đối chứng Thí nghiệm
Theo dõi chỉ tiêu ấp nở của các đàn gà thí nghiệm tại thời điểm 38 tuần
tuổi cho thấy các chỉ tiêu ấp nở của đàn thí nghiệm đều cao hơn so với lô đối
chứng tuy nhiên mức cao này không đáng kể Tỷ lệ nở trên tổng ấp của cả 2
lô thí nghiệm và đối chứng tương ứng là 88,7 và 88,5%, tỷ lệ gà loại I trên
tổng ấp tương ứng là 84,2 và 82,6%
Như vậy việc điều chỉnh lại mức năng lượng và protein đối với gà TĐ
bố mẹ giai đoạn đẻ pha I đã làm tăng sản lượng trứng so với tiêu chuẩn đồng
thời vẫn giữ được các chỉ tiêu về khối lượng trứng và ấp nở
2.2.2.4 Kết quả theo dõi giai đoạn đẻ pha II (45 - 64 tuần tuổi)
Bảng 2.27: Kết quả sinh sản giai đoạn đẻ pha II của gà bố mẹ TĐ 34
Tỷ lệ đẻ (%)
Trứng/ mái (quả)
TTTA/ 10 trứng (kg)
Trang 37Sản lượng trứng trung bình giai đoạn đẻ pha II của đàn gà thí nghiệm là 73,93 quả/mái với tỷ lệ đẻ trung bình là 52,81% và mức tiêu tốn thức ăn cho
10 quả trứng là 2,45 kg Kết quả này so với lô đối chứng với sản lượng trứng 72,97 quả/mái, tỷ lệ đẻ 52,12% và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 2,48
kg là tương đương
Trang 38Kết quả theo dõi về khối lượng trứng ở các tuần tuổi 48, 52 và 60 đều
cho thấy khối lượng trứng của lô thí nghiệm và lô đối chứng tương đương
nhau và khá ổn định ở giai đoạn này, khối lượng trứng của cả lô thí nghiệm và
đối chứng đều nằm trong khoảng 59,7 - 60,4 g
Bảng 2.28: Khối lượng trứng giai đoạn đẻ pha II của gà bố mẹ TĐ34 (g)
Bảng 2.29: Chỉ tiêu ấp nở 48, 52 tuần tuổi của gà bố mẹ TĐ34
Chỉ tiêu ĐVT Đối chứng Thí nghiệm
Chỉ tiêu ấp nở của lô thí nghiệm và đối chứng ở thời điểm 48 và 52 tuần
tuổi đều tương đương nhau Tỷ lệ nở trên tổng ấp của cả 2 lô đều là 85,6%; tỷ
lệ gà con loại I của cả 2 lô nằm trong khoảng 80,1 - 81,2%
Như vậy, ở giai đoạn đẻ pha II việc điều chỉnh lại mức năng lượng và
protein ở lô thí nghiệm đều cho kết quả tương đương với lô đối chứng do đó
giai đoạn này tiêu chuẩn ăn của gà TĐ bố mẹ vẫn giữ nguyên mức tiêu chuẩn
của lô đối chứng sẽ mang lại hiệu quả về kinh tế hơn so với lô thí nghiệm
2.2.2.5 Đánh giá kết quả bảo quản trứng trong điều kiện nông hộ
Tiến hành theo dõi 3 lô thí nghiệm về điều kiện bảo quản trứng ở 2 mùa:
mùa hè và mùa đông Kết quả cho thầy:
Bảng 2.30: Kết quả ấp nở của trứng thí nghiệm bảo quản ở mùa hè
Trang 39T 7 ngày ở nhiệt độ thường
3 ngày ở nhiệt độ thường
7 ngày ở phòng lạnh
Đối với mùa hè ở thí nghiệm bảo quả trứng trong điều kiện nhiệt độ
thường 7 ngày cho các kết quả về ấp nở thấp nhất Tỷ lệ nở so với tổng ấp chỉ
có 71,2%, tỷ lệ trứng chết phôi lúc 6, 11 ngày đều ở mức cao tương ứng 6,5
và 3,2%, tỷ lệ trứng tắc cũng khá cao 12,7% Trong khi đó đối với thí nghiệm
bảo quản trứng ở nhiệt độ thường 3 ngày và ở điều kiện phòng lạnh đều cho
khả năng ấp nở khá tốt và tương đương nhau, tỷ lệ ấp nở so với tổng ấp đạt
88,6 - 90,6%, tỷ lệ trứng chết phôi lúc 6 và 11 ngày tuổi tương đối thấp tương
ứng là 3,2 - 2,3% và 2,1 - 1,8%
Đối với mùa đông cũng tiến hành theo dõi các lô thí nghiệm tương tự
như đối với mùa hè, kết quả cho thấy, cả 3 lô thí nghiệm đều cho kết quả ấp
nở khá tốt và tương tự nhau Tỷ lệ ấp nở so với tổng ấp của cả 3 lô thí nghiệm
82,9 - 84,6%, tỷ lệ chết phôi lúc 6 và 11 ngày đều khá thấp tương ứng 3,2 -
4,3% và 1,6 - 1,9%, tỷ lệ trứng tắc cũng khá thấp 4,6 - 5,6%
Bảng 2.31: Kết quả ấp nở của trứng thí nghiệm bảo quản ở mùa Đông
Điều kiện bảo quản
T 7 ngày ở nhiệt độ
3 ngày ở nhiệt độ
7 ngày ở phòng
Trang 40Với kết quả theo dõi và đánh giá khả năng ấp nở của 3 lô thì nghiệm
trong điều kiện mùa hè và mùa đông cho thấy: Trứng bảo quản ở điều kiện
thường đối với mùa hè tốt nhất không nên bảo quản quá 3 ngày vì sẽ làm
giảm khả năng ấp nở của trứng rất nhanh do điều kiện môi trường, còn đối với
mùa đông có thể bảo quản trứng trong điều kiện thường đến 7 ngày Tuy
nhiên việc bảo quản trứng trong điều kiện thường cũng như trong phòng lạnh
cũng không nên bảo quản quá 7 ngày vì quá thời gian trên khả năng ấp nở của
trứng giảm đi rất nhanh
2.2.2.6 Đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch đối với bệnh Newcastle và tỷ
lệ nhiễm Bạch lỵ và CRD của đàn gà bố mẹ sau khi tiêm Vacxin Cúm gia
cầm
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch đối với một số
bệnh của đàn gà đã sử dụng vacxin cúm H5N2 chúng tôi tiến hành đánh giá
đối với một số bệnh như: Newcastle, Bạch lỵ và CRD
Kết quả theo dõi về hàm lượng kháng thể Newcastle sau khi tiêm 30
ngày trên đàn gà bố mẹ đã được sử dụng vacxin H5N2 cho thấy: Đối với
vacxin Newcastle hệ I có hiệu giá kháng thể là 5,5 log2 và đối với vacxin vô
hoạt nhũ dầu đa giá là 7,5 log2 Tỷ lệ bảo hộ đối với cả 2 loại vacxin đều là