BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN KHOA HỌC NN VIỆT NAM ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC THUỘC NHIỆM VỤ KHCN TRỌNG ĐIỂM TRIỂN KHAI TẠI ĐỊA PHƯƠNG BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ “Nghiên cứu cơ sở khoa học để p
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN KHOA HỌC NN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC THUỘC NHIỆM VỤ KHCN TRỌNG ĐIỂM TRIỂN KHAI TẠI ĐỊA PHƯƠNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ
“Nghiên cứu cơ sở khoa học để phát triển sản xuất một số loại hoa chất lượng cao, quy mô công nghiệp phục vụ nội tiêu và xuất khẩu vùng Đà Lạt,
Trang 2BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN KHOA HỌC NN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC THUỘC NHIỆM VỤ KHCN TRỌNG ĐIỂM TRIỂN KHAI TẠI ĐỊA PHƯƠNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ
Nghiên cứu cơ sở khoa học để phát triển sản xuất một
số loại hoa chất lượng cao, quy mô công nghiệp phục
vụ nội tiêu và xuất khẩu vùng Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Chủ nhiệm đề tài Cơ quan chủ trì Đề tài
Trang 3II MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
Phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,
môi trường có liên quan đến phát triển sản xuất hoa vùng
Đà Lạt
21
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng 21
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Đà Lạt 40
1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội đến phát triển sản xuất hoa ở Đà Lạt
Tình hình nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công
nghệ trong sản xuất hoa vùng Đà Lạt
70
3.1 Những kết quả nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ,
tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất hoa ở Đà Lạt
70
3.2 Những tồn tại cần khắc phục, định hướng công tác nghiên
cứu và ứng dụng khoa học công nghệ cho phát triển hoa của
Đà Lạt trong thời gian tới
74
Nội dung
4
Nhu cầu tiêu dùng, tiêu chuẩn các công ty, cơ sở kinh
doanh, xuất nhập khẩu hoa ở thị trường hoa trong nước
và trên thế giới
77
4.1 Nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng hoa của Đà Lạt tại một số thị
trường chính TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Lạt
77
4.2 Nghiên cứu các tiêu chuẩn và tiềm năng thị trường hoa của 78
Trang 4thế giới và khu vực
Nội dung
5
Xác định một số chủng loại hoa có tiềm năng, phù hợp
cho sản xuất quy mô công nghiệp hiệu quả cao, hợp với
thị hiếu người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
98
5.1 Xác định một số chủng loại hoa có tiềm năng, phù hợp cho
sản xuất quy mô công nghiệp hiệu quả cao, hợp với thị hiếu
người tiêu dùng trong nước
98
5.2 Xác định một số chủng loại hoa có tiềm năng, phù hợp cho
sản xuất quy mô công nghiệp hiệu quả cao phục vụ xuất
khẩu
98
Nội dung
6
Phân tích hiện trạng về tổ chức ngành hàng phân phối
hoa và các thể chế thị trường đảm bảo
101
6.1 Thực trạng phát triển của ngành hàng hoa tỉnh Lâm Đồng
thời gian qua
101
6.2 Các yếu tố tác động đến sự phát triển của ngành hàng hoa
tỉnh Lâm Đồng thời gian qua
102
6.3 Quy mô và đặc điểm của ngành hàng hoa tỉnh Lâm Đồng 105
6.4 Những hạn chế và chiến lược phát triển của các tác nhân
trong ngành hàng
122
6.5 Khả năng tham gia của người nghèo vào các kênh hàng 125
6.6 Nghiên cứu rào cản kỹ thuật đối với hoa trong thương mại
hóa quốc tế
126
Nội dung
7
Phân tích xu hướng phát triển sản xuất hoa tại Đà Lạt 130
7.1 Xu hướng phát triển sản xuất hoa tại Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng 130
7.2 Quy mô và phương thức sản xuất hoa 132
7.3 Thị trường tiêu thụ chính của hoa Đà Lạt 134
7.4 Một số điểm yếu trong sản xuất hoa ở Đà Lạt hiện nay 135
Nội dung
8
Xây dựng đề án phát triển sản xuất hoa chất lượng cao,
quy mô công nghiệp phục vụ nội tiêu và xuất khẩu tại
Trang 5PHẦN PHỤ LỤC
Bảng 1 Tích chất hoá học của đất tại Đà Lạt – Lâm Đồng 28
Bảng 2 Bảng 2 Số liệu trung bình về tính chất đất của các hình thức
sử dụng đất ở Đà Lạt
32
Bảng 7 Tình hình sinh trưởng phát triển của hoa hồng Đà Lạt 65
Bảng 8 Tình hình sinh trưởng phát triển hoa Cúc Đà Lạt 66
Bảng 9 Tình hình sinh trưởng phát triển hoa đồng tiền Đà Lạt 66
Bảng 10 Tình hình áp dụng các phương pháp nhân giống hoa ở Đà Lạt 67
Bảng 11 Năng suất và sản lượng trồng hoa ở Đà Lạt 68
Bảng 12 Hiệu quả kinh tế trồng hoa ở Đà Lạt 69
Bảng 17 Diễn biến về cơ cấu sản xuất hoa tại Lâm Đồng 107
Bảng 18 Số lượng các tác nhân tham gia vào từng kênh hàng tại Đà
Lạt
110
Bảng 19 Hoạt động sản xuất kiểu các hộ nông dân tại Đà Lạt 112
Bảng 20 Hoạt động của chủ buôn khi tham gia các kênh hàng 115
Bảng 21 Đặc điểm hoạt động của các công ty sản xuất kinh doanh hoa 118
Bảng 28 Những khó khăn trong hoạt động của các tác nhân 122
Bảng 29 Chiến lược hoạt động của các tác nhân ngành hàng 124
Bảng 30 Khả năng tham gia của người nghèo vào các kênh hàng 126
Bảng 31 Chủng loại hoa xuất khẩu chủ yếu trong tháng 2/2007 135
Bảng 32 Thị trường xuất khẩu hoa trong tháng 2/2007 135
Bảng 33 Những đơn vị xuất khẩu hoa trong tháng 2/2007 136
Biểu đồ 1 Diễn biến diện tích sản lượng hoa của tỉnh Lâm Đồng 101
Biểu đồ 2 Cơ cấu thị trường tiêu thụ hoa của tỉnh Lâm Đồng 106
Biểu đồ 3 Diễn biến về giá trị XK và giá trị SX hoa của Lâm Đồng 106
Biểu đồ 4 Sự thay đổi về diện tích SX hoa của hộ nông dân Đà Lạt 108
Trang 6MỞ ĐẦU
Đà lạt đã nổi tiếng từ xưa, không chỉ là nơi du lịch nên thơ, với những đồi thông, thác nước, những triền cỏ rộng mênh mông mà còn là vùng khí hậu độc đáo có tiềm năng gieo trồng một số cây đặc sản của nước ta, đặc biệt là rau, hoa cây cảnh cao cấp có giá trị kinh tế cao Vì thế, ngành trồng hoa Đà Lạt – Lâm Đồng đã hình thành và phát triển từ những năm 40 của Thế kỷ trước Các vùng trồng hoa như Thái Phiên, Hà Đông, Đa Thiện, Vạn Thành, Xuân Thọ, Nguyên Tử Lực, An Sơn… gồm các giống hoa truyền thống như Hồng, Cúc, Cẩm chướng, Lay ơn, Phong lan, Địa lan và gần đây là Lily, Cát tường hay Hồng môn, Salem… Nếu như trước những năm 1975 chỉ có vài chục ha trồng các loại hoa truyền thống và sản lượng vài trăm ngàn cành thì đến năm 2008, diện tích khoảng gần 3115 ha, sản lượng đạt 955 triệu cành, trong đó thành phố Đà Lạt chiếm tới 40% diện tích và 50% sản lượng Có thể nói, sau ngày đất nước thống nhất và nhất là sau hơn 20 năm đổi mới, Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng đã cùng với cả nước liên tục phát triển về mọi mặt, đời sống con người dần ngày một nâng cao, cơ sở hạ tầng được xây dựng và nhất là các kỹ thuật tiên tiến và giống mới về trồng trọt, bảo quản chế biến được áp dụng mạnh mẽ vào sản xuất nên đã làm cho giá trị hàng hóa các loại sản phẩm của Lâm Đồng ngày một tăng cao như cà phê, chè, điều và đặc biệt là hoa cây cảnh
Nhiều điển hình tiên tiến đã xuất khẩu như Đà Lạt Hasfarm, Biovietfarm, Việt Nam Thành công, Hoa lan Lâm Thắng, Langbiang Farm, Sakiuco, Rừng hoa Đà Lạt… Nhiều doanh nghiệp trồng hoa cao cấp theo hướng công nghệ cao ngay trong địa bàn thành phố Đà Lạt đã cho doanh thu từ 2-2,5 tỷ đồng/ha/năm Giá trị xuất khẩu hoa liên tục tăng, năm sau tăng hơn năm trước Năm 2005 đạt 7,51 triệu USD, năm 2006: 7,45 triệu USD, Năm 2007 đạt 9,6 triệu USD, năm 2008 đạt 11,5 triệu USD, năm 2009 dự kiến đạt 13,5 triệu USD(Phạm S năm 2008)
Mặc dù có những thành tựu nổi bật trong những năm gần đây, song đánh giá một cách nghiêm túc, ngành sản xuất hoa Đà Lạt vẫn còn ở trình trạng phân tán, chưa thật tập trung, các công nghệ trồng trọt tuy đã áp dụng những kỹ thuật tiến tiến nhưng chưa đồng
bộ, còn lạc hậu, công tác quy hoạch vùng hoa còn nhỏ lẻ, các giống hoa còn chậm đổi mới, hoàn toàn lệ thuộc vào nước ngoài Đặc biệt khâu thu hoạch, bảo quản để xuất khẩu còn rất hạn chế, không đạt được tiêu chuẩn của các nước trong khu vực và quốc tế Vì vậy, ngành sản xuất hoa Đà Lạt hiện nay vẫn còn lạc hậu so với những nước trong khu vực và chưa tương xứng với tiềm năng về đất đai, khí hậu thiên nhiên cũng như con người
Đà Lạt vốn cần cù lao động có truyền thống trồng hoa lâu đời và nhanh nhạy trước cái mới
Do đó, để góp phẩn phát triển hoa Đà Lạt theo hướng đột phá mới – hướng công nghệ cao ở quy mô công nghiệp nhằm phát huy tối đa điều kiện tự nhiên cũng như tiềm năng con người Đà Lạt chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học để phát triển sản xuất một số loại hoa chất lượng cao, quy mô công nghiệp, phục vụ nội tiêu và xuất khẩu vùng Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng”
Trang 7Mục tiêu của đề tài này là xác định được luận cứ khoa học để đề xuất đề án, phát triển hoa Đà Lạt theo hướng công nghệ cao ở quy mô công nghiệp Trên cơ sở nghiên cứu
có kế thừa các kết quả của một số đề tài nghiên cứu khoa học trong nhiều lĩnh vực từ điều tra cơ bản, nghiên cứu về đất đai, về chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác của nhiều ngành, chúng tôi tập trung vào nội dung nghiên cứu như: phân tích đánh giá điều kiện từ nhiên, kinh tế xã hội và môi trường có liên quan đến sản xuất hoa vùng Đà Lạt, phân tích đánh giá thực trạng ngành sản xuất hoa tại Đà Lạt, từ tập quán và trình độ khoa học kỹ thuật sản xuất của các công ty, doanh nghiệp, đến tình hình tiêu thụ hoa cũng như thu nhập của người trồng hoa tại Đà Lạt Qua đó rút ra được những cơ sở khoa học để giúp cho việc xây dựng đề án phát triển hoa ở Đà Lạt - Lâm Đồng theo hướng công nghiệp Song song với việc phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng ngành sản xuất hoa Đà Lạt chúng tôi còn tiến hành các nội dung nghiên cứu như: Đánh giá tình hình nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất hoa vùng Đà Lạt, nhu cầu tiêu dùng, tiêu chuẩn của các công ty, các hộ kinh doanh, xuất nhập khẩu hoa ở thị trường trong nước và thế giới
Việc sản xuất nông lâm nghiệp nói chung, rau và hoa, đặc biệt là hoa của Lâm Đồng nói riêng là do yếu tố khí hậu chi phối và có tính quyết định Chính vì thế việc hiểu rõ các tiểu vùng khí hậu (đặc biệt là tiểu vùng khí hậu cao nguyên Đà Lạt) có tiềm năng cho vấn đề này là trọng tâm đề tài cần phân tích
Tiến hành xác định một số chủng loại hoa có tiềm năng phù hợp cho sản xuất ở quy
mô công nghiệp có hiệu quả cao phù hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, trong đó chú trọng phân tích về hiện trạng tổ chức ngành hàng, phân phối hoa và các thể chế thị trường bảo đảm, cũng như phân tích xu hướng phát triển hoa tại vùng Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng và cuối cùng là phải xây dựng được đề án phát triển sản xuất hoa chất lượng cao, quy mô công nghiệp phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Qua hơn 12 tháng làm việc nghiêm túc, tập thể các cán bộ tham gia đề tài và chủ nhiệm đã hết sức cố gắng, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao và hoàn thành tốt các nội dung của đề tài, các nội dung đã được viết thành các chuyên đề khá kỹ, vì vậy trong báo cáo này chúng tôi chỉ trình bày những kết quả chính nhất làm cơ sở khoa học cho đề
án cũng như những giải pháp chủ yếu đề phát triển đề án trong tương lai
Nhân dịp này chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ và các Ban ngành chức năng của Bộ đã tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành tốt đề tài Cảm ơn Sở Khoa học và Công nghệ,Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng và các ban ngành của hai sở đã cùng phối hợp để thực hiện các nội dung của
đề tài, tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành đề tài
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1 Sản xuất hoa và tiêu thụ hoa trên thế giới
Diện tích trồng hoa trên thế giới hiện nay đã lên tới 223.000 ha Năm nước dẫn đầu
có diện tích trồng hoa lớn nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ và Hà Lan Các loại hoa trồng chủ yếu ở các nước là hoa cắt (cut flowers), hoa chậu (potter flowers), hoa nguyên cây (whole flowers), các loại cây dùng bộ lá để trang trí và hoa trồng làm thảm Theo số liệu thống kê của WTO lượng hoa xuất khẩu hàng năm trên thế giới, hoa cắt thường chiếm 46,8%, hoa chậu và hoa trồng thảm chiếm 41,7%, loại cây dùng lá để trang trí chiếm 8,01% và các loại hoa khác chiếm 3.5% Theo ITC (Trung tâm thương mại hoa
Trang 8quốc tế) lượng hoa tiêu thụ trên thế giới là 100 tỷ USD vào năm 1991, đến năm 2000 đã vượt lên 200 tỷ USD Hiện nay thị trường tiêu thụ lớn nhất trên thế giới là Châu Âu, Mỹ
và Nhật Bản và dự đoán ở thế kỷ 21 lượng tiêu thụ hoa trên thế giới sẽ tăng với tốc độ hơn 10% mỗi năm, với tỷ lệ hoa cắt chiếm hơn 60%, hoa chậu, hoa trồng thảm chiếm hơn 30% và các loại hoa cây cảnh khác chiếm 10% Đánh giá về thị trường các chuyên gia cũng cho rằng thị trường hoa cắt ở Mỹ và châu Âu sẽ được nhập khẩu bởi các nhà cung cấp Mỹ La Tinh, Đông Châu Phi và Nam Châu Phi Còn thị trường Đông Nam Á những nhà cung cấp chính sẽ là Maylaixia, Thái Lan và Việt Nam Về hoa chậu hoa thảm thị trường Châu Mỹ sẽ do bang Florida, California của Mỹ và Costarica cung cấp Thị trường Châu Âu do Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và một số nước Đông Âu cung cấp Còn thị trường ở Đông Nam Á những nhà cung cấp là Malaixia, Srilanka, Philippin, Ấn Độ, Trung Quốc và Đài Loan
Hiện nay các nước tiên tiến đã đầu tư trang thiết bị cho ngành sản xuất hoa của mình đầy đủ các phương tiện hoạt động, ứng dụng nhanh các thành tựu về di truyền và công nghệ sinh học hiện đại, các tiến bộ khoa học kỹ thuật để chọn tạo và sản xuất các giống hoa có chất lượng cao, đẹp, giá thành hạ đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới như Hà Lan, Israel, Colombia… là những nước đứng đầu trên thế giới
về công nghệ sản xuất hoa tiên tiến, sản phẩm làm ra đã đạt đến mức hoàn thiện Trong các nước châu Á phải kể đến Thái Lan là nước đang phát triển có điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội tương tự như Việt Nam, mấy năm gần đây thị trường hoa của Thái Lan rất phát triển, đặc biệt là hoa Lan đã trở thành một ngành xuất khẩu quan trọng, giá trị xuất khẩu hàng năm đạt 800 triệu USD/năm (theo thống kê của FAO 2008) đạt được những thành công này là nhờ áp dụng kỹ thuật lai tạo và nhân giống hiện đại Sau gần hai thập kỷ phát triển ngành công nghệ hoa của Trung Quốc đã trở thành một ngành công nghiệp có nhiều hứa hẹn bởi sản xuất hoa phát triển hàng năm Hiện nay diện tích trồng hoa của Trung Quốc là 147.500 ha, Trung Quốc đang có những đề án lớn để thúc đẩy ngành công nghệ hoa phát triển và phấn đấu trở thành nước dẫn đầu ở Châu Á về sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu hoa, để đạt được mục tiêu này việc áp dụng các công nghệ tiên tiến được đặt lên hàng đầu kết hợp với các phương pháp truyền thống như lai tạo, gây đột biến đã mang lại thành công cho nước này
• Về xuất khẩu hoa: trong các nước xuất khẩu hoa lớn trên thế giới phải kể đến
Hà Lan chiếm 64,8% thị trường, chi phối cho gần 80 nước trên thế giới, mặt hàng xuất khẩu chính của nước này là Cúc, Hồng, Tulip, và các loại hoa trồng thảm, trồng chậu Thứ đến là Columbia chiếm 12% các loại hoa cắt như Cẩm chướng, Đồng tiền, Hồng , Layơn Thứ ba phải kể đến Israel chiếm từ 5-5,7% Trong các nước châu Á, tuy Thái Lan mới chỉ chiếm 1.6% thị trường thế giới nhưng có thể xem nước này gần như độc quyền về xuất khẩu hoa lan chất lượng cao và màu sắc độc đáo Mặc dù là nước xuất khẩu hoa lớn trên thế giới nhưng hàng năm Hà Lan và một số nước khác có mùa đông lạnh tuyết phủ như Đức, Pháp, Mỹ, Anh, Ý… vẫn phải nhập một số lượng lớn các loại hoa như Hồng, Cúc, Lan, Cẩm chướng và các loại hoa khác
Những nước có thu nhập cao trong nghề trồng hoa là Hà Lan 5,5 tỷ USD/năm; Mỹ 4,9 USD/năm; Nhật Bản 3,2 tỷ USD/năm Các nước ở Đông Nam Á có sản lượng hoa lớn là: Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc Riêng thành phố Côn Minh (Trung Quốc) có 11.500 ha hoa tập trung, được đầu tư công nghệ tiên tiến và hiện đại
• Về nhập khẩu hoa: năm 1998 năm nước đứng đầu về nhập khẩu hoa là Đức
Trang 9chiếm 23% tổng lượng hoa nhập khẩu của thế giới, Mỹ chiếm 13%, Anh 10%, Pháp 10%,
Hà Lan 9% với giá trị nhập khẩu của Đức là 958 triệu USD, Mỹ 761 triệu USD, Anh 531 triệu USD, Pháp 451 triệu USD và Hà Lan 397 triệu USD Ở Châu Á Nhật là nước nhập khẩu hoa lớn nhất, năm 2002, thị phần hoa nhập khẩu chỉ chiếm 10,6% thị trường hoa Nhật Bản Nhưng năm 2003, thị phần này đã tăng lên đến 11,4% và năm 2004 chiếm 12,9% Nhìn trung, hàng năm nhu cầu nhập khẩu hoa của Nhật Bản đạt khoảng 453 triệu USD, ước kim ngạch nhập khẩu hoa của Nhật Bản đạt khoảng 500 triệu USD trong năm
2005 Hiện Hà Lan là nước cung cấp các loại hoa Hồng, hoa Loa kèn, Freesia và các loại hạt và củ hoa Tulíp (trước đây Nhật Bản nhập nhiều hoa Tulíp tươi Nhưng nay chuyển sang nhập củ và hạt hoa Tulíp về trồng do thời tiết Nhật Bản hiện tương đối thuận lợi); Đài Loan là các loại hoa Cúc và Trung Quốc cung cấp các loại cành, lá để phục vụ cho việc trang trí và bó hoa cho thị trường Nhật Bản Sản phẩm hoa tươi Việt Nam xuất sang Nhật Bản chủ yếu là hoa Phong lan và các loại cành ghép Trong đó, mỗi năm bình quân kim ngạch đạt khoảng 6,2 triệu USD (chiếm 1,4% thị phần hoa nhập khẩu của Nhật Bản) Riêng năm 2005, kim ngạch xuất khẩu hoa của Việt Nam sang Nhật Bản ước đạt 6,5 triệu USD Dự báo, các năm tiếp theo kim ngạch có thể đạt trên 8 triệu USD Do điều kiện thiên nhiên ưu đãi, Nhật Bản có thể tự trồng hầu hết các loại hoa Tuy nhiên, do nhu cầu
về hoa khá phong phú và chi phí nhân công tại Nhật Bản khá đắt, không thể cạnh tranh với các nước khác
• Thị trường hoa ngày càng cạnh tranh quyết liệt và đòi hỏi hoa sản xuất ra phải đẹp, phù hợp với với thị hiếu tiêu dùng Sản phẩm hoa của các nước trồng hoa trên thế giới rất phong phú và đa dạng, đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường hoa luôn luôn biến động và thay đổi Đặc biệt ở Nhật, gần đây tập quán tặng hoa và chi tiêu mua hoa của người dân Nhật Bản đang tăng mạnh trong các dịp lễ Thói quen tặng hoa đang trở thành nếp sống văn hóa của người Nhật Bản Nhu cầu mua hoa của các gia đình, đặc biệt là thú chơi hoa hàng ngày và làm quà tặng tăng cao vào các dịp lễ như ngày giỗ Tổ (tháng 3), ngày của Mẹ (tháng 5), Noel và năm mới Điểm đáng chú ý là, tại Nhật Bản mặt hàng hoa bao hàm khá rộng gồm hoa cắt, nụ hoa, lá, cành, cây cỏ, rêu, cây sống, hoa khô dùng trang trí Vào đầu tháng 12/2005, với sự hỗ trợ của Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, hơn 200 doanh nghiệp Nhật Bản sang tìm hiểu thị trường hoa Việt Nam vào đúng dịp Lễ hội hoa Đà Lạt tháng 12/2005
* Trên phương diện phát triển thị trường, do chất lượng hoa đòi hỏi ngày càng đa dạng và chất lượng cao, do vậy xu hướng hình thành các ngành hàng ngắn có tổ chức chặt chẽ về tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng phát triển Tại Úc, đang hình thành các liên minh để sản xuất hoa cắt, xuất khẩu cho Nhật Bản (Dự án Backhousia tai Queensland, 2005) Dự
án tâp trung vào các vấn đề cần tổ chức chung giữa các nhà trồng hoa để có thể tiến vào các thị trường xa và khó tính hơn, nghiên cứu kỹ sở thích của người tiêu dùng hoa, trao đổi thông tin thị trường, xây dựng quan hệ đối tác lâu dài, xây dựng hạ tầng cơ sở phân phối chung, ký hợp đồng sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng thông qua đa dạng dịch vụ về hoa
và xây dựng cơ chế phân chia lợi nhuận thỏa đáng
* Sự phát triển của các công ty dịch vụ phân phối hoa trên mạng gần đây đã làm tăng khả năng tiếp cận khách hàng so với các cửa hàng hoa nhỏ trước đây Mạng lưới này phát triển trên cơ sở các hợp đồng cung ứng nhỏ, phù hợp với đặc tính dễ hỏng của sản phẩm hoa Việc nghiên cứu các tiêu chuẩn kỹ thuật chuẩn hóa sản phẩm hoa đóng vai trò quan trọng
Trang 10* Trong những năm gần đây, ở các nước trồng hoa tiên tiến, công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng vùng sản xuất hoa tập trung, chuyên canh, có chất lượng cao rất được quan tâm chú ý Một số nước có trình độ sản xuất giống hoa cao, mang tính chuyên môn hoá là: Hà Lan, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan…Riêng Hà Lan, mỗi năm sản xuất 40 triệu củ giống Lily, 250 triệu mầm cúc, 176 triệu cây Hồng, 270 triệu củ Lay ơn cung cấp cho khắp các nước trên thế giới, hàng năm nước này thu về hàng tỉ USD từ việc bán giống hoa
* Các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất, sơ chế, bảo quản một số loại hoa cũng phát triển một cách tương đối nhiều và ở mỗi nước, mỗi nơi đều có những hình thức đầu tư riêng biệt mang tính đặc thù, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng nước
*Vấn đề nâng cao chất lượng nông sản, trong đó có hoa và cây cảnh, thông qua thúc đẩy hệ thống chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề lớn, có liên quan chặt chẽ tới mức sống dân cư và sự phát triển của nông nghiệp ven đô ở hầu hết các nước trên thế giới Quá trình Hội nhập WTO, đặt ra vấn đề tiêu chuẩn hóa chất lượng ở cấp quốc tế thông qua các Hiệp định SPS và các hệ thống chứng nhận Quốc tế như EUROPGAP để xuất khẩu sang Châu Âu Các nước như Pháp, Bồ Đào Nha phát triển các thể chế quản lý chất lượng các sản phẩm đặc sản như Tên gọi xuất xứ, Chỉ dẫn địa lý nhằm nâng cao chất lượng nông sản Như vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là một yếu tố cấu thành, không thể tách rời của chất lượng nông sản Chính sách vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến thể chế chính sách quản lý chất lượng nông sản và hoa cây cảnh
* Hệ thống quản lí chất lượng của Pháp và Châu Âu, có ba mức độ quản lí chất lượng:
- Quản lý chất lượng vệ sinh thực phẩm: có mục tiêu kiểm định chất lượng và an toàn với thực phẩm nhằm đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng Hệ thống này phải
có trách nhiệm phân tích các nguy cơ rủi ro về vệ sinh thực phẩm để từ đó có thể lựa chọn các chính sách của nhà nước phù hợp Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm soạn thảo các qui định, nguyên tắc dự phòng để giảm thiểu rủi ro Để triển khai cần có trao đổi thông tin rộng rãi và kiểm soát chặt chẽ trên cơ sở lựa chọn các phương pháp kĩ thuật để áp dụng các qui định
- Quản lí chất lượng dựa trên dấu hiệu các đặc tính đặc trưng: có bốn hệ thống nhỏ tại Pháp và Châu âu Chúng ta có thể gặp các sản phẩm của dạng chất lượng gắn liền với lãnh thổ như Tên gọi xuất xứ (PDO), Chỉ dẫn địa lý (IG), Chứng nhận đảm bảo tiêu chuẩn, Nhãn hiệu đặc biệt (Label) Hệ thống quản lí chất lượng này nhằm bảo tồn và phát huy tính đa dạng của sản phẩm cả về sinh học, thực hành nông dân
và chế biến cổ truyền Hệ thống này có một số nguyên tắc như sau: Cam kết tự nguyện từ các tác nhân và ngành hàng, Quy trình sản xuất công khai và được chính quyền địa phương xác nhận, Kiểm định bởi một cơ quan độc lập (cơ sở nhà nước, các tổ chức chứng nhận chất lượng có uy tín)
- Hệ thống chất lượng thoả thuận: là dạng Tiêu chuẩn ISO, tin tưởng nông nghiệp (Agriconfiance, của Liên minh HTX Pháp)… Tổ chức người bán lẻ và cung cấp ở châu Âu EUREP (European Retail Products) công bố tiêu chuẩn EUROP GAP (European Retail Products Good Agriculture Practice) Đây là hệ thống quản lí chất lượng rất đa dạng Hệ thống chất lượng thoả thuận đảm bảo cho các tác nhân kinh tế khác nhau thống nhất, cam kết xây dựng nên chất lượng sản phẩm nhất định với các thương hiệu, nhãn mác thương mại Có nhiều tiêu chí phân loại chất
Trang 11lượng: như theo sản phẩm, qui trình sản xuất, tác nhân kinh tế (hộ nông dân, tổ chức của những nhà sản xuất, người phân phối) Quy trình tham chiếu được Nhà nước duyệt: Rượu vang chất lượng cao và sản phẩm có tên gọi xuất xứ, nông nghiệp hợp lý
Trong sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới cũng áp dụng cả 3 hình thức này Tuy nhiên với mức độ khác nhau tùy từng thị trường như đối với châu Âu, Mỹ hay Nhật Bản Những vẫn đề được quan tâm nhất ở đây là hoa phải đạt chất lượng cao, mẫu
mã đẹp đặc biệt là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật phải ở ngưỡng cho phép và không mang các loại côn trùng, sâu bệnh hại ở trên các mẫu hoa Do đó,Việt Nam chúng ta muốn thâm nhập vào các thị trường nội tiêu cũng phải lưu ý vấn đề này, và bắt đầu ngay
từ khâu nhập giống, sản xuất giống và trồng hoa thương phẩm theo đúng các quy trình VietGap, AsianGap hay Europgap
1.2 Công tác chọn tạo giống hoa chủ lực ở trên thế giới
Thương mại hoa cắt cành trên thế giới liên tục tăng trong những năm qua, năm
2005 đạt 40 tỷ USD, năm 2008 đạt xấp xỉ 55 tỉ USD Các chủng loại hoa chủ lực trên thế giới vẫn luôn là các loại hoa cắt cành truyền thống: Cúc, Hồng, Cẩm chướng, Đồng tiền, Lay ơn và gần đây bổ sung thêm Lyly, hoa Lan… Sản xuất, tiêu dùng hoa cắt cành mang nặng tính thời trang và vì thế nhu cầu về giống hoa mới luôn là vấn đề nóng bỏng của thị trường Vì vây, chọn tạo giống hoa là lĩnh vực khoa học công nghệ được nhiều nước quan tâm, đặc biệt là các nước tiên tiến như Hà Lan, Anh, Nhật Bản, Mỹ, Isaren, Úc, Colombia… Chỉ riêng ở Hà Lan đã có vài chục doanh nghiệp hoạt động mạnh mẽ trong lĩnh vực chọn tạo giống và cung cấp hoa cắt cành Hàng năm, các doanh nghiệp này cho
ra đời nhiều giống hoa cắt cành mới lạ, đáp ứng nhu cầu thị hiếu thị trường thế giới đem lại những lợi nhuận khổng lồ cho ngành sản xuất kinh doanh hoa của nước mình và bản thân doanh nghiệp đó Ví dụ như như hai Công ty hoa Cúc, Cẩm chướng: Royalvanzaten, Công ty hoa Hồng môn và cây giống Chiataisead… Công ty hoa Lily và hoa Hồng Oliyrozen… là những công ty hàng đầu về nghiên cứu và sản xuất hoa , các giống hoa không chỉ của Hà Lan mà còn của cả thế giới… Ngày nay, hoa cắt cành truyền thống là những loại cây trồng có tính đa dạng di truyền phong phú bậc nhất với hàng nghìn mẫu giống kinh doanh mỗi loài
Dưới đây chúng tôi có thể làm rõ một số hướng nghiên cứu chọn tạo các giống hoa cắt cành chủ lực hiện nay
a Chọn tạo giống hoa Hồng (Rosa L.)
Hoa Hồng đã được trồng ở Trung Quốc, Tây Á và Bắc Phi từ 5 ngàn năm trước [Gudinserge 2000] Sau đó hoa Hồng đã được di thực đi khắp nơi trên thế giới Hoa hồng được tìm thấy ở vùng ôn đới, từ nhiệt đới đến cận nhiệt đới, tập trung nhiều nhất ở một số nước như Trung Quốc, Mỹ, Irắc, Ethiopia Nhiều nhà khoa học đã chia hoa hồng thành
10 nhóm lớn với 115 loài Chúng phân bố ở 8 vùng chủ yếu trên thế giới: Đông Á, Châu
Á, Châu Âu, Bắc Mỹ, Ethiopia, Tây Á, Nam Á [Gudinserge, 2000]
Theo Rehder (1940) nghiên cứu 10 nhóm hoa Hồng lớn với 115 loài phân bố ở 8 vùng chủ yếu trên thế giới tập trung chủ yếu ở Đông Á, Tây Á, Châu Âu, Nam Mỹ, Bắc
Mỹ, Ethiopia thì hoa Hồng ngày nay có số lượng giống rất lớn và vô cùng phong phú về mầu sắc, kiểu dáng, hương thơm, độ bền…, nhờ dày công thuần hóa, chọn lọc lai tạo và
sử dụng nhiều phương pháp tạo giống và nhân giống hiện đại: đột biến, lai, ghép, cứu phôi, nuôi cấy bao phấn, chuyển gen… mà nguồn tài nguyên di truyền về cây hoa Hồng
Trang 12ngày càng phong phú, làm cơ sở vững chắc cho công tác nghiên cứu và tạo giống hoa Hồng, đáp ứng nhiều mục đích khác nhau của con người như sản xuất nước hoa, cắt cành,
để chậu, trồng trang trí ở các khu biệt thự, nhà vườn
Theo Gudinserge (2000) còn cho rằng, có 8 nhóm hoa Hồng có trong 10 nhóm, từ chúng hình thành nên nhiều giống hoa Hồng ngày nay Chúng đều bắt nguồn từ những nhóm có nguồn gốc từ Trung Quốc như nhóm Rotabracteât (1675), Rosa Seriea (1890), Rosa Wichuraiana (1890), sau đó là nhóm Rosagunosa từ Nhật Bản và nhóm Rosa Feslielisa (1880) từ Bắc Mỹ, nhóm Rosa Nutkana Bắc Mỹ
Như vậy trong 8 nhóm hoa Hồng cổ xưa đã hình thành nên rất nhiều loại hoa Hồng ngày nay.Trong đó có tới 4 nhóm có xuất xứ từ Trung Quốc, còn lại là Bắc Mỹ, Nhật Bản
và Châu Âu
Ngày nay, để không ngừng làm phong phú nguồn gen hoa Hồng cho công tác tạo giống, người ta đã dùng phương pháp phân tích các chỉ thị phân tử liên kết đặc hiệu với các gen của từng loài hoa Hồng để tìm kiếm các gen qui định các tính trạng về mầu sắc, kiểu dáng hoa cũng như hương thơm, đặc tính chống chịu sâu bệnh, tính thích ứng rộng với các vùng sinh thái, mùa vụ, điều kiện canh tác trong các khu nông nghiệp công nghệ cao… nên đã tạo ra vô vàn các giống hoa Hồng có giá trị cao [Weising et al, 2005], [Hubharal et al, 1992]…
Các nghiên cứu về bộ phụ hoa Hồng đã được nhiều tác giả nghiên cứu trên cơ sở
sử dụng các phương pháp RAPD, AFLP, giải mã gen… như Weising et al năm 2005, Toeses et al 1993; Zhang và Cs năm 2001 Esselink et al năm 2003 Các nghiên cứu trên đồng tập trung vào đánh giá đa dạng di truyền của các chi, loài, , các giống trong sản xuất để tìm ra khoảng cách di truyền cũng như quan hệ họ hàng giữa chúng làm cơ sở cho công tác lai tạo giống mới cũng như sử dụng các kỹ thuật cao hơn là chuyển gen với những tính trạng mong muốn vào cây hoa Hồng
Theo báo cáo hàng năm của tạp chí Oliy Rozen của Hà Lan thì số lượng các giống hoa Hồng tạo ra trên thế giới hàng năm là hơn 100 giống Trong đó riêng Hà Lan có tới hơn 45% tổng số giống được tạo ra, còn lại tập trung ở một số nước như Mỹ, Pháp, Nhật, Trung Quốc, Úc, Colombia, Ấn Độ
Thành tựu nổi bật nhất trong những năm gần đây là các nhà khoa học của Úc và Nhật Bản của 2 Công ty Florigeue (Úc) và Suitory (Nhật Bản) đã tạo ra được giống hoa Hồng độc đáo không có trong tự nhiên: là hoa có mầu xanh da trời hay xanh ngọc nhờ kỹ thuật chuyển gen (2007) Trung tâm nghiên cứu chuyền gen của Úc đã công bố tách được 1.200 gen Tuy nhiên, đến nay phương pháp tạo giống hoa Hồng có hiệu quả nhất vẫn là lai hữu tính giữa các thứ trong loài thuộc các chi khác nhau, sau đó nhờ kỹ thuật cứu phôi
để tạo được con lai, sau đó tiếp tục chọn lọc và nhân lên rồi ghép mắt để tạo nên những giống hoa Hồng mới đáp ứng được yêu cầu người tiêu dùng [Aldulber, 2001; Bugaenko, 1989; Staikov và cs, 1980; Smulders, 2006 ]
b Chọn tạo giống hoa Cúc:
Hoa Cúc (Chrysanthemum moriolium Ramat.) là một trong bốn loài hoa cắt cành
được sản xuất, tiêu dùng nhiều nhất từ Trung Quốc và Nhật Bản và với tư cách là một loại cây hoa cảnh, Cúc được trồng từ cách đây trên 3.000 ngàn năm (Zhenhua và Shouhe,
1995) Chi Chrysanthemum gồm một số loài nhị bội (2n=2x=18), tứ bội (2n=4x=36) và
lục bội (2n=6x-54) Hầu hết Cúc cắt cành kinh doanh ngày nay là các giống lục bội hoặc tạp bội, cho kích thước cây hoa lớn Tuy nhiên, việc sử dụng các loài hoang dại nhị bội và
Trang 13tứ bội, vẫn được sử dụng trong chọn tạo giống để khai thác những được tính quý như khả năng chọn tạo giống cúc bao gồm:
1) các loài thuộc chi Chrysanthemum (trên 70 loài) và các giống sản xuất;
2) các loài họ hàng gần tương hợp và;
3) các loài hoang dại (Fukai, 2003)
Fukia et al, 2000 lai tạo thành công các giống cúc thương mại với một số loại hoang dại của Nhật Bản Kết quả cho các quần thể con lai có biến di di truyền rất phong phú, chứng tỏ khả năng khai thác các nguồn gen hoang dại phục vụ công tác chọn tạo giống Cho đến nay, lai hữu tính và chọn lọc có định hướng vẫn là phương pháp tạo giống hoa Cúc cắt cành được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả nhất (Langton, 1980; Atsuko et al, 2005; Jie et al., 1995; Misutani, 2005; Chen & Li, 1995; Drewlow et al., 2007; Fukai, 2003) Gây đột biến là phương pháp cũng cho những kết quả khích lệ, tạo được một số giống có những được tính bất thường (Zhenhua & Shouhe, 1995; Eiyoro et al., 2003; Lema-Ruminska, 2004; Lema-Ruminska & Zalevska,2005; Hong et al, 2003) Bước đầu cũng đã có những nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống Cúc (Shinoyama et la, 2002) nhưng chưa nhiều
Mục tiêu của hầu hết các chương trình chọn tạo giống cúc là tạo ra các giống mới
lạ về kiểu dáng, màu sắc hoa để đáp ứng nhu cầu có tính thời trang của thị trường, sức sinh trưởng mạnh, chất lượng chùm hoa, và tăng cường tính chống chịu với những sâu bệnh chính Ngoài các đặc tính về kiểu dáng, màu sắc và khẳ năng thích ứng với điều kiện khí hậu bản địa, chương trình tạo giống hoa Cúc của Viện Nghiên cứu Nghề vườn Hàn Quốc còn nhằm chọn tạo các giống kháng rỉ sắt trắng và tính không phân cành (Joung et al.,2003) Theo Hiệp hội Hoa Cúc Mỹ, cúc cắt cành có thể phân thành 13 loại theo kiểu dáng bông hoa [irregular incurved, reflex, regular incurved, decorative, intermediate incurved, pompon, single & semi-double, anemone, spoon, quill, spider, brush&thistle, unclassified] và 4 loại theo kiể dáng chùm hoa [single, exhibit-spray tapper, spray wide] (National Chrysanthemum Society, Inc., USA, 2001) Kích thước bông hoa có thể rất lớn (22 - 25 cm) hoặc rất nhỏ (1-1,4 cm) phụ thuộc vào mục tiêu tạo giống để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng của từng thị trường Eiyo et al (2003) và Chen&Li (1997) đã có nhiều thành công trong việc tạo giống cúc có bông rất nhỏ, một xu hướng tiêu dùng tại Nhật Bản và Trung Quốc Mầu sắc của hoa Cúc do một số sắc tố phối hợp cấu thành, trong đó anthocyanin và carotenoids là các thành phần chính (Nubuo, 2000); màu vàng của cánh hoa có thể đậm hoặc nhạt phụ thuộc hàm lượng carotenoid; mầu hồng hoặc đỏ thẫm phụ thuộc hàm lượng anthocyanin; trong khi màu đồng hoặc đỏ phụ thuộc hỗn hợp anthocianin và carotenoids, hàm lượng carotenoids cao hơn anthocyanin sẽ cho màu đồng, nếu ngược lại, cánh hoa có màu đỏ Flavonoids có thể có ảnh hưởng đến các sắc thái khác của cánh hoa (Nubuo, 2000)
Chọn tạo giống cúc chống chịu sâu bệnh là vấn đề quan trọng được hầu hết các cơ
sở nghiên cứu quan tâm Takasi (1981) ứng dụng thành công phương pháp lây nhiễm nhân tạo để chọn lọc khả năng kháng bệnh rỉ sắt trắng (P horiana Hennings) Takatsu et
al (2004) áp dụng thành công phương pháp lây nhiễm nhân tạo và chọn lọc invitro đói với bệnh này Trong khi hầu hết các chương tình tạo giống sử dụng khả năng kháng sâu bệnh từ các nguồn vật liệu hoang dại, Shinoyama et al (2002) đã thành công trong việc chuyển gen kháng lepidoptera từ Bacillus thurigensis vào giống Shu-on-chikara tạo ra khả năng kháng khá tốt đối với một số loại sâu ăn lá và hoa Joung et al (2003) cũng ứng dụng công nghệ chuyển gen trong tạo giống cúc không phân cành
Trang 14c Chọn tạo giống Lay ơn:
Hoa Lay ơn thương mại (Gladiolus communis L.) là loại hoa cắt cành trồng phổ
biến trên thế giới nhờ vẻ đẹp quyến rũ và tính đa dạng phong phú về mầu sắc, kiểu dáng bông hoa Trên 260 loài thuộc chi Gladiolus phân bố rộng rãi trong vùng cận Sahara và Nam Phi là nguồn gen phong phú tạo nên các giống lay-ơn hiện đại (Ferriera et la., 1990; Cantor et al., 1998; Littlejohn&de Walt, 1992; Tombolato et al., 2002; Remotti & Loffler, 1996; Straathof et al., 1997 a&b;…) và một số bệnh do virus Thối củ và chết cây do
Fusarium là một bệnh có ý nghĩa kinh tế quan trọng và rất phổ biến ở tất cả các vùng
trồng hoa Lay-ơn Chương trình chọn tạo giống tại Viện Nghiên cứu Nghề vườn Hàn Quốc còn có mục tiêu là chọn các giống nở hoa đều (gần đồng loạt trên cành) và hoa có hương thơm (Joung et al., 2003)
Để có cơ sở chọn tạo giống hiệu quả, các nghiên cứu di truyền học đối với các tính trạng quan trọng cũng đã được tác giả tiến hành Kết quả nghiên cứu của Straathof et al (1997) cho thấy ở Lay-ơn di truyền tính kháng Fusarium có cơ chế đa gen và giá trị di truyền của các genotype bố mẹ tương quan khá chặt chẽ với khả năng kháng của các dòng lai được chọn Ở hầu hết các cặp lai, khả năng kháng Fusarium ở Lay ơn là một đặc tính nửa trội, tuy nhiên, cũng tìm thấy một số loại hoang dại có khả năng kháng tuyệt đối Kết quả của nhóm tác giả cũng cho thấy có khả năng kháng cao trong nhóm vật liệu “bông lớn”, nhưng không tìm thấy khả năng kháng trong nhóm các vật liệu “hoa nhỏ” Một vài
dòng vật liệu thuộc loài G.dalenii không có triệu chứng nhiễm khi lây nhiễm nhân tạo,
chứng tỏ khẳ năng miễn dịch với bệnh (Straathof et al., 1998) Loffler et al (2000), bước
đầu tiến hành ứng dụng công nghệ chuyển gen trong tạo giống Lay-ơn kháng Fusarium,
nhưng chưa có những thành công ứng dụng trong thực tiễn
Các sắc tố tạo nên màu sắc đa dạng, phong phú cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Takemura et al (2005) cho công bố rằng anthocianins là sắc tố chủ yếu tạo nên mầu sắc của hoa Lay ơn, nhưng mầu sắc có thể biến đổi do sự tham gia của một số flavonoids Loại anthocyanin chủ yếu là malvidin 3,5 – O - glucoside (malvin) cùng với 3 loại khác được xác định cùng nhóm malvidin glucoides Có 8 loại flavonoids chủ yếu tham gia vào quá trình tạo mầu sắc cánh hoa Trong khi đó nhóm tác giả Cohen et al., (1986) cho thấy bên cạnh malvidin, có thêm 5 loại anthocyanins khác tham gia vào quá trình tạo màu sắc cánh hoa Tổ hợp khác nhau của các sắc tố cho những mầu sắc khác nhau của cánh hoa, tuy nhiên, dòng bố mẹ như vậy di truyền cho con cái không có sự phân ly về mầu sắc hoặc không có khác biệt, hoạc khác biệt rất ít về mầu sắc với bố mẹ
Ngoài mầu sắc, kiểu dáng bông hoa, kích thước cành hoa, bông hoa, số bông hoa/cành, và sự nở hoa đồng loạt/cành (Cantor et al., 1998; Joung et al., 2003), độ bền của bông và cành hoa cũng là các đặc điểm quan trọng đối với các nhà tạo giống hoa Lay ơn Theo hệ thống phân loại của thế giới, các giống hoa Lay ơn có thể chia làm 45 loại từ trắng nhạt đến đỏ thẫm, nâu thẫm, vàng thẫm, xanh thẫm,… Tuy nhiên, đó cũng chỉ là tương đối do mầu sắc cánh hoa biến đổi rất phong phú và liên tục, phụ thuộc vào sự pha trộn của các sắc tố như nói ở phần trên Cũng theo hệ thống này, các giống cũng có thể phân chia thành 5 loại theo kích thước cành hoa: mini, nhỏ, trung bình, lớn và khổng lồ căn cứ vào kích thước cành hoa
d Chọn taọ giống hoa Đồng tiền: Hoa Đồng tiền (Gerbera Jamesonnii bolus ex Hooker
f.) là một trong năm loài hoa cắt cành được sử dụng nhiều nhất trên thế giới (đứng thứ
năm sau hoa Hồng, Cúc, Cẩm chướng và Tulip) Tại California, lượng hoa Đồng tiền tiêu thụ hàng năm chỉ đứng sau hoa Hồng (Deng&Harbaugh, 2007) Chi Gerbera có trên 30
Trang 15loài, phân bố rộng từ Nam Mỹ, Nam Phi, Madagascar và vùng nhiệt đới châu Á Hoa Đồng tiền được ưa chuộng nhờ sự đa dạng, phong phú về kiểu dáng, mầu sắc và vẻ đẹp thuần khiết, trong trắng truyền thống và đôi khi là cảm giác hân hoan, vui vẻ của nó Hiện nay, có hàng nghìn giống Đồng tiền cắt cành và vườn cảnh được trồng và thương mại phổ biến trên thế giới
Chọn tạo giống hoa Đồng tiền cắt cành ngày nay vẫn dựa chủ yếu vào phương pháp lai hữu tính và tập trung chủ yếu vào các mục tiêu: kiểu dáng, mầu sắc hoa, độ cứng
và độ bền cành hoa, năng suất hoa và khả năng kháng của một số sâu bệnh chính như thối
gốc (do Phytophtora, Pythium), sương mai, nhện đỏ và virus héo đốm cà chua (tomato
spotted wilt virus - TSWV)… Cánh hoa cứng, chậm héo gục là mục tiêu chọn giống hàng đầu của hầu hết các chương trình tạo giống (Jong, 1986) Việc chọn các dòng bố mẹ có ảnh hưởng lớn đến thành công của việc chọn các giống có thân cứng và chậm héo Jong (1986) đã chọn được những dòng hoa Đồng tiền có tuổi thọ trung bình 16 - 20 ngày bằng phương pháp lai tạo và trên cơ sở kết quả nghiên cứu di truyền số lượng đã kết luận rằng 78% đặc tính này được di truyền từ các vật liệu bố mẹ để dùng lai Jong & Garretsen (1984) cũng kết luận rằng khả năng phối hợp chung (GCA) của các dòng bố mẹ rất có ý nghĩa đến di truyền các đặc tính năng suất hoa, tính chín sớm và số chồi nách của con lai
Họ cũng phát hiện tính tương quan di truyền thuận khá chặt giữa số chồi nách tại thời điểm hoa bung phấn của hoa đầu tiên và năng suất hoa tổng số Trong quá trình chọn lọc
và phát triển quần thể tạo giống Huang et al (1995) đã chứng minh rằng chọn lọc dài hạn rất thành công và cần thiết để cải thiện nền di truyền của quần thể vật liệu tạo giống tại Davis, California Chỉ về năng suất tổng số, mức cải thiện được là 33 cành hoa sau 16 thế
hệ lai tạo Trung et al (2004) đã tạo được giống Đồng tiền Sunnyeo cho năng suất 50,4 cành hoa, với tuổi thọ trung bình 9,1 ngày Sau đó, nhóm này tiếp tục tạo được giống Candy có năng suất 115,5 cành hoa với tuổi thọ 12,8 ngày (Trung et al., 2005) bằng con đường lai tạo
Với hoa Đồng tiền, các nghiên cứu về các sắc tố cũng được tiến hành bởi Tyrach
& Horn (1997) Màu sắc của hoa Đồng tiền do các sắc tố anthocyanins, carotenoids và flavonoids tạo nên Kết quả nghiên cứu của nhóm cho thấy hiệu ứng gen lặn epistatic đối với mầu sắc xanh và lặn đồng hợp tử cho các mầu không có sắc xanh Có ít nhất 3 gen kiểm soát hệ quả mầu sắc này nhưng cũng có các gen tương hỗ khác có ảnh hưởng Gen fns + kiểm soát quá trình tổng hợp flavone và có hiệu ứng tương hỗ mạnh với các gen điều khiển tổng hợp anthocyanins
GCA được phát hiện là thành phần của tổng biến dị di truyền trong quần thể con
lai về tính kháng bệnh thối gốc do Phytophora criptogea ở đồng tiền, chứng tỏ hiệu ứng
gen cộng có ý nghĩa quyết định hơn đối với chọn lọc đặc tính này (Sparnaaij et al.,1974) Ứng dụng phương pháp sinh học phân tử, Korbin (2006) đã chuyển gen Nucleocapsid của TSWV, làm vật liệu cho chương trình tạo giống tại Viện Nghiên cứu cây ăn quả và Nghề vườn Ba Lan
Hoa Đồng tiền được phân loại theo mầu sắc thành 8 nhóm cơ bản: vàng đậm (gold), cam vàng (yellow), hồng đào (peach), đỏ, trắng – kem, hồng thắm (pink - rasp) và hồng sáng Trong mỗi nhóm, hoa có thể đậm nhạt hoặc pha trộn sặc sỡ trong phạm vi nhóm tông màu Kiểu dáng có thể là cánh đơn, trung gian hoặc cánh kép với vòng tâm đen, nâu, vàng hoặc xanh Kiểu đặc biệt là kiểu cánh chân nhện (cánh mảnh, có dạng tua) Các chương trình tạo giống thường định hướng hình thức theo nhu cầu thị hiếu của thị trường mục tiêu, nhưng đều nhắm tới việc tạo ra các kiểu dáng, hình thức mới lạ
Trang 16e Chọn tạo giống Cẩm chướng: Cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.) là một trong
năm loài hoa cắt cành được sản xuất kinh doanh nhiều nhất trên thế giới Theo Wikipedia, hoa Cẩm chướng đã được trồng và sử dụng từ 2000 năm nay Hoa Cẩm chướng được ưa chuộng rộng rãi nhờ vẻ đẹp thanh lịch, dịu dàng cùng với tính đa dạng, phong phú về kiểu dáng, màu sắc của nó Cẩm chướng thường tượng trưng cho tình yêu và thiện cảm Chi
Dianthus có trên 300 loài, phân bố chủ yếu trong vùng Điạ Trung hải, Cận đông, nhưng
chỉ có D.carryophyllus và D.Barbatus có ý nghĩa là hoa thương mại Tuy vậy, nhiều loài
hoang dại được sử dụng làm vật liệu lai tạo trong các chương trình tạo giống (Nimura et al., 2006; Guobao et al., 1995)
Hầu hết các chương trình tạo giống Cẩm chướng ngày nay đặt mục tiêu là chọn tạo các giống mới lạ về kiểu dáng, mầu sắc, đáp ứng thị hiếu tiêu dùng có tính thời trang của thế giới Tại Đại học Arkansas (Mỹ) các nhà nghiên cứu đã chọn tạo được giống Cẩm chướng xanh Moondust (2007) Tương tự, bằng phương pháp chuyển gen các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã tạo được giống Cẩm chướng mầu xanh (blue) (Yoshikazu, 1999) Các giống mới lạ này được bước đầu đưa vào sản xuất kinh doanh
Khả năng kháng các sâu bệnh hại chủ yếu như thối rễ và gốc do Fusarium spp.,
chết yểu do vi khuẩn, là mục tiêu quan trọng của nhiều chương trình tạo giống Eyephet et al., 1991, 1993, 1997; Onozaki et al., 2004., 2003; Blanc, 1993)
(Ben-Chọn tạo giống ít mẫn cảm với ethylene và nhờ đó có tuổi thọ trung bình cao là mục tiêu quan trọng của nhiều tác giả (Onozaki et al., 2001; Tanase et al., 2008; Wu et al., 2008) Onosaki et al., 2001 đã chọn được một số dòng có khả năng sản xuất ethylene rất hạn chế hoặc ít mẫn cảm với ethylene Kết quả này chắc chắn sẽ góp phần tích cực cho công tác tạo giống Cẩm chướng có tuổi thọ cành hoa cao trong tương lai
Mầu sắc hoa cẩm chướng được Hội hoa Cẩm chướng Anh phân loại rất phức tạp với giải tông mầu lên đến hàng trăm Kiểu dáng cành hoa phổ biến nhất hiện nay là cành hoa đơn hoặc hoa chùm Bông hoa cũng được phân loại thành hoa kép (phức), hoa nửa đơn hoặc hoa đơn Xu hướng phát triển mạnh hiện nay của một số thị trường (Nhật Bản, Trung Quốc) là các giống hoa chùm, bông nhỏ vừa phải Tuy nhiên, hoa đơn, bông lớn vẫn là một trào lưu thịnh hành ở nhiều thị trường truyền thống như Châu Âu và Bắc Mỹ
• Công ước Quốc tế về Bảo hộ giống cây trồng mới: Công ước quốc tế về bảo hộ
giống cây trồng mới được thông qua ngày 2/12/1961 được sửa đổi tại Giơ-ne-vơ ngày 10/11/1978 và 19/3/1991 (UPOV, 1991) quy định quyền tác giả của Nhà tạo giống mới được bảo hộ Tinh thần cơ bản của Công ước này là:
a Các hành vi liên quan đến việc sử dụng giống cây trồng được bảo hộ phải được phép của Nhà tạo giống (tác giả giống): 1) Sản xuất hoặc nhân giống; 2) Chế biến nhằm mục đích nhân giống; 3) Chào bán; 4) Bán hoặc các cách tiếp cận thị trường khác; 5) Xuất khẩu; 6) Nhập khẩu; 7) Tàng trữ nhằm thực hiện các hành vi bất kỳ nên tại các điểm 1-6;
b Nhà tạo giống có thể cho phép người khác thực hiện quyền của mình phù hợp với các điều kiện và hạn chế nhất định (Điều 14, chương V)
Các ngoại lệ đối với quyền của Nhà tạo giống bao gồm: 1) các hành vi được thực hiện phục vụ mục đích cá nhân và mục đích phi thương mại; 2) Các hành vi được thực hiện nhằm mục đích thí nghiệm; 3) Các hành vi được thực hiện nhằm mục đích lai tạo các giống cây khác (Điều 15, chương V)
Để bảo đảm quyền lợi của tác giả giống cây trồng, những người sử dụng giống mới được bảo hộ thường phải nộp một khoản lệ phí quyền tác giả cho Nhà tạo giống, các
Trang 17khoản lệ phí bảo hộ giống này có thể từ vài % đến 30% giá trị thương mại sử dụng giống
và tuỳ từng loại giống cây trồng
Như vậy để tiếp tục phát triển sản xuất hoa cắt cành tại Đà Lạt, Lâm Đồng cũng như trong cả nước và xuất khẩu hoa trong bối cảnh hội nhập WTO và tham gia Công ước Quốc tế về Bảo hộ giống cây trồng mới, Việt Nam cần phải đóng lệ phí quyền tác giả cho các giống hoa cắt cành nhập nội (cũng như nhiều loại cây trồng khác) Với các giống mới được chọn tạo và đưa vào sử dụng khoản lệ phí này sẽ rất lớn và sẽ có tác động gia tăng chi phí sản xuất hoa, giảm các lợi ích về kinh tế, trong khi đa số người sản xuất hoa ở nước ta là các nông hộ nhỏ, thiếu vốn đầu tư
2.Tình hình nghiên cứu trong nước
2.1 Sản xuất và tiêu thụ hoa trong nước
Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn diện tích trồng hoa cây cảnh cả nước hiện nay khoảng 15.000 ha, tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng, thành phố
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Nam Định, Bến Tre, Đồng Tháp ,Vĩnh Long
Riêng diện tích cây hoa của Đà Lạt và các huyện hiện nay khoảng hơn 3115 ha, tập trung tại các vùng chuyên canh hoa của Đà Lạt, Đức Trọng và một diện tích nhỏ ở Lạc Dương, Di Linh, Bảo Lộc Những giống hoa được trồng với diện tích lớn, sản lượng cao
là Địa lan (Cymbidium), Phong lan (Oncidium, Phalaenopsis), hoa Cúc (Chrysanthenum), hoa hồng (Rosa Sp), hoa Lily (Lilium longiflorum), Đồng tiền (Gerbera), Lay ơn (Gladious communis), Cát tường, Cẩm chướng (Dianthus cariophyllus L.), Ngàn sao (Gypsophyla paniculata L.)… Ngoài những loài hoa được trồng với mục đích cắt cành,
Đà Lạt còn có nhiều loại hoa được trồng với mục đích trang trí cho sân vườn Đó là các
giống hoa như: Agapang (Agapanthus africanus L Hofm); Báo vũ (Zephyranthes rosea
speng Linds.); Chuối hoa (Cana indica L.); Thiên lý (Telosma cordata Burm.f Merr.)
Sousi (Calendula Officinalis L.); Margarite (Chrysanthemum maximum Ramax.); Bất tử (Helichrysum bracteatum (Vent.) Andr.)…
Những năm về trước, phần lớn hoa, cây cảnh ở Đà Lạt được trồng trong điều kiện
tự nhiên, nhân giống và canh tác theo phương pháp truyền thống, chất lượng hoa không cao Gần đây, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật đã góp phần nhân nhanh lượng cây giống, phục vụ kịp thời cho sản xuất, tạo ra các sản phẩm hoa chất lượng cao, đồng đều và ổn định
Doanh thu bình quân 130-150 triệu đồng / ha / năm Có mô hình trồng Lan, nuôi
cá cảnh đạt 1-2 tỷ đồng / ha / năm Cả nước xuất khẩu khoảng 25 triệu USD / năm bằng 1/10 so với Singapore; 1/16 Đài Loan; 1/30 so với Thái Lan
Trồng hoa thông dụng có hiệu quả trung bình từ 10 đến 20 lần trồng lúa, nếu trồng các loại hoa cao cấp như Lan và Lily thì hiệu quả rất cao bằng 60 -70 lần trồng lúa, nhưng đầu tư ban đầu khá lớn trong đó nhập khẩu giống chiếm tới 70% vì giống trong nước không đạt yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng
Do đó, hầu hết các giống hoa cắt cành ôn đới truyền thống sản xuất tại Việt Nam,
kể cả Đà Lạt và vùng ven là giống có nguồn gốc nhập nội Đa số là những giống đã hết thời gian bảo hộ quyền tác giả, lạc hậu, không phù hợp với thị hiếu hiện đại của các thị trường xuất khẩu tiềm năng (Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, ) Với số khác còn được bảo hộ thì quyền tác giả là vấn đề trở ngại khi sản xuất, kinh doanh ở quy mô lớn trong
Trang 18bối cảnh hội nhập, tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Công ước Quốc tế về Bảo hộ giống cây trồng mới của UPOV, đặc biệt là khi tiếp cận thị trường xuất khẩu
Hiện nay, ngoài Đà Lạt Hasfarm (đơn vị sản xuất và cung cấp hoa lớn nhất nước), đang có thêm nhiều doanh nghiệp đầu tư lớn cho việc trồng và sản xuất hoa phục vụ thị trường trong nước và tiến tới xuất khẩu Một xu hướng khác là các công ty nước ngoài đến đầu tư sản xuất hoa tại Việt Nam Công ty Ateko (100% vốn Hàn Quốc) đầu tư các khu nhà kính trồng hoa Xương rồng(XR) ở 31 Quang Trung (Đà Lạt) Việc kinh doanh hoa Xương rồng có rất nhiều triển vọng bởi nhu cầu về sản phẩm này không ngừng gia tăng với thị trượng rộng lớn ở châu Âu, châu Á và cả châu Mỹ nữa, đặc biệt là các nước
Mỹ, Pháp, Braxin, Mehico, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản Hàn quốc đầu tư sản xuất hoa Xương rồng tại Đà Lạt là vì điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở đây khá lý tưởng, đồng thời giá nhân công tương đối rẻ nên tạo sức cạnh tranh với chính XR của công ty mẹ ở Hàn Quốc Do đó, thời gian tới, Công ty sẽ tăng cường sản xuất XR tại Đà Lạt và một số vùng khác như Đức Trọng, Đơn Dương… nhằm thay thế XR Hàn Quốc bằng XR Việt Nam để xuất đi nước ngoài
Ngay trong nước “hoa” Xương rồng cũng rất được ưa chuộng Từ giữa năm 1998 đến nay Ateko đã sản xuất gần chục ngàn đơn vị (cành) XR và sản phẩm làm ra đến đâu được tiêu thụ hết đến đó thông qua các đại lý tại Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bến Tre…
Các nghiên cứu về thị trường hoa ở Việt Nam và các tiềm năng trên thị trường Quốc tế của Việt Nam hầu như chưa có Các ngành hàng chủ yếu tự phát chứ chưa có những nghiên cứu để nhằm phát triển các ngành hàng chất lượng cao Các nghiên cứu và tác động vào tổ chức ngành hàng dựa trên cơ sở nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng trong thời gian gần đây đã được Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Hệ thống nông nghiêp - Viện Cây Lương thực cây thực phẩm tiến hành đối với các nông sản như lúa Tám xoan Hải Hậu, vải thiều Thanh Hà, chuối Ngự Đại Hoàng, hồng không hạt Bắc Kạn, rau an toàn Hà Tây, thịt lợn an toàn Nam Sách, gà an toàn Yên Phong… Để sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao cần có các thể chế tổ chức sản xất tập thể như Hiệp hội, Hợp tác xã, tiếp cận nghiên cứu – tác động này có thể được áp dụng cho các ngành hàng sản xuất hoa của Đà Lạt để đa dạng các kênh phân phối trong và ngoài nước
2.2 Những kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng trong thực tế sản xuất
Cho đến nay, chọn tạo giống hoa cắt cành còn là lĩnh vực mới mẻ, chưa có đơn vị,
cá nhân nào chính thức bước chân vào Một số đơn vị có chức năng về nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng bước đầu tiếp cận lĩnh vực giống hoa, nhưng mới chỉ ở mức độ nhập nội và tuyển chọn như Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện nghiên cứu Rau quả, Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau & Hoa (P.X.Tùng & cs., 2004 a&b) Song sản xuất còn ở quy
mô nông hộ, nhỏ lẻ và chưa tiếp cận được với thị trường xuất khẩu nên chưa nảy sinh các vấn đề phức tạp về quyền tác giả giống Mới chỉ có một số giống hoa nhập nội đã được khảo nghiệm, tuyển chọn và công nhận cho sản xuất Chưa có đơn vị nào chính thức có những giống mới chọn tạo trong nước được công nhận, đăng ký bảo hộ
Với điều kiện khí hậu mát lạnh quanh năm, tại Đà Lạt và vùng ven, nhiều loài hoa cắt cành có nguồn gốc ôn đới có thể sản xuất được quanh năm với chất lượng rất tốt Đây
là lợi thế tiềm năng của tỉnh Lâm Đồng so với những vùng khác trong nước, trong khu vực và thế giới Khả năng sản xuất, cung cấp quanh năm càng đặc biệt quan trọng khi xuất khẩu là định hướng phát triển của vùng sản xuất hoa cắt cành Lâm Đồng
Trang 19Các nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa ,Viên Di Truyền Nông Nghiệp,Viện Nghiên Cứu Rau Quả, Viên Khoa học Nông Nghiêp Việt Nam trong thời gian qua cho thấy trong điều kiện Đà Lạt, việc chọn tạo giống hoa cắt cành là rất có triển vọng Các cơ quan nghiên cứu đã bước đầu lai tạo, chọn lọc được một số giống hoa Cẩm chướng, Đồng tiền, Cúc, Lay ơn có mầu sắc, kiểu dáng đẹp có nhiều triển vọng đưa vào sản xuất Tuy nhiên, do hạn chế về kinh phí nghiên cứu công tác này còn được tiến hành ở quy mô nhỏ Để có bộ giống hoa cắt cành đẹp, độc đáo của Việt Nam nói trung và
Đà Lạt nói riêng , giảm nhẹ chi phí đóng góp quyền tác giả, cần đầu tư kinh phí tiếp tục đẩy mạnh công tác chọn tạo giống cho các viện nghiên cứu về hoa cây cảnh trong cả nước
Mặc dù công tác nghiên cứu về hoa cây cảnh của nước ta mới bắt đầu gần 20 năm nhưng cũng đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ :
Đã tuyển Chọn thành công các giống hoa phục vụ sản xuất như: giống hoa Hồng VR2, VR4, VR6; giống hoa Cúc CN - 98, CN01, CN02, CN43, CN44, CN 05.1,
CN 05.3 ; giống hoa Cẩm chướng Niva và Super Green; giống hoa Lan HL3, HT1, HT2, HT3; giống hoa Lay ơn DL1, DL3 và Đỏ đô tươi; giống hoa Lily Sorbonne và Acapulco; giống hoa Đồng tiền Piton và Sanata , G04.5, G04.7…
Đã bước đầu thành công trong việc tạo ra những giống hoa mang bản quyền Việt Nam nhờ phương pháp lai tạo giữa các giống nhập nội và các giống địa phương như các giống Lay ơn ĐL1, ĐL2, Cá giống Đồng tiền ĐT1, ĐT4, ĐT6, các giống cúc xử lí đột biến…các giống hoa mới này đang được tiếp tục chọn lọc để đưa vào sản xuất trong thời gian tới
Đã xây dựng được quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cho một số chủng loại hoa ngắn ngày như: hoa Cúc, hoa Đồng tiền, hoa Cẩm chướng;
Bước đầu xây dựng được quy trình về chế độ chiếu sáng bổ sung cho hoa Cúc, đảm bảo tiếp kiệm và hiệu quả;
Nghiên cứu sản xuất thành công giá thể tổng hợp phục vụ trồng hoa Lan và các loài hoa cảnh có giá trị kinh tế khác thay thế nguồn giá thể dớn truyền thống hiện nay;
Tạo ra được một số sản phẩm áp dụng thử nghiệm trong việc bảo quản hoa sau thu hoạch;
Xác định được nguyên nhân gây bệnh thối củ hàng loạt trên cây Địa lan tại Đà Lạt và xác định được các biện pháp phòng trừ hiệu quả;
Xây dựng được các quy trình nhân giống một số loại hoa bằng kỹ thuật nuôi cấy
mô (in vitro)
Tuy nhiên, việc ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện đại, khai thác có hiệu quả hơn nữa nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ta trong công tác phát triển sản xuất hoa theo quy mô công nghiệp để tạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đặc biệt là xuất khẩu còn nhiều hạn chế, cần tiếp tục nghiên cứu để khai thác tối đa tiềm năng của mỗi vùng, trong đó đặc biệt là Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng
III MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Mục tiêu
Xây dựng được cơ sở và luận cứ khoa học để phát triển sản xuất hoa chất lượng cao, quy mô công nghiệp tại Đà lạt nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên, hạ giá thành sản phẩm và đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật trong và ngoài nước, tăng khả năng cạnh
Trang 20tranh trên thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất hoa chất lượng cao, tăng thu nhập cho người dân trồng hoa vùng Đà Lạt
Để hoàn thành được mục tiêu này chúng tôi cần phải tiến hành các nội dung nghiên
cứu sau đây:
2 Nội dung
2.1 Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và môi trường có liên quan đến phát triển sản xuất hoa của vùng Đà Lạt;
2.2 Thực trạng sản xuất ngành hoa tại vùng Đà Lạt;
2.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ KHCN trong sản xuất hoa vùng Đà Lạt 2.4 Nhu cầu người tiêu dùng, tiêu chuẩn của các công ty, cơ sở kinh doanh, xuất nhập khẩu hoa ở thị trường hoa trong nước và trên thế giới;
2.5 Xác định một số chủng loại hoa có tiềm năng, phù hợp cho sản xuất quy mô công nghiệp hiệu quả cao, hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu;
2.6 Phân tích hiện trạng về tổ chức ngành hàng phân phối hoa và các thể chế thị trường đảm bảo;
2.7 Phân tích xu hướng phát triển sản xuất hoa tại vùng Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng;
2.8 Xây dựng đề án phát triển sản xuất hoa chất lượng cao, quy mô công nghiệp phục
vụ nội tiêu và xuất khẩu tại vùng Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Cách tiếp cận:
Tiếp cận và phân tích theo vùng về các điều kiện tự nhiên (khí hậu, thổ nhưỡng, địa
lý, thảm thực vật…) và các điều kiện kinh tế - xã hội của vùng làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch vùng
Tiếp cận trực tiếp người sản xuất hoa để phân tích hiện trạng sản xuất, xây dựng các quy trình sản xuất trung phù hợp với các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế và trong nước
Tiếp cận trực tiếp các Công ty sản xuất và kinh doanh hoa để trao đổi, thu thập ý kiến để xây dựng chiến lược phát triển hoa phù hợp
Tiếp cận chẩn đoán thị trường tiêu thụ hoa trong nước, nghiên cứu ngành hàng để xác định các thể chế thương mại hóa hoa phù hợp
3.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
Thu thập số liệu thống kê tại các cơ quan quản lý và chuyên môn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Sử dụng phương pháp “Đánh giá nhanh nông thôn (RRA)”, phương pháp “ Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA)” và điều tra bằng phiếu để thu thập các số liệu liên quan, phương pháp phân tích điểm mạnh điểm yếu SWOT
Lấy mẫu đất và phân tích đất theo các phương pháp thông dụng của Viện Thổ nhưỡng nông hoá
Phương pháp chuyên gia: Tổ chức Hội thảo khoa học để lấy ý kiến chuyên gia Phương pháp phân tích ngành hàng để chẩn đoán tác động chính sách đối với các tác nhân và nhu cầu trợ giúp của họ
Phương pháp nghiên cứu người tiêu dùng và dự đoán thị trường địa phương
Phân tích số liệu bằng các phần mềm xử lý thống kê trên máy vi tính
Trang 21IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Nội dung 1: Phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường có liên quan đến phát triển sản xuất hoa vùng Đà lạt
Kết quả thực hiện nội dung này chúng tôi đã có một báo cáo chuyên đề đầy đủ dày
102 trang, trong đó đã nghiên cứu và đánh giá rất cụ thể về điều kiện tự nhiên của Đà Lạt Trong đó chú trọng tới những vấn đề sau:
• Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, độ ẩm, lượng mưa, số giờ nắng, thổ nhưỡng…
- Đánh giá về thành phần lý hoá đất và các loại đất thích hợp cho trồng hoa
• Điều kiện kinh tế - xã hội
- Đánh giá về yếu tố xã hội (dân số, dân tộc, tập quán, tôn giáo tín ngưỡng…) có liên quan đến sản xuất hoa;
- Những vấn đề môi trường, cảnh quan du lịch của Đà lạt có liên quan đến phát triển sản xuất hoa
• Mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến phát triển
- Phía đông giáp các tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận
- Phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai
- Phía nam – đông nam gáp tỉnh Bình Thuận
- Phía bắc giáp tỉnh Đắc Lắc
Lâm Đồng nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn; nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường có nhiều tiềm năng lớn Toàn tỉnh có thể chia thành 3 vùng với 5 thế mạnh: Phát triển cây công nghiệp dài ngày, lâm nghiệp, khoáng
sản, du lịch - dịch vụ và chăn nuôi gia súc
Địa hình
Đặc điểm trung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng
Trang 22phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng
Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc xuống nam
- Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh
cao từ 1.300 m đến hơn 2.000m như Bi Đúp (2.287m), Lang Biang (2.167m)
- Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000m)
- Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và bán
bình nguyên
Địa chất, thổ nhưỡng
Tham gia vào cấu trúc địa chất tỉnh Lâm Đồng bao gồm các đá trầm tích, phun trào, xâm nhập có tuổi từ Jura giữa đến Đệ Tứ Các trầm tích, phun trào được phân ra
14 phân vị địa tầng có tuổi và thành phần đá khác nhau Các đá xâm nhập trong phạm
vi tỉnh Lâm Đồng thuộc 4 phức hệ: Định Quán, đèo Cả, Cà Ná, Cù Mông Địa phận tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía đông nam đới Đà Lạt Đới này là một khối vỏ lục địa Tiền Cambri bị sụt lún trong Jura sớm – giữa và phần lớn diện tích đới bị hoạt hoá magma kiến tạo mạnh mẽ trong Mesozoi muộn và Kainozoi
Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao gồm
ha, tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà; diện tích trồng rau, hoa khoảng 23.800 ha tập trung tại Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng Chè, cà phê, rau, hoa
ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại, có những loại giá trị phẩm cấp cao Đất có khả năng nông nghiệp còn lại tuy diện tích khá lớn nhưng nằm rải rác xa các khu dân cư, khả năng khai thác thấp vì bị úng ngập hoặc bị khô hạn, tầng đất mỏng có đá lộ đầu hoặc kết vón, độ màu mỡ thấp, hệ số sử dụng không cao Trong diện tích đất lâm
nghiệp, đất có rừng chiếm 60%, còn lại là đất trồng đồi trọc (khoảng 40%)
Đất và sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp:
a/ Phân loại và sử dụng đất đai:
Trang 23Trước 1975, các nghiên cứu về đất đai tại Đà Lạt đã nhận xét thổ nhưỡng ở đây không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, muốn canh tác có hiệu quả phải thực hiện các biện pháp cải tạo đất
Theo các nghiên cứu trước 1975, Đà Lạt có 4 nhóm đất chính:
• Loại đất podzolic vàng đỏ
• Loại đất podzolic phức tạp trên phù sa cổ
• Loại đất núi phức tạp, phần lớn là đất podzolic vàng đỏ
• Loại đất latosol nâu đỏ trên đá huyền vũ
Các nghiên cứu chuyên sâu phân loại đất đai Đà Lạt thành 3 nhóm:
• Nhóm podzolic vàng đỏ và tụ thổ :
Đất podzolic vàng đỏ phát sinh từ các loại đá hoa cương chứa nhiều Al, K, ít Fe,
Ca, Mg, Na nên kém phì nhiêu, độ chua cao (pH=4,8∹5,7)
Đất tụ thổ có ba loại: vàng, đỏ, nâu Đây là loại đất có giá trị cao trong nông học
do giàu N,P,K Cơ cấu sét pha phù sa và giàu mùn nên thích hợp cho trồng trọt
• Nhóm đất Fimnom: Có màu đỏ hay đỏ sẩm, càng xuống sâu càng nhiều sét hơn,
ít cát, độ chua thấp pH=5,5 Đất tốt, chứa nhiều Fe
• Nhóm đất phù sa: Kết cấu có nhiều đất và cát mịn, pH=6,0, chiếm diện tích nhỏ tại Đà Lạt
Các nghiên cứu này nhận định phần lớn đất sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt đều thuộc loại podzolic vàng đỏ Do kém dinh dưỡng khoáng tự nhiên nên trong quá trình canh tác nông dân phải sử dụng một lượng phân bón rất lớn Người sản xuất thích sử dụng loại đất podzolic hơn đất latosol do khả năng giữ nước của đất podzolic tốt và độ thông thoáng cao hơn nên cây trồng dễ phát triển
Sau 1975, các nghiên cứu về đất đai tại Đà Lạt được thực hiện một cách cụ thể hơn
Kết quả nghiên cứu năm 1978, Đà Lạt có 5 nhóm đất chính là đất phù sa, đất đỏ
vàng, đất dốc tụ, đất lầy và đất mùn vàng đỏ trên núi (đánh giá của Viện Quy hoạch
Thiết kế Nông nghiệp và Trường Đại học Tổng hợp xây dựng trên bản đồ 1/25.000 năm 1978) Trong đó, nhóm đất đỏ vàng, đất phù sa và đất dốc tụ được sử dụng để sản
xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ chủ yếu Trong thời gian này chưa có tài liệu nào công bố kết quả phân tích các chỉ tiêu hoá tính của đất đai ở Đà Lạt
Một số đặc điểm lý tính của các loại đất tại Đà Lạt
Loại đất Thành phần cơ giới
Tầng dày (cm)
Gley Màu sắc chủ đạo Đất phù sa suối Cát pha thịt, nhẹ >100 Yếu Xám, nâu
Nâu đỏ trên bazan Thịt trung bình,
nặng
>100 Vệt Nâu đỏ Nâu đỏ trên đaxit Thịt trung bình 70-100 Nâu đỏ, đỏ nâu
Nâu vàng trên đaxit Thịt trung bình 50-100 Nâu vàng
30-100 Vàng đỏ Vàng đỏ trên granit Thịt trung bình, nhẹ >70 TB Vàng đỏ
Trang 24Dốc tụ Thịt trung bình, nhẹ >100 Nặn
g
Xám nâu, nâu đen
Trên cơ sở các nghiên cứu vào năm 1987 về đặc điểm lý tính của đất đai tại Đà Lạt cho thấy đất có khả năng canh tác nông nghiệp chiếm 10.998 ha Trong đó đất đã
sử dụng là 3.767 ha (năm 1987), đất có khả năng phát triển nông nghiệp là 7.231 ha Đánh giá về mức độ thích nghi của cây trồng trên các loại đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt:
Đất phù sa thuận lợi cho sản xuất các loại rau cải, lúa, ngô
Đất nâu đỏ thuận lợi cho cây công nghiệp (cà phê), cây ngắn ngày (khoai tây)
Đất nâu vàng thuận lợi cho sản xuất hoa cắt cành và dược liệu artichaud
Đất đỏ vàng thuận lợi cho sản xuất hoa, artichaud, rau cải, chè, cây ăn quả
Đất vàng đỏ thuận lợi cho cây rau, cây ăn quả và cây lương thực
Năm 2000, thành phố Đà Lạt đã thực hiện phân tích 250 mẫu đất đại diện cho các vùng sản xuất nông nghiệp của địa phương
Kết quả phân tích cho thấy đất Đà Lạt có những đặc điểm sau:
Về độ pH: Đất Đà Lạt ở tầng đất mặt (0-30 cm) có pH=5.07 dến 6,10 thuộc loại
đất chua vừa
Về độ mùn: Độ mùn của đất Đà Lạt ở tầng đất mặt giao động trong khoảng
0,59%, ở tầng trung có chỉ số bình quân là 0.19% So với giá trị phân loại giàu – nghèo của độ mùn trong đất thì Đà Lạt thuộc vào đất nghèo mùn (nhỏ hơn 1%)
Về hàm lượng đạm (N): Hàm lượng đạm tổng số trong đất Đà Lạt rất thấp với
tầng mặt đạt 0,09%, tầng trung đạt 0,07%, theo chỉ tiêu đánh giá thuộc loại trung nghèo Hàm lượng đạm dễ tiêu (dạng NH4 và NO3) trong đất Đà Lạt cũng thuộc dạng nghèo với tầng mặt 3,4 mg/100g (34 ppm) và tầng trung là 3,2 mg/100g (32 ppm)
bình-Về hàm lượng lân(P 2 O 5): Hàm lượng lân tổng số trong đất Đà Lạt ở tầng mặt
là 0.07 %, thuộc loại đất trung bình Hàm lượng lân dễ tiêu trong đất Đà Lạt cũng thuộc dạng nghèo với tầng mặt bình quân là 3,1 mg/100g (31ppm), ở tầng trung là 1,8 mg/100g (18 ppm)
Về hàm lượng kali (K 2O): Hàm lượng kali tổng số trong đất Đà Lạt bình quân
ở tầng mặt là 0,74 % và ở tầng trung là 0,18%, đạt mức trung bình so với thàng đánh giá chung Hàm lượng kali dễ tiêu trong đất Đà Lạt ở tầng mặt là 12,9 mg/100g (129 ppm), thuộc loại đất giàu kali dễ tiêu Ở tầng trung là 4,3 mg/100g (43 ppm), thuộc loại đất nghèo kali
Về hàm lượng canxi (CaO) và magiê (MgO) tổng số: Hàm lượng CaO trong
đất Đà Lạt nằm ở khoảng thấp với chỉ số phân tích tầng mặt là 0,40±0,67 %, tầng trung là 0,22±0,07 % Hàm lượng MgO trong đất Đà Lạt nằm trong khoảng trung bình với chỉ số phân tích ở tầng mặt là 1,11±0,08%, tầng trung là 0,84±0,14% Về hàm
lượng mangan (Mn): Giá trị trung bình về hàm lương Mn của đất Đà Lạt ở tầng mặt là
434±1479 ppm, ở tầng trung là 436±871 ppm, thuộc loại nghèo Tuy nhiên có một số nơi hàm lượng Mn rất lớn như đất tầng mặt tại Tà Nung là 2990±4778 ppm, đất tầng trung ở phường 12 là 1973±3224 ppm
Các nguyên tố vi lượng khác như đồng (Cu), kẽm (Zn), molipden (Mo) nằm trong dãy trung bình yếu so với một số loại đất khác
Nhìn chung, đất Đà Lạt có độ mùn thấp, độ pH nằm ở mức trung bình thấp (chua), các nguyên tố khoáng đa lượng, trung lượng và vi lượng đều ở mức thấp Do
đó để tổ chức sản xuất rau hoa có hiệu quả kinh tế thì phải sử dụng một lượng lớn
Trang 25phân bón bổ sung, trong đó bổ sung các loại phân hữu cơ là một biện pháp cấp thiết
nhằm duy trì các tính chất cơ học và độ keo của đất
Báo cáo dự thảo quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai thành phố Đà Lạt năm
2002, theo bản đồ đất thành phố Đà Lạt tỉ lệ 1/25.000 được lập trên cơ sở kế thừa tài liệu và bản đồ đất đai tỷ lệ 1/100.000 của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp và
có bổ sung, toàn thành phố Đà Lạt được xác định có 5 nhóm đất chính với 12 đơn vị phân loại đất sau:
• Nhóm đất phù sa: Gồm có đất phù sa chua; đất phù sa gley (diện tích 423,64 ha)
• Nhóm đất gley: Gồm đất gley chua (diện tích 353,45 ha)
• Nhóm đất đỏ: Gồm đất đỏ chua tầng mặt nhiều mùn; đất đỏ chua giàu mùn; đất
đỏ chua nghèo bazơ (diện tích 1.358,75 ha)
• Nhóm đất xám: Gồm đất xám rất chua sỏi sạn; đất xám đỏ vàng; đất xám giàu mùn tích nhôm; đất xám tầng mặt giàu mùn rất chua và đất xám (diện tích 35.213,08 ha)
• Nhóm đất đen: Gồm đất đen giàu mùn (diện tích 557,94 ha)
Phần còn lại là đất khác và sông suối ao hồ
So sánh các đặc điểm các loại đất ở Đà Lạt với đặc điểm đất đai của Lâm Đồng cũng như tiêu chuẩn đánh giá chung của Việt nam, báo cáo đã đánh giá đất đai của Đà Lạt như sau:
• Độ phì nhiêu của đất đai ở Đà Lạt tương đối khá, diện tích đất bị thoái hoá chiếm tỷ lệ rất nhỏ
• Các loại đất thích hợp cho phát triển nông nghiệp về đại thể là phân bố khá tập trung, thuận lợi chyo tổ chức khai thác và bảo vệ Tầng dầy đất khá sâu
• Độ dốc lớn cùng với lượng mưa và cường độ mưa lớn nên đất dễ bị rữa trôi
và xói mòn, tiềm ẩn nguy cơ thoái hoá nếu không được bảo vệ tốt và sử dụng hợp lý
• Khả năng giữ nước và dinh dưỡng của đất không cao, cần đặc biệt chú trọng biện pháp bảo vệ và nâng cao hàm lượng hữu cơ trong đất
b/ Phân bố các vùng sản xuất:
Từ khi phát triển nghề trồng rau hoa, diện tích canh tác rau cải tại Đà Lạt phát triển khá nhanh với 12,3 ha năm 1938 đã tăng lên 814,63 ha năm 1968 Các vùng canh tác cũng được mở rộng đến nhiều khu vực trong thị xã Đà Lạt Hầu hết các vùng đều sản xuất các loại rau cải như cải bắp, cải thảo, cải bông, xà lách, cà rốt, khoai tây Sản lượng của các sản phẩm này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu rau cải tại Đà Lạt (khoảng 90%) các loại rau khác như củ cải trắng, hành tỏi, dâu tây, các loại rau khác chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ Trong thời gian này, sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt chưa
có sự phân vùng một cách rõ rệt Tuy vậy cũng đã bắt đầu hình thành một số khu vực sản xuất theo dạng chuyên môn hoá như:
• Khu vực Hà Đông, Nghệ tĩnh, Đa Thiện, Đa Cát: sản phẩm chủ yếu là rau cải các loại
• Khu vực Thái phiên, Nam hồ: sản phẩm ưu thế là Artichaud, hoa glayơn, lys, marguerite
• Khu vực Xuân Thọ, Trại mát: Sản phẩm ưu thế là cà rốt, một ít các loại rau cải khác
• Khu vực Xuân trường: Sản phẩm ưu thế là chè, cây ăn trái, hoa glayơn
• Khu vực An Bình, Quảng Thừa: Sản phẩm ưu thế là rau cải, cây ăn trái
Trang 26Giai đoạn từ 1975-1985: sản xuất nông nghiệp Đà Lạt đã bắt đầu có sự phân vùng sản xuất theo kế hoạch tập trung Trong thời gian đầu, hầu hết diện tích sản xuất nông nghiệp Đà Lạt tập trung vào sản xuất cây lương thực, chỉ còn một số vùng có ưu thế là vẫn tiếp tục sản xuất rau cải Do vậy sản lượng rau cải Đà Lạt trong những năm này thấp hơn những năm trước 1975
Quy hoạch sản xuất nông nghiệp Đà Lạt năm 1987 đã xây dựng các tiểu vùng sản xuất nông nghiệp của Đà Lạt một cách cụ thể dựa trên điều kiện khí hậu, phân tích các tính chất cơ học của đất đai, tập quán canh tác của nhân dân địa phương và phương hướng mục tiêu của kế hoạch phát triển sản xuất Từ các căn cứ trên, nông nghiệp thành phố Đà Lạt được phân chia làm 3 tiểu vùng:
• Tiểu vùng 1: Xã Tà Nung: Loại đất chủ yếu là nâu đõ trên bazan và vàng đỏ
trên đaxit, có tầng dầy trên 100cm, độ dốc 5-200, cây trồng chính là cà phê và cây lương thực
• Tiểu vùng 2: Gồm 12 phường (từ phường 1-phường 12): Loại đất chủ yếu là
đỏ vàng trên phiến sa, vàng đỏ trên granite và đất phù sa sông suối, có tầng dầy 70-100cm, độ dốc 3-200, cây trồng chính là rau cải, cây dược liệu, hoa cắt cành
• Tiểu vùng 3: Gồm 2 xã Xuân Thọ và Xuân Trường: Loại đất chủ yếu là đỏ
vàng trên phiến sa, nâu đỏ trên đaxit, có tầng dầy trên 100cm, độ dốc 5-250, cây trồng chính là cà phê, chè, cây ăn quả, cây rau
Quy hoạch ngành nông lâm nghiệp thành phố Đà Lạt năm 1997 xác định lại các tiểu vùng sản xuất nông nghiệp trên cơ sở đặc điểm tự nhiên của khu vực, không tác động quá mức vào hệ sinh thái nông nghiệp bằng các biện pháp canh tác để đạt mục đích cao trong sản xuất
• Ưu tiên đầu tư vào những vùng đất có độ phì cao, tầng đất canh tác dầy và có
độ dốc đưới 200, có hệ thống giao thông nội vùng tương đối thuận lợi hoặc có khả năng phát triển trong tương lai để phát triển diện tích cây trồng có giá trị kinh tế cao
• Thực hiện chuyển dần diện tích canh tác rau thương phẩm trong nội ô sang canh tác hoa, vườn cây đăc sản và chỉ trồng trọt các loại rau cao cấp có lợi tức cao Chuyển dịch một phần diện tích sang làm hạt giống rau các loại, đáp ứng cho thị trường giống của địa phương nói riêng và của khu vực miền Nam nói chung; chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn vốn, con người
để tiếp cận với kỹ thuật mới trong sản xuất giống rau
• Vùng sản xuất rau thương phẩm, rau nguyên liệu phục vụ cho chế biến, cây dược liệu được mở rộng sang các phường nông nghiệp vùng ven và các xã nông nghiệp Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất nông nghiệp
Thực hiện phát triển nông nghiệp theo các định hướng trên, đến năm 2000, vùng nông nghiệp Đà Lạt đã dần dần hình thành các vùng sản xuất như sau:
• Phường 3 -10: Cây trồng chủ yếu là cà phê và cây ăn trái đặc sản
• Phường 4 – 5 – 6: Cây trồng chủ yếu là rau cải, hoa cắt cành, cây có củ
• Phường 7- 8 – 9 –11 – 12: Cây trồng chủ yếu là rau cải, hoa cắt cành, dâu tây
• Xuân Thọ, Xuân Trường: Cây trồng chủ yếu là cây có củ, cà phê, chè
• Tà Nung: cây trồng chủ yếu là cà phê, cây lương thực
Trang 27Diện tích sản xuất nông nghiệp thuộc các phường nội ô (phường 1 – 2) không còn nhiều và đã chuyển sang làm cây giống rau, hoa để cung cấp cho các địa phương
có sản xuất nông nghiệp khác của thành phố
Kết quả kiểm tra tháng 10/2001, diện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Lạt là 9767,79 ha Trong đó, hộ gia đình cá nhân đang quản
lý sử dụng 9326,11 ha; các tổ chức kinh tế 300,07 ha; nước ngoài và liên doanh với nước ngoài 45,42 ha; UBND phường, xã 91,02 ha; các tổ chức kinh tế khác 5,17 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp tại các phường xã vùng ven (phường 7,8,11,12) và vùng nông thôn (3 xã Xuân Thọ, Xuân Trường, Tà Nung) chiếm tỷ lệ 73% với 7509,39 ha
Trang 28Bảng 1 Tích chất hoá học của đất tại Đà Lạt – Lâm Đồng
(%) (%) N K(%) 2 O P(%) 2 O 5 Độ chua trao đổi
1 Thái Phiên- Hoa Lyli 5,09 3,64 0,145 0,70 0,070 12,29 3,1 0,44 0,40 0,78
2 Thái Phiên- Hoa Lyli 5,07 3,24 0,128 0,72 0,075 12,35 4,2 0,25 0,55 0,65
3 Thái Phiên- Hoa Hồng 5,09 3,78 0,161 0,68 0,068 11,41 3,0 0,22 0.48 0,68
4 Thái Phiên- Hoa Hồng 6,00 3,80 0,167 0,71 0,069 12,44 3,7 0,43 0,56 0,79
5 Thái Phiên- Hoa Cúc 5,07 3,24 0,128 0,67 0,066 11,39 2,9 0,17 0,54 0,65
6 Thái Phiên- Hoa Cúc 5,09 3,78 0,161 0,65 0,072 10,41 3,1 0,42 0,46 0,68
7 Thái Phiên- Hoa Đồng tiền 6,00 3,80 0,167 0,72 0,065 12,44 3,7 0,40 0,65 0,60
8 Thái Phiên- Hoa Đồng tiền 5,09 3,64 0,145 0,71 0,068 12,43 4,1 0,35 0,67 0,65
9 Thái Phiên- Hoa Lay ơn 5,07 3,38 0,130 0,70 0,073 12,39 3,5 0,30 0,58 0,68
10 Thái Phiên- Hoa Lay ơn 5,10 3,24 0,128 0,72 0,071 13,19 4,2 0,25 0,44 0,79
11 Thái Phiên- Hoa Cẩm chướng 5,09 3,78 0,161 0,68 0,067 11,41 3,1 0,44 0,47 0,65
12 Thái Phiên- Hoa Cẩm chướng 5,00 3,80 0,167 0,71 0,063 12,44 5,1 0,44 0,40 0,68
13 Thái Phiên- Rau cải bắp 5,17 3,24 0,128 0,70 0,070 12,39 4,2 0,25 0,55 0,79
14 Thái Phiên- Rau Súp lơ 6,10 3,80 0,167 0,72 0,075 13,44 3,1 0,22 0.48 0,78
15 Thái Phiên- Cà rốt 5,27 3,24 0,128 0,68 0,068 11,39 4,2 0,43 0,56 0,79
16 Nam Hồ- Hoa Lyli 5,70 3,78 0,161 0,70 0,069 12,29 3,0 0,17 0,54 0,78
17 Nam Hồ- Hoa Lyli 6,00 3,80 0,167 0,72 0,066 12,35 3,7 0,42 0,46 0,60
18 Nam Hồ- Hoa Hồng 5,39 3,64 0,145 0,68 0,072 11,41 2,9 0,40 0,65 0,78
19 Nam Hồ- Hoa Hồng 5,27 3,38 0,130 0,71 0,065 12,44 3,1 0,35 0,67 0,60
20 Nam Hồ- Hoa Cúc 5,17 3,24 0,128 0,67 0,068 11,39 3,7 0,30 0,58 0,65
Trang 2921 Nam Hồ- Hoa Cúc 5,19 3,78 0,161 0,71 0,073 10,41 4,1 0,44 0,40 0,68
22 Nam Hồ- Hoa Đồng tiền 6,00 3,80 0,167 0,67 0,071 12,44 3,5 0,25 0,55 0,79
23 Nam Hồ- Hoa Đồng tiền 5,48 3,24 0,128 0,65 0,070 12,43 4,2 0,22 0.48 0,65
24 Nam Hồ- Hoa Lay ơn 5,39 3,78 0,161 0,70 0,075 12,39 3,1 0,43 0,56 0,68
25 Thái Phiên- Hoa Lay ơn 5,50 3,80 0,167 0,72 0,068 13,19 3,1 0,17 0,54 0,79
26 Nam Hồ- Hoa Cẩm chướng 5,39 3,64 0,145 0,68 0,069 11,41 4,2 0,42 0,46 0,78
27 Nam Hồ- Hoa Cẩm chướng 5,27 3,38 0,130 0,71 0,070 12,44 3,0 0,40 0,65 0,60
28 Nam Hồ- Rau cải bắp 5,67 3,24 0,128 0,70 0,075 12,39 3,7 0,25 0,67 0,65
29 Nam Hồ- Rau Súp lơ 5,79 3,78 0,161 0,72 0,068 13,44 2,9 0,22 0,40 0,68
30 Xuân Trường- Hoa Lyli 6,00 3,80 0,167 0,68 0,069 11,39 3,1 0,43 0,55 0,79
31 Xuân Trường- Hoa Lyli 5,87 3,24 0,128 0,71 0,066 12,41 3,7 0,17 0.48 0,65
32 Xuân Trường- Hoa Hồng 5,68 3,78 0,161 0,67 0,072 13,44 4,1 0,42 0,56 0,68
33 Xuân Trường- Hoa Hồng 6,10 3,80 0,167 0,68 0,065 11,43 3,5 0,40 0,54 0,79
34 Xuân Trường- Hoa Cúc 5,39 3,64 0,145 0,71 0,070 12,39 3,1 0,35 0,46 0,78
35 Xuân Trường- Hoa Cúc 5,45 3,80 0,167 0,67 0,075 11,39 4,2 0,30 0,65 0,79
36 Xuân Trường- Hoa Đồng tiền 5,39 3,64 0,145 0,65 0,068 12,41 3,0 0,44 0,67 0,78
37 Xuân Trường- Hoa Đồng tiền 5,47 3,38 0,130 0,72 0,069 11,44 3,7 0,25 0,58 0,60
38 Xuân Trường- Hoa Lay ơn 5,17 3,24 0,128 0,71 0,066 11,39 2,9 0,22 0,44 0,65
39 Xuân Trường- Hoa Lay ơn 5,29 3,78 0,161 0,70 0,072 12,41 3,1 0,43 0,40 0,68
40 Xuân Trường- Hoa Cẩm
chướng 6,00 3,80 0,167 0,70 0,065 13,44 3,7 0,17 0,55 0,60
41 Xuân Trường- Hoa Cẩm
chướng
5,90 3,64 0,145 0,72 0,068 11,43 4,1 0,42 0.48 0,65
42 Xuân Trường- Rau cải bắp 5,70 3,24 0,128 0,68 0,069 12,39 3,5 0,44 0,56 0,68
43 Xuân Thọ- Hoa Lyli 5,90 3,78 0,161 0,71 0,066 12,39 3,1 0,25 0,54 0,79
44 Xuân Thọ- Hoa Lyli 6,00 3,80 0,167 0,67 0,072 13,41 4,2 0,22 0,46 0,65
Trang 3050 Xuân Thọ- Hoa Đồng tiền 6,00 3,80 0,167 0,65 0,063 11,41 4,1 0,30 0,40 0,60
51 Xuân Thọ- Hoa Lay ơn 5,76 3,24 0,128 0,72 0,070 12,44 3,5 0,25 0,55 0,65
52 Xuân Thọ- Hoa Lay ơn 5,90 3,78 0,161 0,70 0,075 11,39 4,2 0,44 0.48 0,68
53 Xuân Thọ- Hoa Cẩm chướng 6,10 3,80 0,167 0,72 0,068 10,41 3,1 0,25 0,56 0,79
54 Xuân Thọ- Hoa Cẩm chướng 5,90 3,64 0,145 0,68 0,069 12,44 5,1 0,22 0,54 0,78
55 Xuân Thọ- Rau cải bắp 5,70 3,38 0,130 0,71 0,066 12,43 3,8 0,43 0,46 0,60
56 Xuân Thọ- Rau Súp lơ 5,57 3,24 0,128 0,67 0,072 12,39 4,2 0,17 0,65 0,60
66 An Bình- Hoa Lay ơn 5,90 3,64 0,145 0,67 0,065 12,39 3,0 0,35 0,65 0,60
67 An Bình- Hoa Lay ơn 5,75 3,38 0,130 0,65 0,068 11,39 3,7 0,30 0,67 0,60
73 Quảng Thừa- Hoa Lyli 5,50 3,24 0,128 0,67 0,069 11,43 4,2 0,43 0.48 0,65
74 Quảng Thừa- Hoa Lyli 5,45 3,78 0,161 0,65 0,066 12,39 3,6 0,17 0,56 0,68
75 Quảng Thừa- Hoa Hồng 5,70 3,24 0,128 0,72 0,072 12,39 5,1 0,42 0,40 0,65
76 Quảng Thừa- Hoa Hồng 5,90 3,78 0,161 0,70 0,065 13,41 4,2 0,40 0,55 0,68
77 Quảng Thừa- Hoa Cúc 6,00 3,80 0,167 0,72 0,068 11,44 3,1 0,35 0.48 0,79
78 Quảng Thừa- Hoa Cúc 5,75 3,24 0,128 0,68 0,070 12,39 4,2 0,30 0,56 0,65
79 Quảng Thừa- Hoa Đồng tiền 5,95 3,78 0,161 0,71 0,075 11,41 3,0 0,25 0,54 0,68
80 Quảng Thừa- Hoa Đồng tiền 6,00 3,80 0,167 0,67 0,068 11,44 3,7 0,44 0,46 0,79
Trang 3181 Quảng Thừa- Hoa Lay ơn 5,99 3,64 0,145 0,65 0,069 12,43 2,9 0,25 0,65 0,78
82 Quảng Thừa- Hoa Lay ơn 5,75 3,38 0,130 0,65 0,066 11,44 3,1 0,22 0,67 0,60
83 Quảng Thừa- Hoa Cẩm chướng 5,60 3,24 0,128 0,72 0,072 12,29 3,7 0,44 0,58 0,60
84 Quảng Thừa- Hoa Cẩm chướng 5,90 3,78 0,161 0,71 0,065 12,35 4,1 0,25 0,44 0,65
85 Quảng Thừa- Rau cải củ 6,00 3,80 0,167 0,70 0,068 11,41 3,5 0,22 0,40 0,68
86 Quảng Thừa- Rau Súp lơ 5,80 3,64 0,145 0,72 0,073 12,44 4,2 0,43 0,55 0,79
87 Quảng Thừa- Tỏi tây 5,75 3,38 0,130 0,68 0,070 11,39 3,1 0,17 0.48 0,65
88 Đa Thiện- Hoa Lyli 5,70 3,24 0,128 0,70 0,075 10,41 3,4 0,42 0,56 0,68
89 Đa Thiện- Hoa Lyli 5,90 3,78 0,161 0,72 0,068 12,44 4,2 0,40 0,54 0,79
90 Đa Thiện- Hoa Hồng 6,00 3,80 0,167 0,68 0,069 12,43 3,0 0,44 0,46 0,78
91 Đa Thiện- Hoa Hồng 5,75 3,24 0,128 0,71 0,066 12,39 3,7 0,25 0,65 0,79
92 Đa Thiện- Hoa Cúc 5,65 3,78 0,161 0,67 0,072 13,19 2,9 0,22 0,67 0,78
93 Đa Thiện- Hoa Cúc 5,45 3,80 0,167 0,70 0,069 11,41 3,1 0,43 0,58 0,60
94 Đa Thiện- Hoa Đồng tiền 5,90 3,64 0,145 0,72 0,066 12,44 3,7 0,17 0,40 0,78
95 Đa Thiện- Hoa Đồng tiền 5,75 3,38 0,130 0,68 0,072 12,39 4,1 0,42 0,55 0,60
96 Đa Thiện- Hoa Lay ơn 5,70 3,24 0,128 0,70 0,065 13,44 3,5 0,40 0.48 0,65
97 Đa Thiện- Hoa Lay ơn 5,90 3,78 0,161 0,72 0,068 11,39 4,2 0,35 0,56 0,68
98 Đa Thiện- Hoa Cẩm chướng 6,00 3,80 0,167 0,68 0,073 12,41 3,1 0,44 0,54 0,79
99 Đa Thiện- Rau cải 5,97 3,64 0,145 0,71 0,071 13,44 5,1 0,25 0,46 0,65
100 Đa Thiện- Rau Xà lách 5,75 3,38 0,130 0,67 0,067 11,43 4,2 0,22 0,65 0,68
107 Đức Trọng - Hoa Lay ơn 5,45 3,38 0,130 0,65 0,065 13,19 3,0 0,25 0,67 0,65
108 Đức Trọng - Hoa Lay ơn 5,65 3,24 0,128 0,72 0,068 11,41 3,7 0,17 0,58 0,68
109 Đức Trọng - Hoa Cẩm chướng 5,90 3,78 0,161 0,72 0,073 12,44 2,9 0,42 0,44 0,79
110 Đức Trọng - Hoa Cẩm chướng 5,80 3,64 0,145 0,72 0,066 12,44 3,7 0,40 0,40 0,78
111 Đức Trọng - Rau Xà lách 5,70 3,38 0,130 0,68 0,072 12,39 4,1 0,35 0,55 0,60
Trang 322 Hoa cúc đã thu hoạch 7,2 1,32 0,24 0,051 0,22 3,57 7,41 0,25 6,34 2,66
3 Hoa cúc đang phát triển tốt 6,8 1,05 0,25 0,045 0,40 4,51 7,01 0,22 6,24 2,46
4 Hoa Lay ơn mới trồng 4,8 1,32 0,15 0,053 0,14 2,01 6,01 0,43 8,00 5,70
5 Đất trồng rau (cải bắp, súp lơ, cà rốt ) 5,7 2,46 0,23 0,030 0,30 0,90 2,61 0,17 6,34 1,06
6 Hoa Đồng tiền đang phát triển tốt 5,8 2,31 0,32 0,057 0,36 4,31 12,02 0,42 6,66 4,24
7 Hoa Đồng tiền đã thu hoạch 4,8 1,89 0,49 0,053 0,18 3,69 4,41 0,40 5,60 2,10
8 Hoa Cẩm chướng 4,2 1,59 0,53 0,072 0,12 3,98 4,21 0,35 6,00 3,30
9 Đất trồng Hoa Hồng 6,4 2,85 0,15 0,056 0,22 4,92 6,41 0,30 6,13 2,47
10 Đất trồng Khoai tây 5,3 4,20 0,29 0,064 0,20 1,85 3,21 0,25 5,18 1,82
Trang 33Nhận xét về tính chất đất:
1) Đất trồng hoa Ly ly:
- Phản ứng đất chua, độ chua trao đổi thấp; hàm lượng Ca2+ và Mg2+ trung bình
- Hàm lượng tổng số: Hữu cơ đạt mức khá; giàu Đạm; Lân trung bình và rất nghèo Kali
- Hàm lượng dễ tiêu: Lân và Kali đều rất nghèo
2) Đất trồng hoa cúc đã thu hoạch:
- Phản ứng đất trung tính hơi kiềm, hàm lượng cation kiềm thổ (Ca2+; Mg2+) trao đổi trung bình
- Hàm lượng tổng số: Hữu cơ hơi nghèo; Đạm tổng số giàu; Lân tổng số nghèo
và Kali tổng số rất nghèo
- Hàm lượng dễ tiêu: Lân dễ tiêu ở mức nghèo và Kali dễ tiêu ở mức trung bình
3) Đất trồng hoa cúc đang phát triển tốt:
- Phản ứng đất trung tính; hàm lượng Ca2+; Mg2+ trao đổi ở mức trung bình; độ chua trao đổi thấp
- Hàm lượng dinh dưỡng tổng số: Hữu cơ tổng số thấp; Đạm giàu; nghèo Lân
và rất nghèo Kali
- Hàm lượng dễ tiêu: Kali ở mức trung bình; Lân dễ tiêu ở mức thấp
4) Đất trồng hoa Lay ơn:
- Phản ứng đất chua, độ chua trao đổi cao nhưng hàm lượng cation kiềm thổ trao đổi trung bình khá so với các loại hình sử dụng khác
- Hàm lượng các chất dinh dưỡng tổng số: Hữu cơ tổng số hơi nghèo; Đạm trung bình; Lân tổng số nghèo và rất nghèo Ka li
- Hàm lượng các chất dễ tiêu: Lân dễ tiêu ở mức trung bình; Kali rất thấp 5) Đất trồng rau mới thu hoạch tại Thái Phiên:
- Đất chua ít, độ chua trao đổi thấp, hàm lượng Ca2+ và Mg2+ trung bình
- Hàm lượng dinh dưỡng đa lượng tổng số: Hữu cơ ở mức trung bình, giàu Đạm; nghèo Lân và rất nghèo Kali
- Hàm lượng dễ tiêu: rất nghèo cả Lân và Kali
6) Đất trồng hoa Đồng tiền đang phát triển tốt
- Phản ứng đất ít chua, độ chua trao đổi thấp; hàm lượng Ca2+ và Mg2+ trung bình
- Hàm lượng tổng số: Hàm lượng hữu cơ trung bình; giàu Đạm; nghèo Lân và Kali
- Hàm lượng dễ tiêu: Lân dễ tiêu thấp; Kali dễ tiêu ở mức khá
7) Đất trồng hoa đồng tiền đã thu hoạch
- Phản ứng đất chua, độ chua trao đổi thấp, hàm lượng Ca2+ và Mg2+ trao đổi thấp
Trang 34- Hàm lượng tổng số: Hữu cơ tổng số hơi thấp; rất giàu Đạm; nghèo Lân và rất nghèo Kali
- Hàm lượng dễ tiêu: Nghèo cả Kali và Lân dễ tiêu
8) Đất trồng hoa cẩm chướng tại Thái Phiên
- Đất rất chua, độ chua trao đổi cao; hàm lượng Ca2+ và Mg2+ trung bình
- Hàm lượng các chất tổng số: Hơi nghèo hữu cơ; rất giàu Đạm; Lân trung bình
và rất nghèo Kali
- Hàm lượng dễ tiêu: Lân và Kali đều rất nghèo
9) Đất trồng Khoai tây:
- Đất chua, độ chua trao đổi thấp; hàm lượng cation trao đổi trung bình
- Hàm lượng tổng số: Hứu cơ tổng số khá; Đạm ở mức giàu; Lân trung bình và nghèo Kali
- Hàm lượng dễ tiêu: Cả Lân và Kali đều nghèo
- Hàm lượng dễ tiêu: Lân đạt ở mức trung bình; nghèo Kali
Tóm lại: Qua bảng tổng hợp giá trị trung bình về kết quả phân tích mẫu đất ở các loại hình sử dụng khác nhau tại Đà Lạt cho thấy: Đất có phản ứng đa số hơi chua, riêng đất trồng hoa Cẩm chướng đất rất chua; độ chua trao đổi ở mức phải bón vôi để cải tạo
Trong đất hàm lượng hữu cơ tổng số trung bình; Đạm tổng số cao; Lân tổng số nghèo và rất nghèo Kali tổng số
Kali dễ tiêu ở mức nghèo đến rất nghèo, Lân dễ tiêu đều ở mức rất thấp
Vì vậy trên cơ sở những kết quả này khi trồng các loại hoa khác nhau trên từng nhóm đất chúng ta phải bổ sung các chất dinh dưỡng cho cây thông qua các loại phân bón chuyên dụng cho từng loại cây trồng, trong đó có các nguyên tố đa lượng như K,P ,Ca và các nguyên tố vi lượng đặc biệt phải chú ý thì hiệu quả trồng trọt mới cao
Trang 35
Khí hậu
Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến
thiên theo độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt
độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 18 – 250C, thời tiết ôn hòa và mát mẻ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu
kỳ năm Lượng mưa trung bình 1.750 – 3.150 mm / năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85 – 87%, số giờ nắng trung bình cả năm 1.890 – 2.500 giờ, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới Đặc biệt Lâm Đồng có khí hậu
ôn đới ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình và nằm không xa các trung tâm đô thị lớn và vùng đồng bằng đông dân
Lâm Đồng có 7 tiểu vùng khí hậu:
1 Tiểu vùng khí hậu Đông Bắc núi Chư Yang Sin;
2 Tiểu vùng khí hậu cao nguyên Đà Lạt;
3 Tiểu vùng khí hậu Đức Trọng – Lâm Hà;
4 Tiểu vùng khí hậu núi thấp Nam Di Linh;
5 Tiểu vùng khí hậu cao nguyên Di Linh;
6 Tiểu vùng khí hậu cao nguyên Bảo Lộc;
7 Tiểu vùng khí hậu đồi Cát Tiên
Với đặc thù là tỉnh có biến động địa hình khá lớn, các tiểu vùng sản xuất nông nghiệp biến động độ cao từ 250 – 1.600 m so với mặt biển, trong đó tiểu vùng sinh thái trồng hoa ở Lâm Đồng chủ yếu là vùng khí hậu cao nguyên Đà Lạt, tiểu vùng khí hậu Đức Trọng – Lâm Hà và tiểu vùng khí hậu cao nguyên Bảo Lộc Trong phạm vi
đề tài này tiểu vùng khí hậu cao nguyên Đà Lạt là trọng tâm phân tích vì nó có tính quyết định đến vùng sản xuất hoa theo hướng công nghiệp của thành phố
Do đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn Các sông lớn của tỉnh thuộc
hệ thống sông Đồng Nai Ba sông chính ở Lâm Đồng là:
Trang 36• Sông Đa Dâng (Đạ Đờng)
m3/ngày – đêm Hệ thống cấp nước huyện Di Linh, công suất 3.500 m3/ngày – đêm
Hệ thống cấp nước huyện Lâm Hà, công suất 6.000 m3/ngày –đ êm Đồng thời với việc cấp nước, hệ thống xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt đang được hoàn thiện
1.2 Điều kiện kinh tế và xã hội của tỉnh Lâm Đồng
Dân tộc, dân cư
Dân số Lâm Đồng: 1.186.786 người (theo
số liệu thống kê 1/4/2009) Mật độ dân số:
123 người/km2 Trong đó dân số nông thôn
649.412 người, chiếm 61,47% Lâm Đồng
là miền đất hội tụ nhiều dân tộc anh, em trong cả nước với trên 40 dân tộc khác nhau
cư trú và sinh sống, trong đó đông nhất người Kinh chiếm khoảng 77%, đến nguời K’Ho chiếm 12%, Mạ chiếm 2,5%, Nùng chiếm gần 2%, Tày chiếm 2%, Hoa chiếm 1,5%, Chu-ru 1,5% , còn lại các dân tộc khác có tỷ lệ dưới 1% sống thưa thớt ở các vùng xa, vùng sâu trong tỉnh Lễ hội, rượu cần và dệt thổ cẩm là nét đặc trưng cho văn hóa dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng Lâm Đồng là vùng đất mới có sức thu hút dân cư trong cả nước đến lập nghiệp, quần thể dân cư ở đây chưa ổn định và liên tục biến động, hiện tượng di dân tự do trong những năm qua từ các tỉnh khác nhau trong cả nước hội tụ về Lâm Đồng tuy có giảm nhưng vẫn còn lớn, bình quân hàng năm thời
kỳ 2001-2005 có khoảng 5.000 người di cư tự do vào Lâm Đồng
Phân bố dân cư của các đơn vị hành chính trong tỉnh:
1 TP Ðà Lạt: dân số: 194.920 người – mật độ: 495 người/km2
2 TX Bảo Lộc: dân số: 150.729 người – mật độ: 648 người/ km2
3 Huyện Lạc Dương: dân số: 17.380 người – mật độ: 13 người/ km2
4 Huyện Ðơn Dương: dân số: 92.102 người – mật độ: 156 người/ km2
5 Huyện Ðức Trọng: dân số: 165.534 người – mật độ: 183 người/ km2
6 Huyện Lâm Hà: dân số: 136.777 người – mật độ: 138người/ km2
7 Huyện Bảo Lâm: dân số: 114.477 người – mật độ: 78 người/ km2
8 Huyện Di Linh: dân số: 160.829 người – mật độ: 99 người/ km2
9 Huyện Ðạ Huoai: dân số: 36.828 người – mật độ: 74 người/ km2
10 Huyện Ðạ Tẻh: dân số: 46.112 người – mật độ: 87 người/ km2
11 Huyện Cát Tiên: dân số: 41.548 người – mật độ: 97 người/ km2
Trang 37Phát triển kinh tế xã hội (nguồn: Báo Lâm Đồng tháng 12/2009)
Năm 2009, nền kinh tế của Lâm Đồng tiếp tục tăng trưởng khá, dự kiến phần lớn các chỉ tiêu đều đạt và vượt kế hoạch Do vậy, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 12,9% ( 12,5 - 13,5%) và bình quân thu nhập đầu người 16,7 triệu đồng (KH 16,5 triệu) Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 2.650 tỷ đồng, tăng 19,8% so với năm trước Thế nhưng vấn đề đặt ra là sự tăng trưởng vẫn chưa xứng với tiềm năng
Bên cạnh sự chuyển động tích cực vẫn còn nhiều hạn chế
Trước hết phải khẳng định mặc dù năm qua gặp nhiều khó khăn về thiên tai, lũ lụt, giá cả không ổn định song lĩnh vực sản xuất nông, lâm và thuỷ sản của tỉnh có nhiều chuyển biến Ước tổng giá trị sản xuất của ngành đạt 10.922 tỷ đồng, tăng 9,2%
so với năm 2008, vượt kế hoạch đề ra (KH 7,5 –8%)
Sản xuất nông nghiệp tiếp tục chuyển mạnh theo hướng tăng đầu tư chiều sâu, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi năng suất - giá trị thấp sang cây trồng, con nuôi có giá trị thu nhập cao như trồng cây cao su, ca cao, nuôi cá nước lạnh Diện tích rau và cây công nghiệp dài ngày tăng, từng bước hình thành các vùng chuyên canh theo hướng chất lượng và công nghệ cao; đặc biệt là trong lĩnh vực rau, hoa, cây đặc sản, Chè, Cà phê và nuôi cá Tầm, cá Hồi…
Lễ hội Cồng Chiêng của đồng bào dân tộc tỉnh Lâm Đồng
Trang 38HÌNH 1 : BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH LÂM ĐỒNG
Đến nay, toàn tỉnh có tổng diện tích gieo trồng hàng năm đạt trên 113.940 ha, diện tích cây lâu năm 193.975 ha (cà phê 137.633 ha cho sản lượng 300.000 tấn nhân, Chè 24.075 ha cho sản lượng búp tươi 190.135 tấn, Điều 15.680 ha cho sản lượng 6.500 tấn, Dâu tằm 3.960 ha cho sản lượng lá 42.835 tấn) Trong năm, tổng diện tích trồng mới và chuyển đổi cây công nghiệp lâu năm được 3.410 ha; trong đó: Cà phê 1.669 ha, Chè 263 ha, cây Cao su trồng mới 630 ha ở Bảo Lâm, Đạ Tẻh và Đam Rông, cây Ca cao trồng 300 ha tại ba huyện phía nam Riêng cá nước lạnh, đã có 50
ha mặt nước nuôi cá Hồi và cá Tầm cho sản lượng cá thương phẩm khoảng 300 tấn / năm… Nhìn trung Lâm Đồng là địa phương dẫn đầu về giá trị sản xuất bình quân toàn ngành nông nghiệp với con số 64 triệu đồng / ha / năm Ngành nông nghiệp đóng góp trên 80% giá trị xuất khẩu toàn tỉnh Chương tình phát triển nông nghiệp công nghệ cao có nhiều đóng góp tích cực trong chuyển giao các mô hình cho nông dân và phát huy hiệu quả khá tốt… Cùng với sự nỗ lực của ngành, chương trình kích cầu hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ nông nghiệp của tỉnh cũng đã mang lại hiệu quả Các ngân hàng
sử dụng nhiều nguồn vốn thực hiện kích cầu đầu tư đối với doanh nghiệp như hỗ trợ lãi vay, đào tạo, dạy nghề… và thực hiện tốt công tác đầu tư để giải ngân nhanh nguồn vốn Trong lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh việc cho vay vốn để nông dân thâm canh, chuyển đổi cơ cấu và giống cây trồng, vật nuôi Ngoài chính sách hỗ trợ lãi vay của Chính phủ, tỉnh hỗ trợ 1% lãi suất cho các doanh nghiệp vay vốn lưu động
để sản xuất kinh doanh Đến giữa tháng 11/2009, tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đạt 5.065 tỷ đồng, chiếm 35,6% trong tổng dư nợ; trong đó vốn hỗ trợ cho doanh nghiệp chiếm 48%, hộ gia đình và cá nhân chiếm 52%
Trang 39Cùng với ngành Nông – Lâm – Thuỷ sản, các ngành công nghiệp và thương mại, dịch vụ, du lịch cũng đã góp phần làm dịch chuyển cán cân nền kinh tế Giá trị sản xuất khu vực công nghiệp – xây dựng ước đạt trên 6.000 tỷ đồng (tăng 15,5 so với cùng kỳ), riêng ngành công nghiệp đạt trên 4.568 tỷ đồng (tăng 16% so với năm 2008) Ngành dịch vụ do thực hiện tốt các giải pháp kích cầu, nên tình hình lưu chuyển, cung ứng các mặt hàng chủ yếu phục vụ sản xuất và đời sống luôn ổn định Giá trị sản xuất của ngành ước đạt trên 3.623 tỷ đồng, tăng 16,2% so với năm trước, đạt chỉ tiêu kế hoạch Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu đều tăng, riêng hoa xuất
110 triệu cành (vượt gấp 2 lần so với kế hoạch)… Kim ngạch xuất khẩu trong năm tăng 14,5 lần so với năm 2008 Riêng đối với lĩnh vực du lịch tuy lượng khách tăng 8,6% so với năm trước (khách quốc tế giảm 33,4%) song chưa thực sự phát huy được tiềm năng, thế mạnh của địa phương Một mặt do ảnh hưởng suy giảm kinh tế toàn cầu nhưng thẳng thắn nhìn nhận thì nguyên nhân là hệ thống giao thông đối ngoại của tỉnh còn hạn chế, hoạt động của các đơn vị lữ hành yếu, thiếu sản phẩm du lịch mới, dịch vụ chưa hấp dẫn nên không thu hút khách, việc thực hiện chủ trương giảm giá buồng phòng của các khách sạn, nhà nghỉ để khuyến mãi không đồng bộ, kém hiệu quả
Nhiệm vụ, giải pháp cơ bản trong những năm tới
Tuy có chuyển động tích cực thế nhưng nhìn trung nên kinh tế Lâm Đồng vẫn phát triển chưa thật bền vững, cơ cấu kinh tế chưa chuyển dịch theo đúng định hướng
là tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp phần lớn có quy mô nhỏ, chất lượng sản phẩm thấp nên khả năng cạnh tranh trên thị trường hạn chế Ngành du lịch là thế mạnh nhưng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp đạt thấp so với kế hoạch Cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp ở một số địa phương chưa hợp lý, giá trị thu nhập / ha còn quá thấp, đặc biệt là cây Điều ở các huyện phía nam và huyện Đam Rông Thu hút đầu tư giảm về vốn (đầu tư nước ngoài chỉ bằng 48% và đầu tư trong nước bằng 88,3% so với năm trước), nhiều dự án triển khai không đúng tiến độ Kết cấu hạ tầng nhiều nơi chưa đáp ứng phục vụ sản xuất, đời sống; đặc biệt là hệ thống giao thông nông thôn, giao thông đối ngoại
Làm gì để nến kinh tế Lâm Đồng tăng trưởng xứng với tiềm năng, lợi thế và trước mắt là năm 2010 đạt chỉ tiêu tăng trưởng GDP từ 13 - 14%, GDP bình quân khoảng 18,5 - 19 triệu đồng/ người? Dự thảo Nghị quyết về Phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị năm 2010 của Tỉnh uỷ đã
đề ra một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm nhằm phát huy mặt mạnh, khắc phục những yếu kém trong lĩnh vực này Trước hết đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cần tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Chương trình hành động của Tỉnh uỷ về nông nghiệp, nông thôn, nông dân Từng bước hình thành nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, gắn với phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn Duy trì ổn định các vùng chuyên canh, vùng chăn nuôi tập trung, phát triển vùng nuôi trồng thuỷ sản, nuôi cá nước lạnh gắn với xuất khẩu
Hỗ trợ phát triển Chương trình nông nghiệp công nghệ cao ở những vùng và các loại cây trồng có điều kiện Đẩy nhanh việc thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu giống để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả; phấn đấu đạt 76 triệu đồng giá trị
Trang 40kinh tế trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn vùng sâu, vùng xa Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn Tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển nông nghiệp, nông thôn; tạo mọi điều kiện để kinh tế hộ phát triển theo hướng gia trại, trang trại, tập trung vào các ngành nghề mà địa phương có lợi thế về nguyên liệu và có triển vọng về thị trường Đối với lĩnh vực công nghiệp, cần đầu tư phát triển công nghiệp có trọng tâm, trọng điểm Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp khai khoáng, thuỷ điện và công nghiệp chế biến nông, lâm sản Gắn công nghiệp chế biến nông, lâm sản với vùng nguyên liệu và với xuất khẩu, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Đối với thương mại, dịch vụ và du lịch phải tiếp tục thu hút đầu tư, nâng cấp hệ thống chợ, trung tâm thương mại, phát triển mạng lưới chợ nông thôn; đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến du lịch, kích cầu giảm giá, thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Năm 2008, UBND tỉnh Lâm Đồng có văn bản đề nghị Chính phủ xem xét cho mở một số đường bay quốc tế và một số đường bay trong nước nhằm thu hút du khách trong và ngoài nước, đồng thời tạo điều kiện để các doanh nghiệp xuất khẩu các loại hoa quả đặc sản
Cụ thể Lâm Đồng xin mở các đường bay quốc tế trực tiếp từ Liên Khương -
Đà Lạt đến Hàn Quốc, Singapore, Campuchia, Lào và ngược lại Đồng thời khôi phục các đường bay trong nước như: Đà Lạt - Đà Nẵng, Đà lạt - Cần Thơ và ngược
lại, tăng số chuyến bay Đà Lạt - TP.HCM từ 2 chuyến/ngày lên 3-4 chuyến/ngày để đáp ứng nhu cầu đi lại bằng máy bay của du khách và vận chuyển hàng hóa hiện nay
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của thành phố Đà Lạt
a Vị trí địa lý: Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh
Lâm Đồng, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương ở phía Bắc, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm
Hà và Đức Trọng
• Phía Bắc và Tây Bắc giới hạn bởi dãy Chorơmui, Yộ Đa Myut (1.816 m), Tây Bắc dựa vào chân dãy núi Chư Yang Kae (1.921 m), thuộc quần sơn Lang Biang mà đỉnh cao nhất là Chư Yang Sinh (1.408 m)
• Phía Đông là chân dãy núi Bi Doup (2.278 m) dốc xuống cao nguyên Dran
• Phía Đông Nam chắn bởi dãy Cho Proline (1.629 m)
• Phía Nam và Tây Nam có dãy núi Voi (1.754 m) và Yàng Sơreng bao bọc Diện tích tự nhiên: 393,29 km² Đà Lạt được Thủ tướng chính phủ công nhận
là đô thị loại 1 vào ngày 24 tháng 3 năm 2009
Nguồn: www.dalat.gov.vn
b Địa hình: Cao trung bình so với mặt biển là 1.500 m Nơi cao nhất trong trung tâm
thành phố là Nhà Bảo Tàng (1.532 m), nơi thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương (1.398,2 m)