1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)

84 441 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khai Thác Và Phát Triển Nguồn Gen Cây Nguyên Liệu Giấy (Giai Đoạn 2 Của Đề Tài Năm 2008)
Tác giả ThS. Nguyễn Đức Thế
Trường học Viện Nghiên Cứu Cây Nguyên Liệu Giấy
Chuyên ngành Kỹ thuật nông nghiệp và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy
Thể loại Báo cáo kết quả
Năm xuất bản 2009
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 4,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công gô cũng là nước sớm khai thác và phát triển giống bạch đàn có gen quý vào trồng rừng cao sản, những giống bạch đàn này được chọn lọc dựa trên các tiêu chuẩn về chiều cao cây, đường

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI

CẤP BỘ NĂM 2009 TÊN ĐỀ TÀI:

KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN GEN

CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY

Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG

Cơ quan chủ trì: VIỆN NGHIÊN CỨU

Chủ nhiệm đề tài: KS Hà Ngọc Anh

Cộng tác viên: Lương Văn Thái Đơn vị: Văn phòng Bộ Công thương

7748

02/3/2010

PHÚ THỌ - 2009

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NHIỆM VỤ CẤP BỘ NĂM 2009

Tên nhiệm vụ:

KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN GEN

CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY

Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG

Cơ quan chủ trì: VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY Chủ nhiệm: ThS Nguyễn Đức Thế

Phú Thọ, 2009

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG ii

PHẦN 1 TỔNG QUAN 1

1.1 Cơ sở pháp lý của nhiệm vụ 1

1.2 Tính cấp thiết 1

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Nội dung nghiên cứu 2

1.5 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

1.5.1 Trên thế giới 3

1.5.2 Ở Việt Nam 7

PHẦN 2 THỰC NGHIỆM 12

2.1 Phương pháp nghiên cứu 12

2.1.1 Thiết kế thí nghiệm 12

2.1.2 Thu thập số liệu 14

2.1.3 Xử lý số liệu 15

2.2 Kết quả và thảo luận 16

2.2.1 Xây dựng vườn cây giống có gen quý phục vụ lai tạo và phát triển giống 16

2.2.2 Nghiên cứu cỡ chiều cao ken vỏ tạo chồi hom bạch đàn và Keo tai tượng 20

2.2.3 Đánh giá nguồn gen của các giống bạch đàn và Keo tai tượng có nguồn gen quý đã được khai thác phát triển từ năm 2007 24

PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34

3.1 Kết luận 34

3.2 Kiến nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ BIỂU 38

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Giống cây nguyên liệu giấy trồng ở vườn cây đầu dòng 17 Bảng 2.2 Danh mục giống đưa vào khai thác, chủng loại và số lượng vật liệu nhân giống năm 2009 19 Bảng 2 3 Tỷ lệ cây Keo tai tượng 9 tuổi và 6 tuổi ra chồi mới 21 Bảng 2.4 Tỷ lệ cây sống, cây chết của 5 giống Keo tai tượng trồng rừng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009) 25 Bảng 2.5 Sinh trưởng Dg, D1.3, Hvn và Dt của 5 giống Keo tai tượng trồng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009) 27 Bảng 2.6 Phân cấp sinh trưởng cây trồng của 5 giống Keo tai tượng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009) 30 Bảng 2.7 Chiều dài (Lc), đường kính gốc chồi (Dc), số lá, sinh khối khô và sinh khối tươi của 5 giống bạch đàn 31 Bảng 2.8 Chiều dài (Lc), đường kính gốc chồi (Dc), số lá, sinh khối khô và sinh khối tươi của 15 giống Keo tai tượng 33

Trang 5

PHẦN 1 TỔNG QUAN

1.1 Cơ sở pháp lý của nhiệm vụ

Nhiệm vụ "Khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy"

được thực hiện dựa trên các căn cứ pháp lý sau:

- Quyết định số 1035/QĐ-BCT ngày 27/02/2009 của Bộ trưởng Bộ Công thương về việc điều chỉnh và đặt hàng bổ xung thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2009

- Hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 03b.09.QG/HĐ-KHCN ký ngày 26/3/2009 giữa Bộ Công thương và Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy

- Quyết định số 28/VNC-QĐ.KHTH ngày 26/3/2009 của Viện trưởng Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy về việc giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

1.2 Tính cấp thiết

những nước như Brazil nhờ sử dụng những giống tốt như giống Bạch đàn lai

Eucalyptus grandis với E urophylla (viết tắt là Bạch đàn lai GU) đã đưa năng

suất một số rừng lên hơn 100m3/ha/năm

Trong

ngành giấy nước ta hiện nay mới chỉ 4 giống Bạch đàn U6, PN2, PN14, PN3d và 1 giống Keo tai tượng (xuất xứ Cardwell) vào trồng rừng nguyên liệu giấy Chỉ với 5 giống cây nêu trên,

công tác trồng rừng nguyên liệu đang phải đối mặt với việc có hàng ngàn héc-ta đất rừng được trồng cùng một

Trang 6

loại cây, nên nguy cơ là rất lớn Ví dụ, trong những năm gần đây rừng trồng thuần loại Bạch đàn PN2 ở Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc) thường xuyên bị bệnh héo rũ, làm chết hàng loạt cây trồng, gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế và môi trường , bổ xung thêm giống mới cho công tác trồng rừng là một trong những giải pháp có nhiều lợi ích và hiệu quả

Tuy nhiên, khi phát triển giống bạch đàn và keo mới vào trồng rừng sản xuất gỗ nguyên liệu, đã gặp phải những khó khăn như số lượng vật liệu nhân giống ban đầu (mẫu nuôi cấy mô, cành hom, hạt giống v/v ) không có nhiều và đồng thời thường thiếu những hiểu biết về các yếu tố kỹ thuật trồng rừng giống mới

Từ những lý do trên, Bộ Công thương đã cho phép triển khai thực hiện

nhiệm vụ khoa học công nghệ "Khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên

liệu giấy"

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Duy trì, phát triển nhanh nguồn gen tốt, bổ xung giống bạch đàn và keo

có đặc tính quý hiếm (về năng suất, chất lượng rừng cao) cho tập đoàn giống cây trồng rừng sản xuất gỗ nguyên liệu giấy đáp ứng chiến lược phát triển ngành giấy Việt Nam, đồng thời góp phần bảo tồn an toàn nguồn gen quý hiện có

1.4 Nội dung nghiên cứu

* Xây dựng vườn cây giống có nguồn gen quý phục vụ lai tạo và phát triển giống:

-

-

Trang 7

* Nghiên cứu công nghệ (hoặc các biện pháp kỹ thuật) khai thác và phát triển nguồn gen quý (Nghiên cứu cỡ chiều cao ken vỏ tạo chồi hom bạch đàn và Keo tai tƣợng):

v/v

Theo Rolo, gỗ bạch đàn đƣợc Công ty Caima (Bồ

Trang 8

Đào Nha) sử dụng làm bột giấy sunfite lần đầu tiên vào năm 1906 và kể từ đó

nó ngày càng có vai trò quan trọng đối với ngành chế biến bột giấy trên thế giới (dẫn từ Turnbull.J.W, 1991)

Trang 9

Tại Brazil, từ năm 1975 - 1987 Công ty Acacruz đã sử dụng 5.000 cây

bạch đàn lai tự nhiên và nhân tạo của tổ hợp Eucalyptus grandis x E

urophylla (GU) để trồng vườn vật liệu giống phục vụ giâm hom Đến năm

1990 đã phát triển được gần 126 triệu cây hom từ các giống ưu việt cho trồng rừng Hiện nay Công ty Acacruz sản xuất khoảng 19 triệu cây giống mỗi năm

từ trên 100 dòng vô tính bạch đàn Kết quả đã góp phần tăng năng suất rừng trồng lên 45-75m3/ha/năm (Campinhos.E, 1993) Công ty Chamflora Agricola Ltd ở Sao Paulo cũng đưa các giống bạch đàn sinh trưởng nhanh và kháng bệnh vào khai thác và phát triển cây giống trồng rừng, giai đoạn từ năm 1992

- 1996 có 88 giống bạch đàn được gây trồng trên diện rộng Hiện mỗi năm công ty phát triển được khoảng 2,4 triệu cây hom (Nguyễn Hoàng Nghĩa , 2000)

Công gô cũng là nước sớm khai thác và phát triển giống bạch đàn có gen quý vào trồng rừng cao sản, những giống bạch đàn này được chọn lọc dựa trên các tiêu chuẩn về chiều cao cây, đường kính, dạng thân, năng suất gỗ, khả năng ra rễ của hom, chất lượng gỗ để làm bột giấy Thời kỳ từ năm 1963-

1971 chỉ có 5 dòng vô tính bạch đàn được đưa vào trồng rừng (Martin.B, 1989), những năm tiếp theo đã phát triển được cả giống Bạch đàn lai tự nhiên

như giống lai giữa Bạch đàn urophylla x Bạch đàn alba (UA), Bạch đàn

tereticoniss x Bạch đàn grandis (TG) (Martin.B, 1991) và giống lai nhân tạo:

Bạch đàn urophylla x Bạch đàn grandis (UG) và Bạch đàn urophylla x Bạch đàn pellita (UP) (CIRAD, 1992)

Tại Nam Phi, Công ty giấy Mondi qua khảo nghiệm dòng vô tính của 4.000 cây trội đã chọn được khoảng 80 dòng để đưa vào trồng rừng Các dòng

vô tính này đã được gây trồng thành vườn cấp hom cho hai vườn ươm của công ty với công suất 7,5 triệu cây giống mỗi năm

Trang 10

Ở Ấn Độ, bằng con đường chọn cây trội, khảo nghiệm dòng vô tính và

nhân giống vô tính những cây ưu việt (giống có gen quý) của loài E

tereticornis Công ty tư nhân ITC Bhadrachalam Paperboards Ltd đã chọn lọc

và đưa vào khai thác được nguồn gen của 35 giống bạch đàn sinh trưởng nhanh và kháng sâu bệnh, tạo cây giống bán cho người trồng rừng

Trung Quốc cũng là quốc gia có nhiều thành công về khai thác và phát triển nguồn gen bạch đàn Chỉ tính riêng Công ty Stora Enso ở miền Nam tỉnh Quảng Tây trong những năm gần đây đã chọn lọc, lai tạo và phát triển được hàng chục dòng vô tính có năng suất bột giấy cao như U6, DH201-2, DH32-

13, SH1 cho trồng rừng cao sản Nhờ đó mỗi năm Công ty sản xuất được hơn

1 triệu tấn bột giấy các loại (Bai Jiayu, Xu Jianmin, Gan Siming, 2003)

tro

Tại Trung Quốc trên cơ sở kết quả khảo nghiệm 179 xuất xứ thuộc 21 loài keo ở bốn tỉnh miền Nam, đã xác định được Keo tai tượng là một trong

ba loài keo thích hợp với điều kiện sinh thái ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và đảo Hải Nam Dựa vào các chỉ tiêu sinh trưởng, hình dạng thân cây đã chọn được các xuất xứ có triển vọng để phát triển cho trồng rừng cung cấp gỗ là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld), Oriomo (PNG) (Bai Jiayu, Zhang Fangqiu and Chen Zuxu, 1997) Cuối những năm 1990, Trung Quốc đã đưa được các giống Keo tai tượng có sinh trưởng nhanh và chống chịu sâu bệnh vào trồng rừng sản xuất đại trà Hướng khai thác và phát triển nguồn gen quý của các giống Keo tai tượng ở đây là xây dựng các vườn giống cây con

Trang 11

thế hệ 1 và 1,5; vườn giống dòng vô tính và vườn giống lai lấy hạt, mỗi năm

có thể thu hái được trên 1.000kg hạt giống chất lượng cao

Tại Philipine, trên cơ sở kết quả khảo nghiệm từ những năm 1980, đã khai thác và sử dụng được 4 xuất xứ tốt nhất là Kini, Bensbach, Wipim (PNG), Claudie River (Qld) cho trồng rừng lấy gỗ Theo Wilcox (1996), rừng trồng Keo tai tượng 10 tuổi ở Talogon có năng suất đạt tới 32m3/ha/năm (dẫn

từ Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003)

Tại Malaysia, giống Keo tai tượng được đưa vào khai thác phát triển nguồn gen là các xuất xứ Western Province (PNG), Claudie River (Qld), Olive River (Qld) Để khai thác được vật liệu giống Keo tai tượng, Malaysia

đã cho chuyển hóa các rừng khảo nghiệm thành rừng giống và đồng thời thu hái hạt từ những cây trội để trồng rừng giống

1.5.2 Ở Việt Nam

1.5.2.1 bạch đàn (Eucalypts)

Ở Việt Nam, bạch đàn được đưa vào trồng thử từ những năm 1930 tại một số vùng trong cả nước Năm 1956 hàng chục loài bạch đàn đã được trồng

thử tại Đà Lạt, đến nay một sô loài tỏ ra rất có triển vọng tại đây như E

grandis, E microcoryss (Lê Đình Khả, Dường Mộng Hùng, 2003)

Sau năm 1975 nhiều khảo nghiệm giống cho các loài bạch đàn đã được xây dựng ở nhiều vùng sinh thái trong nước Kết quả khảo nghiệm những năm 1980-1990 ở nhiều nơi cho thấy các loài thích hợp cho vùng đồng bằng và

vùng dốc thoải ở các tỉnh miền Trung và miền Nam là E camandulensis, E

tereticornis, E brassiana Các xuất xứ có triển vọng trong E camandulensis

là Kennedy River (Qld), Morehead River (Qld) và Katherine (NT) Xuất xứ

có triển vọng của E tereticornis là Sirinumu sogeri (PNG) và Laura River (Qld) Xuất xứ có triển vọng của E brassiana là Portland Road (Qld)

Eucalyptus urophylla là loài thích hợp với các tỉnh Bắc Trung bộ (xuất xứ

Trang 12

Lembata - Indonesia), ở vùng Tây nguyên và các tỉnh miền Bắc là các xuất xứ Lewotobi, Egon - Indonesia (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003; Lê Đình Khả và cs, 2003; Nguyễn Dương Tài, 1994)

Từ các cây hạt của bạch đàn urô tại Vạn Xuân (Phú Thọ) và Ba Vì (Hà Tây) đã chọn được một số gia đình có thể tích thân cây gấp 1,5-2 lần trị số

trung bình của vườn giống Từ vườn giống cây hạt của bạch đàn trắng (E

camandulensis) tại Chơn Thành (Bình Phước) cũng chọn được một số gia

đình và đặc biệt một số cá thể có sinh trưởng nhanh hơn các xuất xứ tốt nhất

từ 2,5-3,5 lần, làm cơ sở cho chọn giống sau này Khảo nghiệm 38 dòng vô tính của bạch đàn trắng từ năm 1993 đến năm 2001 đã chọn được dòng 22 và dòng số 7 có sinh trưởng nhanh nhất và có hình dáng thân cây cũng đẹp nhất (Lê Đình Khả và cs, 2003)

Chọn lọc cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính bạch đàn urophylla

cũng được Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy thực hiện từ giữa những năm 1990, có hơn 200 cây trội đã được chọn lọc từ các rừng khảo nghiệm và rừng sản xuất Qua khảo nghiệm dòng vô tính, đến năm 2005 đã có 11 dòng

vô tính bạch đàn urophylla được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia, chúng có năng suất rừng vượt trội so với các rừng trồng bằng cây từ hạt (Huỳnh Đức Nhân và cs, 2007)

Chọn lọc nguồn gen từ các giống bạch đàn lai cũng đã được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam) thực hiện

từ năm 1996, bằng phương pháp thụ phấn có kiểm soát, đến năm 2000 đã tạo

ra được 70 tổ hợp lai khác loài và lai trong loài Kết quả khảo nghiệm các tổ hợp lai cho thấy các tổ hợp lai đều sinh trưởng nhanh hơn các loài bố mẹ, đặc biệt là nhanh hơn các bố mẹ đã trực tiếp tham gia lai giống (Lê Đình Khả và

cs, 2003) Số liệu báo cáo của Lê Đình khả và Nguyễn Việt Cường cho thấy ở

Trang 13

giai đoạn 2 tuổi tại điểm Thụy Phương các tổ hợp lai tốt nhất có sinh trưởng nhanh gấp 7,3 lần các cây bố mẹ kém nhất, còn ở Ba Vì tỷ lệ này là 3,5 lần (dẫn từ Lê Đình Khả và cs, 2003)

Bảo tồn và sử dụng nguồn gen cho các giống Bạch đàn ở nước ta đã được đặt ra từ cuối những năm 1980 (Lê Đình Khả, 1990) Cơ sở pháp lý cho công tác bảo tồn nguồn gen giống cây trồng, vật nuôi ở nước ta đã được Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học Công nghệ) xác lập

từ năm 1997 trong Quy chế về quản lý và bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật và vi sinh vật Những kết quả bước đầu cho thấy trong nông nghiệp công tác bảo tồn tập trung vào các dạng biến dị của các loài cây chủ yếu như Lúa, Ngô, Đậu đỗ, Khoai tây; trong cây công nghiệp bảo tồn các dạng khác nhau của cây Cao su, Cà phê; trong chăn nuôi tập trung vào các dạng biến dị của

gà, vịt và lợn (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003)

Khai thác và phát triển nguồn gen bạch đàn ở Việt Nam hiện nay chủ yếu do Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng và Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy thực hiện Tại Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, từ giữa những năm 1990 đến năm 2000 đã tiến hành khảo nghiệm loài và xuất xứ, khảo nghiệm hậu thế bạch đàn và đã xây dựng được một loạt các vườn giống bạch đàn nhờ tài trợ của AuSAD của Australia (gọi là vườn giống FORTIP) cho

các loài Eucalyptus camandulensis, E pellita,và E urophylla Không có số

liệu chi tiết về diện tích bảo tồn cho từng loài bạch đàn (khoảng gần 20 ha), phân bố từ Bắc vào Nam Từ các quần thể bạch đàn bảo tồn này được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng khai thác hạt để phục vụ các hoạt động nghiên

cứu chọn tạo giống bạch đàn tiếp theo, chủ yếu tập trung cho bạch đàn E

urophylla (RCFTI, 2006) Đối với bạch đàn E.urophylla, có 2 khu khảo

nghiệm hậu thế thụ phấn tự do của 144 gia đình được xây dựng năm 1996 tại Phù Ninh và năm 1997 tại Ba Vì, sau khi tỉa thưa mỗi gia đình còn lại một cá thể to và thẳng nhất để bảo tồn (Nguyễn Đức Kiên và cs, 2007) Vật liệu

Trang 14

giống khai thác được từ 2 quần thể này bao gồm hạt giống, cành ghép và chồi, chúng được sử dụng để xây dựng ngân hàng dòng vô tính, vườn cây ghép và quần thể chọn giống thế hệ thứ 2 (RCFTI, 2006)

Nhằm tăng cường năng lực sản xuất gỗ nguyên liệu giấy, đầu những năm 1990, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy tiến hành chọn lọc cây trội

và khảo nghiệm dòng vô tính của Bạch đàn urophylla, có gần 200 cây trội

được chọn lọc từ 10 địa điểm thuộc tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang (Huỳnh Đức Nhân và cs, 2007) Thông qua khảo nghiệm, đã có 11 dòng vô tính Bạch

đàn urophylla đã được công nhận là giống Quốc gia và giống Tiến bộ kỹ

thuật Hiện nay, mỗi năm Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy và một số đơn vị khác sản xuất được khoảng 4 - 5 triệu cây giống Bạch đàn PN2, PN14, U6 và PN3d để phục vụ trồng rừng Các giống bạch đàn có gen quý còn lại chưa thể sản xuất với số lượng lớn

1.5.2.2 gen Keo tai tượng (Acacia mangium Wild)

Keo tai tượng được nhập vào nước ta từ những năm 1980 phục vụ các khảo nghiệm giống ở hầu khắp các vùng sinh thái chính trong cả nước Nguồn giống chủ yếu được tài trợ từ các dự án, tổ chức quốc tế như FAO, PAM, SIDA, SAREC, CSIRO Cho đến nay, loài Keo tai tượng đã được gây trồng rộng rãi ở nhiều vùng

Tại vùng trung tâm Bắc bộ, Keo tai tượng được Trung tâm nghiên cứu

và phát triển kỹ thuật lâm nghiệp Phù Ninh khảo nghiệm ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang (Huỳnh Đức Nhân, Nguyễn Quang Đức, 1992) Năm 2005, các xuất xứ Pongaki, Iron Range và Cardwell được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật, rừng trồng có lượng tăng trưởng bình quân khoảng 12m3/ha/năm Để phát triển giống Keo tai tượng xuất xứ Cardwell

Trang 15

vào sản xuất, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã chuyển hóa được một khu rừng giống ở Hàm Yên

Từ năm 1996 đến nay, các nghiên cứu về Keo tai tượng ở nước ta tập trung vào chọn lọc cây trội, khảo nghiệm hậu thế, khảo nghiệm dòng vô tính, xây dựng rừng giống và vườn giống

Khoảng gần 400 cây trội Keo tai tượng đã được chọn lọc từ các vườn giống ở Bình Dương, Quảng Trị, Hà Tây (Hà Nội) và các rừng trồng sản xuất Chọn lọc cây trội ở giai đoạn này chú ý nhiều về sinh trưởng chứ chưa kết hợp với các chỉ tiêu chất lượng gỗ như tỷ trọng gỗ, hàm lượng bột giấy (Nguyễn Minh Chí, 2007; Nguyễn Đức Thế, 2007; Hà Văn Huy, 2007)

Khảo nghiệm hậu thế 10 cây trội Keo tai tượng đã được thiết lập năm

1993 ở Ba Vì (Hà Nội) Kết quả đánh giá sau 30 tháng tuổi cho thấy cây mẹ

có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng chiều cao và đường kính của các cây con Hậu thế của các cây mẹ khác nhau có sinh trưởng khác nhau

Dự án Fortip đã xây dựng được hai vườn giống hữu tính thế hệ 1 tại Ba

Vì (84 gia đình) và Chơn Thành (140 gia đình) 50 cây trội của 50 gia đình tốt nhất đã được chọn để nhân giống bằng hom và xây dựng vườn giống

Nguyễn Minh Chí (2007) đã tiến hành cắt tạo chồi ở 4 vị trí trên cây mẹ Keo tai tượng 10-13 tuổi, kết quả cho thấy cắt cụt ngọn có nhiều cây ra chồi nhất (90,9% so với 0% - 82,9%) và số lượng hom thu được cũng nhiều nhất Cắt thân cây ở vị trí 1,2m và 2,5m có ít chồi hom nhất (18% và 0%) Ngoài nguyên nhân do đặc tính sinh vật ra còn có sự phá hại của người và gia súc Thử nghiệm với cây mẹ Keo tai tượng 4 tháng tuổi cho thấy với 4 mức chiều cao tạo tán, cắt tán cách mặt đất 25 - 30cm có nhiều cây mẹ ra chồi hơn (Nguyễn Đức Thế, 2007)

* Từ tổng quan tài liệu của một số nước nêu trên cho thấy, những năm vừa qua việc đánh giá chọn lọc nguồn gen bạch đàn, keo chủ yếu được dựa

Trang 16

vào các chỉ tiêu về sinh trưởng rừng trồng như chiều cao, đường kính và năng suất gỗ Khai thác và phát triển giống bạch đàn có gen quý được thực hiện bằng cách xây dựng các vườn cây đầu dòng và nhân dòng vô tính

; còn với Keo tai tượng chủ yếu phát triển giống bằng cách xây dựng các rừng giống, vườn giống lấy hạt

PHẦN 2 THỰC NGHIỆM

2.1 Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Thiết kế thí nghiệm

* Xây dựng vườn cây giống lấy hom:

Toàn bộ vườn cây giống có diện tích 500m2, được chia thành 4 ô Ô số

1 có diện tích 36m2, ô số 2 có diện tích 60m2, ô số 3 có diện tích 180m2

và ô

số 4 có diện tích 224m2

San ủi mặt bằng bằng máy kết hợp với lao động thủ công, ô số 1 và 2 xây bờ gạch bao xung quanh Làm bờ rào bằng lưới B40 bao quanh ô số 2, 3 và 4

Ô số 1 trồng 15 giống Keo tai tượng, mỗi giống có 10-15 cây, được trồng thành 1-3 hàng cây, khoảng cách giữa các cây 0,5m

Ô số 2 trồng 22 giống, trong đó có 1 giống keo lai, 8 giống bạch đàn và

13 giống Keo tai tượng Mỗi giống có từ 2-30 cây, được trồng thành 1-3 hàng, khoảng cách giữa các cây 0,5m

Ô số 3 trồng 13 giống bạch đàn, mỗi giống có từ 5-20 cây, được trồng thành 1-2 hàng, khoảng cách giữa các cây từ 0,5-1m

Ô số 4 trồng 6 giống keo lai, mỗi giống có 30 cây, được trồng thành 2 hàng, khoảng cách giữa các cây là 1m

- Trồng cây:

Trang 17

+ Vị trí hố trồng cây được đánh dấu bằng cọc tre Tùy vào kích thước bầu ươm cây, hố trồng được cuốc có kích thước (dài x rộng x sâu) từ 30x30x35cm đến 50x50x60cm

+ Bón lót bằng phân vi sinh và lấp đầy đất trở lại trước khi trồng cây Đất lấp hố được đập nhỏ, tơi xốp

+ Cây mẹ được trồng bằng phương pháp thủ công, dùng bay thợ xây hoặc xẻng mở miệng hố cho vừa kích thước bầu ươm cây Dùng dao cắt bỏ vỏ bầu, đưa cây vào hố, điều chỉnh để cây đứng thẳng rồi vun đất xung quanh và

ấn chặt

- Chăm sóc cây:

+ Cây mẹ được vun xới đất quanh gốc và bón phân theo định kỳ, những ngày nắng nóng cây được tưới nước

+ Dùng kéo cắt bớt cành và ngọn cây để tạo tán

* Thử nghiệm về cỡ chiều cao ken vỏ cây:

- Thử nghiệm ken vỏ ở 6 vị trí độ cao khác nhau, gồm ken cách mặt đất 10cm (Hk010), cách 20cm (Hk020), cách 50cm (Hk050), cách 100cm (Hk100), cách 150cm (Hk150) và cách 200cm (Hk200) Mỗi vị trí độ cao ken

vỏ được gọi là một công thức thí nghiệm

- Bố trí các công thức thí nghiệm theo 2 cách, cách thứ nhất trên mỗi cây chỉ có duy nhất 1 công thức thí nghiệm (ken vỏ tại 1 vị trí độ cao) và cách thứ hai là trên mỗi cây có đủ 6 công thức thí nghiệm (ken vỏ tại 6 vị trí độ cao)

- Vị trí kẻn vỏ được đánh dấu bằng sơn Dùng đục thợ mộc đục bỏ lớp

vỏ có kích thước (dài x rộng) 5 x 1cm

* Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của giống đến sinh trưởng phát triển rừng trồng Keo tai tượng (năm thứ 2):

Trang 18

- Rừng thí nghiệm được trồng năm 2008, bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), lặp lại 8 lần Mỗi khối có 5 ô thí nghiệm, mỗi ô trồng 15 cây của cùng một giống (3 hàng x 5 cây/hàng) (chi tiết xin mời xem phần phụ

biểu của báo cáo kết quả nhiệm vụ khoa học công nghệ "Khai thác và phát

triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy" năm 2008)

* Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của giống đến số lượng, chất lượng chồi hom của cây cấp dòng:

- Đối với Keo tai tượng, mỗi giống chọn ngẫu nhiên 10 cây cấp dòng trồng ở vườn cây giống để nghiên cứu

- Đối với bạch đàn, mỗi giống chọn ngẫu nhiên 20-30 cây cấp dòng trồng ở vườn cây giống để nghiên cứu

2.1.2 Thu thập số liệu

- Chiều cao cây được đo bằng thước sào có độ chính xác đến 1dm Đo chiều cao của tất cả các cây trong lô rừng thí nghiệm

- Chiều dài chồi hom được đo bằng thước kẻ có độ chính xác đến 1mm

Đo chiều dài của tất cả các chồi hom thu được

- Đường kính thân cây đo ở vị trí cách mặt đất 10cm và 130cm (gọi tắt

là đường kính gốc và đường kính ngang ngực) được đo bằng thước panme có

độ chính xác đến 0,1mm Đo đường kính gốc và đường kính ngang ngực của tất cả các cây trong lô rừng thí nghiệm

- Đường kính chồi hom được đo bằng thước panme có độ chính xác đến 0,1mm Đo đường kính của tất cả các chồi hom thu được

- Sinh khối tươi và sinh khối khô của chồi hom được cân bằng cân điện

tử có độ chính xác 1mg Cân sinh khối của tất cả các chồi thu được

- Số cây sống, số cây bị sâu bệnh, số cây ra chồi, số lượng chồi, số lượng lá được xác định bằng cách đếm trực tiếp trên các mẫu nghiên cứu

Trang 19

2.1.3 Xử lý số liệu

2.1.3.1 Tính các đặc trưng thống kê

- Tỷ lệ cây có chồi (TLc): TL (2.1)

+ Trong đó nc là số cây có chồi và n là số cây ken vỏ

+ Tính TLc theo từng cỡ chiều cao ken vỏ

2.1.3.2 Các tiêu chuẩn phân tích thống kê

* Tiêu chuẩn phù hợp χ2 được vận dụng để kiểm tra các giả thuyết H0 sau:

1) Cỡ chiều cao ken vỏ không ảnh hưởng đến sự hình thành chồi hom của cây nhiều tuổi

2) Tình trạng (sống hoặc chết) của cây Keo tai tượng ở rừng trồng năm thứ hai không phụ thuộc vào giống

3) Sức chống chịu sâu bệnh của cây Keo tai tượng ở rừng trồng năm thứ hai không phụ thuộc vào giống

Trang 20

* Phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA) được vận dụng để kiểm tra các giả thuyết H0 sau:

1) Các giống Keo tai tượng có ảnh hưởng như nhau đến sinh trưởng chiều cao/đường kính gốc/đường kính ngang ngực của cây ở rừng trồng năm thứ hai

2) Các giống bạch đàn có ảnh hưởng như nhau đến sinh trưởng chiều dài/đường kính/sinh khối tươi/sinh khối khô của chồi hom ở cây cấp dòng

3) Các giống Keo tai tượng có ảnh hưởng như nhau đến sinh trưởng chiều dài/đường kính/sinh khối tươi/sinh khối khô của chồi hom ở cây cấp dòng

* Nếu điều kiện phân tích phương sai (kiểm tra bằng tiêu chuẩn Levence) được thỏa mãn và kết quả phân tích phương sai không chấp nhận giả thuyết H0 thì áp dụng tiếp tiêu chuẩn Duncan để đánh giá giống có ảnh hưởng tốt nhất đến chỉ tiêu nghiên cứu

* Chạy trình lệnh tiêu chuẩn 2, phân tích phương sai (ANOVA), tiêu chuẩn Duncan của phần mềm SPSS để so sánh giữa các công thức thí nghiệm

về chỉ tiêu nghiên cứu [xem thêm (Nguyễn Hải Tuất, 2005)]

2.2 Kết quả và thảo luận

2.2.1 Xây dựng vườn cây giống có gen quý phục vụ lai tạo và phát triển giống

Vườn cây giống được xây dựng trên khu đất rộng gần 500m2

ở vườn ươm của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy (xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) Đất nơi xây dựng được xới sạch cỏ dại và cây bụi rồi dùng máy ủi cày ngầm và san phẳng, sau đó dùng cuốc đào hố trồng cây, vị trí cuốc hố được đánh dấu trước bằng cọc tre

Trang 21

Bảng 2.1 Giống cây nguyên liệu giấy trồng ở vườn cây đầu dòng

Tính từ năm 2007 đến hết năm 2009 nhiệm vụ "Khai thác và phát triển

nguồn gen cây nguyên liệu giấy" đã xây dựng được vườn cây giống của 56

giống, chi tiết được tổng hợp ở bảng 2.1 Kết quả đạt được trong năm 2009 cụ thể là:

Tháng 10/2008, 160 cây bạch đàn dòng E411, E414 và E1407 đã được chuyển từ bầu ươm 15cm sang bầu ươm lớn hơn ( 50cm), nuôi dưỡng đến giữa tháng 6/2009 thì đưa ra trồng ở vườn cây giống, mỗi dòng có 20 cây được trồng thành 2 luống, mỗi luống 10 cây, các cây được trồng với khoảng cách 1x1m Hố trồng cây được đào với kích thước 60x60x50cm (Dài x Rộng

x Sâu) Trước khi đem trồng 1 tuần, các cây này được cắt tỉa bớt rễ và lá Trong 10 ngày sau khi trồng, mỗi ngày tưới nước cho cây từ 1-2 lần, mỗi lần tưới khoảng 1-2 lít nước cho mỗi cây Khi cây sống ổn định, cứ khoảng 20-25 ngày hòa tan 1 kg phân NPK-S loại 10.5.5-15 trong 10 lít nước đem tưới đều cho 20 cây Mỗi tuần nhổ cỏ một lần và khoảng 15-20 ngày xới đất quanh gốc

Trang 22

một lần Tạo tán lần đầu sau khi cây cao khoảng 45-60cm, những lần sửa tán

lá tiếp theo thực hiện cùng lúc với việc thu hái chồi

Tháng 7/2009 tiếp nhận 180 cây đầu dòng của 6 dòng vô tính Keo lai (BV10, BV32, BV73, BV75, BV71 và BV16) từ Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam), các cây này được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô Ở thời điểm nhận bàn giao, cây đã được nuôi dưỡng ở vườn ươm Ba Vì từ 12-15 tuần, chiều cao từ 30-45cm, đường kính

cổ rễ từ 3-5mm, cây sinh trưởng phát triển tốt Mỗi dòng được bố trí trồng thành 2 luống ở vườn cây giống, mỗi luống 15 cây, khoảng cách giữa các cây

là 1x1m Hố trồng cây có kích thước 30x30x35cm (Dài x Rộng x Sâu) Trong

10 ngày sau khi trồng, mỗi ngày tưới nước cho cây từ 1-2 lần, mỗi lần tưới khoảng 0,5-1 lít nước cho mỗi cây Khi cây sống ổn định, cứ khoảng 15-20 ngày hòa tan 1kg phân NPK loại 10.5.5 trong 10 lít nước đem tưới đều cho 30 cây Mỗi tuần nhổ cỏ một lần và khoảng 15-20 ngày xới đất quanh gốc một lần Tạo tán lần đầu khi cây cao khoảng 80-100cm, những lần tạo tán tiếp theo thực hiện cùng lúc với việc thu hái chồi

Tháng 6/2009 đề tài "Chọn và dẫn giống một số dòng vô tính bạch đàn

và Keo tai tượng để thiết lập vườn lưu giữ giống" chuyển giao 75 cây đầu dòng của 10 giống bạch đàn (E1, E2, E3, E15, E27, E21, E23, E28, E22 và E20), cây của các dòng này được trồng thành 4 luống, mỗi luống có từ 16 - 20 cây, cự ly trồng giữa các cây (trên cùng luống) là 0,5m Trong 5 ngày đầu, mỗi ngày cũng tưới nước từ 1-2 lần (tùy điều kiện thời tiết), 2 ngày tiếp theo trời có mưa nên không tưới nước Sau khi trồng cây được 3 tuần, hoà tan 1kg phân NPK trong 10 lít nước và đem tưới đều cho 30 cây, những lần tưới phân tiếp theo cách nhau từ 20-25 ngày, nồng độ phân bón không thay đổi (1kg tan trong 10 lít nước)

Trang 23

Bảng 2.2 Danh mục giống đƣa vào khai thác, chủng loại và số lƣợng vật liệu nhân giống năm 2009

T

T Tên loài cây

Ký hiệu giống

Loại vật liệu nhân giống

Số lƣợng Mục đích sử dụng

Hom '' '' '' '' '' '' Hom +

mô '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' Hom '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' ''

mô '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' Thí nghiệm hom

'' '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' '' ''

Trang 24

Ngoài số cây mới trồng trong năm, nhiệm vụ còn thực hiện việc chăm sóc cho gần 600 cây trồng trong năm 2007 và 2008 của các dòng vô tính Keo tai tượng và bạch đàn Các công việc cụ thể là mỗi tuần nhổ cỏ một lần; 2 tuần xới đất và vun gốc một lần; những ngày trời nắng nóng tưới nước cho cây một lần vào khoảng thời gian từ 9-10 giờ sáng (khoảng 2 lít cho mỗi cây) Hiện tại các cây sinh trưởng và phát triển bình thường

Trong năm 2009, đã đưa vườn cây giống vào khai thác thu hái vật liệu nhân giống là hom và mẫu nuôi cấy mô của một số giống bạch đàn và keo cung cấp cho sản xuất và các thí nghiệm về nhân giống Số liệu chi tiết được trình bày ở bảng 2.2 cho thấy tất cả đã cắt được 4.551 hom và mẫu nuôi cấy

mô của 35 giống cây nguyên liệu giấy Trong số đó cắt được nhiều hom nhất

là giống bạch đàn E2 (4 lần cắt được 230 hom), các giống E1, E3 và TC06 cắt được ít hom hơn (150-154 hom/4 lần cắt) Trong số 13 giống Keo tai tượng, các giống AH.07.01 và AH.07.02 cho nhiều hom và mẫu nuôi cấy mô hơn các giống còn lại (236 và 243 hom so với 113-218 hom) Có 3.329 chồi của các giống Keo tai tượng được sử dụng vào mục đích nghiên cứu giâm hom và nuôi cấy mô, 1.222 chồi bạch đàn được sử dụng vào mục đích nhân giống tạo cây con

Như vậy, bằng cách xây dựng vườn cây giống, năm 2009 nhiệm vụ đã đưa được 35 giống cây, trong đó 7 giống bạch đàn và 28 giống Keo tai tượng vào khai thác và phát triển nguồn gen

2.2.2 Nghiên cứu cỡ chiều cao ken vỏ tạo chồi hom bạch đàn và Keo tai tượng

Thử nghiệm đánh giá ảnh hưởng của cỡ chiều cao ken vỏ đến khả năng sinh chồi ở cây Keo tai tượng nhiều tuổi được triển khai từ đầu tháng 5/2009 Điểm thí nghiệm thứ nhất là lô rừng trồng Keo tai tượng 9 tuổi ở xã Hy Cương (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ), điểm thứ hai là lô rừng Keo tai

Trang 25

tượng 6 tuổi ở xã Đội Bình (huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang), điểm thí nghiệm thứ ba là lô rừng trồng khảo nghiệm giống bạch đàn ở xã Tiên Kiên (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ)

2.2.2.1 Thử nghiệm với Keo tai tượng 6 tuổi và 9 tuổi ở rừng trồng

Lô rừng Keo tai tượng ở xã Hy Cương có đường kính ngang ngực từ 15-26cm, cự ly trồng ban đầu là 2x3m, mật độ hiện còn khoảng 1.250-1.300 cây/ha, rừng đã khép tán, cường độ ánh sáng dưới tán rừng bằng khoảng 45-60% ánh sáng nơi đất trống Trong lô rừng này đã chọn được 22 cây Keo tai tượng có đường kính bình quân 21 0,5cm, có 1 thân thẳng, không bị sâu bệnh

để thử nghiệm, khoảng cách giữa cây ken vỏ với cây xung quanh gần nhất là 2-4m, hầu hết đều có sự giao tán giữa các cây Trên mỗi cây ken vỏ ở 6 vị trí

độ cao; mặt vết ken ở hướng Đông, kích thước vết ken 5x1cm

Bảng 2 3 Tỷ lệ cây Keo tai tượng 9 tuổi và 6 tuổi ra chồi mới

Loài cây Tuổi Kiểu

ken

Tỷ lệ cây ra chồi (%)

Ngoài vết ken

Hk010 Hk020 Hk050 Hk100 Hk150 Hk200

Keo tai

tượng 9 6 6/1 6/1 34 20 - - - - - - - - - - - -

1/1 10 - - - -

Kết quả thử nghiệm được tổng hợp ở bảng 2.3 cho thấy sau ngày ken

vỏ 3 tuần, quan sát ở các vị trí ken vỏ chưa thấy ra chồi, có 10 cây hình thành sẹo ở phần giữa lớp vỏ cây và phần gỗ tại các vết ken vỏ, 7 cây mặt gỗ ở vết ken có dấu hiệu bị nấm mốc trắng Theo dõi tiếp đến tuần thứ 5, có 5 cây (chiếm 22,7% số cây) xuất hiện mầm chồi ở phía trên vết ken cao nhất (Hk200), hướng sinh chồi lệch về phía Đông Bắc, khoảng cách (theo chiều dọc thân cây) từ gốc mầm chồi gần nhất đến vết ken Hk200 là 0,5-1,3m; có 3 cây (chiếm 13,6% số cây) xuất hiện mầm chồi ở độ cao cách mặt đất từ 80-120cm nhưng hướng sinh chồi là hướng Tây (đối diện với vết ken Hk50,

Trang 26

Hk100 và Hk150) Tất cả các mầm chồi đều xuất hiện ở gần những điểm gốc cành cây trước đây (cách từ 0,5-1,2cm) Đến tuần thứ 7, quan sát trên toàn thân cây ở độ cao từ khoảng 3,5m trở xuống không thấy xuất hiện chồi mới

Lô rừng thí nghiệm ken vỏ trên cây Keo tai tượng tuổi 6 ở Đội Bình được trồng tháng 3/2004, cự ly hiện tại giữa các cây là 2x2,5m, nhìn chung rừng có sức sinh trưởng tương đối tốt, chiều cao khoảng 13-16m, đường kính ngang ngực 16-22cm, tán lá của tất cả các cây đều giao nhau, cường độ ánh sáng dưới tán rừng (đo ở vị trí giữa 2 cây) bằng khoảng 40 - 60% ánh sáng nơi trống Có 40 cây có đường kính ngang ngực 18 0,5cm đã được chọn ra để

bố trí thử nghiệm theo 2 kiểu, kiểu thứ nhất có 10 cây, mỗi cây có 6 cỡ ken vỏ trên thân cây như ở điểm Hy Cương (từ Hk10 đến Hk200) và kiểu thứ hai có

30 cây, mỗi cây ken duy nhất tại 1 điểm trên thân cây (bố trí mỗi cây chỉ có 1 công thức thử nghiệm và mỗi công thức được lặp lại 5 lần), hướng ken vỏ của tất cả các cây là hướng Đông Trong 8 tuần theo dõi, ở kiểu thí nghiệm thứ nhất (mỗi cây có đủ 6 vết ken) chỉ có 2 cây (chiếm 20% số cây thử nghiệm) gần bìa rừng có xuất hiện chồi non (ở thời điểm tuần thứ 5), khoảng cách từ vết ken Hk200 đến vị trí sinh chồi là 70-90cm về phía ngọn cây; ở kiểu thí nghiệm thứ hai không quan sát thấy chồi sinh ra ở các vết ken Hk10, Hk20, Hk50 và Hk100, có 2 cây ra mầm chồi ở độ cao ngang với vết ken Hk150 (chồi mọc ở hướng Tây Bắc) và có 1 cây ra mầm chồi ở cách vết ken Hk200

về phía dưới khoảng 20cm

Từ những kết quả thí nghiệm thu được thấy rằng, khi kích thích cây Keo tai tượng 9 tuổi và 6 tuổi ra chồi ở thân cây bằng các vết ken vỏ ở các độ cao cách gốc từ 10-200cm, chỉ thấy xuất hiện chồi ở những vị trí gốc cành (hay còn gọi là mắt gỗ) nằm cao hơn vết ken cao nhất trên thân cây (trừ duy nhất 1 cây ở điểm Đội Bình mọc phía dưới vết ken) hoặc ngang bằng với vết ken nhưng không ở cùng hướng vết ken, còn ngay tại vết ken vỏ không thấy xuất hiện chồi Như vậy trong điều kiện ánh sáng dưới tán rừng thấp (40-60%

Trang 27

so với ngoài rừng), với vết ken có kích thước nhỏ (5x1cm) có thể mới chỉ đủ tác động để kích thích chồi ngủ ở các vị trí gốc cành phát triển thành chồi mới

mà chưa đủ kích thích các mô khác trên thân cây Keo tai tượng phát triển thành chồi mới ngay tại các vết ken như cách cắt cây trước đây

2.2.2.2 Thử nghiệm với bạch đàn 5 tuổi ở rừng trồng

Thử nghiệm ken vỏ tạo chồi bạch đàn được tiến hành tại lô rừng khảo nghiệm mở rộng (đã kết thúc) của dòng PN2, PN46, PN47 và PN10 ở xã Tiên Kiên (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ), khoảng cách giữa các cây là 2x3m, tỷ

lệ cây sống trong các ô thí nghiệm còn từ 96-100%, tán lá của các cây đều giao nhau Chọn mỗi dòng 23 cây có đường kính tương đương nhau (giữa các dòng có sự khác nhau về đường kính và chiều cao cây) để bố trí thí nghiệm theo 2 kiểu (chi tiết các kiểu xem ở phần phương pháp, mục 2.1.2.1) Theo dõi thí nghiệm trong 9 tuần, quan sát trên toàn bộ thân cây từ độ cao 4m trở xuống không thấy xuất hiện chồi mới Ở các vết ken (không phân biệt độ cao) bắt đầu hình thành sẹo từ tuần thứ hai, đến tuần thứ 7 có khoảng 50-75% vết ken có sẹo nối liền mép phía trên và mép phía dưới của vết ken vỏ

Tóm lại: Có 8 trong số 13 cây Keo tai tượng (chiếm 61,5%) ra mầm chồi là những cây có đủ 6 vết ken vỏ (từ Hk10 đến Hk200), điều đó cho thấy với 6 vết ken tác động cùng một lúc có thể đã tạo ra cường độ kích thích cây lớn hơn so với chỉ có 1 vết ken

Với cây 5 tuổi của các dòng Bạch đàn, sau khi ken vỏ 9 tuần không có cây nào sinh chồi mới, trong khi đó có tới 2/3 các vết ken hình thành sẹo cho thấy có thể do bề mặt vết ken là quá bé (5x1cm) hoặc do không cắt đứt mạch dẫn dinh dưỡng trên thân cây (vì chỉ bóc hết lớp vỏ mà không cắt vào phần gỗ), nên cường độ kích thích chưa đủ để cây phát triển thêm chồi Với cách chặt ngả cây trước đây, ở phần gốc chặt còn lại không có lá, lượng ánh sáng

Trang 28

chiếu đến gốc chặt tương tự như nơi đất trống nên đã kích thích được cây ra chồi mới rất nhanh và nhiều

2.2.3 Đánh giá nguồn gen của các giống bạch đàn và Keo tai tượng có nguồn gen quý đã được khai thác phát triển từ năm 2007

2.2.3.1 Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của rừng trồng (năm thứ hai) các giống Keo tai tượng

(a) Chăm sóc và quản lý rừng thí nghiệm

Rừng thí nghiệm được trồng vào cuối tháng 6/2008 với tổng diện tích

là 3 ha, trong đó cây con của 5 giống được bố trí thành 8 khối (lặp lại 8 lần),

vị trí của mỗi giống trong khối được sắp xếp hoàn toàn ngẫu nhiên (chi tiết xem ở báo cáo năm 2008)

Năm 2009 là năm thứ hai sau khi trồng, 100% cây trồng của các giống

đã được chăm sóc 3 lần, lần thứ nhất tiến hành từ ngày 10/3 đến 15/3/2009, lần thứ hai làm từ ngày 06/8 đến 12/8/2009 và lần thứ ba từ ngày 28/10 đến 10/11/2009 Trong lần chăm sóc thứ nhất, dùng dao phát dọn sạch dây leo, cây bụi trên toàn lô rừng thí nghiệm và sau đó dùng cuốc xới sạch cỏ và vun đất quanh gốc cây, đường kính vun xới là 1-1,2m Lần chăm sóc thứ hai, dùng dao phát dọn sạch dây leo và cây bụi trên toàn lô, rồi băm nhỏ Lần chăm sóc thứ ba được thực hiện với các nội dung như lần thứ nhất

Công tác quản lý, bảo vệ rừng được làm thường xuyên bởi cán bộ kỹ thuật của Công ty lâm nghiệp Cầu Ham và khoảng từ 2-2,5 tháng có thêm sự tham gia của cán bộ kỹ thuật thuộc Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Năm 2009, trong suốt quá trình quản lý và bảo vệ rừng thí nghiệm ghi nhận không có nguy cơ gây hại lớn đến rừng Trường hợp đáng kể nhất là việc khai thác gỗ ở lô rừng liền kề, có thể ngả cây đổ đè nát cây con, xong nhờ có sự giám sát, chỉ đạo kỹ thuật khai thác chặt chẽ nên mọi cây gỗ đều được chặt hạ đúng hướng, không làm ảnh hưởng đến lô rừng thí nghiệm

Trang 29

Giám sát sâu bệnh hại rừng cũng được quan tâm, mỗi lần đi giám sát rừng, khoảng 10 - 20% số cây trên tuyến được kiểm tra, số liệu ghi nhận được cho thấy mỗi lần kiểm đếm chỉ có từ 1-4 cây bị bệnh nấm đen ở nách lá, trong

đó tỷ lệ lá bị bệnh chiếm khoảng 5-8% số lá trên cây, so với phân cấp mức độ hại của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2003) thì tỷ lệ nói trên ở mức không nguy hại đối với cây trồng Một số trường hợp cây bị mối ăn

Tóm lại, rừng thí nghiệm đã được chăm sóc đúng quy trình trồng rừng nguyên liệu giấy, được quản lý và bảo vệ an toàn tuyệt đối, đáp ứng tốt nhất mục đích trồng rừng đánh giá giống năm thứ hai và những năm tiếp theo

(b) Đánh giá ảnh hưởng của giống đến các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển rừng trồng Keo tai tượng năm thứ hai

* Trong trồng rừng có nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến tỷ

lệ cây sống của rừng trồng, ở thí nghiệm này do rừng trồng được chăm sóc đúng quy trình và bảo vệ an toàn tuyệt đối nên tỷ lệ sống phản ánh sự thích nghi của giống với điều kiện khí hậu, đất đai Số liệu đo đếm tỷ lệ cây sống của rừng trồng bằng 5 giống Keo tai tượng trồng ở Bắc Quang - Hà Giang được tổng hợp ở bảng 2.4

Bảng 2 4 Tỷ lệ cây sống, cây chết của 5 giống Keo tai tượng trồng rừng

Trang 30

Kết quả ở bảng 2.4 cho thấy sau trồng rừng 18 tháng, tỷ lệ cây sống của toàn thí nghiệm đạt 97%, cao hơn mức yêu cầu tối thiểu trong sản xuất 12%, các giống AH.07.06, AH.07.07 và AH.07.03 có tỷ lệ sống cao hơn AH.07.10

và AH.07.09 (97,5% - 98,3% so với 95% - 95,8%), qua đó chứng tỏ 5 giống Keo tai tượng được khai thác từ năm 2007 và đưa vào trồng rừng năm 2008

có khả năng thích nghi rất tốt với điều kiện lập địa vùng Bắc Quang - Hà Giang Kiểm tra phân phối số cây sống, cây chết ở rừng trồng của các giống bằng tiêu chuẩn χ2

cho thấy không có sự khác biệt giữa các giống (Sig = 0,44

> 0,05), điều đó có nghĩa là 5 giống Keo tai tượng được đưa vào trồng rừng, sau 18 tháng có mức độ thích nghi với điều kiện lập địa ở Bắc Quang tương đương nhau Hay nói cách khác số cây sống, cây chết không phụ thuộc vào việc rừng được trồng bằng giống nào trong số 5 giống Keo tai tượng nói trên

Quan sát dấu hiệu để lại ở một số cây chết cho thấy toàn bộ lớp vỏ của cây đoạn bên dưới mặt đất bị bóc hoàn toàn, còn trơ lại phần gỗ với lớp đất bột giống như đất ở các tổ mối bám chắc xung quanh, có lẽ đó là dấu hiệu cây trồng bị mối ăn

* Số liệu đo đếm các chỉ tiêu đường kính gốc (Dg), đường kính thân cây ở vị trí ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn) và đường kính tán lá (Dt) của 5 giống Keo tai tượng 18 tháng tuổi được tổng hợp trong bảng 2.5

Kết quả thống kê ở bảng 2.5 cho thấy:

- Đường kính gốc trung bình của 5 giống đạt 59,6mm, phạm vi biến động đường kính gốc trung bình là 65mm, cây có đường kính gốc lớn nhất trong toàn thí nghiệm đạt 89,2mm và hệ số biến động Dg trung bình là 18% Trong số 5 giống Keo tai tượng thử nghiệm, giống AH.07.09 có đường kính gốc lớn nhất và giống AH.07.06 có đường kính gốc bé nhất (61,3mm so với 57,4mm - 60,7mm)

Trang 31

Bảng 2 5 Sinh trưởng Dg, D 1.3 , Hvn và Dt của 5 giống Keo tai tượng trồng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009)

Trung bình

Trung bình

42,9 9,9 23,0 66,3 10,8 55,5

Sig = 0,00 < 0,05 (có sai khác) Hvn

(dm)

AH.07.03 44,2 6,7 15,1 58,0 25,0 33,0 AH.07.06 41,5 7,3 17,5 64,0 18,0 46,0 AH.07.07 44,4 6,1 13,7 56,0 23,0 33,0 AH.07.09 43,5 6,0 13,9 56,0 28,0 28,0 AH.07.10 45,3 6,5 14,3 58,0 28,0 30,0

Trung bình

43,8 6,6 15,1 64,0 18,0 46,0

Sig = 0,00 < 0,05 (có sai khác)

Dt (dm) AH.07.03 21,2 4,1 19,3 30,0 10,0 20,0

AH.07.06 20,6 4,7 22,9 29,0 9,0 20,0 AH.07.07 21,3 4,8 22,5 34,0 9,0 25,0 AH.07.09 20,9 4,6 21,9 32,0 8,0 24,0 AH.07.10 21,8 4,2 19,4 32,0 10,0 22,0

Trung bình

21,2 4,5 21,2 34,0 8,0 26,0

Sig = 0,32 > 0,05 (không sai khác)

Trang 32

Đánh giá mức độ ảnh hưởng của giống bằng tiêu chuẩn Duncan ở mức

ý nghĩa 5% cho thấy ảnh hưởng của giống đến sinh trưởng đường kính gốc của rừng trồng sau 18 tháng tuổi có sự khác nhau Giống Keo tai tượng AH.07.09 và AH.07.07 có mức độ ảnh hưởng khác biệt rõ rệt với giống AH.07.06 (bảng 3.3 - phụ biểu) Trong khi đó giống Keo tai tượng AH.07.03

và AH.07.10 có sinh trưởng đường kính gốc ở mức trung gian, không có sự ảnh hưởng khác biệt đáng kể giữa 2 giống này với 2 giống dẫn đầu (AH.07.09

và AH.07.07) cũng như với giống kém nhất (AH.07.06) (xem bảng 3.3 - phụ biểu)

- Sau 18 tháng tuổi, đường kính ngang ngực (D1.3) của 5 giống Keo tai tượng đạt được từ 40,1mm - 45,1mm, trung bình toàn thí nghiệm đạt 42,9mm; phạm vi biến động của đường kính ngang ngực là 55,5mm và hệ số biến động đường kính ngang ngực trung bình là 23% (cao hơn so với hệ số biến động của Dg) Trong số 5 giống Keo tai tượng đưa vào trồng rừng, giống AH.07.07

có đường kính ngang ngực lớn nhất (45,1mm); giống AH.07.06 có đường kính ngang ngực bé nhất (40,1mm) Cây cá biệt có D1.3 lớn nhất đạt 66,3mm (lớn gấp 6 lần cây bé nhất)

Kết quả phân tích phương sai (bảng 3.2 - phụ biểu) cho thấy giống là một trong những nguyên nhân gây ra sự biến động về đường kính ngang ngực của rừng trồng Keo tai tượng 18 tháng tuổi (Sig = 0,00 < 0,05), trong đó giống AH.07.06 có ảnh hưởng kém hơn một cách rõ rệt so với các giống còn lại (AH.07.07, AH.07.03, AH.07.10 và AH.07.09 - xem bảng 3.4) Mức độ ảnh hưởng của 4 giống AH.07.07, AH.07.03, AH.07.10 và AH.07.09 đến sinh trưởng đường kính ngang ngực của rừng trồng Keo tai tượng sau 18 tháng tuổi không khác biệt rõ rệt với xác suất thấp (Sig = 0,09 = 9% - bảng 3.4), điều đó cho thấy rất có thể trong thời gian tiếp theo khi mà vai trò đóng góp của giống với năng suất rừng trồng ngày càng rõ nét hơn (Davidson, 1996) thì

sẽ có sự phân hóa về D1.3 của rừng trồng theo từng giống, hay nói cách khác

Trang 33

mức độ ảnh hưởng của giống đến khả năng sinh trưởng D1.3 của rừng trồng lúc đó sẽ rõ rệt hơn bây giờ

- Về chiều cao vút ngọn (Hvn) của rừng trồng thử nghiệm, kết quả thống kê ở bảng 2.4 cho thấy Hvn trung bình của mỗi giống đạt từ 41,3dm - 45,3dm; chiều cao trung bình toàn lô rừng thí nghiệm đạt mức 43,8dm và phạm vi biến động chiều cao trung bình của cả 5 giống Keo tai tượng là 46dm; hệ số biến động chiều cao của cả lô rừng là 15,1% và chiều cao có hệ

số biến động thấp hơn so với đường kính (15,1% so với 18% - 23%)

Kết quả phân tích phương sai (bảng 3.2) cho thấy sau trồng 18 tháng, giống là một trong những nguyên nhân gây ra sự biến động chiều cao vút ngọn của rừng trồng Keo tai tượng (Sig = 0,00 < 0,05) và cũng như với chỉ tiêu D1.3, giống AH.07.06 (nhóm 1) có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao của rừng trồng kém hơn các giống còn lại (nhóm 2) (bảng 3.5)

- Đường kính tán lá (Dt) cây Keo tai tượng sau 18 tháng tuổi trung bình của mỗi giống đạt từ 20,6dm - 21,8dm; trung bình của toàn lô rừng thí nghiệm

là 21,2dm So với các chỉ tiêu Hvn, Dg, D1.3 thì đường kính tán lá của Keo tai tượng sau trồng 18 tháng tuổi không có biểu hiện chịu sự chi phối của giống (Sig = 0,32 > 0,05 - bảng 3.2) Sau 18 tháng tuổi, với cự ly trồng ban đầu 3x3m nên mỗi cây cá lẻ vẫn còn không gian riêng (cây có đường kính tán lớn nhất đạt 3,4m), chưa có sự cạnh tranh giữa các cây ở bộ phận tán lá vì thế mức độ ảnh hưởng của giống đến sức sinh trưởng đường kính tán lá không rõ rệt

* Tất cả các cây trong toàn bộ lô rừng trồng thử nghiệm đánh giá giống được phân loại theo 3 cấp sinh trưởng tốt, trung bình, xấu dựa trên các giá trị D1.3, Hvn, Dt Tỷ lệ cây phân chia theo cấp sinh trưởng của mỗi gia đình và toàn lô rừng được tổng hợp ở bảng 2.6

Trang 34

Bảng 2 6 Phân cấp sinh trưởng cây trồng của 5 giống Keo tai tượng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009)

Gia đình Phân loại cây theo cấp sinh trưởng (%) Tốt

Sig = 0,53 > 0,05 (không khác biệt)

Kết quả bảng 2.6 cho thấy trung bình toàn lô rừng có 53,3% số cây được xếp loại sinh trưởng tốt, 46% xếp loại trung bình và 0,7% xếp loại xấu Trong số 5 giống Keo tai tượng trồng thử nghiệm, giống AH.07.10 và AH.07.09 là 2 giống không có cây xấu Giống AH.07.06 là giống có nhiều cây được xếp loại xấu hơn 4 giống còn lại (1,7% so với 0% - 0,9%) Hầu hết các giống đều có tỷ lệ cây tốt chiếm hơn 50% tổng số cây (trừ giống AH.07.06 là 47,5%) Kiểm tra mức độ thuần nhất về số cây tốt, xấu, trung bình của mỗi giống bằng các tiêu chuẩn thống kê χ2

(bảng 3.6 - phụ biểu) cho thấy không có sự khác biệt đáng kể (Sig = 0,53 > 0,05), điều đó có nghĩa là ảnh hưởng của giống đến sức sinh trưởng chung của cây trồng không rõ rệt Việc đánh giá rừng trồng của 5 giống Keo tai tượng dựa vào các chỉ tiêu cụ thể như Hvn, Dg, hoặc D1.3 đem lại hiệu quả hơn

2.2.3.2 Đánh giá năng suất, chất lượng chồi hom ở cây đầu dòng của các giống bạch đàn và Keo tai tượng

a/ Bạch đàn:

Nghiên cứu được thực hiện với 5 giống bạch đàn, sau 40 ngày tạo tán tiến hành đo đếm, số liệu được tổng hợp ở bảng 2.7

Trang 35

Bảng 2.7 Chiều dài (Lc), đường kính gốc chồi (Dc), số lá, sinh khối khô

và sinh khối tươi của 5 giống bạch đàn

(g/cm)

Sinh khối tươi

(g/cm)

E1 8,5 0,965 7,6 0,0264 0,0467 E2 7,8 0,982 8,1 0,0297 0,0521 E411 10,0 0,974 7,5 0,0336 0,0606 E414 10,3 0,880 7,7 0,0315 0,0573 E1407 10,7 0,861 8,0 0,0255 0,0484

Trung bình 9,5 0,933 7,8 0,0293 0,0530

Kết quả bảng 2.7 cho thấy chiều dài (Lc) trung bình của mỗi chồi là 9,5cm; trong số đó, chồi của dòng bạch đàn E1407 (nhập từ Brazil) có chiều dài lớn nhất, dòng E2 ngắn nhất (10,7cm so với 7,8cm - 10,3cm), giống có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều dài chồi hom bạch đàn (Sig = 0,00 < 0,05 - bảng 3.7) Trong số 5 giống bạch đàn thử nghiệm, các giống E1407, E414 và E411 có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều dài chồi trội hơn các giống bạch đàn E1 và E2 (bảng 3.8 - phụ biểu)

Đường kính gốc chồi (Dc) của các giống bạch đàn đạt từ 0,861mm - 0,982mm; Dc trung bình đạt 0,933mm; trong đó giống E2 có Dc lớn nhất (0,982mm so với 0,861mm - 0,974mm); phân tích phương sai (bảng 3.7 - phụ biểu) cho thấy giống có ảnh hưởng đến sinh trưởng đường kính chồi hom (Sig

= 0,05), tuy nhiên qua đánh giá mức độ ảnh hưởng của giống đến Dc bằng tiêu chuẩn Duncan (bảng 3.9 - phụ biểu) cho thấy chỉ có sự khác biệt rõ rệt giữa giống E1407 (nhóm 1) với E2 (nhóm 2)

Trung bình mỗi chồi hom của cả 5 giống bạch đàn có 7,8 lá; số lá của mỗi chồi biến đổi từ 7,5 lá - 8,1 lá; chồi hom của giống bạch đàn E2 có nhiều

lá hơn chồi hom của 4 giống còn lại (8,1 lá so với 7,5 lá - 8 lá) (bảng 2.7)

Sinh khối tươi bình quân tính cho 1cm chiều dài chồi hom của các giống bạch đàn từ 0,0468g - 0,0606g, trung bình của cả 5 giống là 0,053 gam

Trang 36

(bảng 2.7); cũng như các chỉ tiêu đường kính gốc chồi và chiều dài chồi, sinh khối tươi chồi hom bạch đàn chịu ảnh hưởng rõ rệt của nhân tố giống (Sig = 0,00 < 0,05 - bảng 3.7 - phụ biểu), trong đó ảnh hưởng của giống E411 và E414 (nhóm 3) trội hơn hẳn giống E1 và E1407 (nhóm 1) (bảng 3.10 - phụ biểu)

Sinh khối khô bình quân tính cho 1cm chiều dài của mỗi chồi hom bạch đàn là 0,0293 gam (biến đổi từ 0,0255g - 0,0336g) Kết quả phân tích phương sai (bảng 3.7 - phụ biểu) cho thấy giống là nhân tố có ảnh hưởng đến sinh khối khô của chồi hom bạch đàn, trong đó giống E411 có ảnh hưởng trội nhất (nhóm 3), tiếp đến là giống E414 và E2 (nhóm 2), giống E1407 và E1 có ảnh hưởng kém nhất (nhóm 1) (bảng 3.11 - phụ biểu)

b/ Keo tai tượng:

15 giống Keo tai tượng (ký hiệu từ TQ1 đến TQ15) đã được sử dụng để đánh giá về năng suất và chất lượng chồi hom Số liệu các chỉ tiêu đánh giá được tổng hợp ở bảng 2.8

Kết quả ở bảng 2.8 cho thấy sau 40 ngày tạo tán, chiều dài trung bình chồi hom Keo tai tượng đạt bình quân là 29,5cm; đường kính gốc chồi bình quân đạt 3,4mm; trung bình trên mỗi chồi có 7,3 lá; sinh khối tươi và khô tính cho 1cm chiều dài chồi lần lượt là 0,5351g và 0,1635g

Trong số 15 giống Keo tai tượng, giống TQ4 và TQ5 có chiều dài chồi lớn nhất (36,6 và 36,7cm); giống có đường kính gốc chồi lớn nhất là TQ3, TQ5 và TQ7 (3,7mm - 3,8mm); chồi hom của giống TQ14 có nhiều lá nhất (8,7 lá); giống TQ1 có sinh khối tươi và khô tính trên 1cm chiều dài lớn nhất (1,0431g và 0,3972g)

Trang 37

Bảng 2.8 Chiều dài (Lc), đường kính gốc chồi (Dc), số lá, sinh khối khô

và sinh khối tươi của 15 giống Keo tai tượng

Tên giống Lc (cm) Dc (mm) Số lá

(cái)

Sinh khối khô (g/cm)

Sinh khối tươi (g/cm)

TQ1 22,9 3,4 7,7 0,3972 1,0431 TQ2 31,8 3,6 7,4 0,1593 0,5163 TQ3 35,6 3,8 7,0 0,1612 0,5975 TQ4 36,6 3,6 7,1 0,1297 0,5231 TQ5 36,7 3,7 7,6 0,1352 0,5429 TQ6 34,3 3,6 7,2 0,1353 0,5616 TQ7 35,0 3,7 6,5 0,1414 0,5248 TQ8 31,6 3,3 6,5 0,1481 0,5237 TQ9 30,7 3,5 5,6 0,1565 0,5156 TQ10 25,6 3,4 7,7 0,1439 0,5109 TQ11 25,7 3,1 7,8 0,1279 0,4202 TQ12 26,8 3,2 7,6 0,1382 0,4385 TQ13 22,0 2,8 7,3 0,1832 0,4023 TQ14 26,2 3,4 8,7 0,1544 0,4941 TQ15 21,5 3,1 7,3 0,1409 0,4112

Trung bình 29,5 3,4 7,3 0,1635 0,5351

Kết quả phân tích phương sai (bảng 3.12 - phụ biểu) cho thấy giống có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều dài, đường kính gốc chồi, sinh khối tươi và khô của chồi (Sig = 0,00 - 0,03 < 0,05) Đánh giá mức độ ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều dài chồi hom (Lc) bằng tiêu chuẩn Duncan cho thấy, 15 giống Keo tai tượng được chia thành 6 nhóm khác nhau, nhóm có ảnh hưởng trội nhất (nhóm 6) gồm các giống TQ3, TQ4, TQ5, TQ6 và TQ7, nhóm có ảnh hưởng kém nhất gồm TQ15, TQ13 và TQ1 (bảng 3.13); theo mức độ ảnh hưởng đến sinh trưởng đường kính gốc chồi, 15 giống Keo tai tượng được chia thành 4 nhóm, các giống TQ3, TQ5 và TQ7 thuộc nhóm có ảnh hưởng trội nhất và khác biệt rõ rệt với các giống TQ13 và TQ15 (nhóm kém nhất) (bảng 3.14 - phụ biểu); TQ1 là giống Keo tai tượng có ảnh hưởng trội nhất đến sinh khối tươi và khô của chồi hom, khác biệt rõ với 14 giống còn lại (bảng 3.15 và 3.16 - phụ biểu)

Trang 38

+Cây đầu dòng sinh trưởng phát triển tốt, trung bình mỗi lần cắt các cây đầu dòng của các giống bạch đàn cho 15-40 chồi, Keo lai cho 10-15 chồi

và Keo tai tượng cho 8-9 chồi

tượng:

ở rừng trồng 9 tuổi và 6 tuổi , ken vỏ Keo với vết ken 5x1cm ở các cỡ chiều cao cách mặt đất từ 10 - 200cm có tác dụng kích thích ra chồi ở quanh các mắt cây

Trang 39

+ Di n t ch r ng tr ng đư c chăm s c v b o v l 2ha ;

+ S l n chăm s c l 2 l n, r ng được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, quản lý và bảo vệ an toàn

+ Đ l p đ t đư c 1 bi n b o r ng th nghi m khu v c c a r ng + K t qu đ nh gi cho th y, sau 18 tháng tuổi, tỷ lệ cây sống trung bình toàn lô rừng đạt 97%, giống có ảnh hưởng tốt nhất đến Dg là AH.07.09

và AH.07.07, các giống có ảnh hưởng tốt nhất đến D1.3 lần lượt là AH.07.07, AH.07.03, AH.07.10, AH.07.09; các giống có ảnh hưởng tốt nhất đến chiều cao lần lượt là AH.07.10, AH.07.07, AH.07.03, AH.07.09; gần 100% số cây của các giống được xếp loại sinh trưởng trung bình và tốt, chỉ khoảng 0,7% tổng số cây thuộc loại sinh trưởng xấu

- Đ ti n h nh đ nh gi năng su t, ch t lư ng ch i hom cây đ u d ng

c a 5 gi ng b ch đ n v 15 gi ng Keo tai tư ng K t qu cho th y giống có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều dài chồi, đường kính gốc chồi, sinh khối tươi và sinh khối khô của chồi hom bạch đàn và Keo tai tượng

Trang 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bai Jiayu, Xu Jianmin, Gan Siming (2003) Genetic Improvement of

Tropical Eucalypts in China Eucalypts in Asia Canberra, Australian:

ACIAR

2 Campinhos.E (1993) Sustainable management of plantation forest in

the tropics and subtropics The Challenge of Sustainable Forest

Management: technical papers Rome: FAO

3 CIRAD (1992) Centre de coopération internationale en recherche

agronomique pour le développement Paris

4 Trần Duy Hưng (2008) Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu

giấy: Kết quả năm 2008 Phú Thọ: Viện nghiên cứu cây nguyên liệu

giấy

5 Hà Văn Huy (2007) Chọn và dẫn giống dòng vô tính Keo tai tượng và

Bạch đàn urophylla Phú Thọ: Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy

6 Huỳnh Đức Nhân, Nguyễn Quang Đức (1992) Khảo nghiệm loài và

xuất xứ các loài Keo ở vùng Trung tâm Bắc bộ Phú Thọ: Trung tâm

Nghiên cứu Lâm nghiệp Phù Ninh

7 Huỳnh Đức Nhân, Nguyễn Quang Đức, Nguyễn Sỹ Huống, Nguyễn

Đức Thế (2007) Chọn lọc cây trội và Khảo nghiệm dòng vô tính Bạch

đàn urophylla Hà Nội: NXB Nông nghiệp

8 J.W.Turnbull, H.R.Crompton, K.Pinyopusarerk (1998) Recent

Developments in Acacia Planting Canberra: Australian Centre for

International Agricultural Research

9 Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng (2003) Giống Cây Rừng Hà Nội:

11 Martin.B (1989) The benefits of hybridization How do you breed for

them Breeding Tropical Trees Population structure and genetic

Ngày đăng: 21/04/2014, 17:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Giống cây nguyên liệu giấy trồng ở vườn cây đầu dòng - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 2.1. Giống cây nguyên liệu giấy trồng ở vườn cây đầu dòng (Trang 21)
Bảng 2.2. Danh mục giống đƣa vào khai thác, chủng loại và số lƣợng vật  liệu nhân giống năm 2009 - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 2.2. Danh mục giống đƣa vào khai thác, chủng loại và số lƣợng vật liệu nhân giống năm 2009 (Trang 23)
Bảng 2. 4. Tỷ lệ cây sống, cây chết của 5 giống Keo tai tƣợng trồng rừng - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 2. 4. Tỷ lệ cây sống, cây chết của 5 giống Keo tai tƣợng trồng rừng (Trang 29)
Bảng  2.  5.  Sinh  trưởng  Dg,  D 1.3 ,  Hvn  và  Dt  của  5  giống  Keo  tai  tượng  trồng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009) - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
ng 2. 5. Sinh trưởng Dg, D 1.3 , Hvn và Dt của 5 giống Keo tai tượng trồng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009) (Trang 31)
Bảng 2. 6. Phân cấp sinh trưởng cây trồng của 5 giống Keo tai tượng ở  Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009) - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 2. 6. Phân cấp sinh trưởng cây trồng của 5 giống Keo tai tượng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009) (Trang 34)
Bảng 2.7. Chiều dài (Lc), đường kính gốc chồi (Dc), số lá, sinh khối khô - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 2.7. Chiều dài (Lc), đường kính gốc chồi (Dc), số lá, sinh khối khô (Trang 35)
Bảng 2.8. Chiều dài (Lc), đường kính gốc chồi (Dc), số lá, sinh khối khô - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 2.8. Chiều dài (Lc), đường kính gốc chồi (Dc), số lá, sinh khối khô (Trang 37)
Bảng 3.1. Kiểm tra phân phối số cây sống, cây chết trong rừng trồng của - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 3.1. Kiểm tra phân phối số cây sống, cây chết trong rừng trồng của (Trang 42)
Bảng 3.3. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của 5 giống Keo tai tượng đến  sinh trưởng Dg rừng trồng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009)  bằng tiêu chuẩn Duncan - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 3.3. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của 5 giống Keo tai tượng đến sinh trưởng Dg rừng trồng ở Bắc Quang - Hà Giang (tháng 11/2009) bằng tiêu chuẩn Duncan (Trang 42)
Bảng 3.7. Phân tích phương sai các chỉ tiêu chiều dài chồi, đường kính  gốc chồi, sinh khối tươi và sinh khối khô của 5 giống bạch đàn - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 3.7. Phân tích phương sai các chỉ tiêu chiều dài chồi, đường kính gốc chồi, sinh khối tươi và sinh khối khô của 5 giống bạch đàn (Trang 44)
Bảng 3.10. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của 5 giống bạch đàn đến sinh  khối tươi chồi bằng tiêu chuẩn Duncan - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 3.10. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của 5 giống bạch đàn đến sinh khối tươi chồi bằng tiêu chuẩn Duncan (Trang 45)
Bảng 3.11. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của 5 giống bạch đàn đến sinh  khối khô chồi bằng tiêu chuẩn Duncan - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 3.11. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của 5 giống bạch đàn đến sinh khối khô chồi bằng tiêu chuẩn Duncan (Trang 45)
Bảng 3.14. Đánh giá ảnh hưởng của 15 giống Keo tai tượng đến đường kính  gốc chồi bằng tiêu chuẩn Duncan - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 3.14. Đánh giá ảnh hưởng của 15 giống Keo tai tượng đến đường kính gốc chồi bằng tiêu chuẩn Duncan (Trang 46)
Bảng 3.15. Đánh giá ảnh hưởng của 15 giống Keo tai tượng đến sinh khối tươi  chồi bằng tiêu chuẩn Duncan - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 3.15. Đánh giá ảnh hưởng của 15 giống Keo tai tượng đến sinh khối tươi chồi bằng tiêu chuẩn Duncan (Trang 47)
Bảng 3.16. Đánh giá ảnh hưởng của 15 giống Keo tai tượng đến sinh khối  khô chồi bằng tiêu chuẩn Duncan - khai thác và phát triển nguồn gen cây nguyên liệu giấy (giai đoạn 2 của đề tài năm 2008)
Bảng 3.16. Đánh giá ảnh hưởng của 15 giống Keo tai tượng đến sinh khối khô chồi bằng tiêu chuẩn Duncan (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w