Do vậy, trong quá trình thực hiện các công đoạn của chuẩn bị thuộc, cần phải điều chỉnh các thông số công nghệ phù hợp cho từng trường hợp, từng loại da nguyên liệu hoặc cho mỗi phương p
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Nghiên cứu xây dựng bộ tài liệu về
công nghệ thuộc da phục vụ công tác chuyên môn
cho cán bộ kỹ thuật của các cơ sở thuộc da Việt Nam”
Mã số: 169.09/RD/HĐ-KHCN ngày 19/3/2009
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Ngô Đại Quang
Trang 2STT Họ và tên Chức vụ, cơ quan công tác
1 PGS TS Ngô Đại Quang Viện trưởng Viện Nghiên cứu Da - Giầy
2 ThS Vũ Ngọc Giang Kỹ sư hoá thuộc da, Phó Viện trưởng Viện
Nghiên cứu Da - Giầy
3 KS Nguyễn Hữu Cường Kỹ sư hoá thuộc da Giám đốc Trung tâm Công
nghệ thuộc da Viện Nghiên cứu Da - Giầy
4 ThS Nguyễn Mạnh Khôi Kỹ sư cơ khí, Trưởng phòng Kế hoạch Viện
Nghiên cứu Da - Giầy
5 KS Hoàng Phi Nga Kỹ sư hoá, Trung tâm Công nghệ Môi trường
Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Trang 3Hình 6 Các đường cắt cơ bản khi lột mổ da lợn 8
Hình 7 Các đường cắt cơ bản khi lột mổ da cá sấu 9
Hình 10 Bảo quản ướp muối - phơi khô da động vật 12
Hình 11 Các đường gấp khi vận chuyển da động vật 13
Hình 12 Cách rắc muối và đường gấp khi vận chuyển da động vật 13
Hình 13 Sơ đồ các công đoạn trong khâu hoàn thành ướt và hoá chất
Hình 19 Sơ đồ khả năng hấp thụ chất thuộc theo tiết diện da 80
Hình 21 Sơ đồ phu lông hình chữ Y 87
Hình 22 Sơ đồ các công đoạn trong khâu hoàn thanh ướt 92
Trang 4Hình 26 Sơ đồ máy sấy chân không 96
Hình 29 Sơ đồ nguyên tắc vò molissa 98
Hình 30 Sơ đồ phương pháp trau chuốt bôi tay 104
Hình 32 Sơ đồ minh hoạ chất lượng trau chuốt 105
Hình 33 Sơ đồ máy trau chuốt cán màng 105
Hình 35 Sơ đồ hệ thống trau chuột phun tay 106
Hình 36 Sơ đồ so sánh hai phương pháp phun tay 107
Trang 5Hình 63 Sơ đồ mô tả hệ thống sấy đường hầm 154
Hình 68 Quá trình phun da dùng súng phun quay 159
Trang 6Trang
Bảng 2 Lượng nước của protein dạng sợi ở trạng thái cân bằng 4
Bảng 3 Lượng kim loại trong da bò 5
Bảng 4 Các khuyết tật của da động vật 10
Bảng 5 Quy trình công nghệ thuộc kết hợp Polyhosphat - Syntan 63
Bảng 6 Điểm đẳng điện của da theo phương pháp thuộc 77
Bảng 7 Khả năng hấp thụ màu theo pH của da thuộc 85
Bảng 8 Bản chất của các chất màu pigment 99
Bảng 9 Thông số cốc kiểm tra độ nhớt dung dịch trau chuốt 106
Bảng 10 Một quy trình công nghệ trau chuốt pigment cho da mũ giầy 111
Bảng 11 Quy trình công nghệ trau chuốt aniline, semianiline 112
Bảng 12 Quy trình trau chuốt da sáp 113
Bảng 13 Thành phần dung dịch nước thoát tạo bọt 114 Bảng 14 Quy trình công nghệ trau chuốt bọt 115 Bảng 15 Môi trường chuẩn và dung sai 122
Bảng 16 Một số tiêu chuẩn về da 138
Trang 71 Cơ sở pháp lý của đề tài
Đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ tài liệu về công nghệ thuộc da phục vụ công
tác chuyên môn cho cán bộ kỹ thuật của các cơ sở thuộc da Việt Nam” được thực
hiện trên cơ sở Hợp đồng số 169.09/RD/HĐ-KHCN ngày 19 tháng 3 năm 2009 giữa
Bộ Công Thương và Viện Nghiên cứu Da - Giầy
2 Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài
Trong cơ chế mở cửa của nền kinh tế đất nước, ngành công nghiệp thuộc da đã
có những bước tiến bộ, chất lượng da thuộc dần tăng lên, các sản phẩm được sản xuất, chế biến từ da thuộc đã bắt đầu có sức canh tranh trên thị trường Tuy nhiên lực lượng
kỹ thuật trong ngành còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng Đa số cán bộ kỹ thuật thuộc da chính thống được đào tạo tại Liên Xô (cũ) và các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu (cũ) hiện đã nhiều tuổi, trong nước hiện chưa có trường đào tạo chuyên ngành Cho đến nay mới chỉ có cuốn Sổ tay kỹ thuật thuộc da do Viện Nghiên cứu Da - Giầy xây dựng, biên soạn và in ấn lưu hành nội bộ với số lượng hạn chế Bởi vậy, yêu cầu cần có bộ tài liệu kỹ thuật chuyên ngành, vừa để cán bộ kỹ thuật tham khảo, vừa để làm cơ sở cho việc soạn thảo giáo trình đào tạo trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, mong muốn ngành công nghiệp thuộc
da nước nhà phát triển, các doanh nghiệp, cơ sở dần khẳng định được mình bằng thương hiệu và chất lượng da thành phẩm, góp phần làm cho ngành Da - Giầy là một trong những ngành có sản phẩm xuất khẩu chủ lực trong nền kinh tế đất nước, việc lựa
chọn và tiến hành đề tài: “Nghiên cứu xây dựng bộ tài liệu về công nghệ thuộc da
phục vụ công tác chuyên môn cho cán bộ kỹ thuật của các cơ sở thuộc da Việt Nam” là hướng đi đúng đắn và cần thiết
3 Mục đích của đề tài
Xây dựng, biên soạn bộ tài liệu có tính đại cương hướng dẫn về công nghệ thuộc
da cho các cán bộ kỹ thuật và quản lý trong ngành thuộc da Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tài liệu chuyên ngành trong và ngoài nước, điều kiện sản xuất thực tế tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất da thuộc trên phạm vi cả nước
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nguyên vật liệu, hoá chất và công nghệ sản xuất da thuộc từ khâu nguyên liệu đầu vào đến da thành phẩm, các phương pháp phân tích cơ, lý, hoá học của thành phẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp tra cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
+ Phương pháp tham quan, thu thập dữ liệu thực tế
Trang 8phần đào tạo nhân lực, tăng cường khả năng phát triển cho ngành
- Đề tài đã hệ thống hóa các lý luận về nguyên vật liệu, hóa chất, thiết bị, sản phẩm, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng sản phẩm da
thuộc
- Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật
và quản lý, các tổ chức và cá nhân quan tâm đến ngành công nghiệp thuộc da nước nhà
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bầy gồm có 8 chương:
+ ChươngI Da nguyên liệu
+ Chương II Chuẩn bị thuộc
+ Chương III Thuộc da
+ Chương IV Hoàn thành ướt
+ Chương V Hoàn thành khô
+ Chương VI Phân loại da thành phẩm
+ Chương VII Tính chất của da thuộc và phương pháp phân tích
+ Chương VIII Máy móc thiết bị thuộc da
Trang 9Trang
1.1 Giải phẫu và mô học da động vật 1
1.3.3 Phân loại da nguyên liệu ở Việt Nam 14
2.1 Khái quát chung về chuẩn bị thuộc 16
2.3 Công đoạn tẩy lông - ngâm vôi 222.3.1 Mục đích của tẩy lông - ngâm vôi 22
2.3.3 Quá trình hoá học với keratin và các thành phần khác 242.3.4 Các phương pháp tẩy lông - ngâm vôi 252.3.5 Các lỗi của tẩy lông - ngâm vôi và giải pháp khắc phục 272.3.6 Các phương pháp tẩy lông - ngâm vôi trong công nghiệp 28
Trang 103.1 Khái quát chung về thuộc da 463.2 Khái quát chung về các chất thuộc 47
3.3.2 Thuyết liên kết nội phân tử (Intermoleculary Linkage) 513.3.3 Thuyết tạo muối 513.3.4 Thuyết phối trí và liên kết ngang 51
3.4.1 Phương pháp thuộc Crôm một bể 523.4.2 Phương pháp thuộc Crôm hai bể 52
3.5.1 Các muối Nhôm dùng để thuộc da là các muối 533.5.2 Cơ chế thuộc của muối Nhôm 54
3.5.4 Thuộc muối Nhôm trong thực tế 55
CHƯƠNG IV HOÀN THÀNH ƯỚT 72
4.1.1 Loại bỏ dung dịch thuộc tồn dư trong da phèn 74
Trang 115.2 Các công đoạn cơ học trước khi trau chuốt 96
CHƯƠNG VI PHÂN LOẠI DA THÀNH PHẨM 116
6.1 Phân loại da theo nguyên liệu 1166.2 Phân loại da theo mục dích sử dụng 1166.3 Phân loại da theo phương pháp trau chuốt 1176.4 Phân loại da theo chất lượng 117
CHƯƠNG VII TÍNH CHẤT CỦA DA THUỘC VÀ
7.3 Phương pháp thử 1207.4 Bảo quản mẫu và điều hoà mẫu 1227.5 Tiến hành thử 123
Trang 12CHƯƠNG I DA NGUYÊN LIỆU
1.1 Giải phẫu và mô học da động vật
Da động vật là một lớp da bao bọc bên ngoài cơ thể sống của động vật Ngoài chức năng bảo vệ cơ thể trước tác động cơ học, da động vật còn có các chức năng như điều hòa nhiệt độ cơ thể, thải bỏ các chất không thích hợp ra khỏi cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của vi khuẩn, điều hòa lượng nước và là xúc giác của cơ thể
Với một số loài vật có lớp da không dày, lớp vẩy sừng hay lông đóng vai trò quan trọng,với một số loài thì chỉ có mật độ và độ bền của lớp da đóng vai trò bảo vệ
cơ thể
Da động vật được tạo nên từ hai phần chính:
- Trên bề mặt là phần vẩy sừng (Epidermis)
- Phần cật là thành phần chính của da gồm có hai lớp: lớp trên (papillary layer)
có cấu tạo sợi mịn, liên kết chặt chẽ tạo mặt cật cho da và lớp dưới (reticular layer) có cấu trúc mạng lưới, độ dày lớn hơn lớp trên và là phần chính tạo độ bền cơ học cho da
Lớp trung gian giữa
bì phu và lớp cật
Lớp bì phu Tuyến mồ hôi
Tổ chức dưới da (lớp bạc nhạc)
Trang 13- Protein cấu trúc sợi:
+ Elastin: sợi vòng trong bó sợi colagen
+ Colagen: tạo nên da thuộc
+ Keratin (tạo nên lông, biểu bì)
- Protein cấu trúc không dạng sợi
Thành phần cơ sở tạo nên protein là amin axít Đó là hợp chất hữu cơ có chứa
Nitơ, có thể coi là các monomer trong tổng hợp sinh học của protein Cấu trúc hóa học
của amin axít:
Có 21 amin axít cơ bản, được chia thành các nhóm chức khác nhau Amin axít
trong nước có điện tích dương hay âm phụ thuộc vào pH:
|
Khi cho thêm proton H+ (thí dụ: axít hóa), sẽ cản trở sự ion hóa nhóm cacboxyl,
tạo cho amin axít tính cation Trong môi trường kiềm xảy ra hiện tượng ngược lại,
amin axít mang tính anion
R
| H2N – Cα – COOH |
O |
C = O
| H3N+ – C– H | R
+ OH+ H+
O |
C = O
| H2N – C– H | R
Trang 141.1.2 Peptid
Amin axít liên kết với nhau, tạo nên peptid, polypeptid va protein nhờ mối liên kết peptid -CONH- Cơ chế của tổng hợp sinh học rất phức tạp Về mặt hóa học có thể viết như sau:
+
Dipeptid
Dipeptid + Amin axít -> tripeptid + (amin axít)n -> polypeptid -> Protein
Khi dưới 10 amin axít kết hợp với nhau, tạo oligopeptid, trên 10 amin axít đến 10.000 tạo polypeptid, trên 10.000 tạo protein
X- H3N+ – C– COOH |
H2N – C – COOH |
CH3
H O H | || | H2N – C – C– N – C – COOH | | |
H H CH3
Trang 151.1.3 Phản ứng của protein
Phản ứng của protein tạo nên:
- Phản ứng covalent (trao đổi điện tử): liên kết ion, liên kết hydro…
- Phản ứng không covalent (không trao đổi điện tử)
Protein dạng sợi được phân thành: colagen, elastin và keratin
Colagen là thành phần chính tạo nên da thuộc Có 5 loại (type) colagen Khi đun
nóng colagen trong nước, nó sẽ biến đổi cấu trúc, có mức sắp xếp phân tử kém ổn định
hơn, gọi là giê-la-tin
Nhiệt độ mà ở đó colagen bắt đầu co lại gọi là nhiệt độ co Ts
Elastin là thành phần quan trọng của protein, có độ đàn hồi lớn tương tự sợi cao
su không được lưu hóa Khi thuộc da, cần loại bỏ sợi elastin, tránh da bị co cứng lại
Keratin không thể coi là một loại protein đồng nhất mà có nhiều dạng sinh học
khác nhau, có tính chất chung là không tan trong nước, có mối liên kết disulfid trong
phân tử keratin là thành phần chính của lông và biểu bì
1.1.4 Nước trong da
Nước là thành phần không thể thiếu của protein để trong cơ thể sống thực hiện
quá trình sinh học cần thiết Trong protein dạng sợi, colagen giữ lượng nước lớn, các
protein khác (keratin, elastin) giữ lượng nước nhỏ hơn, có ái lực thấp hơn đối với
nước Ở trạng thái cân bằng nước khi pH = 5-7, mỗi loại colagen chứa lượng nước
khác nhau như trong bảng 2:
Bảng 2: Lượng nước của protein dạng sợi ở trạng thái cân bằng
Nước ở trạng thái liên kết (hydrat) chiếm khoảng 1/3 lượng nước thành phần ở
trạng thái cân bằng colagen - nước
1.1.5 Chất béo
Chất béo tự nhiên phần nhiều ở trong tế bào mỡ dưới da Đó là triglycerid của
axít béo
R: axít béo cao phân tử
Ở điều kiện bình thường tẩy mỡ bằng chất kiềm loại bỏ khoảng 10% lượng mỡ
tự nhiên Mỡ trong da chủ yếu được loại bỏ khi tẩy lông - ngâm vôi
CH2 – O.OCR1 |
CH – O.OCR2 |
CH2 – O.OCR3
Trang 16P4+ Thành phần tro của da là như trong bảng sau:
Bảng 3: Lượng kim loại trong da bò
Kimloại Na K Ca Mg Cu Zn Fe Cr Mn Li Sr g/g da x
Ở một số nước, da bò được phân loại theo khối lượng như sau:
Loại Khối lượng (kg)
Về cấu trúc, lớp cật của da bò rất phát triển Các bó sợi colagen kết hợp chặt chẽ
Bò nuôi lấy thịt có cấu trúc lỏng lẻo và nhiều mỡ hơn Bò nuôi lấy sữa có phần cật mỏng hơn nhưng diện tích tấm da lớn hòn và ít mỡ hơn
So với da bò, da trâu dày hơn, nhưng nhăn hơn ở cổ, cấu trúc sợi lỏng lẻo hơn
Da bò tươi có khối lượng nhỏ hơn 14 kg thì không phân loại theo giống mà gọi
Trang 17- Vết dao hay vết thủng ở mép da, không quá 5cm cách mép
Tổng vết không quá 5
- Lông bị bẩn nhưng không ảnh hưởng đến mặt da
- Lột mổ:
Trước khi lột mổ cần chú ý những đặc điểm sau đây:
- Chỉ lột da sau khi con vật đã chảy hết máu Máu còn lại trong da làm da dễ bị
hư hỏng và có màu sẫm
- Không có vết dao phạm sâu vào tấm da, da không bị thủng, rách
Hình 3: Các tư thế lột mổ da trâu, bò
- Không có nhiều thịt, mỡ, bầy nhầy trên tấm da
- Tấm da khi trải ra phải bằng phẳng và thành hình con da
- Treo con vật lên móc hoặc đặt lên mễ cao, tránh cát, nước bẩn bám vào da Với da trâu, bò tiến hành rạch các đường sau:
- Rọc một đường thẳng giữa họng từ cố đến ngang dưới đuôi
- Rọc da ở 4 chân kể từ háng con vật dọc theo chiều hướng của chân (2 chân trước dọc phía trước, 2 chân sau dọc ở phía sau)
Trang 18- Rọc nối liền 2 vết dọc của 2 chân trước, cắt ngang qua lần rọc ở bụng (gần sát đuôi)
- Từ các lần rọc trên, tuốt dần tấm da ra khỏi thân con vật, phải lột kỹ cho sạch
mỡ, thịt, bầy nhầy và không để dao phạm sâu vào da
- Cắt bỏ 4 chân ở phía trên khuỷa chân (đầu gối)
Da lợn có cấu trúc đặc biệt Lông mọc (xuyên sâu đến gần lớp trong bạc nhạc da) thành từng nhóm 3 lỗ Đặc biệt da lợn chứa nhiều mỡ, cả ở trong da và lớp dưới da Phần mông da chai cứng, nhưng phần bụng lại lỏng lẻo, cổ, lưng có nhiều vết nhăn Mặt cật da lợn dẽ bị hư hại nên thường được sử dụng mặt trái làm da nhung
Trang 19Hình 5: Các cách lột mổ da lợn
Hình 6: Các đường cắt cơ bản khi lột mổ da lợn 1.2.3 Da cừu
Da cừu có diện tích nhỏ (từ 3-12 bia/con)
Do có lớp lông bảo vệ do đó nên cấu trúc colagen thưa, rỗng nên da mềm, xốp, mặt cật mịn, tuy nhiên độ bền cơ học không cao Tùy theo vùng về vị trí chăn nuôi, da cừu có các đặc điểm khác nhau nhưng đều có lượng mỡ tương đối cao Da cừu có thể được sử dụng riêng phần da (lông được thu hồi làm len) hay được dùng làm thuộc da nguyên lông Da cừu được lột mổ cả con tương tự như da lợn Da cừu được phân loại theo khối lượng và chất lượng da
1.2.4 Da dê
Lượng da dê chủ yếu được cung cấp từ Ấn Độ, Pakistan, Băng-la-đét, ri… Lượng da trên thế giới cũng đang tăng lên Da dê cũng gần giống da cừu, nhưng cấu trúc da đanh, chắc hơn, lượng mỡ cũng ít hơn Da dê được lột mổ tương tự da cừu
An-giê-1.2.5 Da ngựa
Da ngựa có mặt cật tương tự da bò, nhưng phần mông rất chai và nhăn như da lợn Đồ dày của da ngựa cũng không cao, nên dễ bị vết dao lột mổ Lượng da ngựa không nhiều và ngày càng giảm do nhu cầu chăn nuôi
Trang 20Hình 7: Các đường cắt cơ bản khi lột mổ da cá sấu
1.2.8 Da chim, đà điểu
Da chim rất mỏng, lỗ chân lông rộng và sâu Sụ phân tách giữa lớp reticular va papilar không rõ rệt Lớp bì phu có cấu trúc thưa, rỗng nên da mềm, xốp, dễ bóc ra từng lớp Ngày nay da đà điểu và da gà, chim được dùng nhiều do hình thức thời trang của các mặt hàng làm từ loại da này
Trang 21Việc lột mổ được tiến hành sau khi nhổ lông, rạch khoanh tròn vào cổ sau đầu
mỏ, dọc 1 đường dọc cỏ đến ức, kéo dài đến khấu đuôi 2 chân được rạch dọc theo
chiều dài phía sau chân Tuốt da khỏi mình và cánh
1.2.9 Khuyết tật của da nguyên liệu
Các khuyết tật của da nguyên liệu ảnh hưởng nhiều đến chất lượng da thuộc
Khuyết tật tự nhiên khi súc vật sống như vết sẹo, ghẻ, đóng dấu Có khuyết tật tạo nên
trong quá trình lột mổ, bảo quản như da hư thối, xước, thủng
Các khuyết tật tạo nên khi con vật sinh trưởng:
Vết sẹo: xuất hiện khi con vật bị dây thép gai, cành cây cào vào, hay vết chim
mổ, ghẻ lở tạo sẹo lồi hay lõm Ngoài ra còn vết đóng dấu móng ở mông con vật của
trại chăn nuôi đóng dấu
Hình 8: Các khuyết tật da động vật
Các khuyết tật sau khi con vật chết:
Khuyết tật khi lột mổ: đó là các vết dao ở mặt trái con da, thậm chí là lỗ thủng
Các khuyết tật này làm giảm đi giá trị của con da
Khuyết tật do bảo quản:
Nếu bảo quản không đúng kỹ thuật, có thể xẩy ra các khuyết tật sau:
- Khuyết tật do da bị thối: do vi khuẩn phá hủy nên da bị hỏng, mức độ nhẹ là
rụng lông, nặng hơn là phân hủy mặt cật
Trang 22- Khuyết tật do da bị mốc: nhất là các loại mốc đỏ, ăn xuyên qua thiết diện da, khi nhuộm hoặc trau chuốt mầu sẽ không đều và không thể xuất khẩu được
1.3 Bảo quản và phân loại da nguyên liệu
Da nguyên liệu thường chiếm 45 - 55% giá thành da thuộc thành phẩm Thường sau khi lột mổ, da tươi không thể được đưa ngay tới các cơ sở thuộc da, vì vậy thường phải đưa vào bảo quản Ở điều kiện nóng ẩm như nước ta, nếu sau 12h kể từ khi con vật chết mà chưa kịp bảo quản thì da sẽ bị hư hỏng
1.3.1 Bảo quản da nguyên liệu
Trước khi đưa vào bảo quản, da cần được rửa sạch và vắt lên mễ cho ráo nước
1.3.1.1 Bảo quản bằng cách ướp muối hạt
Kỹ thuật muối da tiến hành như sau:
a Trải tấm da lên bục gỗ hay nền xi măng nghiêng (để nước trong da chảy ra được), mặt thịt ở trên, dùng muối xát đều lên mặt thịt Sử dụng muối có cỡ hạt nhỏ Nếu hạt to thì phải xay nhỏ Lượng muối trung bình từ 3 - 4kg cho 10 kg da Có thể thêm chất chống khuẩn Chất da thành đống cao khoảng 0,6m, mặt thịt luôn hướng lên trên Giữa hai tấm da là một lớp muối Để yên 3 ngày trong nhà kho có mái che để tránh mưa, nắng, nhà phải thoáng khí để hơi nước dễ thoát ra
b Sau 3 ngày, mang da ra phơi gió (không để ánh nắng chiếu trực tiếp vào da) đến khi mặt da khô ráo, nhưng không quá cứng (dùng tay gấp lại, da vẫn mềm) Nếu không phơi được thì sau 3 ngày phải đảo muối 1 lần (lắng theo thứ tự từ trên xuống dưới từng tấm một, chất lại thành đống mới, giữa hai tấm là 1 lớp muối mới) cho đến khi mặt da khô ráo như trên
c Trong thời gian bảo quản da, mỗi tuần phải đảo da 1 lần Nếu bảo quản đúng
kỹ thuật, có thể vắt mễ, giữ được từ 3-6 tháng
Hình 9: Bảo quản ướp muối da động vật
Trang 231.3.1.2 Bảo quản bằng dung dịch muối
Dung dịch muối bão hòa là dung dịch 33% muối ăn NaCl (15kg muối trong 45 lít nước) Da tươi được rửa sạch và ráo nước, được ngâm trong bể hoặc thùng quay (paddle) với dung dịch muối bão hòa
Bể hoặc thùng quay được quay đảo 5’/h Sau 12-14h đối với da to như da trâu,
bò nước muối sẽ ngấm vào da Sau đó vớt da ra, để cho ráo nước và ướp muối như phương pháp trên
Phương pháp bảo quản này thường được áp dụng co các loại da lông, da nốt sần, trăn, rắn Dung dịch muối này có thể được dùng lại, nhưng cần kiểm tra vi khuẩn và bổ sung muối
1.3.1.3 Bảo quản ướp muối - phơi khô
Phương pháp này được tiến hành như phương pháp bảo quản ướp muối Sau 3 ngày, da được phơi cho khô ráo, nhưng vẫn còn mềm Khi đó độ ẩm trong da còn khoảng 20-25%
Hình 10: Bảo quản ướp muối - phơi khô da động vật 1.3.1.4 Bảo quản phơi khô
Phương pháp chỉ thích hợp với những nơi nắng nhiều Nó không đòi hỏi hóa chất Da được phơi khi đến độ ẩm 10-14% Ở độ ẩm này một số vi khuẩn bị tiêu diệt, một số thu lại dạng bào tử không hoạt động
Chú ý:
Không phơi ở nhiệt độ cao quá, vì da dễ bị giê-la-tin hóa Cũng không phơi ở nhiệt độ thấp vì lâu khô, da dễ bi vi khuẩn phá hủy
1.3.1.5 Bảo quản bằng dung dịch axít hóa (pickel)
Phương pháp này được tiến hành sau khi da đã được tẩy lông, làm mềm
Da đi quay trong phu lông với dung dịch 100% nước, 12% muối ăn NaCl thời gian 20’/ Sau đó bổ sung 1-1,2% H2SO4 (1:10), quay 2-3h Môi trường axít ngăn chặn
sự phát triển của vi khuẩn và đồng thời chuẩn bị cho công đoạn thuộc Phương pháp bảo quản này thường dùng cho các loại da nhỏ hay da nguyên lông
1.3.1.6 Bảo quản thời gian ngắn
Trong một số trường hợp không cần phải bảo quản thời gian dài (không quá 10 ngày với thời tiết nóng ẩm và 20 ngày với khí hậu khô lạnh)
Bảo quản thời gian ngắn không đòi hỏi lượng hóa chất nhiều mà có thể dùng môi trường lạnh hay các chất ức chế sự hoạt động của vi khuẩn
Mặt lông
Mặt thịt
Trang 24Phương pháp làm lạnh: giữ cho da ở nhiệt độ thấp (2-3oC) bằng thiết bị lạnh Da được xếp trên các mễ gỗ (5-6con) Hạ nhiệt độ xuống 1oC qua đêm, sau đó giữ ở nhiệt
độ 2 - 3oC
Phương pháp sử dụng hóa chất đơn giản:
- Phun vào mặt thịt dung dịch 20% ZnCl2hoặc quay trong phu lông với 50% nước chứa 0,5% ZnCl2 và 0,05% sodium penta-chlorphenate
- Quay phu lông với 20-30% nước chứa 1% Na2SO3 và 1% CH3COOH trong
Trước khi vận chuyển, da được xếp lại từng tấm một Mặt thịt ở bên ngoài, bên trong rắc muối (sử dụng 1-2 kg muối cho 10 kg da)
Hình 11: Các đường gấp khi vận chuyển da động vật
Hình 12: Cách rắc muối và đường gấp khi vận chuyển da động vật
Trang 25Cần lưu ý:
- Da sau khi muối vẫn có thể bị hư hỏng nếu bị ẩm ướt và nóng Do đó, giữ cho
da được khô, ráo, thoáng khí trong quá trình bảo quản và chuyên chở là rất cần thiết
- Trong điều kiện nóng ẩm ở nước ta, khi chất đống da để chuyên chở dễ làm hỏng da Khi xếp da xong, cần chở ngay đến nơi nhận da trong thời gian ngắn nhất
- Nếu để da trong bao, dùng bao dệt như bao tải, bao sợi PP để da thoáng khí
1.3.3 Phân loại da nguyên liệu ở Việt Nam
- Bảo quản đủ muối, khô ráo
- Thịt bầy nhầy tối đa 2% khối lượng
b Loại A
Phần bắt buộc:
- Nguyên hình con da
- Phải cắt bỏ đầu, tai, mắt, mũi, đuôi, hậu môn, phần cẳng cắt ngày gối
- Không được tróc lông
- Da không dính đất, cát, khô ráo và được loại bỏ muối trước khi cân
Cho phép các khuyết tật:
- Có tối đa 2 vết trầy nhỏ trên da nhưng không làm ảnh hưởng đến mặt da
- Có tối đa 2 vết thủng đường kính không quá 2 cm
- Mặt thịt có tối đa 4 vết dao do dao lột nhưng không để sâu quá ½ chiều dày da
- Có tối đa 2 lỗ thủng, sẹo trong khu vực từ 10cm trở ra mép con da
c Loại B
Phần bắt buộc giống loại A
Phần cho phép khuyết tật:
- Có cùng 1 lúc 3 trong số các khuyết tật sau:
+ Không quá 5 vết xước ở bụng
+ Hai vết trầy nhưng diện tích không quá 1dm2
+ Tối đa 3 lỗ thủng hoặc vết cắt trên con da, bề rộng mỗi lỗ không quá 5cm + Ở mặt thịt có tối đa 8 vết dao do lột nhưng không sâu quá ¾ chiều dày da
Các tiêu chuẩn phân loại giống như da muối về hình dáng và khuyết tật
- Da phải ráo nước (nước không còn nhiều)
- Không được dính cát, muối, đất, phân…
Trang 261.3.3.3 Các loại da quý hiếm
Trang 27CHƯƠNG II CHUẨN BỊ THUỘC
2.1 Khái quát chung về chuẩn bị thuộc
Để có được da thuộc, da nguyên liệu phải qua nhiều công đoạn cơ - lý - hoá Các công đoạn đó tạo thành các phần, mà nó được gọi là phần chuẩn bị thuộc và thuộc, phần hoàn thành ướt và phần hoàn thành khô
Chuẩn bị thuộc là phần có nhiều công đoạn khác nhau Quá trình thực hiện các công đoạn của chuẩn bị thuộc là quá trình biến đổi da nguyên liệu thành da trần (pelt)
Để biến đổi da nguyên liệu thành da trần, da nguyên liệu phải được lọai bỏ lớp biểu bì, lớp tổ chức dưới da (lớp bạc nhạc) và lớp bì phải được biến đổi về tính chất lý - hoá,
để có được tính chất và điều kiện phù hợp cho quá trình thuộc
Da trần là da mà thành phần chính của nó là nước và sợi collagen, sẽ là phần nguyên liệu chính tạo nên da thuộc, nên chất lượng da thuộc sẽ phụ thuộc vào quá trình thực hiện các công đoạn của chuẩn bị thuộc Các công đoạn của chuẩn bị thuộc thực hiện tốt sẽ là điều kiện thuận lợi để thực hiện các công đoạn tiếp theo của công nghệ sản xuất da thuộc, da thành phẩm thu được sẽ đạt được chất lượng cao Ngược lại, các công đoạn của chuẩn bị thực hiện không tốt, sẽ khó thực hiện được các công đoạn tiếp theo của phần hoàn ướt, hoàn thành khô, thậm chí không thể khắc phục được các vấn đề của công nghệ
Ngoài ảnh hưởng công nghệ, chất lượng da trần còn phụ thuộc khá nhiều vào loại da nguyên liệu, giống, tuổi, vùng miền và phương pháp bảo quản Do vậy, trong quá trình thực hiện các công đoạn của chuẩn bị thuộc, cần phải điều chỉnh các thông số công nghệ phù hợp cho từng trường hợp, từng loại da nguyên liệu hoặc cho mỗi phương pháp bảo quản, không thể áp dụng một công nghệ chuẩn bị cho tất cả các loại
da nguyên liệu
Các công đoạn của phần chuẩn bị thuộc là: hồi tươi, nạo bạc nhạc, tẩy lông - ngâm vôi, nạo lông, nạo ghét, xẻ vôi
2.2 Công đoạn hồi tươi
Công đoạn hồi tươi là công đoạn đầu tiên của công nghệ sản xuất da thuộc, mục đích của công đoạn hồi tươi là:
Đưa một lượng nước vào trong da nguyên liệu, để da nguyên liệu đạt được độ mềm mại như độ mềm mại mà da nguyên liệu có được sau khi lột Vì trong quá trình bảo quản da nguyên liệu, một lượng nước trong da nguyên liệu đã bị mất Ngoài ra còn loại bỏ: các chất bảo quản như muối ăn, các chất protein có thể hoà tan được trong nước, đất cát, máu dính ở da
Lượng nước cần đưa lại vào trong da phụ thuộc vào lượng nước đã mất trong quá trình bảo quản Lượng nước mất nhiều hay ít phụ thuộc vào phương pháp bảo quản Da bảo quản bằng phương pháp phơi khô chỉ còn 15 - 20% lượng nước, da bảo quản bằng phương pháp muối chỉ chứa 42 - 45% nước
Trong quá trình hồi tươi, một lượng nước nhất định được đưa vào trong cấu trúc sợi da, có vai trò để da có thể trở lại trạng thái mềm mại như da tươi sau khi lột mổ, còn có tác dụng như là công cụ để giảm ma sát giữa da và phu lông trong quá trình quay và là môi trường để đưa các hoá chất vào trong da và thông qua đó loại bỏ các
Trang 28chất cần phải loại bỏ trước khi thuộc như các chất protein không có cấu trúc sợi như albumin, globumin
Nếu thiếu lượng nước nhất định cần có trong da hoặc mức độ hồi tươi không đạt, da thành phẩm thu được sẽ không đạt về chất lượng
Hồi tươi là công đoạn rất quan trọng trong sản xuất da thuộc và có tính quyết định đến chất lượng da thành phẩm Quá trình hồi tươi đạt chất lượng tốt, sẽ giúp cho các công đoạn kế tiếp hiệu quả hơn và chất lượng da thành phẩm sẽ là tốt
2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hồi tươi
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hồi tươi gồm các yếu tố sau:
- Trạng thái da nguyên liệu trước khi hồi tươi như da bảo quản khô, bảo quản muối, bảo quản muối - phơi khô và các phương pháp bảo quản khác
- Nhiệt độ nước dùng để hồi tươi
- Thành phần của nước dùng để hồi tươi
- Hệ số lỏng (lượng nước hồi tươi)
- Các tác động kích hoạt
- Thời gian hồi tươi
- Tác động cơ học
2.2.1.1 Trạng thái da nguyên liệu
Trạng thái da nguyên liệu là trạng thái da sau khi đã được bảo quản Da nguyên liệu bảo quản theo phương pháp nào, trạng thái da nguyên liệu sẽ mang tính đặc trưng của phương pháp đó
Da nguyên liệu bảo quản bằng cách phơi khô, trạng thái da nguyên liệu là da khô, điều đó có nghĩa là da nguyên liệu đã mất một lượng nước khá lớn Lượng nước mất nhiều, quá trình hồi tươi sẽ phức tạp hơn so với da nguyên liệu mất ít nước
Trong trường hợp da nguyên liệu mất nhiều nước như da bảo quản phơi khô, cần đưa một số tác nhân hoạt động bề mặt và chất tẩy mỡ, nhằm giảm sức căng bề mặt giữa da và nước, đồng thời xà phòng hoá các chất béo ở mặt da, tăng khả năng xuyên của nước vào trong da như chất Bemanol D của Hãng sản xuất hóa chất Stalh, Sandozil Nil của Hãng Clariant
2.2.1.2 Nhiệt độ của nước trong hồi tươi
Nhiệt độ của nước hồi tươi có ảnh hưởng đến thời gian và mức độ hồi tươi của
da nguyên liệu, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng da thành phẩm
Nhiệt độ của nước hồi tươi cần phải xác định để không tạo nên điều kiện thuận lợi cho cho vi khuẩn gây thối phát triển Nhiệt độ của nước thấp, quá trình hồi tươi phải kéo dài, nếu nhiệt độ của nước hồi tươi cao, quá trình hồi tươi nhanh hơn, nhưng
vi khuẩn gây thối sẽ phát triển và mặt da dễ bị phá hỏng, thậm chí có thể làm tụt lông
Nếu nhiệt độ của nước dùng để hồi tươi cao trên 25 độ, cần đưa các chất chống thối vào dung dịch hồi tươi như Bemanol 2B của Hãng Stalh, Cismollan BH của Hãng Bayer, sẽ hạn chế vi khuẩn gây thối phát triển
Nếu nhiệt độ của nước hồi tươi thấp (nhiệt độ nước trong mùa đông), để đảm bảo quá trình hồi tươi đạt yêu cầu, cần đưa thêm chất hoạt động bề mặt và tăng tác động cơ học
Trang 292.2.1.3 Thành phần của nước hồi tươi
Thành phần của nước hồi tươi có ảnh hưởng đến chất lượng của quá trình hồi tươi Thành phần của nước được thể hiện thông qua độ cứng và hàm lượng vi khuẩn, hàm lượng các chất hữu cơ Hàm lượng vi khuẩn cao, nghĩa là nước bẩn sẽ tạo điều kiện để vi khuẩn gây thối phát triển nhanh
Nước dùng để hồi tươi cần độ cứng thấp hoặc trung bình, không chứa các vi sinh vật và nhiệt độ khá ổn định Chính vì những yêu cầu trên, nước dùng để hồi tươi tốt nhất nước ngầm (nước giếng), vì nước ngầm không chứa nhiều vi sinh vật và nhiệt
độ là tương đối ổn định trong tất cả các mùa
Trong trường hợp nước dùng để hồi tươi là nước cứng, cần phải xử lý độ cứng của nước trước khi dùng để hồi tươi Nếu dùng nước hồi tươi không sạch, trong quá trình hồi tươi cần sử dụng lượng nhất định chất sát trùng như Bemanol 2B của Hãng Stalh, nhằm hạn chế vi khuẩn phát triển trong thời gian hồi tươi, vì nước bẩn là môi trường thích hợp cho vi khuẩn phát triển
2.2.1.4 Hệ số lỏng
Hệ số lỏng là tỷ lệ giữa lượng nước dùng để hồi tươi và lượng da nguyên liệu đưa vào hồi tươi và được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) Ví dụ hệ lỏng là 300%, điều đó
có nghĩa là lượng da nguyên liệu là 100 kg, lượng nước cần để hồi tươi là 300 kg Nếu
hệ số lỏng thấp, lượng nước dùng để hồi tươi là ít, mức độ hồi tươi của da nguyên liệu
sẽ không đạt được độ đồng đều và triệt để (không hoàn hảo) Ngược lại nếu hệ số lỏng cao, lượng nước dùng để hồi tươi nhiều Nhiều nước là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, vi khuẩn phát triển sẽ phá huỷ sợi collagen, đồng thời tăng chi phí đầu vào
Hệ số lỏng cao hay thấp là phụ thuộc vào phương pháp bảo quản da nguyên liệu
và thiết bị dùng để hồi tươi Da nguyên liệu được bảo quản bằng phương pháp phơi khô, hệ số lỏng hồi tươi phải cao hơn so với trường hợp da nguyên liệu bảo quản bằng phương pháp ướp muối Thiết bị dùng để hồi tươi là thùng bán nguyệt (Padle), hệ số lỏng sẽ cao hơn so với thiết bị dùng để hồi tươi là phu lông (Drum) Hồi tươi trong phu lông có hệ số lỏng 250 - 300%, hồi tươi trong thùng bán nguyệt có hệ số lỏng thường
là 350 - 400%
2.2.1.5 Ảnh hưởng của tác động kích hoạt
Các tác động kích hoạt trong quá trình hồi tươi là tác động cơ học và hoá chất Các tác động kích hoạt có tác dụng làm giảm thời gian hồi tươi và tăng khả năng hồi tươi nhanh của da nguyên liệu
Hoá chất dùng trong quá trình hồi tươi có tác dụng làm tăng khả năng hấp thụ nước của da, đồng thời có tác dụng xà phòng hoá các chất béo của da, qua đó sẽ giảm thời gian hồi tươi và hạn chế vi khuẩn phát triển trong thời gian hồi tươi
Các hoá chất thường dùng để hồi tươi là các chất kiềm như Hydroxyt Natri, lượng dùng từ 0,1 - 0,2%, Sulphua Natri dùng từ 0,1 - 0,3% và Polysulphua Natri dùng từ 0,1 - 0,3%, Carbonat Natri dùng từ 0,4 - 0,5%
Ngoài các chất kiềm dùng để hồi tươi, trong hồi tươi còn sử dụng axit hữu cơ Không dùng axit Clorhydric, axit Sulphuric, vì axit mạnh rất dễ phá huỷ da Việc sử dụng axit hữu cơ trong hồi tươi chỉ áp dụng cho da nguyên liệu bảo quản khô, vì thời
Trang 30gian hồi tươi lâu hơn, mặt khác cường độ hồi tươi phải từ từ, như vậy vi khuẩn khó có thể phát triển mặc dù thời gian hồi tươi nhiều hơn
Một số muối trung tính như muối ăn cũng được dùng trong hồi tươi, nhưng chỉ
áp dụng trong trường hợp da nguyên liệu không bảo quản muối Việc đưa muối ăn vào dung dịch hồi tươi với da bảo quản không muối, nhằm hạn chế da hấp thụ nước nhanh, tránh được hiện tượng hồi tươi không đồng đều
Các chất hoạt động bề mặt là các phức hữu cơ, có khả năng làm tăng độ xuyên của nước vào trong da, đồng thời xà phòng hoá các chất béo có trong da, nhờ đó mà quá trình hồi tươi tiến triển nhanh hơn
Các chất hoạt động bề mặt được sử dụng phổ thông nhất là các axit Sulphonaphtanic, Monoetanol Amin và Sulphat Alcool béo Các chất hoạt động bề mặt dạng này được sản xuất dưới dạng tên thương mại khác nhau tuỳ theo nhà sản xuất như Molescal C của Hãng BASF, Bemanol D của Hãng Stalh, Sandozil Nil của Hãng Clariant
Việc sử dụng các chất hoạt động bề mặt trong quá trình hồi tươi là cần thiết, đặc biệt da nguyên liệu bảo quản khô, da nguyên liệu chứa hàm lượng mỡ cao như da cừu, da lợn, các chất hoạt động bề mặt sẽ đẩy nhanh quá trình hồi tươi
Ngoài các yếu tố kích hoạt trên, quá trình hồi tươi còn được kích hoạt bởi yếu
tố cơ học Yếu tố cơ học là nhờ tác động chuyển động quay của phu lông trong trường hợp hồi tươi bằng phu lông hoặc nhờ chuyển động quay của cánh gạt nước, làm nước chuyển động như trường hợp hồi tươi trong thùng bán nguyệt
Nhờ tác động cơ học, nước sẽ xuyên vào trong da nhanh hơn, đồng thời một số chất có trong da như albumin, globumin, các chất ngoài da như máu, cát bùn dễ dàng
bị loại bỏ
2.2.1.6 Thời gian hồi tươi
Thời gian hồi tươi có ảnh hưởng đến chất lượng của quá trình hồi tươi, thời
gian hồi tươi phụ thuộc vào:
- Loại da nguyên liệu
- Phương pháp bảo quản da nguyên
- Các yếu tố kích hoạt như hoá chất, chất hoạt động bề mặt v.v
- Hệ số lỏng
- Nhiệt độ nước dùng để hồi tươi
Các yếu tố ảnh hưởng trên cần phải lựa chọn một cách thích hợp, để thời gian hồi tươi là ngắn nhất, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng của quá trình hồi tươi, da nguyên liệu đạt được yêu cầu về hồi tươi và không bị vi khuẩn phá huỷ
Trong các loại da nguyên liệu, thời gian hồi tươi da nguyên liệu sử dụng ngay sau khi lột là ngắn nhất, với da nguyên liệu bảo quản bằng phương pháp phơi khô, thời gian hồi tươi là lâu nhất
2.2.2 Phương pháp hồi tươi
Để quá trình hồi tươi đạt kết quả theo yêu cầu của công nghệ sản xuất mặt hàng
da thuộc đã đặt ra, cần phải xem xét da nguyên liệu sẽ hồi tươi đã được bảo quản theo phương pháp nào, từ đó lựa chọn phương pháp và thiết bị hồi tươi cho phù hợp
Trang 312.2.2.1 Hồi tươi da nguyên liệu chưa bảo quản (da tươi)
Da nguyên liệu chưa bảo quản là da nguyên liệu sau lột mổ Loại da này chưa được bảo quản, da không bị mất nước, nên không cần phải thực hiện hồi tươi, mà chỉ cần rửa nhằm loại bỏ các chất bẩn, chất protein có thể hoà tan được trong nước và máu sau khi lột Thiết bị có thể là phu lông hoặc thùng bán nguyệt, có thể đưa ít muối ăn (khoảng 4-5%), nhằm tăng khả năng hòa tan của protein Sau đó, da nguyên liệu được chuyển sang công đoạn kế tiếp
2.2.2.2 Hồi tươi da nguyên liệu bảo quản muối
Da nguyên liệu bảo quản muối cần được phân loại theo giống, trọng lượng và chất lượng trước khi thực hiện hồi tươi, việc phân loại đó sẽ đảm bảo quá trình hồi tươi đạt độ đồng đều Trước khi hồi tươi da nguyên liệu cần được loại bỏ muối bám trên mặt da
Da nguyên liệu muối được hồi tươi như sau:
Trước khi hồi tươi, da nguyên liệu sẽ được phân loại theo trọng lượng hoặc theo giống tùy theo nhà sản xuất
Quá trình hồi tươi thực hiện theo 2 giai đoạn: Hồi tươi lần 1 và lần 2
Hồi tươi lần 1 thực hiện với hệ số lỏng là khoảng 250 - 500% tính theo trọng lượng da, thời gian là 3 - 5 giờ, nhiệt độ hồi tươi khoảng 22 - 25 độ Thiết bị hồi tươi
là phu lông hoặc thùng bán nguyệt Cách thực hiện như sau: Da nguyên liệu được quay rửa trong thời gian khoảng 15 - 20 phút, sau đó da được ngâm trong nước khoảng 2 - 3 giờ Sau thời gian ngâm, da nguyện liệu được quay rửa với nước lưu thông khoảng 30 phút, sau đó tiến hành nạo bạc nhạc và tổ chức dưới da
Hồi tươi lần 2 được tiến hành sau khi da đã được loại bỏ lớp bạc nhạc và được thực hiện trong phu lông với hệ số lỏng 250 - 300% hoặc trong thùng bán nguyệt với
hệ số lỏng 450 - 500%, nhiệt độ 22 - 25 độ, thời gian từ 6 - 10 giờ tuỳ thuộc vào mùa Dung dịch hồi tươi lần 2 có hoá chất hay không là phụ thuộc vào trạng thái da nguyên liệu, hoá chất thường sử dụng là Sulphua Natri, lượng dùng khoảng 0,3 - 0,4% hoặc cao hơn đối với da nguyên liệu là da lợn muối
2.2.2.3 Hồi tươi da nguyên liệu bảo quản đông lạnh
Da nguyên liệu bảo quản đông lạnh chủ yếu áp dụng ở vùng gần bắc cực, vì ở
đó điều kiện tự nhiên phù hợp cho phương pháp bảo quản đông lạnh
Da nguyên liệu bảo quản đông lạnh bị mất nước là do quá trình đông lạnh gây nên Trước khi hồi tươi da nguyên liệu đông lạnh cần phải được khử đông lạnh, khử đông lạnh bằng cách trải da nguyên liệu ra sàn xưởng hoặc ngâm da vào nước khoảng
20 độ Sau khi khử đông lạnh, da được đưa vào thực hiện hồi tươi với thời gian khoảng
24 giờ Do da bảo quản đông lạnh chứa nhiều vi khuẩn hơn so với da bảo quản muối, cho nên trong thời gian hồi tươi, cần đưa chất sát trùng vào nước hồi tươi như florsilicat Natri, lượng dùng khoảng 0,70gam/lít nước
2.2.2.4 Hồi tươi da nguyên liệu bảo quản khô
Hồi tươi da nguyên liệu bảo quản khô khó khăn hơn so với tất cả các loại da nguyên liệu khác, do da nguyên liệu bị mất nước nhiều trong thời gian phơi khô, các sợi collgen dính lại với nhau gần như một khối vững chắc, do vậy các sợi collagen rất khó hấp thụ nước, để có thể trương nở và mở cấu trúc sợi, nếu quá trình hồi tươi thực
Trang 32hiện đơn thuần với nước Để thực hiện hồi tươi da bảo quản khô đạt kết quả khả quan, cần đưa một số hoá chất vào nước hồi tươi như hydroxyt Natri, Sulphua Natri
Thực hiện hồi tươi da bảo quản khô sẽ tiến hành theo 2 giai đoạn, giai đoạn đầu
da được hồi tươi với nước chứa 1 - 3kg Sulphua Natri/1m3 nước hoặc 1 - 2kg NaOH/1m3 nước, thời gian từ 12 - 24 giờ Trong môi trường kiềm mạnh (pH = 12,4 - 12,6), các chất béo ở bề mặt da sẽ bị xà phòng khá mạnh, tạo điều kiện nước xuyên vào trong da, khi nước đã xuyên vào trong da, da đạt được độ trương nở nhất định Sau khi da đã đạt được độ trương nở, da nguyên liệu sẽ chuyển sang giai đoạn hồi tươi lần
2, giai đoạn hồi tươi lần 2 được thực hiện với nước sạch (nước không chứa hoá chất) trong thời gian là 2 - 3 ngày tuỳ theo trạng thái da khô ban đầu
Để giảm thời gian hồi tươi da nguyên liệu khô, sau khi hồi tươi lần 1, nếu da nguyên liệu đạt được độ mềm, mà độ mềm đó có thể thực hiện nạo bạc nhạc bằng máy hoặc thủ công (bằng tay), da nguyên liệu sẽ phải nạo bạc nhạc trước khi đưa vào thực hiện hồi tươi lần 2
2.2.3 Các lỗi trong hồi tươi và giải pháp khắc phục
Các lỗi xảy ra trong quá trình hồi tươi thường được phát hiện sau khi da thành phần đã hoàn thành và có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng da thành phẩm, các lỗi đó thường là các lỗi sau:
- Hồi tươi chưa đủ (hồi tươi không đạt)
- Hồi tươi quá mức
- Vi khuẩn tác động
2.2.3.1 Hồi tươi chưa đủ
Hồi tươi chưa đủ là hậu quả của việc thực hiện chưa đúng các thông số công nghệ như nhiệt độ của nước hồi tươi quá thấp, thời gian hồi tươi ngắn, hệ số lỏng thấp hoặc không sử dụng các yếu tố kích hoạt Thực hiện sai một trong các thông số công nghệ trên, đều tạo nên những lỗi hồi tươi không đủ, hồi tươi không đạt Hồi tươi không
đủ da bị cứng và tiết diện của da sẽ có màu hơi trong
Hồi tươi chưa đủ thường xảy ra trong trường hợp da nguyên liệu là da khô, hoặc da bảo quản bằng phương pháp muối - phơi khô Để tránh lỗi hồi tươi chưa đủ, khi thực hiện hồi tươi nên thực hiện đúng các thông số công nghệ đã đặt ra, đó là giải pháp tốt nhất
2.2.3.2 Hồi tươi quá mức
Lỗi này là lỗi hồi tươi với hệ số lỏng lớn, nhiệt độ nước hồi tươi cao và thời gian kéo dài Hồi tươi quá mức sẽ phá huỷ tổ chức sợi da, da thành phẩm thu được sẽ
bị lỏng mặt, độ bền cơ - lý thấp, độ bai dãn lớn Tất cả đều do không thực hiện đúng quy trình công nghệ, giải pháp tốt nhất là cần tuân thủ các yếu tố công nghệ đã đề ra
2.2.3.3 Vi khuẩn tác động
Vi khuẩn luôn có trong nước và ở da nguyên liệu, gặp điều kiện thuận các vi khuẩn sẽ phát triển mạnh và phá huỷ da Đặc biệt là bề mặt da, da thành phẩm sẽ không còn mặt cật tự nhiên, giá trị bị giảm rất nhiều Để loại bỏ lỗi này, khi thực hiện hồi tươi nên sử dụng các tác nhân sát trùng, nhất là khi thực hiện hồi tươi vào mùa hè,
vì mùa hè nhiệt độ nước thường cao
Trang 332.2.4 Kiểm tra quá trình hồi tươi
Để đạt được kết quả hồi tươi tốt, trong quá trình thực hiện hồi tươi cần kiểm tra, giám sát thường xuyên các yếu tố công nghệ như nhiệt độ nước hồi tươi, hệ số lỏng, thời gian hồi tươi, kiểm tra tiết diện cắt của da để có thể khẳng định được mức độ hồi tươi đã đạt hay không đạt, để từ đó cần kéo dài thời gian hoặc giảm thời gian hồi tươi Kiểm tra tiết diện cắt của da là việc đòi hỏi người kiểm tra phải có kinh nghiệm,
da đã đạt độ hồi tươi là da phải mềm và độ nở khá đồng đều Để kiểm tra độ mềm tốt hơn, trong quá trình kiểm tra nên kết hợp kinh nghiệm và thiết bị phân tích
2.3 Công đoạn tẩy lông - ngâm vôi
2.3.1 Mục đích của tẩy lông - ngâm vôi
Tẩy lông - ngâm vôi là loại bỏ lớp biểu bì, lông, các chất protein giữa các sợi
da, làm trương nở cấu trúc sợi da, xà phòng hoá các chất béo có trong da, làm yếu liên kết giữa lớp bì và lớp tổ chức dưới da
Công đoạn tẩy lông - ngâm vôi là công đoạn chính để chuyển hoá da nguyên liệu thành da trần Việc chuyển hoá được thực hiện bằng phương pháp hoá học và vi sinh
Phương pháp hoá học là phương pháp sử dụng các chất Hydroxyt, Sulphua, axit
và các chất oxy hoá khử, các hoá chất sẽ tạo nên những chuyển hoá cần thiết của công nghệ Phương pháp vi sinh là phương pháp dựa trên chức năng hoạt động của men đối với lớp biểu bì (Epidermis) và các thành phần của lớp biểu bì
2.3.2.1 Ảnh hưởng của mức độ hồi tươi
Khi da nguyên liệu không đạt được độ hồi tươi, khi tẩy lông - ngâm vôi da cũng sẽ không đạt chất lượng, do các hoá chất không thể xuyên đồng đều vào trong da, tác động các hoá chất là không đồng đều đối với các thành phần của da, chất lượng sản phẩm cuối cùng sẽ kém
2.3.2.2 Hoá chất và lượng sử dụng
Các hoá chất có khả năng tẩy lông - ngâm vôi là tương đối nhiều, các hoá chất
đó được chia thành nhóm theo các đặc tính của chúng như sau:
- Nhóm hydroxyt của một số kim loại kiềm hoặc của một số kim loại kiềm thổ,
đó là Hydroxyt Kali, Natri, Bari, và Calxi Trong các Hydroxyt nêu trên, Hydroxyt được sử dụng nhiều nhất là Hydroxyt Calxi
- Các sulphua của kim loại kiềm và kiềm thổ như sulphua Kali, Natri, Bari và Calxi Sulphua được sử dụng và phổ thông nhất là Sulphua Natri
- Các Hydrosulphua như Hydrosulphua Kali, Natri và Calxi, Hydrosulphua Natri là các chất được sử dụng nhiều nhất
Trang 34- Các Amin như Metylamin, Etanolamin, Etylendiamin, Hydroxylamin
- Các chất khử như muối Sắt 3, Sulphit, Bisulphit, Tiosulphit, Glucoza
- Các chất oxyhoá như Clorit Natri
- Các axit như axit Suphurơ, axit Acetic
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tẩy lông - ngâm vôi, yếu tố hoá chất đóng vai trò quyết định
Trong sản xuất công nghiệp, Vôi, Sulphua và Hydrosulphua Natri vẫn là các chất được sử dụng nhiều và phổ thông nhất đến thời điểm hiện tại, thường sử dụng kết hợp cả 3 loại hoá chất trên
Giai đoạn đầu sử dụng Hydrosulphua Natri với lượng từ 1,0 - 1,2% so với da nguyên liệu, thời gian quay khoảng 30 phút, nhằm làm lỏng lẻo lỗ chân lông và không tạo cho da bị trương nở mạnh, vì độ kiềm của Hydrosulphua là không cao
Sau khi thực hiện 30 phút với Hydrosulphua, Vôi và Sulphua Natri được đưa vào phu lông, lượng Sulphua Natri sử dụng là 1,2 - 1,5%, vôi là 2,5 - 3,0% Hai hóa chất này sẽ được đưa vào phu lông thành 2 lần, mỗi lần cách nhau 30 phút, mục đích là
để độ kiềm của dung dịch tăng một cách từ từ, sẽ tránh được hiện tượng da bị trương
nở nhanh và mặt da không bị nhăn nhiều
Việc sử dụng các hoá chất trên nhằm mục đích loại lông và làm trương nở cấu trúc sợi da, tạo điều kiện để các chất thuộc xuyên vào trong da dẽ dàng hơn
Loại lông nhờ các ion âm SH-, được tạo ra từ phản ứng giữa Nước và Sulphua Natri, giữa Sulphua với Vôi theo phản ứng dưới đây:
Na2S + 2H2O Na(SH) + 2NaOH
2Na2S + Ca(OH)2 + H2O Ca(SH)2 + 4NaOH
Na2S + Ca(OH)2 CaS + 2NaOH
Tác nhân gây da bị trương nở do ion OH- được tạo từ vôi, nước và từ các phản ứng giữa Nước và Sulphua Natri Do đó, trong công nghệ tẩy lông - ngâm vôi, cần thực hiện theo giai đoạn, để da không bị trương nở nhanh quá Da bị trương nở nhanh quá, lông chưa bị lỏng lẻo, mà bị cắt đứt để lại chân lông trong da, mặt da thành phẩm
sẽ mất bản chất mềm dịu, mà có cảm giác nháp khi tiếp xúc
Trong những năm gần đây, một số hãng hoá chất đã sản xuất chất xuyên vôi và chất chống nhăn mặt da, như Molesscal AB của hãng BASF, Bemanol 2B của hãng STAHL, Chemol FR của Thổ Nhĩ Kỳ, mục đích nhằm để mặt cật da không bị nhăn và tăng khả năng vôi xuyên đồng đều vào tất cả các vùng khác nhau của tấm da
2.3.2.3 Nhiệt độ
Trong quá trình tẩy lông - ngâm vôi, nhiệt độ có vai trò quan trọng đối với chất lượng da thành phẩm Nhiệt độ cao rất dễ phá huỷ da, nhiệt độ thấp quá thời gian tẩy lông - ngâm vôi phải kéo dài, thời gian dài vi khuẩn dễ phát triển và phá huỷ da
Qua thí nghiệm và từ thực tế đã rút ra là nhiệt độ tối ưu để tẩy lông - ngâm vôi
là từ 20 - 250C, nhiệt độ trên 300C là giai đoạn da bắt đầu bị phân huỷ
Trang 35Hệ số lỏng càng lớn, tiêu hao hóa chất càng nhiều, ngược lại hệ số lỏng quá thấp, da không được tiếp xúc đồng đều với dung dịch hoá chất, quá trình tẩy lông - ngâm vôi sẽ mắc nhiều lỗi
2.3.2.5 Thời gian
Thời gian tẩy lông - ngâm vôi được xác lập tuỳ theo loại da nguyên liệu, hoá chất, nhiệt độ, thiết bị và da thành phẩm Thời gian tẩy lông - ngâm vôi kéo dài, một phần chất da sẽ bị phân huỷ và cấu trúc sợi bị mở nhiều, da thành phẩm sẽ mềm, xốp
và mặt cật càng bị lỏng Ngược lại thời gian tẩy lông - ngâm vôi ngắn, cấu trúc sợi da trương nở không đều, độ mềm mại của da thành phẩm là không đều Thời gian tẩy lông và ngâm vôi thường từ 24 - 48 giờ tùy theo từng loại da thành phẩm, đối với loại thành phẩm cần độ mềm và độ xốp cao như da áo, da bọc đệm, thời gian tẩy lông và ngâm vôi dài hơn, thậm chí cần phải ngâm vôi lại
Cường độ tác động cơ học tuỳ thuộc vào thiết bị dùng để tẩy lông - ngâm vôi Thùng bán nguyệt có cường độ tác động cơ nhỏ hơn so với phu lông, vì hệ số lỏng của thùng bán nguyệt lớn hơn phu lông Hệ số lỏng lớn sẽ làm giảm độ ma sát, độ va đập giữa da và thiết bị
Trong quá trình thực hiện tẩy lông - ngâm vôi cần giám sát các yếu tố trên,
để tránh những lỗi có thể mắc phải và hậu quả sẽ làm giảm chất lượng da thuộc
2.3.3 Quá trình hoá học với keratin và các thành phần khác
Mục đích của quá trình tẩy lông và ngâm vôi là loại bỏ lớp biểu bì , lông và một
số chất có thể hoà tan được Để loại bỏ được các chất trên, các hoá chất phải có phản ứng và chức năng loại bỏ, Sulphua Natri không những loại bỏ các chất hoà tan được như Albumin, Globumin, còn loại bỏ chất keratin của lông và lớp biểu bì
Các quá trình hoá học của tẩy lông - ngâm vôi bao gồm:
2.3.3.1 Quá trình hoá học của vôi
Đến thời điểm hiện nay, các hoá chất dùng phổ biến nhất để tẩy lông - ngâm vôi là Vôi, Sulphua và Hydrosulphua Natri
Trong dung dịch vôi bị thuỷ phân tạo ra các ion như OH- và Ca2+, các ion OH
-có tác dụng thuỷ hoá các chất keratin và các chất protein hoà tan khác, cho nên pH của dung dịch tẩy lông - ngâm vôi phải xấp xỉ 11
Các chất kiềm tác dụng với chất keratin của lớp biểu bì, lông và làm gẫy cầu liên kết lưu huỳnh –S–S– của Aminoaxit Cistin, tạo nên chất Sulphohydrolic và axit Sulphonic, phản ứng như sau:
–CH–CH2–S–S–CH2–CH– –CH–CH2–SOH + HS–CH2 –CH–
Nhờ có sự phá gẫy liên kết lưu huỳnh, các chất keratin sẽ bị loại bỏ, quá trình tẩy lông sẽ đạt được
Trang 362.3.3.2 Quá trình hoá học của Sulphua Natri
Trong dung dịch sulphua Natri sẽ bị thuỷ phân và tạo ra các ion âm theo phản ứng sau:
Na2S + H2O 2Na+ + SH- + OH-
Các ion âm SH- , OH- đều có tác động trong quá trình tẩy lông - ngâm vôi, quá trình hoá học của Sulphua xảy ra theo 2 giai đoạn, giai đoạn đầu là giai đoạn làm gẫy cầu lưu huỳnh của Cistin, giai đoạn sau là thuỷ phân keratin đã bị giảm độ bền do cầu liên kết lưu huỳnh bị gẫy
Tác dụng tẩy lông của Sulphua Natri có được là nhờ sự tồn tại của các ion âm
SH- , S- và ion OH- Tỷ lệ giữa nhóm ion SH- , S- và nhóm ion OH- rất quan trọng trong công nghệ tẩy lông Trong điều kiện pH là ổn định, tác dụng tẩy lông sẽ tăng khi tăng nồng độ sulphua Ở điều kiện ổn định nồng độ sulphua, mức độ trương nở của da sẽ tăng khi tăng pH của dung dịch
Trong dung dịch tẩy lông - ngâm vôi, Sulphua Natri sẽ bị thuỷ phân tạo ra các ion âm như ion hydroxyl OH-, ion sulphohydrilic SH- và ion dương Na+, vôi sẽ tạo ra các ion OH- Phản ứng tạo ra các ion như sau:
Na2S + H2O NaSH + NaOH NaOH Na+ + OH- NaSH SH- + Na+
CaO + H2O Ca(OH)2
Ca(OH)2 Ca2+ + 2 OH- Tham gia vào quá trình hoá học với keratin chủ yếu là các ion âm OH- và SH-
đã được tạo ra từ các phản ứng trên, các ion sẽ tác dụng và phân huỷ keratin và các protein hoà tan được Ion Hydroxyl OH- có tác dụng làm da trương nở, mở cấu trúc sợi, tạo điều kiện để hoá chất thuộc xuyên vào
2.3.3.3 Quá trình hoá học của Hydrosulphua Natri
Nếu trong dung dịch chỉ chứa Hydrosulphua Natri, không chứa chất khác, tác dụng tẩy lông của chúng rất thấp, nhưng có thêm vôi, tác dụng tẩy lông sẽ được nâng lên Vì trong dung dịch Hydrosulphua Natri và vôi sẽ kết hợp với nhau, tạo ra Hydrosulphua Calxi và hydroxyt Natri, nhờ việc tạo ra 2 chất này, tác dụng tẩy lông được nâng lên Phản ứng như sau:
2NaOH + Ca(OH)2 = Ca(SH)2 + 2NaOH Việc sử dụng Hydrosulphua Natri là nhằm tạo sự ổn định lượng Calxi trong dung dịch từ 1,29gam/lít - 1,50gam/lít Trong thực tế cho thấy quá trình tẩy lông - ngâm vôi với Hydrosulphua Natri và Vôi, da không bị trương nở mạnh kể cả khi dùng nhiều Hydrosulphua Ngược lại khi dùng nhiều Sulphua Natri, da sẽ bị trương nở mạnh, đó là điều khác biệt giữa Hydrosulphua và Sulphua Natri Xuất phát từ lý do trên, việc sử dụng các hoá chất trên cần phải lựa chọn theo mục đích của sản phẩm, sản phẩm cần độ mềm chắc như da mũ giầy, chỉ cần sử dụng vôi và Hydrosulphua, vì chúng chỉ tạo độ trương nở trung bình, ngược lại cần phải dùng Sulphua Natri
2.3.4 Các phương pháp tẩy lông - ngâm vôi
Phương pháp tẩy lông hiện đang được áp dụng trong sản xuất gồm có:
- Tẩy lông bằng Vôi - Sulphua Natri
Trang 37- Tẩy lông bằng Men
- Tẩy lông bằng chất Oxyhoá
- Tẩy lông bằng Amin
2.3.4.1 Tẩy lông Vôi - Sulphua Natri
Phương pháp tẩy lông Vôi - Sulphua Natri, Vôi - Sulphua và Hydrosulphua
Natri là phương pháp được áp dụng nhiều trong sản xuất da thuộc Tùy theo yêu cầu
về độ trương nở, mà sử dụng 2 hoặc cả 3 loại hoá chất kể trên để tẩy lông
Lượng và loại hoá chất sẽ sử dụng theo quy trình công nghệ đã xác lập theo tính
chất, chất lượng của mặt hàng da thuộc cần sản xuất Trong sản xuất công nghiệp,
phương pháp tẩy lông kết hợp cả 3 loại hoá chất được áp dụng nhiều nhất (tất cả hoá
chất tính theo trọng lượng da nguyên liệu), thiết bị là phu lông hoặc thùng bán nguyệt
Quy trình công nghệ tẩy lông cho da để làm mũ giầy từ da bò như sau:
Công nghệ tẩy lông - ngâm vôi
1 Rửa: Nước 22 - 25 độ C 250% quay 20phút Chắt bỏ
2 Tẩy lông - Ngâm vôi:
Sau 30 phút quay, kiểm tra lông đã tụt hay không, nếu lông đã tụt (chưa tụt
lông, quay thêm 30 - 60phút), bổ xung 150% nước và đặt quay tự động 5phút/giờ
trong thời gian 24 - 30 giờ
Trong trường hợp có chất trợ xuyên vôi như Unitan Fr62 của PIECOLOR,
Bemanol 2S của Hãng STAHL, lượng dùng 0,3 - 0,5% và đưa vào cùng với vôi Chất
trợ xuyên vôi sẽ tạo độ trương nở đồng đều cho các vùng của da
2.3.4.2 Tẩy lông bằng enzym
Tẩy lông bằng enzym là phương pháp tẩy lông thân thiện với môi trường,
nhưng giá thành cao và thực hiện phải cẩn thận hơn so với phương pháp Sulphua -
Vôi
Enzym dùng để tẩy lông là loại enzym Proteaza, được chiết suất từ một số thực
vật và từ nấm
Trong sản xuất công nghiệp, tẩy lông bằng enzym được thực hiện trong phòng
đặc biệt, trong đó da nguyên liệu được treo, không được trải chồng lên nhau như muối
da Trong thời gian tẩy lông, nhiệt độ trong phòng luôn phải duy trì ở một giá trị tương
đối cố định
Thời gian tẩy lông bằng enzym phụ thuộc vào nhiệt độ, nếu nhiệt độ từ 20 - 25
độ, thời gian 1 - 2 ngày, tẩy lông bằng men ở nhiêt độ này được gọi là “tẩy lông ấm”
Trang 38Nếu nhiệt độ từ 8-16 độ, tẩy lông sẽ là “tẩy lông lạnh”, thời gian kéo dài từ 1 đến 2 tuần
Trong thời gian tẩy lông, không khí trong phòng luôn là không khí ẩm
2.3.4.3 Tẩy lông bằng oxyhoá
Chế phẩm được biết nhiều trong công nghệ tẩy lông là Clorit Natri (NaClO2) Trong môi trường axit yếu Clorit Natri sẽ bị phân giải và giải phóng Bioxyt Clor (ClO2) Bioxyt Clor là tác nhân thực hiện phản ứng phá huỷ keratin ở lông và lớp biểu
bì, tạo điều kiện để loại bỏ được lông một cách thuận lợi Trong phu lông, dưới tác động cơ học lông sẽ bị loại bỏ trong thời gian quay, do các tấm da cọ sát với nhau và lông bị loại
Trong thời gian tẩy lông bằng Clorit Natri, các chất béo của da sẽ bị xà phòng hoá, da trần thu được sau quá trình tẩy lông có thể tác dụng trực tiếp với chất thuộc tanin thảo mộc
Việc áp dụng công nghệ tẩy lông bằng chất oxyhoá có một số thuận lợi như giảm chu kỳ sản xuất, tiết kiệm một số chất như sulphua, vôi và men, vì không cần sử dụng và chất lượng da thành phẩm tốt hơn như độ đầy, mặt cật mịn
Những bất lợi khi tẩy lông bằng chất oxyhoá là cần trang bị bảo hộ cho người lao động, do chất Clorit Natri là chất độc hại
2.3.4.4 Tẩy lông bằng amin
Một số amin có tác dụng tẩy lông mạnh hơn so với Sulphua Natri, trong công nghệ có thể chỉ sử dụng riêng amin hoặc sử dụng kết hợp với vôi để tẩy lông đều thực hiện với kết quả tốt
Trong số các amin được dùng để tẩy lông là Metylamin, Etanolamin, Etylendiamin, Hydroxylamin Các amin dùng để tẩy lông được sản xuất dưới tên thương mại như SEBACOL hoặc tên khác tuỳ theo Hãng sản xuất hóa chất
Phương pháp tẩy lông bằng amin không được áp dụng vào sản xuất công nghịêp, do giá thành quá cao, mặc dù da thành phẩm thu được có chất lượng tốt
2.3.5 Các lỗi của tẩy lông - ngâm vôi và giải pháp khắc phục
Các lỗi của công đoạn tẩy lông - ngâm vôi thường xẩy ra do quá trình tẩy lông - ngâm vôi chưa đủ, tẩy lông - ngâm vôi quá dài hoặc vết vôi
2.3.5.1 Lỗi do tẩy lông - ngâm vôi chưa đủ
Lỗi này xẩy ra là do thời gian thực hiện công nghệ không đủ hoặc quá ngắn, do nồng độ hoá chất và nhiệt độ quá thấp
Lỗi tẩy lông - ngâm vôi chưa đủ được thể hiện thông qua hiện tượng chân lông còn lại sâu ở mặt da, hiện tượng giống như lông bị cắt đứt Chân lông còn ở mặt da sẽ tạo mặt da có cảm giác nháp, không nhẵn mịn, chất lượng da thành phẩm sẽ giảm Tẩy lông - ngâm vôi chưa đủ, điều đó có nghĩa là mức độ mở cấu trúc sợi da chưa đủ hoặc không đồng đều, do đó chất thuộc sẽ xuyên không đồng đều vào trong
da, da thuộc sẽ trở nên cứng
Để không bị lỗi trên, khi thực hiện công nghệ cần giám sát, kiểm tra tốt các thông số công nghệ như nhiệt độ, thời gian và nồng độ hoá chất
Trang 392.3.5.2 Lỗi do tẩy lông - ngâm vôi quá dài
Nếu tẩy lông - ngâm vôi quá dài, lông và lớp biểu bì bị loại hết, bề mặt da sạch, nhưng các sợi da bị dãn nhiều, da thành phẩm xốp, mềm và các chỉ tiêu cơ - lý bị giảm Khắc phục bằng cách hiệu chỉnh thời gian của công nghệ và giảm tác dụng cơ học
2.3.5.3 Vết vôi
Mặt da sau khi tẩy lông - ngâm vôi sạch, nhưng để lâu trong không khí, bề mặt
da sẽ xuất hiện những vết vôi Các vết vôi là muối Carbonat Calxi được tạo thành bởi ion Calxi ở mặt da và Dioxyt Carbon trong không khí Lỗi vết vôi có thể khắc phục bằng cách che phủ hoặc bề mặt da luôn có nước nhằm hạn chế da tiếp xúc lâu với không khí
2.3.6 Các phương pháp tẩy lông - ngâm vôi trong công nghiệp
Có nhiều phương pháp tẩy lông - ngâm vôi trong công nghiệp như tẩy lông - ngâm vôi bằng Vôi, tẩy lông - ngâm vôi bằng Vôi với Sulphua Natri, và tẩy lông - ngâm vôi bằng phương pháp bôi phết
Trong các phương pháp tẩy lông ngâm vôi nêu trên, phương pháp tẩy lông bôi phết và phương pháp tẩy lông - ngâm vôi kết hợp là 2 phương pháp được ứng dụng phổ thông trong công nghiệp
2.3.6.1 Tẩy lông - ngâm vôi bôi phết
Phương pháp tẩy lông bôi phết là phương pháp phết lên mặt thịt của tấm da hỗn hợp ở dạng sệt (paste) Hỗn hợp đó gồm các chất như Sulphua Natri, Vôi, Hydrosulphua Natri hoặc chế phẩm men Các chất trong hỗn hợp sẽ tác động và làm yếu các liên kết giữa lớp bì và lớp biểu bì, các chất khác của lớp biểu bì, chân lông và làm lỏng lẻo lỗ chân lông, lông và lớp biểu bì sẽ bị loại
Phương pháp tẩy lông bôi phết có thể thực hiện ở mặt thịt hoặc mặt lông của tấm da, nhưng bôi phết lên mặt thịt của tấm da có nhiều ưu điểm hơn, bởi lẽ lông sau khi loại có thể làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp khác như công nghiệp sản xuất len dạ và cấu trúc sợi da được mở từ phía mặt thịt, mặt cật ít bị tác động, không gây nên độ lỏng mặt cật
Tẩy lông bôi phết lên mặt thịt thường được áp dụng nhiều, nhất là khi lông có giá trị kinh tế cao Khi áp dụng phương pháp bôi lên mặt thịt, cần lưu ý độ đậm đặc của hỗn hợp Hỗn hợp không đặc qúa và cũng không quá loãng, hỗn hợp đặc quá sẽ khó bôi một cách đồng đều lên mặt thịt, ngược lại hỗn hợp loãng quá sẽ dễ chảy và bám vào lông làm giảm giá trị lông
Trong thực tế, hỗn hợp được pha trộn như sau:
Lượng Sulphua Natri là 1,1 - 1,2% loại 60%, 1,5 - 1,8% Oxyt Calxi và 0,9 - 1,0% cao lanh (có thể cho thêm 0,3% Hydroxyt Natri) Tỷ lệ các thành phần trên được tính phần trăm theo trọng lượng da nguyên liệu sau khi đã hồi tươi và nạo bạc nhạc
Ví dụ: Để tẩy lông lượng da là 1300kg, lượng Sulphua Natri loại 60% là 130kg
và hoà tan trong nước đạt nồng độ 120 gam/lít, sau đó bổ sung lượng vôi khoảng 15kg
và 10 - 12kg cao lanh, trộn hỗn hợp kỹ để tạo độ đồng đều Trong trường hợp hỗn hợp loãng, cần bổ sung thêm cao lanh đạt được độ đậm đặc, để khi bôi phết lên mặt da, hỗn hợp không chảy ra ngoài Thời gian tẩy lông với hỗn hợp pha chế trên 3 - 4 giờ
Trang 40Sau khi lông đã tụt, việc nạo lông sẽ thực hiện bằng tay hoặc bằng máy tùy thuộc vào điều kiện thực tế Da đã được nạo lông sẽ được ngâm vào nước để cấu trúc sợi tiếp tục trương nở, có thể bổ sung Vôi hoặc Sulphua vào nước, tùy theo loại da nguyên liệu và mặt hàng da thành phẩm cần sản xuất
2.3.6.2 Tẩy lông - ngâm vôi kết hợp
Tẩy lông - ngâm vôi kết hợp là phương pháp tẩy lông - ngâm vôi với 2 hoặc 3 loại hoá chất khác nhau như vôi, Sulphua và Hydrosulphua Natri, nó được áp dụng nhiều và phổ thông nhất đến thời điểm hiện tại
Tẩy lông - ngâm vôi kết hợp có thể thực hiện trong bể, phu lông và thùng bán nguyệt
Tẩy lông - ngâm vôi kết hợp thực hiện trong bể chỉ áp dụng cho mặt hàng da thuộc là da để làm đế, số lượng bể cần từ 3 đến 5 bể tuỳ theo trọng lượng da và yêu cầu của mặt hàng, thời gian tẩy lông trong mỗi bể là 24 giờ, hệ số lỏng 350 - 450%, nhiệt độ là 20 - 22 độ, trong 2 - 3 bể đầu nên sử dụng dung dịch tẩy lông - ngâm vôi
cũ, các bể còn lại là các bể chứa dung dịch mới, hàm lượng vôi khoảng 10 -15gam/lít, Sulphua Natri 2,0 - 2,5gam/lít
Đối với các loại da khác như da để làm mũ giầy da, da bọc đệm, phương pháp tẩy lông - ngâm vôi kết hợp thường thực hiện trong phu lông hoặc thùng bán nguyệt Lượng Sulphua Natri loại 60% từ 2 - 3,0%, vôi bột khoảng 2,5 - 3,0% (vôi tôi dạng sệt
là 7 - 10%), hệ số lỏng 250 - 300%, thời gian là 30 - 48 giờ tùy theo độ xốp, độ đầy của mặt hàng
2.4 Tẩy vôi
2.4.1 Mục đích
Mục đích của công đoạn tẩy vôi là loại bỏ vôi và các chất kiềm khác có trong
da, đồng thời giảm độ trương nở kiềm của da, để tạo điều kiện phù hợp cho các công đoạn kế tiếp, da thành phẩm thu được đạt những chỉ tiêu về chất lượng đặt ra như độ mềm, độ đầy
2.4.2 Yêu cầu
Trong quá trình tẩy lông - ngâm vôi, một phần vôi và chất kiềm còn lại trong
da Nếu không loại bỏ chúng, các công đoạn như làm mềm, thuộc sẽ khó thực hiện được do ion Calxi sẽ kết hợp với Crôm, chất thuộc thảo mộc, chất thuộc tổng hợp (Syntan) tạo ra các chất kết tủa, kết quả làm tiêu hao chất thuộc và da thành phẩm trở nên cứng Do đó, tẩy vôi là một công đoạn không thể thiếu trong công nghệ sản xuất
da Do đó, việc loại vôi trong da là khó khăn hơn nhiều so với Natri
Các hợp chất của Natri tồn tại trong da dưới dạng tự do và liên kết Loại các hợp chất của Natri tự do có thể thực hiện bằng cách rửa, vì nó dễ hoà tan trong nước