Viện NC Da giầy Trình bày kết quả nghiên cứu: Xác định tiêu chuẩn chất lượng các sản phẩm da thuộc cá sấu, đà điểu chất lượng cao, xây dựng và thử nghiệm các công nghệ trau chuốt mới da thuộc cá sấu, đà điểu
Trang 1BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài: “Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu,
đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao”
Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Da - Giầy Chủ nhiệm đề tài: KS Lê Văn Kha
9039
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN NGHIÊN CỨU DA -GIÀY
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011
Tên đề tài: “Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu,
đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao”
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Học vị
Cơ quan
Nghiên cứu viên chính
Nghiên cứu viên
3 Nguyễn Hữu Cường Kỹ sư thuộc da,
Nghiên cứu viên
4 Nguyễn Hồng Sơn Cử nhân,
Phó quản đốc xưởng TNTD, viện NCDG
Trang 4DANH SÁCH BẢNG BIỂU
trục mã não
38
trục nỷ
44
Trang 5DANH SÁCH HÌNH VẼ
Trang 6MỤC LỤC
TRANG Danh sách thành viên chính tham gia đề tài……… 1
Danh sách bảng biểu … …… ……… 2
Danh sách hình vẽ……… ……… 3
PHẦN I TỔNG QUAN……….5
PHẦN II THỰC NGHIỆM VÀ BIỆN LUẬN……… ………30
PHẦN III KẾT LUẬN……….46
Tµi liÖu tham kh¶o……….48
PHỤ LỤC……… 50
Trang 7PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ, XUẤT SỨ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Cơ sở pháp lý:
Đề tài “Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương
pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” được tiến hành theo
Hợp đồng Đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nghiên cứu khoa
giữa Bộ Công Thương và Viện Nghiên cứu Da Giầy
1.1.2 Sự cần thiết của đề tài:
Ở nước ngoài, mặt hàng da thuộc cá sấu, đà điểu đã được quan tâm nghiên cứu sản xuất do nhu cầu của nền công nghiệp tiêu dùng và du lịch Một số nước đã có công nghệ thuộc và trau chuốt hoàn thiện mặt hàng này như: Australia, Ý, Hàn Quốc, Thái lan…với trình độ kỹ thuật cao, đặc biệt là khâu trau chuốt Trong khâu này, họ đã nghiên cứu chế tạo các máy hỗ trợ chuyên ngành như máy đánh bóng bề mặt vẩy sừng, máy đánh bóng bề mặt da có vẩy nhỏ Hóa chất sử dụng ít chứa pigment, tạo màu sắc cho da hoàn thành phong phú và tự nhiên Bởi vậy sản phẩm
da thuộc của họ đạt tới trình độ cao, phục vụ tốt cho kinh tế quốc dân Sản phẩm chế biến từ các loại da thuộc này được ưa chuộng trên thị trường trong nước và thế giới với các thương hiệu nổi tiếng, có giá trị kinh tế cao
Khoảng 10 năm lại đây, trong nước cũng đã phát triển mạnh mẽ việc chăn nuôi cá sấu, đà điểu để xóa đói giảm nghèo cho nông dân vùng sâu Số lượng đã tăng lên gần 1 triệu con mỗi loại Một số cơ sở sản xuất da thuộc cá sấu, đà điểu đã đầu tư trang thiết bị và công nghệ, nhưng do khả năng tài chính và trình độ kỹ thuật nên chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường, đặc biệt là khâu trau chuốt
Bởi vậy, đề tài được nghiên cứu sẽ tạo ra công nghệ trau chuốt mới, nâng cao chất lượng và hình thức sản phẩm, lại đáp ứng yêu cầu vệ sinh (tồn dư các chất độc hại trong giới hạn cho phép)
Trang 81.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Đưa ra công nghệ trau chuốt mới (không sử dụng nhiều hóa chất sơn phủ, thay thế bằng hóa chất đặc biệt để sản phẩm có hình thức tự nhiên) để tạo ra các sản phẩm da thuộc cá sấu và đà điểu chất lượng cao
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quy trình công nghệ trau chuốt
mới da đà điểu và da cá sấu
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đề tài thực hiện nghiên cứu đối với nguyên liệu da đà điểu, cá sấu trong nước do Viện tiến hành thuộc
- Đề tài được thực hiện thực nghiệm tại xưởng Thực nghiệm Thuộc da của Viện trên
1.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1.4.1 Nội dung nghiên cứu:
- Thu thập tài liệu có liên quan đến da thuộc cá sấu, đà điểu chất lượng cao trên thế giới
- Nghiên cứu xác định tiêu chuẩn chất lượng các sản phẩm da thuộc cá sấu, đà điểu chất lượng cao
- Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm các công nghệ trau chuốt mới da thuộc cá sấu, đà điểu:
+ Da cá sấu: Trau chuôt aniline, semianiline, đánh bóng trên máy đánh bóng trục mã não (glazing machine)
+ Da đà điểu: Trau chuốt không pigment, aniline, chịu nước (waterproof), đánh bóng trên máy polishing
- Thử nghiệm các quy trình công nghệ và hiệu chỉnh thông số kỹ thuật qua sản xuất thí nghiệm
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp nghiên cứu lý thuyết và thực hành, phân tích đánh giá kết quả qua từng thí nghiệm, hiệu chỉnh các thông số kỹ thuật trong quá trình thực hiện nhằm tìm ra quy trình công nghệ tối ưu
Trang 91.5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC:
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam đà điểu đã được chăn nuôi trong cả nước, nhưng tập trung nhiều
ở khu vực miền Trung; cá sấu được nuôi chủ yếu ở miền nam và nam Trung bộ; miền bắc cũng đã có một số trang trại chăn nuôi cá sấu, nhưng chưa phát triển mạnh Hiện tại mới chỉ có một số ít cơ sở thuộc, trau chuốt da Chủ yếu họ chỉ thực hiện với công nghệ thuộc và trau chuốt tương tự như đối với da trâu bò Do đặc điểm da đà điểu và cá sấu khác với da trâu bò, nên việc thuộc và trau chuốt da như vậy không nâng cao giá trị của da nguyên liệu Da cứng, màu sắc không tươi, chân lông và vân da không nổi bật
Cơ sở Tồn Phát, KHATOCO và một số cơ sở thuộc da nốt sần khác cũng đã đầu tư thiết bị và công nghệ cho loại da này, nhưng cũng mới chỉ là bước đầu
Viện Nghiên cứu Da- Giầy gần đây cũng đã quan tâm nghiên cứu công nghệ
và chế tạo một số thiết bị chuyên ngành thuộc da nốt sần (cá sấu, đà điểu), như:
Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu công nghệ thuộc da cá sấu, trăn, đà điểu” năm
2005
Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo máy đánh bạc nhạc cho các loại da nốt sần”, năm 2006
Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến sản phẩm từ da
cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu, đà điểu trong nước”, năm 2008
Đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu công nghệ thuộc tiên tiến nhằm khai thác tối ưu nguồn da cá sấu trong nước, năm 2009
Các đề tài này đã có những thành công nhất định, tuy nhiên về công nghệ trau chuốt vẫn chưa mang lại kết quả như mong muốn Mặt khác, công nghệ và thiết bị luôn đổi mới theo thời gian Chính vì vậy rất cần nghiên cứu nâng cấp chất lượng sản phẩm bằng phương pháp trau chuốt mới (sử dụng hóa chất mới) để theo kịp thời đại và đáp ứng yêu cầu của khách hàng
1.5.2 T×nh h×nh nghiªn cøu ngoµi n−íc:
Trong những năm 80 của thế kỉ trước, trên thế giới đã bắt đầu việc nghiên cứu công nghệ thuộc và trau chuốt da đà điểu, cá sấu (gọi chung là da nốt sần) Đến thập kỉ 90, công nghệ này được phát triển, tiến bộ nhanh chóng
Trang 10Theo nhiều tài liệu, qui trình công nghệ thuộc và trau chuốt da nốt sần với hệ thống thiết bị hiện đại, đồng bộ được thực hiện trong các nhà máy thuộc da ở các nước công nghiệp có khả năng dồi dào về kĩ thuật và tài chính
Các nước có ngành công nghiệp thuộc da phát triển như Italia, CHLB Đức,
Mỹ, Hàn Quốc, CH Séc đã có nghiên cứu và có những công nghệ thuộc, trau chuốt, chế biến da nốt sần, tạo ra các sản phẩm tiêu dùng rất đa dạng, hoàn hảo trên thị trường được mọi người sử dụng ưa thích [5] Một số nước Châu Phi như Zambia ngành chăn nuôi động vật nốt sần rất phát triển, năm 2001 xuất khẩu 120.042 bộ da nốt sần; năm 2005 là 200 nghìn bộ [5] Zambia cũng đã xuất khẩu sang Tây Âu da loại này Năm 2005, 2006, 2007 theo số liệu thống kê ở Mỹ đã bán với số lượng hàng năm hơn 1 triệu bộ da nốt sần [6] Ngoài ra ở Úc cũng là nơi chăn nuôi cá sấu, đà điểu Hàng năm họ xuất khẩu loại da này ở dạng nguyên liệu, đồng thời thuộc và chế biến thành các sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là Hàn Quốc [4] Thái Lan nước láng giềng với Việt Nam đã chăn nuôi, chế biến và xuất khẩu da cá sấu, đà điểu Họ thuộc, hoàn thiện và chế biến thành sản phẩm loại da này với trình độ công nghệ chất lượng cao [9] Các sản phẩm của
họ được khách hàng ưa chuộng
1.5.3 Một số cơ sở khoa học áp dụng trong đề tài:
Hình thái của da đà điểu: Kính hiển vi điện tử đã cho biết cấu trúc biểu mô, dễ làm mất nước ở da Thực tế da đà điểu không có tuyến mồ hôi do đó đà điểu phải dựa trên cơ chế hành vi để kiểm soát mất nhiệt cơ thể của chúng Ví dụ, lúc nhiệt
độ cao đà điểu đứng ngược chiều gió và vẫy cánh về phía sau và ra phía trước để làm mát hai bên thân của nó Da mặt bàn chân, chân và đùi trông giống như da bò sát [6]
Da đà điểu được tạo nên từ hai phần chính [5]:
- Trên bề mặt là phần sừng (Epidermis)
Trang 11- Phần cật là thành phần chính của da gồm có hai lớp: lớp trên (papillary layer)
có cấu tạo sợi mịn, liên kết chặt chẽ tạo mặt cật cho da và lớp dưới (reticular layer)
có cấu trúc mạng lưới, có độ dày lớn hơn lớp trên và là phần chính tạo độ bền cơ học cho da
Hình 1 Bề mặt tấm da đà điểu Chú thích:
Crown: Phần da có chất lượng tốt nhất trên tấm da đà điểu (thường gọi là phần
Trang 12Hình 2 Sự phân bố và hình dạng các lỗ chân lông trên da đà điểu
Thành phần hóa học của da [3] gồm có nước, protein, chất béo và một vài
muối khoáng Protein là thành phần chính tạo nên da thuộc Protein gồm có hai
loại:
- Protein dạng sợi: là thành phần chính của da, quyết định tính chất cơ học và
lý học của da Có 3 nhóm chính là: collagen, elastin và keratin
- Protein không dạng sợi: globulin, albumin
Bảng 1 Thành phần của da đà điểu Thành phần %
- Protein cấu trúc sợi:
+ Elastin: sợi vòng trong bó sợi colagen:
+ Colagen: tạo nên da thuộc:
+ Keratin (tạo nên lông, biểu bì):
- Protein cấu trúc không dạng sợi:
Trang 13Thành phần cơ sở tạo nên protein là amin axít Đó là hợp chất hữu cơ có chứa
Ni tơ, có thể coi là các monomer trong tổng hợp sinh học của protein Cấu trúc hóa học của amin axít:
cacboxyl, tạo cho amin axít tính cation Trong môi trường kiềm xảy ra hiện tượng ngược lại, amin axít mang tính anion
R
|
H2N – Cα – COOH |
C = O
|
H3N+ – C– H | R
+ OH
-+ H +
O |
C = O
|
H2N – C– H | R
X- H3N+ – C– COOH |
H2N – C– COO- Me+ + H2O |
R
Trang 14Amin axít liên kết với nhau, tạo nên peptid, polypeptid va protein nhờ mối liên kết peptid -CONH- Cơ chế của tổng hợp sinh học rất phức tạp Về mặt hóa học có thể viết như sau:
+
Dipeptid
Dipeptid + Amin axít -> tripeptid + (amin axít)n -> polypeptid -> Protein
Đà điểu [4, 5] (struthio camelus) là một trong những loài chim lớn nhất Mặc
dù da thuộc của Emu (một loài đà điểu Úc) vẫn có nhu cầu, nhưng đà điểu là loài chim chạy lớn nhất còn quan trọng hơn vì chúng sinh lợi nhanh hơn emu Thật vậy, lúc 14 tháng tuổi, một con đà điểu có thể cho 1,4-1,8 kg lông, 34-41 kg thịt và 1,08-1,26 m2 da thuộc, sản phẩm đã chế biến mang lại lợi nhuận cao nhất là thịt và
da Da được thuộc thành da thuộc với nhiều dạng lỗ chân lông khác biệt, độ bền và tính mềm dẻo đã làm cho chúng có nhu cầu cao đối với các nhà máy sản xuất giày,
ví, dây thắt lưng Da mỏng hơn của những đà điểu non được dùng để may quần áo
Độ dày tối ưu của da thuộc được khuyến cáo dùng cho may quần áo, túi sách, giày
và dây lưng tương ứng là 0,88mm, 1,25mm và 1,45mm Nhiều khách hàng nước ngoài muốn mua da thuộc được thuộc tại các nhà máy địa phương
Da là một sản phẩm quan trọng của ngành chăn nuôi đà điểu và nó được đánh giá cao bởi các đặc tính của nó và được khách hàng ưa thích
Da đà điểu rất mỏng, lỗ chân lông rộng và sâu Sụ phân tách giữa lớp reticular
và papilar không rõ rệt Lớp bì phu có cấu trúc thưa, rỗng nên da mềm, xốp, dễ bóc
ra từng lớp Ngày nay da đà điểu và da gà, chim được dùng nhiều do hình thức thời trang của các mặt hàng làm từ loại da này
Da đà điểu thuộc lớp chim nên da mỏng và có nhiều lỗ chân lông to, sâu Do có nhiều loại lông khác nhau trên mình (lông cánh, lông cổ, lông lưng, lông bụng) nên
bề mặt của tấm da rất khác nhau Sự khác nhau giữa các lớp lưới và lớp nhú không
rõ rệt, mô liên kết ít phát triển Da đf điểu chủ yếu dùng để chế biến các sản phẩm
có tính mềm mại như túi, ví, cặp và một số giầy dép, thời trang…[5]
|
CH3
H O H | || |
| | |
H H CH3
Trang 15Dưới lớp da đà điểu có lớp mỡ rất dầy trong công nghệ thuộc cần lưu ý tới đặc điểm này vì nếu không tẩy sạch mỡ thì mỡ sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng da thành phẩm
Khuyết tật của da nguyên liệu [1]: Các khuyết tật của da nguyên liệu ảnh
hưởng nhiều đến chất lượng da thuộc Có khuyết tật tự nhiên khi súc vật sống như vết sẹo, ghẻ, đóng dấu… có khuyết tật tạo nên trong quá trình lột mổ, bảo quản như
da hư thối, xước, thủng…
Các khuyết tật tạo nên khi con vật sinh trưởng:
Vết sẹo: xuất hiện khi con vật bị dây thép gai, cành cây cào vào, hay vết chim
mổ, ghẻ lở tạo sẹo lồi hay lõm
Các khuyết tật sau khi con vật chết:
Khuyết tật khi lột mổ: đó là các vết dao ở mặt trái con da, thậm chí là lỗ thủng Các khuyết tật này làm giảm đi giá trị của con da
Khuyết tật do bảo quản:
Nếu bảo quản không đúng kỹ thuật, có thể xẩy ra các khuyết tật sau:
- Khuyết tật do da bị thối: do vi khuẩn phá hủy nên da bị hỏng, mức độ nhẹ là rụng lông, nặng hơn là phân hủy mặt cật
- Khuyết tật do da bị mốc: nhất là các loại mốc đỏ, ăn xuyên qua thiết diện da, khi nhuộm hoặc trau chuốt màu sẽ không đều và không thể xuất khẩu được
Ở các nước có công nghệ thuộc da tiên tiến, da đà điểu là loại da nốt sần có giá trị kinh tế cao nhờ các đặc điểm độ mềm và hình thức đặc trưng của nó Da đà điểu được trau chuốt nhẹ, với các màu sắc phong phú, nhưng vẫn giữ được vẻ tự nhiên
Hình 3 Da đà điểu đã trau chuốt của nước ngoài
Trang 161.5.3.2 Da cá sấu
Khác với đà điểu, cá sấu không có lông bao phủ, nhưng phía bên ngoài da phát triển thành lớp vẩy dầy, khô, cứng Hình dạng, kích thước, độ dày và sự sắp xếp các vẩy này rất khác nhau ở các vị trí trên cùng một tấm da, cũng như giữa các giống đà điểu khác nhau [13]
Trang 17Phần gáy có cụm vẩy liền khối đặc trưng Đây là cụm vẩy được khách hàng rất
ưa chuộng
Hình 6 Cụm vẩy gáy cá sấu
Phần lưng có vẩy lớn hình chữ nhật, nhô cao, nằm theo hàng song song từ cổ đến đuôi
Hình 7 Vẩy lưng cá sấu
Phần bụng vẩy có hình chữ nhật, thấp đều, sắp xếp cân đối theo hàng ngang
Trang 18Hình 8 Vẩy bụng cá sấu
Nách và các chi có vẩy tròn, nhỏ, tương đối đều
Hình 9 Vẩy nách và các chi cá sấu
Cá sấu xiêm sống ở vùng nước ngọt, số lượng ít so với loài cá sấu khác; có kích thước nhỏ, màu xám, vẩy lưng tròn, cao và sắc cạnh Cá sấu hoa cà sống ở vùng nước mặn và nước lợ; kích thước lớn, có vẩy lưng màu vàng và đen xen kẽ nhau [7]
Da cá sấu có cấu tạo gồm 2 phần chính là biểu bì và bì [9] Lớp biểu bì rất phát triển, phía ngoài hoá sừng tạo thành vẩy Độ dày của lớp biểu bì tăng theo tuổi con vật Keratin không thể coi là 1 loại protein đồng nhất mà có nhiều dạng sinh học
Trang 19khác nhau, có tính chất chung là không tan trong nước, có mối liên kết disulfid trong phân tử Vẩy được tạo ra từ tế bào keratin ß, có độ dày khoảng 0,2 mm Vẩy được chia thành các lớp nhỏ theo mức độ hoá sừng khác nhau:
- Lớp vẩy sừng (corno-neous): là lớp ngoài cùng, do chất sừng phát triển từ biểu bì, ghép với nhau thành bộ giáp cứng Khác với lớp biểu bì của các loài động vật khác, lớp biểu bì này không bị đào thải, mà phát triển dày lên thành vẩy sừng
- Lớp tiền sừng hay lớp chuyển tiếp (pseudosatratified transitional or precorneous): Gồm 1 – 2 lớp tế bào sừng non hình đĩa Các tế bào lớp sừng này sẽ phát triển dày lên thành lớp vẩy sừng
- Lớp gai (suprabasal cell layer): Được cấu tạo từ các tế bào mỏng Quá trình phát triển của lớp gai sẽ tạo thành lớp tiền sừng
Nối giữa các vẩy là các tế bào có thành phần khác với lớp vẩy: Lớp sừng, lớp gai và lớp đáy (basal layer), tạo độ mềm mại cho da để con vật có thể cử động được
1.5.3.3 Công nghệ trau chuốt da nốt sần
Quá trình thuộc da gồm nhiều giai đoạn [1] Trong giai đoạn xử lý đầu tiên, mục đích chính là khôi phục các đặc tính tự nhiên của da Các loại hóa chất và
peroxide để giảm độ pH xuống còn 8,5; sau đó bổ sung men làm mềm Giai đoạn này được gọi tẩy vôi – làm mềm Tẩy mỡ là công đoạn quan trọng để đảm bảo rằng
mỡ đã bị tẩy sạch trong cấu trúc của da và nâng cao sự ổn định của da thuộc Sau
đó da được thuộc phèn Sau khi thuộc phèn, da được thuộc lại, ăn dầu để làm cho
nó mềm mại Các đặc tính đặc biệt khác cũng được đòi hỏi tăng cường như màu sắc đồng đều trong quá trình nhuộm Trong trau chuốt cần phủ một lớp màng mỏng anilin để duy trì hình dáng tự nhiên của nó Giai đoạn kết thúc bao gồm đo kích thước, phân loại, đóng gói, bảo quản trước khi vận chuyển đi tiêu thụ
a/ Các công đoạn cơ học trước khi trau chuốt [9]
Xén riềm: Da sau khi sấy khô cần phải sửa sang, cắt bỏ các phần mép không
sử dụng được (như vết đinh, phần da hỏng…) Công việc tuy đơn giản, nhưng cần lưu ý cẩn thận, vì nếu còn đinh sót trên da hay vật cứng sẽ làm hỏng máy vò mềm
Trang 20Công cụ sử dụng xén riềm là kéo hay dao sắc Tránh xén không hết hay xén quá các phần cấn xén bỏ
Hồi ẩm: Sau khi sấy phần lớn da có độ ẩm thấp (khoảng 10%), da rất cứng và không thể dùng biện pháp cơ học để làm mềm ngay được Nếu tác động cơ học ngay, có thể làm gãy mặt da hay hỏng rách máy vò Để trong không khí ẩm, da sẽ hút ẩm và đạt độ ẩm 14- 18% Do đó, da cần hồi ẩm
Hồi ẩm là quá trình nâng cao độ ẩm của da bằng cách phun nước dạng sương lên mặt váng Sau đó ủ đống, trên phủ bằng nylon trong khoảng 24 giờ Tránh để lâu hơn, da sẽ bị mốc Phương pháp này không đòi hỏi cầu kỳ, nhưng da dễ bị ẩm không đều khắp vùng
Phương pháp khác là chất đống da xen kẽ với mùn cưa ẩm Mùn cưa từ gỗ mềm, không có đinh hay cát sỏi và được làm ẩm đến độ ẩm khoảng 40% Da được
ủ trong mùn cưa từ 24- 36 giờ
Phương pháp tiên tiến hơn là hồi ẩm bằng điều hoà Người ta dùng không khí
ẩm, thường là độ ẩm 100% tiếp xúc với mặt da trong phòng hồi ẩm Phương pháp này giúp nâng độ ẩm của da rất đều Tuy nhiên đầu tư tốn kém và thường áp dụng cho các loại da cao cấp
Vò mềm: Mục đích của công đoạn vò mềm là làm cấu trúc sợi da trở nên linh động, vì trong quá trình sấy, các sợi da dính chặt với nhau Khi cấu trúc sợi linh động, các sợi da dễ dàng dao động trượt cạnh nhau, da trở nên mềm mại
Vò mềm có thể thực hiện bằng tay, máy hoặc các động tác cơ học như quay đập khan trong phu lông
Vò tay: Dụng cụ vò là một tấm sắt hình lưỡi liềm gắn trên khung gỗ Hai tay người vò cầm chắc hai đầu da, áp mặt váng vào lưỡi sắt, tỳ kéo qua kéo lại cho mềm khắp tấm da Vò mềm bằng tay chỉ dùng cho các loại da bé như da thỏ, da rắn hay da nguyên lông Công suất vò thấp, da mềm không đều
Trang 21Hình 10 Phương pháp vò tay
Quay đập khan: Với da cần độ mềm lớn như da áo, da găng thì thường áp dụng phương pháp quay đập khan Phương pháp này được tiến hành trong phu lông hình trụ hay bát giác, có đường sinh nhỏ và bán kính lớn, tốc độ quay nhanh để tăng tác dụng làm mềm cơ học Có thể tăng tác dụng vò mềm bằng cách tăng nhiệt độ hay hơi nước đưa vào phu lông [10]
Da sau khi hồi ẩm, cho vào phu lông quay 4- 5 giờ, kiểm tra độ mềm, xốp Nếu đạt thì đưa ra, căng nhẹ cho phẳng lại
Hình 11 Phu lông quay đập khan
Trang 22b/ Trau chuốt và các phương pháp trau chuốt da nốt sần [10]
Trau chuốt là công đoạn cuối cùng và là một trong các công đoạn rất quan trọng trong công nghệ thuộc da
Mục đích công đoạn trau chuốt là nâng cao chất lượng và làm tăng khả năng sử dụng của da thành phẩm Trau chuốt tạo màu sắc, khắc phục các khuyết tật tư nhiên
và công nghệ trong các giai đoạn trước như sẹo ghẻ, lỏng mặt…đồng thời tạo hình thức, hoa văn và lớp bảo vệ trên bề mặt da
Lớp trau chuốt cần bền vững đối với các tác động va chạm, với ánh sáng, nhiệt
độ cao hoặc thấp, đáp ứng các tiêu chuẩn uốn gấp, mài nỉ khô, ướt Đặc biệt, nó cần bền vững với các dung môi hữu cơ như toluene, acetone Cuối cùng trau chuốt cần phải làm sao để vẫn bảo đảm các đặc tính ưu việt của da thật như hình thức, khả năng thoát khí, hơi…
Thành phần hoá chất trau chuốt:
Phẩm nước: Là phẩm màu aniline dạng chất lỏng, có thể hoà tan trong nước hay dung môi (có cực hoặc không cực)
Phẩm nước thường dùng trong trau chuốt aniline hoặc semianiline, hoặc pha vào chất bóng hãm
Pigment: Pigment là chất màu không hoà tan mà chỉ khuyếch tán trong nước
Do đó kích thước hạt (độ mịn) rất quan trọng Pigment được dùng trong dung dịch trau chuốt tạo màu sắc cho da
hữu cơ tự nhiên hoặc tổng hợp có màu sắc tươi hơn pigment vô cơ, nhưng khả năng che phủ lại thấp hơn pigment vô cơ Muốn tạo màu tươi, nên trộn lẫn pigment vô
cơ và hữu cơ, nhưng cần lưu ý tránh bị phân lớp
Bảng 2 Thành phần hoá chất của pigment Màu Bản chất của pigment
Gốc chromate chì
Trang 23Các pigment hữu cơ tổng hợp
Pigment dùng trong trau chuốt da đòi hỏi phải có độ mịn cao Độ mịn càng cao, khả năng che phủ càng lớn Ngoài ra pigment cần phải có độ bền với ánh sáng, với nhiệt độ
Chất kết dính: Chất kết dính là thành phần quan trọng nhất về mặt cơ học của lớp trau chuốt, đó là các chất cao phân tử hay hợp chất có khả năng polyme hóa hoặc trùng ngưng hóa, tạo độ bền liên kết làm lớp trau chuốt có các tính chất như
độ dãn dài, độ bền ma sát, độ chịu nước…Bởi da có khả năng uốn mềm, co dãn nên chất kết dính cũng phải có tính chất tương tự như vậy để khi kết hợp với nhau không bị bong ra, bị rạn hoặc vỡ Phần lớn các chất kết dính đều được các chất trợ làm cho mềm hơn Các chất kết dính có thể là các sản phẩm tự nhiên hay tổng hợp Chất kết dính phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Bám dính tốt với da
- Liên kết tốt giữa các lớp trau chuốt
- Mềm dẻo trong khoảng nhiệt độ biến thiên rộng
- Chống mài mòn tốt
- Bền vững với nước, đôi khi với cả dung môi
- Tạo cảm giác trơn tay cho bề mặt da
- Không dính lắc in, nhưng giữ được vân in
- Kết hợp tốt với hóa chất trau chuốt khác như pigment, chất trợ và các chất kết dính khác
Phần lớn các chất kết dính chỉ đáp ứng được một số yêu cầu trên, còn muốn đáp ứng được nhiều yêu cầu thì phải biết kết hợp hai hay nhiều chất kết dính khác nhau tuỳ theo yêu cầu sản phẩm cuối cùng Việc lựa chọn chất kết dính phụ thuộc:
- Kiểu và chất lượng da mộc đưa vào trau chuốt
- Yêu cầu tính chất và kiểu mẫu thời trang của da sau trau chuốt
- Khả năng áp dụng các thiết bị cơ học của xưởng trau chuốt
- Yêu cầu bảo vệ môi trường của dịa phương
Trang 24- Khả năng tài chính và yêu cầu nâng cấp da thành phẩm
Chất kết dính hệ acrylic:Chất kết dính polymer được sử dụng nhiều nhất là
polymer của ester acide propen(acryl) và 2- methyl- propen (methannacryl)
CH3
CH2 = CH – COOR CH2 = C – COO
Ester acide acrylic ester acide methanacrylic
Độ mềm của nó phù hợp cho phần lớn các loại da Tuy nhiên, để đáp ứng các yêu cầu của màng trau chuốt thì cần dùng kết hợp với các thành phần kết dính khác
Polyacrylic không màu hoặc màu sữa nhạt, hơi đục Màng trau chuốt bền vững với nước và các dung môi hữu cơ ( trừ cloruacácbon ) Polyacrylic được sản xuất với nhiều chế phẩm có độ mềm khác nhau
Hệ polyurethane: Polyurethane là loại chất kết dính được sử dụng ngày càng
nhiều trong trau chuốt da bởi chúng rất bền về mặt cơ học và hóa học Sản phẩm da được trau chuốt bằng polyurethane có vẻ đẹp lâu bền
Sự tạo thành kết dính polyurethane xảy ra khi izocyanate ( hợp chất có chứa nhóm – N = C = O ) tác dụng với alcohol, tạo nên urethane:
Trang 25Hệ kết dính polyurethane có các đặc tính sau:
- Chống rạn vỡ ở điều kiện nhiệt độ lạnh (thậm chí dưới – 30oC)
- Độ kết dính rất cao
- Cảm giác dịu, mát
- Màng trau chuốt mềm, dẻo
- Khả năng mài nỉ khô và ướt cao
- Chịu va chạm cơ học tốt
- Giữ được vân in tốt
- Độ che phủ khuyết tật của da vừa phải
Các chất phụ trợ: Các chất trợ là các chất hoà tan trong nước hoặc dung môi,
có tác dụng biến tính màng trau chuốt hay màng bóng hãm Chúng làm tăng cường các tính chất đặc biệt của màng trau chuốt và da thành phẩm
Các chất trợ có đặc tính sau:
-Tăng cường độ che phủ và độ đặc của dung dịch trau chuốt
-Tăng hoặc giảm độ bóng
-Tạo cảm giác đặc biệt cho da thành phẩm như trơn, cảm giác dầu, sáp…
-Tăng độ đồng đều khi phun, chống tạo bọt
-Giảm dính lắc và giữ được vân khi in
Các chất trợ được chia thành một số nhóm:
-Chất trợ cationic, chất trợ anionic
-Chất trợ dầu
-Chất trợ sáp
Chất bóng hãm: Chất bóng hãm rất quan trọng trong trau chuốt, nó ngăn cách
màng trau chuốt với môi trường bên ngoài, giúp cho màng trau chuốt không bị mài mòn hoặc bị phai màu, đồng thời tạo bóng cho da hoàn thành Có 2 loại bóng: chất
Trang 26bóng hệ dung môi và chất bóng hệ nước Trong tương lai chất bóng hệ nước sẽ được dùng nhiều do các chất bóng này tạo cho da thành phẩm có tính tự nhiên hơn
và ít gây ô nhiễm môi trường hơn
Một trong các yếu tố quan trọng nhất của khâu trau chuốt da là lựa chọn chất bóng Độ bóng, cảm quan, hình thức… cần được điều chỉnh theo yêu cầu khách hàng
Các hãng hóa chất sản xuất rất nhiều loại bóng đáp ứng các yêu cầu này Các hình thức của chất bóng được ưa chuộng là: aniline, florentique, chimax…
Hệ bóng nước: tan được trong nước, bao gồm: nitrocelulosa nhũ hóa, celulose acetate nhũ hóa, polyacrylic nhũ hóa, polyurethane phân tán
Hệ bóng dung môi: Chỉ tan trong dung môi hữu cơ, chất bóng này có độ bền mài nỉ khô và ướt cao, nhưng màng bóng hơi cứng Bao gồm: Vinyl, urethane, urethane hoạt tính
Hiện nay một số hãng hóa chất đã sản xuất được chất bóng vừa tan trong dung môi, vừa tan trong nước, tuy giá thành còn hơi cao
Các biện pháp cơ học và thiết bị máy móc:
Phương pháp phun xì bằng súng thường:
Trong kỹ thuật này, người ta dùng súng phun để đưa hóa chất lên mặt da Cấu tạo súng phun như sau:
Hình 12 Sơ đồ phun xì
Dung dịch trau chuốt được đẩy qua súng tới tấm da; nhờ áp lực khí nén tạo hạt mịn như mưa phùn Phương pháp này tạo màng trau chuốt mỏng đều và có thể trau
Trang 27chuốt cả các tấm da nhỏ Tuy nhiên, phun xì bằng súng gây lãng phí hóa chất vì bị bắn ra ngoài tấm da do phản lực
Máy đánh mặt (buffing machine):
Để làm giảm cự ly tấm da cá sấu hoặc đà điểu, người ta phải sử dụng máy đánh mặt Có một số loại máy đánh mặt là máy đánh mặt liên tục và máy đánh mặt gián đoạn
Hình 13 Sơ đồ máy đánh mặt (buffing machine) Chú thích:
A: Chổi chải trục giấy ráp
H: Pedal điều khiển đánh mặt da
I: Vô lăng điều chỉnh cự ly đánh mặt da
Khi sử dụng máy đánh mặt cần lưu ý:
Trang 28- Lựa chọn loại giấy ráp thích hợp P120, P200, P300 P360, P400… cho từng loại da
Sau khi đánh mặt thì bắt buộc phải đưa da qua máy hút bụi để mặt da khỏi dính bột da Cũng có 2 loại máy hút bụi là máy hút riêng và máy kết hợp với máy đánh mặt thành một hệ thống
Máy đánh bóng (Polishing machine) [14]:
Đối với da cá sấu hoặc đà điểu trau chuốt aniline cần phải sử dụng máy đánh bóng Máy đánh bóng kết hợp với màng trau chuốt đặc biệt tạo cho da có vân và màu sắc đa dạng tự nhiên Với da nốt sần thì sử dụng máy trục nỉ hoặc máy đánh bóng trục mã não (glazing machine)
Hình 14 Máy đánh bóng trục mã não
Trang 29Hình 15 Máy đánh bóng trục nỷ
Mục đích sử dụng máy đánh bóng là:
Khi sử dụng máy đánh bóng cần lưu ý:
thể gây ra hiện tượng lỏng mặt
ma sát và có tính xuyên vào da tốt Khi phun xong cần phải phơi cho da thất khô trong bóng dâm
Máy in da:
Một loại máy không thể thiếu được trong trau chuốt da là máy in da Nhờ áp lực và nhiệt độ, màng trau chuốt nóng chảy, liên kết với nhau và với da chặt chẽ hơn Hoa văn của da thành phẩm được tạo ra theo vân của lắc in như chân lông, vân da cá sấu, …
Ngoài máy in bàn, người ta còn dùng máy in trục Tốc độ in của máy in trục cũng tăng nhiều so với máy in bàn Ngoài ra máy in trục còn giúp cho da mềm, không bị gấp mép
Hình 16 Sơ đồ máy in