1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao

59 599 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Nâng Cấp Chất Lượng Da Cá Sấu, Đà Điểu Bằng Phương Pháp Trau Chuốt Mới, Tạo Sản Phẩm Thời Trang Có Giá Trị Cao
Tác giả KS. Lê Văn Kha, ThS. Nguyễn Mạnh Khôi
Trường học Viện Nghiên Cứu Da - Giầy
Chuyên ngành Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viện NC Da giầy Trình bày kết quả nghiên cứu: Xác định tiêu chuẩn chất lượng các sản phẩm da thuộc cá sấu, đà điểu chất lượng cao, xây dựng và thử nghiệm các công nghệ trau chuốt mới da thuộc cá sấu, đà điểu

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tên đề tài: “Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu,

đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao”

Mã số: 200.11.RD/HĐ-KHCN

Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương

Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Da - Giầy Chủ nhiệm đề tài: KS Lê Văn Kha

9039

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN NGHIÊN CỨU DA -GIÀY

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011

Tên đề tài: “Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu,

đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao”

Trang 3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Học vị

Cơ quan

Nghiên cứu viên chính

Nghiên cứu viên

3 Nguyễn Hữu Cường Kỹ sư thuộc da,

Nghiên cứu viên

4 Nguyễn Hồng Sơn Cử nhân,

Phó quản đốc xưởng TNTD, viện NCDG

Trang 4

DANH SÁCH BẢNG BIỂU

trục mã não

38

trục nỷ

44

Trang 5

DANH SÁCH HÌNH VẼ

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG Danh sách thành viên chính tham gia đề tài……… 1

Danh sách bảng biểu … …… ……… 2

Danh sách hình vẽ……… ……… 3

PHẦN I TỔNG QUAN……….5

PHẦN II THỰC NGHIỆM VÀ BIỆN LUẬN……… ………30

PHẦN III KẾT LUẬN……….46

Tµi liÖu tham kh¶o……….48

PHỤ LỤC……… 50

Trang 7

PHẦN 1: TỔNG QUAN

1.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ, XUẤT SỨ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Cơ sở pháp lý:

Đề tài “Nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương

pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao” được tiến hành theo

Hợp đồng Đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nghiên cứu khoa

giữa Bộ Công Thương và Viện Nghiên cứu Da Giầy

1.1.2 Sự cần thiết của đề tài:

Ở nước ngoài, mặt hàng da thuộc cá sấu, đà điểu đã được quan tâm nghiên cứu sản xuất do nhu cầu của nền công nghiệp tiêu dùng và du lịch Một số nước đã có công nghệ thuộc và trau chuốt hoàn thiện mặt hàng này như: Australia, Ý, Hàn Quốc, Thái lan…với trình độ kỹ thuật cao, đặc biệt là khâu trau chuốt Trong khâu này, họ đã nghiên cứu chế tạo các máy hỗ trợ chuyên ngành như máy đánh bóng bề mặt vẩy sừng, máy đánh bóng bề mặt da có vẩy nhỏ Hóa chất sử dụng ít chứa pigment, tạo màu sắc cho da hoàn thành phong phú và tự nhiên Bởi vậy sản phẩm

da thuộc của họ đạt tới trình độ cao, phục vụ tốt cho kinh tế quốc dân Sản phẩm chế biến từ các loại da thuộc này được ưa chuộng trên thị trường trong nước và thế giới với các thương hiệu nổi tiếng, có giá trị kinh tế cao

Khoảng 10 năm lại đây, trong nước cũng đã phát triển mạnh mẽ việc chăn nuôi cá sấu, đà điểu để xóa đói giảm nghèo cho nông dân vùng sâu Số lượng đã tăng lên gần 1 triệu con mỗi loại Một số cơ sở sản xuất da thuộc cá sấu, đà điểu đã đầu tư trang thiết bị và công nghệ, nhưng do khả năng tài chính và trình độ kỹ thuật nên chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường, đặc biệt là khâu trau chuốt

Bởi vậy, đề tài được nghiên cứu sẽ tạo ra công nghệ trau chuốt mới, nâng cao chất lượng và hình thức sản phẩm, lại đáp ứng yêu cầu vệ sinh (tồn dư các chất độc hại trong giới hạn cho phép)

Trang 8

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Đưa ra công nghệ trau chuốt mới (không sử dụng nhiều hóa chất sơn phủ, thay thế bằng hóa chất đặc biệt để sản phẩm có hình thức tự nhiên) để tạo ra các sản phẩm da thuộc cá sấu và đà điểu chất lượng cao

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quy trình công nghệ trau chuốt

mới da đà điểu và da cá sấu

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đề tài thực hiện nghiên cứu đối với nguyên liệu da đà điểu, cá sấu trong nước do Viện tiến hành thuộc

- Đề tài được thực hiện thực nghiệm tại xưởng Thực nghiệm Thuộc da của Viện trên

1.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1.4.1 Nội dung nghiên cứu:

- Thu thập tài liệu có liên quan đến da thuộc cá sấu, đà điểu chất lượng cao trên thế giới

- Nghiên cứu xác định tiêu chuẩn chất lượng các sản phẩm da thuộc cá sấu, đà điểu chất lượng cao

- Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm các công nghệ trau chuốt mới da thuộc cá sấu, đà điểu:

+ Da cá sấu: Trau chuôt aniline, semianiline, đánh bóng trên máy đánh bóng trục mã não (glazing machine)

+ Da đà điểu: Trau chuốt không pigment, aniline, chịu nước (waterproof), đánh bóng trên máy polishing

- Thử nghiệm các quy trình công nghệ và hiệu chỉnh thông số kỹ thuật qua sản xuất thí nghiệm

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp nghiên cứu lý thuyết và thực hành, phân tích đánh giá kết quả qua từng thí nghiệm, hiệu chỉnh các thông số kỹ thuật trong quá trình thực hiện nhằm tìm ra quy trình công nghệ tối ưu

Trang 9

1.5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC:

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước:

Ở Việt Nam đà điểu đã được chăn nuôi trong cả nước, nhưng tập trung nhiều

ở khu vực miền Trung; cá sấu được nuôi chủ yếu ở miền nam và nam Trung bộ; miền bắc cũng đã có một số trang trại chăn nuôi cá sấu, nhưng chưa phát triển mạnh Hiện tại mới chỉ có một số ít cơ sở thuộc, trau chuốt da Chủ yếu họ chỉ thực hiện với công nghệ thuộc và trau chuốt tương tự như đối với da trâu bò Do đặc điểm da đà điểu và cá sấu khác với da trâu bò, nên việc thuộc và trau chuốt da như vậy không nâng cao giá trị của da nguyên liệu Da cứng, màu sắc không tươi, chân lông và vân da không nổi bật

Cơ sở Tồn Phát, KHATOCO và một số cơ sở thuộc da nốt sần khác cũng đã đầu tư thiết bị và công nghệ cho loại da này, nhưng cũng mới chỉ là bước đầu

Viện Nghiên cứu Da- Giầy gần đây cũng đã quan tâm nghiên cứu công nghệ

và chế tạo một số thiết bị chuyên ngành thuộc da nốt sần (cá sấu, đà điểu), như:

Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu công nghệ thuộc da cá sấu, trăn, đà điểu” năm

2005

Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo máy đánh bạc nhạc cho các loại da nốt sần”, năm 2006

Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến sản phẩm từ da

cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu, đà điểu trong nước”, năm 2008

Đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu công nghệ thuộc tiên tiến nhằm khai thác tối ưu nguồn da cá sấu trong nước, năm 2009

Các đề tài này đã có những thành công nhất định, tuy nhiên về công nghệ trau chuốt vẫn chưa mang lại kết quả như mong muốn Mặt khác, công nghệ và thiết bị luôn đổi mới theo thời gian Chính vì vậy rất cần nghiên cứu nâng cấp chất lượng sản phẩm bằng phương pháp trau chuốt mới (sử dụng hóa chất mới) để theo kịp thời đại và đáp ứng yêu cầu của khách hàng

1.5.2 T×nh h×nh nghiªn cøu ngoµi n−íc:

Trong những năm 80 của thế kỉ trước, trên thế giới đã bắt đầu việc nghiên cứu công nghệ thuộc và trau chuốt da đà điểu, cá sấu (gọi chung là da nốt sần) Đến thập kỉ 90, công nghệ này được phát triển, tiến bộ nhanh chóng

Trang 10

Theo nhiều tài liệu, qui trình công nghệ thuộc và trau chuốt da nốt sần với hệ thống thiết bị hiện đại, đồng bộ được thực hiện trong các nhà máy thuộc da ở các nước công nghiệp có khả năng dồi dào về kĩ thuật và tài chính

Các nước có ngành công nghiệp thuộc da phát triển như Italia, CHLB Đức,

Mỹ, Hàn Quốc, CH Séc đã có nghiên cứu và có những công nghệ thuộc, trau chuốt, chế biến da nốt sần, tạo ra các sản phẩm tiêu dùng rất đa dạng, hoàn hảo trên thị trường được mọi người sử dụng ưa thích [5] Một số nước Châu Phi như Zambia ngành chăn nuôi động vật nốt sần rất phát triển, năm 2001 xuất khẩu 120.042 bộ da nốt sần; năm 2005 là 200 nghìn bộ [5] Zambia cũng đã xuất khẩu sang Tây Âu da loại này Năm 2005, 2006, 2007 theo số liệu thống kê ở Mỹ đã bán với số lượng hàng năm hơn 1 triệu bộ da nốt sần [6] Ngoài ra ở Úc cũng là nơi chăn nuôi cá sấu, đà điểu Hàng năm họ xuất khẩu loại da này ở dạng nguyên liệu, đồng thời thuộc và chế biến thành các sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là Hàn Quốc [4] Thái Lan nước láng giềng với Việt Nam đã chăn nuôi, chế biến và xuất khẩu da cá sấu, đà điểu Họ thuộc, hoàn thiện và chế biến thành sản phẩm loại da này với trình độ công nghệ chất lượng cao [9] Các sản phẩm của

họ được khách hàng ưa chuộng

1.5.3 Một số cơ sở khoa học áp dụng trong đề tài:

Hình thái của da đà điểu: Kính hiển vi điện tử đã cho biết cấu trúc biểu mô, dễ làm mất nước ở da Thực tế da đà điểu không có tuyến mồ hôi do đó đà điểu phải dựa trên cơ chế hành vi để kiểm soát mất nhiệt cơ thể của chúng Ví dụ, lúc nhiệt

độ cao đà điểu đứng ngược chiều gió và vẫy cánh về phía sau và ra phía trước để làm mát hai bên thân của nó Da mặt bàn chân, chân và đùi trông giống như da bò sát [6]

Da đà điểu được tạo nên từ hai phần chính [5]:

- Trên bề mặt là phần sừng (Epidermis)

Trang 11

- Phần cật là thành phần chính của da gồm có hai lớp: lớp trên (papillary layer)

có cấu tạo sợi mịn, liên kết chặt chẽ tạo mặt cật cho da và lớp dưới (reticular layer)

có cấu trúc mạng lưới, có độ dày lớn hơn lớp trên và là phần chính tạo độ bền cơ học cho da

Hình 1 Bề mặt tấm da đà điểu Chú thích:

Crown: Phần da có chất lượng tốt nhất trên tấm da đà điểu (thường gọi là phần

Trang 12

Hình 2 Sự phân bố và hình dạng các lỗ chân lông trên da đà điểu

Thành phần hóa học của da [3] gồm có nước, protein, chất béo và một vài

muối khoáng Protein là thành phần chính tạo nên da thuộc Protein gồm có hai

loại:

- Protein dạng sợi: là thành phần chính của da, quyết định tính chất cơ học và

lý học của da Có 3 nhóm chính là: collagen, elastin và keratin

- Protein không dạng sợi: globulin, albumin

Bảng 1 Thành phần của da đà điểu Thành phần %

- Protein cấu trúc sợi:

+ Elastin: sợi vòng trong bó sợi colagen:

+ Colagen: tạo nên da thuộc:

+ Keratin (tạo nên lông, biểu bì):

- Protein cấu trúc không dạng sợi:

Trang 13

Thành phần cơ sở tạo nên protein là amin axít Đó là hợp chất hữu cơ có chứa

Ni tơ, có thể coi là các monomer trong tổng hợp sinh học của protein Cấu trúc hóa học của amin axít:

cacboxyl, tạo cho amin axít tính cation Trong môi trường kiềm xảy ra hiện tượng ngược lại, amin axít mang tính anion

R

|

H2N – Cα – COOH |

C = O

|

H3N+ – C– H | R

+ OH

-+ H +

O |

C = O

|

H2N – C– H | R

X- H3N+ – C– COOH |

H2N – C– COO- Me+ + H2O |

R

Trang 14

Amin axít liên kết với nhau, tạo nên peptid, polypeptid va protein nhờ mối liên kết peptid -CONH- Cơ chế của tổng hợp sinh học rất phức tạp Về mặt hóa học có thể viết như sau:

+

Dipeptid

Dipeptid + Amin axít -> tripeptid + (amin axít)n -> polypeptid -> Protein

Đà điểu [4, 5] (struthio camelus) là một trong những loài chim lớn nhất Mặc

dù da thuộc của Emu (một loài đà điểu Úc) vẫn có nhu cầu, nhưng đà điểu là loài chim chạy lớn nhất còn quan trọng hơn vì chúng sinh lợi nhanh hơn emu Thật vậy, lúc 14 tháng tuổi, một con đà điểu có thể cho 1,4-1,8 kg lông, 34-41 kg thịt và 1,08-1,26 m2 da thuộc, sản phẩm đã chế biến mang lại lợi nhuận cao nhất là thịt và

da Da được thuộc thành da thuộc với nhiều dạng lỗ chân lông khác biệt, độ bền và tính mềm dẻo đã làm cho chúng có nhu cầu cao đối với các nhà máy sản xuất giày,

ví, dây thắt lưng Da mỏng hơn của những đà điểu non được dùng để may quần áo

Độ dày tối ưu của da thuộc được khuyến cáo dùng cho may quần áo, túi sách, giày

và dây lưng tương ứng là 0,88mm, 1,25mm và 1,45mm Nhiều khách hàng nước ngoài muốn mua da thuộc được thuộc tại các nhà máy địa phương

Da là một sản phẩm quan trọng của ngành chăn nuôi đà điểu và nó được đánh giá cao bởi các đặc tính của nó và được khách hàng ưa thích

Da đà điểu rất mỏng, lỗ chân lông rộng và sâu Sụ phân tách giữa lớp reticular

và papilar không rõ rệt Lớp bì phu có cấu trúc thưa, rỗng nên da mềm, xốp, dễ bóc

ra từng lớp Ngày nay da đà điểu và da gà, chim được dùng nhiều do hình thức thời trang của các mặt hàng làm từ loại da này

Da đà điểu thuộc lớp chim nên da mỏng và có nhiều lỗ chân lông to, sâu Do có nhiều loại lông khác nhau trên mình (lông cánh, lông cổ, lông lưng, lông bụng) nên

bề mặt của tấm da rất khác nhau Sự khác nhau giữa các lớp lưới và lớp nhú không

rõ rệt, mô liên kết ít phát triển Da đf điểu chủ yếu dùng để chế biến các sản phẩm

có tính mềm mại như túi, ví, cặp và một số giầy dép, thời trang…[5]

|

CH3

H O H | || |

| | |

H H CH3

Trang 15

Dưới lớp da đà điểu có lớp mỡ rất dầy trong công nghệ thuộc cần lưu ý tới đặc điểm này vì nếu không tẩy sạch mỡ thì mỡ sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng da thành phẩm

Khuyết tật của da nguyên liệu [1]: Các khuyết tật của da nguyên liệu ảnh

hưởng nhiều đến chất lượng da thuộc Có khuyết tật tự nhiên khi súc vật sống như vết sẹo, ghẻ, đóng dấu… có khuyết tật tạo nên trong quá trình lột mổ, bảo quản như

da hư thối, xước, thủng…

Các khuyết tật tạo nên khi con vật sinh trưởng:

Vết sẹo: xuất hiện khi con vật bị dây thép gai, cành cây cào vào, hay vết chim

mổ, ghẻ lở tạo sẹo lồi hay lõm

Các khuyết tật sau khi con vật chết:

Khuyết tật khi lột mổ: đó là các vết dao ở mặt trái con da, thậm chí là lỗ thủng Các khuyết tật này làm giảm đi giá trị của con da

Khuyết tật do bảo quản:

Nếu bảo quản không đúng kỹ thuật, có thể xẩy ra các khuyết tật sau:

- Khuyết tật do da bị thối: do vi khuẩn phá hủy nên da bị hỏng, mức độ nhẹ là rụng lông, nặng hơn là phân hủy mặt cật

- Khuyết tật do da bị mốc: nhất là các loại mốc đỏ, ăn xuyên qua thiết diện da, khi nhuộm hoặc trau chuốt màu sẽ không đều và không thể xuất khẩu được

Ở các nước có công nghệ thuộc da tiên tiến, da đà điểu là loại da nốt sần có giá trị kinh tế cao nhờ các đặc điểm độ mềm và hình thức đặc trưng của nó Da đà điểu được trau chuốt nhẹ, với các màu sắc phong phú, nhưng vẫn giữ được vẻ tự nhiên

Hình 3 Da đà điểu đã trau chuốt của nước ngoài

Trang 16

1.5.3.2 Da cá sấu

Khác với đà điểu, cá sấu không có lông bao phủ, nhưng phía bên ngoài da phát triển thành lớp vẩy dầy, khô, cứng Hình dạng, kích thước, độ dày và sự sắp xếp các vẩy này rất khác nhau ở các vị trí trên cùng một tấm da, cũng như giữa các giống đà điểu khác nhau [13]

Trang 17

Phần gáy có cụm vẩy liền khối đặc trưng Đây là cụm vẩy được khách hàng rất

ưa chuộng

Hình 6 Cụm vẩy gáy cá sấu

Phần lưng có vẩy lớn hình chữ nhật, nhô cao, nằm theo hàng song song từ cổ đến đuôi

Hình 7 Vẩy lưng cá sấu

Phần bụng vẩy có hình chữ nhật, thấp đều, sắp xếp cân đối theo hàng ngang

Trang 18

Hình 8 Vẩy bụng cá sấu

Nách và các chi có vẩy tròn, nhỏ, tương đối đều

Hình 9 Vẩy nách và các chi cá sấu

Cá sấu xiêm sống ở vùng nước ngọt, số lượng ít so với loài cá sấu khác; có kích thước nhỏ, màu xám, vẩy lưng tròn, cao và sắc cạnh Cá sấu hoa cà sống ở vùng nước mặn và nước lợ; kích thước lớn, có vẩy lưng màu vàng và đen xen kẽ nhau [7]

Da cá sấu có cấu tạo gồm 2 phần chính là biểu bì và bì [9] Lớp biểu bì rất phát triển, phía ngoài hoá sừng tạo thành vẩy Độ dày của lớp biểu bì tăng theo tuổi con vật Keratin không thể coi là 1 loại protein đồng nhất mà có nhiều dạng sinh học

Trang 19

khác nhau, có tính chất chung là không tan trong nước, có mối liên kết disulfid trong phân tử Vẩy được tạo ra từ tế bào keratin ß, có độ dày khoảng 0,2 mm Vẩy được chia thành các lớp nhỏ theo mức độ hoá sừng khác nhau:

- Lớp vẩy sừng (corno-neous): là lớp ngoài cùng, do chất sừng phát triển từ biểu bì, ghép với nhau thành bộ giáp cứng Khác với lớp biểu bì của các loài động vật khác, lớp biểu bì này không bị đào thải, mà phát triển dày lên thành vẩy sừng

- Lớp tiền sừng hay lớp chuyển tiếp (pseudosatratified transitional or precorneous): Gồm 1 – 2 lớp tế bào sừng non hình đĩa Các tế bào lớp sừng này sẽ phát triển dày lên thành lớp vẩy sừng

- Lớp gai (suprabasal cell layer): Được cấu tạo từ các tế bào mỏng Quá trình phát triển của lớp gai sẽ tạo thành lớp tiền sừng

Nối giữa các vẩy là các tế bào có thành phần khác với lớp vẩy: Lớp sừng, lớp gai và lớp đáy (basal layer), tạo độ mềm mại cho da để con vật có thể cử động được

1.5.3.3 Công nghệ trau chuốt da nốt sần

Quá trình thuộc da gồm nhiều giai đoạn [1] Trong giai đoạn xử lý đầu tiên, mục đích chính là khôi phục các đặc tính tự nhiên của da Các loại hóa chất và

peroxide để giảm độ pH xuống còn 8,5; sau đó bổ sung men làm mềm Giai đoạn này được gọi tẩy vôi – làm mềm Tẩy mỡ là công đoạn quan trọng để đảm bảo rằng

mỡ đã bị tẩy sạch trong cấu trúc của da và nâng cao sự ổn định của da thuộc Sau

đó da được thuộc phèn Sau khi thuộc phèn, da được thuộc lại, ăn dầu để làm cho

nó mềm mại Các đặc tính đặc biệt khác cũng được đòi hỏi tăng cường như màu sắc đồng đều trong quá trình nhuộm Trong trau chuốt cần phủ một lớp màng mỏng anilin để duy trì hình dáng tự nhiên của nó Giai đoạn kết thúc bao gồm đo kích thước, phân loại, đóng gói, bảo quản trước khi vận chuyển đi tiêu thụ

a/ Các công đoạn cơ học trước khi trau chuốt [9]

Xén riềm: Da sau khi sấy khô cần phải sửa sang, cắt bỏ các phần mép không

sử dụng được (như vết đinh, phần da hỏng…) Công việc tuy đơn giản, nhưng cần lưu ý cẩn thận, vì nếu còn đinh sót trên da hay vật cứng sẽ làm hỏng máy vò mềm

Trang 20

Công cụ sử dụng xén riềm là kéo hay dao sắc Tránh xén không hết hay xén quá các phần cấn xén bỏ

Hồi ẩm: Sau khi sấy phần lớn da có độ ẩm thấp (khoảng 10%), da rất cứng và không thể dùng biện pháp cơ học để làm mềm ngay được Nếu tác động cơ học ngay, có thể làm gãy mặt da hay hỏng rách máy vò Để trong không khí ẩm, da sẽ hút ẩm và đạt độ ẩm 14- 18% Do đó, da cần hồi ẩm

Hồi ẩm là quá trình nâng cao độ ẩm của da bằng cách phun nước dạng sương lên mặt váng Sau đó ủ đống, trên phủ bằng nylon trong khoảng 24 giờ Tránh để lâu hơn, da sẽ bị mốc Phương pháp này không đòi hỏi cầu kỳ, nhưng da dễ bị ẩm không đều khắp vùng

Phương pháp khác là chất đống da xen kẽ với mùn cưa ẩm Mùn cưa từ gỗ mềm, không có đinh hay cát sỏi và được làm ẩm đến độ ẩm khoảng 40% Da được

ủ trong mùn cưa từ 24- 36 giờ

Phương pháp tiên tiến hơn là hồi ẩm bằng điều hoà Người ta dùng không khí

ẩm, thường là độ ẩm 100% tiếp xúc với mặt da trong phòng hồi ẩm Phương pháp này giúp nâng độ ẩm của da rất đều Tuy nhiên đầu tư tốn kém và thường áp dụng cho các loại da cao cấp

Vò mềm: Mục đích của công đoạn vò mềm là làm cấu trúc sợi da trở nên linh động, vì trong quá trình sấy, các sợi da dính chặt với nhau Khi cấu trúc sợi linh động, các sợi da dễ dàng dao động trượt cạnh nhau, da trở nên mềm mại

Vò mềm có thể thực hiện bằng tay, máy hoặc các động tác cơ học như quay đập khan trong phu lông

Vò tay: Dụng cụ vò là một tấm sắt hình lưỡi liềm gắn trên khung gỗ Hai tay người vò cầm chắc hai đầu da, áp mặt váng vào lưỡi sắt, tỳ kéo qua kéo lại cho mềm khắp tấm da Vò mềm bằng tay chỉ dùng cho các loại da bé như da thỏ, da rắn hay da nguyên lông Công suất vò thấp, da mềm không đều

Trang 21

Hình 10 Phương pháp vò tay

Quay đập khan: Với da cần độ mềm lớn như da áo, da găng thì thường áp dụng phương pháp quay đập khan Phương pháp này được tiến hành trong phu lông hình trụ hay bát giác, có đường sinh nhỏ và bán kính lớn, tốc độ quay nhanh để tăng tác dụng làm mềm cơ học Có thể tăng tác dụng vò mềm bằng cách tăng nhiệt độ hay hơi nước đưa vào phu lông [10]

Da sau khi hồi ẩm, cho vào phu lông quay 4- 5 giờ, kiểm tra độ mềm, xốp Nếu đạt thì đưa ra, căng nhẹ cho phẳng lại

Hình 11 Phu lông quay đập khan

Trang 22

b/ Trau chuốt và các phương pháp trau chuốt da nốt sần [10]

Trau chuốt là công đoạn cuối cùng và là một trong các công đoạn rất quan trọng trong công nghệ thuộc da

Mục đích công đoạn trau chuốt là nâng cao chất lượng và làm tăng khả năng sử dụng của da thành phẩm Trau chuốt tạo màu sắc, khắc phục các khuyết tật tư nhiên

và công nghệ trong các giai đoạn trước như sẹo ghẻ, lỏng mặt…đồng thời tạo hình thức, hoa văn và lớp bảo vệ trên bề mặt da

Lớp trau chuốt cần bền vững đối với các tác động va chạm, với ánh sáng, nhiệt

độ cao hoặc thấp, đáp ứng các tiêu chuẩn uốn gấp, mài nỉ khô, ướt Đặc biệt, nó cần bền vững với các dung môi hữu cơ như toluene, acetone Cuối cùng trau chuốt cần phải làm sao để vẫn bảo đảm các đặc tính ưu việt của da thật như hình thức, khả năng thoát khí, hơi…

Thành phần hoá chất trau chuốt:

Phẩm nước: Là phẩm màu aniline dạng chất lỏng, có thể hoà tan trong nước hay dung môi (có cực hoặc không cực)

Phẩm nước thường dùng trong trau chuốt aniline hoặc semianiline, hoặc pha vào chất bóng hãm

Pigment: Pigment là chất màu không hoà tan mà chỉ khuyếch tán trong nước

Do đó kích thước hạt (độ mịn) rất quan trọng Pigment được dùng trong dung dịch trau chuốt tạo màu sắc cho da

hữu cơ tự nhiên hoặc tổng hợp có màu sắc tươi hơn pigment vô cơ, nhưng khả năng che phủ lại thấp hơn pigment vô cơ Muốn tạo màu tươi, nên trộn lẫn pigment vô

cơ và hữu cơ, nhưng cần lưu ý tránh bị phân lớp

Bảng 2 Thành phần hoá chất của pigment Màu Bản chất của pigment

Gốc chromate chì

Trang 23

Các pigment hữu cơ tổng hợp

Pigment dùng trong trau chuốt da đòi hỏi phải có độ mịn cao Độ mịn càng cao, khả năng che phủ càng lớn Ngoài ra pigment cần phải có độ bền với ánh sáng, với nhiệt độ

Chất kết dính: Chất kết dính là thành phần quan trọng nhất về mặt cơ học của lớp trau chuốt, đó là các chất cao phân tử hay hợp chất có khả năng polyme hóa hoặc trùng ngưng hóa, tạo độ bền liên kết làm lớp trau chuốt có các tính chất như

độ dãn dài, độ bền ma sát, độ chịu nước…Bởi da có khả năng uốn mềm, co dãn nên chất kết dính cũng phải có tính chất tương tự như vậy để khi kết hợp với nhau không bị bong ra, bị rạn hoặc vỡ Phần lớn các chất kết dính đều được các chất trợ làm cho mềm hơn Các chất kết dính có thể là các sản phẩm tự nhiên hay tổng hợp Chất kết dính phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Bám dính tốt với da

- Liên kết tốt giữa các lớp trau chuốt

- Mềm dẻo trong khoảng nhiệt độ biến thiên rộng

- Chống mài mòn tốt

- Bền vững với nước, đôi khi với cả dung môi

- Tạo cảm giác trơn tay cho bề mặt da

- Không dính lắc in, nhưng giữ được vân in

- Kết hợp tốt với hóa chất trau chuốt khác như pigment, chất trợ và các chất kết dính khác

Phần lớn các chất kết dính chỉ đáp ứng được một số yêu cầu trên, còn muốn đáp ứng được nhiều yêu cầu thì phải biết kết hợp hai hay nhiều chất kết dính khác nhau tuỳ theo yêu cầu sản phẩm cuối cùng Việc lựa chọn chất kết dính phụ thuộc:

- Kiểu và chất lượng da mộc đưa vào trau chuốt

- Yêu cầu tính chất và kiểu mẫu thời trang của da sau trau chuốt

- Khả năng áp dụng các thiết bị cơ học của xưởng trau chuốt

- Yêu cầu bảo vệ môi trường của dịa phương

Trang 24

- Khả năng tài chính và yêu cầu nâng cấp da thành phẩm

Chất kết dính hệ acrylic:Chất kết dính polymer được sử dụng nhiều nhất là

polymer của ester acide propen(acryl) và 2- methyl- propen (methannacryl)

CH3

CH2 = CH – COOR CH2 = C – COO

Ester acide acrylic ester acide methanacrylic

Độ mềm của nó phù hợp cho phần lớn các loại da Tuy nhiên, để đáp ứng các yêu cầu của màng trau chuốt thì cần dùng kết hợp với các thành phần kết dính khác

Polyacrylic không màu hoặc màu sữa nhạt, hơi đục Màng trau chuốt bền vững với nước và các dung môi hữu cơ ( trừ cloruacácbon ) Polyacrylic được sản xuất với nhiều chế phẩm có độ mềm khác nhau

Hệ polyurethane: Polyurethane là loại chất kết dính được sử dụng ngày càng

nhiều trong trau chuốt da bởi chúng rất bền về mặt cơ học và hóa học Sản phẩm da được trau chuốt bằng polyurethane có vẻ đẹp lâu bền

Sự tạo thành kết dính polyurethane xảy ra khi izocyanate ( hợp chất có chứa nhóm – N = C = O ) tác dụng với alcohol, tạo nên urethane:

Trang 25

Hệ kết dính polyurethane có các đặc tính sau:

- Chống rạn vỡ ở điều kiện nhiệt độ lạnh (thậm chí dưới – 30oC)

- Độ kết dính rất cao

- Cảm giác dịu, mát

- Màng trau chuốt mềm, dẻo

- Khả năng mài nỉ khô và ướt cao

- Chịu va chạm cơ học tốt

- Giữ được vân in tốt

- Độ che phủ khuyết tật của da vừa phải

Các chất phụ trợ: Các chất trợ là các chất hoà tan trong nước hoặc dung môi,

có tác dụng biến tính màng trau chuốt hay màng bóng hãm Chúng làm tăng cường các tính chất đặc biệt của màng trau chuốt và da thành phẩm

Các chất trợ có đặc tính sau:

-Tăng cường độ che phủ và độ đặc của dung dịch trau chuốt

-Tăng hoặc giảm độ bóng

-Tạo cảm giác đặc biệt cho da thành phẩm như trơn, cảm giác dầu, sáp…

-Tăng độ đồng đều khi phun, chống tạo bọt

-Giảm dính lắc và giữ được vân khi in

Các chất trợ được chia thành một số nhóm:

-Chất trợ cationic, chất trợ anionic

-Chất trợ dầu

-Chất trợ sáp

Chất bóng hãm: Chất bóng hãm rất quan trọng trong trau chuốt, nó ngăn cách

màng trau chuốt với môi trường bên ngoài, giúp cho màng trau chuốt không bị mài mòn hoặc bị phai màu, đồng thời tạo bóng cho da hoàn thành Có 2 loại bóng: chất

Trang 26

bóng hệ dung môi và chất bóng hệ nước Trong tương lai chất bóng hệ nước sẽ được dùng nhiều do các chất bóng này tạo cho da thành phẩm có tính tự nhiên hơn

và ít gây ô nhiễm môi trường hơn

Một trong các yếu tố quan trọng nhất của khâu trau chuốt da là lựa chọn chất bóng Độ bóng, cảm quan, hình thức… cần được điều chỉnh theo yêu cầu khách hàng

Các hãng hóa chất sản xuất rất nhiều loại bóng đáp ứng các yêu cầu này Các hình thức của chất bóng được ưa chuộng là: aniline, florentique, chimax…

Hệ bóng nước: tan được trong nước, bao gồm: nitrocelulosa nhũ hóa, celulose acetate nhũ hóa, polyacrylic nhũ hóa, polyurethane phân tán

Hệ bóng dung môi: Chỉ tan trong dung môi hữu cơ, chất bóng này có độ bền mài nỉ khô và ướt cao, nhưng màng bóng hơi cứng Bao gồm: Vinyl, urethane, urethane hoạt tính

Hiện nay một số hãng hóa chất đã sản xuất được chất bóng vừa tan trong dung môi, vừa tan trong nước, tuy giá thành còn hơi cao

Các biện pháp cơ học và thiết bị máy móc:

Phương pháp phun xì bằng súng thường:

Trong kỹ thuật này, người ta dùng súng phun để đưa hóa chất lên mặt da Cấu tạo súng phun như sau:

Hình 12 Sơ đồ phun xì

Dung dịch trau chuốt được đẩy qua súng tới tấm da; nhờ áp lực khí nén tạo hạt mịn như mưa phùn Phương pháp này tạo màng trau chuốt mỏng đều và có thể trau

Trang 27

chuốt cả các tấm da nhỏ Tuy nhiên, phun xì bằng súng gây lãng phí hóa chất vì bị bắn ra ngoài tấm da do phản lực

Máy đánh mặt (buffing machine):

Để làm giảm cự ly tấm da cá sấu hoặc đà điểu, người ta phải sử dụng máy đánh mặt Có một số loại máy đánh mặt là máy đánh mặt liên tục và máy đánh mặt gián đoạn

Hình 13 Sơ đồ máy đánh mặt (buffing machine) Chú thích:

A: Chổi chải trục giấy ráp

H: Pedal điều khiển đánh mặt da

I: Vô lăng điều chỉnh cự ly đánh mặt da

Khi sử dụng máy đánh mặt cần lưu ý:

Trang 28

- Lựa chọn loại giấy ráp thích hợp P120, P200, P300 P360, P400… cho từng loại da

Sau khi đánh mặt thì bắt buộc phải đưa da qua máy hút bụi để mặt da khỏi dính bột da Cũng có 2 loại máy hút bụi là máy hút riêng và máy kết hợp với máy đánh mặt thành một hệ thống

Máy đánh bóng (Polishing machine) [14]:

Đối với da cá sấu hoặc đà điểu trau chuốt aniline cần phải sử dụng máy đánh bóng Máy đánh bóng kết hợp với màng trau chuốt đặc biệt tạo cho da có vân và màu sắc đa dạng tự nhiên Với da nốt sần thì sử dụng máy trục nỉ hoặc máy đánh bóng trục mã não (glazing machine)

Hình 14 Máy đánh bóng trục mã não

Trang 29

Hình 15 Máy đánh bóng trục nỷ

Mục đích sử dụng máy đánh bóng là:

Khi sử dụng máy đánh bóng cần lưu ý:

thể gây ra hiện tượng lỏng mặt

ma sát và có tính xuyên vào da tốt Khi phun xong cần phải phơi cho da thất khô trong bóng dâm

Máy in da:

Một loại máy không thể thiếu được trong trau chuốt da là máy in da Nhờ áp lực và nhiệt độ, màng trau chuốt nóng chảy, liên kết với nhau và với da chặt chẽ hơn Hoa văn của da thành phẩm được tạo ra theo vân của lắc in như chân lông, vân da cá sấu, …

Ngoài máy in bàn, người ta còn dùng máy in trục Tốc độ in của máy in trục cũng tăng nhiều so với máy in bàn Ngoài ra máy in trục còn giúp cho da mềm, không bị gấp mép

Hình 16 Sơ đồ máy in

Ngày đăng: 21/04/2014, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Davieodanistryle belt in ostrich – ABC of the belt – taning 28/5/2004 4. http://www.ostriches.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: ABC of the belt
Tác giả: Davieodanistryle
Năm: 2004
6. Johnson, R. “American alligator hides, skins and ancillary product export”, Gatorales: The American Alligator New Magazine, November (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: American alligator hides, skins and ancillary product export
9. David, D.N. 1985 The Effects of Alligator Hide Storage Techniques and Bactericides on Red Heat.Paper presented at the Internat. Tech. Conf. on Crocodile Conservation and Management. Darwin, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Effects of Alligator Hide Storage Techniques and Bactericides on Red Heat
Tác giả: David, D.N
Nhà XB: Internat. Tech. Conf. on Crocodile Conservation and Management
Năm: 1985
10. Godwin, F. and Cardeilhac, P. 1981 Reproductive Efficiency in Captive Alligators. Paper presented at the 1st Annual Alligator Production Conf. University of Florida Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive Efficiency in Captive Alligators
Tác giả: F. Godwin, P. Cardeilhac
Nhà XB: University of Florida
Năm: 1981
1. Sổ tay kỹ thuật thuộc da: Ts Lưu Hữu Thục, Ts Đặng Tùng, Ts Nguyễn Trí Hạnh, Ks Nguyễn Hữu Cường Khác
7. Cardeilhac, P. and Larsen, R.1981 A Summary of the Reproductive Physiology of the Captive Florida ostrich. Paper presented at the 1st Annual ostrich Production Conf. University of Florida Khác
12. Jacobsen, E.R.1982 Captive Health Problems. Field Document No. 11. FAO/IND/74/046. Prepared for Government of India Crocodile Breeding and Management Project.23 pp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bề mặt tấm da đà điểu  Chú thích: - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 1. Bề mặt tấm da đà điểu Chú thích: (Trang 11)
Hình 2. Sự phân bố và hình dạng các lỗ chân lông trên da đà điểu - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 2. Sự phân bố và hình dạng các lỗ chân lông trên da đà điểu (Trang 12)
Hình 4. Hình dáng và vị trí vẩy cá sấu - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 4. Hình dáng và vị trí vẩy cá sấu (Trang 16)
Hình 7. Vẩy lưng cá sấu - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 7. Vẩy lưng cá sấu (Trang 17)
Hình 6. Cụm vẩy gáy cá sấu - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 6. Cụm vẩy gáy cá sấu (Trang 17)
Hình 10. Phương pháp vò tay - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 10. Phương pháp vò tay (Trang 21)
Hình 11. Phu lông quay đập khan - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 11. Phu lông quay đập khan (Trang 21)
Hình 12. Sơ đồ phun xì - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 12. Sơ đồ phun xì (Trang 26)
Hình 13. Sơ đồ máy đánh mặt (buffing machine)  Chú thích: - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 13. Sơ đồ máy đánh mặt (buffing machine) Chú thích: (Trang 27)
Hình 14. Máy đánh bóng trục mã não - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 14. Máy đánh bóng trục mã não (Trang 28)
Bảng 15. Kết quả các thí nghiệm trau chuốt - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Bảng 15. Kết quả các thí nghiệm trau chuốt (Trang 45)
Bảng 17. Quy trình công nghệ trau chuốt thí nghiệm 12  Hoá chất Dung dịch 1  Dung dịch 2 - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Bảng 17. Quy trình công nghệ trau chuốt thí nghiệm 12 Hoá chất Dung dịch 1 Dung dịch 2 (Trang 46)
Hình 17. Cán bộ nghiên cứu thực nghiệm quay đập khan làm mềm da đà điểu - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 17. Cán bộ nghiên cứu thực nghiệm quay đập khan làm mềm da đà điểu (Trang 57)
Hình 18. Cán bộ nghiên cứu thực nghiệm đánh bóng da cá sấu - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 18. Cán bộ nghiên cứu thực nghiệm đánh bóng da cá sấu (Trang 58)
Hình 19. Cán bộ nghiên cứu thực nghiệm đánh bóng da đà điểu - nghiên cứu nâng cấp chất lượng da cá sấu, đà điểu bằng phương pháp trau chuốt mới, tạo sản phẩm thời trang có giá trị cao
Hình 19. Cán bộ nghiên cứu thực nghiệm đánh bóng da đà điểu (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w