1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận Văn Thạc Sĩ) Giải Pháp Huy Động Nguồn Lực Cộng Đồng Trong Xây Dựng Ntm Tại Huyện Hạ Hòa, Tỉnh Phú Thọ.pdf

104 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Huy Động Nguồn Lực Cộng Đồng Trong Xây Dựng NTM Tại Huyện Hạ Hòa, Tỉnh Phú Thọ
Tác giả Đỗ Phi Hùng
Người hướng dẫn TS. Bùi Đình Hòa
Trường học Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 748,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đ� Phi Hùng ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐỖ PHI HÙNG GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGH[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ PHI HÙNG

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HẠ HÒA,

TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ PHI HÙNG

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HẠ HÒA,

TỈNH PHÚ THỌChuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Đình Hoà

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Phi Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Bùi Đình Hòa người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Quý Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kinh tế và PTNT, phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn đến Huyện Ủy, UBND huyện Hạ Hòa, các phòng ban chức năng của huyện Hạ Hòa; UBND các xã thuộc huyện Hạ Hòa; các hộ nông dân đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu thực hiện

đề tài

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Phi Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan một số lý luận về huy động nguồn lực cộng đồng 4

1.1.1 Cộng đồng và nguồn lực cộng đồng 4

1.1.2 Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển nông thôn 5

1.1.3 Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn 7

1.1.4 Cơ chế chính sách huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM 8

1.2 Một số cơ chế chính sách huy động sự tham gia của cộng đồng ở Việt Nam 10

1.3 Một số bài học kinh nghiệm trên Thế giới và trong nước 11

1.3.1 Bài học quốc tế 11

1.3.2 Bài học trong nước 21

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33

2.2 Nội dung nghiên cứu 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu 33

Trang 6

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 33

2.3.2 Phương pháp phân tích 34

2.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin, viết báo cáo 35

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hạ Hòa 36

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36

3.1.2 Đặc điểm KT - XH 38

3.2 Thực trạng xây dựng NTM huyện Hạ Hòa giai đoạn 2011 - 2015 40

3.2.1 Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức 40

3.2.2 Kết quả đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn 40

3.2.3 Kết quả công tác xây dựng, thực hiện quy hoạch; huy động nguồn lực, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn 42

3.2.4 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng đời sống của dân cư nông thôn 44

3.2.5 Kết quả thực hiện thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự nông thôn 45

3.2.6 Kết quả thực hiện công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị 45

3.2.7 Kết quả thực hiện phong trào thi đua "Toàn dân tham gia xây dựng nông thôn mới" 46

3.2.8 Kết quả thực hiện các tiêu chí 48

3.3 Thực trạng huy động nguồn lực xây dựng NTM của huyện Hạ Hòa 55

3.3.1 Kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM của huyện Hạ Hòa 55

3.3.2 Kết quả khảo sát cán bộ và người dân về huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng NTM của 3 xã nghiên cứu 59

3.4 Một số nguyên nhân dẫn đến việc huy động vốn từ cộng đồng cho chương trình xây dựng NTM còn khó khăn 66

3.5 Những giải pháp để huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM tại huyện Hạ Hòa 68

Trang 7

3.5.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng xây dựng nông thôn mới huyện

Hạ Hòa đến năm 2020 68

3.5.2 Giải pháp 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC

Trang 8

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

PTNT Phát triển nông thôn

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

Trang 9

đến hết năm 2016 57 Bảng 3.5 Kết quả huy động nguồn lực từ cộng đồng cho xây dựng NTM

huyện Hạ Hòa đến hết năm 2016 59 Bảng 3.6 Sự hiểu biết của người dân về chương trình xây dựng NTM 59 Bảng 3.7 Những công việc người dân tham gia vào xây dựng NTM tại

địa phương mình (n=135) 60 Bảng 3.8 Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia của cộng

đồng trong xây dựng NTM (n = 18) 61 Bảng 3.9 Ý kiến của các hộ dân về việc huy động nguồn lực cho

chương trình xây dựng NTM 62 Bảng 3.10 Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động

nguồn lực đóng góp bằng tiền và đất đai (n =18) 63 Bảng 3.11 Ý kiến của các hộ dân về việc huy động nguồn lực cho

chương trình xây dựng NTM 64 Bảng 3.12 Tình hình nợ đọng các công trình xây dựng NTM tại Hạ Hòa 65

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 So sánh số tiêu chí bình quân trên xã của Hạ Hòa với cả

nước và tỉnh Phú Thọ 51 Biểu đồ 3.2 So sánh tỷ lệ xã đạt chuẩn của Hạ Hòa với cả nước và tỉnh

Phú Thọ 51 Biểu đồ 3.3 So sánh cơ cấu huy động nguồn lực cho chương trình của

huyện Hạ Hòa với bình quân trung cả nước 58

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05 tháng

08 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Thực hiện Nghị quyết 26, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về xây dựng NTM giai đoạn 2010-

2020 và đến năm 2016 chính phủ ban hành quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020.Đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, được thực hiện trên phạm vi cả nước

Trong quá trình triển khai thực hiện chương trình các địa phương đều nhấn mạnh việc phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng nhưng vai trò đó chưa được phát huy đầy đủ.Chưa có giải pháp cụ thể thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong khi đây chính là nguồn lực đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công của chương trình xây dựng NTM

Hạ Hòa là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng huyện đã đạt được nhiều thành tích trong quá trình thực hiện chương trình Sau 5 năm thực hiện chương trình, sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản có bước tiến mới về chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao, góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ lệ hộ nghèo giảm, kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục được củng cố, đầu tư xây dựng; diện mạo nông thôn từng bước thay đổi; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

Trang 12

Mặc dù vậy, trong quá trình thực hiện chương trình đã bộc lộ một số tồn tại như: Nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân về quan điểm, mục tiêu, giải pháp và lộ trình XDNTM chưa đầy đủ; còn xuất hiện tư tưởng

“trông chờ”, “ỷ lại” vào nhà nước Hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban quản lý chương trình, ban phát triển thôn còn hạn chế, còn mang tính chung chung, chưa có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng trách nhiệm của các thành viên trong các tổ chức; do vậy chưa khơi dậy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và từng người dân trong xây dựng NTM; Công tác tuyên truyền, phổ biến; công khai các nội dung có vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hạn chế, chưa sâu rộng nên người dân chưa hiểu rõ Quy hoạch ở một số xã còn bất cập, nhất là quy hoạch về hệ thống đường GTNT, hệ thống kênh mương nội đồng còn chưa sát và đúng với thực trạng của xã; Công tác xã hội hoá nguồn lực còn chưa chủ động, nhất là việc vận động con, em xa quê và chính người dân trên địa bàn Công tác kiểm tra, giám sát quá trình triển khai các nội dung, kết quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức, cơ quan chưa được quan tâm thực hiện một cách thường xuyên Để góp phần đẩy nhanh

tiến độ xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hạ Hòa tôi lựa chọn đề tài:"Giải

pháp huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM tại huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ" để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM và đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng NTM trên huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội huyện Hạ Hòa

- Đánh giá thực trạng tình xây dựng NTM và huy động nguồn lực từ cộng đồng cho chương trình xây dựng NTM huyện Hạ Hòa giai đoạn 2011-2016

Trang 13

- Đưa ra một số nguyên nhân,bài học kinh nghiệm cho việc huy động nguồn lực cộng đồng cho chương trình xây dựng NTM huyện Hạ Hòa

- Đề xuất một số giải pháp để huy động tốt hơn nguồn lực từ cộng đồng trong xây dựng NTM tại huyện Hạ Hòa đến năm 2020

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài là tư liệu khoa học hữu ích cho việc nghiên cứu, tham khảo trong việc giảng dạy, học tập tại các trường, các viện nghiên cứu

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu tốt cho chính quyền địa phương của huyện Hạ Hòa nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung sử dụng cho việc thực hiện xây dựng chương trình NTM tại các xã trên địa bàn tỉnh

Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách, Bộ NN và PTNT, các Bộ, Ngành có liên quan xem xét trong việc điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách trong việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM tại các xã trong cả nước

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan một số lý luận về huy động nguồn lực cộng đồng

1.1.1 Cộng đồng và nguồn lực cộng đồng

1.1.1.1 Cộng đồng

Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khác nhau, đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: xã hội học, dân tộc học, y học Khái niệm cộng đồng thường dùng để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy

mô và đặc tính xã hội

Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng” Từ điển tiếng Việt giải thích: “cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã

hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối”.Hiểu một

cách đơn giản, cộng đồng là một nhóm người có cùng những đặc điểm chung,

ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung, Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại

và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung

1.1.1.2 Nguồn lực cộng đồng

Một cách khái quát nhất, nguồn lực từ cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực tế trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng cuộc sống cho chính họ (Gord Cunningham, 2006) Nguồn lực cộng đồng được khái niệm một cách toàn vẹn bao gồm các thành phần sau:

- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên): là các nguồn tài nguyên thiên nhiên

tồn tại trong cộng đồng Ví dụ: đất sản xuất, tài nguyên rừng, thuỷ sản…

- Các nguồn tài sản vật chất: là các công trình được xây dựng phục vụ

trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống nhân dân tại cộng đồng (và các cộng đồng lân cận) Ví dụ: cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm)

Trang 15

- Các nguồn tài sản về con người: gồm các kỹ năng, kiến thức và năng

lực của các thành viên trong cộng đồng

- Các nguồn tài sản xã hội: mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, ví dụ như niềm tin

- Các nguồn tài sản tài chính: là các nguồn lực kinh tế tồn tại trong

cộng đồng như hệ thống ngân hàng đang hoạt động trong vùng, khả năng kinh

tế của các thành viên trong cộng đồng

1.1.2 Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển nông thôn

1.1.2.1 Vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn, là cơ sở cho phát triển nông thôn bền vững vì:

- Họ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình

- Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương mà quá trình phát triển phải dựa vào đó

- Kỹ năng, truyền thống, kiến thức và năng lực của họ là tiềm năng chính để phát triển

- Sự cam kết của họ là sống còn (nếu như họ không ủng hộ một kế hoạch nào, kế hoạch đó sẽ không thực hiện được)

- Hơn thế nữa, một cộng đồng càng phát triển và năng động, thì càng có khả năng thu hút người dân ở lại, và giữ họ không di chuyển đi nơi khác[19]

1.1.2.2 Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng

Theo các phân tích ở trên thì vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn được xác định là rất quan trọng Các nguồn lực cộng đồng có thể huy động cho phát triển nông thôn cũng rất đa dạng Chính vì thế, những năm vừa qua, cách tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được thực hiện phổ biến ở nhiều chương trình, dự án phát triển nông thôn trên thế giới

Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng là phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để phát triển các lĩnh vực khác nhau ở khu vực nông thôn

Trang 16

Phương pháp tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được nhiều chương trình/dự án sử dụng phổ biến Mỗi chương trình/dự án có mục tiêu riêng, có thể là nhằm tăng cường vai trò của phụ nữ trong cộng đồng, phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, quản lý nguồn tài nguyên rừng, cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn…

Chính vì thế, có rất nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, có một điểm chính vẫn còn đang có nhiều tranh

luận, đó là cách hiểu như thế nào là “dựa vào cộng đồng” Có ý kiến cho rằng,

ở các nước đang phát triển, vấn đề phát triển nông thôn là rất quan trọng do phần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn và hoạt động chính là sản xuất nông nghiệp, vì thế rất nhiều tổ chức khác nhau áp dụng các biện pháp phát triển cộng đồng khác nhau đã được thực hiện tại các quốc gia này Hầu hết những nỗ lực hỗ trợ phát triển này được tạo ra từ phía bên ngoài cộng đồng (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu - phát triển) chứ bản thân cộng đồng

không tự tổ chức phát triển Điều này tạo đặt ra vấn đề là “sự tham gia” hay

“dựa vào cộng đồng” nằm ở đâu? Nhiều câu hỏi cũng được đặt ra về sự bền

vững của những tác động phát triển này cũng như câu hỏi về việc cộng đồng có được tăng cường sức mạnh để tự ra quyết định của mình hay không

Cũng có nhiều câu trả lời cho những tranh luận trên, trong đó đáng chú

là khái niệm phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng đồng do Jody Kretzmann và John McKnight (1993) đưa ra Đây là một cách tiếp cận phát triển cộng đồng đề cao việc sử dụng những kỹ năng và sức mạnh đã và đang hiện hữu ngay trong cộng đồng nông thôn hơn là việc lôi kéo, trông chờ vào

sự trợ giúp từ bên ngoài Cụm từ “dựa vào cộng đồng” ở đây đề cập đến tính

chủ động, tự phát triển, trong đó khuyến khích các thành viên trong cộng đồng tạo ra sự tiến triển cho chính bản thân họ (capacity-driven), đối lập với cách tiếp cận truyền thống là dựa theo nhu cầu (needs-driven) mà đã khiến cho cộng đồng phụ thuộc vào các hỗ trợ bên ngoài [19]

Trang 17

1.1.3 Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn

Trong phát triển nông thôn có sự tham gia của nhiều tác nhân khác nhau Những năm gần đây khái niệm phát triển nông thôn có sự tham gia được sử dụng phổ biến trên thế giới Hai tác giả Cohen và Uphoff (1979) cho

rằng: “liên quan đến phát triển nông thôn, sự tham gia bao gồm sự liên quan

của người dân vào quá trình ra quyết định, vào việc thực hiện các chương trình, sự chia sẻ lợi ích có được từ chương trình phát triển, và/hoặc các cố gắng để đánh giá những chương trình như vậy”

Các lĩnh vực tham gia thay đổi tuỳ theo mục tiêu của người nghiên cứu Tuy nhiên, việc ra quyết định luôn được xem là lĩnh vực quyết định nhất cho bất kỳ mục tiêu nào và không được bỏ qua Cohen và Uphoff (1979) đã đưa ra khung phân tích để giám sát vai trò của sự tham gia trong các dự án và chương trình phát triển Họ thấy có 4 lĩnh vực tham gia: (1) ra quyết định; (2) thực hiện; (3) hưởng lợi; (4) đánh giá

Trong khi đó, Finsterbusch và Wiclin (1987) nhận thấy dự án có 3 pha

và 5 hình thức tham gia là: (1) lập kế hoạch (nguyên gốc và thiết kế); (2) thực hiện (thực hiện và thiết kế lại); (3) bảo dưỡng

Khung phân tích Cohen và Uphoff có mục tiêu tham gia và khung phân tích Finsterbusch và Wiclin có mục tiêu dự án, nhưng chúng tương hợp để phù hợp với thực tế

Trong nghiên cứu sự tham gia của địa phương về các hoạt động phát triển ở nông thôn Thái Lan, Pong Quan (1992) quan sát thấy tham gia bao gồm: đóng góp, hưởng lợi, liên quan đến ra quyết định và đánh giá

Khi áp dụng vào thực tế, sự tham gia dường như thể hiện ở nhiều dạng khác nhau Sự tham gia là một khái niệm khó nắm bắt mà sự phân biệt giữa các dạng khác nhau là không dễ dàng Tuy nhiên trong bản tóm tắt của các dự

án phát triển của các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ, Oakley (1987) có gợi ý rằng ba dạng khác nhau của sự tham gia trong thực tế là: đóng góp, tổ chức và trao quyền

Trang 18

- Tham gia đóng góp: theo cách hiểu này, sự tham gia nhấn mạnh đến

sự tự nguyện hay các dạng khác của sự đóng góp của người dân nông thôn để quyết định trước các chương trình và dự án Ví dụ như các dự án về y tế, cấp nước, lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu nhằm vào sự đóng góp của người dân nông thôn trong sự tham gia và thực sự là cơ sở để thành công

- Tham gia tổ chức: đã có các cuộc tranh luận rất lâu về phạm vi của lý

thuyết và thực tế phát triển rằng sự tổ chức là công cụ cơ bản của sự tham gia Rất ít người tranh luận về luận điểm này nhưng sẽ không đồng ý về bản chất

và phát triển của sự tổ chức Sự phân biệt giữa nguồn gốc của dạng tổ chức

mà sẽ dùng như là phương tiện cho sự tham gia, hoặc các tổ chức này được giới thiệu và hình thành bên ngoài như HTX, Hội nông dân… hay các tổ chức này xuất hiện và tự cơ cấu mình như là kết quả của quá trình có sự tham gia Cán bộ phát triển nhìn nhận có nhu cầu lớn về hỗ trợ hình thành các tổ chức thích hợp của người nông dân, tuy vậy chỉ khuyến khích để người dân nông thôn tự quyết định bản chất và cấu trúc của tổ chức

- Tham gia trao quyền: khái niệm về sự tham gia như là sự áp dụng trao

quyền cho người dân đã được ủng hộ rộng rãi hơn trong những năm gần đây Tuy nhiên, đó là một khái niệm khó định nghĩa và gây ra nhiều cách giải thích khác nhau Một số coi trao quyền là sự phát triển các kỹ năng và khả năng giúp người dân nông thôn quản lý tốt hơn, có tiếng nói và đàm phán với hệ thống tổ chức, dịch vụ phát triển hiện có, một số khác lại coi đó là cơ bản và cần thiết liên quan đến cho phép người dân quyết định và tự thực hiện những việc mà họ cho rằng cần thiết cho sự phát triển của mình[19]

1.1.4 Cơ chế chính sách huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM

1.1.4.1 Cơ chế, chính sách phát triển nông thôn

Cơ chế được hiểu là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện Ở Việt Nam, từ “cơ chế” được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ

Trang 19

khoảng những năm 70 của thế kỷ trước, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những quy định về

quản lý Ngày nay, từ “cơ chế” thường đi đôi với từ “chính sách”, thể hiện

những biện pháp của nhà nước để tác động tới xã hội (thông qua pháp luật, thông qua các công cụ tiền tệ, các công cụ quản lý hành chính khác, các công

cụ kinh tế) Chính sách chính là động lực được nhà nước hỗ trợ, cho phép hoặc cấm đoán

Như vậy, “cơ chế, chính sách” nhấn mạnh đến nguyên tắc, cách làm, luật chơi và các quan hệ ứng xử giữa các tác nhân “Cơ chế, chính sách” được

thiết lập bởi các quy định chính thức (quy tắc, luật pháp, hiến pháp) hoặc không chính thức (quy tắc ứng xử, các hành vi đạo đức tự áp đặt) với các đặc tính buộc phải tuân thủ theo

Vai trò của Chính phủ trong phát triển nông thôn là vai trò lãnh đạo Chính phủ tổ chức, chỉ đạo và phối hợp hành động của hàng loạt các cơ quan,

tổ chức và các lợi ích, những người đóng góp cho quá trình phát triển nông thôn to lớn này Việc xây dựng cơ chế chính sách cho xây dựng NTM cũng chính là một vai trò của Chính phủ

1.1.4.2 Nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM

Trong cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM cấp xã” do Bộ

NN&PTNT xuất bản tháng 8 năm 2010, “nguồn lực cộng đồng” trong xây dựng NTM gồm:

- Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn NTM; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp đẽ, khang trang,…

- Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao

Trang 20

- Đóng góp xây dựng các công trình công cộng của làng, xã như: đường giao thông thôn, xóm; kiên cố hoá kênh mương; vệ sinh công cộng…

Theo giải thích trong cuốn sổ tay này thì “nguồn lực” hay “nội lực” của cộng đồng chính là những đóng góp bằng tiền và công sức của người dân và cộng đồng Cách hiểu này chưa thật đầy đủ vì ngoài đóng góp bằng tiền và công sức, người dân và cộng đồng còn có thể đóng góp cho xây dựng NTM bằng các nguồn lực khác như: đất đai, các tài sản khác (nguyên vật liệu, cây cối, hoa màu, công trình), trí tuệ, năng lực, sự tham gia ý kiến hoặc các mối quan hệ xã hội mà người dân có được để tạo ra sự phát triển chung cho cộng đồng

1.2 Một số cơ chế chính sách huy động sự tham gia của cộng đồng ở Việt Nam

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định về chương trình MTQG xây dựng NTM, Bộ NN&PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13 tháng 04 năm 2011 hướng dẫn một số nội dung thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM Nguyên tắc thực hiện cũng xác định phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để ra quyết định và tổ chức thực hiện

- Trong hướng dẫn của Thông tư 26 không chỉ rõ các bước huy động nguồn lực cộng đồng hay cơ chế khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, chỉ

có một số nội dung đề cập đến vai trò tham gia của người dân và cộng đồng là:

- Trong nội dung về nhiệm vụ và quyền hạn của ban quản lý NTM xã

có xác định ban quản lý xã có nhiệm vụ tổ chức và tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia thực hiện, giám sát các hoạt động thực thi các dự án đầu tư trên địa bàn xã

- Ở cấp thôn, cộng đồng thôn trực tiếp bầu Ban phát triển thôn Khi xây dựng NTM, ban phát triển thôn tổ chức lấy ý kiến của người dân tham gia góp

Trang 21

ý vào bản quy hoạch, bản đề án xây dựng NTM của xã; tổ chức vận động nhân dân tham gia các phong trào thi đua; tự giám sát cộng đồng các công trình xây dựng cơ bản trên địa bàn thôn

- Đề án NTM của xã bắt buộc phải được người dân, cộng đồng và các đối tượng có liên quan tham gia, đóng góp ý kiến

- Đối với các dự án phát triển hạ tầng KT-XH: chương trình khuyến khích người dân, cộng đồng tự nguyện hiến đất để xây dựng các công trình hạ tầng KT-XH trên địa bàn xã Khi lựa chọn nhà thầu xây dựng CSHT, chương trình khuyến khích thực hiện hình thức giao cộng đồng dân cư hưởng lợi trực tiếp từ công trình, nhóm thợ, cá nhân trong xã có đủ năng lực thực hiện xây dựng

- Về vốn đầu tư cho chương trình, ngoài vốn ngân sách và các nguồn vốn tín dụng, doanh nghiệp, còn có các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân trong xã, các khoản huy động từ cộng đồng Cơ chế huy động vốn xác định huy động tối đa nguồn lực của địa phương Tuy nhiên, chương trình MTQG chưa có thông tư hướng dẫn về cơ chế tài chính (Thông tư 174/TT-BTC chỉ mới áp dụng cho 11 xã điểm), nên các địa phương chưa nắm được cách thức cụ thể trong việc huy động, quản lý, sử dụng và thanh quyết toán vốn cho xây dựng NTM

1.3 Một số bài học kinh nghiệm trên Thế giới và trong nước

1.3.1 Bài học quốc tế

1.3.1.1 Phong trào làng mới ở Hàn Quốc

Cuối thập kỷ 60, sự tăng trưởng bất cân đối trong nền kinh tế Hàn Quốc lên tới đỉnh điểm Xã hội Hàn Quốc bị phân chia thành hai khối có đời sống tinh thần khác hẳn nhau Trong khi một phần nhỏ dân cư đô thị hăng say học tập, cố gắng cạnh tranh làm giàu, mong muốn và quyết tâm đổi đời, thì đại bộ phận nông dân ở nông thôn vẫn sống trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu Người dân nông thôn Hàn Quốc không được hưởng các khoản đầu tư, hỗ trợ đáng kể nào của nhà nước và không hề nhận được sự viện trợ nào từ các chương trình,

dự án của nước ngoài

Trang 22

Mùa hè năm 1969, Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee trong một lần

đi thăm tình hình khắc phục lũ lụt ở tỉnh Pusan đã đặc biệt chú ý đến một ngôi làng nhỏ Mặc dù bị thiệt hại nặng nề sau trận lũ lụt, nhưng người dân ở ngôi làng này đã đoàn kết để tự khắc phục hoàn cảnh, dù không được hỗ trợ gì, song người dân đã tự vận động cùng nhau sửa sang lại nhà cửa, đường sá Nhìn hình ảnh ngôi làng, Tổng thống Park đã nhận ra một điều, nếu cổ vũ tinh thần cần cù,

tự lực, hợp tác của nông dân thì nông thôn có thể tự phát triển được Trên quan điểm đó, Tổng thống Park đã phát động PHONG TRÀO LÀNG MỚI (tiếng Hàn Quốc gọi là Saemaul Undong) trên phạm vi toàn quốc

• Phương thức triển khai chương trình

Tổ chức bộ máy chương trình từ cơ sở lên Trung ương, phối hợp chặt giữa các Bộ

Bước đầu tiên trong chương trình làng mới ở Hàn Quốc là hình thành

Bộ máy tổ chức, chỉ đạo, quản lý thực hiện chương trình Cấp quan trọng nhất

là cấp cơ sở, mỗi làng bầu ra "Uỷ ban Phát triển Làng mới" gồm 5-10 người

để vạch kế hoạch và tiến hành dự án phát triển nông thôn Ngoài ra, ủy ban còn được thiết lập ở mọi cấp của chính quyền địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện) để cố vấn và hướng dẫn uỷ viên các làng lập và lựa chọn dự án, quyết định những vấn đề ưu tiên và huy động lao động, vật tư và tiền của Văn phòng hành chính địa phương yêu cầu nhân dân bầu ra một lãnh đạo nam và một nữ cho các dự án Saemaul Undong, hoàn toàn độc lập với xã trưởng là người đại diện về mặt hành chính

Ở Trung ương, Chương trình do Tổng thống trực tiếp lãnh đạo Bộ trưởng

Bộ Nội vụ đứng đầu Uỷ ban Phối hợp Trung ương với 12 điều phối viên là Thứ trưởng các Bộ Kế hoạch Kinh tế, Ngoại giao, Giáo dục, Nông nghiệp và Thuỷ sản, Thương mại và Công nghiệp, Xây dựng, Y tế và Các Vấn đề Xã hội, Thông tin và Văn hóa… Uỷ ban Trung ương đề xuất những chính sách về tiêu chuẩn nhận đầu tư vốn vay của Chính phủ, hướng dẫn các chương trình tiến hành và

Trang 23

tuyên truyền cho phong trào Saemaul Undong Kiểm điểm chương trình phát triển nông thôn là nội dung định kỳ các cuộc họp nội các Chính phủ Nhờ phối hợp tốt, kiểm tra chặt chẽ từ trên xuống và trực tiếp nghe ý kiến phản ánh của nhân dân, nên tình trạng quan liêu, tham nhũng và lãng phí được ngăn chặn, vốn đầu tư của nhà nước được sử dụng có hiệu quả

Xây dựng đội ngũ lãnh đạo ở nông thôn làm nòng cốt cho chương trình

Yếu tố quan trọng nhất để thực hiện chương trình là tổ chức được đội ngũ lãnh đạo làng mới Ở mỗi làng, nhân dân tự bầu ra người làm lãnh đạo cho phong trào của mình Tạo điều kiện đảm bảo bình đẳng nam nữ một cách thực sự, mỗi làng chọn ra một lãnh đạo nam và một lãnh đạo nữ, cả hai làm việc phối hợp và có quyền lực như nhau Để những người lãnh đạo Phong trào ở cấp làng xã thực sự của dân, vì dân, Tổng thống Hàn Quốc chủ trương

để những người lãnh đạo này độc lập với hệ thống hành chính và chính trị ở nông thôn và không dành cho họ bất kỳ một khoản trợ cấp vật chất nào Động lực chính của tinh thần hy sinh cao độ này là sự động viên tinh thần từ phía Chính phủ cũng như sự kính trọng của nông dân Bởi không bị phụ thuộc vào một sức ép chính trị hay ảnh hưởng kinh tế nào, những người lãnh đạo dân cử chỉ chịu sự phán xét của dân và được dân tin tưởng

Để đào tạo chính quy đội ngũ quan trọng này, Chính phủ đầu tư ba trung tâm đào tạo quốc gia được trang bị rất hiện đại và sử dụng rộng rãi mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương phục vụ công tác tập huấn ngắn hạn cho nông dân Chi phí đào tạo do nhà nước đài thọ, các lớp học được tổ chức ngắn trong 1-2 tuần nhằm trang bị những kiến thức thiết thực cho cán bộ tùy theo từng giai đoạn của chương trình (xây dựng CSHT, phát triển ngành nghề, tăng thu nhập cho nông dân ) Các lãnh đạo dự án làng được đào tạo theo hình thức: (1) giới thiệu các trường hợp nông dân thành công tiêu biểu; (2) thảo luận nhóm; (3) thăm các làng thành công; (4) học cách tổ chức cuộc sống mới ở nông thôn

Trang 24

Đào tạo cán bộ các cấp, gắn cả nước với phong trào

Nhằm giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, thực sự gắn bó cán bộ nhà nước với nhân dân, các quan chức của các phòng, ban Trung ương được đưa về cùng sống và theo học với nông dân trong chương trình 1 tuần giành cho lãnh đạo nông thôn ở các trường đào tạo phát triển nông thôn

Người lãnh đạo các cấp chính quyền cùng sống chung với lãnh đạo nông dân tại ký túc xá nhà trường, cùng nhau tham gia thảo luận, bàn bạc tìm cách xây dựng và lập kế hoạch thực hiện chương trình phát triển nông thôn, nhờ đó, các quan chức cấp cao hiểu được những vai trò lớn lao của Saemaul Undong, thông cảm với những khó khăn của người nông dân và tin tưởng tinh thần của nông dân có thể vượt qua những thách thức của dân tộc Về phía mình, lãnh đạo nông dân quen thuộc, gắn bó với người lãnh đạo, nâng cao vị thế, sự tự tin và hiểu biết của mình

Chính quyền đặc biệt coi trọng vai trò của các nhà lãnh đạo tôn giáo, các văn nghệ sỹ và báo chí trong việc giáo dục, tuyên truyền cho toàn xã hội đang đô thị hóa nhanh, hướng trở về nông thôn, kéo dịch thành thị và nông thôn lại gần nhau về tư tưởng và hành động Ngoài các cấp lãnh đạo chính quyền, từ năm 1974 đến 1978, 2.300 giáo sư, 800 nhà tu hành và lãnh đạo tôn giáo, khoảng 600 nhà báo, nhà văn đã tham gia khoá đào tạo với các lãnh đạo làng và trở thành những cổ động viên rất tích cực cho phong trào Cả nước nhiệt tình ủng hộ nông thôn vươn lên

Phát huy dân chủ, đưa nhân dân tham gia vào quá trình ra quyết định

Tước hết, nông dân tự bầu ra người lãnh đạo mà họ tín nhiệm, cả nam

và nữ Sau đó, mọi hoạt động của Chương trình đều được tiến hành thông qua các cuộc họp để nông dân tự ra quyết định lựa chọn công trình, phương thức đóng góp, giải pháp xây dựng, tự chịu trách nhiệm quản lý, giám sát công trình Để hình thành tác phong dân chủ và đưa dân vào tham gia quản lý,

Trang 25

phong trào tập trung xây dựng các hội trường làng Các cuộc họp bàn thực hiện dự án được tổ chức ở hội trường, đây trở thành địa điểm thực hiện quyền làm chủ của nông dân Qua hàng loạt các cuộc họp hội đồng, nông dân đã học các thực hiện dân chủ bằng hành động xây dựng một cộng đồng tốt đẹp hơn Hội trường làng rộng ít nhất 300 m2, nằm ở một địa điểm thích hợp cho việc tập hợp dân làng Thông thường, những mảnh đất này thường do nông dân giàu có trong làng sở hữu và xây hội trường để tặng làng Phần đầu tư trang bị cửa, ghế, đồ chiếu sáng do dân làng chia nhau đóng góp, cũng có một số khoản do người thành phố gửi tặng quê hương

Trong nhiều năm liền, hàng tháng, Tổng thống định kỳ mời hai lãnh đạo phong trào ở cấp làng và một số lãnh đạo địa phương của họ đến tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để báo cáo về thành công, thất bại, khó khăn và đề xuất của nông dân Các Bộ trưởng trực tiếp nghe và bàn với dân dưới sự chủ tọa của Tổng thống để chỉ đạo Chương trình

Tổng thống, Thủ tướng và các Bộ trưởng thường xuyên đến thăm các cộng đồng nông thôn hoặc những điểm thực hiện dự án, đặc biệt là trong những ngày nghỉ, lễ tết Tất cả các cuộc thăm, làm việc với nông dân đều không báo trước và không có nghi lễ tốn kém Trong suốt thời gian cầm quyền, Tổng thống Hàn Quốc đã đi thăm hầu hết các làng trong cả nước để động viên và tìm hiểu tình hình phát triển nông thôn, đã mời cơm để trao đổi với rất nhiều nông dân tiên tiến và lãnh đạo phong trào địa phương Phát huy dân chủ cơ sở đã tạo sức mạnh quần chúng ngăn chặn mọi hiện tượng tiêu cực

ở địa phương, tạo động lực cho nhân dân hào hứng, tin tưởng huy động nội lực vào sự nghiệp chung

Phát huy tinh thần thi đua, khơi dậy nhiệt tình phong trào

Một trong những mục tiêu tâm lý của phong trào là phá tan thái độ ỷ lại, tự ti vốn thường có ở nông dân nghèo Nếu chỉ vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo mà ưu tiên đầu tư cho một số địa phương nghèo, thì có thể xảy ra hiện

Trang 26

tượng tranh nhau nhận là xã nghèo và tiếp tục duy trì tiêu chí này để được hỗ trợ Muốn thay đổi tình trạng này, phải áp dụng nguyên tắc: Kích thích tinh thần thi đua giữa các làng, xã Vì vậy, tuy xóa đói giảm nghèo là mục tiêu hàng đầu, nhưng phong trào làng mới không lấy xã nghèo làm tiêu chuẩn lựa chọn đầu tư Mọi xã đều được cung cấp một sự hỗ trợ như nhau và chỉ ưu tiên nâng đỡ địa phương thành công Hàng năm, đánh giá hiệu quả tham gia chương trình của mỗi làng rất nghiêm túc theo những tiêu chuẩn rõ ràng và công khai, chỉ nơi nào thực sự thực hiện thành công chương trình thì mới được tiếp tục hỗ trợ Các đầu tư khác của Chính phủ, ví dụ như xây dựng hệ thống cấp điện nông thôn cũng được làm theo thứ tự ưu tiên các làng xã thực hiện tốt Chương trình phát triển nông thôn Chủ trương này được Tổng thống chính thức công bố cho nhân dân, tạo nên một khí thế thi đua sôi nổi giữa các địa phương để dành được ưu tiên đầu tư

Thưởng, phạt công minh đã kích thích lòng tự hào, tự tin trong từng cộng đồng làng xã, tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ hướng về xây dựng làng mới, thi đua làm giàu, làm đẹp quê hương Thái độ ỷ lại, tự ti bị loại bỏ ngay

từ cách tiến hành chương trình Địa phương nào cũng muốn vươn lên thành điển hình tốt, tự hào về sự đổi thay và giàu có của làng mình

Một nguyên tắc khác để phát huy tinh thần chủ động của nhân dân là Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, của: Nhân dân tự quyết định loại công trình nào cần ưu tiên xây dựng và chịu trách nhiệm quyết định toàn

bộ về thiết kế, chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Nhà nước bỏ ra 1 (chủ

yếu là vật tư xi măng, sắt thép) thì nhân dân bỏ ra 5-10 (công sức và tiền của)

Sự giúp đỡ của nhà nước trong năm đầu chiếm tỷ lệ cao, dần dần các năm sau,

tỷ lệ hỗ trợ của Nhà nước giảm, trong khi quy mô địa phương và nhân dân tham gia tăng dần Ngoài ra, nhà nước tiến hành nghiên cứu và phát hành rộng rãi các tiêu chuẩn kỹ thuật, ban hành thiết kế mẫu các công trình CSHT

để nhân dân áp dụng dễ dàng

Trang 27

Người lãnh đạo có tâm, có tài ở cơ sở là yếu tố quan trọng nhất để phát triển nông thôn Họ được hưởng sự tôn trọng đặc biệt của nhân dân do tự nguyện cống hiến công sức cho cộng đồng mà không đòi hỏi đền bù vật chất nào Những nhà lãnh đạo của nông dân có quyền đến gặp lãnh đạo ở mọi cấp chính quyền vào bất kỳ thời gian nào theo yêu cầu của nhân dân Con của các lãnh đạo cộng đồng học trường cấp II sẽ được cấp học bổng Các địa phương phải trả chi phí cho những chương trình đào tạo lãnh đạo cộng đồng và phí đi lại của những giáo viên tham gia các chương trình tập huấn Các phương tiện truyền thông, văn hóa tập trung tuyên truyền ca ngợi các tấm gương thành công của cá nhân và địa phương

Hàng năm, Nhà nước tổ chức các cuộc họp toàn quốc cho lãnh đạo cộng đồng làng xã tham dự Những người thực hiện dự án thành công được trao giải thưởng và tuyên dương rộng rãi Huân chương “Saemaul” được trao cho những lãnh đạo cộng đồng xuất sắc hoặc những anh hùng của phong trào

và trở thành phần thưởng cao quí của quốc gia Từ trong phong trào quần chúng, nhiều nhà lãnh đạo cộng đồng có năng lực được nhà nước đề bạt làm lãnh đạo chính quyền địa phương

• Một số bài học từ kinh nghiệm của Hàn Quốc

Từ những cách làm và kết quả nêu trên về phong trào làng mới ở Hàn Quốc, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm cho xây dựng NTM, đó là:

- Chính phủ Hàn Quốc có cam kết chính trị mạnh mẽ và quyết liệt đối với việc thực hiện phong trào làng mới;

Trang 28

- Quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ triển khai phong trào làng mới các cấp cùng với cán bộ chính quyền, giáo sư, nhà báo… để tạo phong trào cho toàn xã hội;

- Thúc đẩy tinh thần thi đua, cạnh tranh lành mạnh giữa các làng, làm tốt thì được hưởng hỗ trợ nhiều;

- Triển khai theo từng bước, từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ đến quy

mô lớn, hình thành dần sự tự tin thay thế cho tự ti trong tâm lý cộng đồng [20]

1.3.1.2 Kinh nghiệm xây dựng NTM ở Trung Quốc

Năm 1997, Trung Quốc chính thức có văn kiện quy định cụ thể về hệ thống chính sách với vấn đề “tam nông”, mặc dù thực tế vấn đề tam nông đã tồn tại và phát triển ở Trung Quốc từ năm 1949, khi nhà nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời Giai đoạn trước đây, do thực hiện “cơ chế khoán” nên người dân phải đóng góp quá nhiều Do vậy, chính phủ Trung Quốc đã có những chính sách mới từ năm 1997 để giảm nhẹ đóng góp của nông dân và ổn định tình hình, hạn chế hiện tượng lao động nông nghiệp bỏ đồng ruộng đi ra thành thị

Xây dựng “NTM xã hội chủ nghĩa” được trung ương đảng cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc nêu ra vào năm 2006, với phương châm “cho nhiều, lấy ít, nuôi sống” Cũng giống như Việt Nam, nông nghiệp Trung Quốc chưa đảm bảo mức sống của nhân dân, khoảng cách đô thị và nông thôn ngày càng xa, nông dân thiếu đất sản xuất Do vậy, mục tiêu của xây dựng NTM ở Trung Quốc là: tăng năng suất sản xuất ở nông thôn, xây dựng CSHT nông thôn, phát triển xã hội và mức sống Trong kế hoạch 5 năm (2006-2010), Trung Quốc đề ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nông dân và 32 biện pháp có lợi cho nông dân để phát triển nông nghiệp hiện đại

Trung Quốc không xây dựng Bộ tiêu chí NTM cụ thể như Việt Nam mà chỉ đặt ra 5 tiêu chí chung: sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc, diện mạo sạch sẽ, thôn xóm văn minh, quản lý dân chủ Vấn đề đất đai được đặc biệt

Trang 29

quan tâm trong xây dựng NTM ở Trung Quốc Ruộng đất ở các thôn do doanh nghiệp đứng ra tổ chức sản xuất tập trung một hoặc vài loại sản phẩm Người nông dân cho doanh nghiệp thuê đất rồi vào làm công nhân, được doanh nghiệp hướng dẫn, tập huấn nghề Nông dân vừa có thu nhập từ tiền lương, và

có thu nhập từ tiền cho thuê đất Công tác quy hoạch trong xây dựng NTM ở Trung Quốc cũng rất bài bản, đồng bộ Cấp thôn được chọn làm đơn vị quy hoạch Việc công khai quy hoạch với dân được coi trọng đặc biệt, tại bất cứ

mô hình NTM nào được triển khai cũng đều có đầy đủ sơ đồ, bản vẽ thiết kế được treo nơi công cộng Khi thu hồi đất, cách làm cũng dân chủ, công khai, bàn bạc với dân trên nguyên tắc “không để cho dân thiệt”

Song song với công tác quy hoạch, nhà nước Trung Quốc cũng rất chăm lo và có bước đi hợp lý trên 2 lĩnh vực: áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ khí hoá vào sản xuất nông nghiệp Điều quan trọng nữa là vấn đề giải quyết công ăn việc làm được coi trọng, chính sách xã hội với người nông dân được đặc biệt quan tâm, gắn trách nhiệm của các đơn vị sử dụng đất của nông dân với quyền lợi lâu dài của nông dân Làm như vậy, trong trường hợp

bị thu hồi đất, người nông dân vẫn không bị giảm quyền lợi

Bên cạnh đó, khi xây dựng NTM, Trung Quốc xây dựng một đội ngũ cán bộ thôn có năng lực, có trình độ quản lý, hiểu biết khoa học kỹ thuật Đây

là vấn đề quan trọng mà xây dựng NTM ở Việt Nam cần phải học hỏi để tăng cường năng lực cho cán bộ cơ sở, có như vậy mới vận động được quần chúng nhân dân hưởng ứng tham gia xây dựng NTM[24]

1.3.1.3 Phong trào mỗi làng một sản phẩm ở Nhật Bản

Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (One Village, one Product - OVOP) hình thành và phát triển đầu tiên tại Nhật Bản Qua gần 25 năm, sự thành công và kinh nghiệm của phong trào đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên khắp Nhật Bản mà còn lôi cuốn rất nhiều các quốc gia khác quan tâm tìm hiểu và áp dụng

Trang 30

Phong trào OVOP có 3 nguyên tắc cơ bản để thực hiện và phát triển: (i) hành động địa phương nhưng suy nghĩa toàn cầu; (ii) tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; (iii) phát triển nguồn nhân lực Trong đó nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Mỗi địa phương tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Yếu tố thành công chủ yếu của phong trào OVOP là việc nhận biết những nguồn lực chưa được sử dụng tại địa phương trước khi vận dụng nguồn lực một cách sáng tạo để cung cấp trên thị trường Sau hơn 20 năm áp dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu…

Phong trào OVOP được một nhóm nông dân ở thị trấn Oyama, quận Oita, Nhật Bản, khởi xướng từ những năm 60 thế kỷ trước “Hãy trồng mận

và hạt để đi nghỉ ở Hawaii” là khẩu hiệu thúc đẩy người dân Oita hành động Sau mấy năm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi sản phẩm đã tạo nên sự thành công lớn của HTX Oyama

Năm 1979, phong trào OVOP được quận Oita coi là chính sách phát triển nông thôn chủ yếu của quận Chính quyền quận đã có những hỗ trợ về

kỹ thuật, xúc tiến bán hàng và hệ thống giải thưởng cho những thực hành tốt nhất Quận cũng đã thành lập viện nghiên cứu và thử nghiệm phục vụ OVOP;

hỗ trợ cải tiến và phát triển sản phẩm; tổ chức triển lãm, hội chợ Oita; phát động cuộc vận động sản xuất và tiêu dùng địa phương; thành lập công ty

“Một làng, một sản phẩm Oita”; xây dựng trạm nghỉ dọc đường…

Kinh nghiệm từ OVOP có thể áp dụng cho hoạt động xây dựng NTM

ở Việt Nam tại những địa phương có làng nghề và có sản phẩm đặc sản Các

cơ quan quản lý các cấp cũng đã có những hỗ trợ nhất định, nhằm giúp các địa phương phát hiện được thế mạnh của mình và tìm cách bán sản phẩm ra thị trường

Trang 31

Người dân ở Việt Nam có kỹ năng sản xuất khéo léo, tạo ra được nhiều sản phẩm độc đáo, nhiều đặc sản có giá trị cao, song chưa tham gia tốt trên thị trường, chưa có cách quản lý khoa học để sản phẩm có chất lượng tốt Mặt khác, trong nội bộ nhiều làng, do tập quán giữ bí quyết làng nghề nên chưa có sự chia sẻ Vì vậy, để khơi dậy năng lực và thúc đẩy người dân phát triển các ngành nghề của mình, công tác tuyên truyền, vận động xây dựng NTM cần lồng ghép giới thiệu những bài học kinh nghiệm hay trong nước và trên thế giới [29]

1.3.2 Bài học trong nước

1.3.2.1 Chương trình thí điểm NTM cấp xã giai đoạn 2001 - 2005

Tổng kết chương trình đã rút ra bốn kinh nghiệm như sau:

Một là: Việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân cũng như cán bộ địa phương là hết sức quan trọng, để mọi người hiểu rõ quan điểm triển khai của chương trình Đây là một chương trình mang tính lồng ghép, trong đó

hỗ trợ từ nhà nước chỉ là một phần, làm động lực thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng Cộng đồng phải là chủ thể cả trong triển khai cũng như đóng góp nguồn lực Việc tuyên truyền, vận động kém là nguyên nhân dẫn đến tâm lý ỷ lại, trông chờ vào hỗ trợ từ bên ngoài trong quá trình thử nghiệm này

Hai là:Việc phối hợp đồng bộ giữa các cấp, ngành từ Trung ương đến

địa phương là điều kiện cần thiết để thực hiện thành công mô hình Chương

trình do Bộ NN&PTNT chủ trì, nhưng có sự chỉ đạo chung của Ban Kinh tế Trung ương nên trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan cũng hết sức quan trọng, đặc biệt trong việc triển khai lồng ghép các chương trình, dự án Vấn đề bộc lộ từ chương trình cho thấy, không chỉ có cán bộ địa phương và người dân ỷ lại, mà ngay cả nhiều Bộ, ngành các cấp cũng không thực sự tích cực vào cuộc Thực tế cho thấy, ở địa phương nào có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành thì ở nơi đó có mô hình tốt

Ba là: Cần thành lập một nguồn kinh phí riêng hỗ trợ để đảm bảo đủ vốn đầu tư và huy động được tối đa sự tham gia đóng góp của nhân dân địa

Trang 32

phương, đẩy nhanh tiến độ thực hiện mô hình phát triển nông thôn Xây dựng

mô hình phát triển nông thôn cấp xã là mô hình cho dân, vì dân, dân biết, dân bàn, dân đóng góp và hưởng lợi, với phương châm “nhân dân làm, nhà nước

hỗ trợ”, phát huy được tối đa nội lực trong dân Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn lực các xã điểm còn hạn chế, kinh tế chưa phát triển, nên mức độ tham gia đóng góp chưa cao, nếu chỉ dựa vào các chương trình lồng ghép thì nguồn vốn đầu tư cho xã điểm sẽ rất hạn hẹp

Bốn là: Xây dựng mô hình phát triển nông thôn phải phù hợp với đặc điểm dân sinh, kinh tế, trình độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu của địa phương, được nhân dân đồng tình ủng hộ Điều kiện tự nhiên và dân sinh

kinh tế cũng như trình độ sản xuất của các xã điểm khác nhau, trong xây dựng

mô hình phải cân nhắc, chọn lựa xây dựng các CSHT, áp dụng các tiến bộ KHKT phù hợp với trình độ sản xuất của địa phương đem lại hiệu quả kinh tế, tránh áp dụng công nghệ không phù hợp gây phản tác dụng[3]

1.3.2.2 Chương trình thí điểm xây dựng mô hình NTM cấp thôn, bản (2006-2009)

Chương trình thử nghiệm ở cấp thôn, bản đạt được nhiều thành công nhờ việc rút ra những kinh nghiệm từ chương trình cấp xã trước đó, cũng như

áp dụng một số kinh nghiệm quốc tế Hạn chế lớn nhất của chương trình chính là tính chất của một chương trình thí điểm Mô hình điểm có thể đạt được những thành công, nhưng chưa tạo được phong trào thi đua bởi chương trình chỉ áp dụng với các thôn, bản được lựa chọn Một số kinh nghiệm chính rút ra từ chương trình này là:

- Cần có một cơ chế triển khai đặc thù cho xây dựng mô hình NTM Đây là một chương trình thí điểm xây dựng mô hình, song các phương pháp thí điểm lại không thể áp dụng được đầy đủ do thiếu cơ chế Nói cách khác, thí điểm mô hình mới nhưng không thí điểm cơ chế mới phù hợp Ví dụ: Vai trò làm chủ của cộng đồng không được phát huy do người dân không thể tự quyết trong việc thực hiện các nội dung được duyệt Người dân có thể tự phát huy nội lực để thực hiện nhiều hạng mục hạ tầng không quá phức tạp như làm

Trang 33

đường, xây kè, làm cột điện… Tuy vậy, các nội dung từ thiết kế, lập bản vẽ,

dự toán, cho đến thi công, nghiệm thu lại bắt buộc phải do các cơ quan có chức năng thực hiện thì mới được duyệt Điều này vừa gây lãng phí, mất nhiều thời gian, lại không thử nghiệm được năng lực của cộng đồng

- Xây dựng mô hình cần có các tiêu chí để định hướng cho các thôn, bản thực hiện Chương trình đưa ra các ưu tiên chính trong việc nâng cao điều kiện sống cho người dân, cải thiện bộ mặt nông thôn, phát triển kinh tế và thực hiện các hoạt động văn hoá, xã hội Các nội dung này bao quát hầu hết những nội dung mà một mô hình NTM cấp thôn, bản cần có, tuy nhiên lại thiếu các chỉ tiêu cụ thể làm cơ sở để thực hiện Điều này dẫn đến tình trạng thiếu định hướng trong lựa chọn các nội dung thử nghiệm ở các mô hình thí điểm Tại nhiều địa phương, Ban phát triển thôn bàn bạc và thống nhất sử dụng nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho một vài công trình hạ tầng, thiếu quan tâm đến khơi dậy nội lực để kết hợp với ngoại lực nhằm phát huy thế mạnh cộng đồng Cách làm này lại rơi vào “vết xe” của chương trình phát triển nông thôn cấp xã, đồng thời không đúng với cách tiếp cận của chương trình NTM cấp thôn

- Sự tham gia của cộng đồng chỉ được phát huy nếu tạo được động lực thúc đẩy Động lực thúc đẩy ở đây một phần là từ các khoản ngân sách nhà nước hỗ trợ, một phần khác còn thiếu, đó là phong trào thi đua Đây là bài học

từ chương trình phát triển nông thôn cấp xã, cũng như một số chương trình phát triển nông thôn khác trong cùng giai đoạn Thực tế cho thấy, do các mô hình được chọn để làm điểm nên các nguồn lực được tập trung cho xây dựng

mô hình Điều này tạo ra tâm lý trông đợi hỗ trợ, chứ không thúc đẩy sự thi đua của cộng đồng Bài học này cần được quan tâm khi triển khai chương trình NTM ở phạm vi rộng Khi đó, các thôn, các xã phải đạt được các chỉ tiêu nhất định mới được hỗ trợ từ ngân sách Điều này sẽ tạo động lực và phong trào, thúc đẩy sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng

Trang 34

- Xây dựng NTM ở cấp cộng đồng thôn bản có thể động viên sức mạnh truyền thống, văn hóa truyền thống làng xã Việt Nam Nhưng ở Việt Nam, nếu chỉ dựa vào thôn, bản mà thiếu trách nhiệm và sự chỉ đạo của xã cùng với chính quyền và hệ thống chính trị hoàn chỉnh của cấp xã, sẽ không thể triển khai tốt được Vì thế, phải kết hợp địa bàn xã kết nối với truyền thống làng, bản Việt Nam [3]

1.3.2.3 Chương trình thí điểm NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (2009-2011)

Sau hai năm triển khai thực hiện chương trình trên địa bàn 11 xã điểm chung ta đã rút ra được các bài học kinh nghiệm như sau:

- Xây dựng NTM là giải pháp đúng đắn để tiến hành CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, vì vậy phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung của Ban Bí thư, Chính phủ và trách nhiệm đồng hành thực thi của các Bộ, ngành, các tỉnh, thành, tạo ra một sự chuyển động mạnh mẽ, đột phá quyết liệt mới làm được

- Để tiến hành xây dựng NTM đạt kết quả tốt, trước tiên phải xây dựng được mô hình phù hợp, chính sách, cơ chế hỗ trợ phù hợp, tổ chức bộ máy chỉ đạo mạnh mẽ, hiệu quả Tiếp theo là làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, tạo được sự thống nhất cao về nhận thức trong Đảng, trong nhân dân các xã về quan điểm, nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách của nhà nước về xây dựng NTM, để cả hệ thống chính trị ở cơ sở và mỗi người dân hiểu rõ, từ đó đồng tâm, chung sức, tự giác, chủ động tham gia Khác với trước đây, Chương trình xây dựng NTM lần này không phải chủ yếu

là dựa vào đầu tư của Nhà nước, không phải chỉ là một dự án đầu tư xây dựng các công trình CSHT ở nông thôn Nếu hiểu Chương trình xây dựng NTM là

dự án đầu tư của Nhà nước vào xây dựng CSHT ở nông thôn, rồi trông chờ, ỷ lại thì sẽ thất bại, mà cần nhận thức rằng, đây là Chương trình phát triển KTXH toàn diện ở nông thôn, tiến hành cùng với quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, do nhân dân trong xã làm chủ, phát huy cao nhất nội lực, các nguồn lực xã hội với sự hỗ trợ của Nhà nước thì mới thành công, bền vững Thực tế cho thấy, xã nào ngay từ đầu đã tổ chức tốt việc phổ biến, quán

Trang 35

triệt để mọi người hiểu đúng, thống nhất nhận thức, tạo được sự đồng thuận, thì công việc triển khai thuận lợi, có nhiều sáng kiến, đạt kết quả tốt; xã nào quán triệt không đầy đủ, khi thực hiện sẽ có vướng mắc, phải giải thích, quán triệt lại

- Cần phải coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và tập huấn về kiến thức xây dựng NTM cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, thôn, bản, những người trực tiếp chỉ đạo thực hiện Giai đoạn đầu, đội ngũ cán bộ các xã đều lúng túng trong triển khai thực hiện Chương trình Sau đó từ thực tiễn, khi Ban chỉ đạo, các Bộ, ngành Trung ương có các văn bản hướng dẫn cụ thể cho từng lĩnh vực, về phương pháp xây dựng đề án, phương pháp xây dựng và quản lý quy hoạch, huy động các nguồn lực, quản lý tài chính, quản lý xây dựng cơ bản, thủ tục thanh, quyết toán…, tổ chức tập huấn, hướng dẫn tháo gỡ những vướng mắc cụ thể trong quá trình triển khai thì công việc từng bước đi dần vào nền nếp Đội ngũ cán

bộ các cấp, nhất là cán bộ cơ sở càng năng động, sáng tạo, trưởng thành thì kết quả đạt được càng tích cực và hiệu quả hơn

- Trên cơ sở mục tiêu, nội dung chung của Chương trình, các cơ chế, chính sách chung của Nhà nước, mỗi địa phương phải căn cứ vào đặc điểm, lợi thế và yêu cầu bức thiết của người dân, cần phát huy dân chủ rộng rãi, người dân phải được tham gia thảo luận và ra quyết định, có cách làm chủ động, sáng tạo, lựa chọn những nội dung bức thiết cần làm trước, cần tập trung đầu tư, những nội dung có thể làm sau, cách thức huy động nguồn lực tổng hợp, tạo ra sự liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp, phân công thực hiện cho các tổ chức trong hệ thống chính trị… phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của từng xã, không rập khuôn, máy móc

- Cần phải đa dạng hóa việc huy động các nguồn lực cho xây dựng NTM Khi bắt đầu triển khai thực hiện Chương trình, sự hỗ trợ một phần vốn

từ ngân sách Trung ương là cần thiết để tạo đà, tạo niềm tin cho nhân dân, tạo

Trang 36

cơ sở để có thêm ngày càng nhiều các nguồn vốn khác từ ngân sách địa phương, đóng góp của nhân dân dưới nhiều hình thức, vốn lồng ghép các chương trình mục tiêu trên địa bàn; cần hết sức chú ý huy động vốn của các doanh nghiệp thông qua các hình thức thu hút đầu tư, liên doanh, liên kết và nhất là tăng vốn tín dụng cho các hộ, các tổ hợp tác, hợp tác xã vay để phát triển sản xuất… Về cơ bản và lâu dài, để NTM được xây dựng, phát triển bền vững thì phải tập trung phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao nội lực của nhân dân, kết hợp với vốn đầu tư, liên doanh, liên kết của các doanh nghiệp và vốn tín dụng ngân hàng phải trở thành những nguồn lực chủ yếu nhất

- Cần có sự chỉ đạo tập trung, sâu sát, cụ thể; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và thu hút được sự tham gia chủ động, tích cực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trên địa bàn Cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở phải xem đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng và thường xuyên của mình Các Bộ, sở, ngành có liên quan phải xây dựng các cơ chế, chính sách, các văn bản hướng dẫn, giúp đỡ cơ sở tháo gỡ kịp thời khó khăn Ban chỉ đạo các cấp phải thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện, phát hiện sai lệch để uốn nắn, cách làm hay để nhân rộng[3]

1.3.2.4 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh trong mô hình OCOP

Hiện nay, mô hình OVOP đang được áp dụng rất hiệu quả tại tỉnh Quảng Ninh Mô hình tại Quảng Ninh được gọi là OCOP, nghĩa là “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (One Commune One Product) Quan điểm triển khai của tỉnh là nhà nước đóng vai trò tạo ra “sân chơi” bằng cách ban hành các cơ chế, chính sách hợp lý để hỗ trợ phát triển, như: Đào tạo nâng cao kiến thức,

hỗ trợ lãi suất tín dụng, đề ra các tiêu chuẩn sản phẩm, quảng bá và định hướng hình thành lên các kênh phân phối sản phẩm… Còn người dân đóng vai trò chính trong “sân chơi” này, họ tự quyết định lựa chọn và phát triển các sản phẩm gì có lợi thế cạnh tranh của địa phương mình, đồng thời phải làm sao để các sản phẩm đó có chất lượng tốt nhất theo đúng quy chuẩn, đáp ứng

Trang 37

nhu cầu của thị trường Chất lượng sản phẩm chính là yếu tố quyết định sự thành công của Chương trình Yếu tố này không chỉ thể hiện ở bản thân chất lượng của hàng hóa được kết tinh ở khâu sản xuất nguyên liệu, công nghệ chế biến và bảo quản đã được giám định kỹ lưỡng, mà phải làm thế nào tạo ra được ý thức sản xuất hàng hóa chất lượng cao trong hành vi của mỗi người dân Ngoài ra, nó còn thể hiện ở nghệ thuật bao bì, đóng gói sao cho hấp dẫn

và thuận tiện nhất cho người tiêu dùng

Đề án OCOP tỉnh Quảng Ninh triển khai nhằm thực hiện việc phát triển hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh các sản phẩm truyền thống, có lợi thế

ở khu vực nông thôn, góp phần tái cơ cấu nền kinh tế nông thôn Quảng Ninh theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị Thực hiện có hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM Thông qua việc phát triển sản xuất tại các địa bàn nông thôn, góp phần hạn chế việc giảm dân số nông thôn di cư ra thành phố, bảo vệ môi trường và gìn giữ ổn định xã hội nông thôn

Việc phát triển Đề án “Mỗi xã, phường một sản phẩm” ở Quảng Ninh có một ý nghĩa to lớn trong phát triển KTXH Thứ nhất là, khi triển khai thành công, nó sẽ giúp nâng cao thu nhập tạo ra nhiều công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân và thực hiện có hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất” trong xây dựng NTM; Thứ hai là, làm thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, hướng người dân vào kinh tế thị trường, tạo ra hướng đi mới trong sản xuất, kinh doanh các sản phẩm truyền thống có lợi thế ở khu vực nông thôn, góp phần tái cơ cấu kinh tế nông thôn Quảng Ninh; Thứ ba là, góp phần làm giảm việc di dân từ nông thôn ra thành phố, thực hiện có hiệu quả tinh thần “Ly nông, bất ly hương”; Thứ tư là, thông qua chương trình, góp phần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đây chính là yếu tố thúc đẩy sự phát triển một cách bền vững kinh tế nông thôn của tỉnh Thứ năm là, OCOP tạo ra các sản phẩm dịch vụ có chất lượng phục vụ phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh [35]

Trang 38

1.3.2.5.Kinh nghiệm xây dựng NTM huyện Đại Từ, tỉnh Thái nguyên

Sau hơn 5 năm triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, huyện Đại Từ là địa phương dẫn đầu của tỉnh Thái Nguyên về

số xã được công nhận đạt chuẩn (8 xã) Đặc biệt, huyện đã có nhiều giải pháp phù hợp để huy động các nguồn lực kết cấu hạ tầng và hạn chế nợ đọng trong đầu tư xây dựng NTM

Trong khi nhiều địa phương gặp khó trong việc đối ứng nguồn hỗ trợ xi măng của tỉnh, thì từ đầu năm tới nay huyện Đại Từ lại dẫn đầu khi tiếp nhận tới 16.300 tấn xi măng để làm gần 90km đường giao thông Huyện đang đề nghị tỉnh hỗ trợ thêm 10 nghìn tấn xi măng nữa trên cơ sở nhu cầu đã đăng ký của các xã àm đường giao thông đang là phong trào phát triển rất mạnh mẽ trên địa bàn huyện Có được kết quả này, bên cạnh việc đẩy mạnh vận động, tuyên truyền đến người dân, huyện đã huy động sự vào cuộc tích cực, linh hoạt của các cơ quan chuyên môn giúp giảm chi phí trong thi công so với mặt bằng chung của tỉnh

Nếu như kinh phí trung bình để làm 1km đường bê tông nông thôn đạt chuẩn (rộng 3m, dày 18cm) của toàn tỉnh là trên dưới 1 tỷ đồng, thì ở Đại Từ giá thành chưa đến 700 triệu đồng Cách làm của Đại Từ để có kết quả này là dựa trên tiêu chuẩn kỹ thuật chung, huyện giao nhiệm vụ cho Phòng Kinh tế -

Hạ tầng xây dựng mẫu thiết kế chi tiết các tuyến đường phù hợp với thực tế địa phương Trong đó tính đến phương án chủ động nguồn nhân công, vật liệu xây dựng và giám sát Nhờ tự thiết kế nên giảm được chi phí thuê tư vấn, thuế doanh nghiệp và các chi phí chung khác Cùng với đó, Phòng Tài chính - Kế hoạch có trách nhiệm thẩm định các tuyến đường Toàn bộ các khâu này được

cơ quan chuyên môn làm miễn phí, trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi nhất về thời gian và thủ tục hồ sơ cho các xã

Để tiết kiệm chi phí, huyện Đại Từ cũng xây dựng cơ chế cho phép các địa phương tận dụng nguồn nguyên liệu cát sỏi tại chỗ để làm đường.Với

Trang 39

những khu vực có thể khai thác được cát sỏi, xã làm hồ sơ đề nghị Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện xem xét cấp quyền Ngoài ra, việc thi công tất cả các tuyến đường bê tông trên địa bàn cũng do người dân đảm nhiệm thay vì thuê doanh nghiệp nhằm giảm chi phí Địa phương có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chuyên môn của huyện giám sát đảm bảo chất lượng công trình, việc khai thác cát sỏi không ảnh hưởng đến môi trường và không sử dụng vào các mục đích khác

Cùng với hiệu quả tích cực trong việc hỗ trợ xi măng làm đường giao thông, huyện Đại Từ đã huy động nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Điều đáng ghi nhận là huyện đã kiểm soát và duy trì ở mức thấp nợ đọng vốn đầu tư.Trung bình mỗi năm huyện được phân bổ từ 35-40 tỷ đồng để đầu tư hạ tầng nông thôn (gồm vốn mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM, vốn trái phiếu Chính phủ và ngân sách tỉnh) Trên cơ sở nguồn vốn này, cùng nhu cầu đăng ký của các địa phương, phòng chuyên môn của huyện

sẽ xây dựng kế hoạch, xem phân bổ theo thứ tự ưu tiên là trả nợ các công trình đã hoàn thành, vốn cho xã điểm và các công trình thực sự cần thiết Do vậy, mức nợ đọng vốn xây dựng NTM của huyện luôn duy trì ở mức thấp, hiện là khoảng 9 tỷ đồng

Ngoài chỉ tiêu vốn chung theo phân bổ của tỉnh, huyện Đại Từ cũng lồng nghép các nguồn vốn khác như: Phí bảo vệ môi trường, hỗ trợ sản xuất, thủy lợi phí… với tổng cộng khoảng 20-30 tỷ đồng mỗi năm cho Chương trình xây dựng NTM Các tiêu chí được ưu tiên đầu tư là: Thủy lợi, môi trường, cơ sở vật chất văn hóa và thu nhập… HĐND huyện cũng xây dựng nghị quyết trích ngân sách 3 tỷ đồng/năm để đầu tư cho Chương trình

Năm 2016 huyện Đại Từ đã huy động khoảng 156 tỷ đồng đầu tư cho Chương trìn xây dựng NTM.Riêng nguồn hỗ trợ xi măng của tỉnh, cùng sự đối ứng tiền, công lao động để làm đường giao thông trên địa bàn huyện đã đạt gần 70 tỷ đồng Tổng cộng cả năm 2016 đạt trên 100 tỷ đồng Với việc

Trang 40

huy động tổng hợp nhiều nguồn lực, cùng cách thức triển khai phù hợp với thực tế thì mục tiêu có thêm 4 xã “cán đích” trong năm 2016 và xa hơn là huyện được công nhận đạt chuẩn NTM trước năm 2020

1.3.2.6 Bài học kinh nghiệm cho huyện Hạ Hòa

Một là, xác định thực hiện Chương trình mục tiêu xây dựng NTM là

trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng; sự gương mẫu, tiên phong, nòng cốt của đảng viên, nhất là người đứng đầu; cấp ủy, các cấp, các ngành phải sâu sát, cụ thể, thường xuyên tìm tòi, phát hiện những cách làm mới sáng tạo, hiệu quả; đúc kết kinh nghiệm về cách làm, về giải pháp khắc phục, tháo gỡ khó khăn trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ Chú trọng công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh Phát huy vai trò giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư trong tham gia quyết định, đảm bảo chất lượng, hiệu quả các nội dung nhiệm vụ thực hiện, theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát và dân thụ hưởng”

Hai là, phải làm tốt, đổi mới công tác quán triệt đối với cán bộ đảng

viên, tuyên truyền sâu rộng để nâng cao nhận thức trong cộng đồng dân cư

để cả hệ thống chính trị ở cơ sở và người dân hiểu rõ về nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế chính sách của nhà nước về xây dựng NTM; làm cho nhân dân, nông dân nhận thức được vai trò là chủ thể trong xây dựng NTM, phát triển nông nghiệp đô thị Chú trọng công tác xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt ở các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở; bên cạnh đó thường xuyên tập huấn ngắn hạn, bồi dưỡng nhân dân, nông dân về mục tiêu thực hiện, các chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước liên quan, các kỹ thuật sản xuất mới, điều kiện giao thương, tiêu thụ Trong Chương trình phát triển nguồn nhân lực của Thành phố, cần tạo điều kiện và tính toán đến việc đào tạo đối với đội ngũ nông dân tại các huyện, thực hiện chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn Đối với người nông dân, phải tập trung đào tạo để họ

Ngày đăng: 29/03/2023, 11:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban chỉ đạo xây dựng NTM Trung ương, Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015
Tác giả: Ban chỉ đạo xây dựng NTM Trung ương
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới, ban hành theo Quyết định số 2614/QĐ-BNN-HTX ngày 08/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Chương trình phát triển nông thôn làng xã mới giai đoạn 2006 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển nông thôn làng xã mới giai đoạn 2006 - 2010
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, ban hành kèm theo Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2009
7. Chi cục thống kê huyện Hạ Hòa; Niên giám thống kê huyện Hạ Hòa năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Hạ Hòa năm 2015
Tác giả: Chi cục thống kê huyện Hạ Hòa
Năm: 2015
8. Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc (2009), Kết quả hội thảo lần thứ tư: Vấn đề nông nghiệp nông dân nông thôn kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả hội thảo lần thứ tư: Vấn đề nông nghiệp nông dân nông thôn kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
9. Đỗ Kim Chung (2009), Vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đai hóa hiện nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đai hóa hiện nay
Tác giả: Đỗ Kim Chung
Năm: 2009
10. Đỗ Tiến Sâm (2008), Vấn đề tam nông ở Trung Quốc thực trạng và giải pháp, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tam nông ở Trung Quốc thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đỗ Tiến Sâm
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2008
11. Đặng Kim Sơn (2008), Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
13. Hồ Xuân Hùng (2011), Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta, http://www.vca.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta
Tác giả: Hồ Xuân Hùng
Năm: 2011
15. Lê Quốc Lý (2012), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - Vấn đề và giải pháp
Tác giả: Lê Quốc Lý
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
16. Lê Thế Cương (2013), Thực tiễn hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc và kinh nghiệm rút ra cho. Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc và kinh nghiệm rút ra cho. Việt Nam
Tác giả: Lê Thế Cương
Năm: 2013
17. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, Nguyễn Thị Tuyết Lan và Nguyễn Trọng Đắc (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Tác giả: Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, Nguyễn Thị Tuyết Lan, Nguyễn Trọng Đắc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
18. Nguyễn Mậu Thái (2015), Đề tài luận án “Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới các huyện phía Tây thành phố Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới các huyện phía Tây thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Mậu Thái
Năm: 2015
19. Nguyễn Ánh Tuyết (2004), Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp huy động “vốn xã hội” cho phát triển ngành nghề phi nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp huy động “vốn xã hội” cho phát triển ngành nghề phi nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới”
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Năm: 2004
20. Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
21. Nguyễn Thế Bình (2014), Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp đô thị ở Đài Loan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp đô thị ở Đài Loan
Tác giả: Nguyễn Thế Bình
Năm: 2014
22. Nguyễn Xuân Cường (2010), Quá trình phát triển kinh tế- xã hội nông thôn ở Trung Quốc (1978 - 2008), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển kinh tế- xã hội nông thôn ở Trung Quốc (1978 - 2008)
Tác giả: Nguyễn Xuân Cường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
23. Nguyễn Mậu Dũng và Nguyễn Mậu Thái (2012), Vai trò của người dân trong dựng nông thôn mới ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tháng 3 năm 2012, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tr 70-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của người dân trong dựng nông thôn mới ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Mậu Dũng, Nguyễn Mậu Thái
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2012
35. Website nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh (http://ntm.quangninh.gov.vn). Một số vấn đề cơ bản về chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w