1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bảo tồn làng truyền thống dân tộc mông, chuyên đề “lễ dựng nhà và vào nhà mới của người mông ở cát cát

28 348 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 226,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện tự nhiên làng Cát Cát N m trên sư n dãy Ho ng Liên S n, dàng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ướ

Trang 1

MỤC LỤC

Dẫn luận ……… 2

1 Khái quát chung ……… 3

1.1 Điều kiện tự nhiên làng Cát Cát ……… 3

1.2 Lịch sử, dân số và phân bố dân cư ……… 3

1.3 Văn hóa - xã hội……… 5

2 Phong tục làm nhà và vào nhà mới của người Mông ở Cát Cát ……… 6

2.1 Quá trình chuẩn bị ……… 6

2.1.1 Nguyên vật liệu làm nhà ……… 6

2.1.2 Chọn đất làm nhà ……… 7

2.1.3 Nhân lực làm nhà ……… 8

2.1.4 Chọn hướng nhà……… 9

2.2.5 San nền ……… 11

2.2 Quy trình dựng nhà ……… 12

2.2.2 Dựng khung nhà ……… 12

2.2.3 Lợp mái ……… 13

2.2.4 Thưng vách ……… 14

2.2.5 Hoàn thiện ……… 16

2.3 Bài trí không gian ngôi nhà ……… 17

2.3.1 Tổng thể khuôn viên ……… 17

2.3.2 Bài trí không gian cư trú ……… 18

2.3.3 Bài trí không gian tín ngưỡng ……… 20

2.4 Các nghi lễ cúng trong quá trình dựng nhà và bữa liên hoan vào nhà mới 24 2.4.1 Lễ cúng động thổ ……… 24

2.4.2 Lễ cúng vào nhà mới ……… 25

2.4.3 Bữa liên hoan vào nhà mới ……… 26

Kết luận ……… 28

Trang 2

DẪN LUẬNNgôi nhà trước hết là nơi bảo vệ con người trước những bất lợi của thiên nhiên (nắng,mưa, thú dữ…) và xã hội (trộm, cướp…), là nơi để con người nghỉ ngơi sau những ngày laođộng vất vả Ngoài ra, đó còn là nơi chứa đựng những thành tố văn hóa phản ánh dấu ấn tộcngười, dấu ấn của một nền kinh tế, của thiết chế xã hội Nhìn vào ngôi nhà, người ta không chỉthấy trình độ phát triển kinh tế của chủ nhân ngôi nhà mà còn bắt gặp ở đó một cơ tầng vănhóa sống động thông qua vật liệu, kết cấu và kỹ thuật dựng nhà; qua cách bài trí, bố trí khônggian trong nhà và những tục hèm kiêng kỵ Những yếu tố tín ngưỡng liên quan đến ngôi nhàluôn đóng vai trò là nền tảng trong việc bảo lưu những những giá trị truyền thống Càng nhiềunét văn hóa tín ngưỡng với những quy định chặt chẽ thì ngôi nhà càng bảo lưu được những sắcthái cổ truyền Ngược lại, những kiêng kỵ và những nghi lễ tín ngưỡng, những không gian linhthiêng càng ít thì ngôi nhà càng nhanh biến đổi.

Ngôi nhà của người Mông ở Cát Cát thuộc phạm trù thứ nhất Nhìn vào tổng thể khônggian ngôi nhà, đâu đâu chúng ta cũng bắt gặp những không gian thiêng, với những ma nhà, macửa, ma buồng, ma bếp, ma sàn gác.v.v… Nếu gạt bỏ đi những lớp màn huyền bí mang màusắc mê tín, chúng ta có thể thấy được ở đó những dữ kiện “biết nói” về lịch sử, văn hóa, xã hộicủa họ Theo quan niệm của người Mông ở Cát Cát, một ngôi nhà tốt không chỉ là một ngôinhà được làm từ nguyên liệu tốt, kiểu dáng đẹp, kỹ thuật hoàn hảo… mà nó còn phải được sựcho phép và phù hộ của thần linh và phải được làm theo những khuôn mẫu mà với niềm tin cổxưa thì có làm được những điều ấy, con người sống ở trong ngôi nhà đó mới có cuộc sống tốtđẹp

Thuộc dự án Bảo tồn Làng truyền thống dân tộc Mông, chuyên đề “Lễ dựng nhà và vào nhà mới của người Mông ở Cát Cát” nhằm tìm hiểu về không gian ngôi nhà của người

Mông ở Cát Cát, quy trình dựng nhà và nghi lễ vào nhà mới của họ Đồng thời, tìm hiểu vềnhững biến đổi trong trong những phương diện trên Thông qua đó để thấy được những quanniệm dân gian, những tri thức bản địa và thái độ ứng xử của người Mông nơi đây với mộtphương diện văn hóa vật chất truyền thống của mình Chuyên đề được thực hiện bằng cácphương pháp dân tộc học truyền thống, lấy kết quả khảo sát tại thực địa làm nguồn tài liệuchính

Trang 3

1 KHÁI QUÁT CHUNG

1.1 Điều kiện tự nhiên làng Cát Cát

N m trên sư n dãy Ho ng Liên S n, dàng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cáti chân núi Phan Si P ng hùng v , l ng Cát Cátăng hùng vĩ, làng Cát Cát ĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát

hi n ang l i m thu hút m t làng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngng l n khách du l ch h ng n m v l m t trong nh ngới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ịch hàng năm và là một trong những àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ăng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ững

tr ng i m du l ch c a huy n Sa Pa.ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa ịch hàng năm và là một trong những ủa huyện Sa Pa

nước biển T ng di n tích t nhiên c a l ng l 14,47 ha; phía ông giáp l ng Ý Lình H 1;ự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1; ủa huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ồ 1;phía tây giáp tr c ục đường Sa Pa – Sín Chải, ư ng Sa Pa – Sín Ch i; phía nam giáp l ng Sín Ch i; phía b c giápải, àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ải, ắc giáp

Th tr n Sa Pa.ịch hàng năm và là một trong những ấn Sa Pa

C nh quan c trú c a l ng Cát Cát thu c vùng c nh quan núi á Quá trình t o núiải, ư ủa huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ải, ạo núitrong Tân ki n t o v i s phân b c ạo núi ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1; ậc địa hình đã cho địa hình nơi đây dạng bề mặt san ịch hàng năm và là một trong nhữnga hình ã cho ịch hàng năm và là một trong nhữnga hình n i ây d ng b m t sanơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ạo núi ề mặt san ặt san

b ng – bóc mòn không ho n to n v i àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ặt sanc i m b m t n m ngang v h i nghiêng trênề mặt san ặt san àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cátcác ư ng phân chia nưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cátc ph , các ục đường Sa Pa – Sín Chải, ồ 1;i tho i lải, ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngn sóng v phân b c Th nh t o b m tàng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ậc địa hình đã cho địa hình nơi đây dạng bề mặt san àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ạo núi ề mặt san ặt san

g m eluvi v á kh i t ng l n d m s n, tr s i á, v phong hóa v n b litoma v sapolit.ồ 1; àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ải, ẫn dăm sạn, trơ sỏi đá, vỏ phong hóa vụn bở litoma và sapolit ăng hùng vĩ, làng Cát Cát ạo núi ơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ỏi đá, vỏ phong hóa vụn bở litoma và sapolit ỏi đá, vỏ phong hóa vụn bở litoma và sapolit ục đường Sa Pa – Sín Chải, ở litoma và sapolit àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát CátXen k trong ó l d ng " àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ạo núi ịch hàng năm và là một trong nhữnga hình dòng ch y thải, ư ng xuyên ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngc hình th nh t giai o nàng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ừ giai đoạn ạo núi

nên không có di tích c a các b c th m sông m h u h t l áy thung l ng xâm th c sâuủa huyện Sa Pa ậc địa hình đã cho địa hình nơi đây dạng bề mặt san ề mặt san àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ầu hết là đáy thung lũng xâm thực sâu àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ũng xâm thực sâu ự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1;

v m nh m l m tr á g c có tr c di n ngang hình ch V t o ra nh ng thác gh nh àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ạo núi " àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ắc giáp ững ạo núi ững ề mặt san ặt sanc

tr ng.ư

N m trong khu v c ti u vùng khí h u núi cao, khí h u c a l ng Cát cát mang tínhự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1; ậc địa hình đã cho địa hình nơi đây dạng bề mặt san ậc địa hình đã cho địa hình nơi đây dạng bề mặt san ủa huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát

ch t c a khí h u á nhi t ấn Sa Pa ủa huyện Sa Pa ậc địa hình đã cho địa hình nơi đây dạng bề mặt san ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cáti Nhi t ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những trung bình n m kho ng 22 – 23ăng hùng vĩ, làng Cát Cát ải, 0C Tháng 1 l nhạo núi

nh t, có n m xu ng ấn Sa Pa ăng hùng vĩ, làng Cát Cát n 1 – 20C Tháng 7 nhi t ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những cao nh t ấn Sa Pa ạo núit 19 – 200C M t n m cóột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ăng hùng vĩ, làng Cát Cát

n 1.400 – 1.600 gi có n ng S ng y có n ng trong m t n m t 100 ắc giáp àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ắc giáp ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ăng hùng vĩ, làng Cát Cát ừ giai đoạn n 150 ng y.àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát

Lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngng m a trung bình kho ng 2.000 – 2.500 mm/n m v i s ng y m a 180 – 200 ng y/ư ải, ăng hùng vĩ, làng Cát Cát ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ư àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát

n m Lăng hùng vĩ, làng Cát Cát ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngng m a t p trung l n nh t v o tháng 7, tháng 8 v i 400 – 500 mm/tháng Cácư ậc địa hình đã cho địa hình nơi đây dạng bề mặt san ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ấn Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cáttháng khô nh t l tháng 12 v tháng 1, lấn Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngng m a ư ạo núi ≈ 60 – 70 mm/tháng Lt ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngng b c

h i ơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ạo núit 650 – 700 m Đột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ẩm trung bình năm đạt > 90% Các hiện tượng thời tiết đặc m trung bình n m ăng hùng vĩ, làng Cát Cát ạo núit > 90% Các hi n tượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngng th i ti t ặt sanc

bi t nh dông, m a á, m a phùn, sư ư ư ươn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cátng mù, sươn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cátng mu i thư ng xuyên s y ra.ải,

1.2 Lịch sử, dân số và phân bố dân cư

Theo các truy n thuy t c a Trung Qu c thì ngề mặt san ủa huyện Sa Pa ư i Mông xu t hi n s m nh t khuấn Sa Pa ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ấn Sa Pa ở litoma và sapolit

v c trung v h l u sông Trự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1; àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ạo núi ư ư ng Giang, cách nay 5000 n m ăng hùng vĩ, làng Cát Cát Đ n th i k c a vua Nghiêu,ỳ Đệ Tứ ủa huyện Sa Pa.Thu n, V l i xu t hi n liên minh m i l ấn Sa Pa ũng xâm thực sâu ạo núi ấn Sa Pa ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát “Tam Miêu” khá hùng m nh nh ng nh ng cu cạo núi ư ững ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngxung ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ũng xâm thực sâut v trang gi a h v i Chính quy n phững ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ề mặt san ươn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cátng B c ng y c ng gia t ng khi n cho choắc giáp àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ăng hùng vĩ, làng Cát Cáttình hình ây không lúc n o ở litoma và sapolit àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngc yên n

Trang 4

Sau nhi u cu c chi n di n ra r t kh c li t gi a ngề mặt san ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ễn ra rất khốc liệt giữa người Hán và người Mông, người ấn Sa Pa ững ư i Hán v ngàng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ư i Mông, ngư iMông ph i rút v l u v c sông Dải, ề mặt san ư ự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1; ươn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cátng T , r i vử, rồi vượt qua con sông này để về phía Nam và ồ 1; ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngt qua con sông n y àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát v phía Nam về mặt san àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát CátTây Nam, thu c khu v c giáp v i 5 t nh c a Trung Qu c hi n nay l H Nam (Tột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1; ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ỉnh của Trung Quốc hiện nay là Hồ Nam (Tương), Quý ủa huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ồ 1; ươn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cátng), QuýChâu (Ki m), T Xuyên (Xuyên), H B c (Ng c) v Qu ng Tây (Qu ), l y Nguyên Giangề mặt san ứ ồ 1; ắc giáp ạo núi àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ải, ấn Sa Pa.

l m trung tâm.àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát

Theo t i li u c a tác gi Gi ng Seo G thì ngàng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ủa huyện Sa Pa ải, àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ư i Mông n v i vùng ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ấn Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cátt n y cáchnay kho ng 200 n m Nh ng nhóm ngải, ăng hùng vĩ, làng Cát Cát ững ư i ầu hết là đáy thung lũng xâm thực sâuu tiên có b n quán Quý Châu qua Vân Namải, ở litoma và sapolit.(Trung Qu c) Do chi n tranh lo n l c, h ã d i b n quán di c v o L o Cai l m nhi uạo núi ạo núi ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa ải, ư àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ề mặt san

ợng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những Đợng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ầu hết là đáy thung lũng xâm thực sâu ồ 1; ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát

n vùng ấn Sa Pa.t Si Ma Cai ng y nay; sau l i chuy n àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ạo núi n B c H Sau khi s ng ó ắc giáp àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ở litoma và sapolit ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngc 3

i thì ông Lý Th ng Pua d n 30 h gia ình ti p t c di c àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ẫn dăm sạn, trơ sỏi đá, vỏ phong hóa vụn bở litoma và sapolit ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ục đường Sa Pa – Sín Chải, ư n Sa Pa1

T i Sa Pa, ngạo núi ư i Mông ch n vùng ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa ấn Sa Pa ầu hết là đáy thung lũng xâm thực sâut g n su i hi n thu c hai thôn Móng S n 1 vột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát CátMóng S n 2 thu c xã Trung Ch i Sau m t th i gian s ng ây, dân s ã t ng lên nhanhột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ải, ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ở litoma và sapolit ăng hùng vĩ, làng Cát Cátchóng bu c ngột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ư i Mông ph i ti n h nh khai phá các vùng ải, àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ấn Sa Pa.t m i H ti n h nh m r ngới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ở litoma và sapolit ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngvùng ấn Sa Pa ủa huyện Sa Pa.t c a mình d c theo tri n d c c a dãy núi Can Th ng kéo d i ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa ề mặt san ủa huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát n vùng Sâu Chua

c a xã Sa P Ti p theo, h khai phá ủa huyện Sa Pa ải, ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa n các vùng núi khác nh khu Hang á, xã H uư Đ ầu hết là đáy thung lũng xâm thực sâu

Th o, thôn Ý Lình H , thôn Cát Cát, xã San X Hàng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ồ 1; ải, ồ 1;2

Khi ngư i Mông m i ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát n l p l ng (ậc địa hình đã cho địa hình nơi đây dạng bề mặt san àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ji o ào ) Cát Cát, to n l ng ch có v i h gia ình.ở litoma và sapolit àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ỉnh của Trung Quốc hiện nay là Hồ Nam (Tương), Quý àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngCác gia ình khi ó phân b th nh m t kh i d i theo àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ịch hàng năm và là một trong nhữnga th c a núi thu c khu v c ủa huyện Sa Pa ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1; Đột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngi 1

c a l ng Cát Cát hi n nay Quy mô c a l ng Cát Cát trong m y ch c n m qua có s thayủa huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ủa huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ấn Sa Pa ục đường Sa Pa – Sín Chải, ăng hùng vĩ, làng Cát Cát ự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1;

i nhanh chóng v i s h , s kh u ông h n trới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ẩm trung bình năm đạt > 90% Các hiện tượng thời tiết đặc ơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ấn Sa Pa.c r t nhi u V o nh ng n m ề mặt san àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ững ăng hùng vĩ, làng Cát Cát ầu hết là đáy thung lũng xâm thực sâuu th

k 20, to n l ng Cát Cát c ng có ch a - àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ũng xâm thực sâu ư n 20 h thì cho ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những n nay, n i ây ã có 72 h v iơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát

545 nhân kh u; trong ó ngẩm trung bình năm đạt > 90% Các hiện tượng thời tiết đặc ư i Mông có 511 ngư i, chi m 93,76% dân s to n l ng Di nàng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cáttích khu v c c trú c a l ng do ó c ng ã m r ng v i 4 c m (ự nhiên của làng là 14,47 ha; phía đông giáp làng Ý Lình Hồ 1; ư ủa huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ũng xâm thực sâu ở litoma và sapolit ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong những ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ục đường Sa Pa – Sín Chải, ột lượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngi) dân c m h g i lư àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa ọng điểm du lịch của huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát

Y chua s nh ểnh a gi i c a l ng hi n Địch hàng năm và là một trong những ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ủa huyện Sa Pa àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ượng lớn khách du lịch hàng năm và là một trong nhữngc xác ịch hàng năm và là một trong nhữngnh phía B c ti n g n ắc giáp ầu hết là đáy thung lũng xâm thực sâu n th tr n Sa Pa,ịch hàng năm và là một trong những ấn Sa Pa.phía nam v phía ông áp sát các l ng Sín Ch i v Ý Lình H 1, phía tây giáp v i tr càng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ải, àng Liên Sơn, dưới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ồ 1; ới chân núi Phan Si Păng hùng vĩ, làng Cát Cát ục đường Sa Pa – Sín Chải,

ng Sa Pa – Sín Ch i

Cũng như người Mông ở các nơi khác, người Mông ở Cát Cát thích cư trú độc lập, khôngxen kẽ với dân tộc khác 34 người thuộc các thành phần dân tộc khác hiện đang cư trú ở CátCát hiện nay là giáo viên, cán bộ y tế đang công tác tại làng và đưa cả gia đình về cư trú ngaytại nơi công tác Các dòng họ người Mông cũng thường quần tụ thành các chòm xóm riêng, ítkhi đan xen Người Mông ở Cát Cát có 5 dòng họ là Vàng, Thào, Má, Sùng và Lồ Trong đó, 2dòng họ có công khai phá làng là họ Vàng và họ Má quần cư chủ yếu ở khu trung tâm của làng

2 Giàng Seo Gà.Sđd, tr.17

Trang 5

(Đội 1) với 23 hộ gia đình Các gia đình tách hộ từ 2 dòng họ trên và các hộ thuộc các dòng họđến sau cư trú ở các khu vực xa hơn là Đội 2, Đội 3 và Đội 4 [Xem biểu].

vợ chồng ghét nhau không bỏ được cái giường”

1.3 Văn hóa – xã hội

Người Mông ở Cát Cát cho đến nay vẫn bảo tồn khá nguyên vẹn những yếu tố văn hóatruyền thống của mình Các yếu tố văn hóa vật thể như nhà cửa, trang phục không chỉ có chứcnăng sinh học mà còn có nhiều chức năng xã hội và văn hóa Nhà cửa của đồng bào có bố cụcmặt bằng sinh hoạt gắn kết chặt chẽ với mối quan hệ gia đình, phân vị chủ khách rõ ràng.Trang phục của họ mang đậm bản sắc tộc người trong cả cách tạo dáng và các đồ án hoa văn

Nó phản ánh các tri thức bản địa về kỹ thuật tạo tác nhà cửa, trang phục; những tâm thức tínngưỡng: thờ cúng, kiêng kỵ; và tư duy thẩm mĩ cộng đồng

Văn hóa phi vật thể của người Mông không chỉ được thể hiện qua những tri thức bản địatrong sản xuất, trong các thể chế xã hội mà còn được phản ánh trong thế giới quan tôn giáo vàcác loại hình nghệ thuật cổ truyền, nhất là văn học, dân ca, dân vũ, lễ hội và các trò chơi dângian Giai điệu trầm buồn của chiếc khèn Mông, nỗi xót xa của “tiếng hát mồ côi”, sự cay cựccủa “tiếng hát làm dâu” hay âm hưởng da diết nhớ thương của “tiếng hát tình yêu”… Các lễhội nào xồng, gầu tào, chợ phiên hay các dịp cưới hỏi, tang ma… là môi trường tích cực trongviệc nuôi dưỡng các giá trị văn hóa phi vật thể cổ truyền

Cấu trúc xã hội của người Mông ở Cát Cát thể hiện qua những mối quan hệ từ thấp đếncao như gia đình, dòng họ, làng và liên làng Gia đình được coi là tế bào nhỏ nhất, là môitrường đầu tiên để mỗi cá nhân tiếp thu những giá trị văn hóa truyền thống Dòng họ tuykhông còn tồn tại với tư cách là một tổ chức kinh tế, xã hội nhưng vẫn có vai trò quan trọngtrong ý thức về cội nguồn thể hiện ở quan niệm về một ông tổ chung Làng là một môi trườngcộng cư, cộng sinh, được góp mặt bởi 5 dòng họ: Vàng, Thào, Má, Sùng và Lồ Đó là một xãhội tự quản, vận hành theo những định chế riêng Làng Cát Cát cũng thường có mối liên hệ

Trang 6

qua lại với các làng khác dưới nhiều hình thức: họ tộc, hôn nhân, anh em kết nghĩa và ý thức

về một tộc người thống nhất trong ngôn ngữ và văn hóa

2 PHONG TỤC LÀM NHÀ VÀ VÀO NHÀ MỚI CỦA NGƯỜI MÔNG Ở CÁT CÁT

2.1 Quá trình chuẩn bị

2.1.1 Nguyên vật liệu làm nhà

Nằm trong khu vực Bảo tồn vườn quốc gia Hoàng Liên, Sa Pa nổi tiếng về rừng, đặc biệt

là các loại gỗ thuộc họ sa mộc như thông, pơ mu và các loại gỗ lim, dổi, lát thơm… Xưa nay,người Mông ở Cát Cát vẫn sử dụng các loại gỗ này để làm nhà Từ cột, kèo, quá giang đến vánthưng vách, ván lợp đều được làm từ gỗ tốt Trước đây, gỗ pơ mu trong vùng cư trú của ngườiMông ở Cát Cát còn nhiều Người Mông nơi đây đã biết tận dụng lợi thế này để khai thác làm

nhà Gỗ pơ mu có hai loại khác nhau gọi theo tiếng Mông là pê mù và thư soa Trong đó, pê

mù là loại cây có thớ thẳng, dễ xẻ, dễ bổ; còn thư soa là loại gỗ có thớ soắn, khó tạo tác hơn

nên đồng bào thường chọn loại thứ nhất để làm Khi vào rừng, những người có kinh nghiệmchỉ cần nhìn lá cây là có thể phân biệt được chúng

Theo kinh nghiệm dân gian, nơi có nhiều gỗ to, gỗ tốt thường ở trong các hẻm núi, khesuối trong rừng Trước đây, khi rừng còn sát khu dân cư, việc lấy gỗ ít vất vả hơn Ngày nay,đồng bào thường phải đi xa nhà Nơi lấy gỗ thường cách khu dân cư của thôn Cát Cát từ 1 giờrưỡi đến 3 giờ đi bộ đường rừng Ở đó, rừng già vẫn còn nhiều với những cây gỗ lớn và trungbình Mật độ bình quân 10 m/cây Có những cây có đường kính gốc lên tới 2 – 3 người ôm.Người Mông ở Cát Cát khi chọn gỗ làm nhà thường chú trọng vào bộ khung, mái và váchnhà Mỗi bộ phận lại sử dụng những loại gỗ khác nhau Theo đó, gỗ làm khung nhà (cột, kèo,câu đầu, xà vượt, xà ngang…) thường được làm bằng gỗ lim, dẻ trắng (không có quả), dẻ đỏ(có quả), mái và vách nhà thường làm bằng gỗ pơ mu loại thớ thẳng để dễ bổ, xẻ Khi chế tác,đồng bào sử dụng đơn vị đo là sải tay Các đoạn ngắn được cắt thành từng khúc có độ dài từ0,8 đến 1,2 m rồi bổ ra để làm tấm lợp Các tấm lợp to nhỏ phụ thuộc vào cây nhưng phải có

độ dài giống nhau vì không được đẽo gọt nên chúng không phẳng nhưng khi lợp gối lên nhaukhá nhiều nên không bị dột Các bức tường, vách cũng được làm bằng gỗ Một ngôi nhà đượclàm bằng gỗ pơ mu có tuổi thọ có thể lên tới hàng trăm năm

Chuẩn bị gỗ làm nhà là công đoạn tốn nhiều thời gian và công sức nhất trong toàn bộ quytrình dựng nhà Nhiều gia đình phải mất tới gần mười năm cho công đoạn này Trường hợp giađình ông Má A Dũng, trú tại đội 1, thôn Cát Cát – gia đình được chọn để thực hiện bảo tồnnghi lễ làm nhà và vào nhà mới của người Mông nơi đây là một ví dụ điển hình Ông Má ADũng (sinh năm 1984) lấy vợ cuối năm 2002 Theo phong tục của người Mông nơi đây, ngaysau khi có gia đình, ông Dũng đã xác định việc ra ở riêng và việc đầu tiên là phải cất được mộtngôi nhà để trú ngụ Từ đó, ông Dũng đã cùng các anh em trong nhà, trong họ để ý tìm gỗ để

Trang 7

khai thác Cho đến cuối năm 2009, gia đình ông mới khai thác được hơn 6m3 gỗ các loại đểlàm nhà.

Việc lấy gỗ làm nhà thường được người Mông tiến hành vào kỳ nông nhàn: từ thángmười âm lịch đến tháng chạp hàng năm Theo kinh nghiệm dân gian, để chống mối mọt, họthường đi khai thác gỗ vào hạ tuần các tháng ấy

Theo thông lệ, người Mông kiêng lấy gỗ từ những cây mọc chia chạc, cây cụt ngọn, câysét đánh, cây có dây leo bám ký sinh… Theo quan niệm dân gian, đó là những cây có “sốphận” không tốt, nếu lấy chúng về làm nhà thì cái vận xấu sẽ “lây” vào những người cư trú ởtrong ngôi nhà đó Những cây được ưu tiên lựa chọn thường là những cây to, mọc thẳng, ngọnvươn cao, vừa dễ tạo tác, vừa đáp ứng được những yêu cầu về tâm thức tâm linh cổ truyền.Người Mông ở Cát Cát xưa có quy định về việc sở hữu tài nguyên thiên nhiên nói chung.Theo luật tục cổ truyền, người chọn gỗ khi tìm được cây gỗ ưng ý sẽ đánh dấu sở hữu bằngcách dùng dao khắc lên thân cây một dấu nhân lớn ở vị trí vừa tầm mắt nhìn rồi phát quangmột khoảng xung quanh làm dấu Khi đã có dấu đó, người khác không có quyền xâm phạm.Luận tục cũng qui định trường hợp người nào cố ý khai thác cây gỗ đã có chủ thì người ấy sẽ

bị chủ gỗ phạt lý 1 con gà, 1 chai rượu; đồng thời phải trả lại toàn bộ số gỗ thuộc về cây đócho chủ cây Dĩ nhiên, trong trường hợp này, người vi phạm sẽ phải chấp nhận mất trắng toàn

bộ công sức chặt hạ, xẻ gỗ Tuy nhiên, trường hợp này chưa bao giờ xảy ra

2.1.2 Chọn đất làm nhà

Việc chọn đất làm nhà thường được người Mông ở Cát Cát tiến hành vào thời vụ nôngnhàn, khi gỗ đã chuẩn bị đủ hoặc gần đủ Miếng đất được chọn để làm nhà vừa phải ở nơitương đối bằng phẳng, gần nguồn nước, đảm bảo an toàn trước những biến cố của tự nhiênnhư sạt lở, sụt lún, lũ ống, lũ quét, tố lốc… Đồng thời, việc chọn đất còn phải kết hợp với việcchọn hướng tốt, tránh phạm phải những hướng được xem là tối kỵ Miếng đất được chọn cũngphải là đất lành để những người sống trong ngôi nhà ấy sau này mới “có làm, có ăn”

Như vậy, việc chọn đất là một công đoạn tốn ít thời gian nhất trong việc dựng nhà, khôngcần nhiều người và cũng không cần đến sức mạnh cơ bắp Tuy nhiên, nó lại đòi hỏi ở ngườithực hiện một kinh nghiệm dày dặn về phong thủy theo quan niệm cổ truyền và rành rọt về

“đường lý lẽ” của tổ tiên Vì vậy, ở công đoạn này, thường thì gia chủ là người đích thân thựchiện, nhưng trước đó, ông ta sẽ phải hỏi đến kinh nghiệm của những bậc cao niên và lĩnh hộitoàn bộ những tri thức mà người già truyền đạt lại Việc hỏi “đường lý lẽ” này thường đượcthực hiện trong các bữa rượu có sự tham gia của người già khi gia chủ có ý định làm nhà mới.Theo “cái lý” của người Mông ở Cát Cát, ngôi nhà không chỉ là nơi che nắng, che mưa,bảo vệ con người trước thú dữ, trộm cướp… mà đó còn là nơi để ma tổ tiên và các ma nhà cónơi trú ngụ Ma tổ tiên ở trên ban thờ theo dõi cuộc sống của con cháu và phù hộ con cháu làm

Trang 8

ăn Đồng thời, ngôi nhà phải được đặt trên miếng đất lành Muốn biết miếng đất ấy có lànhhay không, cách thức cổ truyền của họ là bói xem đất.

Người Mông ở Cát Cát bói xem đất dựng nhà bằng phương pháp bói hố thóc Phươngpháp này cũng được nhiều tộc người cư trú ở miền núi phía Bắc áp dụng Nhưng nếu như hầuhết các dân tộc khác và kể cả nhiều nhóm ngành, nhóm địa phương của người Mông chỉ đàomột hố thóc thì người Mông ở Cát Cát lại đào tới ba hố thóc

Thực hiện việc này, gia chủ phải xác định hướng nhà, rồi từ đó xác định nơi định đặt banthờ tổ tiên (ma nhà), nơi sẽ đặt bếp lò, nơi sẽ làm bếp khách rồi đào ở mỗi vị trí đó 1 hố sâukhoảng 40 cm, bỏ vào mỗi hố ba hạt thóc Trong số ba hạt thóc ấy, hạt thứ nhất tượng trưngcho con người, hạt thứ hai tượng trưng cho gia súc còn hạt thứ ba tượng trưng cho cây trồng.Một số người còn cắm thêm một cây nhỏ chính giữa ba hạt thóc, sau đó úp bát lên để qua đêm(có người để qua ba đêm) Theo phong tục của người Mông nơi đây, khi đào hố, đặt thóc cũngnhư úp bát lên miệng hố, gia chủ không cần cầu khấn gì mà cứ để đó rồi ra về Dấu hiệu đấtlành hay đất xấu sẽ được thể hiện ở những hạt gạo vào sáng hôm sau

Sáng hôm sau, gia chủ đến mở bát ra, nếu những hạt ấy không bị thay đổi vị trí, không bịmốc, không bị kiến tha thì được coi là nơi đất tốt, có thể ở được Nếu hạt gạo di chuyển ra xathì đất xấu; nếu bị mất một hạt là rất xấu, không thể ở được

2.1.3 Nhân lực làm nhà

Người Mông ở Cát Cát có truyền thống tương trợ lẫn nhau trong những việc cần đôngnhân lực tham gia như canh tác nông nghiệp, làm nhà, hiểu, hỉ… Do quan hệ xã hội cổ truyềngiữa các gia đình thành viên trong dòng họ (quan hệ huyết thống) và cộng đồng (quan hệ lánggiềng) rất khăng khít nên mỗi khi có việc, chỉ cần gia chủ đánh tiếng thì mỗi gia đình trong họ,trong làng sẽ cử ít nhất một người đến tương trợ

Việc tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng người Mông ở Cát Cát được thực hiện dưới

hính thức đổi công Luật tục của người Mông ở đây qui định: “Người Mông ta là một giống người, như là những cây lanh cùng một loại hạt gieo xuống đất Chúng ta tối lửa tắt đèn phải

có nhau… Lợn ăn rau, lợn hay cắn nhau nhưng hổ đến thì phải cùng nhau chống…” Câu

khẩu ngữ trên được lưu truyền qua các thế hệ và thường được những người già truyền lại chocon cháu những khi xum họp gia đình bên bếp lửa hay những khi xum họp cộng đồng bênmâm rượu (lễ hội, cưới xin…) Nó có tác dụng cố kết cộng đồng làng, dòng họ trong việcchống ngoại xâm, trộm cướp và cùng nhau khai phá đất ở, đất canh tác, cùng nhau khai thác tựnhiên, tạo lập cuộc sống

Một ngôi nhà của người Mông bao giờ cũng được thực hiện bởi sự đóng góp của nhiềungười trong suốt quá trình từ khâu lựa chọn và khai thác nguyên vật liệu, chọn đất, san nền chođến việc dựng nhà và vào nhà mới

Trang 9

Trong công đoạn lựa chọn nguyên vật liệu, người Mông dựa vào những kinh nghiệm củacha ông để lựa chọn những nguyên liệu tốt nhất và phù hợp với phong tục Những gia đìnhmới dựng nhà thường là những hộ mới tách hộ, chủ hộ còn trẻ tuổi, ít kinh nghiệm Khi ấy,trưởng họ hay những người già giàu kinh nghiệm sẽ truyền cho con cháu những nơi có nguồnnguyên liệu, những kinh nghiệm để nhận biết nguyên liệu tốt và qui cách khai thác nguyên liệusao cho có hiệu quả.

Việc xẻ gỗ, vác đá đòi hỏi nhiều nhân lực Người Mông nơi đây khi đi xẻ gỗ thường có 6– 8 người cùng tham gia; và cũng với ngần ấy người cùng chung tay vào việc khai thác đá Lúcnày, sức trẻ được phát huy Những người tham gia là những thanh niên và những người đànông có độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi Đó là những người thạo việc đi rừng, rành việc đốn gỗ, xẻván Sức trẻ còn cho họ nguồn năng lượng tràn trề trong cơ bắp, trong từng thớ thịt để có thểchặt hạ những cây to đường kính gốc có khi tới 2 người ôm trên những sườn núi dốc rồi lại bổ,

xẻ những cây gỗ ấy thành những xúc gỗ, những tấm ván theo đúng qui cách cổ truyền Vàcũng chính họ là những người mang những phiến đá, những xúc gỗ, ván gỗ bán thành phẩm vềnhà trên những tấm lưng trần và bờ vai săn chắc, những đôi tay cuồn cuộn cơ bắp

Việc san đất làm nền thường do 15 – 20 người cùng tham gia Khác với việc khai thác gỗ,san đất là một công việc không chỉ đòi hỏi sức cơ bắp mà còn cần phải có nhiều kinh nghiệm

để gia cố những chỗ đất yếu, xử lý tà ly để tạo mặt bằng hợp lý cho khuôn viên nhà Đồngthời, công đoạn san nền bao giờ cũng phải được thực hiện sau khi chọn hướng nhà, vị trí mởcửa chính, đặt bếp lò, cột ma… Lúc này, kinh nghiệm lại chiếm ưu thế, những người già giàukinh nghiệm lại cùng nhau bàn bạc, thống nhất chọn hướng nhà, giúp con cháu có được nềntảng cơ sở cho cuộc sống tốt đẹp mai sau

Dựng nhà là công đoạn đòi hỏi nhiều nhân lực tham gia nhất Một ngôi nhà của ngườiMông thường do 20 thanh niên và đàn ông trẻ, khoảng 10 – 12 phụ nữ và 1 – 2 người già giàukinh nghiệm Phân công lao động lúc này được quy định, người già lo việc chủ trì các nghi lễ,tính toán và đánh dấu các vị trí…; đàn ông vác gỗ, chôn cột, thưng ván, lợp mái, mổ lợn…;phụ nữ tham gia vào các phần việc đun nước, nhặt rau, nấu cơm… Theo thông lệ, trước khilàm nhà khoảng 2 – 3 ngày, gia chủ sẽ phải đến các nhà đánh tiếng nhờ anh em tương trợ

Lễ vào nhà mới và bữa liên hoan vào nhà mới được tổ chức ngay khi ngôi nhà đượchoànthành Tham gia vào lễ này là toàn bộ những người đã tham gia vào quá trình dựng nhà Đâyđược xem là một dịp đại sự của gia đình và là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng với những lễnghi tín ngưỡng và liên hoan cộng cảm Thông qua bữa liên hoan này, gia chủ bày tỏ lòng biết

ơn của mình đối với những người đã tham gia giúp mình dựng nhà Những thành viên kháctham gia vào bữa liên hoan cùng nhau nâng chén chúc cho gia chủ và gia đình có một cuộcsống ấm no, hạnh phúc

Trang 10

2.1.4 Chọn hướng nhà

Việc chọn hướng nhà được người Mông ở Cát Cát thực hiện ngay từ khâu chọn đất làmnhà Công việc này đòi hỏi người thực hiện phải có kinh nghiệm và thạo “đường lý lẽ” của tổtiên Đồng bào quan niệm một hướng nhà tốt nằm trên một mảnh đất lành là cơ sở tiền đề chomột cuộc sống tốt Vì vậy, đây là công đoạn được tiến hành rất thận trọng và do đích thân giachủ thực hiện dưới sự “cố vấn”, chỉ bảo cặn kẽ của những người già, nhiều kinh nghiệm tronglàng

Trong việc chọn hướng nhà, người Mông nơi đây có những qui định về việc tránh nhữnghướng, những vật mà đồng bào xem là kỵ, thậm chí là tối kỵ như sau:

- Kiêng quay hướng nhà về hướng Tây vì cho rằng đó là hướng mặt trời lặn, hướng độc.Nhà làm vào hướng đó thì của cải và cả con người sống trong ngôi nhà đó cũng sẽ sớm “khuấtbóng” theo mặt trời

- Kiêng quay hướng nhà về phương Bắc vì sợ ma giặc Hán nhìn vào nhà và sẽ làm hạinhững người trong nhà

- Kiêng quay hướng nhà đâm thẳng vào ngọn núi vì sợ bóng núi đè bóng người, nhữngngười sống trong nhà “làm nhiều mà cũng chẳng có ăn”

- Kiêng quay hướng nhà đâm thẳng và sườn dốc vì sợ sườn dốc ấy sẽ cản trở đường làm

ăn của gia đình

- Kiêng quay hướng nhà vào dông núi vì sợ các ma ác ngụ ở dông núi nhìn vào nhà

- Kiêng quay hướng nhà vào đỉnh núi võng yên ngựa vì cho rằng đó là thế bị bao vây,giặc đánh đến không có đường mà chạy

- Kiêng quay hướng nhà vào nơi có huyệt mộ người chết vì sợ hồn ma của người chếtnhòm vào nhà

- Kiêng quay hướng nhà đâm thẳng vào cửa hang vì sợ của cải sau này thất thoát hết, giađình sẽ không có tích lũy

- Kiêng quay hướng nhà đâm thẳng vào đầu đốc nhà khác vì sợ sau này hay có chuyệnxích mích, gây gổ

Hướng tốt thường được người Mông ở Cát Cát chọn để làm nhà là hướng chính Nam (tốtnhất), nếu không được hướng chính Nam thì có thể chếch về hướng Tây Nam hay Đông Namđều được vì đồng bào quan niệm phương Nam là mảnh đất lành, địa thế hiểm yếu, dễ phòngthủ, tránh được sự tấn công của giặc dã Đó cũng là nơi sản vật trù phú, tiện cho đà phát triển.Quan niệm này bắt nguồn từ lịch sử di cư của người Mông Đồng thời, trên thực tế, hướng

Trang 11

Nam cũng là hướng mát mẻ, phù hợp với thuyết phong thủy theo quan niệm âm dương, ngũhành và bát quái của nhiều dân tộc ở Á Đông.

Do cư trú ở vùng núi dốc nên hướng nhà của người Mông nơi đây cũng chịu sự qui địnhcủa điều kiện địa hình Trường hợp mảnh đất dựng nhà không được bằng phẳng thì người taphải chọn hướng nhà theo thế lưng tựa vào tà ly dương, mặt tiền hướng về phía dốc đổ nhưngcũng phải tránh được những điệu kỵ và tối kỵ nêu trên

Như vậy, hướng nhà của người Mông ở Cát Cát luôn quay về hướng Nam hoặc chếchĐông Nam, Tây Nam Hướng nhà quay xuống lung lũng hoặc khe núi Từ vị trí cửa nhà nhìnthẳng ra phía trước là không gian thoáng, rộng, không bí bách, không có các sự vật không lànhnhư cửa hang, ngọn núi, sườn dốc, dông núi, mộ huyệt, đầu đốc nhà khác… đâm thẳng vàocửa nhà

Với những ngôi nhà làm trên những mảnh đất dốc, việc xử lý tà ly luôn được chú trọng.Theo kinh nghiệm dân gian, tà ly dương luôn được làm thẳng đứng, vuông góc với mặt đất vàkhông được cao vượt mái nhà để tránh không cho nước mưa hay đất lở đổ thẳng xuống mái.Khoảng cách giữa tà ly dương với vách hậu ngôi nhà ít nhất cũng phải được 1 sải tay trở lênmới đảm bảo an toàn Việc xử lý tà ly âm được chú trọng vào khâu gia cố đất nền và kè đáchống sạt lở Để có được kết quả như mong muốn, người ta phải khai thác đá tảng dưới lòngđất trong vùng cư trú để kè chắc thành tà ly Sau đó, lại mang đá cuội từ lòng suối chảy qualàng lên đổ đầy vào những chỗ hõm sát với bờ kè tà ly âm để lấy mặt bằng sao cho cao bằngphần đất sát tà ly dương; sau đó đổ đất lên trên, dùng đầm tay nện chặt, Khi độn đá, người taphải tính làm sao để khu vực đó chỉ là khoảng sân trước mặt hoặc sân hai bên hồi nhà, tuyệtđối không ăn vào nền lòng nhà sẽ gây phức tạp cho việc chôn cột sau này

Với những mảnh đất nằm trên dạng địa hình bằng phẳng thì việc san nền diễn ra thuận lợihơn Ở những mảnh đất này, việc san nền chỉ là bẩy và chuyển những khối đá tảng nhô đầu lênmặt đất ra xa, cào bỏ lớp dăm sạn, đất phong hóa (nếu có) rồi đổ đất sét mịn lên trên là được

Trang 12

Việc san nền thường được đồng bào tập trung nhân lực tiến hành khẩn trương Thời gian choviệc san gạt mặt bằng một nền nhà thường khuôn gọn trong một ngày, thường từ khoảng 8 giờsáng đến 5 giờ chiều là hoàn tất Tuy cũng là công đoạn đòi hỏi nhiều nhân lực và kinh nghiệmnhưng người Mông ở Cát Cát trong khâu san nền nhà không có các lễ nghi cầu cúng, không cócác bài khấn tín ngưỡng và cũng không có tiệc rượu liên hoan.

* Khi đã có đủ gỗ, san xong nền nhà là coi như đã chuẩn bị xong các điều kiện cho việcdựng nhà Dĩ nhiên, mỗi gia đình khi chuẩn bị dựng nhà cũng còn phải chuẩn bị đủ một lượnglương thực, thực phẩm để cung cấp cho các lễ nghi tín ngưỡng trong quá trình dựng nhà vàbữa liên hoan vào nhà mới Tuy nhiên, đây không phải việc khó Ngoại trừ gà, rượu và xôi tímlàm lý cúng thổ không trong lễ động thổ là bắt buộc thì lượng rượu, thịt, rau xanh trong bữaliên hoan mừng nhà mới không có qui định cụ thể về số lượng mà tùy theo điều kiện của từnggia đình Theo tư liệu điền dã của chúng tôi tại lễ dựng nhà và vào nhà mới của gia đình ông

Má A Dũng ở đội 1, làng Cát Cát thì lượng đồ ăn thức uống trong bữa liên hoan này có 100 lítrượu; 80 kg thịt lợn (2 con lợn, mỗi con 40 kg), 50 kg gạo tẻ và khoảng 1 thúng rau cải bắp,quả xu xu, củ xu hào, cà rốt… Tuy nhiên, theo ông Dũng cho biết, bữa liên hoan này là dịp đểông mời anh em bạn bè xa gần đến chung vui nên mới làm nhiều như thế Còn theo thông lệ,các gia đình ở đây khi làm liên hoan vào nhà mới chỉ sử dụng khoảng một nửa số lượng rượuthịt nói trên

2.2 Quy trình dựng nhà

Người Mông ở Cát Cát thường dựng nhà vào khoảng thời gian từ tháng 10 âm lịch nămtrước đến tháng 2 âm lịch năm sau Ngày được chọn để làm nhà thường trong các ngày từmùng 1 đến ngày 19 âm lịch các tháng trên; trong đó tốt nhất là những ngày trăng tròn: 14 – 15– 16 Cũng như nhiều dân tộc khác ở vùng cao, đồng bào kiêng làm nhà vào những ngày trùngvới ngày mất của tổ tiên, ngày sinh của gia chủ Quy trình dựng nhà trải qua các bước dựngkhung nhà, lợp mái, thưng vách và hoàn thiện

2.2.1 Dựng khung nhà

Dựng khung nhà là công đoạn đầu tiên trong toàn bộ qui trình làm nhà mới Đây là côngviệc phức tạp nhất, nặng nhọc nhất và đòi hỏi sự chính xác cao Vì vậy, trước ngày làm nhàkhoảng 2 – 3 ngày, gia chủ phải đi đánh tiếng nhờ các gia đình trong họ, trong làng đến trợgiúp Trong số những người được nhờ đến giúp, phải có 1 – 2 người có nhiều kinh nghiệmtrong việc dựng nhà

Ngày khởi công dựng nhà, những người được nhờ tập trung ở bãi đất dựng nhà từ sángsớm (khoảng 6 giờ sáng) Sau lễ cúng động thổ, một vị cao niên giàu kinh nghiệm sẽ kiểm tralại hướng nhà lần cuối; sau đó xác định các vị trí đặt cột cái, cửa chính và bếp lò Từ ba điểm

Trang 13

này, bằng kinh nghiệm của mình, ông ta dùng các bước sải chân để tính toán và đánh dấunhững vị trí các cây cột còn lại trong bộ khung nhà.

Có được các vị trí đánh dấu, người ta mới bắt tay vào đào các hố chôn cột Công việc nàyđược tiến hành từ hố chôn cột cái Theo phong tục truyền thống, gia chủ phải là người trực tiếpđào hố này Trường hợp gia chủ ủy quyền đào cho người khác thì cũng phải bổ 1 – 2 nhát cuốcđầu tiên để “làm lý” rồi mới chuyển cho người được ủy quyền làm thay Đồng bào cho rằng

cột cái là nơi thờ ma lợn (Buô đangz) phù hộ cho cuộc sống và sự thịnh vượng của cả gia đình.

Vì vậy, gia chủ sẽ phải là người đào cái hố ấy thì cuộc sống gia đình sau này mới được xuôn

xẻ, mọi việc làm ăn mới diễn ra thuận lợi

Khi đào xong các hố chôn cột, người ta mới bắt tay vào việc chôn cột Cũng giống nhưkhi đào hố chôn cột, việc chôn cột cái cũng phải có sự góp sức của gia chủ Trong ý thức củangười Mông nơi đây, gia chủ là người thực hiện chính trong việc chôn cây cột cái, nhữngngười khác chỉ là giúp sức Sau khi đặt cột, gia chủ lấp đất vào chân cột, nện cho thật chặt rồimọi người mới buông tay để tiếp tục thực hiện việc chôn cột ở các vị trí khác Thứ tự các hàngcột được chôn lần lượt theo từng vì Đầu tiên là vì cột cái, rồi đến vì cột đối diện của gian giữa(giáp gian hồi bên phải) Thứ ba là hàng vì vách hồi bên trái và cuối cùng là hàng vì vách hồibên phải Ở mỗi hàng vì, cây cột giữa bao giờ cũng được dựng đầu tiên, sau đó mới đến 2 cộtquân

Bộ khung nhà truyền thống của người Mông có kết cấu ở dạng vì cột với bốn hàng vì,mỗi hàng ba cột Cột nhà truyền thống của đồng bào là cột tròn, đường kính cột thườngkhoảng 40 cm Tính từ mặt đất, cây cột cái cao khoảng 3,8 – 4 m để đỡ vì nóc (câu đầu) Haicột quân hai bên cao khoảng 2,5 m để đỡ xà vượt, xà ngang Khoảng cách giữa cột quân đếncột cái là 2,5 m tạo ra chiều sâu lòng nhà là 5 m Khoảng cách giữa mỗi bộ vì là 4 m; tổng 3

Sau khi chôn xong các cột, người ta lắp các thanh xà ngang, xà vượt, xà nóc Kỹ thuật lắpráp bộ khung nhà của người Mông là kỹ thuật mộng luồn Đầu mộng được chốt bằng đinh gỗ.Những mộng hở được xử lý bằng cách chèn thêm các miếng đệm bằng gỗ mỏng Trong việcdựng nhà theo qui cách cổ truyền, người Mông nơi đây kiêng dùng đinh kim loại đóng lên cáccấu kiện gỗ Đồng bào giải thích rằng nếu đóng đinh vào bộ phận nào trong nhà (cột, sàn,vách, lề cửa…) thì ma sẽ không dám về ở chỗ đó Những người ở trong nhà sẽ không đượcphù hộ

Sau khi các thanh xà được lắp vào các hàng cột, bộ khung nhà đã được liên kết và đãthành hình Người ta sẽ kiểm tra xem các cột đã thẳng hàng chưa, có ngay ngắn không, cácthanh xà có chắc chắn không Việc chỉnh sửa sẽ được thực hiện ngay khi phát hiện ra những

Trang 14

cấu kiện chưa đạt yêu cầu Khi bộ khung nhà đã ngay ngắn, người ta mới chèn đá vào các châncột, lấp đất và dùng đầm nện chặt cố định chân cột ở hố chôn.

2.2.2 Lợp mái

Mái nhà cổ truyền của người Mông ở Cát Cát được lợp hoàn toàn bằng ngói gỗ pơ mu,nhẹ và bền Kích thước của viên ngói gỗ tùy thuộc vào các xúc gỗ được dùng để xẻ ngói Yêucầu duy nhất của việc làm ngói là các viên ngói phải dài bằng nhau; chiều rộng, độ dày và độbằng phẳng của các viên ngói trên cùng một mái nhà có thể chênh lệnh đôi chút cũng được.Thông thường, ngói gỗ pơ mu của người Mông có chiều dài khoảng 70 cm; rộng 25 – 30 cm;dày khoảng 1 – 1,5 cm Chính giữa đầu mỗi viên ngói phải được trổ một lỗ nhỏ cỡ bằng đầungón tay cái để đóng chốt gỗ gim viên ngói vào các thanh đòn để giữ cho ngói không bị tuột,không bị bay khi có gió lớn Tuy mặt viên ngói thô ráp, gồ ghề nhưng do mật độ lợp khá dàynên nhà ở truyền thống của người Mông cũng ít khi bị dột, kể cả những khi mưa bão

Với đặc điểm của dạng ngói gỗ nêu trên, bộ khung đỡ mái nhà của người Mông không córui, mè mà chỉ bao gồm có đòn nóc và các đòn tay Các thanh đòn dài bằng chiều rộng củangôi nhà (12 m) Trong đó, các đòn nóc được làm bằng gỗ vuông tiết diện 10 x 10 cm hoặchình tròn với đường kính cũng khoảng 10 cm Theo quan niệm truyền thống của người Môngnơi đây, cây đòn nóc có ý nghĩa là vật chứa đựng tài lộc và vận hạn của gia đình Vì vậy, việcđặt đòn nóc phải do một người có gia đình, vợ chồng toàn vẹn, con cháu đề huề, gia đình khỏemạnh, sung túc đảm nhiệm Đòn nóc phải được đặt theo hướng ngọn quay về đằng Đông (phíamặt trời mọc) và gốc quay về đằng Tây (phía mặt trời lặn) Các đòn tay đặt cách nhau khoảng

45 – 50 cm đều về hai bên mái Trong một ngôi nhà truyền thống của người Mông nơi đây,người ta sử dụng hết 12 cây đòn tay, mỗi bên 6 đòn

Các thanh đòn được cố định với xà nóc bằng gờ mộng, đóng chốt gỗ (những ngôi nhàtạm được cố định bằng ngoãm tự tạo và dây buộc) Sau đó, người ta chuyển ngói lên mái đểlợp Việc lợp mái được thực hiện theo 2 kíp, mỗi kíp 3 người: 1 người chuyển ngói, 1 ngườiđón ngói, 1 người lợp ngói; mỗi kíp thực hiện việc lợp ở một bên mái nhà theo chiều dốc củamái Mái nhà được lợp bắt đầu từ nóc ngoài cùng bên trái, dàn theo hàng ngang đến tận cùngbên phải Lần lượt như vậy, hết hàng ngang đầu tiên mới thực hiện tiếp đến hàng ngang thứ hairồi đến hàng ngang thứ ba… cho đến hết Đầu ngói của các hàng ngang sau được luồn xuốngdưới thân ngói của hàng ngang trước theo kiểu so le Chốt đóng giữ đầu viên ngói ở hàngngang sau đóng luồn qua khe rãnh giữa hai viên ngói của hàng ngang trước và đóng ghim vàođòn tay Mỗi mái nhà ngói pơ mu cổ truyền người Mông nơi đây có 12 hàng ngói (ứng với sốđòn tay) lợp đều về 2 bên – mỗi bên 6 hàng Số lượng các viên ngói ở mỗi hàng ngang phụthuộc vào chiều rộng của viên ngói Khi lợp mái, người ta chèn nóc mái bằng một nửa thânbương lớn bổ dọc, bỏ mấu đốt để giữ mái Với cách lợp mái như trên, khi trời nắng, ngườiMông xưa khi cần lấy ánh sáng ban ngày vào vị trí nào trong nhà thì chỉ cần lấy sào đẩy đầu

Ngày đăng: 21/04/2014, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w