1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc

52 651 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Tác giả Hoàng Mạnh Hùng, Lê Văn Kha, Nguyễn Hữu Cường
Người hướng dẫn KS. Hoàng Mạnh Hùng
Trường học Viện Nghiên cứu Da - Giầy
Chuyên ngành Kỹ thuật da thuộc
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 747,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN NGHIÊN CỨU DA - GIÀY BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ Tên đề tài: "NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MỚI NHẰM RÚT NGẮN THỜI GIAN, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM DA

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

Tên đề tài:

"NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MỚI NHẰM RÚT

NGẮN THỜI GIAN, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM DA THUỘC THẢO MỘC"

Mã số: 240.10 RD/HĐ-KHCN

8403

Hà Nội, tháng 12/ 2010

Trang 2

VIỆN NGHIÊN CỨU DA - GIÀY

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

Tên đề tài:

"NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MỚI NHẰM RÚT

NGẮN THỜI GIAN, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM DA THUỘC THẢO MỘC"

Mã số: 240.10 RD/HĐ-KHCN

Viện Nghiên cứu Da - Giầy KS Hoàng Mạnh Hùng

Hà Nội, tháng 12/ 2010

Trang 3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

STT Họ và tên Học hàm,

Học vị

Cơ quan công tác Nhiệm vụ

1 Hoàng Mạnh Hùng Kỹ sư hóa,

Nghiên cứu viên Viện NCDG Chủ nhiệm

2 Lê Văn Kha

Kỹ sư thuộc da, Nghiên cứu viên

chính

Viện NCDG Cộng tác viên

3 Nguyễn Hữu Cường Kỹ sư thuộc da,

Nghiên cứu viên Viện NCDG Cộng tác viên

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Yêu cầu kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng đối với sản phẩm 22

Bảng 7 Quy trình công nghệ thuộc lại áp dụng cho da mũ giầy

Bảng 10 Quy trình công nghệ trau chuốt aniline da mũ giầy

Bảng 13 Công đoạn hoàn thành ướt da đế (Quy trình 12) 36 Bảng 14 So sánh chỉ tiêu chất lượng sản phẩm nghiên cứu và mẫu

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ

Trang 6

1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 9

PHẦN II THỰC NGHIỆM VÀ BIỆN LUẬN 21

2.1 Địa điểm thực hiện, thiết bị, nguyên liệu, hoá chất sử dụng 21

2.3 Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo máy lăn da thuộc thảo mộc 23

2.5 Công nghệ sản xuất da đế thảo mộc thuộc nhanh 33

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài "Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc", được tiến hành theo

Hợp đồng số 240.10 RD/HĐ-KHCN giữa Bộ Công Thương và Viện Nghiên cứu

Da Giầy Mục tiêu của đề tài là đưa ra quy trình công nghệ mới để sản xuất da thuộc thảo mộc (rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng sản phẩm) làm đế giầy và mũ giầy; nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy lăn da tanin để cho da được đanh, chắc, trơn bóng

Trên cơ sở phân tích mẫu da thuộc nhanh thảo mộc và máy lăn da của Liên

Xô (cũ) qua nghiên cứu tài liệu, ứng dụng các kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp, nhóm thực hiện đề tài đã đã tiến hành các thí nghiệm, hiệu chỉnh thông

số kỹ thuật Từ đó đã:

- Nghiên cứu thiết kế và chế tạo máy lăn da;

- Xây dựng được công nghệ thuộc nhanh thảo mộc và hoàn thiện da mũ giầy;

- Xây dựng được công nghệ thuộc nhanh thảo mộc và hoàn thiện da đế giầy Các sản phẩm này có công dụng và chất lượng tương đương sản phẩm nước ngoài

Tính mới của đề tài là công nghệ thuộc nhanh rút ngắn được thời gian thuộc Thời gian thuộc nhanh đối với da của các đề tài trước đây với da đế từ 48 đến 72 giờ và với da mũ giầy 30 đến 35 giờ; sản phẩm của da còn nhiều khiếm khuyết như độ đanh chắc chưa đạt Phương pháp thuộc nhanh của đề tài này đã nâng cấp chất lượng da thành phẩm tương đương da thuộc truyền thống của nước ngoài nhờ hoá chất mới và thiết bị máy lăn chuyên ngành cho da đế, đồng thời nhóm đề tài đã rút ngắn được thời gian thuộc đối với da mũ giầy còn 10 – 12 giờ, đối với da đế 35 – 40 giờ

Sau một năm làm việc nghiêm túc, khoa học, đề tài đã thực hiện đúng theo hợp đồng về nội dung nghiên cứu và tài chính Về mặt khoa học, công nghệ có tính chất khả thi và có thể áp dụng cho tất cả các cơ sở sản xuất thuộc da trong

Trang 8

nước Hoá chất sử dụng hầu hết là hoá chất sẵn có của các hãng nổi tiếng như Clariant, Stahl, Pielcolor, BASF, ATC… trên thị trường trong nước

Trang 9

1.1.2 Sự cần thiết của đề tài:

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác, da thuộc thảo mộc hàng năm có nhu cầu lớn để sản xuất các mặt hàng giầy dép cao cấp, vừa hợp vệ sinh, bảo đảm sức khỏe người sử dụng, vừa phù hợp thời trang Tuy nhiên, công nghệ thuộc da thảo mộc kéo dài, đòi hỏi đầu tư mặt bằng lớn, công suất lại không cao Công nghệ thuộc nhanh thảo mộc ở Việt Nam chưa được nghiên cứu bài bản nên chất lượng da thuộc còn kém so với các nước trong khu vực và trên thế giới

Đề tài "Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc" được tiến hành sẽ giải

quyết được vấn đề trên, tạo ra sản phẩm nội địa chất lượng cao

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu của đề tài là:

Đưa ra quy trình công nghệ mới để sản xuất da thuộc thảo mộc (rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng sản phẩm) làm đế giầy và mũ giầy; nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy lăn da tanin để cho da được đanh, chắc, trơn bóng

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quy trình công nghệ thuộc nhanh thảo mộc cho da bò làm mũ giầy và da đế Cùng đó là máy lăn da tanin để cho da được đanh, chắc, trơn bóng

Trang 10

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu sử dụng da bò làm da đế giầy và da mũ giầy quy mô nghiên cứu trong xưởng thực nghiệm

1.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát sưu tầm tài liệu, mẫu hàng nước ngoài

- Xây dựng tiêu chuẩn da thuộc thảo mộc

- Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ thuộc và hoàn thiện da thảo mộc: + Làm mũ giầy

+ Làm đế giầy

- Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy lăn da thảo mộc để cho da chắc, đanh, trơn, bóng

- Đánh giá hiệu quả đề tài

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phân tích mẫu nước ngoài; kết hợp nghiên cứu lý thuyết và thực hành, đánh giá kết quả qua từng thí nghiệm, hiệu chỉnh các thông số kỹ thuật trong quá

trình thực hiện nhằm tìm ra quy trình công nghệ tối ưu

1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Khoảng 10 năm lại đây, trong nước cũng đã phát triển mạnh mẽ việc

nghiên cứu, sản xuất mặt hàng da thuộc tanin thảo mộc Da thuộc tanin thảo mộc rất được ưa chuộng trên thị trường thế giới và Việt nam nhờ các tính chất ưu việt của nó về chất lượng và hình thức, dù giá bán rất cao Hơn nữa, so với các công nghệ thuộc khác, công nghệ thuộc da thảo mộc ít ảnh hưởng đến môi trường Da thuộc tanin thảo mộc được dùng làm mũ giầy, đế giầy, cặp, túi, ví và làm da công nghiệp Tuy nhiên, theo công nghệ cũ (thuộc bể) thì phải tốn diện tích xây dựng bể (10 bể), mặt khác thời gian thuộc rất lâu (tới 2 tháng) Sản phẩm da

thuộc cứng nên chỉ dùng làm đế giầy, chứ không dùng được làm mũ giầy

Trang 11

Đã có một số cơ sở bước đầu sản xuất da thuộc tanin, tuy nhiên do chưa

có sự nghiên cứu bài bản, hoá chất mới và thiết bị chuyên dùng nên chất lượng còn kém, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường

Viện Nghiên cứu Da- Giầy trong các năm gần đây đã tiến hành một số đề tài nghiên cứu có liên quan như đề tài thuộc tanin thảo mộc làm da mũ giầy năm

1998 và đề tài thuộc nhanh da đế năm 2000 tạo sản phẩm với chất lượng tương đối Song, thành công này mới chỉ là bước đầu, thiết bị máy móc chưa đầy đủ,

da thuộc còn chưa đạt yêu cầu về hình thức, chất lượng

Công nghệ sản xuất da thuộc thảo mộc mới sẽ sử dụng thùng quay da thay cho phương pháp thuộc bể cũ Nhờ có tác động cơ học và hóa chất trợ mới, chất thuộc thảo mộc sẽ xuyên vào và kết hợp với da nhanh hơn và tốt hơn

Đặc biệt khi áp dụng công nghệ mới này để sản xuất da thuộc thảo mộc, không thể không có thiết bị nén lăn mặt da, làm cho da đanh, chắc và trơn bóng

bề mặt Ở các nước có công nghệ thuộc da tiên tiến đều có sử dụng thiết bị này, nhưng ở nước ta hiện tại chưa có Với trình độ của Viện và mẫu tham khảo của nước ngoài, chúng tôi có thể nghiên cứu chế tạo thành công thiết bị máy lăn da thuộc thảo mộc này

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Công nghệ thuộc da bằng thảo mộc đã có từ lâu đời, tuy nhiên thời gian thuộc kéo dài, da cứng nên không được áp dụng rộng rãi Trong những năm gần đây, mặt hàng da thuộc tanin thảo mộc đã được quan tâm nghiên cứu sản xuất

do nhu cầu bảo vệ môi trường và của nền kinh tế dân sinh Một số nước đã có công nghệ thuộc nhanh và trau chuốt hoàn thiện mặt hàng này như: Ý, Hàn Quốc, Thái Lan…Sản phẩm da thuộc của họ đạt tới trình độ tinh xảo, có giá bán rất cao trên thị trường Đi kèm công nghệ là các thiết bị chuyên ngành, phù hợp với yêu cầu nghiên cứu và sản xuất Chính vì vậy, phần lớn các sản phẩm từ da thuộc loại này đều phải nhập từ nước ngoài Hi vọng rằng từ các điển hình mẫu mực trên, đề tài sẽ mô phỏng, áp dụng hợp lý vào điều kiện cụ thể ở các nhà máy thuộc da trong nước với công nghệ thuộc da truyền thống, khả năng kĩ thuật

và tài chính hạn chế

Trang 12

1.5.3 Một số cơ sở khoa học áp dụng trong đề tài:

1.5.3.1 Thành phần hóa học của da động vật

Da bò được tạo nên từ hai phần chính:

- Trên bề mặt là phần vẩy sừng (Epidermis)

- Phần cật là thành phần chính của da gồm có hai lớp: lớp trên (papillary layer) có cấu tạo sợi mịn, liên kết chặt chẽ tạo mặt cật cho da và lớp dưới (reticular layer) có cấu trúc mạng lưới, có độ dày lớn hơn lớp trên và là phần chính tạo độ bền cơ học cho da

Hình 1 Mặt cắt thiết diện da trâu bò

Thành phần hóa học của da gồm có nước, protein, chất béo và một vài muối khoáng Protein là thành phần chính tạo nên da thuộc Protein gồm có hai loại:

- Protein dạng sợi: là thành phần chính của da, quyết định tính chất cơ học

và lý học của da Có 3 nhóm chính là: collagen, elastin và keratin

- Protein không dạng sợi: globulin, albumin

Trang 13

1.5.3.2 Công nghệ thuộc tanin thảo mộc

Thuộc da thảo mộc là phương pháp thuộc lâu đời nhất Do cấu tạo phức tạp của tannin thảo mộc và collagen nên cơ chế hóa học xảy ra trong quá trình thuộc thảo mộc chưa được phân tích một cách hoàn hảo Sự kết hợp giữa tannin

và collagen không đủ bền khi thủy phân, được minh chứng qua nhiệt độ co của

da thuộc tannin tương đối thấp (75- 80oC)

Thuyết đầu tiên của A Seguin (1858) cho rằng quá trình thuộc thảo mộc

là quá trình tạo muối dạng tanat-collagen giữa nhóm kiềm của da và nhóm hydroxyl của dtanin

Thuyết của K Freudenberg cho rằng pha đầu tiên tannin tác dụng với collagen tạo hợp chất cộng, pha thứ 2 tạo nên hợp chất polymer thông qua quá trình polymehoas và ngưng tụ với ô xy trong không khí, pha thứ 3 là hợp chất polymetacs dụng với collagen

Còn theo thuyết E Stiasny, cơ chế thuộc thảo mộc là sự kết hợp giữa nhóm hydroxyl của tannin và nhóm peptid bằng cầu hydro

G.A.Arbuzov, S.I.Sôclov và A.N.Mikhailov cho rằng quá trình thuộc thảo mộc xảy ra theo 2 giai đoạn kế tiếp nhau Giai đoạn đầu tannin xuyên vào da, giai đoạn sau xảy ra phản ứng giữa các tannin đã xuyên vào da và ở bề mặt collagen Đồng thời trong giai đoạn này cũng xảy ra sự liên kết giữa collagen và nhóm hoạt tính của tannin, tạo liên kết điện hóa trị (electrovalent) theo sơ đồ sau:

Trang 14

- Tanin ngưng tụ: Được đặc trưng bởi các nhân benzen trong phân tử, được nối với nhau bằng cầu hóa trị = C – C = Tanin ngưng tụ không bị phân giải trong nước hay a xít loãng Trong a xít mạnh hoặc bằng phương pháp oxy hóa sẽ xảy ra quá trình ngưng tụ các chất tanin, tạo chất không tan trong nước được gọi

là flobafen

Các chất khác có trong tanin: Chất phi tanin, chất không hòa tan

Thuộc tanin tự nhiên ngày nay còn được dùng trong sản xuất da đế, da mũ giầy

Chỉ một số trường hợp sử dụng một loại tanin, còn phần lớn là sử dụng kết hợp các loại tanin tự nhiên Sự lựa chọn phụ thuộc vào tính chất của da thành phẩm

Các chất thuộc thảo mộc quan trọng nhất là Quebracho, Mimosa, Chestnut, Valonia, Myrobalan Các chất này được sử dụng chủ yếu ở dạng bột, rất ít khi ở dạng dung dịch

- Quebracho: được sản xuất từ cây Quebracho ở Nam Mỹ và được dùng trong công nghệ thuộc da đế là chủ yếu Khi thuộc lại, lượng dùng không lớn do Quebracho tạo cho da nặng và có màu sẫm

- Mimosa: được sản xuất từ vỏ cây có keo nhựa Nguồn cung cấp chủ yếu ở các nước Nam và Đông Phi, Braxin và Ấn Độ Mimosa có phân tử nhỏ hơn nên không những được dùng để thuộc da đế mà còn được dùng nhiều trong thuộc lại

da mũ giày, đặc biệt là loại da mũ giày có cải tạo mặt cật

Trang 15

- Chestnut: được sản xuất từ vỏ của cây dẻ, nguồn cung cấp chính là Pháp,

Ý, Nam Tư Chestnut cũng được dùng để thuộc lại da mũ giày, song lượng dùng không nhiều do phân tử lớn và da thuộc có màu sẫm

- Valonia và Myrobalan là chất thuộc thảo mộc chủ yếu dùng để thuộc da

đế, rất ít dùng trong công đoạn thuộc lại, do nó làm cho da nặng và sẫm màu Tính chất hóa học của tannin thảo mộc: Các chất thuộc thảo mộc là các hợp chất fenolic có trong thực vật Thành phần hóa học của chúng khác biệt so với các chất thuộc khác, nhưng tất cả các chất thuộc thảo mộc có một số đặc tính chung sau:

- Làm kết tủa dung dịch protein Mức độ kết tủa protein phụ thuộc vào độ chát (astringent) của thảo mộc Độ chát càng lớn, lượng protein kết tủa càng nhiều

- Có khả năng thuộc da, nghĩa là tannin thảo mộc có khả năng chuyển một

số nhóm ưa nước thành kỵ nước

- Với muối của kim loại năng khác nhau, tannin thảo mộc tạo các màu khác nhau Với muối sắt tạo màu xanh sẫm và xanh lá cây

- Tạo các vết màu không tan được với phẩm kiềm

- Hòa tan được trong nước, dung dịch có tính a xít yếu

- Hòa tan được trong acetone, acetate ethyl, hỗn hợp alcol và ete công nghiệp, nhưng không tan trong eter tinh khiết

Tính chất công nghệ của tannin thảo mộc: Làm cơ sở trong việc xác lập công nghệ thuộc và các yếu tố ảnh hưởng để tạo ra sự liên kết tốt nhất giữa tain và da Tính chất công nghệ của tanin được biết thông qua các tính chất của tanin là:

- Tốc độ xuyên: có liên quan đến yếu tố thời gian của công nghệ thuộc Tốc

độ xuyên nhanh, thời gian công nghệ sẽ giảm

- Mức độ hãm và kết hợp: Còn gọi là chỉ số hãm thể hiện lượng tanin hấp thụ hoặc hãm trên 100g bột da trong dung dịch 6% tanin và thời gian là 3 hoặc

24 giờ Chỉ số kết hợp thể hiện lượng tanin hãm mà không bị giải hãm (phản ứng ngược)

Trang 16

- Kết tủa với NaCl: Muối NaCl hòa tan trong dung dịch tanin sẽ làm kết tủa tanin bởi tanin là các hạt ưa nước Muối trong dung dịch khử nước của các hạt, làm giảm nồng độ tanin trong dung dịch Nếu tiếp tục tăng nồng độ muối, các hạt tanin bị khử nước càng mạnh và cuối cùng tanin sẽ kết tủa

- Kết bông (flocculation) với a xít vô cơ trong khoảng pH=7-10: Thêm lượng nhỏ a xít vào dung dịch sẽ làm giảm độ hòa tan của tanin và tạo kết bông Với các a xít hữu cơ ở khoảng pH tương tự, không gây kết bông như với a xít vô cơ Hiện tượng kết bông là do sự giảm và cân bằng điện tích của hạt tanin tích điện

âm và ion hydro tích điện dương

- Sa lắng khi có hoặc không có da trần: Mức độ sa lắng của dung dịch tanin phụ thuộc vào bản chất tanin, độ chát, thành phầnphi tanin, pH dung dịch Để hạn chế mức độ sa lắng chất tanin, trong công nghệ cần sử dụng kết hợp tanin thảo mộc với syntan có khả năng làm tăng độ hòa tan của tanin thảo mộc

Tanin tổng hợp: chất thuộc tổng hợp còn gọi là syntan, là hợp chất hữu cơ có khả năng kết hợp được với các nhóm chức của collagen tạo cho da không bị thối khi ngập nước Trong thành phần hoá học của syntan có chứa nhóm synfo (SO32-) để tăng khả năng hoà tan trong nước

Theo tính chất thuộc, syntan được chia làm 2 loại:

- syntan phụ trợ: là sản phẩm trùng ngưng của naphtalen Loại syntan này không có khả năng thuộc được da, chúng chỉ có khả năng tăng cường một số tính chất như ổn định pH của dung dịch trung hoà, tăng khả năng khuếch tán các chất thuộc

- syntan thay thế là sản phẩm trùng ngưng của phenol, có khả năng thuộc được da và thay thế các chất thuộc khác; có khả năng làm đầy các khoảng trống giữa các bó sợi nên được dùng làm đầy trong quá trình thuộc lại

K Freundenberg đã phân tain thảo mộc ra thành 2 nhóm theo bản chất liên kết của các phần trong phân tử, đó là:

- Tanin có khả năng thủy phân được: là các tanin có khả năng thủy phân thành các thành phần Các thành phần sau khi phân giải có cấu tạo hóa học đơn giản hơn

Trang 17

- Tanin ngưng tụ: Được đặc trưng bởi các nhân benzen trong phân tử, được nối với nhau bằng cầu hóa trị = C – C = Tanin ngưng tụ không bị phân giải trong nước hay a xít loãng Trong a xít mạnh hoặc bằng phương pháp oxy hóa sẽ xảy ra quá trình ngưng tụ các chất tanin, tạo chất không tan trong nước được gọi

là flobafen

Các chất khác có trong tanin: Chất phi tanin, chất không hòa tan

Thuộc tanin tự nhiên ngày nay còn được dùng trong sản xuất da đế, da mũ giầy

Chỉ một số trường hợp sử dụng một loại tanin, còn phần lớn là sử dụng kết hợp các loại tanin tự nhiên Sự lựa chọn phụ thuộc vào tính chất của da thành phẩm

Các loại da nặng như da dế thường được sản xuất theo phương pháp thuộc

bể truyền thống Có 2 cách: chu trình kín và ngược chiều Trong sản xuất công nghiệp, phần lớn áp dụng cách thuộc ngược chiều Da trần được đưa vào bể có nồng độ tanin thấp Sau đó da được chuyển qua bể có nồng độ tanin cao hơn Dãy các bể, trong đó tiến hành quá trình ngược chiều thường gồm 6 đến 14 bể

Bể đầu có nồng độ khoảng 7oE, tăng dần đến bể cuối khoảng 30oE Độ đậm đặc

là thước đo nồng độ tanin, tất nhiên cũng còn phụ thuộc vào loại tanin hòa tan Thuộc nhanh: Nhược điểm lớn nhất của công nghệ thuộc da tanin nặng là thời gian thuộc rất lâu Kể cả phương pháp thuộc kết hợp cũng không ngắn hơn 2- 3 tháng Thời gian kéo dài sẽ kèm theo đòi hỏi đầu tư lớn cho không gian nhà xưởng Bởi vậy người ta tìm cách để rút ngắn thời gian thuộc Phương pháp có ý nghĩa lớn nhất là thuộc nhanh Trong đó người ta sử dụng tính chất thích hợp của tanin tổng hợp (syntan) Syntan khuyếch tán vào da nhanh hơn, không bịt mặt da làm ngăn cản sự xuyên thấu của tanin tự nhiên Thuộc nhanh thường tiến hành trong phu lông, ở đó tanin tự nhiên nhờ sự trợ giúp của syntan phân tán và tác động cơ học sẽ xuyên vào da nhanh hơn Ma sát xuất hiện làm da nóng lên

và giảm độ nhớt Bởi vậy trong phu lông có thể dùng nồng độ tanin cao Phu lông thuộc có tốc độ nhỏ (4 – 6 vòng/ phút) Dung dịch thuộc có nồng độ 80 –

100oE Thời gian thuộc kéo dài 48 – 72 giờ

Trang 18

Tuy nhiên, da tanin thuộc nhanh có chất lượng kém hơn so với thuộc bể

Do tác động chuyển động cơ học của phu lông, cấu trúc da mở nhiều làm da mềm, kém đanh hơn da thuộc bể

Để khắc phục nhược điểm trên, da sau thuộc tanin tự nhiên cần phải thuộc lại và sử dụng thiết bị máy lăn da thảo mộc để cho da chắc, đanh, trơn, bóng Thuộc thảo mộc là quá trình gồm 2 bước cần thiết, mặc dù 2 bước đó không hoàm toàn tách biệt, mà trên thực tế có thể xảy ra đồng thời Bước đầu tiên là sự khuyếch tán của thảo mộc giữa các bó sợi và tế bào sợi da qua các mao dẫn, dần xuyên vào các sợi riêng biệt Bước 2 là sự kết hợp của tanin thảo mộc với collagen, nhờ đó da được thuộc Do đó cần lưu ý những yếu tố ảnh hưởng đến sự khuyếch tán của tanin, bởi vì da sẽ không được thuộc tốt nếu tanin không khuyếch tán vào cấu trúc collagen và kết hợp hoàn toàn

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự khuyếch tán là:

Thời gian ngâm da trong dung dịch tanin quyết định lượng tanin vào da Do

đó thời gian càng lâu thì tanin vào da càng nhiều

Nếu tăng nhiệt độ cũng sẽ tăng khả năng xuyên của tanin Khi nhiệt độ tăng,

độ nhớt của dung dịch giảm, sự chuyển động nhiệt của các phân tử tanin tăng

Trang 19

Độ a xít là một yếu tố ảnh hưởng tới sự khuyếch tán của tanin vào da.pH dung dịch tác động tới sự khuyếch tán bằng nhiều cách Trước hết là độ a xít làm tăng sự trương nở của sợi da, khoảng cách giữa các sợi giảm làm khuyếch tán giảm Thứ 2 khi pH giảm, đặc biệt khi pH dưới 3,5 thì khả năng kết hợp của tanin tăng nhiều, làm giảm sự khuyếch tán của tanin

Loại a xít có trong dung dịch cũng quan trọng Lượng nhỏ a xít vô cơ cũng tương đương lượng lớn a xít yếu (fooocmic, lắc tíc) để đạt cùng độ pH

Lượng a xít càng lớn, khả năng xuyên thấu của tanin càng giảm

Sự có mặt của muối trung tính sẽ thúc đẩy sự khuyếch tán của tanin bởi nó làm giảm sự trương nở của da

Khả năng xuyên của tanin bị ảnh hưởng nhiều bởi độ lớn phân tử tanin Tanin thảo mộc là hỗn hợp của các thành phần hữu cơ cao phân tử với nhiều độ lớn khác nhau, do đó các phân tử có độ lớn khác nhau.Tanin có kích thước phân

tử nhỏ sẽ khuyếch tán nhanh hơn Một số chất như bisulphit giúp tăng sự hòa tan một số kim loại làm tăng khả năng khuyếch tán của tanin Nếu tanin có độ chát cao thì sẽ cản trở khả năng xuyên của nó

Tác động cơ học cũng làm tăng khả năng khuyếch tán của tanin

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hấp thụ và kết hợp của tanin với da:

- Kích thước phân tử tanin

Dễ dàng nhận thấy các yếu tố ảnh hưởng tới sự khuyếch tán cũng ảnh hưởng tới sự kết hợp của tanin

Nồng độ dung dịch càng tăng thì khả năng kết hợp cũng càng tăng

Sự kết hợp cũng là quá trình hóa- lý với thời gian, nên thời gian càng lâu thì

sự kết hợp càng tăng

Phản ứng cũng tăng lên cùng nhiệt độ

Trang 20

Độ a xít giữ vai trò quan trọng trong thuộc bởi tanin được kết hợp với da trong khoảng pH=1-8, khả năng kết hợp cao nhất khi pH=2-3 Đó là khi các nhóm chức hoạt động mạnh nhất

Loại a xít cũng quan trọng với khả năng hấp thụ hoặc kết hợp Dung dịch tanin được a xít hóa tới độ pH nhất định bằng lượng lớn a xít yếu sẽ làm tăng khả năng kết hợp hơn khi dùng lượng nhỏ a xít mạnh

Sự có mặt của muối trung tính làm giảm sự kết hợp của tanin với da Dó có thể do sự trương nở của collagen bị giảm, các nhóm chức khó tiếp cận với collagen Do đó sự có mặt của muối trung tính sẽ làm da bị rỗng, xốp, đặc biệt khi lượng lớn

Kích thước phân tử tanin nhỏ thì khó kết hợp với da

Tóm lại, nguyên tắc thuộc tanin thảo mộc: Điều kiện của da và dung dịch tanin phải sao cho tanin có thể xuyên vào khoảng trống giữa các sợi tới mức độ thích hợp theo độ dầy của da Sau khi xuyên vào da, quá trình khuyếch tán và kết hợp sẽ xảy ra đồng thời Sự lựa chọn thích hợp điều kiện ở các bước thuộc sẽ tạo ra ảnh hưởng thúc đẩy quá trình khuyếch tán và kết hợp của tanin

Đối với da đế thuộc thảo mộc, để da đanh, chắc, người ta cho da ăn dầu khan trong phu lông nhiệt

Hình 2 Sơ đồ phu lông ăn dầu da đế

Trang 21

1.5.3.3 Máy lăn da thảo mộc

Da thuộc thảo mộc, đặc biệt là da thuộc nhanh đều xốp, mềm, mặt da không phẳng, bóng Vì thế khâu hoàn thành da thuộc thảo mộc không thể thiếu máy lăn da Nguyên tắc hoạt động của máy là lăn qua lại nhiều lần lên mặt da Nhờ áp lực của trục lăn, da được nén phẳng và bóng

Trước kia nhà máy da Thuỵ Khuê vẫn dùng máy lăn da của Pháp Ngày nay trên thế giới, các cơ sở thuộc da thảo mộc sử dụng máy lăn da của Nga, Đức, Ý

Hình 3 Máy lăn da CHLB Nga

Trang 22

PHẦN II THỰC NGHIỆM VÀ BIỆN LUẬN

2.1 Địa điểm thực hiện, thiết bị, nguyên liệu, hoá chất sử dụng

Tuy nhiên loại da này còn cần thêm một số thiết bị khác như máy lăn da thảo mộc để cho da chắc, đanh, trơn, bóng

2.1.3 Nguyên liệu và hoá chất sử dụng

Nguyên liệu da bò mới lột mổ hoặc da được bảo quản bằng các phương pháp bảo quản

Hoá chất sử dụng: Hoá chất của các hãng sản xuất hoá chất cho ngành thuộc

da đang có mặt tại thị trường Việt Nam như: Clariant, Stahl , Piecolor, Basf, ATC đây là các hãng có uy tín trên thế giới, đảm bảo các sản phẩm của họ không tồn dư các chất độc hại hiện bị cấm trên thị trường

2.2 Trình tự tiến hành và các giải pháp công nghệ

2.2.1 Các bước tiến hành

- Phân tích đánh giá các mẫu da thành phẩm của nước ngoài

- Kết hợp tài liệu chuyên ngành và kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học trước có liên quan để xây dựng quy trình công nghệ sản xuất nhanh da thuộc thảo mộc làm:

Trang 23

2.2.2 Phân tích mẫu nước ngoài

Phân tích, đánh giá mẫu sản phẩm da thuộc trâu bò làm gioăng, mũ giầy chịu

nước của nước ngoài, cụ thể của Thái Lan và Hàn Quốc

Bảng 1 Yêu cầu kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng đối với sản phẩm

Da không bị rạn mặt

- Da và nỉ không nhỏ hơn cấp 3

1-2 1-2

- Da và nỉ không nhỏ hơn cấp 3

- Da và nỉ không nhỏ hơn cấp 3

7 Độ bền kéo đứt N/mm2 Lớn hơn 20 13-15 Lớn hơn 20

Trang 24

2.3 Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo máy lăn da thuộc thảo mộc

2.3.1 Vài nét về máy lăn da:

Da thuộc thảo mộc sau khi phơi khô vẫn bị xốp, mềm, mặt da không bóng Đối với da thuộc nhanh, nhược điểm này càng thể hiện rõ hơn Vì vậy rất cần có máy lăn da Máy lăn hoat động theo nguyên tắc dùng áp lực lăn đè lên mặt da, làm cho da đanh, chắc Trước kia ở nước ta cũng đã sử dụng máy lăn da của Pháp, ngày nay trên thế giới cũng sử dụng nhiều máy lăn của Đức, Ý, Nga… 2.3.2 Một số thông số kỹ thuật của máy lăn:

Dựa trên mẫu máy lăn da nước ngoài (Pháp và Liên Xô cũ) và tài liệu về tính năng của máy, chúng tôi đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo và vận hành máy đáp ứng các yêu cầu đề ra:

- Chiều dài làm việc: 1,0 m

- Chiều dài trục lăn: 0,4 m

- Đường kính trục: 0,30 m

- Áp suất tối đa lên da: 1,5 KPa

- Công suất điện: 14 KW

2.3.4 Phương án thiết kế máy lăn da:

Phương án nguyên tắc hoạt động của máy lăn da: cho tấm da chuyển động theo chiều dọc tấm, trục lăn của máy chuyển động vuông góc với chiều chuyển động của tấm da Do đó cấu tạo của bệ máy và các hệ thống hoạt động của máy cũng bố trí phù hợp

Trang 25

2.3.5 Chế tạo máy lăn da:

Sau khi hoàn thành phần thiết kế, chúng tôi lựa chọn Doanh nghiệp Tư

nhân Cơ khí Quang Anh, là đơn vị có uy tín trong ngành cơ khí, nhất là trang

thiết bị ngành da giầy, đã từng nhiều năm chế tạo máy móc thuộc da cho Viện

Nghiên cứu Da- Giầy Doanh nghiệp có đủ năng lực về con người, trang thiết bị

để thực hiện việc gia công chế tạo theo bản thiết kế

Sau 4 tháng thi công, máy đã chế tạo xong, vận hành thử và hiệu chỉnh kỹ

thuật theo đúng yêu cầu

Máy đã và đang phục vụ tốt công tác nghiên cứu khoa học và sản xuất gia

công mặt hàng da đế thuộc tanin thảo mộc

2.4 Công nghệ sản xuất da mũ giầy thuộc thảo mộc

2.4.1 Công đoạn hồi tươi và tẩy lông- ngâm vôi, tẩy vôi- làm mềm:

Đây là khâu hoá- lý đầu tiên trong công nghệ thuộc da, bản chất chuẩn bị

thuộc là tạo các điều kiện thuận lợi cho các công đoạn tiếp theo

Chúng tôi áp dụng công nghệ hồi tươi, tẩy lông- ngâm vôi, tẩy vôi- làm

Trang 26

Bảng 3 Công đoạn tẩy lông - ngâm vôi (quy trình 2)

Tỷ lệ

(%) Hoá chất

Thời gian

(Phút)

Nhiệt độ

sau quay đảo 10’, chắt dung dịch

Ngày đăng: 21/04/2014, 14:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Leather technician hanbook by J.H. Shar phouse 1989 6. Leather international: April –2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leather technician handbook
Tác giả: J.H. Sharphouse
Nhà XB: Leather International
Năm: 1989
1. Ts Lưu Hữu Thục, Ts Đặng Tùng, Ts Nguyễn Trí Hạnh, Ks Nguyễn Hữu Cường, Sổ tay kỹ thuật thuộc da, Viện NCDG, 1994 Khác
2. TS. Trần Thị Nhàn, Báo cáo tổng kết đề tài NCKH, Viện NCDG, 1998 Khác
3. KS. Hoàng Mạnh Hùng, Báo cáo tổng kết đề tài NCKH, Viện NCDG, 2000 Khác
4. Technologie – kaze a kozesin akademik antonblazej; Ing. Antonin galatik, csc. Jan Galatik; Prof. Ing. Milan Mladek csc Praha 1984 Khác
7. Leather international: June –2002 Khác
8. Walton, A.G pratical leather technology London 2005 Khác
9. Journal of the American Leather chemists A ssociation 2003 –2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mặt cắt thiết diện da trâu bò - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Hình 1. Mặt cắt thiết diện da trâu bò (Trang 12)
Hình 2. Sơ đồ phu lông ăn dầu da đế - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Hình 2. Sơ đồ phu lông ăn dầu da đế (Trang 20)
Hình 3. Máy lăn da CHLB Nga - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Hình 3. Máy lăn da CHLB Nga (Trang 21)
Bảng 1. Yêu cầu kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng đối với sản phẩm - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 1. Yêu cầu kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng đối với sản phẩm (Trang 23)
Bảng 2. Công đoạn hồi tươi (quy trình 1) - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 2. Công đoạn hồi tươi (quy trình 1) (Trang 25)
Bảng 4. Công đoạn tẩy vôi, làm mềm (quy trình 3) - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 4. Công đoạn tẩy vôi, làm mềm (quy trình 3) (Trang 27)
Bảng 5. Công đoạn thuộc (quy trình 4)  Công - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 5. Công đoạn thuộc (quy trình 4) Công (Trang 28)
Bảng 6. Công đoạn thuộc (quy trình 5) - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 6. Công đoạn thuộc (quy trình 5) (Trang 29)
Bảng 8. Quy trình công nghệ thuộc lại áp dụng cho - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 8. Quy trình công nghệ thuộc lại áp dụng cho (Trang 31)
Bảng 9. Quy trình công nghệ xử lý trau chuốt da mũ giầy - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 9. Quy trình công nghệ xử lý trau chuốt da mũ giầy (Trang 33)
Bảng 10. Quy trình công nghệ trau chuốt aniline da mũ giầy - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 10. Quy trình công nghệ trau chuốt aniline da mũ giầy (Trang 34)
Bảng 11. Công đoạn thuộc da đế (quy trình 10)  Công - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 11. Công đoạn thuộc da đế (quy trình 10) Công (Trang 35)
Bảng 12. Công đoạn thuộc da đế (quy trình 11) - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 12. Công đoạn thuộc da đế (quy trình 11) (Trang 36)
Bảng 13. Công đoạn hoàn thành ướt da đế (quy trình 12) - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 13. Công đoạn hoàn thành ướt da đế (quy trình 12) (Trang 37)
Bảng 14. So sánh chỉ tiêu chất lượng sản phẩm nghiên cứu - Nghiên cứu công nghệ sản xuất mới nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc thảo mộc
Bảng 14. So sánh chỉ tiêu chất lượng sản phẩm nghiên cứu (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w