1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành

65 609 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amin thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Tác giả Kỹ sư Hoàng Thu Hà, Kỹ sư Bùi Thị Thanh Trúc
Trường học Viện Dệt May - Công ty Nghiên Cứu và Phát Triển ngành Dệt May Việt Nam
Chuyên ngành Công nghệ Dệt May
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp thực hiện - Tham khảo tài liệu nước ngoài về đánh giá ảnh hưởng của chất màu azo nói chung và thuốc nhuộm azo nói riêng tới sức khỏe con người và môi trường; - Tham khảo cá

Trang 1

VIỆN DỆT MAY

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ 2010

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT QUY ĐỊNH VỀ GIỚI HẠN

HÀM LƯỢNG CÁC AMIN THƠM CÓ THỂ GIẢI PHÓNG RA

TỪ THUỐC NHUỘM AZO TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN KHỬ TRÊN SẢN PHẨM DỆT MAY PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ

Trang 2

VIỆN DỆT MAY

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ 2010

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT QUY ĐỊNH VỀ GIỚI HẠN

HÀM LƯỢNG CÁC AMIN THƠM CÓ THỂ GIẢI PHÓNG RA

TỪ THUỐC NHUỘM AZO TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN KHỬ TRÊN SẢN PHẨM DỆT MAY PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ

CÔNG NGHỆ CỦA NGÀNH

Thực hiện theo hợp đồng số 090.10/HĐ-KHCN ký ngày 25/2/2010

giữa Bộ Công Thương và Viện Dệt May

Chủ nhiệm đề tài: Kỹ sư Hoàng Thu Hà Tham gia: Kỹ sư Bùi Thị Thanh Trúc

Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài

(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)

HÀ NỘI, 12/2010

Trang 3

DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU

1 Kỹ sư Bùi Thị Thanh Trúc

CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA PHỐI HỢP CHÍNH

1 Trung tâm thí nghiệm Dệt May – Viện Dệt May

2 Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Công Thương

Trang 4

MỤC LỤC

Chương I - Tổng quan về thuốc nhuộm azo … ……… ………….1

I Giới thiệu về thuốc nhuộm azo ……… ………….1

II Xem xét ảnh hưởng của thuốc nhuộm azo đến sức khỏe ……… ………… 4

Chương II - Đánh giá tính gây ung thư của các amin thơm ……… ………….8

I Các amin thơm thuộc nhóm I……… ……… ………….8

II Các amin thơm thuộc nhóm 2A ……… .………11

III Các amin thơm thuộc nhóm 2B ……… ……… 12

IV Các amin thơm thuộc nhóm 3 ……… ……… 19

Chương III – Xây dựng quy định về giới hạn hàm lượng các amin thơm giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may ……… ……… 20

I Phơi nhiễm với thuốc nhuộm azo và các amin thơm gây ung thư giải phóng từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may 20

II Sự cần thiết xây dựng “Quy định về giới hạn hàm lượng amin thơm có thể giải chuẩn ra từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may trong các điều kiện khử ……… 21

III Khảo sát hàm lượng amin thơm gây ung thư giải phóng từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may có trên thị trường Việt Nam ……… ……… 22

IV Tổng hợp, đánh giá hiện trạng của các văn bản luật trong nước có liên quan ……… 23

V Tóm tắt các yêu cầu trên thế giới về hàm lượng các amin thơm có thể gây ung thư giải phóng từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may ……… ……… 24

VI Đề xuất các giá trị giới hạn của hàm lượng các amin thơm giải phóng từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may ……… ……… 24

VII Bố cục của quy định … 30

VII Các ý kiến đóng góp 30

Kết luận và kiến nghị ……… ……… 33

Tài liệu tham khảo ……… ……… 34

Phụ lục I – Danh sách các thuốc nhuộm azo có thể tách khử ra các amin thơm gây ung thư ……… .36

Phụ lục II – Biểu kết quả thí nghiệm 51

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang Bảng 1 - Lớp thuốc nhuộm và các ứng dụng cho các loại xơ khác nhau…….….….……3

Bảng 2 - Giới hạn của hàm lượng amin thơm có thể gây ung thư có thể

giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may trong các quy

chuẩn kỹ thuật trên thế giới (cho mỗi amin)………23

Bảng 3 - Giới hạn của hàm lượng amin thơm có thể gây ung thư giải

phóng ra từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may trong các tiêu chuẩn

tự nguyện trên thế giới (cho mỗi amin) ……… 24

Bảng 4 - Lượng hấp thụ hàng ngày tính được của các amin thơm do

phơi nhiễm của người tiêu dùng với thuốc nhuộm azo trong quần

áo (các amin thơm “tự do” được gộp vào) ……….26

Bảng 5 - Rủi ro ung thư tính toán từ phơi nhiễm của người tiêu

dùng với các thuốc nhuộm azo trong quần áo (các amin thơm

“tự do” được gộp vào) ……… 29

Bảng 6 – Ý kiến đóng góp và tiếp thu 30

DANH MỤC ĐỒ THỊ - HÌNH VẼ

Trang Hình 1 – Nhóm azo ……….1 Hình 2 – Phân chia thuốc nhuộm azo có thể phân tách ra các amin thơm

gây ung thư theo lớp thuốc nhuộm ………4 Hình 3 – Ước lượng lượng đi vào cơ thể qua da/miệng của các amin thơm

gây ung thư từ quần áo có chứa thuốc nhuộm azo và các amin “tự do”;

x: thuốc nhuộm azo hoặc amin “tự do” ……….25

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

LD50 Lượng chất làm chết 50% động vật thử nghiệm khi được phơi nhiễm với liều

duy nhất

TD50 Liều tính bằng mg trên kg trọng lượng cơ thể trên ngày cần để giảm một nửa

xác suất của động vật thực nghiệm không bị khối u vào lúc kết thúc tuổi thọ tiêu chuẩn của các loài

NRL Mức rủi ro có thể bỏ qua

MPRL Mức rủi ro cho phép cực đại

Trang 7

TÓM TẮT KẾT QUẢ THỰC HIỆN Mục tiêu

Đề xuất được giới hạn hàm lượng các amin thơm tách khử từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may dựa trên cơ sở khoa học và hài hòa với các quy chuẩn/tiêu chuẩn hiện

có trên thế giới để không tạo thành rào cản kỹ thuật không cần thiết trong mậu dịch dệt may

Phương pháp thực hiện

- Tham khảo tài liệu nước ngoài về đánh giá ảnh hưởng của chất màu azo nói chung

và thuốc nhuộm azo nói riêng tới sức khỏe con người và môi trường;

- Tham khảo các chuyên khảo của cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế đánh giá rủi

ro gây ung thư của các amin thơm có thể gây ung thư, đã và đang được dùng để tổng hợp thuốc nhuộm azo;

- Tham khảo tài liệu đánh giá rủi ro ung thư do thuốc nhuộm azo giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trên quần áo và giày dép

- Tham khảo các luật và tiêu chuẩn trên thế giới kiểm soát thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may và tiêu dùng;

- Tổ chức hội thảo lấy ý kiến đóng góp

Kết quả

Đề xuất được dự thảo quy định giới hạn của hàm lượng các amin thơm có thể gây ung thư được giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo dựa trên cơ sở đánh giá mức rủi ro gây ung thư của các amin thơm được tách khử từ thuốc nhuộm azo có mặt trên sản phẩm dệt may Dự thảo còn quy định phương pháp lấy mẫu, phương thức đánh giá sự phù hợp, phương pháp thử, quy định về đánh giá sự phù hợp và các quy định khác về quản lý

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Thuốc nhuộm azo là lớp thuốc nhuộm quan trọng, chiếm tới 50% thuốc nhuộm được liệt kê trong Colour Index Trong số này khoảng 500 thuốc nhuộm azo được sản xuất từ các amin thơm có khả năng gây ung thư, và 150 thuốc nhuộm trong số 500 này hiện vẫn được bán trên thị trường Thuốc nhuộm azo dùng được cho rất nhiều loại vật liệu nền khác nhau: vật liệu dệt, da, giấy, plastic, dầu khoáng và sáp, mỹ phẩm và một số dược phẩm Hiện tại Việt Nam phải nhập toàn bộ thuốc nhuộm cho ngành nhuộm dệt từ nhiều nhà cung cấp và vùng lãnh thổ khác nhau Bên cạnh sản phẩm dệt may trong nước, Việt Nam vẫn nhập khẩu một lượng lớn sản phẩm dệt may để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng

Tuy nhiên, Việt Nam chưa có công cụ để kiểm soát hóa chất nguy hại này trong sản phẩm dệt may Dự thảo “Quy định về giới hạn hàm lượng amin thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may” được xây dựng để kiểm soát hóa chất này trên sản phẩm dệt may để bảo vệ an toàn cho người tiêu dùng Quy định được xây dựng hài hòa với các quy chuẩn/tiêu chuẩn về hàm lượng các amin thơm có khả năng gây ung thư giải phóng ra khỏi thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may hiện đang được thực thi trên thế giới để tránh tạo thành rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với mậu dịch dệt may

Trang 9

CHƯƠNG I – TỔNG QUAN VỀ THUỐC NHUỘM AZO

Thuốc nhuộm azo thuộc về nhóm chất màu azo có một hay nhiều nhóm tạo màu trong cấu trúc hóa học của chúng và do vậy có khả năng nhuộm màu cho rất nhiều vật liệu nền khác nhau: vật liệu dệt, da, giấy, dầu khoáng, sáp, thực phẩm, mỹ phẩm và một

số loại dược phẩm chống nhiễm khuẩn Các chất màu azo gồm cả thuốc nhuộm và pigment azo [1] Thuốc nhuộm azo tan trong môi trường ứng dụng, còn pigment azo có đặc tính nổi bật là có tính hòa tan cực thấp trong dung môi hữu cơ, và do đặc tính này mà pigment azo giữ gần như ở dạng rắn trong quá trình nhuộm, in và khi được đưa lên vật liệu nền [2] Do tính hòa tan cực thấp mà pigment azo không tạo ra mối nguy hại cho sức khỏe

Thuốc nhuộm azo là nhóm thuốc nhuộm tổng hợp lớn nhất với khoảng 2000 thuốc nhuộm khác nhau được liệt kê trong Colour Index Thuốc nhuộm azo chiếm đến 70% thuốc nhuộm hữu cơ được sản xuất và có mặt trên thị trường; và được sản xuất chủ yếu ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan và Achentina Ước tính hàng năm khoảng 7x105 tấn thuốc nhuộm azo được sản xuất trên toàn thế giới

I Giới thiệu về thuốc nhuộm azo

I.1 Cấu tạo hóa học của thuốc nhuộm azo [1,2]

Thuốc nhuộm azo là các hợp chất hóa học có chứa một hoặc nhiều nhóm azo Các nhóm azo này có chứa một liên kết đôi giữa hai nguyên tử Ni tơ

- N = N - Hình 1 – Nhóm azo

Thuốc nhuộm azo được sản xuất bằng quá trình diazo hóa Trước tiên amin thơm (còn được gọi là thành phần diazo) được chuyển thành hợp chất diazonium Phản ứng được thực hiện tại nhiệt độ thấp và với sự có mặt của natri nitrit và có thể là axit clohydric Thành phần diazonium sau đó phản ứng với thành phần tạo ngẫu hợp (có thể là phenol, naphtol hoặc amin) để hình thành thuốc nhuộm

Do có sự kết hợp rất lớn giữa thành phần diazo và thành phần tạo ngẫu hợp, mà có thể sản xuất ra rất nhiều loại thuốc nhuộm azo Thuốc nhuộm azo có thể có một hoặc nhiều nhóm azo, dẫn đến thuốc nhuộm azo có nhiều ánh màu, ứng dụng và độ bền màu Thuốc nhuộm azo có một nhóm azo được gọi là thuốc nhuộm monoazo, có hai nhóm azo thì gọi là diazo, sau đó là triazo và polyazo Các thuốc nhuộm azo có từ ba liên kết azo trở lên được gọi chung là thuốc nhuộm polyazo Thuốc nhuộm monoazo và diazo, triazo được sử dụng rộng rãi trong thương mại, còn thuốc nhuộm polyazo ít được sử dụng hơn

Trang 10

Phần của phân tử thuốc nhuộm azo tạo ra màu – nhóm mang màu – là liên kết azo nối đôi Nhóm mang màu của thuốc nhuộm azo làm thay đổi màu của vật liệu nền bằng cách hấp thụ có chọn lọc hoặc bằng cách phản xạ ánh sáng nhìn thấy, tức là ánh sáng có bước sóng xấp xỉ 400-750 nm

I.2 Độ ổn định của liên kết azo [1]

Liên kết azo được xem là phần không ổn định nhất của thuốc nhuộm azo Liên kết

dễ dàng bị thoái biến (bẻ gãy) bằng enzym, nhưng cũng có thể xảy ra quá trình thoái biến bằng nhiệt hoặc quang hóa Quá trình thoái biến dẫn đến sự tách phân tử và giải phóng amin thành phần

Các amin thành phần có thể giải phóng được ra khỏi thuốc nhuộm azo hầu hết là các amin thơm Các amin thơm có chứa các gốc anilin, các anilin mạch thẳng và các amin mạch đa vòng là thành phần của phần lớn các thuốc nhuộm azo quan trọng trong công nghiệp

I.3 Các tính chất kỹ thuật của thuốc nhuộm azo[1,2]

Tính đa dạng hóa học của thuốc nhuộm azo cho ra rất nhiều màu, chủ yếu là trong thang màu đỏ Một nhược điểm hạn chế của chúng là không có thuốc nhuộm azo nào có màu xanh dương

Phần lớn các thuốc nhuộm azo tan trong nước và chúng được dùng để nhuộm màu cho nhiều vật liệu nền khác nhau bằng phương thức gắn màu vật lý Các tính chất tốt của thuốc nhuộm azo là có tính ổn định cao với ánh sáng và độ bền màu giặt tốt, không bị vi khuẩn tấn công

Việc phân nhóm các thuốc nhuộm, kể cả thuốc nhuộm azo, thường phản ánh khái niệm ứng dụng được xác định nghiêm ngặt Phần lớn các thuốc nhuộm azo được sử dụng phổ biến thuộc về các nhóm sau:

• Thuốc nhuộm axit

• Thuốc nhuộm bazơ

• Thuốc nhuộm trực tiếp

• Thuốc nhuộm phân tán

• Thuốc nhuộm Mordant (thuốc nhuộm hãm màu)

• Thuốc nhuộm hoạt tính

• Thuốc nhuộm tan trong dung môi

Các thuốc nhuộm axit, bazơ, trực tiếp và hoạt tính là thuốc nhuộm ion, trong khi

đó thuốc nhuộm phân tán, mordant và thuốc nhuộm azo trong dung môi là thuốc nhuộm không ion

Trang 11

Từ trên có thể thấy rõ là thuốc nhuộm azo có thể được sử dụng để nhuộm tất cả các

loại vật liệu dệt Bảng dưới đây đưa ra mối quan hệ giữa các lớp thuốc nhuộm và vật liệu

dệt có thể nhuộm bằng các lớp thuốc nhuộm ấy

Bảng 1 - Lớp thuốc nhuộm và các ứng dụng cho các loại xơ khác nhau

(X): chỉ được sử dụng trong trường hợp đặc biệt

Theo bảng 1, thuốc nhuộm trực tiếp chủ yếu được dùng để nhuộm bông và xơ

xenlulo tái tạo, thuốc nhuộm axit chủ yếu được dùng nhuộm lông cừu, tơ tằm và poliamit,

còn thuốc nhuộm phân tán được dùng để nhuộm polyeste, poliamit và axetat

I.4 Các thuốc nhuộm azo có thể phân tách ra các amin thơm có khả năng gây ung thư

trong các điều kiện khử

Theo kiến thức khoa học hiện giờ, có khoảng 500 thuốc nhuộm azo có thể giải

phóng ra các amin thành phần có khả năng gây ung thư (đề nghị xem phụ lục I để có thêm

thông tin) Tuy nhiên, nhiều loại trong số đó đã không còn có mặt trên thị trường thế giới

Có tài liệu nói rằng hiện có khoảng 150 thuốc nhuộm azo thương phẩm được tổng hợp từ

amin thơm có thể gây ung thư Theo một tài liệu của Đức, tỷ lệ các thuốc nhuộm azo có

thể phân tách ra các amin thơm gây ung thư chia theo lớp thuốc nhuộm như được phản

ánh trong Hình 2[2]

Trang 12

Hình 2 – Phân chia thuốc nhuộm azo có thể phân tách ra các amin thơm gây ung

thư theo lớp thuốc nhuộm

Như vậy thuốc nhuộm trực tiếp với tỷ lệ 61% tạo nên phần lớn nhất các thuốc nhuộm azo có thể phân tách ra các amin thơm gây ung thư, tiếp theo đó là thuốc nhuộm axit và thuốc nhuộm phân tán

II Xem xét ảnh hưởng của thuốc nhuộm azo đến sức khỏe

II.1 Độc tính cấp tính[3]

Theo các tiêu chí của EU để phân loại các chất nguy hại thì độc tính cấp tính của các thuốc nhuộm azo là tương đối thấp Chỉ có một vài thuốc nhuộm azo có giá trị LD50

dưới 250 mg/kg trọng lượng cơ thể, trong đó phần lớn có giá trị LD50 trong khoảng

250-2000 mg/kg trọng lượng cơ thể, tức là để gây chết người thì cần tiêu thụ một liều đơn là

từ vài chục đến vài trăm gam thuốc nhuộm azo Remazol Black B® (Reactive Black 5) giới thiệu một nhóm thuốc nhuộm quan trọng – là các thuốc nhuộm azo mới hơn, tức là thuốc nhuộm hoạt tính Người ta đã thực hiện nghiên cứu toàn diện về độc tính cấp tính của thuốc nhuộm này Nghiên cứu chỉ ra rằng LD50 vượt quá 14.000 mg/kg trọng lượng

cơ thể, và thuốc nhuộm không gây kích thích da hoặc mắt

II.2 Gây dị ứng[2]

Người ta đã quan sát thấy hiện tượng mẫn cảm nghề nghiệp với thuốc nhuộm azo trong ngành dệt từ những năm 1930, khi 20% công nhân nhuộm bông bằng thuốc nhuộm azoic màu đỏ đã phát bệnh eczema nghề nghiệp

Từ năm 1930 đến năm 1988 số bệnh nhân bị bệnh viêm da do thuốc nhuộm vải còn thấp Từ năm 1990 các bác sĩ da liễu đã mô tả khá nhiều trường hợp Phần lớn các trường hợp là do dùng thuốc nhuộm phân tán trên sợi tổng hợp không có đủ độ bền màu của thuốc nhuộm Không có trường hợp nào là do pigment, chỉ do thuốc nhuộm Tất cả các trường hợp bị dị ứng đều là người tiêu dùng chứ chưa có trường hợp nào công nhân ngành dệt bị mắc bệnh

Trang 13

Các loại quần áo điển hình được nhắc tới trong các trường hợp dị ứng là quần áo

bó, bít tất dài phụ nữ, quần bó, lớp lót tóc giả, dây da đồng hồ đeo tay, khăn trải giường,

áo T-shirt Các phản ứng dị ứng không hạn chế tới các cá nhân đặc biệt nhạy cảm và bùng phát bệnh có thể nguy hiểm, yêu cầu điều trị cấp cứu và điều trị từ 2 đến 3 tuần

Trong các thử nghiệm con tem lâm sàng các thuốc nhuộm azo sau đã cho thấy tính chất gây dị ứng:

có tiếp xúc với da người Đức là quốc gia duy nhất cấm sử dụng các thuốc nhuộm gây dị ứng nói trên

Các thuốc nhuộm azo khác được dùng để nhuộm màu xơ tự nhiên đã được khảo sát trên 1814 bệnh nhân tham dự thử nghiệm lâm sàng con tem 0,88% bệnh nhân đã có phản ứng dương tính với các thuốc nhuộm sau: Direct Ornage 38 (8 ca), Axit Yellow 61 (5 bệnh nhân), Axit Red 359 (2 bệnh nhân) và Axit Red 118 (1 bệnh nhân)

Người ta đã nghiên cứu khảo sát thuốc nhuộm Remazol Black B® (Reactive Black 5) về tiềm năng gây dị ứng trong trên động vật thí nghiệm và thấy là âm tính Tuy nhiên

đã quan sát thấy một vài trường hợp phản ứng dương tính trên người

II.3 Gây đột biến [2]

Nói chung mối tương quan giữa các kết quả của thử nghiệm gây đột biến và ung thư trong các thử nghiệm thuốc nhuộm azo trên động vật là kém

Phần lớn thuốc nhuộm azo yêu cầu sự kích hoạt chuyển hóa, tức là khử và phân tách liên kết azo thành các amin thơm thành phần để cho thấy tính gây đột biến trong các

hệ thống thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro) Do vậy phần lớn các thuốc nhuộm azo, nếu có độ tinh khiết cao, ít nhất không có sự kích hoạt chuyển hóa, là âm tính trong các thử nghiệm như vậy

Trang 14

Nhiều thuốc nhuộm azo thương phẩm hiện nay có thể là do tạp chất, ví dụ nhiễm bẩn các amin thơm, cho thấy tính gây đột biến trong ống nghiệm

II.4 Gây ung thư [2]

Kể từ thế kỷ 19, sự phát triển của ngành thuốc nhuộm tổng hợp và nhất là thuốc nhuộm azo dựa trên các amin thơm đã góp phần vào phơi nhiễm nghề nghiệp hàng loạt

Mối tương quan giữa phơi nhiễm với các amin thơm và ung thư của người được báo cáo lại từ năm 1895 Có báo cáo về bốn trường hợp ung thư bàng quang, được gọi là

“ung thư anilin” trong số vài trăm công nhân tham gia vào sản xuất Fuscin từ các amin thơm nguyên liệu trong 15-29 năm Giữa những năm 1921 đến 1951, từ các trường hợp mắc bệnh đã tính toán ra rất nhiều các ca tử vong do ung thư bàng quang cho nam giới sản xuất thuốc nhuộm azo và được so sánh với tỷ lệ mắc ung thư bằng quang kỳ vọng ở Anh Người ta kỳ vọng chỉ có 4 ca tử vong do ung thư bàng quang trong khi đó lại thấy có

127 trường hợp tử vong Xấp xỉ 25% tất cả các công nhân bị phơi nhiễm với các amin thơm, kể cả 2-naphtylamin và benzidin đã phát bệnh ung thư bàng quang Các công nhân chỉ bị phơi nhiễm với benzidin có ít khối u hơn (15%) hơn là những người bị phơi nhiễm với 2-naphtylamin (50%) Một vài công nhân chưng cất 2-naphtylamin, tất cả đều chết do ung thư bàng quang

Trong hàng thập kỷ, có chứng cứ mạnh mẽ trên người cho sự kết hợp giữa ung thư bàng quang và ung thư khung xương chậu gần thận với các amin thơm cụ thể Ngoài ra,

có chứng cớ mặc dầu yếu hơn là ung thư dạ dày và ung thư phổi cũng có quan hệ với phơi nhiễm với các amin này Các amin thơm không gây ra khối u trên người tại vị trí phơi nhiễm, ví dụ phổi và da, mà thường tại một vị trí như là bàng quang

Thời gian ủ bệnh, gọi là thời gian giữa lần phơi nhiễm đầu tiên và chuẩn đoán ung thư bàng quang nằm trong khoảng từ 5 tới 63 năm Thời kỳ ủ bệnh trung bình xấp xỉ 20 năm, nhưng đã có mô tả các trường hợp ung thư sau một vài tháng phơi nhiễm

Mối liên quan giữa các amin thơm và ung thư bàng quang ở người dẫn tới việc xem xét cẩn thận khả năng gây ra ung thư bàng quang trong động vật thử nghiệm

Trên các động vật thử nghiệm, các amin thơm gây ra khối u ở gan, ruột hoặc bàng quang Ngoài ra, quan sát được các khối u ở tuyến vú và da của chuột

Khả năng gây ung thư của các amin thơm là đặc hiệu theo loài Trong các động vật thực nghiệm, benzidin gây ung thư sau khi uống bằng đường miệng và tiêm dưới da, gây

ra các khối u ở gan chuột và chuột đồng, trong khi đó ung thư bàng quang chỉ quan sát được ở chó

2-naphtylamin là chất gây ung thư bàng quang mạnh trên chó, nhưng nó không gây ung thư ở chuột và thỏ Sau khi cho phơi nhiễm với amin benzidin được thế, tỷ lệ mắc

Trang 15

ung thư bàng quang ở chuột được xử lý chỉ hơi tăng lên, nhưng ngoài ra lại quan sát được khối u ở thận

Mặc dầu thời gian ủ bệnh của ung thư bàng quang của người là tương đối dài, thời

kỳ này có thể rất ngắn cho quá trình gây ung thư cho động vật Người ta đã nghiên cứu các thuốc nhuộm dựa trên benzidin là Direct Balck 38*, Direct Blue 6* và Direct Brown 95* trong một nghiên cứu phơi nhiễm qua đường tiêu hóa, bán mãn tính, trong 13 tuần trên chuột Tất cả các thuốc nhuộm này gây ra tỷ lệ thay đổi bệnh lý cao (bướu ung thư nhỏ) và/hoặc ung thư gan trong vòng 5 tuần Điều này hầu như chắc chắn là thời kỳ ủ bệnh ngắn nhất được biết cho bất kỳ nghiên cứu hóa chất bào có tính gây ung thư

Trang 16

CHƯƠNG II – ĐÁNH GIÁ TÍNH GÂY UNG THƯ CỦA MỘT SỐ

• Nhóm 1 – các chất gây ung thư cho người: khi các kết quả nghiên cứu cho thấy

có đủ bằng chứng trên người về tính gây ung thư cho người và đủ bằng chứng trên động vật về tính gây ung thư cho động vật;

• Nhóm 2A – các chất hầu như chắc chắn là chất gây ung thư cho người: khi các kết quả nghiên cứu cho thấy có bằng chứng hạn chế về tính gây ung thư cho người và đủ bằng chứng về tính gây ung thư cho động vật;

• Nhóm 2B - các chất có thể là chất gây ung thư cho người: khi các kết quả nghiên cứu cho thấy chưa đủ bằng chứng về tính gây ung thư cho người và đủ bằng chứng về tính gây ung thư cho động vật;

• Nhóm 3 – các chất không phân được là chất gây ung thư cho người: khi các kết quả nghiên cứu cho thấy bằng chứng hạn chế về tính gây ung thư cho động vật

I Các amin thơm thuộc nhóm 1

I.1 Benzidin (Benzidin) CAS no 92-87-5

• Dữ liệu ung thư trên người

Các báo cáo tình huống và các nghiên cứu trên các công nhân ở nhiều nước đã chứng minh rằng phơi nhiễm nghề nghiệp với benzidin gắn liền với rủi ro ung thư bàng quan tăng cao Trong một trường hợp cá biệt, tất cả 5 công nhân làm việc liên tục trong nhà máy sản xuất benzidin trong 15 năm trở lên đã mắc ung thư bàng quang Dữ liệu trước đó cho thấy rằng tỷ lệ mắc ung thư bàng quang ở các công nhân giảm sau khi phơi nhiễm nghề nghiệp giảm Điều này được một nghiên cứu đoàn hệ tại nhà máy sản xuất benzidin ở Mỹ củng cố, tại nhà máy đó các biện pháp ngăn ngừa được thực hiện từ năm

1950 đã giảm phơi nhiễm của công nhân đến mức thấp nhất Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 1945-1979, và rõ ràng là sau đó tỷ lệ mắc ung thư bàng quang giảm ở các công nhân vào làm ở nhà máy sau năm 1950 Một vài nghiên cứu dịch tễ đã xem xét rủi ro ung thư gắn liền với phơi nhiễm chỉ với benzidin Trong một nghiên cứu tại nhà máy sản xuất thuốc nhuộm tại Italia, có thể phân biệt rõ rủi ro ung thư bàng quang rất cao (5 tử vong so với con số kỳ vọng là 0,06) gắn liền với sản xuất benzidin Trong số

Trang 17

25 công nhân tham gia sản xuất benzidin ở một nhà máy của Mỹ, 13 người đã phát bệnh ung thư bàng quang; Tất cả các trường hợp đều phơi nhiễm từ sáu năm trở lên Một chương trình giám sát 179 công nhân đang làm việc và 65 công nhân về hưu tại một nhà máy sản xuất thuốc nhuộm ở Nhật bản đã phát hiện 9 ca ung thư bàng quang trong thời kỳ

1968 tới 1981, và tất cả các ca đều là những người tham gia sản xuất benzidin

Các khảo sát khác đã cho thấy tỷ lệ ung thư bàng quang và đường tiết niệu cao sau khi đồng phơi nhiễm với benzidin và 2-naphtylamin Phơi nhiễm với hai hợp chất này cũng gắn liền với sự gia tăng ung thư tại các vị trí khác ngoài bàng quang, kể cả gan

Trong số 1061 công nhân sản xuất thuốc nhuộm ở Trung Quốc đã phơi nhiễm với benzidin, metylnaphtylamin và dianisidin, người ta đã thấy 21 ca bị cacxinoma bàng quang Tất cả những người này đều có tiền sử phơi nhiễm với benzidin, trong khi những người phơi nhiễm với metylnaphtylamin và dianisidin thì không ai mắc bệnh cả

• Dữ liệu ung thư trên động vật

Benzidin đã được thử nghiệm tính gây ung thư theo đường miệng trên chuột nhắt, chuột, chuột đồng và chó và phơi nhiễm qua đường tiêm trong bụng và đường hít thở đối với chuột Sau khi phơi nhiễm đường miệng với benzidin và các muối hydroclorua của

nó, người ta quan sát được sự gia tăng tỷ lệ mắc khối u gan lành tính và ác tính ở chuột nhắt và chuột đồng, ung thư tuyến vú trên chuột Benzidin gây cacxinoma bàngquang cho chó

Sau khi tiêm dưới da chuột hợp chất benzidin và muối sunphat của nó, người ta quan sát được tỷ lệ khối u tuyến Zymbal cao Sau khi tiêm benzidin vào bụng chuột, quan sát thấy sự gia tăng đáng chú ý tỷ lệ khối u tuyến vú và tuyến Zymbal

I.2 2-naphtylamin (2-naphthylamine) CAS no 91-59-8

• Dữ liệu ung thư trên người

Các nghiên cứu tình huống và nghiên cứu dịch tễ độc lập trong những năm 1950 tới 1960 đã cho thấy rằng phơi nhiễm nghề nghiệp với 2-naphtylamin, hoặc chỉ với chất này hoặc dưới dạng tạp chất trong các hợp chất khác là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư bàng quang

Hai nghiên cứu ở Mỹ đã xem xét tỷ lệ ung thư và tử vong của một nhóm công nhân hóa chất phơi nhiễm chủ yếu với 2-naphtylamin Trong một nghiên cứu, người ta thấy tỷ

lệ mắc ung thư bàng quang tăng đáng kể với 13 trường hợp quan sát được so với số kỳ vọng là 0,6 ca Hai báo cáo về phơi nhiễm nghề nghiệp tập thể tại một nhà máy sản xuất thuốc nhuộm ở Italia cho thấy rủi ro ung thư bàng quang rất cao liên quan đến sản xuất 2-naphtylamin (quan sát được 6 ca tử vong so với số kỳ vọng là 0,04) Các nghiên cứu về tỷ

lệ mắc bệnh từ Nhật Bản khi phơi nhiễm cả với 2-naphtylamin và benzidin đã cho thấy

Trang 18

rủi ro gia tăng rõ ràng bệnh ung đường tiểu và ung thư bàng quang, và có thể cả sự xuất hiện gia tăng ung thư tại một vài vị trí khác, kể cả gan

• Dữ liệu ung thư trên động vật

2-naphtylamin được thử nghiệm tính gây ung thư trên nhiều loại động vật thông qua phơi nhiễm đường miệng và bằng một thử nghiệm sinh học về u tuyến phổi của chuột nhắt Sau khi phơi nhiễm đường miệng, chất này gây khối u ác tính ở bàng quang chuột đồng, chó và động vật linh trưởng, và khối u ở gan chuột nhắt Người ta đã quan sát được

tỷ lệ cacxinoma thấp ở bàng quang chuột sau khi phơi nhiễm đường miệng Trong thử nghiệm sinh học trên chuột nhắt, 2-naphtylamin cho kết quả dương tính

I.3 4-aminobiphenyl (4-aminobiphenyl) CAS no 92-67-1

Vào giữa những năm 1950 đã có nghiên cứu về rủi ro ung thư bàng quang gắn liền với phơi nhiễm với 4-aminobiphenyl: trong số 171 nam giới phơi nhiễm với 4-aminobiphenyl trong thời gian giữa 1935 và 1955, 19 người đã phát triển các khối u bàng quang Quan sát này dường như là đủ bằng chứng để dấy lên yêu cầu chấm dứt sản xuất

và sử dụng rộng rãi hóa chất này Một chương trình giám sát các công nhân bị phơi nhiễm với hóa chất này được khởi xướng Trong 14 năm tiếp theo, 541 người được theo dõi lâm sàng và khám xét cẩn thận cho thấy 86 người có tế bào cặn đường tiểu là dương tính hoặc nghi ngờ là dương tính trong thời kỳ giám sát, và 43 người đã phát triển cacxinoma bàng quang

Trong một khảo sát về tỷ lệ tử vong do ung thư trên các công nhân tại một nhà máy hóa chất sản xuất nhiều hóa chất khác nhau, người ta đã báo cáo lại tỷ lệ tử vong do ung thư bàng quang tăng 10 lần Tất cả 9 trường hợp tử vong đã bắt đầu làm việc tại nhà máy

từ trước năm 1949, và tại nhà máy này có sử dụng 4-aminobiphenyl trong khoảng từ 1941 tới 1952

I.4 o-toluidin (o-toluidine) CAS no 95-53-4

• Dữ liệu ung thư trên người

o-toluidin được sử dụng trong sản xuất thuốc nhuộm, pigment và hóa chất cho cao

su Chất này có mặt trong nước tiểu của hầu hết mọi người nhưng người ta không biết được nguồn gốc xuất phát từ đâu Ở các bệnh nhân được gây mê, người ta phát hiện o-toluidin trong nước tiểu dưới dạng chất chuyển hóa

Hiện giờ có năm nghiên cứu để đánh giá tính gây ung thư của o-toluidin Hai nghiên cứu về tỷ lệ tử vong được tiến hành vào những năm 1980 trên các công nhân sản xuất thuốc nhuộm ở Italia và Mỹ Trong mỗi trường hợp, phân nhóm các công nhân phơi nhiễm với o-toluidin là nhỏ Hai nghiên cứu đoàn hệ gần đây ở Đức và Anh và một nghiên cứu lớn ở Mỹ trên các công nhân tham gia sản xuất 4-clo-o-toluidin và sản xuất

Trang 19

hóa chất cho cao su thấy các công nhân mắc ung thư bàng quang Cả bốn nghiên cứu này quan sát được tỷ lệ ung thư bàng quang cao vượt trội ở các công nhân phơi nhiễm với o-toluidin Rủi ro cao nhất là ở phân nhóm công nhân phơi nhiễm lâu nhất với o-toluidin

• Dữ liệu ung thư trên động vật

o-toluidin đã được thử nghiệm tính gây ung thư dưới dạng muối hydroclorua của

nó trong hai thực nghiệm trên chuột nhắt và trong ba thực nghiệm trên chuột Sau khi chuột nhắt phơi nhiễm đường miệng, quan sát thấy tỷ lệ mắc bệnh u máu, saccoma u máu

và cacxinoma tế bào gan hoặc u tuyến cao Trên chuột, phơi nhiễm o-toluidin đường miệng làm tăng tỷ lệ khối u ở nhiều cơ quan, gồm u xơ, saccoma và u trung biểu mô, u xơ tuyến vú, và cacxinoma nội mạc bàng quang

I.5 4,4-metylenbis(2-cloanilin) (4,4-methylenebis(2-chloroaniline)) CAS no 101-14-4

• Dữ liệu ung thư trên người

Trong một nhà máy sản xuất 4,4-metylenbis(2-cloanilin) đã xác định được ba trường hợp ung thư bàng quang không có triệu chứng bệnh, hai trong số đó là nam giới tuổi dưới 30 trong số 552 bệnh nhân Bệnh nhân ung thư được phát hiện trong một tầm soát bệnh ung thư trong một phân nhóm công nhân Kết quả này cho thấy số bệnh nhân ung thư là nhiều, tuy nhiên lại không tính toán số tử vong kỳ vọng

• Dữ liệu ung thư trên động vật

Trong ba nghiên cứu về phơi nhiễm qua đường miệng, chất này được thử nghiệm tính gây ung thư trên chuột nhắt qua đường thức ăn trong nghiên cứu thứ nhất, trên chuột đực và chuột cái trong hai nghiên cứu khác, trên chuột đực trong hai nghiên cứu tiếp theo

có sử dụng thức ăn có hàm lượng protein bình thường và thấp Kết quả là chuột nhắt cái tăng tỷ lệ khối u ở gan Trong loạt nghiên cứu trên chuột được ăn thức ăn có hàm lượng protein bình thường và thấp, thấy gây ra các khối u ở tế bào gan và các khối u ác tính ở phổi chuột đực và cái trong một nghiên cứu, một vài khối u ở tế bào gan chuột đực trong một nghiên cứu khác, và cacxinoma u tuyến ở phổi và các khối u tế bào gan của chuột đực và cái trong nghiên cứu thứ ba và khối u ác tính ở phổi, cacxinoma u tuyến ở phổi và khối u ở tế bào gan, cacxinoma u tuyến vú, cacxinoma tuyến Zymbal trong nghiên cứu thứ tư Chó cái được uống hóa chất này dạng viên nang đã được phát hiện cacxinoma nội mạc của bàng quang và tử cung Tiêm chất này dưới da chuột gây ra cacxinoma tế bào gan và các khối u ác ở phổi

II Các amin thơm thuộc nhóm 2A

II.1 4-clo-o-toluidin (4-chloro-o-toluidine) CAS no 95-69-2

• Dữ liệu gây ung thư trên người

Trang 20

Đã có ba nghiên cứu đoàn hệ về phơi nhiễm với 4-clo-o-toluidin Trong nghiên cứu về tử vong của 342 công nhân sản xuất thuốc nhuộm dựa trên các amin thơm tại Mỹ

từ năm 1914 tới 1958, các công nhân phơi nhiễm với o-toluidin, o-toluidin và axetyl-octo-toluidin Nghiên cứu này bị hạn chế do số lượng người phơi nhiễm với 4-clo-octo-toluidin là nhỏ và chỉ biết số người tử vong chứ không liên quan tới các trường hợp ung thư bàng quang

Nghiên cứu tử vong của 335 công nhân nam tham gia sản xuất và gia công octo-toluidin trong khoảng thời gian giữa năm 1929 và 1982 ở Essen (Đức), không ghi nhận được tử vong do ung thư bàng quang Các công nhân còn phơi nhiễm với các amin thơm khác là N-axetyl-o-toluidin, 6-clo-o-toluidin, o-toluidin và 4-clo-o-toluidin Tám công nhân sau đó được phát hiện cacxinoma đường tiểu trên trong khoảng thời gian giữa năm 1967 và 1985, hai trong số đó đã chết vào năm 1986

4-clo-Một nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 1950-1986 (với thời gian theo dõi liên tiếp trong 1950-1990) trên nhóm 49 công nhân nam phơi nhiễm với 4-clo-o-toluidin khi tổng hợp clodimeform (được phân vào nhóm 3 – không phân loại là chất gây ung thư cho người) Bảy trường hợp ung thư bàng quang được phát hiện trong khoảng thời gian 1982-1990 ở các công nhân phơi nhiễm với 4-clo-o-toluidin Tuy nhiên các công nhân còn phơi nhiễm với cả 4-cloanilin (được phân loại là chất trong nhóm 2B – có thể gây ung thư cho người) trong thời gian ngắn và với lượng 4-clo-o-toluidin nhỏ hơn

Do vậy, không thể loại trừ khả năng đồng phơi nhiễm với clodimeform và 4-cloanilin đã gây bệnh

• Dữ liệu gây ung thư trên động vật

Đã thử tính gây ung thư của 4-clo-o-toluidin và các muối hydroclorua của nó bằng đường miệng trong hai thực nghiệm trên chuột nhắt và chuột Các hợp chất này làm tăng

tỷ lệ saccoma ở lá lách và mô mỡ ở cả chuột nhắt cái và đực, nhưng không làm tăng tỷ lệ mắc khối u ở chuột

Trên người, 4-clo-o-toluidin gây độc tính cấp tính ở bàng quang toluidin và các chất chuyển hóa của nó đính vào các phân tử gan

4-clo-octo-4-clo-o-toluidin đưa ra các kết quả biến động trong phần lớn các thử nghiệm vi khuẩn về tính gây đột biến Trong khi hầu hết các thử nghiệm trên động vật có vú là dương tính thì các thử nghiệm làm rút ngắn nhiễm sắc thể lại đưa ra các kết quả đối nghịch Các dữ liệu này về tổng thể chỉ ra rằng 4-clo-o-toluidin gây tổn thương DNA ở tế bào của động vật có vú

III Các amin thơm thuộc nhóm 2B

III.1 o-aminoazotoluen (o-aminoazotoluene) CAS no 97-56-3

Trang 21

• Dữ liệu ung thư trên người

Hiện chưa có báo cáo tình huống hoặc nghiên cứu dịch tễ học về tính gây ung thư của o-aminoazotoluen cho người

• Dữ liệu ung thư trên động vật

o-aminotoluen là chất gây ung thư cho chuột nhắt, chuột, chuột đồng và chó, Sau khi phơi nhiễm qua đường miệng, người ta thấy chất này chủ yếu tạo ra các khối u ở gan, túi mật, phổi và bàng quang Amin thơm này cũng gây ra tác động ung thư sau khi chuột phơi nhiễm bằng các đường khác Có một số bằng chứng rằng o-aminoazotoluen sinh ra các u nhú ở bàng quang của thỏ sau khi phơi nhiễm bằng cách đưa trực tiếp chất vào bàng quang và sau khi cấy vào bàng quang Nó cũng có tác dụng trong liều duy nhất trên chuột mới sinh

III.2 4-cloanilin (p-chloroaniline) CAS no 106-47-8

• Dữ liệu ung thư trên người

Hiện giờ chưa có dữ liệu về ung thư trên người

• Dữ liệu ung thư trên động vật

Đã thử tính gây ung thư của 4-cloanilin trên chuột nhắt và chuột bằng phơi nhiễm qua thức ăn và đường ống xông vào dạ dày Amin thơm này tạo ra saccoma u mỡ trên chuột nhắt đực và cái tại nhiều bộ phận khác nhau sau khi phơi nhiễm qua thức ăn Nó cũng tạo ra saccoma u mỡ của lách và gan, u tuyến tế bào gan và cacxinoma trên chuột nhắt đực và cái được ăn bằng đường xông vào dạ dày Trên chuột người ta cũng quan sát thấy saccoma của lách và u nang lá lách trong cả hai nghiên cứu

Ngoài ra, còn thấy 4-cloanilin gây ra chứng rối loạn hemoglobin vận chuyển ô xy trong máu và được chuyển hóa tương tự ở người và động vật

4-cloanilin tạo ra tổn thương DNA trên vi khuẩn, nhưng đối với đột biến gen thì lại nhận được các kết quả đối nghịch nhau Trên các tế bào nuôi cấy của động vật có vú, người ta nhận thấy có đột biến gen, trao đổi nhiễm sắc thể chị em và rút ngắn nhiễm sắc thể, nhưng đối với biến đổi gen thì lại nhận được các kết quả đối nghịch nhau

III.3 4-metoxy-m-phenylendiamin (4-methoxy-m-phenylenediamine) CAS no 95-80-7

• Dữ liệu ung thư trên người

Mặc dầu đã có nghiên cứu dịch tễ học trên thợ làm đầu và những người sử dụng thuốc nhuộm tóc, nhưng không thấy đề cập đến tính gây ung thư của 4-metoxy-m-phenylendiamin

• Dữ liệu ung thư trên động vật

Trang 22

4-metoxy-m-phenylendiamin sunphat được thử nghiệm bằng đường ăn trong một thực nghiệm trên chuột nhắt và trong hai thực nghiệm trên một giống chuột Trên cả hai loài chuột này đều thấy phát triển u hoặc cacxinoma tuyến giáp Trên chuột cũng phát hiện các khối u ở da, bao quy đầu, âm vật, và tuyến Zymbal

Khoảng 2-4% liều bôi lên da được da người, khỉ và chuột hấp thụ Khi cho chuột phơi nhiễm với các liều cao của amin thơm này qua đường miệng trong thời gian ngắn, quan sát thấy tuyến giáp to lên và thay đổi vi lượng đồng cân hoocmôn tuyến giáp

4-metoxy-m-phenylendiamin là chất độc với di truyền trong ống nghiệm, gây đột biến di truyền và tổn thương nhiễm sắc thể Amin thơm này cũng gây đột biến ở vi khuẩn khi có mặt hoặc không có mặt phần các hạt vi thể của gan chuột, thỏ hoặc người chưa bị đột biến Chất này cũng làm ngắn nhiễm sắc thể, trao đổi nhiễm sắc thể chị em ở tế bào loài gậm nhấm trong ống nghiệm, tái tổ hợp phân chia tế bào ở nấm men và gây đột biến trên côn trùng Nhưng các kết quả của hầu hết thử nghiệm trên cơ thể động vật có vú lại

âm tính

III.4 4,4’-metylendianilin (4,4’-methylenedianiline) CAS no 101-7-9

• Dữ liệu ung thư trên người

4,4’-metylendianilin là chất gây độc cho gan Chưa có dữ liệu để đánh giá ảnh hưởng lên sinh sản hoặc độc tính với tiền sinh sản của 4,4’-metylendianilin

Hiện giờ chưa có báo cáo tình huống hoặc nghiên cứu dịch tễ để đánh giá tính gây ung thư của 4,4’-metylendianilin đối với người

• Dữ liệu ung thư trên động vật

4,4’-metylendianilin và muối dihyroclorua của nó được thử nghiệm tính gây ung thư bằng đường phơi nhiễm miệng trên chuột nhắt, chuột và chó Người ta đã quan sát thấy sự gia tăng tỷ lệ mắc u tuyến tế bào nang tuyến giáp và ung thư tế bào gan ở cả chuột nhắt đực và cái Trên chuột, người ta quan sát được sự gia tăng cacxinoma tế bào nang tuyến giáp và bướu nhỏ ở gan chuột đực và u tế bào nang tuyến giáp chuột cái Trong một nghiên cứu trên chuột, 4,4’-metylendianilin được đưa vào cơ thể qua đường miệng cùng với một chất gây ung thư đã biết, thấy tỷ lệ mắc khối u tuyến giáp lớn hơn tỷ lệ mắc khối

u do một loại chất gây ung thư gây ra

Dữ liệu hiện có chưa đủ để đánh giá ảnh hưởng đến sinh sản hoặc độc tính tiền sinh sản của 4,4’-metylendianilin đối với động vật

4,4’-metylendianilin là chất gây đột biến với Salmonella typhimurium khi có mặt

một hệ chuyển hóa ngoại sinh Nó gây tổn thương DNA của tế bào chuột đồng Trung Quốc V76 khi có mặt của hệ thống chuyển hóa ngoại sinh, và gây tổn thương DNA ở gan

Trang 23

của chuột và trao đổi nhiễm sắc thể chị em ở tủy xương của chuột nhắt khi thử nghiệm trên cơ thể chuột

III.5 3,3’-diclobenzidin (3,3’-dichlorobenzidin) CAS no 91-94-4

• Dữ liệu ung thư trên người

Có ba nghiên cứu dịch tễ trên các công nhân phơi nhiễm với 3,3’-diclobenzidin và không đưa ra được chứng cớ về tính gây ung thư của chất này, nhưng các nghiên cứu được đánh giá là chất lượng không tốt hoặc chưa đủ tin cậy về thống kê để loại trừ khả năng này Do 3,3’-diclobenzidin và benzidin cùng trong một nhà máy nên không loại trừ 3,3’-diclobenzidin làm tăng tỷ lệ mắc ung thư do benzidin gây nên

• Dữ liệu ung thư trên động vật

3,3’-diclobenzidin được thử nghiệm tính gây ung thư trên chuột nhắt, chuột, chuột đồng và chó theo đường phơi nhiễm qua miệng, trên chuột bằng đường tiêm dưới da và trên chuột nhắt bằng phơi nhiễm qua nhau thai Sau khi ăn vào, chất này gây ra các khối u

ở tế bào gan ở chuột nhắt, cacxinoma tế bào gan ở chó và khối u ở tuyến Zymbal trên chuột, và cacxinoma bàng quang trên chuột đồng và chó Người ta quan sát được tỷ lệ ung thư máu tăng lên ở chuột sau khi phơi nhiễm qua đường miệng và ở chuột nhắt sau khi phơi nhiễm qua nhau thai

Không có dữ liệu về độc tính di truyền và các ảnh hưởng có liên quan của diclobenzidin trên người Có báo cáo là chất này gây ra quá trình tổng hợp DNA không theo chương trình trên các tế bào người được nuôi cấy Amin thơm này gây đột biến cho

3,3-vi khuẩn

III.6 3,3’-dimetoxybenzidin (3,3’-dimethoxybenzidin) CAS no 119-90-4

• Dữ liệu ung thư trên người

3,3’-dimetoxybenzidin cùng với 3,3’-diclobenzidin và o-toluidin được chuẩn bị trong cùng một nhà máy với benzidin và do vậy đã góp phần vào rủi ro ung thư bàng quang gắn liền với benzidin Chưa có báo cáo tình huống nào về ung thư bàng quang do phơi nhiễm nghề nghiệp khi phơi nhiễm chỉ với hợp chất này

• Dữ liệu ung thư trên động vật

Sau khi cho chuột phơi nhiễm với amin thơm này bằng đường miệng, dimetoxybenzidin sinh ra khối u tại nhiều vị trí, gồm bàng quang, ruột, da và tuyến Zymbal Amin thơm này cũng gây ra các khối u nhú ở dạ dày tuyến của chuột đồng

3,3’-Hiện giờ chưa có dữ liệu về ảnh hưởng di truyền và các ảnh hưởng có liên quan của 3,3’-dimetoxybenzidin trên người Chất này gây ra trao đổi nhiễm sắc thể chị em trên

tế bào chuột đồng trong ống nghiệm và tổng hợp DNA không theo chương trình trên tế

Trang 24

bào người và tế bào gan chuột trong ống nghiệm Amin thơm này cũng gây đột biến cho

vi khuẩn

III.7 p-cresidin (p-cresidine) CAS no 102-50-0

• Dữ liệu ung thư trên người

Hiện giờ chưa có báo cáo tình huống hoặc nghiên cứu dịch tễ về mối liên hệ giữa phơi nhiễm với p-cresidin và ung thư trên người

• Dữ liệu ung thư trên động vật

Khi bị phơi nhiễm với p-cresidin qua đường thức ăn, p-cresidin gây khối u ác tính

ở bàng quang của cả chuột nhắt và chuột, khối u ác tính ở nguyên bào thần kinh khứu giác

ở cả chuột nhắt đực và cái, khối u gan của chuột đực Chất này cũng gây ra các khối u trong hốc mũi ở chuột nhắt đực và khối u trong tế bào gan ở chuột nhắt cái

p-cresidin là chất gây đột biến cho S.typimurium sau khi hoạt hóa chuyển hóa III.8 3,3-dimetylenbenzidin (3,3’-methylenebenzidin) CAS no 119-93-7

• Dữ liệu ung thư trên người

Hiện chưa có báo cáo nghiên cứu dịch tễ nào về tính gây ung thư của chất này trên người

• Dữ liệu gây ung thư trên động vật

Khi cho chuột phơi nhiễm với 3,3-dimetylenbenzidin qua đường dưới da, thì thấy amin thơm này là chất gây ung thư cho cơ thể Thực nghiệm phơi nhiễm qua đường miệng trên chuột còn mang tính nghi ngờ cao do số lượng chuột được thử nghiệm còn ít Trong thực nghiệm phơi nhiễm qua đường thức ăn, sản phẩm hóa chất thương phẩm không tạo ra khối u trên chuột đồng

III.9 4,4-thiodianilin (4,4-thiodianiline) CAS no 139-65-1

• Dữ liệu ung thư trên người

Cho đến giờ vẫn chưa có một báo cáo tình huống hoặc nghiên cứu dịch tễ học nào

về phơi nhiễm của người với chất này

• Dữ liệu ung thư trên động vật

4,4-thiodianilin được thử nghiệm tính gây ung thư trên chuột nhắt trong một thực nghiệm và trên chuột trong một thực nghiệm khác Cả hai thực nghiệm đều phơi nhiễm qua đường thức ăn Người ta thấy rằng amin thơm này là chất gây ung thư cho cả hai giới tính của cả hai loài Trên chuột nhắt, chất này gây ra cacxinoma của tế bào gan và cacxinoma hoặc u nhú của tuyến giáp trên cả hai giới Trên chuột, 4,4-thiodianilin gây ra cacxinoma tuyến giáp ở cả hai giới, cacxinoma tế bào gan và u nhú ống tai hoặc cacxinoma ở chuột đực và ung thư u tuyến cacxinoma dạ con của chuột cái

Trang 25

4,4-thiodianilin là chất gây đột biến cho vi khuẩn Salmonella typhimurium với kích

hoạt chuyển hóa

III.10 4,4-oxydianilin (4,4-oxydianiline) CAS no 101-80-4

• Dữ liệu ung thư trên người

Chưa có báo cáo tình huống hoặc nghiên cứu dịch tễ nào về phơi nhiễm của người với 4,4-oxydianilin trong sản xuất

• Dữ liệu ung thư trên động vật

4,4-oxydianilin được thử nghiệm trên chuột nhắt và chuột theo đường miệng và tiêm dưới da Trong hai nghiên cứu trên chuột, 4,4-oxydianilin đã gây khối u lành và ác tính ở tế bào gan sau khi qua đường miệng hoặc tiêm dưới da Trong một nghiên cứu khác, sau khi phơi nhiễm qua đường miệng và qua tiêm dưới da, đã phát hiện thấy các khối u lành và ác tính nang-tế bào của tuyến giáp Trong một nghiên cứu trên chuột nhắt

bị phơi nhiễm qua đường miệng, chất này đã gây ra các khối u lành và ác tính ở tế bào gan của chuột cái được uống liều cao và trên chuột đực được dùng liều thấp; và xuất hiện

u tuyến của tuyến Harderian ở ở chuột nhắt đực và cái

4,4-oxydianilin là chất gây đột biến cho vi khuẩn Salmonella typhimurium với kích

hoạt chuyển hóa

Không có dữ liệu để đánh giá độc tính gây quái thai cho động vật thực nghiệm

III.11 p-aminoazobenzen (p-aminoazobenzene) CAS no 60-09-3

• Dữ liệu ung thư trên người

Chưa có báo cáo tình huống hoặc nghiên cứu lâm sàng trên người khi phơi nhiễm với p-aminoazobenzen

• Dữ liệu ung thư trên động vật

p-aminoazobenzen gây ra khối u trong gan ở chuột sau khi ăn uống qua đường miệng và gây khối u biểu bì trên chuột sau khi bôi vào da Trên chuột nhắt, người ta thấy cacxinoma gan trên 50-100% chuột đực sau 1 hoặc bốn lần tiêm p-aminoazobenzen vào trong bụng, so với 3% ở nhóm đối chứng và ở chuột cái Trong hai dòng chuột nhắt khác, 93% và 46% chuột đực đã bị cacxinoma gan tại 11 tháng tuổi sau khi tiêm p-aminoazobenzen một liều vào trong bụng Khi chuột nhắt cái đang mang thai và chuột nhắt mới sinh ở cả hai giới được tiêm dưới da các liều cao của hợp chất này, thấy có sự gia tăng rõ rệt tỷ lệ mắc khối u gan và bệnh về máu và các mô bạch huyết trên chuột nhắt

và sự gia tăng đáng kể về mặt thống kê tỷ lệ mắc các khối u này ở chuột mới sinh

III.12 4-metyl-m-phenylendiamin (4-methyl-m-phenylenediamine) CAS No 95-80-7

• Dữ liệu ung thư trên người

Trang 26

Chưa có báo cáo tình huống hoặc nghiên cứu dịch tễ học của việc phơi nhiễm với hợp chất này

• Dữ liệu ung thư trên động vật

4-metyl-m-phenylendiamin là chất gây ung thư cho chuột sau khi phơi nhiễm qua đường miệng, gây ra cacxinoma ở tế bào gan, và sau khi tiêm dưới da, kể cả saccoma cục

bộ

III.13 4,4-metylen bis(2-metylanilin) (4,4-methylene bis(2-methylanilin))

CAS no 838-88-0

• Dữ liệu ung thư trên người

Một nghiên cứu đoàn hệ ở Italia trên 906 công nhân sản xuất thuốc nhuộm được thực hiện trong khoảng thời gian từ 1922 tới 1970 Công nhân được chia thành 10 nhóm phơi nhiễm Số công nhân tử vong vì ung thư bàng quang là 39 người so với số kỳ vọng

là 1,2 Trong số 53 công nhân trong nhóm sản xuất fucshin ‘mới’ và safranine T, 5 người chết vì ung thư bàng quang so với số tử vong kỳ vọng là 0,08 Thời gian làm việc ngắn nhất là 12 năm 3 trong số 5 người chết có tham gia vào tổng hợp o-toluidin và 4,4-metylen bis(2-metylanilin) là tiền chất để sản xuất fuschin và safranin T, hai chất này được tổng hợp trong một tòa nhà riêng trong nhà máy

• Dữ liệu ung thư trên động vật

4,4-metylen bis(2-metylanilin) được thử nghiệm tính gây ung thư trên chuột và cho qua đường miệng Người ta phát hiện thấy cacxinoma tế bào gan ở cả hai loài, khối u ung thư ở phổi,ở tuyến vú và da chuột, và ở phổi của chó

III.14 o-anisindin (o-anisindine) CAS no 90-04-0

• Dữ liệu ung thư trên người

Chưa có báo cáo tình huống hoặc nghiên cứu dịch tễ

• Dữ liệu ung thư trên động vật

o-anisidin hydroclorua được thử nghiệm tính gây ung thư trong một nghiên cứu trên chuột nhắt và trong một nghiên cứu trên chuột bằng thức ăn Người ta thấy chất này gây ra ung thư nội mạc bàng quang của cả hai loài và ở cả hai giới tính

o-anisidin liều cao làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tăng sản ở bàng quang của cả chuột nhắt cái và đực

Không có dữ liệu về độc tính di truyền và các ảnh hưởng có liên quan của anisidin trên người Không rút ra được kết luận về độc tính di truyền trên cơ thể động vật thực nghiệm, tuy nhiên o-anisidin gây đột biến gen ở tế bào bàng quang trong một thử nghiệm trên chuột nhắt biến đổi gen

Trang 27

o-IV Các amin thơm thuộc nhóm 3

IV.1 5-nitro-o-toluidin (5-nitro-o-toluidine) CAS no 99-55-8

• Dữ liệu ung thư trên người

Hiện giờ chưa có dữ liệu về tính gây ung thư của 5-nitro-o-toluidin đối với người

• Dữ liệu ung thư trên động vật

5-nitro-o-toluidin đã được thử nghiệm tính gây ung thư qua đường miệng trên chuột nhắt và chuột Chất này làm tăng tỷ lệ mắc khối u tế bào gan ở chuột nhắt (trên cả hai giới tính) và tăng ít tỷ lệ mắc cacxinoma tế bào gan ở chuột đực

Kết luận chung là có bằng chứng hạn chế về tính gây ung thư của toluidin đối với động vật thực nghiệm

5-nitro-o-IV.2 2,4,5-trimetylanilin (2,4,5-trimethylaniline) CAS no 137-17-7

• Dữ liệu ung thư trên người

Chưa có báo cáo tình huống hoặc nghiên cứu dịch tễ học về phơi nhiễm của người với 2,4,5-trimetylanilin, do vậy không có đánh giá tính gây ung thư của 2,4,5-trimetylanilin đối với người

• Dữ liệu ung thư trên động vật

2,4,5-trimetylanilin được thử nghiệm qua đường thức ăn trong hai thực nghiệm trên chuột nhắt và hai thực nghiệm trên chuột Trong một thực nghiệm trên chuột, 2,4,5-trimetylanilin gây tăng tỷ lệ mắc cacxinoma tế bào gan trên chuột nhắt cái, còn thực nghiệm kia được xem là chưa đủ bằng chứng để đánh giá Trong một thực nghiệm trên chuột, chất này làm tăng tỷ lệ mắc cacxinoma gan và u tuyến ở phổi Trong thực nghiệm kia, không quan sát được sự gia tăng đáng kể của tỷ lệ mắc khối u

2,4,5-trimetylanilin là chất gây đột biến cho vi khuẩn Salmonella typhimurium với

kích hoạt chuyển hóa

Trang 28

CHƯƠNG III – XÂY DỰNG QUY ĐỊNH VỀ GIỚI HẠN HÀM LƯỢNG CÁC AMIN THƠM GIẢI PHÓNG RA TỪ THUỐC

NHUỘM AZO TRÊN SẢN PHẨM DỆT MAY

I Phơi nhiễm với thuốc nhuộm azo và các amin thơm gây ung thư giải phóng từ thuốc nhuộm azo có trên sản phẩm dệt may

Phơi nhiễm với thuốc nhuộm azo đưa đến phơi nhiễm với các amin thơm thành phần do thoái biến (bẻ gãy) thuốc nhuộm azo và các amin thơm dưới dạng tạp chất (các chất trung gian để tổng hợp thuốc nhuộm hoặc các sản phẩm thoái biến)[2]

I.1 Phơi nhiễm nghề nghiệp

Phơi nhiễm có thể xảy ra trong quá trình sản xuất thuốc nhuộm và trong khi nhuộm vật liệu dệt Phơi nhiễm thông qua đường thở, da và ngẫu nhiên theo đường miệng người

ta nghi ngờ sự hấp thụ của thuốc nhuộm qua da, nhưng amin thơm có thể hấp thụ được[2]

I.2 Phơi nhiễm phi nghề nghiệp

I.2.1 Phơi nhiễm qua da

Người tiêu dùng phơi nhiễm với thuốc nhuộm azo và các amin thơm tự do khi sử dụng vật liệu dệt được nhuộm bằng thuốc nhuộm azo Mồ hôi và sự chà sát với quần áo giúp thuốc nhuộm và amin thơm ngâm chiết ra khỏi vật liệu dệt và di trú từ vật liệu dệt vào da người [1,2]

I.2.2 Phơi nhiễm qua đường miệng

Đặc biệt trẻ em có thể ngậm mút quần áo, đồ chơi có vật liệu dệt được nhuộm màu

Tỷ lệ thuốc nhuộm đi vào cơ thể khi ngậm mút vật liệu dệt thường là cao hơn lượng đi vào cơ thể qua da Đây là hình thức phơi nhiễm mang lại rủi ro cao cho người tiêu dùng, nhất là khi độ bền màu của vật liệu không đủ cao [1,2]

I.3 Chuyển hóa thuốc nhuộm azo bằng vi khuẩn trên da[17,18]

Liên kết azo là liên kết yếu nhất của phân tử thuốc nhuộm azo và dễ dàng bị bẻ gãy bằng các enzym có trong cơ thể động vật có vú, kể cả con người Liên kết azo có thể bị khử và tách ra, dẫn đến việc phân tử thuốc nhuộm bị phân chia thành hai phần Phản ứng này được thực hiện nhờ enzym khử azo có tên là azoreductaza (azoreductase) Đây là enzym không đặc hiệu và người ta tìm thấy nó trong rất nhiều vi sinh vật và trong các động vật có vú được thử nghiệm

Enzym azoreductaza của động vật có vú, với hoạt tính khác nhau, có mặt trong rất nhiều cơ quan của cơ thể như da, tim, phổi, lá lách, các mô cơ, gan, thận và não

Quá trình tách khử thuốc nhuộm azo trong quá trình hấp thụ dưới da đã được nghiên cứu trong ống nghiệm khi sử dụng da chuột, da lợn guinea và da người Tất cả các

Trang 29

loài vi khuẩn được thử nghiệm có khả năng tách khử thuốc nhuộm Sau khi tiêm thuốc nhuộm azo được đánh dấu bằng C14 dưới da chuột (trên cơ thể sống), người ta tìm thấy lượng đáng kể hoạt tính phóng xạ trong nước tiểu và phân chuột Điều này được dự đoán

là quá trình tách dẫn đến hình thành các amin thơm được thực hiện thông qua quần thể vi sinh vật trên da chuột

Trong một nghiên cứu khả năng của các vi khuẩn trên da người khử thuốc nhuộm

azo, kết quả đã chỉ ra rằng vi khuẩn Staphylococcus aureus đã khử thuốc nhuộm Direct

Blue 14 (C.I 23850, DB 14) thành o-tolidin (3,3’-dimetylbenzidin), amino-4’-hydroxybiphenyl và 3,3’-dimetyl-4-aminobiphenyl Các vi khuẩn khác thuộc

3,3’-dimetyl-4-chủng Staphylococcus, Corynebacterium, Micrococcus, Dermacoccus và Kocuria có thể

khử thuốc nhuộm Metyl Red (MR) đến 74-100% trong 24 giờ, Vi khuẩn

Corynebacterium xerosis có thể khử thuốc nhuộm Orange II (Or II) tới bất kỳ mức độ nào sau 24 giờ, còn Staphylococcus delphini, Staphylococcus sciuri và Pseudomonas aeruginosa có thể khử hoàn toàn thuốc nhuộm này trong 24 giờ

I.4 Chuyển hóa thuốc nhuộm azo bằng vi khuẩn trong hệ ruột người[19, 20, 21, 22]

Khi đi vào cơ thể người qua đường tiêu hóa, thuốc nhuộm azo được chuyển hóa thành các amin thơm bằng hệ vi khuẩn sống ở đường ruột Môi trường yếm khí của đường

dạ dày-ruột của động vật có vú rất phù hợp với quá trình khử azo Phần lớn các vi khuẩn

nay thuộc về chủng Clostridium và Eubacterium

Trong các sinh vật có vú, enzym azoreductaza – với hoạt tính khác nhau - có mặt trong nhiều cơ quan như gan, thận, phổi, tim, não, lá lách và các mô cơ Enzym azoreductaza của gan, tiếp theo sau đó là của thận có hoạt tính enzym lớn nhất Nhưng các enzym azoreductaza của vi khuẩn đường ruột quan trọng hơn enzym của gan trong quá trình khử thuốc nhuộm azo

Sau khi phân tách liên kết azo, các amin thơm thành phần được hấp thụ trong ruột

và bài tiết ra trong nước tiểu

Đây là các kết luận quan trọng trong việc đưa ra quy định kiểm soát thuốc nhuộm azo dùng để nhuộm màu vật liệu dệt/da trên thế giới

II Sự cần thiết xây dựng “Quy định về giới hạn hàm lượng amin thơm có thể giải chuẩn ra từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may trong các điều kiện khử

Như trình bày ở các phần trên, thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may khi tiếp xúc với da hoặc khoang miệng của người có khả năng ngâm chiết ra khỏi sản phẩm dệt may Đi vào cơ thể, thuốc nhuộm azo được enzym azoreductaza khử thành các amin thơm thành phần Nếu các amin thơm này nằm trong 22 amin thơm gây ung thư sẽ mang lại rủi

Trang 30

ro rất lớn cho người tiêu dùng và cả các công nhân tham gia vào trong chuỗi gia công sản phẩm dệt may.

Vì những lý do này mà một số nước phát triển trên thế giới như EU, Hàn Quốc, Trung Quốc, và một số nhà phân phối lớn hàng đầu thế giới về hàng dệt may như Mark&Spencer, Gap, H&M, Oliver v.v một số nhãn sinh thái quen thuộc như Oeko-Tex-100, Flower của EU, Green Label của Thái Lan đều kiểm soát thuốc nhuộm azo có thể giải phóng ra các amin thơm gây ung thư trên sản phẩm dệt may Trong xu thế hội nhập với mậu dịch dệt may thế giới, chúng ta không thể đứng ngoài dòng chảy nói trên, khi Việt Nam là một trong những nước trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu về dệt may, đồng thời là thị trường tiêu thụ hàng dệt may lớn Việc xây dựng “Quy định về giới hạn hàm lượng amin thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may trong các điều kiện khử” tuân theo Hiệp định rào cản kỹ thuật với thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới là cần thiết nhằm:

+ Đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng, ngăn ngừa người tiêu dùng phơi nhiễm với các hóa chất độc hại với sức khỏe;

+ Gián tiếp phòng ngừa cho công nhân trong ngành tránh phải phơi nhiễm với các hóa chất có thể gây mắc một số bệnh nghề nghiệp;

+ Đi tiên phong trong việc tuân thủ với quy định về hàm lượng các amin thơm có thể gây ung thư giải phóng từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may tại các thị trường xuất khẩu là một trong các điều kiện để xây dựng được chuỗi cung cấp dệt bền vững, theo đúng chiến lược phát triển ngành dệt may là tăng hàm lượng nội địa trong sản phẩm dệt may xuất khẩu;

+ Bảo vệ thị trường và ngành dệt may nội địa trước sự xâm lấn của hàng dệt may nhập khẩu có chứa hóa chất độc hại

III Khảo sát hàm lượng amin thơm gây ung thư tách khử từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may có trên thị trường Việt Nam

Đề tài đã thu thập ngẫu nhiên 33 mẫu sản phẩm dệt may có trên thị trường, bao gồm vải may sơ mi nữ, vải may quần dài, bít tất, áo dệt kim trẻ em mặc sát người, được nhuộm nhiều màu Các mẫu được sản xuất trong nước hoặc được nhập khẩu nhưng không

rõ xuất xứ Mẫu được mua ngẫu nhiên tại các cửa hàng nhỏ hoặc cửa hàng của công ty lớn

Các mẫu được phân tích hàm lượng các amin thơm gây ung thư tại phòng thí nghiệm sinh thái của Việ Dệt May Kết quả là tất cả các mẫu đều âm tính (Kết quả thử nghiệm được đưa ra trong phụ lục II

Trang 31

Vào năm 2008 mạng lưới CLEEN gồm 9 nước thành viên EU đã tiến hành phân tích 361 mẫu dệt may thu thập được trên thị trường EU để tìm các amin thơm gây ung thư tách khử từ thuốc nhuộm azo Có 9 trường hợp dương tính (2,49%) trong 361 sản phẩm được thử nghiệm trong dự án 8 mẫu chứa từ hai thuốc nhuộm azo trở lên và sau khi khử chất mầu azo, tìm thấy amin thơm trong 6 mẫu với nồng độ cao hơn 30 mg/kg Trong các mẫu này, tìm thấy các amin thơm sau: benzidin, 4-aminodiphenyl, o-toluidin, toluen 2,4 diamin và o-dianisin, nồng độ thay đổi từ 3 mg/kg 4-aminodiphenyl tới 552 mg/kg benzidin[23]

Các quốc gia thành viên EU đã có luật cấm sử dụng thuốc nhuộm azo có thể tách khử các amin thơm gây ung thư cho để nhuộm màu các mặt hàng dệt may và da từ năm

2002 Tuy nhiên, sau 6 năm thực thi luật vẫn phát hiện các trường hợp vi phạm

IV Tổng hợp, đánh giá hiện trạng của các văn bản luật trong nước có liên quan và thực thi

Để phục vụ quản lý nhà nước về tính an toàn của sản phẩm dệt may, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư 32/2009/TT-BCT ngày 5 tháng 11 năm 2009 “Quy định tạm thời về giới hạn cho phép đối với hàm lượng fomaldehyt, các amin thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may” Thông tư này có hiệu lực từ ngày 20/12/2009

V Tóm tắt các yêu cầu trên thế giới về hàm lượng các amin thơm có thể gây ung thư giải phóng từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may

Với mục đích bảo vệ an toàn cho người tiêu dùng, một số quốc gia/tổ chức trên thế giới đã đưa ra các luật/tiêu chuẩn kiểm soát thuốc nhuộm azo/các amin thơm (22 amin) giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo như tóm tắt trong bảng 2 và 3

Bảng 2 – Giới hạn của hàm lượng amin thơm có thể gây ung thư có thể giải phóng

ra từ thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may trong các quy chuẩn kỹ thuật trên

thế giới (cho mỗi amin)

1 Liên minh châu Âu Luật Đăng ký, đánh giá, Cấp

phép và hạn chế hóa chất (REACH) (EC 1907/2006) Phụ lục XVII[24]

30 ppm

2 Trung Quốc Quy chuẩn kỹ thuật an toàn tổng

quát quốc gia cho sản phẩm dệt

GB 18401-2003[25]

20 ppm

Bổ sung thêm 2 amin thơm là 2,4-xylidin và 2,6-xylidin

3 Hàn Quốc Đạo luật tự xác nhận an toàn sản

Trang 32

Bảng 3 - Giới hạn của hàm lượng amin thơm có thể gây ung thư giải phóng ra từ

thuốc nhuộm azo trên sản phẩm dệt may trong các tiêu chuẩn tự nguyện trên thế

giới (cho mỗi amin)

2 Tiêu chuẩn sinh thái Flower của EU[28] 30 ppm

3 Các yêu cầu sinh thái của[29]:

- H&M, Mark&Spencer;

- Nike

30 ppm

20 ppm

VI Đề xuất các giá trị giới hạn của hàm lượng các amin thơm giải phóng từ thuốc

nhuộm azo trên sản phẩm dệt may

Theo Mục 2.4 của Hiệp định rào cản kỹ thuật đối với thương mại, khi đã có các

quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn thích hợp được chấp nhận rộng rãi trên quốc tế, các

quốc gia thành viên của WTO được khuyến cáo sử dụng các quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu

chuẩn ấy để làm cơ sở cho quy chuẩn kỹ thuật/tiêu chuẩn của nước mình

Vào năm 1999, Viện Quốc gia về sức khỏe công cộng và môi trường của Hà Lan

đã tiến hành đánh giá rủi ro ung thư của thuốc nhuộm azo và các amin thơm từ quần

áo[30] Tóm tắt đánh giá này như sau: Từ 06 mẫu sản phẩm dệt may thu thập trên thị

trường, đã phát hiện được ba amin thơm trên quần áo là: benzidin, tolidin và

o-dianisidin Cơ quan này đã phát triển phương pháp ước lượng sự hấp thụ qua da các amin

thơm gây ung thư từ sản phẩm có chứa thuốc nhuộm azo như trong Hình 3 Bắt đầu đánh

giá phơi nhiễm bằng ước lượng xác suất mà mà người tiêu dùng mua một sản phẩm có

chứa thuốc nhuộm azo và amin thơm gây ung thư Đối với một sản phẩm như vậy, lượng

amin “tự do” và thuốc nhuộm azo có chứa amin có thể ngâm chiết ra bằng mồ hôi được

xác định bằng thực nghiệm Tiếp theo số lần người tiêu dùng tiếp xúc với sản phẩm trong

toàn bộ vòng đời1 (tần suất tiếp xúc) và phần của sản phẩm tiếp xúc với da (hệ số tiếp xúc

da) được lưu ý đến Áp dụng các hệ số này vào lượng thuốc nhuộm azo và amin “tự do”

được ngâm chiết ra dẫn đến tính toán lượng thuốc nhuộm azo (A*derm, dye, g) và amin “tự

do” (A*derm, free amin, g) có thể đi vào da Sau khi hiệu chỉnh sự hấp thụ của thuốc nhuộm

azo và biến đổi thuốc nhuộm đã hấp thụ thành amin thành phần, tính được tổng lượng hấp

thụ amin (Eeff, total amin, g/ngày) dưới dạng tổng lượng hấp thụ của amin “tự do” và amin

giải phóng từ thuốc nhuộm azo

1 Vòng đời được xác định như khoảng thời gian từ khi mua tới khi thải bỏ sản phẩm

Ngày đăng: 21/04/2014, 14:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 - Lớp thuốc nhuộm và các ứng dụng cho các loại xơ khác nhau - Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Bảng 1 Lớp thuốc nhuộm và các ứng dụng cho các loại xơ khác nhau (Trang 11)
Hình 2 – Phân chia thuốc nhuộm azo có thể phân tách ra các amin thơm gây ung - Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Hình 2 – Phân chia thuốc nhuộm azo có thể phân tách ra các amin thơm gây ung (Trang 12)
Bảng 2 –  Giới hạn của hàm lượng amin thơm có thể gây ung thư có thể giải phóng - Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Bảng 2 – Giới hạn của hàm lượng amin thơm có thể gây ung thư có thể giải phóng (Trang 31)
Bảng 3 - Giới hạn của hàm lượng amin thơm có thể gây ung thư giải phóng ra từ - Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Bảng 3 Giới hạn của hàm lượng amin thơm có thể gây ung thư giải phóng ra từ (Trang 32)
Hình 3 – Ước lượng lượng đi vào cơ thể qua da/miệng của các amin thơm gây  ung thư từ quần áo có chứa thuốc nhuộm azo và các amin “tự do”; x: thuốc nhuộm - Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Hình 3 – Ước lượng lượng đi vào cơ thể qua da/miệng của các amin thơm gây ung thư từ quần áo có chứa thuốc nhuộm azo và các amin “tự do”; x: thuốc nhuộm (Trang 33)
Bảng 4 - Lượng hấp thụ hàng ngày tính được của các amin thơm do phơi  nhiễm của người tiêu dùng với thuốc nhuộm azo trong quần áo (các amin thơm “tự - Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Bảng 4 Lượng hấp thụ hàng ngày tính được của các amin thơm do phơi nhiễm của người tiêu dùng với thuốc nhuộm azo trong quần áo (các amin thơm “tự (Trang 34)
Bảng 5 - Rủi ro ung thư tính toán từ phơi nhiễm của người tiêu dùng với các thuốc - Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Bảng 5 Rủi ro ung thư tính toán từ phơi nhiễm của người tiêu dùng với các thuốc (Trang 37)
Bảng 6 – Ý kiến đóng góp và tiếp thu - Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Bảng 6 – Ý kiến đóng góp và tiếp thu (Trang 38)
Bảng 1 – Danh mục các amin thơm bị hạn chế - Nghiên cứu đề xuất quy định về giới hạn làm lượng các amen thơm có thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may phù hợp với điều kiện công nghệ của ngành
Bảng 1 – Danh mục các amin thơm bị hạn chế (Trang 59)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w