II Chương 2: Tổng quan các công nghệ nhuộm và hoàn tất đang được áp dụng tại Việt Nam 4.4 Các công nghệ chống nhàu, chông cháy thân thiện với môi trường 70 V Chương 5: Xây dựng một số q
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN DỆT MAY
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ CÔNG THƯƠNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ
XỬ LÝ ƯỚT NHẰM GIẢM THIỂU ĐỘC HẠI CHO NGÀNH
DỆT NHUỘM
Mã số đề tài:027.09RDBS/HĐ-KHCN
Chủ nhiệm đề tài : TS NGUYỄN VĂN THÔNG
Cơ quan chủ trì đề tài: VIỆN DỆT MAY
8310
Hà Nội, tháng 12 - 2010
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN DỆT MAY
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ CÔNG THƯƠNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ
XỬ LÝ ƯỚT NHẰM GIẢM THIỂU ĐỘC HẠI CHO NGÀNH
DỆT NHUỘM
Thực hiện theo Hợp đồng số027.09 RDBS/HĐ-KHCN ký ngày tháng 03 năm
2009 giữa Bộ Công Thương và Viện Dệt may
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
Hà Nội, tháng 12 - 2010
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
1 TS Nguyễn Văn Thông Viện trưởng Viện Dệt may, CN đề tài
2 KS Hoàng Thu Hà Viện Dệt may
3 KS Trương Phi Nam Trưởng bộ môn nghiên cứu - Viện Dệt May
4 ThS Phạm Khánh Toàn Viện Dệt May
5 KS Nguyễn Văn Chinh Viện Dệt May
6 KS Hoàng Thu Hà Viện Dệt May
7 KS Trần Duy Lạc Viện Dệt May
8 KS Bình Viện Dệt May
Trang 4II Chương 2: Tổng quan các công nghệ nhuộm và hoàn tất đang
được áp dụng tại Việt Nam
4.4 Các công nghệ chống nhàu, chông cháy thân thiện với môi trường 70
V Chương 5: Xây dựng một số quy trình công nghệ xử lý ướt
thân thiện môi trường
79
5.1 Quy trình quản lý và sử dụng hóa chất, thuốc nhuộm trong nhà máy
nhuộm đáp ứng yêu cầu an toàn và sinh thái
79
5.2 Quy trình quản lý sản phẩm dệt may đáp ứng yêu cầu của các tiêu
chuẩn an toàn và quy định pháp lý
84
Trang 55.4 Xây dựng quy trình nhuộm tận trích vải bông bằng thuốc nhuộm
hoạt tính thân thiện với môi trường
96
5.5 Xây dưng quy trình nhuộm vải PET thân thiện môi trường 1035.6 Xây dựng quy trình chống nhàu vải bông thân thiện môi trường 108
Kết luận và kiến nghị 119 Tài liệu tham khảo 121 Các phụ lục
Trang 6Phần mở đầu
Dệt may là một trong số ngành trong các công đoạn sản xuất của nó có sử dụng nhiều các loại hóa chất, thuốc nhuộm, chất trợ dệt Ngoài chức năng chính là tham gia vào quá trình gia công vật liệu, tạo cho sản phẩm dệt may có những đặc tính mong muốn, các chất này còn lưu lại trên sản phẩm hoặc bị thải bỏ ra môi trường
Ngày nay, một sản phẩm tiêu dùng không chỉ đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, thỏa mãn khuynh hướng thời trang mà còn đòi hòi phải an toàn cho người sử dụng và thân thiện với môi trường Để bảo vệ người tiêu dùng và môi trường sống, Chính phủ các nước, các hãng phân phối
và các nhà bán lẻ hàng dệt may đã đưa ra các yêu cầu về an toàn và môi trường đối với các sản phẩm dệt may Các sản phẩm dệt may lưu thông và bán trên thị trường phải an toàn với người sử dụng, không được gây ô nhiễm môi trường sống Họ đã đưa ra các luật về kiểm soát hóa chất trên sản phẩm; luật về kiểm soát ô nhiễm của các chất thải từ các quá trình sản xuất và sử dụng các sản phẩm; đưa ra danh mục các chất bị cấm không được có hoặc có ở giới hạn rất thấp trên sản phẩm dệt may Nước thải, khí thải từ các nhà máy dệt may phải đáp ứng các yều cầu về môi trường Vì vậy, vấn đề an toàn, sinh thái trong sản xuất dệt may, đặc biệt trong công đoạn xử lý ướt cần phải được xem xét và có các giải pháp phù hợp Vấn đề sinh thái và môi trường trong sản xuất dệt may đã được các nước trên thế giới từ lâu đã quan tâm nghiên cứu và ngày càng có nhiều giải pháp nhằm bảo vệ người tiêu dùng và môi trường sống
Trong những năm gần đây, tại Việt nam, vấn đề an toàn cho người tiêu dùng và ô nhiễm môi trường trong sản xuất dệt may đã được quan tâm từ nhiều phía: các cơ quan chức năng, các tổ chức nghiên cứu, các doanh nghiệp và người tiêu dùng Các chương trình về môi trường và sản xuất sạch hơn đã được các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp triển khai Trong ngành dệt may, một số doanh nghiệp đã triển khai bước đầu các chương trình sản xuất sạch hơn nhằm tiết kiệm năng lượng, tiêu thụ nước và giảm thiểu tải lượng và sự độc hại của nước thải dệt nhuộm Tuy nhiên các yêu cầu tuân thủ của các nước nhập khẩu đối với hàng dệt may và yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng trong nước ngày một cao Việc cập nhật các yêu cầu của các nước; việc nghiên cứu các công nghệ nhằm giảm thiểu độc hại cho ngành dệt nhuộm còn rất hạn chế Vì vậy việc nghiên cứu các qui định về các yêu cầu độc hại phát sinh từ sản xuất và sản phẩm dệt may; đánh giá các công nghệ hiện có và xây dựng các giải pháp giảm thiểu độc hại không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học, kinh tế mà còn có ý nghĩa cao về mặt xã hội
Trang 7Xuất phát từ thực tiễn trên, năm 2009, Bộ Công thương đã giao cho Viện
Dệt may thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng các qui trình công nghệ xử
lý ướt nhằm giảm thiểu độc hại cho ngành dệt nhuộm”
Mục tiêu của đề tài:
- Hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may sản xuất, xuất khẩu sản phẩm hiểu được các
yêu cầu về an toàn và sinh thái của sản phẩm dệt may để đáp ứng các yêu cầu sinh thái của các nước nhập khẩu và an toàn cho người sử dụng và môi trường
- Góp phần giảm thiểu lượng chất nguy hại, chất thải ô nhiễm, bảo vệ người sản xuất và tiêu dùng
Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Nghiên cứu các yêu cầu an toàn và sinh thái sản phẩm dệt may tại
các thị trường EU, Mỹ và các hãng bán lẻ lớn hàng dệt may
Nội dung 2: Đánh giá các công nghệ xử lý ướt hiện đang áp dụng trong ngành dệt nhuộm Việt Nam
Nội dung 3: Đánh giá các yếu tố gây độc hại và khả năng loại bỏ thay thế của
các hóa chất, chất trợ dệt và thuốc nhuộm sử dụng trong ngành dệt may
Nội dung 4: Đánh giá các công nghệ sản xuất sạch hơn hiện có trong ngành dệt
nhuộm của thế giới
Nội dung 5: Xây dựng một số quy trình công nghệ và thay thế hóa chất trong
sản xuất mặt hàng dệt may đáp ứng yêu cầu sinh thái dệt
Trang 8Vì các nhà bán lẻ, các thương hiệu thường bán hàng trên toàn thế giới, nên các công ty thường đưa ra các qui định đáp ứng được các yêu cầu về luật pháp, các qui định của tất cả các nước mà họ bán hàng Hơn nữa do chính sách của công ty trong việc khẳng định thương hiệu, mà các yêu cầu và qui định về sự có mặt của các công ty thường cao hơn, chặt chẽ hơn so với các qui định luật pháp của các chính phủ ( thường là các yêu cầu tối thiểu) Đề tài sẽ giới thiệu tổng quan các yêu cầu luật pháp của các nước nhập khẩu hàng dệt may chính của Việt Nam(
EU và Mỹ), danh mục các chất bị cấm trên sản phẩm dệt may do Hiệp hội các nhà sản xuất dệt may và da giày Mỹ giới thiệu, cũng như các yêu cầu của nhãn sinh thái EU
1.1 Luật cải thiện an toàn các sản phẩm tiêu dùng 2008 của Mỹ (CPSIA) Mục đích: CPSIA 2008 có hiệu lực vào thág 8 năm 2008 nhằm tăng cường
quyền hạn và hiện đại hóa Ủy ban an tòan sản phẩm tiêu dùng (CPSC) và xây dựng và mở rộng các tiêu chuẩn an tòan sản phẩm tiêu dùng và các yêu cầu an toàn khác cho sản phẩm trẻ em
Phạm ví áp dụng: CPSIA áp dụng rộng khắp cho các sản phẩm là đối tượng áp
dụng trong các qui định của CPSC
Ngòai ra, CPSIA đã thiết lập những yêu cầu mới và yêu cầu mở rộng cho “các sản phẩm trẻ em”, được xác định như các sản phẩm tiêu dùng được thiết kế hay
dành cho lứa tuổi 12 và bé hơn Định nghĩa này bao gồm quần áo trẻ em,đồ ngủ
và giày dép
Nét nổi bật: CPSIA đưa ra sự cải tổ CPSC, trong đó:
Cải tổ về quản lý
• Cải tổ và nâng cao quyền hạn của CPSC trong nhiệm kỳ đến năm 2014
• Tạo các nguyên tắc làm luật cho luật an tòan sản phẩm tiêu dùng (CPSA), luật các chất độc hại liên bang (FHSA) và luật tính cháy của vải (FFA)
Trang 9Quyền hạn được tăng cường
• Yêu cầu CPSC thiết lập dữ liệu an tòan sản phẩm tiêu dùng công khai có thể được tra cứu và truy cập qua website của CPSC
• Tăng cường quyền thu hồi sản phẩm và tạo tuyên bố hành động khắc phục của CPSC
• Tăng án phạt cao nhất dân sự và hình sự theo CPSA, FHSA, và FFA
• Cung cấp sự bảo vệ cho các công nhân của nhà sản xuất, nhà dán nhãn cá nhận, nhà bán lẻ và nhà sản xuất về sự vi phạm yêu cầu an tòan của các sản phẩm theo luật của CPSC
Các yêu cầu xuất nhập khẩu
• Sửa đổi CPSA và FFA để cho phép CPSC cấm xuất khẩu sản phẩm tiêu dùng không tuẩn thủ qui định an tòan sản phẩm tiêu dùng trừ khi nước nhập khẩu đã thông báo cho CPSC rằng nước đó chấp nhận việc nhập khẩu
• Thiết lập một danh sách các sản phẩm tiêu dùng gây ra mối nguy hại tiềm
ẩn từ sản phẩm
CPSIA cũng mở rộng năng lực để đảm bảo an tòan của sản phẩm trẻ em, gồm:
1 Qui định về hàm lượng chì trong sơn và các sản phẩm trẻ em
CPSIA đã thiết lập một hạn chế mới về chì trong sản phẩm trẻ em và giảm hạn chế hiện hành về lượng chì trong sơn và bề mặt ngòai như sau
Lệnh cấm chì trong chất nền
Điều luật thiết lập lệnh cấm chung cho chì trong sản phẩm trẻ em, coi đó là chất độc cần cấm theo Luật chất độc liên bang (FHSA), bất kì sản phẩm dành cho trẻ
em nào chứa hơn lượng chì hơn mức hạn chế
Theo CPSIA, hạn chế tổng lượng chì trong sản phẩm cho trẻ em, được thiết kế trong giai đoạn năm 2009-2011, như sau:
Lệnh cấm chì trong chất phủ bề mặt
Trang 10Ngòai ra, CPSIA đã thiết lập một lệnh cấm nghiêm khắc hơn về lượng chì trong sơn và chất phủ bề mặt ngòai trên đồ nội thất và sản phẩm trẻ em, giảm hạn chế thiết lập trước đây bởi CPSC, theo 16 CFR 1303, từ 0.06% (600ppm) xuống 0.009% (90ppm) vào ngày 14 tháng 8 năm 2009
2 Hạn chế phthalat trong sản phẩm trẻ em
CPSIA đã thiết lập các hạn chế mới về sản xuất để bán, bán lại, phân phối thương mại, hay nhập khẩu vào Mỹ, đồ chơi trẻ em hay sản phẩm sử dụng cho trẻ em chứa nồng độ lớn hơn 0.1% (1000ppm) phthalate benzyl butyl phthalate (BBP), dibutyl phthalate (DBP), hay di-(2-ethylhexyl) phthalate (DEHP) CPSIA cũng hạn chế bổ sung ba loại phthalate – diisonomyl phthalate (DINP), diiondecyl phthalate (DIDP), hay di-n-octyl pthalate (DnOP) – trong nồng độ hơn 0.1% trong sản phẩm hay đồ chơi cho trẻ em có thể được đặt trong mồm trẻ
em hay dẫn đến miệng và đặt trong miệng để sản phẩm có thể được bú và nuốt Quốc hội không mở rộng hạn chế phthalate trong CPSIA đối với quần áo mặc của người lớn
Chứng nhận tuân thủ chung (GCC)
CPSIA 2008 thiết lập yêu cầu mới cho các nhà sản xuất sản phẩm không dành cho trẻ em phải cung cấp Chứng nhận tuân thủ chung (GCC) thể hiện rõ một sản phẩm tuân thủ tất cả các nguyên tắc, tiêu chuẩn, lệnh cấm hay qui định áp dụng cho sản phẩm dưới CPSA và các điều luật CPSC thi hành
Chứng nhận sản phẩm trẻ em (CPC) và thử nghiệm bắt buộc bởi bên thứ
ba cho một số sản phẩm trẻ em
CPSIA thiết lập những yêu cầu mới cho các nhà sản xuất sản phẩm trẻ em (và những nhà dán nhãn tư nhân những sản phẩm cho trẻ em, nếu những sản phẩm trẻ em có dán nhãn riêng ) – trước khi nhập khẩu bất kì sản phẩm trẻ em là đối tượng của các qui định về an toàn – phải được thử nghiệm bởi tổ chức đánh giá
sự tuân thủ bên thứ ba đã được công nhận; trên cơ sở các thử nghiệm như vậy để cung cấp một chứng chỉ chứng nhận các sản phẩm trẻ em đó tuân thủ với qui định an toàn sản phẩm của trẻ em, dựa trên đánh giá của tổ chức chứng nhận bên thứ ba đã được công nhận thực hiện các thử nghiệm đó
Tiêu chuẩn an toàn đồ chơi bắt buộc
Theo CPSIA, tiêu chuẩn công nghiệp tự nguyện, ASTM F963, Các chỉ tiêu kỹ thuật an toàn tiêu dùng với an toàn đồ chơi, là yêu cầu bắt buộc cho các sản phẩm dành cho trẻ em Yêu cầu này trở thành bắt buộc từ ngày 10/02/ 2009 áp dụng cho các sản phẩm như bộ trang phục trẻ em gồm cả các bộ phận của đồ chơi, như mặt nạ và kiếm
Nhãn truy xuất sản phẩm dành cho trẻ em
Trang 11Bắt đầu từ 14.08.2009, CPSIA yêu cầu nhà sản xuất sản phẩm trẻ em đưa ra một nhãn bền, dễ phân biệt trên sản phẩm và bao bì để có thể biết nhà sản xuất về địa điểm và ngày sản xuất của sản phẩm, thông tin lô sản phẩm (bao gồm số lô, số sản phẩm, hay các thông tin nhận biết khác), và những thông tin khác được xác định bởi nhà sản xuất để thuận tiện nhận biết về xuất xứ cụ thể của sản phẩm và
để người mua chắc chắn về nhà sản xuất hay người dán nhãn tư nhân, địa điểm
và ngày sản xuất và thông tin lô (bao gồm số lô, số sản phẩm, hay các thông tin xác định khác)
Yêu cầu này áp dụng cho tất cả các sản phẩm trẻ em, bao gồm quần áo trẻ em,
da giầy trẻ em và đồ ngủ trẻ em
Hoãn áp dụng
Các yêu cầu của CPSIA được thiết kế trong giai đoạn chuyển tiếp qua một số năm, để đảm bảo cho cả ngành công nghiệp sản xuất tiêu dùng và CPSC đủ thời gian để chuẩn bị thực thi luật Những ngày quan trọng của việc thực thi luật được xác định, bắt đầu từ tháng 9 năm 2008 và tiếp theo đến 14.08.2011
Từ khi áp dụng CPSIA, ủy ban đã biểu quyết hoãn thời gian thi hànhmột số qui
định của Luật Những quyết định này cho CPSC thêm thời gian để hoàn thiện những nguyên tắc đề xuất và đưa ra hướng dẫn bổ sung khi nào và cách thực hiện các thử nghiệm Chúng cũng giúp giảm nhẹ tạm thời và hạn chế phần nào cho những nhà sản xuất và nhập khẩu sản phẩm tiêu dùng với các yêu cầu của CPSIA
Tháng 1 năm 2009, CPSC đã đưa ra thời hạn hoãn một năm với các thử nghiệm nhất định của bên thứ ba và yêu cầu chứng chỉ có hiệu lực vào 10.02.2009; tuy nhiên vẫn yêu cầu những nhà sản xuất và nhà nhập khẩu tuân thủ các hạn chế của luật về chì và phthalat, cũng như các tiêu chuẩn đồ chơi bắt buộc Thời hạn hoãn có hiệu lực đến 10.02.2010
Tuy nhiên, vào tháng 12 năm 2009, CPSC đã bỏ phiếu biểu quyết kéo dài lệnh hoãn về thử nghiệm và yêu cầu chứng nhận từ bên thứ ba cho một số sản phẩm trẻ em, bao gồm:
• Các sản phẩm hướng dẫn sử dụng trẻ em với phthalate bị cấm;
• Khăn phủ giường trẻ em;
Trang 12gian cho thử nghiệm và chứng nhận cho sản phẩm trẻ em về hạn chế lượng chì đến 10.02.2011 Những sản phẩm này phải đáp ứng hạn chế hiện tại về lượng chì trong chất nền – 0.03% (300ppm) – có hiệu lực từ bây giờ, những sẽ không yêu cầu kiểm tra và chứng nhận từ bên thứ ba đến 10.02.2011
Thông báo báo chí cũng nêu, theo CPSIA, các sản phẩm không phải sản phẩm trẻ em không yêu cầu thử nghiệm của bên thứ ba; tuy nhiên, phải chứng nhận những sản phẩm này tuân thủ với các qui định của CPSC bằng cách đưa ra Chứng nhận tuân thủ chung (GCC) dựa trên một chương trình thử nghiệm hợp
lý
Yêu cầu kiểm tra và chứng nhận của bên thứ ba
Qui định, tiêu chuẩn hay
lệnh cấm
Có yêu cầu chứng chỉ tuân thủ chung (GCC) cho các sản phẩm không dành cho trẻ em ?
Có yêu cầu chứng chỉ trên cơ
sở thủ nghiệm của bên thứ ba cho các sản phẩm dành cho
trẻ em?
Thảm và thảm chùi chân (16
CFR 1630 và 1631, không áp
dụng lệnh hoãn để bảo đảm
theo Luật tính cháy vải (FFA)
CPSC ban hành thông báo chứng nhận các phòng thí nghiệm
Quần áo trẻ em (16 CFR 1615
và 1616)
Không áp dụng Hoãn, đến 90 ngày sau khi
CPSC ban hành thông báo chứng nhận các phòng thí nghiệm
Dán nhãn theo luật các chất
độc hại liên bang (16 CFR
1303)
Không yêu cầu Không yêu cầu
Chì trong sơn và sơn trên đồ
nội thất (16 CFR 1303)
Bắt buộc, sản phẩm sản xuất sau 10.02.2010
Không áp dụng
Chì trong chất nền, trong đồ
chơi trẻ em bằng kim loại và
phi kim loại (CPSIA)
Không áp dụng Bắt buộc, sản phẩm sản xuất
sau 10.02.2010
Chì trong sơn phủ bề mặt đồ
chơi trẻ em (16 CFR 1303) Không áp dụng Bắt buộc, sản phẩm sản xuất sau 21.12.2008
Các sản phẩm sản xuất sau 14.08.2009, yêu cầu chứng nhận thấp hơn hạn chế 90ppm Khăn phủ giường (16 CFR
Hoãn, đến 90 ngày sau khi CPSC ban hành thông báo chứng nhận các phòng thí nghiệm
Phthalate (CPSIA) Không áp dụng Hoãn, đến 90 ngày sau khi
CPSC ban hành thông báo chứng nhận các phòng thí nghiệm
Những phần nhỏ (16 CFR Không áp dụng Bắt buộc, cho sản phẩm sản
Trang 131501) xuất sau 15.02.2009
Màng nhựa vinyl (16 CFR
1611, không áp dụng lệnh
hoãn để bảo đảm theo Luật
tính cháy vải (FFA)
CPSC ban hành thông báo chứng nhận các phòng thí nghiệm
Quần áo mặc (16 CFR 1610,,
không áp dụng lệnh hoãn để
bảo đảm theo Luật tính cháy
vải (FFA)
CPSC ban hành thông báo chứng nhận các phòng thí nghiệm
Nguồn: “CPSC mở rộng thời gian hoãn về kiểm tra và yêu cầu chứng nhận cho nhiều sản phẩm trẻ em: sự linh hoạt mới cho qui định kiểm tra chì các phần” Tin từ CPSC, 18.12.2009
1.2 Luật đăng ký, đánh giá , hạn chế và cấp phép hoá chất ( REACH) với ngành dệt may
1.2.1 Giới thiệu tóm tắt về REACH:
Ngày 18 tháng 12 năm 2006, EU đã ban hành luật số 1907/2006 vềđăng
ký, đánh giá, cấp phép hóa chất (REACH) - luật hóa chất mới của EU- bắt đầu
có hiệu lực từ 1- 6 -2007 để thay thế cho 40 luật về hóa chất ở EU Đây là luật nghiêm ngặt nhất về hóa chất trên thế giới cho đến nay
REACH là cụm từ viết tắt cho Registration (Đăng ký), Evaluation (Đánh giá), Authorization (Cấp phép) cho hóa chất Luật này đặt trách nhiệm lớn lên ngành công nghiệp EU, lên tất cả các nhà sản xuất, nhập khẩu và xuất khẩu các mặt hàng có sử dụng hóa chất, cần nhận biết và hạn chế những rủi ro từ hóa chất Theo đó, các nhà sản xuất, nhập khẩu và người sử dụng cuối dòng ở EU sẽ được yêu cầu thu thập và cung cấp thông tin về các tính chất của chất và/hoặc chế phẩm mà họ dùng REACH cũng cho phép thành lập Cơ quan Hóa chất châu
Âu (ECHA) đặt trụ sở Hensinhki (Phần Lan) – cơ quan sẽ quản lý việc đăng ký các chất thông qua cơ sở dữ liệu và cấp phép cho các chất Cơ quan này cũng là nơi trợ giúp trả lời các câu hỏi, kể cả các câu hỏi từ các nước đang phát triển REACH có hiệu lực từ 1/6/2007 và được thực hiện từ 1/6/2008
Theo REACH có ba loại sản phẩm:
- Chất (substance)là một phần tử hóa học và các hợp chất của nó trong tự nhiên
hoặc nhận được từ bất kỳ quá trình sản xuất nào, kể cả các chất trợ nào đó cần thiết để bảo quản sự ổn định của nó và các tạp chất bất kỳ nhận được từ quá trình sử dụng, nhưng loại trừ các dung môi có thể tách ra được mà không ảnh hưởng tới sự ổn định của chất hoặc thay đổi thành phần của chúng
Trang 14- Chế phẩm hỗn hợp(preparation) là sản phẩm thu được khi trộn lẫn hai hoặc
nhiều chất lại với nhau Ví dụ như thuốc nhuộm, mực in…
- Mặt hàng (articles) là “một vật thể gồm một hoặc nhiều chất hoặc chế phẩm
mà trong quá trình sản xuất được mang lại một hình dạng, bề mặt hoặc thiết kế
cụ thể, xác định chức năng sử dụng cuối của nó tới mức độ lớn hơn chức năng
Sau khi đã đăng ký ban đầu, Các nhà sản xuất và nhập khẩu đóng tại EU bắt đầu
thực hiện quá trình đăng ký Cần đăng ký mỗi chất mà họ sản xuất hoặc nhập khẩu với lượng từ 1 tấn trở lên/năm Nếu họ không đăng ký chất có nghĩa là họ không được phép sản xuất hoặc nhập khẩu chất này Để đăng ký chất với lượng
từ 1 tấn trở lên, khi đăng ký cần trình hồ sơ kỹ thuật, còn đối với chất với lượng
từ 10 tấn/năm trở lên, cần thêm báo cáo an toàn hóa chất Các chất được sản xuất và nhập khẩu với số lượng lớn cần được đăng ký sớm Điều này cũng áp dụng với các chất có mối quan ngại cao (substances of very high concern – SVHC) – là các chất gây ung thư, các chất bền vững, tích lũy sinh học và độc với sinh sản (PBT), các chất rất bền vững, rất tích lũy sinh học (vPvB)
Tùy thuộc vào bản chất và lượng chất, REACH đưa ra các mốc thời gian cho việc đăng ký các chất theo khối lượng sản xuất hoặc nhập khẩu khác nhau
Đăng ký các chất trong mặt hàng
REACH yêu cầu phải đăng ký chất trong mặt hàng khi:
- Chất giải phóng một cách có chủ định ra khỏi mặt hàng trong các điều kiện sử dụng thông thường hoặc các điều kiện sử dụng dự đoán trước được một cách hợp lý;
- Tổng lượng của chất có trong mặt hàng vượt quá 1 tấn/năm/nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu; và
- Chất chưa được đăng ký cho mục đích sử dụng ấy
Ngoài ra, các chất có mối quan ngại cao có mặt trong mặt hàng cần được thông báo cho ECHA khi đáp ứng các yêu cầu sau:
- Chất có mặt trong mặt hàng với nồng độ trên 0,1% theo khối lượng;
- Chất có mặt trong mặt hàng với lượng từ 1 tấn/năm/nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu;
Trang 15- Chất đã được đưa vào danh sách “ứng cử viên” để được cấp phép sử dụng; và Chất chưa được đăng ký cho mục đích sử dụng ấy
Tuy nhiên, không cần thông báo nếu nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu có thể loại trừ sự phơi nhiễm của con người hoặc môi trường với chất ấy trong các điều kiện sử dụng và thải bỏ thông thường hoặc các điều kiện sử dụng hoặc thải
bỏ đã được dự đoán trước một cách hợp lý
Việc thông báo các chất có mối quan ngại cao trong mặt hàng sẽ được thực hiện chậm nhất là 6 tháng sau khi chất ấy được đưa vào danh sách “ứng cử viên”, nhưng chỉ bắt đầu từ 1/6/2011
Quá trình cấp phép độc lập với quá trình đăng ký và đánh giá và áp dụng
với các hóa chất mà ECHA xác định là chất có mối quan ngại cao và cấp phép
theo mục đích sử dụng Chú ý rằng cấp phép có thể áp dụng cho các chất với lượng dưới ngưỡng 1 tấn/năm đã được đặt ra cho quá trình đăng ký Các công ty
đệ đơn đề nghị được cấp phép cần chứng minh rằng rủi ro mà các chất này mang lại sẽ được kiểm soát tốt hoặc lợi ích kinh tế xã hội từ việc sử dụng các chất này lớn hơn rủi ro Mục đích là để ngành thay thế các chất này bằng cách chất an toàn hơn nếu có thể Danh sách các chất có mối quan ngại cao sẽ được công bố
và cập nhật bổ sung theo thời gian
• Hạn chế
Các hạn chế đang có hiệu lực trên toàn EU theo Directive 76/769/EEC về bán và sử dụng các chất và các chế phẩm nguy hiểm nhất định đã được chuyển toàn bộ vào phụ lục XVII của REACH Các chất được liệt kê trong phụ lục XVII sẽ không được sản xuất, đưa ra thị trường hoặc sử dụng trừ khi chúng tuân thủ với các điều kiện hạn chế các chất đó
1.2.2 REACH với ngành công nghiệp dệt may và da giày
Reach là luật đầu tiên của Châu Âu đưa ra các yêu cầu với các chất chứa trong mặt hàng Dệt may thuộc số các ngành công nghiệp sử dụng nhiều hóa chất Các loại sợi, vải, quần áo và các phụ kiện dệt may có thể chứa các loại hóa chất khác nhau như: thuốc nhuộm, hóa chất cơ bản, chất trợ dệt, các chất xử lý hoàn tất…Vì vậy các nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và kinh doanh hàng dệt may có bán tại châu Âu đều phải xem xét và tuân thủ REACH
Trang 16Một điều quan trọng cần thấy là không phải tất cả các hóa chất sử dụng trong ngành dệt may đều chịu tác động của REACH.Chỉ những sản phẩm dệt may có chứa các sản phẩm trong qui định của REACH thì bị giám sát và cần phải đăng ký để được phép sử dụng như là các chất hạn chế
REACH áp dụng vào ngành dệt may liên quan tới các chất trong mặt hàng, liệu các chất này có chủ định giải phóng ra khỏi mặt hàng hay không; liệu chúng có phải là các chất có mối quan ngại cao (SVHC) hay không và chúng có chứa các chất hạn chế trong sản phẩm dệt may hay không
Một số nội dung cần quan tâm đối với nhà sản xuất hàng dệt may vào EU là:
1 Nhà sản xuất phải làm gì khi xuất khẩu một mặt hàng dệt may vào EU? Họ sẽ
cần phải xem xét:
- Có loại hóa chất nào có trong mặt hàng quần áo xuất khẩu của họ?
- Có loại hóa chất nào trong số các hóa chất đó giải phóng ra khỏi mặt hàng một cách chủ định không ?
- Nếu chất đó có chủ định giải phóng ra thì lượng dùng chất đó trong một năm
có lớn hơn 1 tấn không?
- Nhà máy của bạn có sử dụng hóa chất nào trong danh mục các chất quan ngại cao của ECHA không? Nếu có thì hóa chất đó có trong sản phẩm với nồng độ vượt quá 0.1% khối lượng của sản phẩm đó không?
2 Tại sao nhà sản xuất dệt may phải làm điều đó ?
Vì REACH có một số qui định cơ bản mà nhà sản xuất phải tuân thủ:
- Các chất giải phóng ra khỏi mặt hàng một cách chủ định phải được đăng ký nếu nếu chúng có mặt trong sản phẩm với lượng trên 1 tấn cho một năm với một nhà sản xuất hoặc một nhà nhập khẩu
- Phải có các thông báo các chất có nguy cơ rất cao có trong mặt hàng nếu chúng
có mặt trong mặt hàng với nồng độ trên giới hạn 0,1% khối lượng sản phẩm hoặc lượng sử dụng trên 1 tấn trên tất cả các sản phẩm trong một năm
- Thậm chí nếu lượng các chất có nguy cơ rất cao chưa vượt ngưỡng qui định trên, nhà cung cấp mặt hàng đó phải cung cấp các đơn sử dụng với thông tin hiệu quả để cho phép sử dụng an toàn mặt hang nếu có mặt các chất có nguy cơ rất cao và lượng sử dụng vượt quá 0,1%
- Nếu một khách hàng có một yêu cầu nào đó về thông tin an toàn về SVHC trong mặt hàng, nhà cung cấp mặt hàng đó phải cung cấp các thông tin liên quan, không có phí trong phạm vi 45 ngày
3 Thông tin về các chất có mối quan ngại rất cao trong mặt hàng
Trang 17Các chất có mối quan ngại cao là những loại hóa chất được xem là có ảnh hưởng nguy hại cao tới sức khỏe người sử dụng và môi trường sống Theo REACH các chất nguy hại cao bao gồm các chất:
- Các chất độc thuộc nhóm CMR: các chất gây ung thư; các chất gây đột biến gen và các chất độc với sinh sản Chúng thuộc nhóm các chất loại 1 và loại 2 trong thông tư 67/548/ÊC
- Các chất độc thuộc nhóm PBT: các chất khó phân giải, tích lũy sinh học bền
và độc; các chất thuộc nhóm vPvB: rất khó phân giải, tích lũy sinh học bền theo tiêu chuẩn trong phụ lục XIII của REACH
- Các chất có các chứng cứ khoa học chứng minh các chất trên đe dọa tới sức khỏe con người và môi trường sống
Các nhà nhập khẩu cần thông tin liệu mặt hàng có chứa chất có mối quan ngại cao:
- Định tính; có hoặc không;
- Định lượng: nồng độ chất trên 0,1% theo khối lượng hoặc dưới 0,1%
Hiện nay, trên trang web của ECHA đã công bố danh sách đề xuất 15 chất
có mối quan ngại cao và luôn được cập nhật, bổ sung
Ngay khi danh sách “ứng cử viên” cho các chất có mối quan ngại cao được công
bố (phụ lục XIV của REACH), các nhà cung cấp mặt hàng có chứa chất có mối quan ngại cao với nồng độ trên 0,1% theo khối lượng; khi có yêu cầu, phải cung
cấp cho khách hàng/người tiêu dùng, trong vòng 45 ngày và miễn phí, đủ thông
tin để cho phép sử dụng mặt hàng một cách an toàn, tối thiểu là tên của chất
Ví dụ, một mặt hàng may mặc được cung cấp với rủi ro gây bệnh về da
nếu tiếp xúc với da, cần cung cấp thông tin sau: “Có chứa chất Y (rất) nguy hiểm tới sức khỏe Không mặc tiếp xúc trực tiếp với da”
Những chất nào là những chất nguy cơ rất cao (SVHCs)
Số lượng các chất nằm trong danh sách được quan tâm rất nhiều, vì vậy việc thử nghiệm cho tất cả các chất này trên các sản phẩm dệt may thường không thực hiện được Các nhà bán lẻ có một cách tiếp cận tốt hơn để có thể tìm thấy những chất được quan tâm có thể tồn tại trong các sản phẩm đó là phải tìm hiểu chuỗi cung cấp những chất hóa học đang được sử dụng trong các sản phẩm
Trang 184 Residual Pesticides
5 Extractable Heavy metals
6 Phthalates
7 Allergenic Disperse dyes
8 TBT, DBT and Other Organotin Compounds
9 Chlorinated Organic carriers
10 TOX/AOX Content
11 BHT in Polybags
12 Penal Odor test
13 Total Heavy metal Content
14 Nickel in accessories (Extended Wear)
15 Perfluoro octane Sulfonates (PFOS)
16 Chlorinated Organic Carriers
Danh mục 30 chất quan ngại cao (Substance of Very High Concern) được cập nhập tới thời điểm này là:
7 Sodium dichromate, dihydrate 7789-12-0 1
8 5-tert-butyl-2,4,6-trinitro-m-xylene (musk xylene) 81-15-2 1
9 Bis (2-ethyl(hexyl)phthalate) (DEHP) 117-81-7 1
10 Hexabromocyclododecane (HBCDD) 25637-99-4 1
11 Alkanes, C10-13, chloro (Short Chain Chlorinated Paraffins) 85535-84-8 1
12 Bis(tributyltin)oxide (TBTO) 56-35-9 1
13 Lead hydrogen arsenate 7784-40-9 1
14 Benzyl butyl phthalate (BBP) 85-68-7 1
15 Triethyl arsenate 15606-95-8 1
16 Anthracene oil 90640-80-5 2
17 Anthracene oil, anthracene paste, distn lights 91995-17-4 2
18 Anthracene oil, anthracene paste, anthracene fraction 91995-15-2 2
19 Anthracene oil, anthracene low 90640-82-7 2
20 Anthracene oil, anthracene paste 90640-81-6 2
21 Coal tar pitch, high temperature 65996-93-2 2
22 Acrylamide 79-06-1 2
23 Aluminosilicate, refractory ceramic fibres 2
24 Zirconium aluminosilicate refractory ceramic fibres 2
Trang 1925 2,4-dinitrotoluene 121-14-2 2
26 Di-isobutyl phthalate 84-69-5 2
27 Lead chromate 7758-97-6 2
28 Lead chromate molybdate sulphate red (C I Pigment Red 104) 12656-85-8 2
29 Lead sulfochromate yellow (C I Pigment Yellow 34) 1344-37-2 2
30 Tris (2-chloroethyl) phosphate 115-96-8 2
1.3 Danh mục các chất hạn chế (RSL) của Hiệp hội dệt may và da giầy Mỹ AAFA (American Apparel & Footwear Asociation)
Một cách để kiểm soát các chất nguy hiểm đã được chấp nhận là tuân thủ danh sách các chất hạn chế sử dụng, theo đó hạn chế sự phơi nhiễm của người tiêu dùng với các chất riêng biệt ở những giới hạn mà chúng ảnh hưởng tới người tiêu dung và môi trường Mục đích của danh sách các chất hạn chế sử dụng là thiết lập một cách rõ ràng cho nhà cung cấp một danh sách các chất và giới hạn được phép có trong thành phẩm cuối cùng Thường là danh sách các chất hạn chế sử dụng thường được xem là một phần trách nhiện xã hội và phát triển bền vững của một công ty Việc quản lý các nguy cơ sử dụng các chất đó được xem là thực tiễn tốt nhất cho công nghiệp dệt Một công ty ban hành RSL
để đảm bảo các nhà cung cấp, người bán cũng như các tổ chức liên quan hiểu được các yêu cầu các chất hạn chế sử dụng
Các nhà bán lẻ thường sử dụng RSL qua ba cách sau:
RSL tư nhân:
Phần lớn các nhà bán lẻ lớn ở EU, Mỹ đều có danh sách RSL riêng của họ ngoài RSL của nhóm bất kỳ, do họ đã khởi động hướng đi của họ từ trước và đã có danh mục này trước đây Danh mục RSL của các nhà bán lẻ lớn nhằm kiểm soát
sự tuân thủ RSL của các nhà cung cấp đồng thời khẳng định thương hiệu và uy tín của Công ty Một số công ty khác cũng có RSL riêng của họ do họ kinh doanh một dãy rộng các sản phẩm ngoài Dệt may và Da giày
AAFA’ RSL của Hiệp hội Dệt may và Da giày Mỹ luôn duy trì một RSL cho
toàn ngành công nghiệp Mục đích của danh mục này chung cho tất cả ngành công nghiệp dệt may và da giày Ngày nay một sản phẩm được bán không chỉ tại một thị trường duy nhất ở châu Âu, hay bắc Mỹ, chúng được bán trên toàn thế giới Vì vậy AAFA xây dựng danh sách RSL trên phạm vị toàn cầu - Nó liệt kê
và cập nhật sáu tháng một lần tất cả các chất bị cấm liên quan tới hàng dệt may
và da giày ở các nước và giới hạn cao nhất được phép của các chất đó Đây là danh mục cho toàn ngành công nghiệp Một nhà cung cấp có thể tham khảo để
có được danh mục riêng cho mình mà không nhất thiết cố gắng có được danh
Trang 20mục cho cả 50 khách hàng khác nhau Tất cả các hóa chất bị hạn chế sử dụng được nêu trong danh mục của một nước này hay nước khác Nếu một hóa chất bị hạn chế ở từ hai nước trở lên thì danh mục của AAFA sẽ thể hiện giới hạn chặt chẽ nhất
Nhóm AFIRM là nhóm 13 thương hiệu lớn như Ann Taylor, Gap inc, C&A …
xây dựng một RSL chung của nhóm mặc dù họ đã có danh mục RSL riêng của công ty họ Các công ty của AFIRM có các cuộc gặp mặt thường xuyên để thảo luận các vấn đề RSL và đã xây dựng một công cụ hướng dẫn việc tuân thủ RSL Công cụ này chỉ ra nơi nào của quá trình có thể tìm thấy các chất bị hạn chế, một sơ đồ cho việc thực hiện tuân thủ, một kế hoạch quản lý hóa chất của một nhà máy và việc thử nghiệm RSL
Trong mục này sẽ đề cập chi tiết hơn về danh mục các chất hạn chế của Hiệp hội
da giày và quần áo Mỹ (AAFA).Hiệp hội da giày và quần áo Mỹ (AAFA) là hiệp hội thương mại quốc gia đại diện cho những công ty, các nhà cung cấp quần áo, da giày và những sản phẩm may khác trong thị trường toàn cầu Nhiệm
vụ của AAFA là xúc tiến và đẩy mạnh sự cạnh tranh, năng lực sản xuất và lợi nhuận của các thành viên trong thị trường toàn cầu bằng việc giảm tối thiểu những hạn chế về quy định, thương mại, chính trị và mậu dịch
Trong chuyên đề này, chúng tôi giới thiệu phiên bản số 7 là phiên bản mới nhất của AFIRM xuất bản vào tháng 6-2010 danh mục các chất hạn chế trong các sản phẩm dệt may và da giày
Danh mục chất hạn chế này được nhóm chuyên viên đặc biệt thuộc Ban Môi trường (Environmental Task Force) của hiệp hội AAFA biên soạn Danh mục
SRL cung cấp những thông tin cho các công ty dệt may và da giày danh sách các chất bị cấm hoặc giới hạn cho phép trong các luật hoặc qui định đối với các chất trong các sản phẩm quần áo, hàng dệt gia dụng và các sản phẩm da giày trên thế giới Danh sách RSL sẽ có tác dụng như một công cụ thực hành
giúp những cá nhân, những công ty dệt may và da giày và các nhà cung cấp của
họ thấy được trách nhiệm với những yêu cầu môi trường thông qua chuỗi cung cấp; có nhận thức tốt hơn với các luật ở các quốc gia để hạn chế lượng chất không được phép trong các sản phẩm quần áo, hàng dệt gia dụng và sản phẩm
da giày
Danh sách RSL sẽ được cập nhật một năm hai lần và cung cấp để giúp các chuyên viên trong các công ty đảm nhận trách nhiệm quản lý hóa chất đối với các sản phẩm trên,
Trang 21Cấu trúc danh mục: Danh mục RSL có các nội dung sau đối với mỗi chất:
1 Số CAS
2 Tên thuốc nhuộm hoặc tên hóa chất
3 Thông tin về mức hạn chế hay giới hạn trên sản phẩm thành phẩm hoặc những thành phần được thử nghiệm
Phạm vi áp dụng:Danh mục RSL chỉ bao gồm những hóa chất và các chất đã bị
hạn chế và bị cấm theo luật trong các sản phẩm da giày, quần áo và hàng dệt gia dụng.Danh mục RSL không bao gồm những luật về giới hạn sử dụng các chất trong quá trình sản xuất hay trong nhà máy;
Danh mục RSL không bao gồm các chất trong nằm ngoài lĩnh vực quản lý hóa chất – như luật của Ủy ban an toàn các sản phẩm tiêu dùng (CPSC) mà chỉ liên quan đến những phần nhỏ trong đó Hơn nữa, danh mục không bao gồm những sản phẩm đồ chơi, sản phẩm dệt trang trí ô tô, hoặc các hàng dệt công nghiệp khác Danh mục này không bao gồm các luật hạn chế liên quan đến việc sử dụng các chất trong các vật liệu đóng gói hay các vật liệu khác có liên quan
Các luật sau không có trong danh sách bởi vì không có những giới hạn về nồng
độ quy định nhưng có thể chứng nhận đánh giá sự phù hợp
1 US EPA, tiếp theo là Montreal Protocols, đã ban hành luật về những hợp chất làm thủng tầng ozon Danh mục nhóm I và nhóm II đã liệt kê các chất hóa học sử dụng trong quá trình sản xuất của sản phẩm hoặc việc ghi nhãn đặc biệt trong quá trinh đóng gói được nêu ra cụ thể trong luật Không nhất thiết phải áp dụng các yêu cầu của luật đối với tàn dư của các thành phần hóa học trên sản phẩm hoặc bao gói Việc sử dụng ngày càng
ít những sản phẩm này cũng như xu thế sạch hơn trong ngành dệt là có thể chấp nhận được
2 Luật Clifornia Proposition 65 yêu cầu ghi nhãn cho sản phẩm có chứa các chất hóa học có liên quan đến khả năng gây bệnh ung thư Những yêu cầu ghi nhãn một cách đặc thù phụ thuộc vào sự nguy hiểm của chất hóa học đối với khách hàng mà không phải là nồng độ có trong sản phẩm Mức độ nguy hại đã được xác định đối với từng chất hóa học cụ thể trong những
Trang 22trường hợp áp dụng cụ thể, các sản phẩm hoặc quá trình sử dụng cụ thể bằng những ban bố theo luật của Bang California Danh sách bao gồm tất
cả những thành phần mà đã được ban hành theo luật
Các chất bị cấm trong danh sách:
1 Thuốc nhuộm Azo (khi phân giải tạo ra một trong các amin gây ung thư:
Thuốc nhuộm azo là kết hợp một hoặc nhiều nhóm azô (-N=N-) với các hợp chất vòng Hiện có hàng ngàn loại thuốc nhuộm azo, tuy nhiên chỉ cấm các thuốc nhuộm khi phân giải có thể tạo ra các amin thơm trong danh mục bị hạn chế sử dụng
Nơi tiểm ẩn:Trong hàng dệt may và da giầy, thuốc nhuộm azo (Các chất mà khi
phân giải tạo ra các amin bị hạn chế sử dụng) có thể tìm thấy trong vải hoặc da nhuộm màu
2 APEO/AP (Alkyphenol Ethoxylat/Alkylphenol): NPEs/OPEs có trong các
chất hoạt động bề mặt không ion gọi là alkylphenol ethoxylat (APEOs) NPEs
và OPEs có thể phân giải thành NP và OP tương ứng APEOs được sử dụng trong các chất tẩy rửa, các chất nấu, chất làm mềm, chất nhũ hoá/các chất phân tán trong thuốc nhuộm và hồ in hoa và chất ngấm
Nơi tiểm ẩn::Trong thuộc da, APEO được sử dụng trong công đoạn khử dầu,
tẩy nhờn, hoàn tất v v… Trong sản xuất tơ tằm được dùng trong chuội tơ APEO cũng có thể có mặt trong các công đoạn chuẩn bị nhuộm hoặc hồ in pigment Trong nhuộm ngấm ép polyeste và làm đầy cho da cũng tiềm ẩn nguy hại của APEO
3 Thuốc nhuộm phân tán nhạy cảm: Thuốc nhuộm phân tán là nhóm thuốc
nhuộm không tan trong nước Những thuốc trong danh mục bị hạn chế sử dụng
là những thuốc nhuộm nghi ngờ là nguyên nhân gây ra dị ứng da
Nơi tiểm ẩn:Thuốc nhuộm phân tán để nhuộm xơ tổng hợp hoặc các xơ nhân
tạo (polyester, acetate, và polyamide)
4 Các chất hoàn tất chống cháy (chậm cháy): Các chất chống cháy là hợp
chất hoá học mà có thể kết hợp với vật liệu dệt hoặc dạng phun để ngăn cản sự cháy
Nơi tiềm ẩn:Các loại quần áo trẻ em, vải lều bạt (tráng phủ PU)
5 Formaldehyt: Formaldehyt là một hợp chất dễ bay hơi được sử dụng rộng
rãi trong sản xuất dệt may làm tác nhân chống co và chống nhàu Hơn nữa,
Trang 23formaldehyt còn thường sử dụng trong trùng hợp các loại nhựa (ví dụ: formaldehyt and urea-formaldehyt)
phenol-Nơi tiềm ẩn:Trong hàng dệt may và vật liệu dệt, formaldehyde có thể tìm thấy
trong vải là ép bền và tạo độ cứng cho vải Vì formaldehyt là hợp chất dễ bay hơi, việc nhiễm bẩn vật liệu cũng có thể xảy ra
6 Pentachlo phenol (PCP) : PCP hợp chất polychlorinated sử dụng làm chất
bảo quản cho gỗ, da và vật liệu dệt
Nơi tiềm ẩn:PCP được sử dụng để chống nấm trong vật liệu dệt, da giầy và một
số sản phẩm gỗ
7 Hợp chất hữu cơ thiếc:Hợp chất hữu cơ là các hoá chất có thiếc kết hợp với
các chất hữu cơ như các nhóm butyl và phenyl Các hợp chất hữu cơ thiếc chủ yếu tìm thấy trong môi trường như sơn chống rỉ đối với nước biển, nhưng cũng
có thể sử dụng làm chất chống khuẩn (kháng khuẩn), và /hoặc chất ổn định nhiệt trong các sản phẩm nhựa
Nơi tiềm ẩn:Trong hàng dệt may, các hợp chất hữu cơ thiếc có thể thấy trong
các phụ liệu nhựa, mực in và vật liệu chuyển nhiệt
8 Polyvinyl chlorua (PVC) : PVC (cũng giống như vinyl) là một polyme clo
hóa được sử dụng rộng rãi Các sản phẩm vinyl bao gồm thẻ tín dụng, đồ gia dụng, đồ chơi, sàn nhà, vật liệu cách điện, ống vòi tưới nước làm vườn, và vải tráng nhựa, áo khoác
Nơi tiềm ẩn:PVC có thể tìm thấy trong các phụ liệu dệt may, trong mực in và
sản phẩm in lưới
9 Phthalat: Phthalat là nhóm hợp chất hữu cơ bổ sung vào nhựa để tăng độ
mềm mại
Nơi tiềm ẩn: Trong hàng dệt may và vật liệu dệt, phthalat có thể kết hợp với các
phụ liệu nhựa phụ liệu trang trí và sản phẩm in lưới
10 Nikel (Nickel): Nickel là một kim loại thường kết hợp với các kim loại khác
để tạo hợp kim làm tăng độ cứng và chống sự ăn mòn
Nơi tiềm ẩn:Trong hàng dệt may, nickel thường có trong các phụ kiện dệt may, quần áo, sơn, mực in, phụ liệu, chất dẻo, và các thành phần kim loại
11 Các kim loại (các kim loại khác): Các kim loại này bao gồm antimon,
arsen, bari, seleni
Trang 24Nơi tiềm ẩn:Các kim loại antimon, arsen, bari, và seleni có thể có trong xơ tổng
hợp, các phụ liệu dệt và quần áo, sơn, mực in, cắt, chất dẻo, và các thành phần kim loại
12 Các khí chứa Flo (Fluorinated Greenhouse Gases): Các hợp chất hữu
cơ chứa flo được dùng để thay thế cho CFCs (Chlorofluorocarbons) và HCFCs (Hydrofluorocarbons) là 2 chất gây phá huỷ tầng ozone,năm 1987 Montreal Protocol đã thực hiện chương trình loại bỏ sản phẩm này Flourocarbons được dùng là chất làm lạnh trong các máy điều hoà, tủ lạnh và sử dụng làm tác nhân phóng trong công nghiệp phóng tên lửa, vũ trụ Ngoài ra còn ứng dụng trong các lĩnh vực khác như phun tạo bọt, dung môi làm sạch, tráng phủ vật liệu dệt Vật liệu dệt tráng phủ fluorocarbons bền với thời tiết, hoá chất, chống tia UV và ngăn bụi Ngoài ra vật liệu dệt xử lý fluorocarbons có khả năng chống thấm nước và chống vón hạt, xù lông
Nơi tiềm ẩn:Vật liệu dệt tráng phủ
13 Peflo octan Sulfonat (PFOS): Axit Perlo octan sulfonic là một hợp chất
flo hữu cơ Muối của hợp chất này thường sử dụng như chất hoạt động bề mặt Giống như các flo carbon khác C8F17 là hợp chất kỵ nước và PFOS là thành phần chính trong xử lý chống thấm nước
Nơi tiềm ẩn:Binder trong các vải không dệt để tăng khả năng nhuộm màu; các
chất ngấm để tăng độ bao phủ và sự thâm nhập của các hóa chất, xử lý hoàn tất
để đạt được độ đồng đều trên thân sợi; chất tráng phủ trên vật liệu dệt, da, và các vật liệu khác để tăng khả năng kháng thấm dầu, kháng thấm nước
14 Amiăng (Asbestos): Amiăng thường có trong các vật liệu khoáng silica
dạng thớ Amiăng mỏng, dài và dễ uốn có thể dệt thanh vật liệu dệt Xơ amiăng rất bền và có khả năng chống cháy
Nơi tiềm ẩn:Không chắc chắn tìm thấy trong vật liệu dệt thông thường ngoại trừ
quần áo chống cháy
15 Dioxin và Phu ran (Dioxins and Furans): Dioxin được tạo bởi 75 hợp
chất polychlorinated gọi là dibenzo-p-dioxin clo hóa Mỗi một dioxin có tính độc khác nhau phụ thuộc vào cấu trúc của nó và chất lượng thu hút các liên kết Furans cũng là hợp chất polychlorinated (tồn tại 135 furans khác nhau) Dioxins
và furans là những hoá chất có tính độc và cấu trúc tương tự nhau
Nơi tiềm ẩn:Dioxins/furans là các bán sản phẩm của các hợp chất hữu cơ cháy
chưa hoàn toàn trong môi trường nhiều clo và thường có trong sản xuất thuốc
Trang 25bảo vệ thực vật, PVC, và một số hoá chất chứa clo khác Không chắc chắn có qui định pháp chế về dioxin và furan áp dụng cho hàng dệt may
16 Thuốc trừ sâu (Pesticides): Dieldrin và DTTB là thuốc bảo vệ thực vật
mà có thể thấy trong xơ thiên nhiên trong quá trình sinh trưởng và gia công
Nơi tiềm ẩn:Trong hàng dệt may và vật liệu dệt, những thuốc bảo vệ thực vật
này có thể tìm thấy trong xơ thiên nhiên, chủ yếu là xơ bông
1.4 Các nhãn sinh thái
Nhãn sinh thái cho chúng ta biết về tác động tới môi trường từ sản xuất hay sử dụng một sản phẩm Theo mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) thì “ nhãn sinh thái là nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm”
Một nhãn sinh thái biểu thị cho một chất lượng hay một tính chất nhất định và qua quá trình thẩm tra, sản phẩm đã gắn nhãn sinh thái được xác định là
có chất lượng được công bố trên nhãn Nhãn sinh thái đựơc thiết kế nhằm thông tin cho khách hàng rằng sản phẩm gắn nhãn sinh thái thân thiện hơn với môi trường hơn hầu hết các sản phẩm khác trong cùng chủng loại này Mong muốn
là khơi dậy khả năng tiềm ẩn hay các sở thích chưa được định hướng của người tiêu dùng tới hàng hoá có nhãn sinh thái, để khuyến khích nhà sản xuất phát triển và ứng dụng công nghệ giảm nhẹ ảnh hưởng tới môi trường Nói một cách khác, gắn nhãn sinh thái được trông chờ là một công cụ hữu hiệu theo xu hướng tiêu dùng sạch (xanh)
Có rất nhiều chương trình nhãn khác nhau, được điều hành bởi chính phủ, các công ty tư nhân và các tổ chức chính phủ
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế có trụ sở tại Giơnevơ - Thuỵ sĩ cũng như
hệ thống nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) đã đưa ra các tiêu chuẩn cho ba loại nhãn cơ bản, đó là một bước để hài hoà các cách tiếp cận khác nhau trong việc gắn nhãn
Đến những năm 1990, phát triển chính về hàng dệt sinh thái là phân biệt
rõ ràng giữa việc chỉ tập trung vào khía cạnh sức khoẻ và tập trung vào các khía cạnh môi trường rộng hơn Điều này tạo nên hai loại tiêu chí và hai loại nhãn; cả hai loại tiêu chí và nhãn này đều tạo nên cơ sở cho hàng dệt sinh thái Một loại tiêu chí lấy gánh nặng sinh thái dọc theo toàn bộ chuỗi sản xuất làm yếu tố chính, với các sản phẩm dệt bắt đầu từ việc trồng bông hữu cơ, cho đến không
Trang 26sử dụng một số hoá chất độc hại cụ thể trong quá trình gia công, và cùng với điều này là báo cáo sử dụng năng lượng và nước thải – đây được gọi là sinh thái sản xuất Nhãn sinh thái “Bông hoa” của EU, nhãn sinh thái “Thiên nga” của các nước vùng Biển Bắc và nhãn sinh thái của Australia tiêu biểu cho loại tiêu chí này Loại tiêu chí kia tập trung vào dư lượng các chất độc hại còn lại trên vải như là khía cạnh quan trọng nhất - được gọi là sinh thái sử dụng Nhãn sinh thái Oeko-Tex 100 đi tiên phong trong việc lập ra các tiêu chí như vậy Chương trình nhãn Xanh của Thái lan và Ecomark của Ấn Độ cũng đi theo hướng này với các tiêu chí đặt ra có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện đặc thù của ngành công nghiệp dệt và các điều kiện thử nghiệm phân tích của từng nước
Trên 10 năm qua, nhiều chương trình nhãn sinh thái được thiết kế để đảm bảo cho người tiêu dùng về tính an toàn và tính chấp nhận về môi trường của một sản phẩm nhất định đã thúc đẩy các vấn đề an toàn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chuỗi cung cấp dệt và hàng may mặc
Thành công nhất của các chương trình gắn nhãn sinh thái dệt là Tiêu chuẩn Oeko-Tex100 do “Hiệp hội Quốc tế về nghiên cứu và thử nghiệm trong lĩnh vực sinh thái dệt” điều hành và hoạt động bởi các Viện thử nghiệm nhượng quyền ở châu Âu, Mỹ và châu Á Trên 80.000 chứng chỉ đã được cấp trên toàn thế giới cho trên 8.000 công ty
Tiêu chuẩn Oeko-Tex 100 là nhãn “sinh thái con người”do nó tập trung vào các ảnh hưởng xấu có thể của các hóa chất dư trên mặt hàng lên sức khoẻ của người mặc Các giá trị giới hạn của dư lượng hóa chất và các tiêu chí độ bền màu được đưa ra cho mỗi nhóm sản phẩm Yêu cầu chi tiết cho quần áo trẻ em có đòi hỏi khắt khe nhất Các thông số ảnh hưởng nhiều nhất bởi công đoạn nhuộm màu,
và do vậy bị ảnh hưởng rất lớn bởi sự lựa chọn thuốc nhuộm và hóa chất là các thông số về kim loại nặng, các thuốc nhuộm gây ung thư, các thuốc nhuộm gây
dị ứng và độ bền màu
Từ tháng 2 năm 1997, Tiêu chuẩn Oeko-Tex 100 phân biệt giữa bốn
nhóm sản phẩm để tạo thuận lợi cho phân loại hàng dệt cho đơn vị xin gắn nhãn sinh thái và đơn giản hoá quá trình đánh giá tổng quát
Một nhóm sản phẩm trong tiêu chuẩn Oeko-Tex 100 là một nhóm các mặt hàng khác nhau, được phân loại theo mục đích sử dụng Trong các nhóm sản phẩm khác nhau, không chỉ các mặt hàng bán sẵn mà cả các sản phẩm ban đầu của chúng tại các mức gia công khác nhau như xơ, sợi và vải và các vật liệu phụ trợ cùng được đánh giá và công nhận Các nhóm sản phẩm khác nhau nói chung
về các yêu cầu mà sản phẩm cần phải đáp ứng và về các phương pháp thử được
áp dụng
Những hàng dệt có nhãn tiêu chuẩn Oeko-Tex 100 là
Trang 27• Hàng dệt không chứa các loại thuốc nhuộm gây dị ứng và thuốc nhuộm tạo thành các arylamin gây ung thư thuộc nhóm MAK III A1 và III A2
• Hàng dệt đã được thử nghiệm thuốc trừ sâu, và các phenol clo hoá
• Hàng dệt đã được thử nghiệm về giải phóng các kim loại nặng trong điều kiện mồ hôi nhân tạo
• Hàng dệt không có formanđehyt hoặc có nhưng thấp hơn nhiều so với mức pháp luật yêu cầu
• Hàng dệt có độ pH thân thiện với da
• Hàng dệt không có các chất tải clo hữu cơ
• Hàng dệt dùng cho may mặc không sử dụng các chất xử lý hoàn tất có hoạt tính sinh học
• Hàng dệt đạt các cấp độ bền màu quy định cho:
o Với nước
o Với mồ hôi có tính a xít
o Với mồ hôi có tính kiềm
o Với ma sát
o Với nước bọt và mồ hôi
So với Tiêu chuẩn Oeko-Tex 100, nhãn sinh thái chính thức của EU cho vật liệu dệt và Tiêu chuẩn dựa trên vòng đời Oeko-Tex 1000 lại không phổ biến bằng do
sự phức tạp, yêu cầu nhiều dữ liệu dọc theo chuỗi cung cấp và thêm nhiều chi phí Chỉ 70 nhãn sinh thái EU được trao cho các sản phẩm dệt kể từ khi tiêu chí được thiết lập hơn 10 năm qua
Chương trình nhãn sinh thái EU “Bông hoa” được phát triển từ 1992, nhằm “thúc đẩy việc thiết kế, sản xuất, marketing và sử dụng các sản phẩm có tác động đã được giảm nhẹ trong toàn bộ vòng đời của mình” Phát triển các tiêu chí cho các nhóm sản phẩm bằng cách ứng dụng đánh giá vòng đời của sản phẩm, đánh gía tác động đến môi trường tại từng công đoạn sản xuất của vòng đời sản phẩm Quá trình đánh giá này ứng dụng nguyên tắc “từ khi sinh ra đến khi chết đi” – từ nguyên liệu thông qua quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng, cho tới thải bỏ cuối cùng Sau đó một bộ các tiêu chí cho nhãn sinh thái được thoả thuận với ý định là giảm các tác động chủ yếu đến môi trường như sử dụng năng lượng, sự ấm lên của trái đất, mưa axit và ô nhiễm nước
Trang 28Các tiêu chí của nhãn sinh thái EU “Bông hoa” cho nhóm sản phẩm dệt được áp dụng cho tất cả các sản phẩm dệt bao gồm hàng may mặc dệt và vật liệu phụ trợ, xơ, sợi và vải và sản phẩm dệt nội thất trừ vật liệu dệt dán tường và trải sàn Để nhận được nhãn sinh thái “Bông hoa”, sản phẩm dệt phải đáp ứng các tiêu chí sinh thái và hiệu quả sau đây:
¾ Các tiêu chí sinh thái
Các giới hạn của các dư lượng độc trong xơ
- Acrylic: Acrylonitril < 1,5 mg/kg
- Bông: dư lượng của các thuốc trừ sâu nhất định < 0,05 ppm
- Elastan và polyuretan: không có các hợp chất thiếc hữu cơ
- Lông cừu chưa giặt và các xơ keratin khác: giới hạn của các thuốc trừ sâu nhất định
- Xơ xenlulo nhân tạo: AOX < 250 ppm
- Polyeste: Antimoan < 260 ppm
- Polypropylen: không có các pigment có gốc chì
Giảm ô nhiễm không khí trong quá trình sản xuất xơ
- Acrylic: Acrylonitril < 1g/kg
- Elastan và polyuretan: các diisocyanat thơm < 5 mg/kg
- Xơ xenlulo nhân tạo: Lưu huỳnh < 120 g/kg (sợi philamăng) và 30 g/kg (xơ cắt ngắn)
- Polyamit: N2O < 10g/kg cho polyamit 6 và < 50 g/kg cho polyamit 6.6
- Polyeste: các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi < 1,2 g/kg
Giảm ô nhiễm nước trong quá trình sản xuất xơ
- Xơ lanh và các xơ libe khác: COD/TOC từ nước ngâm giảm ít nhất 75% (gai dầu) và 95% (lanh và các loại xơ khác)
- Visco: Zn < 0,5 g/kg
- Xơ amoniăc đồng: Cu < 0,1 ppm
- Xơ len chưa giặt và các loại xơ keratin khác: COD < 60 g/kg
COD giảm 75% nếu xử lý nước thải bên ngoài nhà máy; Nếu xử lý nước thải trong nhà máy thì COD < 5 g/kg, 6 < pH < 9 và nhiệt độ < 400 C
Trang 29 Các giới hạn sử dụng các chất độc đối với môi trường đặc biệt là môi
trường thuỷ sinh và sức khoẻ
- 90% dầu dùng cho quá trình chải thô và quá trình kéo sợi, các chất bôi trơn và các chất xử lý hoàn tất cho quá trình kéo sợi ban đầu và 95% các chế phẩm dùng cho quá trình hồ, các chất tẩy rửa, các chất làm mềm vải và các chất phức hợp làm tăng khối lượng phải phân huỷ sinh học hoặc phải có thể loại
bỏ được
- Các hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs) trong dầu khoáng < 1%
- Không có các hợp chất nhất định, các chất tải clo hoá
- Không có các kim loại nặng và và formalđehyt trong quá trình bóc màu và quá trình khử trùng hợp
- Không có APEO, DTDMAC, DSDMAC, EDTA, LAS, DTPA, thuốc nhuộm gắn màu crom
- Lượng phát thải halogen hữu cơ có khả năng hấp thụ ra khỏi chất tẩy trắng < 40 mgCl/kg (100 mg trong từng trường hợp nhất định)
- Độ tạp chất trong thuốc nhuộm (tính bằng ppm):
- Không có các chất diệt nấm mốc hoạt động trong khi sử dụng
- Thải ra nước các thuốc nhuộm phức kim loại dựa trên Cu, Cd hoặc Ni: max 20% (nhuộm xenlulo), 7% (các quá trình nhuộm khác), xử lý sau:
Cu < 75 mg/kg (xơ, sợi, vải), Cr < 50 mg/kg, Ni < 75 mg/kg
- Không có thuốc nhuộm azo phân tách ra các amin thơm được liệt kê trong danh sách
- Không có thuốc nhuộm được phân loại là gây ung thư, biến đổi gen, độc cho quá trình sinh sản theo thông tư số 67/548/EEC
- Không có thuốc nhuộm nhạy cảm nếu độ bền màu mồ hôi > 4
Trang 30- Hồ in: chất dễ bay hơi < 5% Không in dựa trên dung dịch keo
- Formalđehyt < 30 ppm cho các sản phẩm tiếp xúc với da, 300 ppm cho các sản phẩm khác
- COD từ quá trình gia công ướt < 25g/kg nếu xử lý nước thải trong nhà máy, 6 < pH < 9 và nhiệt độ < 400 C
- Không có các chất xử lý chậm cháy hoặc các chất xử lý hoàn tất chứa
> 0,1% các chất được phân loại là gây ung thư, biến đổi gen, độc cho quá trình sinh sản và nguy hiểm cho môi trường theo Thông tư 67/458EEC
- Xử lý hoàn tất chống co chỉ dùng cho cúi len
- Các lớp tráng ngoài, các vật liệu cán dính lớp, các màng mỏng: không
có chất dẻo hoá hoặc các dung môi được đưa vào danh sách đoạn R theo Thông tư 67/548/EEC
¾ Các tiêu chí về hiệu quả và tính bền lâu
Các thí nghiệm sau đây phải được thực hiện trên sợi đã nhuộm, vải cuối cùng hoặc sản phẩm cuối cùng
- Sự thay đổi kích thước trong quá trình giặt và phơi khô < 8% đối với các sản phẩm dệt kim, 8% đối với vải nổi vòng, 6% đối với các sản phẩm dệt thoi khác
- Độ bền màu đối với mồ hôi (axit, kiềm), đối với giặt, đối với quá trình
ma sát khô và ướt, đối với ánh sáng
Vật liệu dệt hữu cơ
Trong một vài năm qua người tiêu dùng quan tâm nhiều đến bông hữu cơ, tức là bông được trồng mà không sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật nguy hiểm tiềm tàng Nhiều chương trình gắn nhãn sinh thái dệt hữu cơ xuất hiện ở một vài nước gồm Mỹ, Đức, Anh, Nhật bản để trao đổi thông tin tới người tiêu dùng rằng bông hữu cơ cũng đã được gia công sau thu hoạch theo cách chấp nhận được với sinh thái
Thậm chí người ta đề xuất hài hòa nhiều chương trình quốc gia độc lập và điều này dẫn đến việc tạo ra Tiêu chuẩn Dệt Hữu cơ Toàn cầu và năm 2006 Phiên bản tiêu chuẩn được soát xét lại và logo mới được giới thiệu vào năm 2008
Trang 31Chương 2:
TỔNG QUAN CÁC CÔNG NGHỆ NHUỘM VÀ HOÀN TẤT ĐANG
ĐƯỢC ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
Các công nghệ nhuộm, hoàn tất hiện đang được áp dụng tại các cơ sở dệt nhuộm Việt Nam chủ yếu là những công nghệ hoá học xử lý vật liệu dệt với mục đích hoàn thiện, nâng cao chất lượng các mặt hàng dệt, biến đổi chúng từ vải mộc thành sản phẩm có màu trắng, hay có màu, có hoa, mềm mại, bóng, xốp, mượt mà, ít nhăn, ít co.v.v….đáp ứng nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng hay may mặc, trang trí trong nhà và cho các mục đích công nghiệp
Những công nghệ xử lý ướt được áp dụng ở các nhà máy nhuộm của Việt Nam tương ứng với những nguyên liệu dùng kéo sợi, dệt vải, dêt lụa Các mặt hàng chính vẫn là vải bông, vải từ sợi PET và vải từ sợi Pe/Co Ngoài ra còn có các loại vải khác như len, Acrylic, tơ tằm hay vải từ sợi Vixco
Dù xử lý hoàn tất trên các dây chuyền thiết bị liên tục, bán liên tục hay gián đoạn, trên quan điểm đánh giá mức độ phát sinh độc hại và ô nhiễm môi trường, có thể xem xét các công nghệ xử lý ướt thành những nhóm chính là xử
lý trước, nhuộm, in hoa và xử lý hoàn tất cuối cùng
Sau đây, chúng ta lần lượt đề cập đến các nhóm công nghệ nói trên áp dụng ở Việt Nam
2.1 Tổng quan các công nghệ xử lý ướt tại Việt Nam
2.1.1 Xử lý trước
Mục đích của xử lý trước là chuẩn bị cho hàng dêt (sợi, vải) đủ các điều kiện kỹ thuật và chất lượng cần thiết cho nhuộm, in hoa và xử lý hoàn tất cuối cùng
Chính vì vậy, xử lý trước bao gồm: đốt lông, rũ hồ (nếu có hồ sợi dọc), nấu – giặt, chuội, hồi phục, tẩy trắng, tăng trắng quang học (nếu làm hàng trắng thành phẩm); làmbóng; định hình
¾ Đốt lông và rũ hồ
Đốt lông thường tiến hành đối với vải sợi bông và vải sợi pha polyeste/bông, vixco Hiện nay, ở nước ta sử dụng công nghệ đốt lông bằng các loại khí (gas) như khí dầu mỏ (LP gas), khí xăng dầu (gasoline gas),.v.v ở các máy đốt lông có 2 miệng lửa hoặc 4 miệng lửa
Với các mặt hàng từ sợi bông, sợi Pe/Co hoăc sợi vixco có hồ để dệt khăn bông hay dệt vải thì các loại vải đó cần thiết phải tiến hành rũ hồ (bột sắn, bột gạo hay hồ tổng hợp (PVA)) để loại bỏ các loại hồ đó mới có thể nhuộm được
Trang 32Trước đây dùng phổ biến và hiện nay vẫn còn dùng xút (NaOH) để rũ hồ tinh bột, như công nghệ ủ hồ bằng xút loãng sau đốt lông Hiện nay, trong các nhà máy, xí nghiệp dệt – nhuộm thuộc Tập đoàn Dệt – May Việt Nam (VINATEX) như Nam Định, Vinafa, Bình An , rũ hồ bằng men vi sinh (enzym)
đã là công nghệ được áp dụng phổ biến, vừa đơn giản, gọn gàng, an toàn, đạt hiệu quả rũ hồ cao, đảm bảo chát lượng vải, thân thiện với môi trường
Với các loại vải từ sợi tổng hợp, việc loại bỏ hồ tổng hợp PVA 100% thì đơn giản hơn nhiều, chủ yếu giặt bằng nước sôi vì loại hồ này dễ hoà tan
¾ Nấu – giặt, chuội
Nấu chủ yếu cho vải dệt thoi, dệt kim và sợi từ bông pha polyeste Giặt thường chỉ định cho vải sợi tổng hợp, len và pha len Còn chuội là đối với tơ tằm
Nấu thì thường sử dụng xút (NaOH) hay cacbonat (Na2CO3) cùng các chất trợ khác nhau trong các nồi nấu, thùng bể, máy jigơ, máy guồng (winch) và máy jet theo các công nghệ gián đoạn Công nghệ nấu gián đoạn hiện áp dụng chủ yếu thực hiện cho vải dệt kim ở dệt kim Đông Xuân, nấu khăn ở Dệt Phong Phú, Nam Định, Dệt May Hà Nội Với sản lượng lớn, người ta nấu liên tục bằng xút trên dây chuyền nấu liên tục theo công nghệ ngấm ép – chưng hấp (pad – steam) như đang làm ở Dệt Nam Định, Nhuộm Bình An, Dệt Gia dụng Phong Phú,v.v…
Với vải, lụa dệt từ xơ hay tơ vixco thì xử lý trước đơn giản hơn vì có ít tạp chất hơn bông và cần xử lý nhẹ nhàng trong kiềm yếu – chủ yếu sử dụng natri cacbonat (Na2CO3) để tránh tổn thất cường lực Nếu không dùng hồ tinh bột, mà
sử dụng các loại hồ ta thì kết hợp rũ hồ và nấu trong một công đoạn
Giặt các loại vải sợi tổng hợp 100% (axetat, polyamit, polyeste) bằng các chất giặt và có thể thêm kiềm nhẹ như sôđa (Na2CO3)
Chuội là thuật ngữ dùng khi khử keo (serixin) cho lụa tơ tằm Trước đây thường dùng xà phòng – cacbonat, gần đây đã sử dụng chất khử keo tơ tổng hợp
có chất bảo vệ tơ tằm, có tên thương mại Miltopan SE và kiềm (NaOH) đã rút ngắn thời gian chuột rất nhiều và lại đảm bảo chất lượng cao hàng tơ tằm
¾ Tẩy trắng vải, sợi bông (và vixco) dệt kim và dệt thoi
Ngày nay, một số nhà máy lớn (thuộc VINATEX) chỉ tiến hành tẩy trắng bằng hiđrô peoxit H2O2 theo công nghệ ngấm ép – xông hơi (pad – steam) trên các máy liên tục, hiện đại Tẩy trắng bằng H2O2 đạt hiệu quả chất lượng cao, và
là một công nghệ thân thiện với môi trường
Trang 33Với các công ty sản xuất khăn vẫn còn sử dụng công nghệ tẩy trắng kết hợp: giai đoạn đầu tẩy trắng bằng nước Javen, rồi tiếp theo giai đoạn hai tẩy trắng bằng nước oxi già H2O2 Kết quả đạt độ trắng khá cao Việc sử dụng nước Javen để tẩy trắng khăn sẽ thải ra môi trường nước thải có ảnh hưởng có hại tới môi trường
Tăng trắng quang học, còn gọi là “lơ” được áp dụng phổ biến cho cả vải sợi bông, polyeste, nilon, acrylic, len, tơ tằm có ánh sắc và độ bền khác nhau
Lơ quang học làm tăng độ trắng hàng dưới ánh sáng Mặt trời, đáp ứng yêu cầu về độ trắng – trắng tinh cho người tiêu dùng
¾ Làm bóng và định hình
Làm bóng vải, sợi bông (và cả vải sợi pha) bằng xút nồng độ cao để đạt
độ bóng, ổn định kích thước, tăng cường lực, giảm lượng thuốc nhuộm được tiến hành trên máy làm bóng trục kiểu mới ở Dệt Nam Định, Nhuộm Vinafa, Nhuộm Bình An và Công ty 28
Định hình để ổn định kích thước, chống nhăn nhàu vải sợi tổng hợp polyeste, polyamit hay vải sợi pha polyeste/bông, vixco, polyeste/len trước khi nhuộm trong các máy nhuộm tận trích (thùng, bể, máy nhuộm guồng, máy nhuộm jet, v.v.) bằng không khí nóng ở các máy định hình các loại
Ngoài ra còn có định hình nấu (crabbing) cho vải len 100% hay vải pha có
tỉ lệ len cao ở máy đinh hình nấu thích hợp (ở Công ty 28)
2.1.2 Nhuộm các loại vải sợi
• Nhuộm vải sợi bông
Nhuộm vải, sợi bông bao gồm cả vải dệt thoi, dêt kim, khăn bông các loại
và nhuộm sợi làm khăn, sợi làm chỉ khâu
Có ba loại thuốc nhuộm được sử dụng phổ biến là thuốc nhuộm trực tiếp, hoạt tính và hoàn nguyên Thuốc nhuộm lưu hoá, hoàn nguyên ta (indigosol) và azo không tan ( nhuộm “đá”) hiện nay còn sử dụng rất ít
Về công nghệ nhuộm cũng có ba loại hình công nghệ: nhuôm ngâm hay tận trích, nhuộm nửa liên tục và nhuộm liên tục được áp dụng trong các nhà máy, xí nghiệp ở Việt Nam tương ứng với các loại thuốc nhuộm nói trên
Nhuộm ngâm hay tận trích vải dệt các loại (dêt thoi, dệt kim), và nhuộm sợi bằng ba loại thuốc nhuôm trực tiếp, hoàn nguyên, hoạt tính theo nhiều công nghệ thích hợp với từng loại thuốc nhuộm đó trong các máy nhuộm gián đoạn như thùng, bể nhuộm, các máy nhuộm guồng, máy nhuộm sợi các loại, máy nhuộm jigơ và máy jet nhuộm ở nhiệt độ đến 1000C
Trang 34Sau nhuộm các loại thuốc nhuộm trực tiếp và cả thuốc nhuộm hoạt tính còn hay tiến hành hãm màu hay cần màu để tăng độ bền màu bằng các chất hãm màu hay cầm màu thích hợp với các thuốc nhuộm nói trên
Mấy năm gần đây, một số nhà máy nhuộm đã trang bị máy nhuộm để có thể tiến hành nhuộm thuốc nhuộm hoạt tính theo công nghệ ngấm ép – cuộn ủ lạnh như tại Vinafa, Nhuộm Bình An, Dệt nhuộm gia dụng Phong phú Đây là một công nghệ nhuộm đơn giản nhất (thuộc loại hình nhuộm nửa liên tục) nhưng mang lại hiệu quả cao nhất về chất lượng bao gồm cả độ bền màu, về hiệu quả kinh tế có thể liệt vào loại công nghệ nhuộm rẻ nhất hiện nay, đồng thời sử dụng
ít điện, nước và giảm thiểu tải lượng nước thải đáng kể ra môi trường
Quy trình công nghệ rất ngắn và đơn giản như sau: Ép thuốc nhuộm hoạt ính và kiềm Cuộn, ủ ở nhiệt độ bình thường Giặt (nhiệt độ bình thường) Gắn với thuốc nhuộm nói chung, và gắn màu thuốc nhuộm hoạt tính nói riêng với các công nghệ khác đều đòi hỏi năng lượng hơi hoặc không khí nóng ở nhiệt
độ cao, còn ở công nghê này chỉ cần một năng lượng điện nhỏ để quay chậm trục hàng sau nhuộm, ngoài ra không tốn bất cứ năng lượng hơi, nhiệt nào khác Hiệu quả kinh tế hạ giá thành chính là ở đây Sức hấp dẫn của công nghệ này còn ở hiệu quả chất lượng: Nhuộm đều màu, sâu màu, độ bền màu cao, mặt hàng bóng đẹp
Nhuộm liên tục đòi hỏi phải có máy nhuộm liên tục có đủ các bộ phận chức năng cần thiết như bộ phân đầu ép, sấy sơ bộ thường bằng tia hồng ngoại (IR), sấy gió nóng (hoặc sấy thùng kiểu cũ), bộ phận đầu ép hoá chất, máy chưng hấp, máy giặt Có như vậy mới tiến hành được các công nghệ nhuộm liên tục bằng thuốc nhuộm hoạt tính và hoàn nguyên Các máy nhuộm liên tục đã có
từ lâu ở Dệt Nam Định, Nhuộm Vinafa, nhuộm Bình An, công ty 28 ở TP Hồ Chí Minh
• Nhuộm vải sợi pha polyeste/bông, polyeste/vixco
Nhuộm màu đồng chất vải sợi pha hai thành phần polyeste và bông hoặc vixco hiện nay được tiến hành bằng các công nghệ thích hợp với hai chủng loại thuốc nhuộm: thuốc nhuộm phân tán cho thành phầm polyeste và thuốc nhuộm trực tiếp, hoạt tính hay hoàn nguyên cho thành phần bông hoặc vixco
Ở nước ta, áp dụng các công nghệ nhuộm tận trích hay liên tục để nhuộm vải sợi pha polyeste/bông (Pe/Co) hay polyeste/vixco
Trong nhuộm tận trích vải (hay sợi) vì nhiều lý do trong sản xuất hiện nay người ta hay áp dụng các công nghệ “2 bể” – nhuộm xong thành phần polyeste trong máy nhuộm “cao áp” (máy jet các loại), rồi nhuộm thành phần bông (hay
Trang 35vixco) trong cùng máy nhuộm đó hay chuyển sang máy nhuộm khác (máy winch, máy jigơ) Quy trình nhuộm do đó rất dài, tốn nhiều năng lượng hơi, điện
Còn các công nghệ nhuộm liên tuc vải sợi pha bằng cặp thuốc nhuộm phân tán – hoạt tính hay phân tán – hoàn nguyên được áp dụng trên các máy nhuộm liên tuc của các nhà máy nước ta hiện nay khá dài, tốn nhiều năng lượng điện, hơi và không khí nóng Thường thường bên cạnh lò hơi để cung cấp hơi, bắt buộc phải có lò dầu tải nhiệt cho không khí nóng để gắn màu thuốc nhuộm phân tán lên thành phần polyeste
• Nhuộm vải sợi pha polyeste/len
Ở Việt Nam, trước đây các nhà máy dệt lụa Nam Định và dệt 28 mua sợi pha polyeste/len rồi dệt vải sau đó mới nhuộm trong các máy nhuộm “cao áp” (jet) để cung cấp vải thành phẩm may măc cho các cấp sĩ quan, công an (và bộ đội) Cặp thuốc nhuộm được sử dụng là phân tán và phức kim loại 1:2 là chính
Đó là các thuốc nhuộm phân tán Terasil (Ciba) là chủ yếu cùng thuốc nhuộm Lanaset (Ciba) Công nghệ nhuộm là công nghệ tận trích, một bể nhuộm cả 2 thành phần, có chất bảo vệ len, ở 120oC Hiện tại trước yêu cầu chất lượng cao
về độ bền màu, các công ty trên thường nhập sợi màu để dệt vải Các công đoạn hoàn tất gồm đốt lông, định hình ướt, giặt dồn, sấy, decatizing và cán ép
• Nhuộm vải sợi tổng hợp 100%
- Nhuộm vải polyeste giảm trọng
Nhiều công ty Dệt phía Nam như dệt Thái tuấn, dệt Thành Công, Phước Thịnh v.v thường có mặt hàng polyeste 100% giảm trọng
Công nghệ giảm trọng về bản chất là thuỷ phân bằng xút bề mặt polyeste nên giảm trọng và được mặt hàng nhẹ, xốp giống như lụa tơ tằm (silk – like) rất được phụ nữ ưa chuộng Nhuộm vải polyeste giảm trọng theo công nghệ tận trích trên các loại máy jet bằng thuốc nhuộm phân tán
- Nhuộm vải polyeste biến tính hoá học
Trong sản xuất xơ sợi polyeste nguời ta có biến tính hoá học để có thể nhuộm bằng thuốc nhuộm bazơ, chính xác hơn là thuốc nhuộm cation
Mặt hàng này trước đây là phổ biến một thời ở phía Nam
- Nhuộm acrylic
Acrylic có nhiều tính chất giống len nên được sử dụng phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới làm sợi đan, dệt áo ấm hay làm chăn, mềm, bít tất
Trang 36Ở nước ta acrylic được nhập về rồi nhuộm bằng thuốc nhuộm cation phục
vụ các mục đích nói trên Nhuộm bằng công nghệ tận trích nguyên liệu hay thành phẩm cả ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các nơi khác
Trên đây đã điểm lại các chủng loại vải, sợi chính và các công nghệ nhuộm hiện đang áp dụng phổ biến tại Việt Nam
Ngoài ra còn có nhuộm chiếu cói, nhuộm đay với sản lượng không lớn ở các làng nghề
2.1.3 In hoa các loại vải, khăn
Có một số công nghệ in hoa đã và đang được áp dụng ở Việt Nam, chủ yếu là phương pháp công nghệ in trực tiếp lên vật liệu trắng hay đã nhuộm màu
Cách in có thể là in lưới thủ công trên bàn phẳng hoặc nghiêng hay in khung lưới tự động Cách in này khác với in lưới thủ công (mỗi công nhân một khung in di chuyển từ đầu đến cuối bàn in) ở đây mỗi khung in với bộ dao gạt
tự động hồ in, định vị trên bàn in, in một màu của mẫu hoa lên vải in cũng di chuyển tự động theo từng rapo trên băng chuyền dán vải
In lưới quay được áp dụng ở nước ta khoảng hai chục năm lại đây Nó kết hợp được các ưu điểm của in trục và in lưới, in được nhiều loại mẫu hoa với tốc
độ tương đối cao nên đã có thời gian được coi như phương cách in chủ lực Tuy nhiên phải sử dụng loại lưới đặc chủng niken nên cũng khá tốn kém
Hiện nay in lưới phẳng tự động và in lưới quay song song tồn tại ở các Công ty như Công ty Dệt Thắng Lợi, còn ở Công ty nhuộm Bình An tiến hành
cả 3 loại in lưới quay, lưới phẳng và in trục
In hoa vải sợi bông ở nước ta hiện nay chủ yếu in thuốc nhuộm hoạt tính với hồ anginat Còn in khăn bông các loại người ta hay dùng pigment để in
In bằng thuốc nhuộm hoạt tính được màu sắc phong phú, tươi màu đạt độ bền cao nhất là các loại độ bền màu ướt (giặt giũ, với nước, mồ hôi) nhưng phải
xử lý gắn màu bằng chưng hấp hơi nước bão hoà trong các máy chưng hấp thích hợp và cuối cũng phải giặt thật kỹ; còn in bằng pigment thì công đoạn xử lý sau rất đơn giản, nếu làm kỹ thì qua “hấp điện” mà thực chất là xử lý gắn màu bằng không khí nóng, còn nếu không thì có loại pigment của Công ty Bayer trước đây chỉ xử lý ở nhiệt độ thường – tức là để trong không khí một thời gian mà thôi
Để in vải sợi pha như polyeste/bông, vixco có hai công nghệ được áp dụng ở nước ta là bằng pigment và in bằng cặp thuốc nhuộm phân tán – hoạt tính, nhưng cho đến nay hầu như người ta chỉ in bằng pigment Vì in phân tán – hoạt tính là công nghệ khó khăn phức tạp từ việc chọn thuốc nhuộm phân tán
Trang 37thích hợp, đến xử lý gắn màu cần tiến hành trong hơi quá nhiệt mới đạt hiệu quả lên màu cao, cuối cùng là phải giặt cẩn thận với chất giặt thích hợp mới đạt được chất lượng cao, không dây màu lên nền trắng
Còn in pigment thì đơn giản hơn nhiều Pigment phủ màu lên cả 2 thành phần polyeste và bông (hay vixco) và viêc xử lý gắn màu sau in đơn giản như đã nói trên Khi in pigment với hồ dầu (tức là dùng hồ in nhũ hoá từ dầu hoả) là rẻ nhất song ô nhiễm nặng nề môi trường làm việc và khí thải, nên hàng in không được chấp nhận ở các nước Châu Âu do vậy ở nước ta đã buộc phải in “hồ nước” (tức là hồ tổng hợp hoà tan được trong nước) giảm tối thiểu ô nhiễm môi trường, tuy có tăng giá tành lên một ít Ngoài ra ở các nơi làm chiếu còn in chiếu cói
về dư lượng formaldehyt trên vải Công nghệ áp dụng thường là ngấm ép chất chống nhàu và các cất trợ cần thiết khác (bao gồm chất xúc tác v.v….) sau đó sấy và xử lý trùng ngưng ở nhiệt độ cao thích hợp
Ở Công ty Dệt Việt Thắng gần đây đã sản xuất quần từ vải bông không nhàu giữ nếp do áp dụng công nghệ trùng ngưng sau (post – cure), tức là quần được may sẵn tạo nếp rồi mới đưa vào ngấm nhựa hoàn tất chống nhàu và sau
đó trùng ngưng để giữ nếp là
¾ Xử lý phòng co cơ học
Xử lý chống co hay phòng co cho vải dệt kim và vải dệt thoi đã được tiến hành tại nhiều Công ty như Dệt Thành Công, Dệt Nha Trang, Nhuộm Vinafa, Nhuộm Bình An, Dệt Phong Phú, Công ty 28, Dệt Kim Đông Xuân, Dệt Hải
Trang 38Phòng,.v.v… bằng các máy phòng co thích hợp, đối với các chủng loại vải dệt kim và dệt thoi nhập của Đức, Italia, Mỹ, Trung Quốc v.v…
¾ Cán láng
Cần láng làm bóng mặt vải dệt thoi và cả vải dệt kim đã được làm ở một
số nhà máy trên các loại máy cán thích hợp
¾ Cào lông
ở một vài nhà máy làm nhung, vải nỉ, chăn mềm đã tiến hành cào lông vải sợi bông và các loại khác bằng các máy thích hợp
¾ Mài, tạo bề măt vải mịn như vỏ quả đào
Những năm năm 90 của thế kỷ XX có yêu cầu cao về dạng xử lý trên cho vải sợi pha là chính để may mặc nên một số nhà máy đã nhập các loại máy thích hợp để gia công xử lý tạo mặt hàng nói trên Hiện nay không còn là mốt thời trang nữa
¾ Xén lông
Khăn bông và vải len và pha len thường có bề mặt với nhiều lông tương đối dài Để tạo ra bề mặt có lông mịn phải tiến hành xén lông bằng máy xén lông đặc chủng với một hệ dao cắt Các máy này có tại Dệt Lụa Nam Định, Công ty 28, Vinafa, nhuộm Bình An
Trên đây là các dạng xử lý hoàn tất hoá học đã và đang được áp dụng ở Viêt Nam để tạo ra những hiệu quả mong muốn cho các loại hàng dệt tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
2.2 Tổng quan hiện trạng môi trường ngành Dệt may
Ngành dệt may hiện được đánh giá là một trong những ngành có khả năng cạnh tranh cao, xuất khẩu nhiều Ngành dệt may cấu thành từ 2 bộ phận : may và dệt.Công nghệ xử lý nhuộm, hoàn tất chậm đổi mới và quan tâm giải quyết các vấn đề độc hại với người tiêu dùng và ô nhiễm môi trường còn thụ động theo yêu cầu của khách hàng, chưa có chính sách và giải pháp chủ động Kết quả khảo sát tại các nhà máy dệt–nhuộm-in hoa cho thấy, các chất ô nhiễm thường
Trang 39gặp là COD, BOD, TSS và độ pH đều vượt xa so với chỉ tiêu được khống chế theo tiêu chuẩn nước thải loại B của Quy chuẩn nước thải dệt nhuộm Việt Nam (QCKTVN)
Trong khi đó, chỉ một số ít các nhà máy có trang bị hệ thống xử lý nước thải hoặc đang trong quá trình xây dựng, phần lớn nước thải xả trực tiếp vào môi trường mà không có bất kỳ xử lý nào; theo đặc thù sản xuất, ô nhiễm nước thải chính của ngành dệt nhuộm được sinh ra từ quá trình nhuộm và hoàn tất Những công nghệ được áp dụng tại các nhà máy này chủ yếu là công nghệ hoá học, sử dụng kết bông sau đó lắng hoặc là xử lý sinh học bằng bùn hoạt tính hoặc là sự kết hợp giữa các biện pháp này Tuy nhiên, như các kết quả cho thấy, hầu hết các chỉ tiêu nước thải ngành dệt đều không đạt tiêu chuẩn cho phép
Trong quá trình hoạt động sản xuất của công nghiệp dệt may luôn luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố có hại cho môi trường nước:
- Axít axetíc, axít focmíc, axít sunphuaríc, hydro sunphua, hơi kiềm, trong các phân xưởng nhuộm, bốc hơi từ hệ thống dẫn nước thải
- Nước thải của các nhà máy dệt nhuộm là nguồn gây ô nhiễm chính đến môi trường xung quanh
- Nước thải sinh hoạt: Một đặc điểm nổi bật của cơ sở dệt may là số lượng
công nhân lớn (trung bình khoảng 1000 người), nên thải lượng nước thải sinh hoạt khá lớn làm tăng khả năng ô nhiễm môi trường nước xung quanh
Tải lượng nước thải và các chất gây ô nhiễm chính cho môi trường nước ngành dệt may đến năm 2010 như sau:
Bảng 2.1: Tải lượng nước thải của ngành dệt may đến năm 2010
Loại chất thải Đơn vị 2000 2005 2010
Lượng nước thải M3/ngđ 65000 - 83000 131000 274000
Trang 40lơ lửng cao Kết quả quan trắc ở nhiều cơ sở sản xuất cho thấy nước thải tại cống chung trước khi đổ vào nguồn nước mặt có pH dao động từ 7,31-8,58; COD từ 270-700mg/m3; BOD từ 123-220mg/m3; chất rắn lơ lửng từ 110-264mg/m3; độ mầu rất cao Ngoài những chất trên , các chất còn lại như NH+4;
Cl-; NO2-; NO3-; tổng phốt pho; đồng; chì; kẽm; sắt; crom; mangan đều có nồng
độ thấp hơn tiêu chuẩn cho phép
Bảng 2.2 : Chất lượng nước thải trung bình trong ngành Dệt May
Bảng 2.3: Chỉ tiêu nước thải nhuộm của một số nhà máy tại khu vực đồng bằng
Sông Hồng Công ty Vị trí lấy mẫu pH Mầu COD (mg/l) BOD5(mg/l)