MỤC LỤC MỞ BÀI 2 NỘI DUNG 3 I QUÁ TRÌNH TÌM TÒI MÔ HÌNH MỞ BÀI Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, để cải biến xã hội cũ thành xã hội mới nhằm đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho con người, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có nhiệm vụ lãnh đạo phát triển lực lượng sản xuất, vừa phải lãnh đạo tiến hành xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Xây dựng quan hệ sản xuất là giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, nhằm từng bước xóa bỏ áp bức bóc lột, tạo lập các giá trị nhân văn, nhân đạo, công bằng của chủ nghĩa xã hội. Phát triển lực lượng sản xuất là nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Trong đó, quá trình xây dựng và phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng hướng xã hội chủ nghĩa là một động lực quan trọng góp phần thực hiện thành công mục tiêu kinh tế đó. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là kết quả của một quá trình tìm tòi, khảo nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Quan niệm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời kỳ quá độ Qua 25 năm thực hiện chính sách đổi mới, tư duy về đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng đã từng bước được định hình, bổ sung, phát triển thông qua các Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, cũng như các Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đến nay đường lối đó đã phát huy hiệu quả trong thực tiễn đời sống xã hội, nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được đáp ứng. Từ đó, Đảng ta ngày càng làm sáng rõ hơn những, bước đi, giải pháp để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ BÀI 2NỘI DUNG 3
I QUÁ TRÌNH TÌM TÒI MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 3
1 Những hạn chế của mô hình kinh tế kế hoạch hóa, tập trung và yêu cầu đổi mới tư duy lý luận của Đảng 3
2 Quá trình chuyển dần từng bước từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 5
3 Xác định mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - kinh tế hị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 9
II NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU THỂ HIỆN SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG TỪ MÔ HÌNH KINH TẾ “KẾ HOẠCH HÓA, TẬP TRUNG” SANG MÔ HÌNH “KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” 15KẾT LUẬN 25DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 2MỞ BÀI
Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, để cải biến xã hội cũthành xã hội mới nhằm đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho conngười, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có nhiệm vụ lãnh đạo phát triển lựclượng sản xuất, vừa phải lãnh đạo tiến hành xây dựng quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa Xây dựng quan hệ sản xuất là giải quyết mối quan hệ giữa conngười với con người trong quá trình sản xuất, nhằm từng bước xóa bỏ áp bứcbóc lột, tạo lập các giá trị nhân văn, nhân đạo, công bằng của chủ nghĩa xãhội Phát triển lực lượng sản xuất là nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên, tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất đáp ứng nhu cầungày càng tăng của xã hội Trong đó, quá trình xây dựng và phát triển thể chếkinh tế thị trường định hướng hướng xã hội chủ nghĩa là một động lực quantrọng góp phần thực hiện thành công mục tiêu kinh tế đó
Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Namhiện nay là kết quả của một quá trình tìm tòi, khảo nghiệm của Đảng Cộngsản Việt Nam trên cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn Quan niệm về kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chiếm một vị trí quan trọng trong hệthống lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xãhội ở nước ta trong thời kỳ quá độ
Qua 25 năm thực hiện chính sách đổi mới, tư duy về đường lối pháttriển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo củaĐảng đã từng bước được định hình, bổ sung, phát triển thông qua các Nghịquyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, cũng như các Nghị quyết chuyênđề của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đến nay đường lối đó đã phát huyhiệu quả trong thực tiễn đời sống xã hội, nhu cầu vật chất và tinh thần củanhân dân từng bước được đáp ứng Từ đó, Đảng ta ngày càng làm sáng rõ hơnnhững, bước đi, giải pháp để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộidân chủ, công bằng, văn minh
Trang 3Quan điểm này được hình thành từ những năm cuối thập niên 20 củathế kỷ XX ở Liên xô, do xuất phát từ thực tiễn cách mạng lục đó: trước hết làchế độ tư bản tư nhân đã gây ra nhiều đau khổ cho nhân loại (bóc lột về kinhtế, chiến tranh xâm lược thuộc địa, khủng hoảng kinh tế ); thị trường tự do
tư bản chủ nghĩa vấp phải khủng hoảng chu kỳ mà chưa thể tìm ra lối thoát;chủ nghĩa đế quốc bao vây, cấm vận nhằm tiêu diệt chủ nghĩa xã hội ở Liênbang Xô viết
Lúc bấy giờ, mô hình này được cho là có khả năng khắc phục khuyếttật của thị trường tự do và phát huy được tinh thần đoàn kết của nhân dântrong chế độ mới Hiệu quả của mô hình kinh tế này đã thực sự phát huy hiệuquả trong những thập niên đầu khi mới xác lập, giúp Liên xô phát triển mạnhmẽ và trụ vững trước sức tấn công của thế lực đế quốc, bảo vệ thành công
Trang 4thành quả cách mạng trong chiến tranh thế giới thứ hai Sau khi kết thúc chiếntranh, mô hình đó vẫn tiếp tục được duy trì và từng bước được phổ biến rộngrãi trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, khi hòa bình được lập lại trên miền Bắc, trong bộn bề củacông cuộc khắc phục những hậu quả chiến tranh, đưa miền Bắc tiến lên xâydựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã huy động được sức mạnh toàn dân tộc,cộng với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em nên chúng ta cóđiều kiện hơn trong việc tiến hành cải tạo xây dựng chủ nghĩa xã hội Cùngvới đó là quá trình du nhập mô hình kinh tế công hữu, kế hoạch hóa, tập trungvào miền Bắc Lúc này, hệ thống xã hội chủ nghĩa đang trên đà phát triểnmạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu quan trọng nên những khuyết tật của
mô hình kinh tế này chưa bộc lộ đầy đủ hoặc có thể đã bộc lộ ở một số khíacạnh nhưng chúng ta chưa thể nhận thức hết được Sau ngày miền Nam hoàntoàn giải phóng, mô hình kinh tế này được áp dụng trên phạm vi cả nước thìlúc này những thiếu sót, hạn chế càng được bộc lộ rõ ràng hơn Chế độ cônghữu được xác lập một cách nóng vội, chủ quan, không những không tạo đượcđộng lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, mà còn làm kìm hãm sức sảnxuất của xã hội Các hình thức sở hữu tư nhân bị xóa bỏ trong quá trình cảitạo xã hội chủ nghĩa làm cho mặt tích cực, năng động của các thành phần kinhtế phi công hữu không phát huy được Cơ chế kế hoạch hóa duy trì quá lâu đãtạo ra nhiều lực cản trong thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Trong cơchế đó, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, nhưng lại không chịutrách nhiệm đối với các quyết định của mình Các đơn vị kinh tế cơ sở vừakhông có quyền tự chủ, vừa không bị ràng buộc trách nhiệm với kết quả sảnxuất, kinh doanh Cơ chế đó chưa quan tâm đến quan hệ hàng hóa - tiền tệ vàhiệu quả kinh tế; hạch toán kinh tế chỉ là hình thức; không chú ý đến việc sửdụng có hiệu quả nguồn vốn, vật tư, lao động; tách rời việc trả công lao động
Trang 5với số lượng và chất lượng sản phẩm Chỉ huy tập trung quá mức theo nhiềumối đã gây ra sự chồng chéo chức năng, gây ra vướng mắc, trói buộc kinh tếquốc doanh, triệt tiêu động lực kinh tế, gây thất thoát lớn cho nhà nước, tạo ra
tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào nhà nước, triệt tiêu sự sáng tạo của ngời laođộng, cản trở việc ổn định đời sống nhân dân và phát triển sản xuất Khi chỉhuy tập trung bất lực thì thì hình thành nên thị trường ngầm, nằm ngoài sựkiểm soát của nhà nước và gây rối loạn tình hình sản xuất, lưu thông
Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vào giữa thập niên 80 của thế kỷtrước là hậu quả của việc duy trì quá lâu mô hình kinh tế trên Do đó, đổi mớitrở thành mệnh lệnh của cuộc sống, xuất phát từ đòi hỏi của Đảng và của quầnchúng, nhằm tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểmnước ta Đổi mới phải tiến hành toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội,nhưng trọng điểm vẫn là khâu đột phá về kinh tế
2 Quá trình chuyển dần từng bước từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trước những khó khăn do lực cản của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạchhóa tập trung, cho nên cả từ phía cán bộ, đảng viên lẫn quần chúng nhân dânở cơ sở và Trung ương đều tìm tòi cung cách làm ăn mới cho hiệu quả hơn
Ở cơ sở và quần chúng, hướng tìm tòi cách làm ăn mới đã xuất hiệnkhá sớm, với dấu hiệu đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp ở Kiến An,Vĩnh phúc Nhưng do hạn chế cả trong nhận thức chủ quan lẫn khách quan,nên những tìm tòi của cơ sở và địa phương chưa được chú ý tổng kết Saunăm 1975, trước tình hình khó khăn của đời sống, từ phía quần chúng và cánbộ ở cơ sở tiếp tục xuất hiện hiện tượng xé rào như ở Kiến Thụy, Đồ sơn (HảiPhòng) sau đó được tổng kết rồi nhân rộng ra toàn thành phố Hải Phòng vàmột số địa phương khác Điều đó đã được Trung ương chú ý tổng kết và đóchính là cơ sở thực tiễn ra đời chỉ thị 100 (ngày 13/1/1981) của Ban bí thư
Trang 6Trung ương về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợptác xã nông nghiệp.
Về phía Trung ương, cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung đã bộc lộkhuyết điểm nhưng Đảng ta cho rằng, nguyên nhân là do ý thức làm chủ tậpthể của người lao động chưa cao Tuy vậy, mọi cải tiến trong điều kiện duy trì
cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung không giải quyết triệt để các khuyếttật Các Hội nghị Trung ương lần thứ 19 (1/1971), và lần thứ 20 (4/1973)khóa III tiếp tục phê phán phương pháp quản lý theo kiểu hành chính, mệnhlệnh, song vẫn chưa tìm ra biện pháp khắc phục, mà vẫn duy trì, củng cố cơchế kế hoạch hóa
Bước đột phá đầu tiên thể hiện tư duy giải phóng sức sản xuất được
quyết định trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 6 khóa IV (8/1979) với chủtrương làm cho sản xuất bung ra để cung cấp hàng hóa, đảm bảo ổn định đờisống nhân dân Điều này đã khắc phục một bước các chỉ tiêu pháp lệnh theogiá trị hiện vật được áp đặt một cách cứng nhắc từ nhà nước, mở ra cơ hội chomỗi đơn vị kinh tế và cá nhân người lao động bộc lộ khả năng của mình trongquá trình sản xuất
Tiếp đó là các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của Trung ương và Chínhphủ ra đời nhằm từng bước tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, lưu thông, phânphối như: Quyết định 25/CP (21/1/1981) về một số chủ trương và biện phápnhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất - kinh doanh và quyền tự chủvề tài chính của các xí nghiệp quốc doanh; Quyết định 26/CP về việc mở rộnghình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiên thưởngtrong các đơn vị sản xuất - kinh doanh của nhà nước; Quyết định 373/CP và374/CP về xóa bỏ các trạm kiểm soát theo kiểu ngăn sông cấm chợ để tạođiều kiện cho các loại sản phẩm được trao đổi trên thị trường theo giá thõathuận sau khi đã nộp thuế cho nhà nước; Tháng 5/1981, Bộ Chính trị có chỉthị số 109 về điều chỉnh lại hệ thống giá và định lại một phần tiền lương,
Trang 7nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch giá giữa thị trường có tổ chức do nhànước ấn định và giá thị trường tự do diễn biến thường xuyên; đồng thời bùbắp một phần giá cho người lao động qua lương để đảm bảo đời sống củangười hưởng lương khi giá cả thị trường biến động liên tục Đặc biệt xuấthiện mô hình Long An xóa bỏ tem phiếu, bù giá vào lương, tiền cho người laođộng Đại hội V của Đảng (3/1982) đề ra chủ trương phát triển mạnh nôngnghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàngtiêu dùng Những đổi mới bước đầu trên đây thể hiện sự quan tâm chú ý củaĐảng về một cuộc đổi mới trong kinh tế, về vai trò của nông nghiệp và đảmbảo đời sống nhân dân
Bước đột phá thứ hai được đánh dấu bởi Nghị quyết Trung ương 8
khóa VI (6/1985) với chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp,thực hiện cơ chế một giá, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩađã mở đầu cho sự hình thành tư duy về sản xuất hàng hóa, thừa nhận quy luậtsản xuất hàng hóa Từ chủ trương đó, Nghị quyết đề cập đến ba nội dung cảicách quan trọng là: giá cả, tiền lương và tiền tệ Tuy cuộc tổng điều chỉnh gi -lương - tiền theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 8 khóa V không thànhcông vì nhiều lý do khách quan và chủ quan nên buộc phải duy trì cơ chế haigiá thêm những năm sau đó, nhưng những tư tưởng đổi mới đó có ý nghĩaquan trọng về mặt nhận thức đối với việc xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung bao cấp, xác lập cơ chế quản lý kinh tế mới
Bước đột phá thứ ba diễn ra trước thềm Đại hội lần thứ VI của Đảng là
kết luận của Bộ chính trị (8/1986) về một số vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế,trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải sư dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa,tiền tệ, dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp Đây được coi là bước tiếnmới trong tư duy lý luận về kinh tế của Đảng và sau đó được thể hiện trongVăn kiện Đại hội VI
Trang 8Bước ngoặt quan trọng thể hiện tư duy lý luận về kinh tế của Đảng làĐại hội VI (12/1986) với việc khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện vàđưa ra những nhận thức mới về cơ cấu kinh tế, về công nghiệp hóa xã hội chủnghĩa trong chặng đường đầu tiên, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sảnxuất hàng hóa và thị trường, phê phán mạnh mẽ cơ chế tập trung, bao cấp vàkhẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Đại hộichủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinhdoanh phù hợp, coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, chăm
lo toàn diện và phát huy nhân tố con người
Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (3/1989) đã thểhiện sự chín muồi trong tư duy kinh tế đổi mới đã có từ Đại hội VI với việcxác định: “Trong nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch, thị trường vừa là căn cứ,vừa là đối tượng của kế hoạch hóa Cơ chế thị trường thể hiện sự vận độngcủa các quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa trong quan hệ tác động qualại giữa các quy luật kinh tế khác, phải được vận dụng nhất quán trong kếhoạch hóa và các chính sách kinh tế Kế hoạch và các chính sách kinh tế phảivận dụng tổng hợp nhiều quy luật, trong đó có quy luật của thị trường để giảiquyết đúng đắn các mối quan hệ về lợi ích; trong đó lợi ích của người sảnxuất kinh doanh là động lực trực tiếp đối với hoạt động kinh tế và tạo cơ sởcho việc đáp ứng các lợi ích khác” “Nhà nước dùng các biện pháp kinh tế làchủ yếu để quản lý và điều tiết thị trường” Từ quan điểm đó, Hội nghị Trungương 6 khóa VI đã chủ trương xóa bỏ cơ chế hai giá, thực hiện một giá thốngnhất trong cả nước và gắn với thị trường thế giới, kể cả giá của những mặthàng mà nhà nước cần kiểm soát (xăng dầu, điện, nước, phí giao thông )cũng được căn cứ theo thị trường, không được ấn định chủ quan, phiến diện
Trang 93 Xác định mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - kinh tế hị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Những chủ trương thể hiện sự chín muồi trong tư duy đổi mới kinh tếcủa Hội nghị Trung ương 6 khóa VI và những tìm tòi trước thềm Đại hội VII
để phục vụ yêu cầu hoạch định Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cùng kế hoạch cho sự phát triển kinh tế - xã hội
trong những giai đoạn tiếp theo, đều có ý nghĩa quan trọng đối với sự hìnhthành đường lối của Đại hội VII Cương lĩnh do Đại hội VII thông qua đã đưa
ra sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội và bảy phương hướng xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời Đại hội còn trìnhbày rõ quan niệm của Đảng ta về phương hướng phát triển kinh tế ở nước tatrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: phát triển lực lượng sản xuất,công nghiệp hóa theo hướng hiện đại gắn với phát triển một nền nông nghiệptoàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹthuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hộivà cải thiện đời sống nhân dân Phù hợp với lực lượng sản xuất, thiết lập từngbước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng vềhình thức sở hữu Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảngcủa kinh tế quốc dân Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phốitheo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu
Đại hội VII bước đầu khái quát: “Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác” Trong cơ chế đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sản xuất kinh
doanh, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tựnguyện; thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn
Trang 10lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả;nhà nước quản lý nền kinh tế nhằm định hướng, dẫn dắt các thành phần kinhtế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanhtheo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ và xử lý các vi phạm pháp luậttrong hoạt động kinh tế, đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và pháttriển xã hội.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1/1994)đã đề ra các biện pháp thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa: thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinhtế nhiều thành phần, tạo động lực thúc đẩy môi trường thuận lợi hơn nữa chocác thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển nhanh và cóhiệu quả; xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996), trên cơ sở phân tích, đánh giátình hình đất nước qua 10 năm đổi mới đã rút ra kết luận: Nước ta đã ra khỏikhủng hoảng kinh tế - xã hội, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ của chặng đườngđầu thời kỳ quá độ, cho phép chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn”; “xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa” Đại hội cũng khẳng định một
số nhận thức về cơ chế quản lý kinh tế mới:
- Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thànhtựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết chocông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xâydựng
Trang 11- Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta, thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa là một thể thống nhất với nhiều lực lượngtham gia sản xuất và lưu thông, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.Thị trường trong nước gắn với thị trường thế giới.
- Thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch Kế hoạchchủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô.Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vựchoạt động hay phương án sản xuất kinh doanh
- Vận dụng kinh tế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ
mô của nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sảnxuất kinh doanh, nhằm phát huy tác động tích cực to lớn đi đôi với ngăn ngừa,hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trường Nhà nước quản lýthị trường bằng pháp luật, kế hoạch, cơ chế, chính sách, các công cụ đòn bẩykinh tế và bằng các nguồn lực của khu vực kinh tế nhà nước
Trên cơ sở nhận thức đó, Đại hội VIII đề ra phương hướng: Tạo lậpđồng bộ các yếu tố của thị trường; hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế;tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hóa; đổi mới công tác tài chính, tiền tệ, giácả; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước
Đại hội lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã tổng kết thực tiễn đất nướcsau 15 năm đổi mới và bổ sung làm rõ thêm một số vấn đề về chủ nghĩa xãhội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đại hội xác định conđường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua sự xác lập vị trí thống trị của quan hệsản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừanhững thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặcbiệt là về khoa học kỹ thuật và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sảnxuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại Luận điểm này đã xác định rõ trong thờikỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam bỏ qua cái gì và không bỏ qua cái
Trang 12gì của chủ nghĩa tư bản Đại hội IX đã nêu rõ mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làphát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất -kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lựclượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợptrên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sởhữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo;kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vữngchắc Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu từng bước được xác lập vàsẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về cơ bản
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nướcquản lý bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách sử dụng
cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý củakinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huymặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích củanhân dân lao động
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phốichủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theomức đóng góp vốn và các nguồn lực kác vào sản xuất, kinh doanh và thôngqua phúc lợi xã hội
Đại hội lần thứ X (4/2006) chủ trương: “tiếp tục hoàn thiện thể chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, trong đó đã bổ sung, pháttriển một số nhận thức mới về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,bao gồm: mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam; vai trò, vị trí các thành phần kinh tế và mối quan hệ giữa chúng
Trang 13trong quá trình phát triển; quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaở nước ta là nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng sức sản xuất, nâng cao đờisống nhân dân
Chủ thể của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cơcấu kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo;kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng củanền kinh tế quốc dân Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều làbộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnhtranh lành mạnh Với vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước là lực lượng vật chấtquan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo điều kiện vàmôi trường thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Xóa bỏ mọi sựphân biệt đối xử theo hình thức sở hữu; nhà nước chỉ thực hiện ưu đãi hoặc hỗtrợ phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực sản xuất; một số mục tiêu nhưxuất khẩu, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, khắc phục rủi ro, các doanhnghiệp vừa và nhỏ
Phải coi trọng tính đồng bộ khi phát triển các loại thị trường và thựchiện quản lý có hiệu quả sự vận hành của các loại thị trường Bên cạnh các thịtrường đã định hình (thị trường hàng hóa - dịch vụ, thị trường sức lao động,thị trường bất động sản, thị trường vốn), cần chú ý tạo môi trường, thể chế,chính sách cho sự hình thành những thị trường mới manh nha (thị trườngchứng khoán, thị trường khoa học - công nghệ) Quản lý có hiệu quả thịtrường là làm cho các loại thị trường tránh được sự vận động tự phát, gây racác phản ứng tiêu cực; đồng thời chú ý đến các loại hàng hóa vô hình, có hàmlượng trí tuệ cao