1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận

79 435 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Khoa học Nông nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Sơn La
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 690,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây đậu tương [Glycine max (L)-Merill], là loại cây họ đậu (Fabaceae) cógiá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Trong thành phần của hạt đậu tương cóchứa một hàm lượng rất cao các chất như protein 38 - 45%, lipit 18 - 25%,hydratcacbon 36 - 40%, các chất khoáng (4 - 5%) và các vitamin như vitamin B1,B2, C, D, E, K rất cần thiết Protein đậu tương có giá trị cao không những vềhàm lượng lớn mà nó còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết đặcbiệt là giàu lizin và triptophan đối với sự tăng trưởng và sức đề kháng của cơ thể[1] Đậu tương là loại hạt mà giá trị dinh dưỡng của nó được đánh giá đồng thờicả về chất lượng protein và lipit, với hàm lượng như vậy hoàn toàn có thể thay thế

đạm động vật trong bữa ăn hàng ngày của con người Vì lý do đó mà hiện nay từhạt đậu tương người ta chế biến được trên 600 loại thực phẩm khác nhau.Từ cácloại thức ăn cổ truyền như: đậu phụ, tương chao, sữa… đến các sản phẩm hiện

đại như: Bánh kẹo, cafê đậu tương, thịt nhân tạo (Trần Đình Long, 2000) [2]

Chính vì vậy mà dân ta còn gọi đậu tương là “người đầu bếp của thế kỷ”.

Hạt đậu tương thì ngoài làm thực phẩm cho người, thức ăn cho gia súc còn

được làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Những sản phẩm như khô dầu

đậu tương thì ngoài việc làm thức ăn cho gia súc, còn được sử dụng làm mực in,sơn, xà phòng, chất dẻo, thuốc trừ sâu… Hạt đậu tương còn được sử dụng nhiềutrong y học dùng làm vị thuốc chưa bệnh Giúp tránh hiện tượng suy dinh dưỡng

ở trẻ em, người già và có tác dụng hạn chế bệnh loãng xương ở phụ nữ, bệnh đáitháo đường, thấp khớp[3]

Cây đậu tương sinh trưởng được trên nhiều loại đất khác nhau như: đất sét,

Trang 2

nốt sần ở bộ rễ cây đậu tương do xâm nhập của vi khuẩn Rhizobium Japonicum

sống cộng sinh, có khả năng cố định đạm từ khí quyển nên hàng năm cây đậutương trả lại cho đất từ 50-80 kg đạm/ ha/ năm (Lê Hoàng Độ và cộng sự 1997)[4] Ngoài việc cố định đạm, bộ rể đậu tương còn có khả năng tiết ra các axit hữucơ có tác dụng hoà tan các hợp chất phân vô cơ ở dạng khó tan thành rễ tan đểcây sử dụng

Giá trị mà cây đậu tương mang lại là rất lớn, cho lên cây đậu tương được

đánh giá là một trong những cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp vàtrong đời sống xã hội nhiều nước trên thế giới

ở nước ta, trong vòng 20 năm qua (1985 - 2005), diện tích, năng suất, sảnlượng đậu tương đã không ngừng tăng lên Đối với cây đậu tương diện tích tăng99%, năng suất tăng 83,3% và sản lượng tăng gấp 3 lần[6]

Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam có diện tích tự nhiên14.125 km2, chiếm 4,27% tổng diện tích cả nước Khí hậu được chia thành 3 tiểuvùng khác nhau: Vùng nóng, vùng nhiệt độ trung bình và vùng lạnh [7].Với mụctiêu đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp tập trung vào các loại cây trồng có giá trịkinh tế cao trong đó có cây đậu tương Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây năngsuất, chất lượng đậu tương có chiều hướng giảm mạnh Một trong những nguyênnhân dẫn đến năng suất giảm là do bộ giống đậu tương còn nhiều hạn chế như sửdụng giống cũ, đã bị lẫn tạp, thoái hoá chưa được tuyển chọn

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn trong sản xuất, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện

vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận”

2 Mục đích yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích

Trang 3

Xác định được bộ giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt

và cho năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái trong vụ Xuân hè để bổxung vào bộ giống của tỉnh

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất đậu tương của tỉnh từ đó xác định

được những lợi thế và nguyên nhân chủ yếu hạn chế năng suất đậu tương

Trang 4

Chương 1

Tổng quan tài liệu

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu

Đậu tương là cây thực phẩm quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệpcủa hầu hết các nước trên thế giới Trong số các loại cây lương thực, cây thựcphẩm thì cây đậu tương mang lại giá trị kinh tế cao đứng hàng thứ tư sau lúa mỳ,lúa nước và ngô Sản phẩm từ đậu tương chủ yếu là dầu, bột và một số ít dạng hạt.Dầu đậu tương chiếm 20 – 25% sản lượng dầu, chất béo trên thế giới và trongtoàn bộ sản lượng dầu thực vật ăn được dầu đậu tương chiếm 30 – 35%[8]

Mặt khác, trồng đậu tương còn giúp bồi dưỡng và cải tạo đất tốt nhờ xácbã thân, lá để lại cho đất và các nốt sần ở rễ cung cấp đạm cho cây Điều đó chothấy cây đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trên nhiều loại đất vàcác điều kiện sinh thái khác nhau Hiện nay, việc phát triển cây đậu tương

đã mang tính chiến lược chung của nhiều Quốc gia trên thế giới Để phát huy thếmạnh từ cây đậu tương mà quan trọng là cung cấp nguồn lương thực, thực phẩmnuôi sống toàn cầu trong bối cảnh khí hậu, môi trường sống có nhiều biến đổi,con người tiến hành một nền trồng trọt thâm canh hiện đại Sản xuất dựa trên việc

áp dụng một cách khoa học các yếu tố giống, nước, phân bón, kỹ thuật chămsóc đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường Trong

đó giống giữ vai trò quan trọng hàng đầu, sử dụng giống năng suất cao, chấtlượng tốt, chống chịu với điều kiện bất lợi và sâu, bệnh hại, có khả năng cải tạo

và bảo vệ đất là mục tiêu hàng đầu trong sự phát triển một nền sản xuất nôngnghiệp hiện đại

Trang 5

Trong điều kiện hiện nay việc sử dụng bộ giống đậu tương với nhiều mục

đích khác nhau nên công tác chọn giống cũng phải đáp ứng được những yêu cầuthực tế sao cho phù hợp với sản xuất Tuỳ theo từng mùa vụ, đất đai, điều kiệnkhí hậu sinh thái từng vùng cũng như tập quán canh tác của từng địa phương mà

có bộ giống đậu tương cho thích hợp Mục tiêu chủ yếu trong công tác chọngiống hiện nay là: Giống có năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái củatừng vùng; Giống có chất lượng hạt tốt phục vụ xuất khẩu; Giống có hàm lượngdầu cao phục vụ chương trình sản xuất dầu thực vật

Việt Nam năm trong vùng khí hậu nhiệt đới lên sự thay đổi về nhiệt độ, độ

ẩm, ánh sáng diễn ra liên tục trong năm đã ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây đậu tương đồng thời đó cũng chính là nguyênnhân thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển Xuất phát từ những thực tế trên đòihỏi phải có biện pháp canh tác thích hợp, phát huy tiềm năng về năng suất, chọntạo ra các giống thích hợp cho từng vùng sinh thái

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

Sơn La là tỉnh miền núi phía bắc có địa hình phức tạp, giao thông vậnchuyển không thuận lợi, phương tiện đi lại khó khăn đối với người dân sản xuấtnông nghiệp thì cây đậu tương được coi là cây trồng chính mang lại hiệu quảkinh tế cao Nhưng do công tác sản xuất và phát triển cây đậu tương còn nhiềumặt hạn chế như: người dân chưa thực sự chú ý áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật trong sản xuất, phần lớn vẫn sử dụng giống cũ, đã bị lẫn tạp, thoái hoá, biệnpháp kỹ thuật canh tác còn đơn giản theo tập quán cũ… Mặt khác, diện tích đấtnông nghiệp bỏ hoá còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở những cánh đồng khôngchủ động nước, chưa có các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất

Trang 6

Việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuấttrên các vùng đất đồi dốc này là rất cần thiết để tăng vụ và tận dụng diện tích đất

bỏ hoá, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, nâng cao thu nhập cho người dân

1.2 Yêu cầu về đất đai và dinh dưỡng của cây đậu tương

Đậu tương là loại cây trồng không kén đất, nhưng thích hợp nhất cho cây

đậu tương phát thiển là loại đất pha cát hoặc đất thịt nhẹ, tơi xốp, sâu màu,thoáng, thoát nước Đất có độ pH : 6 – 7 thích hợp cho cây sinh trưởng và hìnhthành nốt sần Đậu tương không sống được trên đất quá chua hoặc quá kiềm Đất

ít màu, chua vẫn có thể trồng được đậu tương nhưng cần phải thoát nước, bónnhiều lân và vôi

Các nguyên tố N, P và K cần thiết cho cây trong suốt cả quá trình sinhtrưởng, phát triển Nitơ có tác dụng làm cho cây mọc nhanh, phát triển hệ rể, tạocơ sở cho việc hình thành nốt sần Đồng thời phát triển lá, thân, cành; tăng tỷ lệ

đậu quả và tỷ lệ quả chắc, tăng trọng lượng hạt và hàm lượng protein trong hạt.Photpho có tác dụng xúc tiến phát triển bộ rễ và hình thành nốt sần, giúp câycứng cáp Kali đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và tổng hợpchất gluxit Tác dụng điều hoà các quá trình đồng hoá đạm, tổng hợp protein cânbằng nước giúp tăng tính chống chịu sâu bệnh hại, tăng khả năng chịu rét, chịuhạn và chống đổ cho cây

Ngoài các nguyên tố trên còn có Ca, Mg, S và một số các nguyên tố vilượng khác có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển của cây, trong đó đặcbiệt phải kể đến là Lưu huỳnh rất cần thiết cho việc tổng hợp protein Thiếu Lưuhuỳnh sẽ làm ảnh hưởng rất xấu tới tỷ lệ và chất lượng protein trong hạt

Để có năng suất 1 tấn hạt đậu tương cùng với thân, lá cây lấy đi từ đất mộtlượng: 81kg N; 16kg P2O5; 36 kg K2O

Trang 7

Bảng 1.1 Lượng dinh dưỡng cây đậu tương hút để tạo 1 tấn hạt

Loại dinh dưỡng N (kg) P 2 O 5 (kg) K 2 O (kg) CaO (kg) MgO (kg) S (kg)

Loại dinh dưỡng Mn (g) Fe (g) Zn (g) Cu (g) B (g) Mo (g)

(Nguồn: HHPBQT - Trung tâm TTKHKT hoá chất, Ngô Thế Dần, 1997)[19]

1.3 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương

Cây đậu tương được con người biết đến cách đây khoảng 5000 năm Saukhi phát hiện ra cây đậu tương, ná đã nhanh chóng phát triển và lan rộng ở khắpcác Châu lục trên thế giới từ 550 vĩ Bắc đến 550 vĩ Nam, từ vùng thấp hơn mựcnước biển cho đến vùng cao trên 2000m so với mực nước biển [9]

1.3.1 Yêu cầu về ánh sáng

ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến hình thái cây đậu tương vì nólàm thay đổi thời gian nở hoa và chín, do đó ảnh hưởng đến chiều cao cây, diệntích lá và nhiều đặc tính khác của cây, bao gồm cả năng suất hạt

Đậu tương có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày, là một cây ngày ngắn

điển hình: Để ra hoa kết quả được, cây đòi hỏi phải có ngày ngắn, các giống khácnhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau Thời kỳ cây con mẫn cảm nhất với

ánh sáng ngày ngắn, giảm dần ở giai đoạn nụ và hầu như dừng lại ở giai đoạn rahoa Giai đoạn từ hoa đến chín có su hướng giống nhau giữa các nhóm chín Nếutrồng trong điều kiện ngày ngắn thì làm tăng tỷ lệ đậu quả và tốc độ tích luỹ chấtkhô về hạt, còn ngày dài thì ngược lại

Cây đậu tương chịu tác động của ánh sáng cả về độ dài chiếu sáng vàcường độ ánh sáng Nếu trồng trong điều kiện ánh sáng yếu sẽ làm cho cây bịvống có xu hướng leo và còi cọc ảnh hưởng rất lớn đến năng suất Khi cường độ

ánh sáng giảm 50% so với bình thường làm giảm số cành, đốt mang quả và năng

Trang 8

suất có thể giảm 50% Cường độ ánh sáng mạnh, cây sinh trưởng tốt cho năngsuất cao.

1.3.2 Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ đối với cây đậu tương có ảnh hưởng rất quan trọng đến sinhtrưởng và phát triển Theo kết quả nghiên cứu cho thấy: Cây có khả năng chịunhiệt độ thấp hơn 180C nhưng không thể chịu được nhiệt độ cao hơn 350C [10].Khi nhiệt độ cao trên 400C sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến hoàn thành đốt, sinh trưởnglóng và phân hoá hoa[11]

Nhiệt độ để hạt đậu tương nảy mầm trong khoảng tối thiểu là 100C và tối

đa là 400C, thích hợp nhất là 250C - 300C [12] Sự sinh trưởng dinh dưỡng của cây

đậu tương gồm nhiều giai đoạn khác nhau, nhiệt độ phù hợp nhất cho cây pháttriển là 200C - 280C sự sinh trưởng trong thời kỳ này ảnh hưởng đến quá trình rahoa (ra hoa chậm 5 – 7 ngày nếu nhiệt độ nhỏ hơn 240C)

Thời kỳ cây con từ lá đơn đến lá kép đậu tương chịu rét khá, lá kép có thểphát triển ở nhiệt độ 100C - 120C Hệ số diện tích lá tăng khi nhiệt độ tăng từ

180C - 300C, nhiệt độ thích hợp cho lá phát triển 220C - 270C Theo Whigham vàcộng sự, 1978)[13] nhiệt độ dưới 100C ngăn cản sự phân hoá hoa, dưới 180C sẽ

ảnh hưởng tới khả năng đậu quả Nhiệt độ trên 400C gây tác hại đến tốc độ tăngtrưởng nhú hoa và đậu quả

Nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt đến sự cố định Nitơ của đậu tương Vi khuẩn

Japonicum bị hạn chế bởi nhiệt độ trên 330C Nhiệt độ 250C - 270C hoạt động của

vi khuẩn nốt sần tốt nhất Nhiệt độ thích hợp cho quang hợp là từ 250C - 300C[14]

Đậu tương có khả năng phát triển trong phạm vi khá rộng từ 11,50C - 280C

và điều kiện ẩm độ đất từ 40 – 100% so với độ ẩm tối đa đồng ruộng Trong

điều kiện nhiệt độ từ 210C - 230C và ẩm độ đất từ 75 – 100%, đậu tương sẽ đạtnhiều hoa, quả, hạt to và năng suất tối đa

Trang 9

Lượng mưa cần thiết cho 1 chu kỳ sinh trưởng của cây dao động từ 3.000– 5.500m3/ha[15] Hệ số sử dụng nước từ 1.500 – 3.000m3 nước cho việc hìnhthành 1 tấn hạt (Vũ Thế Hùng 1981)[16].

Độ ẩm đất giữ vai trò rất quan trọng với cây đậu tương, trung bình lượngnước cần để đạt được một đơn vị sản phẩm, đậu tương cần 450 – 750 mm, tuỳthuộc vào khí hậu và độ dài giai đoạn dinh dưỡng của giống đậu tương cần đạt

đủ ẩm ở độ sâu từ 60 – 130 cm (FAO – Geneve - 1991)[17]

Đối với quá trình nảy mầm của hạt cần có sự hút nước và hô hấp Nếu thừanước kết hợp với thiếu Oxy trong đất thì tỷ lệ nảy mầm của hạt rất kém Ngượclại tỷ lệ nảy mầm của hạt trên đất khô kém hơn trên đất ướt do vậy để đảm bảocho sự nảy mầm, hàm lượng nước trong hạt phải đạt 50% (Ngô Thế Dân và Cs -1999)[18]

Trong sản xuất hiện nay, việc xác định thời vụ hợp lý là điều kiện cung cấp

đủ nước cho cây Với đậu tương cần bố trí thời vụ sao cho có mưa từ giai đoạn rahoa đến làm quả và sau đó chấm dứt mưa 2 – 3 tuần trước khi thu hoạch quả đểtiện thu hoạch và nâng cao phẩm chất hạt

1.2 Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương trên Thế giới và Việt Nam 1.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên Thế giới

Trang 10

Trong cơ câu cây trồng, cây đậu tương xuất hiện sớm nhưng chỉ phát triểnmạnh từ sau chến tranh thế giới thứ hai cả về diện tích, năng suất và sản lượng.

Theo Fukuda (1933)[20], vùng Mãn Châu (Trung Quốc) đợc coi là trungtâm phát sinh cây đậu tương Lúc đầu cây đậu tương được trồng chủ yếu ở TrungQuốc, Nhật Bản, Triều Tiên và một số nước ở Châu á như: ấn Độ, Việt Nam, Lào,Campuchia… Sau này, cây đậu tương được đưa sang trồng ở Bắc Mỹ và đã trởthành cây trồng đóng vai trò lớn ở Mỹ [21], do khả năng thích nghi cao với điềukiện thời tiết, khí hậu và đất đai, đậu tương đã lan rộng ra rất nhanh và trở thànhvùng sản xuất đậu tương chính trên thế giới

Hiện nay, đậu tương đã được trồng ở gần 80 nước khác nhau trên khắp cácChâu lục Đậu tương là nguồn cung cấp dầu và Protein quan trọng, trên thế giớikhoảng 88% sản lượng đậu tương được sản xuất ở 4 nước mà đứng đầu là: Mỹ(36,94%); Brazil (24,64%); Achentina (19,04%) và Trung Quốc (7,35%).(NguồnFAOSTAT, July, 2008)

Cùng với khả năng thích nghi với các đặc điểm điều kiện thời tiết, khí hậu,

đất đai Việc ứng dụng tiến bộ công nghệ sinh học từ chọn, tạo giống đến sảnxuất làm tăng năng suất đậu tương trong những năm gần đây đã đưa đậu tươngtrở thành cây trồng quan trọng trong cơ cấu cây trồng

Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây đượctrình bầy ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới

Trang 11

(Nguồn: FAOSTAT, July, 2008) [22]

Qua bảng 1.2 cho ta thây: Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm

2007, cây đậu tương trên thế giới đã có những bước tăng đáng kể cả về diện tích,năng suất và sản lượng Năm 2000 diện tích mới đạt 74,39 triệu ha nhưng đếnnăm 2007 đã đạt 94,90 triệu ha tăng 27,57% Riêng trong thời gian từ năm 2002

đến năm 2004 diện tích đậu tương thế giới đã tăng mạnh trên 12 triệu ha, tăng60,02% trong cả giai đoạn

Về năng suất đậu tương trên thế giới không thay đổi nhiều nhưng do sựtăng lên về diện tích nên sản lượng đậu tương cũng tăng qua các năm từ 161,40tấn (năm 2000) lên 216,14 tấn (năm 2007) So với năm 2006 thì sản lượng đậutương năm 2007 có thấp hơn, nguyên nhân là do giảm năng suất ảnh hưởng lớnnhất làm cho năng suất đậu tương trên thế giới giảm là do sự giảm mạnh về năngsuất đậu tương của Mỹ

Trước những năm 1970, hai nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới là

Mỹ và Trung Quốc Sản lượng đậu tương của Mỹ từ 60% (năm 1960) tăng lên75% (năm 1969) Trong khi đó, sản lượng đậu tương của Trung Quốc lại giảm từ32,0 uống 16,0% trong cùng thời kỳ Trong những năm 1980 – 1983, Mỹ

đã chiếm 63,0% tổng sản lượng đậu tương trên thế giới, Brazil là nước thứ 2(chiếm 16,0%) và Trung Quốc là nước thứ 3 (chiếm 9,0%)

Tình hình sản xuất đậu tương một số nước trên thế giới được trình bầy ở

Trang 12

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương một số nước trên thế giới

Quốc 9,50 17,79 16,90 9,10 17,03 15,50 8,90 17,53 15,60

(Nguồn: FAOSTAT, July, 2008) [22]

Qua bảng 1.3 cho thấy: Sản lượng đậu tương thế giới chịu ảnh hưởng trựctiếp từ 4 nước mà đứng đầu là Mỹ Sản lượng đậu tương thế giới năm 2007 đạt216,14 triệu tấn, giảm 6,26 triệu tấn (2,81%) so với sản lượng năm 2006 chủ yếu

do sản lượng ở Mỹ giảm (giảm 16,86 triệu tấn) Trong đó, sản lượng (đơn vị:triệu tấn) năm 2007 của Mỹ đạt 70,71 triệu tấn (giảm 19,25%), Brazil 58,20 (tăng10,94%), Achentina 45,50 (tăng 12,43%) và Trung Quốc 15,60 (tăng 0,65%)

Một trong những nguyên nhân làm cho năng suất đậu tương của Mỹ giảmmạnh là do người nông dân đã ít chú trọng đến cây đậu tương và đã chuyển sangtrồng ngô vì nhu cầu sản xuất nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn giasúc tăng mạnh đã đem lại lợi nhuận cao hơn cho người nông dân

Tình hình sản xuất đậu tương của các nước trên thế giới trong năm 2007cho thấy, năng suất và sản lượng đậu tương của Mỹ tuy có giảm so với năm 2006nhưng Mỹ vẫn khảng định vị thế của mình về sản xuất đậu tương thế giới Vớidiện tích trung bình đạt khoảng 29,9 triệu ha với sản lượng khoảng trên 80 triệutấn, chiếm 31,74% diện tích và chiếm 37% sản lượng đậu tương trên thế giới.Hiện nay, diện tích trồng đậu tương ở Mỹ đứng thứ 3 sau lúa mỳ, ngô và được coi

là mặt hàng có giá trị chiến lược trong xuất khẩu và thu đổi ngoại tệ Nguyênnhân thúc đẩy sản xuất đậu tương ở Mỹ phát triển là do áp dụng đồng bộ các biện

Trang 13

pháp kỹ, tăng năng suất đó trong yếu tố giống được chú ý hơn cả Theo số liệuthống kê của Bộ Nông Nghiệp Hoa kỳ hiện nay diện tích trồng cây đậu tươngchuyển gen của Hoa kỳ chiếm 92% trong tổng diện tích trồng đậu tương trên cảnước Chính vì vậy diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở nước này khôngngừng tăng lên trong những năm gần đây.

Brazil là nước đứng thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ) về tổng diện tích và sảnlượng đậu tương Về diện tích trồng chiếm 23,23%, sản lượng là 24,64% so vớidiện tích và sản lượng đậu tương trên thế giới Qua bảng 1.3 ta thấy năng suất vàsản lượng đậu tương của Brazil liên tục tăng qua các năm Năm 2005 năng suất

đậu tương của Brazil mới chỉ đạt 21,92 tạ/ha và sản lượng là 50,19 triệu tấnnhưng đến năm 2007 năng suất đã tăng lên đến 28,20 tạ/ha (tăng 28,65%) cònsản lượng là 58,20 triệu tấn (tăng 15,96%) Về diện tích trồng đậu tương đã giảmdần qua các năm, năm 2005 là 22,89 triệu ha giảm xuống còn 20,64 triệu ha năm

2007 (giảm 9,83%) Nguyên nhân về sự giảm diện tích của Brazil là do một sốdiện tích dự tính trồng đậu tương được chuyển sang trồng mía do nhu cầu mía đểsản xuất ethanol ở Brazil tăng mạnh điều này khiến cho phần diện tích đang trồng

đậu tương được quan tâm đầu tư hơn Trong sản xuất tập trung đẩy mạnh côngtác giống như: Sử dụng giống mới có năng xuất cao, chống chịu sâu bệnh, giốngchuyển gen… áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nhằmnâng cao sản lượng đậu tương hàng năm

Xuất khẩu đậu tương của Brazil năm 2007/08 dự tính đạt 29,69 triệu tấn,tăng mạnh so với 23,49 triệu tấn xuất khẩu năm 2006/07 (WAP, Jan 2008)[23]

ở châu á, Việt Nam đứng thứ 6 về sản xuất đậu tương sau Trung Quốc, ấn

Độ, Indonesia, Triều tiên và Thái Lan [24] Trung Quốc là nước đứng thứ 4 thếgiới về diện tích trồng cây đậu tương chiếm 9,66% về diện tích và chiếm gần7,6% về sản lượng đậu tương của thế giới [25] Theo FAOSTAT - July 2008,

Trang 14

năng suất bình quân của Trung Quốc đạt được trong năm 2007 là 17,53 tạ/hathấp hơn từ 6 tạ đến 11 tạ/ha so với các nước Brazil, Argentina hay Mỹ, nhưngvới mức năng suất này vẫn còn cao hơn so với một số nước khác trong khu vựcnhư: ấn Độ (12,0 – 13,0 ta/ha), Việt Nam (14,0 – 15,0 tạ/ha)…

Thị trường xuất khẩu đậu tương chủ yếu ở dạng nguyên hạt vì nhiều nướcnhập khẩu sẽ sử dụng để chế biến làm thức ăn cho người, sản xuất dầu ăn và khôdầu làm thức ăn chăn nuôi Điều đó chứng tỏ các sản phẩm được chế biến từ đậutương rất đa dạng và phong phú

Hiện nay các nước nhập khẩu đậu tương lớn gồm: Trung Quốc, Nhật Bản,

ấn Độ, Đài Loan, Triều Tiên Trước năm 1995, Trung Quốc từng là nước sảnxuất chính và xuất khẩu dòng đậu tương Nhưng nước này đã trở thành nước nhậpkhẩu ròng đậu tương trong 5 năm sau đó Năm 2000, Trung Quốc nhập khoảng

10 triệu tấn đậu tương, tương đương với 177% sản lượng đậu tương trong nước

Kể từ đó, nhập khẩu đậu tương liên tục tăng và năm 2006, lượng nhập khẩu lêntới 28,27 triệu tấn, và năm 2007 là gần 31 triệu tấn

1.2.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới

Đậu tương là loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao.Nhận thức được điều đó, từ nâu con người đã tìm mọi cách để duy trì, bảo tồnnhững nhuồn gen quý nhằm mục đích phát huy tiềm năng, năng suất của loại câytrồng này

Hiện nay, nhu cầu của con người với việc sử dụng các sản phẩm được chếbiến từ đậu tương ngày một tăng Để đáp ứng được điều đó họ đã chú trọng đẩymạnh việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học kỹ thuật trongcông tác chọn tạo giống mới Đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu khác nhau

về cây đậu tương, nhằm chọn tạo ra những giống như ý muốn, đáp ứng yêu cầusản xuất Vì vậy hàng loạt các công trình nghiên cứu trên thế giới được thực hiện

Trang 15

qua các năm, với các phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tìm ra nhữnggiống đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt.

1.2.2.1 Nghiên cứu hệ số tương quan và biến dị, di truyền của các tính trạng

số lượng ở đậu tương

Xác định mức độ biến dị, di truyền của các tính trạng số lượng là cơ sở đầutiên để đánh giá về giá trị của nguồn gen và xây dựng chương trình chọn giốngthích hợp

Khi nghiên cứu sự biến dị, di truyền ở cây đậu tương là xác định hệ số ditruyền của các tính trạng khác nhau, mà từ đó dự đoán được khả năng chọn lọccủa các tính trạng đó Tuy nhiên, với một số tính trạng như tính trạng về năngsuất thì hiệu quả chọn lọc không cao so với các tính trạng khác Do vậy, các nhàchọn giống đậu tương thường dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu mức độ tươngquan của các tính trạng đó mà đề ra biện pháp chọn lọc gián tiếp và hợp lý [26].Mặt khác, để đánh giá mức độ biến dị, di truyền yêu cầu phải thử nghiệm nhiềulần, ở nhiều nơi qua các năm với nhiều lần nhắc lại của mỗi lần thử nghiện riêngbiệt (Johnson và CTV, 1955)[27]

Năm 1995, Johnson và CTV [28] khi nghiên cứu sự biến dị do di truyền và

do môi trường của 2 quần thể các dòng đậu tương, thực hiện nhiều nơi và quanhiều năm Tác giả cho rằng ở quần thể 1 phần lớn biến dị của năng suất hạt là

do môi trường, còn ở quần thể 2, cho thấy: trong 3 môi trường nghiên cứu thì 2môi trường có phường sai di truyền cao hơn so với phương sai môi trường

Prakash và CTV (1966)[29] cho rằng: Đối với cây đậu tương về thời giansinh trưởng và chiều dài quả có sự biến dị, di truyền rộng Còn Miku (1970)[30]

đã xác định chiều cao cây có sự biến dị thấp Ngược lại, thì với các tác giả Lal vàMehta (1973)[31] lại cho rằng chiều cao cây có hệ số biến động di truyền caonhất

Trang 16

Malhotra và CTV (1973)[32]; Bains và Soodk, (1980)[33] đã xác định

được số quả/cây, và năng suất hạt có hệ số biến dị, di truyền cao nhất

Khi nghiên cứu biến dị kiểu hình chung của 9 tính trạng ở các quần thể laithế hệ F3 của đậu tương, tính toán dựa trên cơ sở phương pháp phân tích yếu tố,Kadlec Mirolav (1985)[34] cho thấy Năng suất hạt/cây là chỉ tiêu quan trọngnhất trong các chỉ tiêu nghiên cứu Phần ảnh hưởng quyết định là yếu tố F1(chiếm 50,8% biến dị chung) bao gồm số hạt, số quả/cây kể cả khối lượng hạt vàquả Hai yếu tố F1 và F2 chiếm 70,98% biến dị kiểu hình chung

Plazinic (1987)[35] cho rằng cá yếu tố di truyền và sinh thái có ảnh hưởng

rõ rệt đến chiều cao cây, độ cao đóng quả thấp, số đốt hữu hiệu, chiều dài đốt, sốquả và số hạt/cây

Khi đánh giá về các tính trạng trên cây đậu tương, bằng nhiều phươngpháp khác nhau, kết quả cho thây cũng không đồng nhất, như theo phương phápchuẩn, Mahmuh và Kramer (1951)[36], đã xác định hệ số di truyền của năng suấthạt và chiều cao cây ở thế hệ F2 của một số tổ hợp tương ứng là 43,4% và 40,6%.Với 3 yếu tố (năng suất, chiều cao cây và ngày chín) tác giả đã xác định hệ số ditruyền bằng phương pháp hồi quy là 5,9%, (- 35,3%) và (- 50,3%) Khi theo dõigiá trị trung bình các dòng F4 trên giá trị trung bình của dòng F3 thì hệ số ditruyền lại được xác định là: 77%; 91% và 100%

Cũng 3 yếu tố trên, Bartley và weber (1952)[37] bằng phương pháp hồiquy của giá trị trung bình ở các thế hệ khác nhau cũng có kết luận khác nhau:Gía trị trung bình của dòng F3 trên sự biểu hiện của từng cá thể F2, hệ số ditruyền được xác định 15%, 66% và 85%, ở thế hệ F4 giá trị trung bình được xác

định trên giá trị tring bình của các dòng F3thì hệ số di truyền được xác định bằng45%, 62% và 92%

Trang 17

Theo Johnson và CTV (1955a) [38] khi áp dụng phương pháp phân tíchphương sai: với nhiều môi trường nghiên cứu trong 2 năm, các số liệu thu đượccho thấy đã xác định được hệ số di truyền cao đối với một số tính trạng đậu tươngnhư số ngày từ gieo đến ra hoa, chiều cao cây và số đốt/cây.

Bhatt và CTV (1968)[39] đã xác định khối lượng 1000 hạt có hệ số ditruyền cao và độ dài quả có hệ số di truyền thấp

Malhotra (1973)[40] cho thấy số hạt/quả có hệ số di truyền cao và số cànhcấp 1 có hệ số di truyền thấp ở thế hệ F2, khi nghiên cứu 3 tổ hợp lai đậu tương,Thseng (1972)[41] cũng có kết quả tương tự

Khi nghiên cứu về hệ số di truyền (Paz, 1974) [42] cho rằng năng suất hạt

có hệ số di truyền thấp nhất và kích thước hạt có hệ số di truyền cao nhất Ngượclại, (Bains và Soodk, 1980) [43] lại xác định là khối lượng 1000 hạt có hệ số ditruyền thấp nhất và năng suất hạt có hệ số di truyền trung bình Còn (Dencescu,1983) [44] lại cho rằng cả 2 tính trạng về năng suất và kích thước hạt đều có hệ

số di truyền thấp nhất

Theo Alam (1983)[45] đã xác định được hệ số di truyền có giá trị cao đốivới chiều cao cây, số hạt/ quả và thời gian sinh trưởng

Khối lượng hạt của cây là chỉ tiêu quan trọng và thường được dùng làmtiêu chuẩn để chọn lọc các dòng, giống về năng suất hạt Tuy nhiên việc chọn lọccác dòng, giống tốt chỉ dựa trên năng suất thường nhầm lẫn và không có hiệu quả.(Scarle, 1965) [46]; (Lal và Haque, 1971) [47]

Đối với cây đậu tương thì hiệu quả chọn lọc về năng suất khó khăn hơnnhiều so với chọn lọc về tính trạng khác và yêu cầu phải thử nghiệm nhiều lầnqua các năm, nơi trồng và với nhiều lần nhắc lại ở mỗi lần thử nghiệm riêng biệt(JohnSon và CTV, 1955b)[50] Do vây hiệu quả chọn lọc thường dựa trên kết quảnghiên cứu mức độ tương quan của các tính trạng mà đề ra biện pháp chọn lọc

Trang 18

gián tiếp, hợp lý Mặt khác khi nghiên cứu hệ số tương quan giữa các tính trạngcủa cây đậu tương đã chỉ ra rằng: Hệ số tương quan ngoài phụ thuộc vào địa điểmnơi trồng, các dòng giống, nguồn gốc của chúng và các thế hệ nghiên cứu(Borem và CTV, 1987)[48] Hệ số tương quan còn phụ thuộc vào kỹ thuật trồng:mật độ và phân bón… (Rubaihayo, 1973) [49].

Trước đó, đã có nghiên cứu cho rằng đối với cùng một nguồn gen thì hệ sốtương quan không thay đổi rõ rệt giữa các năm, địa điểm trồng hoặc là do tươngtác giữa các địa điểm với năm trồng

Khi nghiên cứu hệ số tương quan kiểu hình và tương quan di truyền thì phầnlớn các nhà nguyên cứu đều cho rằng hệ số tương quan di truyền có giá trị lớn hơn

hệ số tương quan kiểu hình ở tất cả các cặp tính trạng nghiên cứu ( Johnson vàCTV, 1955B [51]; Anand và Torrie, 1963 [52]; Lal và Haque, 1971 [53]; Gautam

và Sing, 1977 [54]; Dencescu, 1982 [55]; Lin và Nelson, 1988 [56] )

Bên cạnh việc nghiên cứu hệ số tương quan ở cây đậu tương thi việc xác

định đặc tính ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của các tính trạng hạt đến năngsuất hạt cũng được nhiều tác giả đề cập tới Phần lớn các kết quả nghiên cứu chothấy số quả/cây và khối lượng 1000 hạt dều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếplớn nhất đến năng suất hạt ( Lal và Haque, 1971 [57]; Patil và Pokle, 1976 [58];Mehrotra và Chaudhary, 1983 [59] )

Ngoài ra nhiều tác giả cũng cho rằng: Phần ảnh hưởng trực tiếp hoặc giántiếp lớn nhất đến năng suấ hạt lại là thời gian sinh trưởng (Sengupta và Kataria,1971) [60], Số quả/đơn vị diện tích, số hạt/quả (Panday và Torrie, 1973) [61],chiều cao cây, số đốt/cây, và số hạt/cây (Yap và Lee, 1975) [62]

Ngoài việc nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất hạt với các tính trạng sốlượng, đã có nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa các đặc tính di truyền

Trang 19

về các hình thái sinh vật học của cây đậu tương với các khả năng thích nghi củacây đậu tương và năng suất hạt.

Về đặc điểm hình thái cây đậu tương một số tác giả đã có nhận xét: Cácgiống có lá chét rộng thường được phổ biến trong sản xuất và cũng là các giốngcho năng suất cao hơn các giống có lá chét hẹp Ngoài ra, hình dạng lá chét cũng

ảnh hưởng đến số hạt/quả, các giống có lá chét bình thường, hình trứng thường

có 2 đến 3 hạt/quả, cây có lá chét hẹp thường có 3 đến 4 hạt, còn cây có lá chéthình bầu dục lại có 1 đến 2 hạt/quả (Hinson và Hartwig, 1977) [63] Điều đó chothấy hình dạng lá chét và số hạt trên quả là do cùng một loại gen quy định

Đã có những nghiên cứu đánh giá về khả năng nẩy mầm của hạt đậu tươngthì Potts và cộng sự, 1978 thấy rằng: Các dạng hạt cứng giữ được khả năng nẩymầm 80% kéo dài được 9 tuần sau khi chín, trong khi đó dạng hạt bình thườngchỉ giữ được khả năng nẩy mầm 80% từ 3 đến 4 tuần sau khi chín

Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa năng suất hạt với cáctính trạng số lượng cũng như mối quan hệ của những đặc tính di truyền với khảnăng thích ứng của giống để đạt năng suất cao là mục tiêu hang đầu đối với cácnhà chọn giống

Ngoài ra khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tính ổn định về năng suất khi

được tiến hành gieo trông trong các điều kiên sinh thái khác nhau nhiều tác giảcho biết: Có sự tương tác cao giữa giống với môi trường về năng suất hạt và khảnăng chống đổ, tương tác thấp về chiều cao cây và tương tác trung bình về kíchthước hạt, hàm lượng đạm và hàm lượng dầu của hạt đậu tương (Johnson và cộng

sự, 1955a[64]; Byth và Weber, 1968 [65] )

Việc xác định các dòng giống đậu tương tốt, có tính ổn định và có khảnăng thích ứng với các điều kiên môi trường khác nhau đang được các nhà chọngiống đậu tương hết sức quan tâm Theo nghiên cứu của Sanbuihi và Gotoh (1969)

Trang 20

[66] đã xác định được hệ số hồi quy cho 5 giống đậu tương từ số liệu thu được ở

7 địa điểm trong 6 năm cho thấy: Giống có tính thích ứng rộng về không giannhưng lại nhạy cảm về thời gian, một số giống được xác định là thích ứng rộngcho năm trồng và thích ứng hẹp cho địa điểm trồng Còn Baihaki và CTV (1976)[67] lại cho rằng: Giống ổn định nhất là giống có năng suất trung bình, tiếp theo

là giống có năng suất cao và sau là giống có năng suất thấp

Như vậy, khi nghiên cứu hệ số tương quan và biến dị, di truyền ở cây đậutương có ý nghĩa to lớn trong công tác chọn tạo giống đậu tương Phương phápnày giúp đánh giá được giá trị của nguồn gen, tính ổn định và phạm vi thích ứngcủa các dòng giống đậu tương, cho phép chọn ra những dòng giống đậu tương cónăng suất cao, ổn định, thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau

1.2.2.2 Một số phương pháp chon tạo giống đậu tương có chất lượng hạt cao

Đậu tương là loại cây trồng có khả năng thích ứng rộng, chải qua hàngngìn năm thích ngi đến nay nguồn gen đậu tương đã có tới trên 45.038 mẫu giống

và được cất giữ chủ yếu ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ, Triều Tiên,Australia, và một số nước khác [68]

Cây đậu tương là loại cây trồng tự thụ phấn nên các phương pháp tạo vàchọn lọc giống cũng tương tự như các loại cây tự thụ khác, nhưng cũng có những

đặc thù riêng cảu nó Cùng với việc chọn lọc giống theo phương pháp thôngthường, công tác chọn lọc các giống theo chỉ số cũng đã được áp dụng nghiêncứu trên cây đậu tương trong nhiều năm qua Tuy nhiên nhưng kết quả đạt đượckhi áp dụng việc nghiên cứu chỉ số chọn lọc ở cây đậu tương còn hạn chế và chưathống nhất

Để tạo ra được giống đậu tương có chất lượng hạt hạt cao người ta thườngdùng hai phương pháp chính là đột biến và lai tạo Hoặc được xử lý bằng các tiaphóng xạ với liều lượng hác nhau, xử lý hạt rồi đem gieo Qúa trình gây đột biến

Trang 21

thường cho kết quả nhanh như mong muốn, rút ngắn thời gian lai tạo Nhưng tạogiống bằng phương pháp gây đột biến thường tốn kém và lám cho các thế hệ saubiến dị ngày càng lớn hơn, chất lượng của giống giảm dần qua các thế hệ.

Để tạo ra giống có tính ổn định về thời gian, có chất lượng hạt cao người tathường dùng phương pháp lai hữu tính hay là lai trở lại Con lai trở lại với bố mẹ

đã thích ứng để hoà nhập các gen mong muốn từ gen nhập Mức độ trở lại củacon lai phụ thuộc hoàn toàn vào độ khác biệt giữa hai bố mẹ Chọn giống bằngphương pháp này đòi hỏi mất nhiều thời gian nhưng các giống tạo ra là rất ổn

định, lâu bền rất ít bị thái hoá qua các thế hệ

Khi nghiên cứu hiệu quả chọn lọc theo chỉ số gồm một hoặc nhiều tínhtrạng, Johnson và CTV (1955) [69] đã cho rằng chọn lọc theo các tính trạng giántiếp như thời gian đậu quả, tính chín muộn, hạt to, tính chống tách hạt, chống đổ,hàm lượng Protein thấp có thể cải lương về năng suất hạt, nhưng mức độ hiệu quả

có khác nhau giưa các tính trạng Trong đó các tính trạng như thời gian sinhtrưởng ở quần thể 1 và khối lượng 1000 hạt ở quần tể 2 có thể thực sự là các tínhtrạng khác nhau, các kết quả cho thấy chọn lọc chỉ dựa trên chỉ số gồm thời gian

đậu quả và khối lượng hạt cho hiệu quả tương đương như là chọn lọc trực tiếp.Khi đưa thêm tính trạng chống đổ, hàm lượng dầu và đạm vào chỉ số trên thì hiệuquả chọn lọc tăng lên tương đối rõ rệt Hiệu quả chọn lọc tương đối theo chỉ sốgồm năng suất, thời gian đậu quả, khối lượng hạt, tính chống đổ, hàm lượng dầu

và hàm lượng đạm đạt 140,8% ở quần thể 1 và 126,1% ở quần thể 2

Khi nghiên cứu chọn lọc các giống theo chỉ số, ở các dạng kết hợp khácnhau Pritchard và CTV, (1973) [70] cho thây chọn lọc theo chỉ số dựa trên 7 tínhtrạng cho hiệu quả cao hơn so với chọn lọc trực tiếp về năng suất hạt ở các tổhợp lai khác nhau về vai trò tương đối của các yếu tố năng suất trong chỉ số chọn

Trang 22

lọc Các tác giả cũng chỉ ra rằng trong thực tế sẽ rất khó khăn khi đưa vượt quá 5tính trạng vào sơ đồ chỉ số chọn lọc.

Vai trò quan trọng trong quá trình cải lương các giống cây trồng đó là sựtương tác giữa các giống với điều kiện môi trường khác nhau Đối với cây đậutương thì các tác giả Johnson và CTV, (1955) [71]; Byth và Weber, (1968) [72]kết luận là có sự tương tác cao giữa các giống với môi trường cho năng suất hạt

và sự tương tác thấp có chiều cao cây và tương tác trung bình cho kích thước hạt,

sự đổ sớm, hàm lượng đạm và hàm lượng dầu

Khi phân tích khả năng kết hợp và di truyền của Protein, dầu và thành phầncủa chúng ở F2 của đậu tương, Lui X.H, (1990) [73] ở Viện hàn lâm khoa họcnông nghiệp Tilin – Trung Quốc cho biết co 3 giống từ Trung Quốc và 5 giống

từ Mỹ đã được nghiên cứu sử dụng cho 11 đặc tính bao gồm: Năng suất hạt vàProtein tổng số/ đơn vị diện tích và sản lượng dầu tổng số Với các giống TrungQuốc và 5 đặc tính cho các giống của Mỹ như: Protein, Axit Oleic và AxitLinolenic Bởi giá trị GCA và giá trị di truyền cho Protein, dầu, Axit Oleic vàAxit Linolenic, Protein tổng số và sản lượng dầu tổng số/ đơn vị diện tích là cao,chọn những điểm đó sẽ đạt được ở thế hệ F2

Khi nghiên cứu khả năng cho năng suất của đậu tương với những cặp bố

mẹ khác nhau về hàm lượng protein, giống nhau về năng suất tại Mỹ, HartwigE.E và Kilen T.C, (1992) [74] cho rằng: Năng suất đậu tương thường không kếthợp với protein thô Mục đích của nghiên cứu là xác định sự kết hợp sẽ xảy ra rất

ít bằng sự tạp giao của những dòng có hàm lượng protein cao và bình thường cònnăng suất hạt như nhau Thế hệ F2 của 1000 cây đã trưởng thành, cây được thuhoạch riêng và xác định hàm lượng dầu sử dụng kỹ thuật cộng hưởng sức hút hạtnhân hai phần quần thể được phát triển: 1 phần gồm 8% hàm lượng dầu cao nhất

và phần kia 8% hàm lượng dầu thấp nhất Với sự tương quan nghịch giữa protein

Trang 23

thô và dầu, quần thể có hàm lượng dầu thấp chắc chắn sẽ cung cấp những dòngtập trung protein thô cao Lấy 200 cây từ hai quần thể trên, tiếp tục làm như vậyvới F6, F7 thu được 18 dòng có hàm lượng đạm cao nhất và 18 dòng này dùng để

đánh giá trong 5 môi trường cho năng suất hạt, protein và dầu Hầu hết năng suấthạt trung bình của những dòng có hàm lượng protein cao giảm 6% so với dòng cóhàm lượng dầu cao, mặc dù khi so sánh năng suất hạt của 2 dòng có hàm lượngprotein cao nhất với hai dòng có hàm lượng dầu cao nhất trong cùng môi trường,những dòng có hàm lượng protein cao cho tăng 1% năng suất hạt, 18% proteinthô và giảm 20% dầu Kết quả cho thấy tiềm năng cho năng suất của những dòng,giống đậu tương có chứa hàm lượng protein và hàm lượng dầu cao là như nhau

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới

Trong công tác chọn tạo giống đậu tương, từ trước tới nay có thể sử dụngnhiều phương pháp khác nhau như: thuần hoá, nhập nội, chọn lọc, lai tạo, đột biến

và sử dụng công nghệ sinh học Nhờ xác định được chức năng của gen, cũng nhưbiết được sự liên kết một số gen ảnh hưởng đến tính trạng nào đó, mà các nhà chọngiống đã thành công trong việc lai tạo những giống đậu tương năng suất cao

Trên thế giới, số lượng nguồn gen đậu tương khá phong phú và đa dạng

đang được lưu giữ ở nhiều nơi, trên nhiều quốc gia nhưng phần lớn tập trung ở 15nước là: Đài Loan, úc, Trung Quốc, Pháp, Nigêria (IITA), ấn Độ, Inđônêxia,Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Bắc Triều Tiên, Nam Phi, Thuỵ Điển, Thái Lan, Mỹ

và Liên Sô có tổng số khoảng 45.038 mẫu giống (Trần Đình Long, 1997[75])

Nhờ công tác trao đổi tài nguyên di truyền và nghiên cứu hợp tác quốc tế.Hiện nay hầu hết các giống đậu tương ở Mỹ là cây biến đổi gen và khoảng 1/3sản lượng đậu tương ở Braxin cũng từ các giống đậu tương biến đổi gen Giống làkhâu then chốt quyết định năng suất đậu tương Trong đó điển hình là nước Mỹ,

ở Mỹ có một nguồn gen di truyền lớn do đó tập đoàn giống đậu tương của Mỹ rất

Trang 24

phong phú Thí nghiệm đầu tiên được tiến hành ở Mỹ vào năm 1804 tại bangDelecibuanhia đến năm 1983 ở Mỹ đã có trên 10.000 mẫu giống được thu thậpkhắp nơi trên thế giới Trong những năm 1928 – 1932 trung bình mỗi năm Mỹthu thập trên 1.190 dòng từ các nước khác nhau Hiện nay Mỹ đã đưa ra phổ biếnhơn 100 giống có năng suất cao phục vụ sản xuất đại trà Đặc biệt là giống PI

194633, PI 274454, Clark 63

Hiện nay, Mỹ đã xây dựng được một hệ thống giống đậu tương có phảnứng ánh sáng khác nhau từ nhóm 00 đến nhóm XII Trong đó từ nhóm 00 đếnnhóm IV thuộc nhóm chín sớm, từ nhóm V đến nhóm X thuộc nhóm chín trungbình, từ nhóm XI đến nhóm XII thuộc nhóm chín muộn

Với tập đoàn giống đậu tương của Mỹ, thời gian qua đã được sử dụng rộngrãi trên thế giới Chương trình đỗ tương Quốc tế mà những cuộc thí nghiệm giốngquốc tế là một bộ phận đa được nhiều nước tham gia Miền nam Việt Nam là một

điểm trong mạng lưới thí nghiệm giống quốc tế lần thứ nhất (1973) Chương trìnhthích nghi của một số giống ưu tú vào những vĩ tuyến thấp đã thu được kết quả ởColombia (vĩ tuyến 30) Guyana (vĩ tuyến 60), Puecto Rico (vĩ tuyến 180) Chươngtrình nhập nội để tạo giống mới được tiến hành ở Colombia, Bigiêria, Brazin,Indonexia và nhiều nước nước Châu á, Châu Phi Chương trình đỗ tương của ấn

Độ (India Soybean Program) Sử dụng các giống nhập nội từ Hoa kỳ như giốngBragg, Lee, Hardee, Davis, Improved Pelican Những giống này đã có mặt trongtập đoàn giống thí nghiệm quốc tế năm 1973 và đã đạt năng suất cao ở vĩ tuyến

100 đến 200,trong đó có Việt Nam [76]

ở Trung Quốc, đây là nơi khởi nguồn của cây đậu tương Khi nghiên cứunguồn gen trong nước đã sử dụng công nghệ mới để cải tạo các dạng gen cũ, thaythế bằng các dạng gen mới phù hợp với mục đích của quốc gia: trong nhiều năm

Trang 25

từ 1923 – 1995 đã công nhận được 651 giống đậu tương, trong đó có hơn 30giống đậu tương đang trồng có nguồn gốc từ các nòi của Mỹ.

ở ấn Độ: Tổ chức quốc gia về chương trình nghiên cứu cây đậu tương,AICRPS và NRCS đã được thành lập năm 1967, với mục đích tập trung nghiêncứu về genotyp và đã phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới,

đồng thời phát triển những giống chống chịu cao với bệnh khảm virus Với nhiệm

vụ tạo và thử nghiệm giống mới, chương trình này đã tạo ra một số dòng giống cótriển vọng như KH2b, J202, J231, DS74-24, DS73-16, MACS13 [77]

ở Indonesia mục đích của công tác chọn giống là phát triển những giống

có triển vọng, tức là tạo ra những giống có thể sản xuất tốt trên chân đất thấp sautrồng lúa, không phải làm đất (làm đất tối thiểu), thời gian sinh trưởng ngắn (70– 80 ngày), chống bệnh gỉ sắt, hạt có sức sống tốt như: Willis, Kevinci, Dempo,Rinani hiện đang được trồng rất phổ biến ở Indonesia

Tổ chức DOAThái Lan tiến hành nghiên cứu về đậu tương đã chọn tạo ranhững giống có thời gian sinh trưởng ngắn (75 – 95 ngày), phản ứng trung tínhvới ánh sáng có năng suất ổn định, phẩm chất tốt, không nứt vỏ, chống chịu sâubệnh, khả năng chịu hạn, chịu mặn và ngắn ngày

Trong nhưng năm gần đây, nhằm đáp ứng công tác nghiên cứu về giống

đậu tương đã có rất nhiều các tổ chức, mạng lưới cải tạo giống cây đậu tươngQuốc tế được hình thành như: INTSOY (chương trình nghiên cứu đậu tươngQuốc tế Mỹ), AVRDC (trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu á - ĐàiLoan), ACIAR (trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia) Nhiệm

vụ của các tổ chức là phối, kết hợp tìm ra những giống đậu tương có triển vọng vềnăng suất, khả năng thích ứng rộng với điều kiện các nước để phục vụ sản xuất

1.2.3 Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam

1.2.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Trang 26

Việt Nam là nước nông nghiệp có lích sử trồng đậu tương lâu đời Trongthư tích thế kỷ VI đã cho biết ở Bắc Bộ có trồng đậu tương, sách “Vân đài loạingữ” của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII cho rằng cây đậu tương được trồng từ ngànnăm nay Các sản phẩm được chế biến từ đậu tương có hàm lượng dinh dưỡngcao ngoài việc dùng làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc còn được

sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như : Làm nguyên liệu cho công nghiệpchế biến (mực in, sơn, xà phòng, chất dẻo, thuốc trừ sâu ), dùng làm vị thuốcchũa bệnh (suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già, bệnh loãng xương ở phụ nữ, bệnh

đái tháo đường, thấp khớp ) Giá trị mà cây đậu tương mang lại là rất lớn, cholên cây đậu tương được đánh giá là một trong những cây trồng quan trọng trongsản xuất nông nghiệp của nước ta Đến nay cây đậu tương đã được mở rộng vàphát triển ở tất cả các vùng trồng trên cả nước và đã trở thành loại cây mang lạihiệu quả giá trị kinh tế cao

Cây đậu tương có khả năng thích ứng rộng, phát triển được trên nhiều vùngsinh thái nông nghiệp khác nhau và là loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao trên

đất bạc màu và khô hạn Do có đặc điểm là thời gian sinh trưởng ngắn, nên nhiềuvùng có thể trồng được 2 – 3 vụ đậu tương trong năm trên nhiều chân đất vớinhiều chế độ canh tác khác nhau đã góp phần vào chuyển dịch cơ cấu cây trồngtrong nông nghiệp, giúp tăng hiệu quả kinh tế trên một đơi vị diện tích

Với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, chế độ lượng mưa và độ ẩm rấtthích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương Trong vòng 10 nămtrở lại đây, cây đậu tương đã phát triển rất nhanh cả về diện tích và sản lượng,nhưng sản xuất đậu tương ở nước ta chưa được đầu tư cao, năng suất còn thấphơn nhiều so với thế giới

Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước là trútrọng đến việc phát triển ngành Nông nghiệp nói chung trong đó có cây đậu

Trang 27

tương nói riêng, đã đưa cây đậu tương có những bước tiến manh cả về diện tích,năng suất và sản lượng.

Tình hính sản xuất đậu tương ở Việt Nam trong những năm gần đây đượctrình bày ở bảng 1.4

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

đậu tương mới thời gian gần đây

Trang 28

Nguyên nhân làm cho năng suất đậu tương của Việt Nam còn thấp là dochưa có những bộ giống thích hợp, năng suất cao cho từng vùng sinh thái Đồngthời chế độ thâm canh đậu tương còn thấp, chưa áp dụng được những biện pháp

kỹ thuật mới tăng năng suất Mặt khác tập đoàn giống địa phương đã bị lẫn tạp,thoái hoá nghiêm trọng, năng suất và phẩm chất giảm

Xuất phát từ những mục tiêu cơ bản trên, nhiệm vụ hàng đầu của các nhàchọn, tạo giống đậu đỗ Việt Nam là phải nhanh chóng chọn tạo ra một bộ giốngmới phong phú, phù hợp với từng điều kiện sinh thái, từng mùa vụ khác nhau, cónăng suất cao, phẩm chất tốt, có tính thích nghi, chống chịu ngoại cảnh khác để bổxung vào tập đoàn giống địa phương đã bị lẫn tạp, thoái hoá hiện nay

1.2.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam

Cây đậu tương được trồng ở Việt Nam từ rất lâu, ngay khi còn là câyhoang dại, sau đó được thuần hoá và được trồng như một cây thực phẩm có giá trịdinh dưỡng cao Ngày nay các tỉnh phía Nam quen gọi loại thực phẩm này là

“Đậu lành’’, ở miền Bắc quen gọi là “Đỗ tương’’

Công tác nghiên cứu, chọn tạo giống đậu tương ở nước ta phần lớn tậptrung ở các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, các Trung tâm hay các trạm,trại nghiên cứu đậu đỗ

Từ những năm 1945 nước ta đã xây dựng được các trại nghiên cứu thínghiệm về đậu đỗ nói chung và đậu tương nói riêng như ở Định Tường - ThanhHoá; Mai Nham - Vĩnh Phú; Thất Khê - Lạng Sơn; Pú Nhung - Lai Châu Trong

đó trại đậu đỗ Định Tường - Thanh Hoá trong những năm 1957-1965, đã tiếnhành thí nghiệm với 52 giống đỗ địa phương và một số giống nhập nội (chủ yếu

của Trung Quốc), kết quả đã chọn ra được 2 giống tốt đưa ra sản xuất đại trà đó

là: Giống V70, là giống “Hoa Tuyển’’ thích hợp cho vụ Xuân Hè ở miền Bắc

Trang 29

Việt Nam; Giống V74, là giống “Cáp quả địa” thích hợp cho vụ Đông ở miềnBắc Việt Nam Cả hai đều là giống có nguồn gốc ở Trung Quốc.

ở Miền Nam, đã thu thập tập đoàn giống đậu tương nhập nội từ những năm

1961 - 1972 ở Trung tâm Eakmat (Đắc Lắc, Hưng Lộc, Long Khánh - Đồng Nai)với các giống nhập nội từ: Hoa Kỳ, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản đã chọn đượcnhững giống tốt đưa ra sản xuất như: Giống Dalmetto (còn gọi là Bạch Mi) nguồngốc từ Đài Loan; Giống Santamaria, nguồn gốc Brazil Ngoài ra còn có các dòngnhư: V67 - 8; PS 67 - 25; PS 67 – 31 do Viện Khảo Cứu Sài Gòn tuyển chọn

Như vậy, nghiên cứu quá trình phát triển của cây đậu đỗ nói chung và cây đậutương nói riêng ở nước ta trước những năm 1975 còn rất nhiều hạn chế Từ nhữngnăm 1980 trở lại đây, các cơ sở nghiên cứu khoa học như: Viện Cây Lương ThựcThực Phẩm, Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam, Viện Nghiên CứuNgô, Trung tâm Nghiên Cứu Đậu Đỗ Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp ViệtNam, Viện Di Truyền Nông Nghiệp Việt Nam, các trường Đại học Nông nghiệp cùng nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học khác Đã tập trung, đi sâu vào nghiên cứunhững bộ giống đậu tương cho năng suất cao, phẩm chất tốt thích hợp cho từng điềukiện sinh thái, từng mùa vụ khác nhau của nước ta Nhằm phá vỡ hệ thống trồng trọt

độc canh hoá ở các vùng trồng, giúp cải tạo các vùng đất hoang hoá, bạc mầu

Bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: xử lý đột biến, chọnlọc cá thể hoặc bằng phương pháp lai hữu tính hay con đường nhập nội Nhưngmang lại thành công nhất cho các nhà chọn giống Việt Nam đó là phương pháplai hữu tính hay lai trở lại Phương pháp này sử dụng các cặp bố mẹ đã thích ứng

để phối hợp các đặc tính và tính trạng có lợi từ gen nhập, từ đó tạo ra con lai theocác mục đích khác nhau

Trang 30

Trong những năm qua công tác nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương ở nước ta

được tiến hành ở một số trạm, trại, viện nghiên cứu, trường đại học và đã thu đượcmột số thành tựu nhất định:

Trần Đình Long, (1977) [15] nghiên cứu về sự biến dị và tương quan của một

số tính trạng số lượng với năng suất hạt ở quần thể đột biến đậu tương cho rằng đểchọn lọc các dạng đậu tương năng suất cao, trước hết phải dựa vào số lượng hạt/ cây,

số quả chắc/ cây và khối lượng 1.000 hạt

Bằng phương pháp lai hữu tính đậu tương cho thấy các tính trạng khác nhau có

hệ số biến dị và di truyền khác nhau Một số tính trạng như số quả chắc/ cây, khốilượng hạt/ cây có hệ số biến dị cao Chiều cao cây và số đốt/ thân chính có hệ số ditruyền thấp Một số tính trạng có hệ số tương quan thuận khá cao ở các quần thể laicũng dựa vào các tính trạng như: số lượng hạt/ cây, số quả chắc/ cây và khối lượng1.000 hạt Tuy nhiên, ở các thế hệ đầu khi chọn lọc cần chú ý đến tính trạng có hệ số

di truyền cao và mối quan hệ với năng suất hạt như chiều cao cây và số đốt/ thânchính (Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự, 1993) [13]

Các kết quả nghiên cứu của (Đào Thế Tuấn và Trần Văn Lài, 1989) [28] chothấy, trong điều kiện ngoại cảnh có biến động cao, thì năng suất hạt có tương quanmạnh nhất đến các yếu tố như diện tích lá, sản lượng quang hợp, số quả và số hạt.Bằng phương pháp phân tích thành phần đã xác định được 4 thành phần chính, trong

đó thành phần I và II (đại diện cho các yếu tố của sức chứa), chiếm 72,4% và cácthành phần III và IV (đại diện cho yếu tố nguồn), chiếm 13,6% biến động năng suấtchung cho 3 vụ và tương ứng cho vụ Xuân Hè là 55,8% và vụ Đông 23,6% Theonhận xét của các tác giả thì lúc năng suất đậu tương còn thấp thì vai trò cải tiến sứcchứa (tăng diện tích lá, tăng yếu tố quyết định số lượng hạt) là quan trọng Còn năngsuất đã lên cao thì việc cải tiến nguồn (hiệu suất quang hợp sau nở hoa, khối lượng1.000 hạt) trở thành quan trọng hơn

Trang 31

Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng kháng bệnh gỉ sắt với một tínhtrạng ở đậu tương để phục vụ cho công tác tạo giống chống bệnh (Nguyễn Thị Bình,1990) [1] đã cho thấy mật độ lông phủ/ cm2 mặt dưới lá có quan hệ chặt với khả năngchống bệnh gỉ sắt của cây Với các tính trạng khác như thời gian sinh trưởng, chiềucao cây và mật độ khí khổng thì có tương quan không chặt chẽ.

Nghiên cứu chỉ số chọn lọc và các tham số ổn định kiểu hình trong công tácchọn tạo giống đậu tương, (Nguyễn Tấn Hinh, 1992) [9] cho rằng năng suất hạt đậutương có hệ số biến động kiểu hình rất lớn nhưng lại có hệ số di truyền tương đối thấp,

đồng thời có hệ số tương quan kiểu hình và tương quan di truyền thuận chặt với sốquả chắc/ cây, số đốt mang quả, số cành cấp I, số đốt trên thân chính và số hạt/ quả.Chọn lọc các dòng, giống đậu tương dựa theo chỉ số cho hiệu quả rõ rệt so với chọnlọc trực tiếp về năng suất hạt Có thể đánh giá tính ổn định kiểu hình của đậu tươngbằng các thời vụ hoặc các vụ gieo trồng khác nhau Có sự tương quan tuyến tính chặtchẽ giữa giống với môi trường về năng suất hạt Sự biểu hiện kiểu hình của năng suấthạt, chiều cao cây, số đốt mang quả và số hạt chắc/ cây có hệ số tương quan thuậnchặt với sự nhạy cảm của chúng

Khi nghiên cứu biến động của một số tính trạng số lượng ở các giống đậu ănhạt qua các đợt gieo trồng ở đồng bằng sông Hồng (Vũ Tuyên Hoàng và Đào QuangVinh, 1984) [12] cho biết sự biến động theo giống thấp hơn sự biến động theo đợttrồng Một số tính trạng như số đốt/ thân, số đốt mang quả có hệ số biến động theo

đợt trồng Theo các tác giả còn cho biết giữa năng suất hạt với các tính trạng số lượng

có mối quan hệ với nhau, xác định được mối quan hệ của năng suất với các tính trạng

số lượng và phạm vi biến động giữa các tính trạng đó sẽ đưa ra được phương hướngtác động hợp lý để nâng cao năng suất, những biến động theo điều kiện trồng trọt thìnghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tác động, những tính trạng tương đối ổn định (hệ

số biến động thấp) có thể căn cứ khi chọn giống

Trang 32

Khi nghiên cứu biến động của một số đặc tính sinh lý và mối quan hệ củachúng với năng suất hạt (Đào Quang Vinh, 1984) [32] đưa ra nhận xét: chỉ số diệntích lá, hiệu suất quang hợp thuần và lượng chất khô tích luỹ biến động rất mạnh theo

Nguyễn Tấn Hinh, (1992), [10] khi nghiên cứu về sự khác biệt di truyền ở đậutương cho thấy: Thời gian sinh trưởng có vai trò quan trọng nhất, tiếp đến là trọnglượng 1.000 hạt và số quả chắc/ cây Năng suất hạt có tỷ lệ ảnh hưởng thấp nhất Cácgiống đậu tương nghiên cứu đã được tác giả xếp vào 11 nhóm khác biệt nhau về mặt

di truyền và có thể ứng dụng chọn tạo giống đậu tương về năng suất hạt và một sốtính trạng khác

Theo tác giả (Vũ Đình Chính, 1995) [3] khi nghiên cứu tập đoàn đậu tương

đã phân lập các chỉ tiêu thành 3 nhóm theo mức độ quan hệ của chúng với năng suấthạt Nhóm thứ nhất gồm 18 chỉ tiêu không tương quan chặt với năng suất (số quả/ cây,

tỷ lệ quả chắc, số đốt mang quả, số nốt sần, diện tích lá, khối lượng chất khô tíchluỹ ) Nhóm thứ 3 là nhóm các chỉ tiêu có tương quan nghịch với năng suất bao gồm

5 chỉ tiêu đó là: tỷ lệ quả 1 hạt, tỷ lệ quả lép, tỷ lệ bệnh virus, tỷ lệ bệnh đốm vi khuẩn

và tỷ lệ sâu đục quả Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra mô hình cây đậu tương có năngsuất cao là: số quả/ cây nhiều, tỷ lệ quả chắc cao, trọng lượng 1.000 hạt lớn, tỷ lệ quả2-3 hạt cao, diện tích lá thời kỳ mẩy lớn, trọng lượng tươi và khô thời kỳ hoa rộ, quảmẩy cao và số nốt sần/ cây nhiều

Trang 33

Trần Đình Đông và cộng tác viên, (1994) [6] khi đánh giá khả năng thích ứngcủa một số dòng đậu tương đột biến qua các thời vụ đã xác định được các dòng S13,S25, S31, S52 ít nhạy cảm với điều kiện môi trường (bi<1) và có năng suất ổn địnhqua các thời vụ (S2di<0) Các tác giả cho rằng, những giống này có thể gieo trồng cả

3 vụ (vụ Xuân Hè, Hè, Đông)

Theo tác giả (Nguyễn Huy Hoàng, 1992) [11] khi nghiên cứu khả năng chịuhạn của 1.004 mẫu giống đậu tương nhập nội ở miền Bắc Việt Nam Tác giả đã xâydựng được phương trình biểu diễn mối tương quan phụ thuộc giữa khả năng chịu hạnvới một số đặc tính khác của cây đậu tương như: mật độ lông phủ và mật độ khíkhổng/ đơn vị diện tích lá, thời gian sinh trưởng ở nhóm giống chín sớm và cực sớmhàm lượng protein, hàm lượng dầu có tương quan rất yếu với khả năng chịu hạn củagiống Những kết quả phân tích sự biểu hiện tính chịu hạn của con lai F1 bước đầucho thấy khả năng chịu hạn ở con lai F1 nhìn chung di truyền theo qui luật trung gian

Bằng phương pháp “Chọn lọc phả hệ (Pedigree)” (Trần Đình Long và cộng sự,1995) [16] đã chọn ra được các giống đậu tương Việt Xô 9-2 (VX 9-2) và cho phépkhu vực hoá VX 9-1 đều có ưu điểm là năng suất cao, ổn định, hạt to đẹp, màu sáng,hàm lượng protein và dầu tương đối cao, có khả năng chống chịu khác từ trung bình

đến trung bình khá, không dài ngày

Đậu tương ở Việt Nam theo (Trần Đình Long và cộng sự, 1995) [16], (NgôThế Dân và cộng sự, 1999) [4] xét về cơ bản được chia thành 3 nhóm: Nhóm chínsớm, nhóm chín trung bình và nhóm chín muộn

Nhóm chín sớm: Có thời gian sinh trưởng ngắn từ 75-80 ngày

Một số giống chín sớm thuộc các giống cũ, địa phương như: Cúc Lục Ngạn,Lơ Hà Bắc được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng và trung du miền núi phía Bắc có

đặc điểm là khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, nhưng năng suất thấp Hiện nay vẫn

được trồng ở miền Bắc nhưng rất ít

Trang 34

Giống đậu tương AK02, AK03, AGS314, V74, DT90, DT96, AK04 theo (TrầnVăn Lài và cộng sự, 1987) [14] là những giống ngắn ngày, cho năng suất cao và đượctrồng phổ biến ở cả 3 vụ trong năm (Đông, Xuân, Hè).

Nhóm chín trung bình: Thời gian sinh trưởng từ 81-100 ngày, năng suất cũngkhá cao đạt 15-18 tạ/ ha

Các giống địa phương như Vàng Mường Khương, Xanh Hà Bắc là nhữnggiống được trồng phổ biến ở miền Bắc, còn giống Nam Vang trồng phổ ở miền Nam

Các giống mới như MTD6, MTD103, VL1, V48, TL57 là các giống phù hợpvới hướng thâm canh tăng năng suất ở các vùng đất nương bãi ở Trung Du, Miền Núi,những nơi khó có điều kiện tăng vụ do khô hạn

Nhóm chín muộn: Có thời gian sinh trưởng dài, trên 100 ngày, năng suất cao

đạt trên 18 tạ/ ha

Chủ yếu là các giống đậu tương địa phương như các giống Lạng Sơn, NôngTiến (Tuyên Quang), đậu Trùng Khánh (Cao Bằng), giống Cúc Kim Quan (Lào Cai,Yên Bái)

Các giống mới như AK05, AK74, DT90 có thời gian sinh trưởng dài ngày,năng suất đạt trên 20 tạ/ ha thường được trồng ở vụ Hè Thu, ở Trung Du Miền Núiphía Bắc (gieo vào tháng 6)

Giống đậu tương M103 được chọn tạo bằng phương pháp xử lý đột biếnethyleninin nồng độ 0,01% từ giống V70 (Trần Đình Long và cộng sự, 1995) [16] ,(Ngô Đức Dương và cộng sự, 1995) [5] giống đậu tương Hè DT80 được tạo ra bằngcon đường lai hữu tính giữa giống vàng Mộc Châu (giống địa phương Sơn La) và V70,một số giống nhập nội từ Trung Quốc

Giống AK05 được chọn ra từ dạng hình phân ly của G-2216 nhập từ AVRGC,

là giống chịu rét khá, thích hợp cho vụ Xuân Hè và vụ Đông

Trang 35

Giống DT84 được chọn bằng phương pháp xử lý đột biến trên dòng lai 8-33(DT80 x ĐH4), tác nhân tia Gama Co60 (Mai Quang Vinh và cộng sự, 1995) [33].

Theo (Trần Đình Long, 2005) [18] trong vòng 20 năm qua công tác chọn tạogiống đậu tương của Trung tâm nghiên cứu Thực nghiệm đậu đỗ Viện Khoa học kỹthuật Nông nghiệp Việt Nam đã chọn tạo thành công 19 giống mới trong đó có 7giống đậu tương được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật thông qua việc tuyển chọn từtập đoàn nhập nội (AK03, AK05, VX92, VX93, ĐT12, ĐT2000 và HL2), 8 giốngbằng con đường lai hữu tính ( ĐT80, ĐT92, ĐT93, TL57, Đ9602, DN42, DT96 vàMTD176) và 4 giống bằng đột biến nhân tạo (AK06, M103, DT84 và ĐT95)

Bùi Chí Bửu và cộng sự, (2005) [2] khi đánh giá kết quả nghiên cứu của Viện

Di Truyền Nông Nghiệp Việt Nam trong những năm qua với nhiệm vụ đặt ra là chọntạo ra bộ giống đậu tương có thời gian sinh trưởng ngắn (75-100 ngày), năng suất cao

từ 1,5-3,5 tấn/ ha, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh và thích ứng với các hệ thốngcây trồng đa dạng và các vùng sinh thái nông nghiệp trong cả nước Đã đề xuất tậptrung vào các hướng lai tạo và đột biến các giống địa phương, các giống chọn tạotrong nước và nhập nội, sử dụng các tác nhân đột biến, nghiên cứu các liều lượng,nồng độ, phương pháp xử lý thích hợp để sửa chữa, cải thiện các nhược điểm giống,phân lập ra các đột biến phục vụ cho công tác chọn tạo ra các giống đậu tương mới

Đồng thời kết hợp lai hữu tính giữa các giống, dòng đột biến với các giống nhập nội

để chuyển các gen quý (chống chịu sâu, bệnh, chống thuốc diệt cỏ ) từ nhập nội sanggiống đại trà trong nước Kết quả giai đoạn I (1984-1990) chọn ra được DT90, DT83,DT84 và 7 dòng có triển vọng, giai đoạn II (1991-1995) chọn ra được 4 giống khuvực hoá và 3 dòng có triển vọng qua khảo nghiệm Quốc gia giai đoạn sau, giai đoạnIII (1996-2000) từ phương pháp đột biến sửa chữa chọn tạo được giống DT98, từ xử

lý đột biến chọn tạo được giống DT99; Lai 5 tổ hợp tạo sự đa dạng sinh học trongquần thể để tiến hành chọn lọc được công nhận 4 giống (DT94, DT95, DT99 và

Trang 36

AK06) và 2 giống có triển vọng (DT96 và AK08), giai đoạn IV (2001-2004) lai cácdòng giống đột biến tạo ra các giống đã được kết luận trong khảo nghiệm Quốc giaDT2001 và DT2002; chọn thành công giống đậu tương DAĐ1 từ nhóm đậu tươngchịu hạn, giống đậu tương rau DAĐ02 từ tập đoàn nhập nội Trung Quốc

Với tập đoàn giống đậu tương phong phú như vậy cùng với sự tiến bộ khoa học

kỹ thuật, đến nay đậu tương ở Việt Nam được trồng rất nhiều vụ trong năm với nhiềucông thức luân canh khác nhau

ở các tỉnh vùng Trung Du, đồng bằng Bắc Bộ có thể trồng 3 vụ đậu tương trongnăm đó là vụ Xuân Hè, vụ Hè và vụ Đông

Các tỉnh miền núi phía Bắc có thể trồng các vụ đậu tương kế tiếp nhau: vụXuân Hè có thể gieo từ tháng 5-6 và thu hoạch vào tháng 8-9 (dương lịch) tuỳ theogiống chín sớm hay chín muộn, vụ đậu tương thu gieo tiếp trên đất thu hoạch ngô,thời vụ từ tháng 8-12

Các tỉnh miền Trung trồng một vụ đậu tương Xuân chính vụ gieo từ 15/ 10/02 và thu hoạch vào tháng 4-5 Vụ Hè Thu từ 15/ 5-15/ 10, vụ Đông gieo từ 15/9-20/10

01-Các tỉnh miền Đông Nam bộ: vụ 1 gieo cuối tháng 4 (đầu mùa mưa) và thuhoạch vào tháng 8 Vụ 2 gieo từ 12/5-31/5 và thu hoạch trong tháng 8

Như vậy, xét trong phạm vi toàn quốc, thì thời điểm nào cũng có đậu tương thuhoạch, đây là một ưu thế để tổ chức công nghiệp chế biến sản phẩm đậu tương nước

ta phát triển một cách cân đối (Nguyễn Tiến Mạnh, 1995) [20]

Có được sự tăng trưởng nhảy vọt về năng suất là nhờ vào những đóng góp tíchcực của công tác giống, các biện pháp canh tác tiến bộ khoa học kỹ thuật, các chủtrương, chính sách hỗ trợ sản xuất của trung ương và địa phương, sự tiếp thu tiến bộkhoa học kỹ thuật của đông đảo bà con nông dân

Trang 37

Công tác chọn giống của các cơ quan nghiên cứu trong vòng 20 năm qua

đã thu thập, nhập nội trên 5.000 mẫu giống đậu tương trong đó có trên 300 mẫu giống

địa phương

Đã khảo sát, đánh giá 4.188 mẫu dòng/ giống đậu tương chủ yếu nhập từ Việnnghiên cứu cây trồng toàn liên bang Nga mang tên Vavilop (VIR), ngoài ra có một số

ít mẫu giống nhập từ Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau mầu Châu á (AVRDC),

úc, Nhật, Mỹ và Viện cây trồng nhiệt đới Quốc tế (IITA), phân lập các dòng, giống cótính trạng đặc biệt khác nhau: thời gian sinh trưởng ngắn, chịu hạn (JS4, LS58), chịurét (Mellrose), kháng bệnh gỉ sắt (Biên Hoà 2), khối lượng hạt lớn 360 gr/ 1000 hạt(ĐT.HQ3) giới thiệu cho công tác cải tiến giống Bước đầu đã phân lập được một sốmẫu giống đậu đỗ thực phẩm có triển vọng, thời gian sinh trưởng 60-75 ngày (Trần

Đình Long và cộng tác viên, 2005) [19]

ở Việt Nam đặc điểm khí hậu cũng như thổ nhưỡng có nhiều biến động quacác vùng, vì vậy công tác chọn giống luôn hướng theo vùng sinh thái, mùa vụ và điềukiện canh tác, khả năng chống chịu sâu bệnh, chất lượng sản phẩm tốt Các phươngpháp chọn, tạo giống cũng theo các phương thức khác nhau: tuyển chọn giống thôngqua tập đoàn nhập nội, lai hữu tính, đột biến thực nghiệm Hiện tại số lượng giống đậutương trong sản xuất khá nhiều, song giống đột phá về năng suất còn ít

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta xác định cây đậu đỗ là cây trồng có nhiều thếmạnh trong chiến lược phát triển cây hàng hoá, cây làm thức ăn chăn nuôi để giảmnhập khẩu và là cây trồng có hiệu quả cho nền sản xuất đa dạng sản phẩm và tạo môitrường sinh thái bền vững

Phấn đấu đến năm 2010 phát triển diện tích đậu tương toàn quốc đạt 600.000 ha, năng suất đạt trung bình 2-2,2 tấn/ ha, sản lượng đạt 1,0-1,5 triệu tấn Để

500.000-đáp ứng được mục tiêu phấn đấu này thì ngoài việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuậtcanh tác mới chúng ta cần đặc biệt chú ý đến công tác giống ở các địa phương nhất làcác tỉnh Trung Du và Miền Núi (Trần Đình Long và cộng tác viên, 2005 [18])

Trang 38

Phần II VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG

VÀ PH ƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU 3.1.Vật liệu nghiờn cứu

3.1.1 Giống: Gồm 10 giống: DT2001, DT96, DT84, ĐVN5, ĐT12, ĐT22,

ĐT26, Đ9804, Đ2101, Đ8 (Sử dụng giống DT84 làm đối chứng)

1 (đối chứng)DT84 Giống đột biến từ dòng lai F3 D.3/033(ĐT80 x ĐT76) G1

2 DT2001 Chọn lọc từ tổ hợp lai (DT84 x DT83) G2

4 ĐVN5 Chọn lọc từ tổ hợp lai Cỳa tuyển x Chaing Mai G4

- Giống DT2001, DT96, DT84: do Viện di truyền Nụng nghiệp chọn tạo

- Giống ĐT12, ĐT22, ĐT26, Đ9804, Đ2101, Đ8: do Viện cõy lương thực –Cõy thực phẩm chọn tạo

- Giống ĐVN5: do Viện Nghiờn cứu Ngụ lai tạo

3.1.2 Vât tư phân bón: Sử dụng phân chuồng, phân đạm urê, supe lân, kali clorua

và vôi bột (trong trường hợp PH < 5,5)

3.2 Địa điểm, thời gian nghiờn cứu.

3.2.1 Địa điểm: Tại 3 huyện của tỉnh Sơn La là:

- Bản Co Pục xã Chiềng Ngần thị xó Sơn La/tỉnh Sơn La

Trang 39

- Bản Đông Hưng xã Muổi nọi huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La.

3.2.2 Thời gian: Đề tài được thực hiện trong vụ Xuân hè từ ngày 15/03/2009 - 7 /

2009

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra đánh giá về điều kiện tự nhiên, thực trạng sản xuất đậu tương củatỉnh Những yếu tố hạn chế năng suất đậu tương và biện pháp khắc phục

- Nghiên cứu, xác định bộ giống đậu tương năng suất cao, chất lượng tốtthích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau để đưa vào cơ cấu giống của tỉnhSơn La

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra:

Điều tra đánh giá về điều kiện tự nhiên, thực trạng sản xuất đậu tương của tỉnh.Những yếu tố hạn chế đến năng suất đậu tương theo phương pháp đánh giá nhanhnông thôn có người dân tham gia PRA (Participatory Rural Appraisal)

3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Xây dựng và thực hiện các thí nghiệm đồng ruộng:

* Thí nghiệm: So sánh giống đậu tương năng suất cao.

Thí nghiệm được thực hiện ở 3 điều kiện sinh thái khác nhau của tỉnh Sơn

La trong vụ Xuân hè năm 2009

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) gồm 10công thức với 3 lần nhắc lại Trong đó DT84 được dùng làm giống đối chứng(giống được trồng phổ biến ở địa phương)

- Vật liệu thí nghiệm:

+ Giống đậu tương: Sử dụng 10 giống đậu tương phổ biến là DT2001, DT96,DT84, ĐVN5, ĐT12, ĐT22, ĐT26, Đ9804, Đ2101, Đ8 Trong đó sử dụng giốngDT84 làm đối chứng

+ Diện tích ô thí nghiệm: 10m2/1ô (5m x 2m)

+ Tổng diện tích thí nghiệm (cho cả 3 vùng): 900 m2/ vụ (không kể rãnh và

dải bảo vệ)

Ngày đăng: 21/04/2014, 06:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương một số nước trên thế giới - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương một số nước trên thế giới (Trang 12)
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam (Trang 27)
Bảng 3.1. Đặc điểm thời tiết, khí hậu từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2009 - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.1. Đặc điểm thời tiết, khí hậu từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2009 (Trang 46)
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Sơn La năm 2005 - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Sơn La năm 2005 (Trang 47)
Bảng 3.3. Diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Sơn La năm 2005 - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.3. Diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Sơn La năm 2005 (Trang 48)
Hình 3.1. Phân bố đậu tương toàn tỉnh Sơn La năm 2008. - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Hình 3.1. Phân bố đậu tương toàn tỉnh Sơn La năm 2008 (Trang 52)
Bảng 3.6. Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.6. Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm (Trang 53)
Bảng 3.10. Số đốt trên thân và số đốt mang quả của các giống đậu tương - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.10. Số đốt trên thân và số đốt mang quả của các giống đậu tương (Trang 57)
Bảng 3.11. Số quả và số quả chắc trên cây của các giống đậu tương - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.11. Số quả và số quả chắc trên cây của các giống đậu tương (Trang 58)
Bảng 3.13. Tỷ lệ mọc mầm và số cây còn khi thu hoạch của các giống đậu tương - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.13. Tỷ lệ mọc mầm và số cây còn khi thu hoạch của các giống đậu tương (Trang 60)
Bảng 3.16. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống đậu tương - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.16. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống đậu tương (Trang 63)
Bảng 3.18. Khả năng chống chịu sâu hại của các giống đậu tương - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.18. Khả năng chống chịu sâu hại của các giống đậu tương (Trang 65)
Bảng 3.19. Khả năng chống đổ và chống chịu bệnh hại của các giống đậu tương - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.19. Khả năng chống đổ và chống chịu bệnh hại của các giống đậu tương (Trang 66)
Bảng 3.20. ảnh hưởng của TGST đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.20. ảnh hưởng của TGST đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (Trang 67)
Bảng 3.21. Những giống đậu tương có triển vọng cho năng suất cao - So sánh năng suất một số giống đậu tương trong điều kiện vụ Xuân hè tại thành phố Sơn La và các vùng phụ cận
Bảng 3.21. Những giống đậu tương có triển vọng cho năng suất cao (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w