1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương ”

74 606 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng TP.HCM
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 903,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCLỜI CAM ĐOANDANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂUDANH MỤC TỪ VIẾT TẮTLỜI MỞ ĐẦU1 CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NHTM1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hang và đặc trưng của tín dụng ngân hàng.1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hang 1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng.1.2 TÍN DỤNG NGẮN HẠN.1.2.1 Khái niệm tín dụng ngắn hạn và đặc trưng của tín dụng ngắn hạn1.2.2 Vai trò của tín dụng ngắn hạn.1.2.3. Phân loại tín dụng ngắn hạn 1.3 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN.1.3.1 khái niệm chất lượng tín dụng.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay ngắn hạn.CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG.2.1.1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của ngân hàng VPbank chi nhánh Chương Dương.2.1.2. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng VPBank Chương Dương.2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG.2.2.1 Tình hình huy động vốn.2.2.2 Tình hình sử dụng vốn.2.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng VPBank Chương Dương.2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG2.3.1 Tình hình huy động vốn ngắn hạn.2.3.2 Tình hình sử dụng vốn của ngân hàng VPBank Chương Dương.2.3.3 Cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế.2.4. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG.2.4.1. Tình hình nợ quá hạn tại VPBank Chương Dương.2.4.2. Tình hình thu lãi từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng VPBank Chương Dương.2.5. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG.2.5.1 Những kết quả đạt được.2.5.2. Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác tín dụng tại ngân hàng VPBank Chương Dương.CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG. 3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI.3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG.3.2.1. Đa dạng hóa hoạt động tín dụng.3.2.2. Tăng cường hoạt động huy động vốn.3.2.3. Xác định chính sách lãi suất huy động hợp lý.3.2.4. Xây dựng chiến lược kinh doanh. 3.2.5. Các biện pháp giảm nợ quá hạn ngắn hạn.3.2.6. Tăng cường hoạt động Marketing ngân hàng và áp dụng chính sách khách hàng hợp lý.3.2.7. Nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng.3.2.8. Nâng cao hiệu quả thực hiện quy trình nghiệp vụ tín dụng. 3.2.9. Thực hiện bảo hiểm tín dụng.3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG.3.3.1. Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước.3.3.2. Kiến nghị đối với ngân hàng VPBank.KẾT LUẬNTÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài.

Hơn bốn năm qua kể từ khi VIỆT NAM là thành viên chính thức của tổ chức

thương mại thế giới WTO, bên cạnh những thuận lợi và thời cơ, thì vẫn còn rất nhiều khó khăn và thách thức đang chờ đợi VIÊT NAM vượt qua để có thể sánh ngang với các nước thế giới Trong môi trường kinh tế toàn cầu hóa như vậy, thì nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế của mình là yêu cầu khách quan và rất cấp thiết để được hội nhập sâu rộng và ngày càng có hiệu quả hơn Một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng cạnh tranh kinh tế là lành mạnh hóa hệ thống Tài Chính – Ngân Hàng Ở nước ta, hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống NHTM, nó mang lại 60-70% thu nhập của mỗi ngân hàng Do đó nếu hoạt động tín dụng được đảm bảo an toàn, hiệu quả thì sẽ có những đóng góp tích cực cho sự ổn định của nền kinh tế, cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì sự tăng trưởng của nền kinh

tế, giải quyết vấn đề thất nghiệp…

Hệ thống ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của chúng ta, ngân hàng là kênh huy động vốn, cung cấp vốn cũng như giữ vốn nhàn rỗi cho các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng và cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Do đó để có hoạt động và cạnh tranh một cách hiệu quả thì các ngân hàng cần phải quan tâm đặc biệt tới hoạt động tín dụng, đặc biệt

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.

Đề tài đề cập đến những vấn đề cơ bản lý luận về hoạt động tín dụng nói chung

và hoạt động tín dụng ngắn hạn nói riêng, làm rõ vai trò của tín dụng ngân hàng

Trang 2

thương mại từ đó thấy rõ tầm quan trọng của chất lượng tín dụng trọng hoạt động kinh doanh của ngân hàng và ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng tín dụng.

Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng đặc biệt là tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VP Bank chi nhanh Chương Dương để từ đó chỉ ra kết quả đạt được,

những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó đồng thời kiến nghị

nhằm củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng là phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều hoạt động như các hoạt động huy động vốn, cho vay, bảo lãnh Trong bài chuyên đề này chỉ đề cập chủ yếu tới chất lượng tín dụng ngắn hạn ở góc độ cho vay

Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề lý luận, thực tiễn có liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại và chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng VP Bank chi nhánh Chương Dương

4 Phương pháp nghiên cứu.

Chuyên đề sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng trong mối quan hệ với duy vật lịch sử đồng thời kết hợp sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp và sử dụng các bảng số liệu để minh họa từ đó rút ra kết luận

5 Kết cấu của chuyên đề.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của chuyên đề gồm 3 chương:

Chương I: Khái niệm về tín dụng ngắn hạn và chất lượng tín dụng ngắn hạn của NHTM.

Chương II: Thực trạng chất lượng tại ngân hàng VPBank chi nhanh Chương Dương.

Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VP bank chi nhánh Chương Dương.

Trang 3

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NHTM

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một bên là các cá nhân và các tổ chức trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò là người đi vay, vừa là người cho vay.

Từ khái niệm trên ta có 3 đặc trưng của tín dụng ngân hàng là:

- Một là, tín dụng là sự cung cấp một lượng giá tị dựa trên cơ sở lòng tin Ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu qủa

sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ Từ đặc trưng này cho thấy quan hệ tín dụng chỉ xảy ra khi các bên có sự tin tưởng lẫn nhau

Để có lòng tin đối với khách hàng, ngân hàng luôn thẩm định đánh giá khách hàng trước khi cho vay Nên khâu này được thực hiện một cách khách quan, chính xác thì việc cho vay của ngân hàng gặp ít rủi ro và ngược lại

- Hai là, tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn

Đặc trưng này của tín dụng xuất phát từ tính chuyển nhượng tạm thời Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, người cho vay xác định thời hạn cho vay phụ thuộc vào quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay và tính chất vốn của

Trang 4

ngân hàng Như vậy, nếu ngân hàng định kỳ hạn nợ một cách phù hợp với đối tượng vay thì khả năng trả nợ rất cao và ngược lại.

- Ba là, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng vì

vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa vốn nên sau một thời gian nhất định ngân hàng phải có nguồn bù đắp chi phí hoạt động như khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ công nhân viên, chi phí văn phòng phẩm… cho nên người vay ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi Đây là nguồn thu nhập chính của ngân hàng, là

cơ sở để ngân hàng tồn tại và phát triển

1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng.

Trong điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng có vai trò hết sức quan trọng, nó huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, trong toàn bộ xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh, từ đó thúc đẩy quá trình tập trung vốn, phát triển sản xuất, kích thích sự tăng trưởng kinh tế

- Một là, tín dụng ngân hàng phục vụ sự phát triển của nền kinh tế nói chung và các đơn vị kinh tế nói riêng Thực hiện chức năng phân phối lại (cho

vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế dự trữ vật tư, hàng hoá, thoả mãn những chi phí trong quá trình sản xuất cũng như lưu thông, tăng thêm giá trị tscđ, tslđ mà đơn vị đã sử dụng, do vậy, tín dụng góp phần tăng nhanh tốc độ chu chuyển vật tư, hàng hoá trong nền kinh tế, rút ngắn thời gian lưu thông, giảm bởt chi phí, tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận Qua các chức năng của mình, tín dụng ngân hàng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các ngành kinh tế: Công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá nghệ thuật Bởi hoạt động tín dụng thoả mãn nhu cầu về vốn nhằm giúp đỡ các ngành nghề thực hiện thuận lợi nhiệm

vụ sản xuất kinh doanh, tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả lao động,

Trang 5

vật tư, tiền vốn, cơ sở vật chất, kỹ thuật sẵn có, qua đó củng cố chế độ hạch toán kinh tế.

- Hai là, tín dụng ngân hàng là công cụ để nhà nước tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn hoặc các ngành kinh tế kém phát triển thông qua

chính sách ưu đãi, từ đó thúc đẩy các ngành kinh tế cùng phát triển, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Ba là, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ Trong nền kinh tế hàng hoá, quy luật giá trị và quy

luật lưu thông tiền tệ đòi hỏi sự cân đối giữa hàng hoá và tiền tệ, đảm bảo sự

ổn định tiền tệ, ổn định đời sống nhân dân, là một tiền đề quan trọng để vận dụng có hiệu quả các quy luật trong hệ thống quản lí kinh tế Việc sử dụng tín dụng như một đòn bẩy kinh tế góp phần xác lập quan hệ cân đối hàng tiền không những là cần thiết mà còn là một khả năng hiện thực trước hết, trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng huy động và tập trung thực những vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, đồng thời khi thu nợ cũng rút khỏi lưu thông một bộ phận tiền tệ mặt khác, trong quá trình cân đối nguồn vốn tín dụng, ngân hàng phát hành thêm tiền tệ cho vay phát triển sản xuất, tăng nhanh tốc độ chu chuyển tiền mặt qua ngân hàng Sau nữa, để thực hiện mối quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế với nhau, cũng như mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế thì các tổ chức kinh tế phải mở tài khoản tại ngân hàng Việc mở tài khoản tại ngân hàng tạo khả năng củng

cố và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt Như vậy, việc tăng thêm hoặc rút bớt một lượng tiền trong lưu thông, việc mở thanh toán không dùng tiền mặt, việc cho vay phát triển sản xuất, tổ chức lưu thông hàng hoá là những biểu hiện của vai trò tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực điều hoà lưu thông tiền tệ, góp phần xác lập quan hệ cân đối hàng tiền

- Bốn là, tín dụng ngân hàng có vai trò là công cụ kiểm soát hoạt động kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội Trước hết, tất cả các thành

phần kinh tế đều có mối quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng và

Trang 6

chính mối quan hệ tín dụng này vừa tạo khả năng, vừa yêu cầu ngân hàng tiến hành kiểm soát bằng tín dụng các mặt hoạt động kinh tế Hơn nữa, quan hệ tín dụng là một quan hệ kinh tế dựa trên nguyên tắc hoàn trả nên ngân hàng phải thực hiện kiểm soát đối với hoạt động kinh tế của đơn vị vay để nguyên tắc hoàn trả được đảm bảo, ngân hàng không bị mất vốn ban đầu Không những thế, hiệu quả kinh tế xã hội chỉ đạt được yêu cầu khi ngân hàng thực hiện kiểm soát bằng tín dụng các hoạt động kinh tế một cách thường xuyên, toàn diện và chặt chẽ thông qua cơ chế kiểm soát bằng tín dụng khi cho vay, khi xét duyệt cho vay và suất quá trình đơn vị kinh tế sử dụng vốn vay Mục đích của kiểm soát bằng tín dụng là phản ánh tổng hợp và nhạy bén quá trình thực hiện các kế hoạch kinh tế, qua đó phát hiện những hiện tượng đầu tư tín dụng không đúng đối tượng, không có trọng điểm, gây lãng phí vốn Do vậy, việc kiểm soát có chất lượng tạo điều kiện để việc cấp vốn tín dụng cho nền kinh

tế đúng hướng và đạt hiệu quả kinh tế cao

- Năm là, đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển kinh tế giữa các nước Hiện nay sự phát triển của mỗi

nước đều gắn với thị trường quốc tế, do đó tín dụng trở thành phương tiện để nối các nước với nhau Nó có vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hoặc nhờ vốn tín dụng bên ngoài mà phát triển kinh tế trong nước

- Sáu là, tín dụng ngân hàng là động lực đối với việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để thực hiện thành công quá trình này thì cần phải có vốn Nguồn vốn

dùng để tài trợ có thể là vốn trong nước hay vay nước ngoài trong đó ngân hàng chính là trung gian tài chính huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế

để cho vay

1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng.

Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định Việc phân loại tin dụng có cơ sở khoa học là tiền để để thiết lập quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị

Trang 7

rủi ro tín dụng Trong qúa trình phân loại có thể sử dụng nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng song thực tế cấc nhà kinh tế học thường phân loại tín dụng theo các tiêu thức sau đây:

1.1.3.1 Thời hạn tín dụng.

Căn cứ vào tiêu thức này có thể chia tín dụng ra làm ba loại:

- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và

được sử dụng để bổ sung sự thiếu hút tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và phục vụ các nhu cầu về sinh hoạt cá nhân đây là tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có những biến động xảy ra và nếu xảy ra cũng là những biến động ngân hàng có thể dự tính được

- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến năm

năm và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới

kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh hình thức tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng dự đoán được những biến động xảy ra

- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử

dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, sân bay, bến cảng…) cải tiến và

mở rộng sản xuất với quy mô lớn Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn

vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra không thể lường trước được

1.1.3.2 Đối tượng tín dụng.

Nếu căn cứ vào đối tượng tín dụng có thể chia tín dụng thành 2 loại:

- Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành

vốn lưu động của cấc tổ chức kinh tế, có ý nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu động cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu Đây là loại tín dụng có mức độ ro thấp vì vốn lưu động của doanh nghiệp là vốn luân chuyển trong chu kỳ sản xuất kinh doanh nên

Trang 8

ngân hàng có thể theo dõi thường xuyên và nếu có biến động xảy ra thì kịp thời thu hồi vốn.

- Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài

sản cố định, có nghĩa là đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng xí nghiệp và công trình mới hình thức tín dụng này thường có mức dộ rủi ro cao hơn vì khả năng thu hồi vốn chậm hơn

1.1.3.3 Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.

Căn cứ vào tiêu thức này tín dụng được chia làm 2 loại:

- Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản thế

chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cấp tín dụng thì chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung Như vậy, mặc dù không có tài sản đảm bảo nhưng đây cũng là loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín rất lớn và có khả năng trả nợ ngân hàng rất cao thì mới được cấp tín dụng

mà không có đảm bảo

- Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở đảm bảo như

thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba Hình thức này áp dụng đối với những khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo Sự đảm bảo này là cơ sở pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ thứ hai Mặc dù có sự đảm bảo nhưng hình thức này vẫn có mức độ rủi ro vì có thể tài sản bị mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình

1.1.3.4 Tính chất của tín dụng.

Dựa vào tiêu thức này tín dụng được chia làm hai loại:

- Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua

việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán Đây là loại tín dụng có mức độ rủi ro lớn vì ngân hàng không có

Trang 9

đầy đủ thông tin về con nợ, hơn nữa các doanh nghiệp hầu như không có kinh nghiệm trong việc cấp tín dụng cho khách hàng của mình

- Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng cấp vốn

trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng Mức độ rủi ro trong trường hợp này thấp hơn vì ngân hàng có thể trực tiếp gặp khách hàng và nó được thực hiện bởi những cán bộ

có nghiệp vụ và kinh nghiệm trong việc cung cấp tín dụng

Tín dụng ngắn hạn ngoài những đặc trưng của tín dụng ngân hàng còn

có những đặc điểm riêng sau:

- Tín dụng ngắn hạn là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại với thời gian cho vay dưới một năm chính loại vay này giúp cho ngân hàng giữ được khả năng thanh toán vì nó tương thích với kết cấu nguồn vốn của ngân hàng thường là tiền gửi tiết kiệm dưới 12 tháng

- Lãi suất cho vay ngắn hạn thường nhỏ hơn lãi suất cho vay dài hạn vì mức độ rủi ro của tín dụng ngắn hạn thường thấp hơn so với tín dụng trung và dài hạn

1.2.2 Vai trò của tín dụng ngắn hạn.

1.2.2.1 Vai trò của tín dụng ngắn hạn đối với nền kinh tế.

Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh

Trang 10

doanh trên lĩnh vực tiền tệ Với tư cách là một trung gian tài chính, nó là

kênh chuyển vốn từ những nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế Các kênh truyền dẫn vốn có thể qua thị

trường tài chính đó là các nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn, nhưng nó đã

bị cạnh tranh mạnh mãnh mẽ của các tổ chức tài chính phi ngân hàng tham gia vào thị trường này như: Công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, công ty tài chính Hoặc là thị trường tiền tệ là kênh dẫn và huy động những ngồn vốn

và các giấy tờ có giá ngắn hạn Thị trường này hoạt động rất linh hoạt và cung cấp một nguồn một nguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế Do đó tín dụng ngắn hạn ngày càng phát triển mạnh mẽ

1.2.2.2 Đối với các doanh nghiệp.

- Tín dụng ngắn hạn là nguồn bổ sung vốn lưu động để bảo đảm hoạt động kinh doanh được liên tục.

Không có sự ăn khớp về mặt thời gian giữa các khoản thu và các khoản chi của một doanh nghiệp nên tại một thời điểm nhất định, trong nền kinh tế có những thời điểm trong nền kinh tế có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời và cần bổ sung ngay để đảm bảo tính sản xuất được liên tục Đối với các doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ như các doanh nghiệp bán

lẻ, chế biến thực phẩm, các công ty chế biến nông sản, các doanh nghiệp xây lắp Hoặc các doanh nghiệp có vòng quay vốn lưu động chậm thì các khoản tín dụng từ ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc giúp cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn Các khoản tín dụng ngắn hạn có ý nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp khi xuất hiện cơ hội kinh doanh trên thị trường, giúp doanh nghiệp tận dụng được thời cơ phát triển sản xuất

- Tín dụng ngắn hạn tạo áp lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.

Trang 11

Một trong những nguyên tắc cơ bản là vay có hoàn trả ngốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định Do vậy có thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng và tạo lập được uy tín trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng, các doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả để trả nợ cho ngân hàng.

Như vậy, tín dụng ngắn hạn cũng là một yếu tố kích thích sản xuất của doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải tiến mẫu mã sản phẩm

để có thể rút ngắn chu kỳ sản xuất, đưa nhanh sản phẩm vào lưu thông, tạo lập chỗ đứng trên thị trường

Đối với các doanh nghiệp lớn, công việc sản xuất đang phát triển thì phần lớn vốn lưu động đều vay ngân hàng nhiều doanh nghiệp còn ký hợp đồng ứng trước để có thể linh hoạt trong việc vay vốn, đáp ứng các cơ hội kinh doanh Do tính chất của tín dụng ứng trước là doanh nghiệp phải trả lãi

kể cả trên phần dư nợ vay chưa sử dụng đến Do đó bắt buộc các doanh nghiệp phải quay vốn nhanh và tính toán hoạt động kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho cả doanh nghiệp và cả cho ngân hàng

Do đó, tín dụng ngắn hạn không chỉ giúp các doanh nghiệp có được nguồn bổ sung nguồn vốn lưu động mà còn là động lực giúp các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, trước là để trả các khoản nợ vay và sau là để phát triển doanh nghiệp

1.2.2.3 Đối với ngân hàng.

Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm

bảo nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đó là công

cụ để tạo nên lợi nhuận và phòng chống rủi ro của ngân hàng Trong quá trình

hoạt động của các ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm đến các vấn đề : Phải tạo được nguồn thu bù đắp được các chi phí Mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng Tín dụng ngắn hạn có thể giúp các nhà quản trị giải quyết vấn đề này

Trang 12

1.2.3 Phân loại tín dụng ngắn hạn.

Nếu xét theo cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, thì đây là tín dụng tài trợ vốn lưu động Nếu như vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp không đủ trang trải về loại vốn này, thì doanh nghiệp đó phải xin vay tín dụng ngân hàng Nhu cầu về vốn lưu động cao hay thấp tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh và khả năng quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp Nhưng dù nhu cầu cao hay thấp, doanh nghiệp luôn sử dụng tín dụng vốn lưu động với tư cách là các khoản vay ít hay nhiều thường xuyên theo cơ cấu tài chính của doanh nghiệp

Dưới góc độ kỹ thuật tín dụng, Ngân hàng thương mại thực hiện cho vay ngắn hạn theo các loại hình phổ biến sau đây:

1.2.3.1 Tín dụng ứng trước.

Các tín dụng ứng trước được gọi bằng các từ ngữ khác nhau Các tên gọi của chúng thường thể hiện những thực tế rất gần gũi như: Mở tín dụng khoản, thấu chi, tín dụng vãng lai(hay còn gọi là cho vay luân chuyển) Nhìn chung, các khoản tín dụng ứng trước chủ yếu theo nhu cầu toàn bộ tài sản lưu động, nghĩa là không thực hiện một tài sản xác định nào Nói chung không có một đảm bảo riêng

Tín dụng ứng trước bao gồm các loại sau đây:

a Tín dụng thế chấp hoặc nghiệp vụ mở tín dụng khoản.

Loại tín dụng này là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhất định

Trong hình thức này, ngân hàng cho khách hàng vay bằng cách mở cho họ một tín dụng khoản Khi mở tài khoản như vậy khách hàng không phải bỏ tiền vào đấy, mà trái lại có thể lấy tiền ra, tiền đó là tiền ứng trước của ngân hàng vì vậy nghiệp vụ này còn gọi là nghiệp vụ ứng trước Khách hàng có thể sử dụng tài khoản này để phát hành séc chi trả hoặc có thể sử

Trang 13

dụng cho nhiều mục đích khác Khi thực hiện một khoản tín dụng ứng trước tuỳ vào sự nhìn nhân của ngân hàng đối với khách hàng mà có thể ngân hang đưa ra một trong hai hình thức sau:

- Tín dụng ứng trước không bảo đảm: Là việc cấp tín dụng không

cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh, mà dựa trên cơ sở uy tín của khách hàng Trước khi cho vay ngân hàng phải xem xét, đánh giá, phân tích Đánh giá khách hàng dựa vào hang loạt chỉ tiêu như mức vốn, lợi nhuận hàng năm, uy tín của sản phẩm trên thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, trình độ quản lý

- Tín dụng ứng trước có bảo đảm: Là loại tín dụng được cấp phát

trên cơ sở có tài sản thế chấp(do đó có tên gọi là tín dụng thế chấp), cầm

cố hay bảo lãnh của một hay nhiều người khác

b Thấu chi.

Thấu chi là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trên cơ sở hợp đồng tín dụng hay còn gọi là tín dụng hạn mức, được thực hiện bằng cách cho phép khách hàng được sử dụng kết số thiếu(dư nợ) trong một giới hạn nhất định Thấu chi là kỹ thuật cho vay đặc biềt mà trong đó xí nghiệp được sử dụng vốn một cách linh hoạt, các đảm bảo nếu có chỉ là yếu tố phụ, vì số nợ thường xuyên biến động không thể thực hiện các đảm bảo trực tiếp Thấu chi được xem là loại tín dụng không bảo chứng

Thấu chi là một khoản tín dụng tổng hợp mà doanh nghiệp vay khi nhu cầu về vốn lưu động của nó vượt khả năng của vốn lưu động Khi cấp tín dụng thấu chi ngân hàng không đòi hỏi việc nghiên cứu một nguyên nhân rất chính xác về sự phát sinh và tìm sự hợp lý của nó trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp

c Tín dụng vãng lai.

Tín dụng vãng lai chưa được giới thiệu đầy đủ trên sách báo Việt Nam Có rất nhiều ý kiến khác nhau và đang còn có nhiều sự nhầm lẫn Do vậy việc quy tụ những thông tin, những tri thức về nội dung chủ yếu của tín

Trang 14

dụng vãng lai, để hiểu thêm những ưu điểm của nó trong nền kinh tế thị trường Từ đó rút ra những thích ứng với điều kiện Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và phát triển đa dạng các loại tín dụng của NHTM.

Tín dụng vãng lai được xem là hình thức tín dụng cổ điển nhất Tín dụng vãng lai là tín dụng ngân hàng do cơ quan tín dụng cấp cho khách hàng của mình : bằng bản tệ hoặc ngoại tệ và theo nhu cầu khách hàng có thể được sử dụng với số lượng khác nhau nhưng không vượt quá số tiền quy định trong hợp đồng Việc tính số dư các khoản nộp vào và rút ra khỏi tài khoản của khách hàng được tiến hành sau những khoảng thời gian quy định trong hợp đồng, đồng thời với việc thanh toán các khoản chi trả tín dụng trên tài khoản thống nhất của khách hàng

d Tín dụng thời vụ.

Hoạt động thời vụ là hoạt động sản xuất được thực hiện ở một thời điểm nào đó trong năm trong khi việc tiêu thụ lại được thực hiện tại một thời điểm khác hoặc ngược lại việc sản xuất được rải đêù trong cả năm để tránh chi phí đột biến và dàn đều tổng chi phí trong khi việc tiêu thụ lại được tiến hành trong một thời gian rất ngắn Trong các trường hợp này doanh doanh nghiệp có nhu cầu thời vụ về tài trợ vốn lưu động và nó được thoả mản bằng tín dụng thời vụ

Doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phục vụ mình giúp đỡ tài chính ở các thời vụ Dựa vào điều tra nghiên cứu của mình, ngân hàng sẽ có kế hoạch tài trợ thời vụ cụ thể của tong tháng, các nhu cầu và nguồn vốn dự kiến Nói cách khác, khi có nhu cầu vượt quá nguồn vốn trong một thời kỳ nào đó người ta đưa ra nhu cầu đặc biệt về thời vụ mà nếu như mọi việc diễn ra tốt đẹp, sẽ được san bằng ở thời kỳ bán hàng Vốn lưu động phải

bù đắp một phần nhu cầu này Một doanh nghiệp có khả năng suốt năm đương đầu với thời kỳ mùa vụ mà không cần tới tín dụng bên ngoài, thì chắc chắn là một doanh nghiệp quản lý chưa tốt nguồn vốn, bởi vì nó chứng

tỏ việc không tận dụng số tư bản thường có trong một thời kỳ của năm và mức sinh lợi của vốn này do đó cũng phải gánh chịu những hậu quả

Trang 15

1.2.3.2 Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền.

Chiết khấu thương phiếu.

Thương phiếu hay kỳ phiếu thương mại là một giấy nợ phát sinh trong quan hệ thương mại và người hưởng thụ một trái quyền đối với người thụ trái khi giấy nợ đến hạn Thương phiếu là công cụ của tín dụng thương mại

Từ thời Trung cổ các thương phiếu đã trở thành phương tiện quan trong trong kinh doanh ngân hàng Ngày nay, có rất nhiều nghiệp vụ ngân hàng được thực hiện thông qua việc chiết khấu thương phiếu:

- Ngân hàng tham gia vào việc thanh toán các phiếu khoán khi các thương phiếu đó được chiết khấu tại ngân hàng của họ

- Ngân hàng cũng thực hiện việc thu ngân các phiếu khoán giúp khách hàng

Ngoài thanh toán và thực hiên thu ngân hộ khách hàng, ngân hàng có thể giữ các phiếu khoán làm vật bảo đảm Nhưng thông thường thì ngân hàng chiết khấu thương các phiếu

- Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ cổ điển của ngân hàng, ra đời rất sớm và mãi đến ngày nay vẫn được các ngân hàng áp dụng một cách phổ biến Đây là một nghiệp vụ ít rủi ro và không làm đóng băng vốn của ngân hàng Thời hạn cho vay ngắn tối đa là 90 ngày, điều này nâng cao tính thanh khoản trong quản lý tài sản có của ngân hàng Mặt khác hai hình thức

cơ bản của thương phiếu là hối phiếu và lệnh phiếu được lập trên cơ sở hàng hoá đã được chuyển giao cho người mua Đây chính là tiền đề để người mua thực hiện kinh doanh của mình, để có khả năng hoàn trả cho ngân hàng Lại nữa nghiệp vụ chiết khấu lại ở NHNN khi ngân hàng ngặp khó khăn về thanh khoản Mặc dù chiết khấu thương phiếu mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng Tuy nhiên vẫn có rủi ro xảy ra Vì vậy trước khi chiết khấu thương phiếu, ngân hàng phải xem xét kỷ khách hàng đến chiết khấu, xem xét

kỷ các hối phiếu và mối quan hệ của những người có liên quan đến hối phiếu

Trang 16

Như vậy: Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, được thực hiện dưới hình thức khách hàng chuyển giao quyền sở hữu thương phiếu để đổi lấy một số tiền bằng mệnh giá trái phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.

Ngoài ra tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền còn gồm các loại: Nghiệp vụ huy động các trái quyền thương mại, bao thanh toán hay mua uỷ nhiệm thu

1.2.3.3 Tín dụng bằng chữ ký của ngân hàng.

Loại tín dụng này thực chất là một cam kết lãnh nợ do ngân hàng đưa

ra bằng việc phát hành các chứng thư bảo lãnh hoặc bảo chứng, cam kết trả thay cho người đi vay nếu người đi vay không trả được nợ Có trường hợp

đó là sự xác nhận khoản tín dụng đã cấp cho một thời hạn nhất định Khi thực hiện cho vay qua cam kết bằng chữ ký, ngân hàng không phải xuất quỹ đễ cho khách hàng sử dụng một khoản tiền nhất định, mà chỉ đưa ra một cam kết bảo lãnh cho con nợ đối với chủ nợ Như vậy, chỉ khi nào con nợ không trả được nợ thì ngân hàng mới trả nợ hộ Thông thường để thực hiện nghiệp vụ này thì ngân hàng phải lập một quỹ bảo lãnh theo một tỷ lệ so với vốn pháp định Hiện nay ở Việt Nam số tiền bảo lãnh tín theo tỷ lệ phần trăm trên tổng giá trị bảo lãnh

1.3 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN.

1.3.1 khái niệm chất lượng tín dụng.

Theo quan điểm của các học giả, chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc sử dụng hay là một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp, phù hợp với thị trường Nâng cao chất lượng trong hoạt động là yếu tố quan trọng để một đơn vị kinh doanh đứng vững trên thị trường, đặc biệt là trong nền kinh tế cạnh tranh Đối với ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lời thiết yếu , song cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro Chính vì vậy đây là điều mà các ngân hàng thương mại quan tâm nhiều nhất

Trang 17

Chất lượng tín dụng là một khái niệm tương đối, một phạm trù rộng lớn, nó vừa cụ thể vừa mang tính tổng hợp Vì vậy, không có định nghĩa chính xác về chất lượng tín dụng chất lượng tín dụng có thể được hiểu: Là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại phát triển của ngân hàng Như vậy xét về tổng thể, ngân hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế, vừa tạo ra được hiệu quả xã hội chất lượng tín dụng được thể hiện:

- Đối với doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp, chất lượng tín dụng ngắn hạn thể hiện các khoản vay được đáp ứng nhu cầu để đảm bảo quá trình luân chuyển vốn trong quá trình kinh doanh, nâng cao chất lượng, hiện đại hoá và đa dạng hoá sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường những khoản tín dụng này làm tăng quy

mô sản xuất của doanh nghiệp Từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận, thu nhập của công nhân, thu hút nhiều lao động kỹ thuật, đảm bảo việc làm thường xuyên và ổn định, tăng trưởng tốc độ nhanh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là căn cứ để đánh giá chất lượng tín dụng Doanh nghiệp làm ăn có lãi sẽ có tiền để trả lãi cho khoản vay của ngân hàng đông thời ngân hàng cũng thu được lãi Như vậy chất lượng của khoản vay đạt hiệu quả và ngược lại doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không có tiền trả nợ ngân hàng làm cho ngân hàng gặp rủi ro và do đó tín dụng ngân hàng được đáng giá là không có chất lượng

Có thể nói đáng giá chất lượng tín dụng ngắn hạn của doanh nghiệp là cách đáng giá có hiệu quả nhất vì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế

- Đối với các ngân hàng thương mại

Các khoản tín dụng đó phải phù hợp với mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kì mỗi thời kì, trong giai đoạn khác nhau, mục tiêu của ngân hàng cũng khác nhau nếu khoản tín dụng không đáp ứng mục tiêu của ngân hàng thì chất lượng tín dụng đó không được đảm bảo dù nó đem lại lợi nhuận cho ngân hàng

Trang 18

Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng và phải đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.

Các khoản tín dụng phải đảm bảo được thực hiện đúng quy trình tín dụng khi ngân hàng cho vay phải thực hiện theo pháp lệnh ngân hàng và các văn bản chế độ hiện hành của ngành xác định đối tượng cho vay và thẩm định kĩ khách hàng trước khi cho vay, nắm bắt thông tin và tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính, mục đích sử dụng vốn vay, cơ sở hoàn trả vốn vay để đảm bảo món vay được hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn, hạn chế mức thấp nhất khả năng rủi ro có thể xảy ra

Nếu ngân hàng có uy tín tốt thì khả nâng mở rộng tín dụng cao hơn do thu hút được nhiều khách hàng hơn và như vậy chất lượng tín dụng của ngân hàng tăng để làm được điều này, các ngân hàng phải đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng, đồng thời phải thực sự trở thành người bạn của doanh nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ khó khắn với họ làm được như vậy thì nguồn vốn tín dụng sẽ thực sự phát huy được vai trò đòn bẩy, giúp doanh nghiệp cải tiến thiết bị, đổi mới công nghệ mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng có thể tránh được rủi ro không thu hồi được vốn, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của chính mình

- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Một khoản tín dụng có chất lượng cao phải kết hợp được hài hoà lợi ích của khách hàng, ngân hàng và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội

Vì vậy, ngoài việc đánh giá dưới góc độ ngân hàng và khách hàng, chất lượng tín dụng ngắn hạn còn được đánh giá dưới góc độ kinh tế xã hội thông qua các chỉ tiêu sau:

+ Giải quyết vấn đề lao động : Tỷ lệ thất nghiệp luôn là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một quốc gia nào Khi tỷ lệ này tăng thì đời sống của người dân sẽ gặp khó khăn, tệ nạn xã hội gia tăng… Vì vậy với những khoản

Trang 19

cho vay dự án nào giải quyết được vấn để thất nghiệp thì được coi là có hiệu quả, có chất lượng về mặt kinh tế xã hội.

+ Khả năng khai thác tiềm năng trên địa bàn hoạt động : Một dự án khai thác được tiềm năng của địa bàn hoạt động (tài nguyên, con người …) thì

sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế của địa bàn phát triển, chuyền dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách

+ Giải quyết vấn đề môi trường : Nếu dự án gây ô nhiễm môi trường sống xung quanh ảnh hưởng tới sức khoẻ của người lao động, năng suất lao động sẽ giảm sút, ảnh hưởng tới đời sống của người dân xung quanh, ảnh hưởng xấu tới đời sống xã hội và như vậy dự án không mang lại hiệu quả cho nền kinh tế xã hội

+ Chất lượng tín dụng còn thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân hàng Tín dụng ngắn hạn đảm bảo được chất lượng tín dụng thì khả năng thanh toán chi trả sẽ cao, tránh được rủi ro tín dụng ngắn hạn không ảnh hưởng đến nền kinh tế

+ Phần lớn nguồn huy động vốn tiết kiệm là các loại tiền gửi ngắn hạn, nên tỷ trọng cho vay ngắn hạn lớn Do đó tín dụng ngắn hạn cũng có ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của nền kinh tế Nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng ngắn hạn nói riêng làm cho hệ thống ngân hàng phát triển lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô thúc đẩy nền kinh tế phát triển và hội nhập với cộng đồng quôc tế

Nói tóm lại, việc đánh giá chất lượng tín dụng có ý nghĩa quan trọng vì

nó là cơ sở đẻ tìm ra các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng ngắn hạn nói riêng

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn.

Nền kinh tế thị trường đặt ra vấn đề cho các nhà sản xuất kinh doanh là phải đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, có như vậy mới tồn tại và phát triển ổn định Vì vậy đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm là một yêu cầu khách quan đối với các doanh nghiệp Ngân hàng là một tổ chức kinh

Trang 20

doanh trên lĩnh vực tiền tệ, vì vậy việc nâng cao chất lượng trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng là việc làm cần thiết

Để việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trước hết cần tién hành đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn một cách chính xác dầt đủ thông qua các nhóm chỉ tiêu sau:

+ Một là, chỉ tiêu về huy động vốn ngắn hạn

Tỷ trọng vốn huy động ngắn hạn = Vốn huy động ngắn hạn

Tổng nguồn vốnChỉ tiêu này cho biết trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì vốn ngắn hạn huy động được bao nhiêu, đồng thời cho biết khả năng huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng Chỉ tiêu này càng cao thì ngân hàng càng có cơ hội

nở rộng đầu tư cho vay ngắn hạn, nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn Tuy nhiên, chỉ tiêu này cao cũng đồng nghĩa với viêc chi phí tạo nguồn vốn lớn, nếu ngân hàng không sử dụng tốt nguồn vốn này thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của ngân hàng

+ Hai là, khả năng cấp tín dụng

Khả năng cấp tín dụng = Vốn huy động ngắn hạn

Dư nợ tín dụng ngắn hạnChỉ tiêu này cho biết vốn huy động ngắn hạn đảm bảo bao nhiêu phần trăm nhu cầu tín dụng ngắn hạn, từ đó cho thấy khả năng tự chủ của ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho nền kinh tế Ngoài ra,chỉ tiêu này còn ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng Tỷ lệ này cao chứng tỏ ngân hàng cho vay ngắn hạn nhiều và đã sử dụng tốt nguồn vốn huy động ngắn hạn Nếu tỷ lệ này thấp kết hợp với khả năng huy động vốn ngắn hạn cao thì

có thể kết luận ngân hàng đã sử dụng vốn lãng phí, không hiệu quả, ảnh hưởng tới lợi nhuận và an toàn trong hoạt động ngân hàng

+ Ba là, chỉ tiêu về cho vay ngắn hạn

- Chỉ tiêu dư nợ :

Tỷ lệ dư nợ = Dư nợ ngắn hạn

Trang 21

Tổng dư nợ tín dụngChỉ tiêu này cho biết tỷ lệ dư nợ ngắn hạn trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hang Nếu tỷ lệ dư nợ tăng liên tục qua nhiều thời kỳ có thể nói chất lượng tín dụng tăng Tuy nhiên khi đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn qua chỉ tiêu này cần phải xem xét cả số tương đối và số tuyệt đối Bởi không phải

tỷ lệ này tăng có nghĩalà cho vay ngắn hạn tăng, nó còn phụ thuộc vào việc tổng dư nợ tín dụng có tăng hay không

- Chỉ tiêu vòng quay vốn đầu tư:

Vòng quay vốn đầu tư = Doanh số thu nợ trong năm

Dư nợ bình quân trong nămVòng quay vốn đầu tư cho biết trong một thời gian nhất định vốn ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng Để đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn thông qua chỉ tiêu này Số vòng quay càng cao càng tốt vì điều đó chứng tỏ ngân hàng thu được nhiều nợ và chứng tỏ ngân hàng đã đầu tư vốn có hiệu quả

- Chỉ tiêu nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn ngắn hạn

Tổng dư nợ tín dụng ngắn hạnĐây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng tín dụng ngắn hạn Đến

kỳ hạn trả nợ và lãi tiền vay, nếu bên đi vay không trả được nợ hoặc không trả được lãi một kỳ và không được gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển khoản vay

đó sang nợ quá hạn Nợ quá hạn là điều mà các ngân hàng không hề mong muốn và tìm mọi biện pháp để hạ tỷ lệ nợ quá hạn tới mức thấp nhất có thể được Cũng như chỉ tiêu dư nợ tín dụng ngắn hạn, cần đánh giá chỉ tiêu này cả

về mặt tương đối và tuyệt đối thì mới có thể kết luận chính xác về chất lượng tín dụng ngắn hạn Nếu nợ quá hạn tăng nhưng tỷ lệ này vẫn không tăng thì

có thể kết luận chất lượng tín dụng vẫn được đảm bảo

- Chỉ tiêu nợ không có khả năng thu hồi :

Tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi = Nợ không có khả năng thu hồi

Dư nợ tín dụng ngắn hạn

Trang 22

Nếu tỷ kệ nợ không có khả năng thu hồi cao thì chất lượng tín dụng ngắn hạn được đánh giá là thâp, hoạt động của ngân hàng không có hiệu quả

và các chỉ tiêu khác đánh giá chất lương tín dụng ngắn hạn không có giá trị

+ Bốn là, thu nhập từ hoạt động cho vay

Thu nhập từ hoạt động cho vay = Lợi nhuận từ tín dụng ngắn hạn

Tổng dư nợ tín dụng ngắn hạnChỉ tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay cho biết khả năng sinh lời của tín dụng ngắn hạn bất kỳ một khoản tín dụng nào, dù ngắn hay dài hạn, không thể coi đó là có chất lượng cao nếu không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng ngoài ra còn có thể thấy được vị trí của tín dụng ngắn hạn trong hoạt động của ngân hàng thông qua chỉ tiêu:

Khả năng sinh lời = Lãi từ hoạt động cho vay

- Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế phát triển có thể tạo điều kiện

thuận lợi cho hoạt động tín dụng Một môi trường kinh tế phát triển lành mạnh, các chủ thể tham gia nền kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng, chất lượng hoạt động tín dụng cũng sẽ được nâng lên Nhưng môi trường kinh tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ Chẳng hạn khi lạm phát cao, lãi suất thực tế sẽ giảm xuống và nếu như ngân hàng không cân đối giữa các khoản mục bên nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất thì có thể các khoản tín dụng đó có thể không mang lại hiệu quả như mong đợi Cũng có thể có những biến động về tỷ giá hoặc biến động về

Trang 23

thị trường làm cho chủ đầu tư bị bất ngờ, dẫn đến tình trạng dòng tiền vào không như kế hoạch làm giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng Như vậy chất lượng hoạt động tín dụng của nh chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế mà

nó hoạt động, vấn đề đối với các nh là phải làm tốt công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có sự biến động nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động tín dụng

- Môi trường pháp lý: Một NHTM khi hoạt động phải tuân thủ đầy đủ

các quy định về luật pháp của nhà nước, cũng như của NHNN như vậy môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng Một hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ giúp các nh

dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của mình, góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng

- Môi trường chính trị -xã hội: Môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ

là một nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động đầu tư và mạnh dạn mở rộng hoạt động tín dụng Điều này giúp cho nh có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn Tác động của môi trường chính trị - xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụng là không thường xuyên, nhưng khi có những biến động về chính trị, tác động của nó tới các ngân hàng là vô cùng lớn Một sự thay đổi hệ thống chính trị bạo động có thể làm cho các ngân hàng mất toàn bộ các khoản tín dụng của mình, điều này sẽ đẩy nó đến bờ vực phá sản

1.3.3.2 Những nhân tố chủ quan.

- Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng là định hướng cơ bản cho

hoạt động tín dụng của nh Vì thế nó có quyết định to lớn đến sự thành công hay thất bại của nh Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ kích thích được việc tiết kiệm và đầu tư thu hút được nhiều khách hàng đảm bảo khả năng sinh lời của nh, đồng thời tuân thủ theo pháp luật và đường lối chính sách của đảng và nhà nước đề ra Bất cứ một nh nào muốn có tín dụng tốt đều phải có một chính sách tín dụng rõ ràng phù hợp với ngân hàng của mình

Trang 24

- Chất lượng của công tác thẩm định dự án Thẩm định dự án giúp

ngân hàng xem xét một cách toàn diện các mặt của dự án để xác định tính khả thi của dự án trên cơ sở đó sẽ quyết định khách hàng này có đủ điều kiện để được cấp tín dụng hay không Cũng thông qua công tác thẩm định, nh với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư vấn, giúp đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để dự án có tính khả thi hơn tạo mối quan hệ tốt với khách hàng

Thẩm định là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán phức tạp Do công việc này là cơ sở để quyết định có cấp tín dụng hay không cho nên chất lượng của công tác này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động tín dụng Nếu chất lượng của công tác thẩm định không cao tức là nhân viên tín dụng không xác định thực chất dự án có hiệu quả hay không thì những khoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp sẽ gặp những rắc rối trong việc thu hồi các món nợ của mình Chính vì vậy công tác thẩm định đòi hỏi các nhân viên thẩm định có trình độ cao và sự kết hợp một cách có hiệu quả giữa các phòng ban trong ngân hàng

- Công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng Phụ thuộc vào

nhiều yếu tố như quy mô của ngân hàng, chính sách tín dụng của ngân hàng, quy mô và loại hình tín dụng, quy trình tín dụng tại ngân hàng đó Trong quy trình hoạt động tín dụng, các cán bộ tín dụng sẽ tiếp xúc trực tiếp với người vay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn khách hàng, thu nhập thông tin về khách hàng và dự án trước khi có quyết định chính thức trình cán bộ cấp cao hơn Những thông tin về khách hàng và dự án sau khi được các phòng ban chức năng của ngân hàng xem xét nếu thấy đủ điều kiện thì sẽ quyết định cụ thể giải ngân và thu nợ sau này Trong quá trình này nếu các khâu được thực hiện tốt nó sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được các dự án tốt để cấp tín dụng, cũng như tạo uy tín trong lòng khách hàng

Trang 25

Như vậy, công tác tổ chức thực hiện hoạt động tín dụng có thể hỗ trợ đắc lực cho nhân viên tín dụng thực hiện công việc của mình và nó có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM.

- Chất lượng của đội ngũ nhân sự Yếu tố mang tính quyết định đến

việc nâng cao hay suy giảm chất lượng tín dụng lại chính là nguồn nhân lực của ngân hàng vì suy cho cùng quyết định cung cấp tín dụng của ngân hàng là những quyết định mang tính chất chủ quan Một ngân hàng với một đội ngũ lãnh đạo tốt sẽ đưa ra được những chính sách hợp lý và phương thức phát triển phù hợp với khuynh hướng phát triển của nền kinh tế Một đội ngũ cán

bộ tín dụng giỏi sẽ giúp ngân hàng có được những khoản cho vay với chất lượng cao nhất Các cán bộ của các phòng ban, các bộ phận chức năng khác

sẽ giúp cho ngân hàng mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình, tạo dấu

1.3.3.3 các yếu tố từ khách hàng.

- Do khách hàng kinh doanh thua lỗ Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn

đến nợ quá hạn của ngân hàng Đối với những khoản vay phục vụ mục đích kinh doanh thì nguồn vốn vay được sử dụng có hiệu quả không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn là tiền đề cho sự hoàn trả nợ ngân hàng

cả gốc và lãi Ngược lại, thua lỗ trong kinh doanh của doanh nghiệp xảy ra gây tác động xấu và sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ với các mức độ khác nhau

- Năng lực tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, sử dụng vốn sai mục đích Nhiều doanh nghiệp dùng vốn vay ngân hàng không đúng

phương án, mục đích xin vay vốn Các nguồn thu của doanh nghiệp rất hạn

Trang 26

chế nhưng khối lượng các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp quá lớn (như các khoản nợ ngân sách, nợ công nhân viên chức, nợ người bán hàng, nợ ngân hàng, nợ các đối tượng khác).cơ cấu về vốn đầu tư của doanh nghiệp không hợp lý, dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến không trả được nợ đúng hạn.

Tất cả những nguyên nhân trên gây nên khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn của khách hàng đối với ngân hàng, tạo ra các khoản nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng

- Do chủ ý lừa đảo của người đi vay Việc không trả nợ đúng hạn cũng

có thể xuất phát từ ý định chủ quan của người đi vay không muốn trả nợ (mặc

dù có khả năng nhưng không muốn thực hiện)

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG.

2.1.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của ngân hàng VPbank chi nhánh Chương Dương.

Ngân Hàng Việt Nam Thịnh Vượng (tiền thân là Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBANK) được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm

1993 với thời gian hoạt động 99 năm Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập là 20 tỷ VND Sau đó, do nhu cầu phát triển, theo thời gian VPBank

đã nhiều lần tăng vốn điều lệ Từ tháng 12/2010, vốn điều lệ của VPBank

là 4.000.000.000.000 đồng Cổ đông chiến lược : OCBC-Oversea Chinese

Banking Corporation với tỷ lệ nắm giữ cổ phần: 14,88% Ngày 10/9/1993, khi VPBank chính thức mở cửa giao dịch tại 18B Lê Thánh Tông, số lượng CBNV chỉ có vỏn vẹn 18 người Cùng với việc phát triển và mở rộng quy mô hoạt động, số lượng nhân sự của VPBank cũng tăng lên

Trang 27

tương ứng VPBank hoạt động với phương châm: lợi ích của khách hàng

là trên hết; lợi ích của người lao động được quan tâm; lợi ích của cổ đông được chú trọng; đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của cộng đồng

Chi nhánh NHNN TP Hà Nội ban hành Công văn số 638/NHNN – HAN7 ngày 26/10/2004 chấp thuận cho VPBank mở phòng giao dịch Chương Dương sau đây gọi tắt là VPBank Chương Dương (478 Nguyễn Văn Cừ, Quận Long Biên) tại Thành phố Hà nội VPBank Chương Dương chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/2004

Quá trình thành lập và đi vào hoạt động của VPBank Chương Dương bước đầu đã gặp phải rất nhiều khó khăn cũng như thuận lợi, tuy nhiên trong quá trình hoạt động VPBank Chương Dương đã biết tận dụng, khai thác những thuận lợi, vượt qua khó khăn để khẳng định mình, đạt được những thành công đáng ghi nhận Bằng sự nỗ lực phấn đấu cao của cbcnv ngân hàng VPBank Chương Dương luôn hướng tới việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao và coi đây là nền tảng vững chắc cho sự phát

triển với phương châm “với phương châm: lợi ích của khách hàng là trên hết; lợi ích của người lao động được quan tâm; lợi ích của cổ đông được chú trọng; đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của cộng đồng” Những

cố gắng của đội ngũ cbcnv ngân hàng VPBank Chương Dương đã được quý khách hàng ghi nhận và hợp tác cùng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng nhanh chóng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng VPBank Chương Dương.

Với phương châm “Hoàn thiện trên từng bước tiến”, VPBank Chương Dương luôn không ngừng hoàn thiện mình, không chỉ trong công tác chuyên môn mà còn không ngừng hoàn thiện nhân cách, tác phong của từng nhân viên để ngày càng nâng cao được chất lượng phục

vụ khách hàng Đội ngũ nhân viên luôn minh bạch và có tinh thần trách

Trang 28

nhiệm, luôn thể hiện tính chuyên nghiệp và sáng tạo là cơ sở cho thành công của ngân hàng,VPBank Chương Dương gồm có các phòng ban sau:

2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG.

2.2.1 Tình hình huy động vốn.

Kể từ năm 2004 lại đây, qua hơn 7 năm hoạt động, VPBank Chương Dương đã gây dựng được những uy tín trong dân cư và có quan hệt mật thiết với các doanh nghiệp trên địa bàn và các khu vực lân cận Huy động vốn là nghiệp vụ không thể thiếu của các ngân hàng thương mại vì đó là nguồn vốn chính để ngân hàng có thể duy trì và phát triển kinh doanh Chính vì điều này nên hoạt động huy động vốn ở VPBank Chương Dương luôn được xem là mối quan tâm hàng đầu Huy động vốn là yếu tố đầu tiên của quá trình kinh

Phòng kho quỹ tiền tệ

Phòng kế toán

Phòng nhân sự quản lý nội bộ

Trang 29

doanh, quyết định sự tồn tại của ngân hàng Công tác huy động vốn của một ngân hàng được đánh giá là có hiệu quả khi ngân hàng đó luôn đảm bảo cho mình một nguồn vốn dồi dào đáp ứng nhu cầu của khách hàng đến vay vốn và đáp ứng được nhu cầu cho qúa trình phát triển của đất nước.

Trên thực tế với việc mở rộng các hình thức huy động vốn ngày càng phong phú với nhiều loại tiền gửi( cả nội và ngoại tệ), cho từng thời hạn và hình thức lãi suất hấp dẫn, không ngừng mở rộng mạng lưới dịch vụ cũng như

nâng cao và hoàn thiện chất lượng dịch vụ ngân hàng với tiêu chí “ lợi ích của khách hàng là trên hết; lợi ích của người lao động được quan tâm; lợi ích của cổ đông được chú trọng; đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của cộng đồng” Ngân hàng đã triệt để khai thác nguồn vốn từ những

khoản tiết kiệm nhỏ của dân cư cho đến các khoản tiền thanh toán của những doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn kết hợp với nhiều giải pháp và chính sách thích hợp, tạo điều kiện tăng nguồn vốn huy động đặc biệt là nguồn vốn có thời hạn dài Công tác huy động vốn của ngân hàng đã bước đầu đạt được kết quả đáng khích lệ Nguồn vốn tăng trưởng với tốc độ khá, đáp ứng đựơc khối lượng lớn nhu cầu vốn phục vụ cho hoạt động sản xuât kinh doanh của các doanh nghiệp, các công ty và dân cư trên địa bàn

Một số kết quả đạt được trong công tác huy động vốn của ngân hàng VPBank Chương Dương được thể hiện qua bảng 2.2:

Trang 30

Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động

Đơn vị : tỷ đồng

2008 2009 2009/2008 2010 2010/2009 Giá

trị

Tỷ trọng (%)

Giá trị

Tỷ trọng (%)

± % Giá trị Tỷ

trọng (%)

52,4 30,38 22,13

3 Theo nội tệ,

ngoại tệ

3.1 Nội tệ 121,3 93,3 184 92 62,7 51,69 297,6 93 30,3 48,32 3.2 Ngoại tệ 8,67 6,67 6 8 2,67 30,79 22,4 7 16,4 273,33

Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng VPBank Chương Dương 2008-2010

Trang 31

Qua bảng số liệu trên ta thấy, quy mô nguồn vốn huy động của ngân hàng VPBank Chương Dương tăng đều qua các năm và năm sau cao hơn năm trước, đáp ứng đầy đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Năm

2008 tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng là 130 tỷ đồng, trong đó vốn ngoại tệ quy đổi là 8,67 tỷ đồng chiếm 6,67% trên tổng nguồn vốn Đến năm

2009, tổng nguồn vốn là 200 tỷ đồng, tăng 70 tỷ đồng so với năm 2008, tương ứng tỷ lệ tăng là 53,85% Trong năm 2009 thì nguồn vốn ngoại tệ quy đổi là 6

tỷ đồng giảm 2,67 tỷ đồng so với năm 2008( tương ứng với giảm 30,79%) Năm 2010, nguồn vốn đạt 320 tỷ đồng, tăng 120 tỷ đồng, tương đương với 60% Năm 2010, tỉ lệ vốn bằng ngoại tệ tăng mạnh so với năm 2009,tỉ lệ vốn bằng ngoại tệ đạt 22,4 tỷ đông ( đã quy đổi ) chiếm 7% trong tổng nguồn vốn, tăng 16,4 tỷ đồng tương đương với 273,33%

Hiện nay, tại ngân hàng VPBank Chương Dương đang tiến hành huy động vốn chủ yếu từ các nguồn như :

- Tiền gửi tổ chức kinh tế (bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có

kỳ hạn rút gốc linh hoạt, tiền gửi có kỳ hạn)

- Tiền gửi dân cư (bao gồm tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, dịch vụ tài khoản)

Trong các nguồn vốn huy động kể trên thì nguồn vốn huy động nhận tiền gửi dân cư chiếm vị trí quan trọng nhất, sau đó là nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế khác Tiền gửi dân cư luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng Năm 2008 tiền gửi từ khu vực dân cư đạt 84 tỷ đồng, chiếm 64,61% tổng nguồn vốn huy động Năm 2009 tiền gửi dân cư đạt

126 tỷ đồng, về tỷ trọng tuy có giảm xuống còn 63% trên tổng nguồn vốn, nhưng so với năm 2008 lại tăng 42 tỷ đồng tương đương với tăng 50% Năm

2010 tiền gửi từ khu vực dân cư tiếp tục tăng đạt 207 tỷ đồng chiếm 64,68% trên tổng nguồn vốn huy động, tăng 81 tỷ đồng( tương đương tăng 64,28%) so với năm 2009

Trang 32

Tiền gửi của tổ chức kinh tế vào ngân hàng có xu hướng ngày càng tăng và ổn định Năm 2008 tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 46 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng là 35,39% trong tổng nguồn vốn huy động Năm 2009 tiền gửi

từ tổ chức kinh tế đạt 74 tỷ đồng( chiếm 37% trên tổng nguồn vốn) tăng 28 tỷ đồng( tương đương 60,86%) so với năm 2008 Năm 2010 khối lượng tiền gửi

từ các tổ chức kinh tế đạt mức 103 tỷ đồng, tăng 29 tỷ đồng(tương đương 39,19%) so với năm 2009 nhưng tỷ trọng trong tổng nguồn vốn huy động lại giảm xuống còn 35,32%

Qua những phân tích số liệu ở trên ta thấy được hoạt động huy động vốn của ngân hàng VPBank Chương Dương là khá tốt, nguồn vốn huy động được tăng trưởng đều qua các năm tạo ra một nguồn vốn dồi dào đủ để cung cấp cho nhu cầu của các khách hàng của mình trên địa bàn Điều này thể hiện được việc ngân hàng đã đang gây dựng được uy tín cao trong dân cư và các tổ chức kinh tế trên địa bàn, cũng như thể hiện được sự nỗ lực cố gắng của những cán bộ ngân hàng trong việc đáp ứng đầy đủ, kịp thời những nhu cầu của khách hàng

2.2.2 Tình hình sử dụng vốn.

Một ngân hàng kinh doanh hiệu quả là ngân hàng biết sử dụng đầu tư đồng vốn của mình vào đúng chỗ, mang lại hiệu quả kinh tế lớn Các ngân hàng chủ yếu sử dụng đồng vốn huy động được để tiến hành cho vay hưởng chênh lệch lãi suất Những năm vừa qua nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến động lớn và VPBank cũng phải chịu không ít những khó khăn, nhưng với sự nỗ lực trong hoạt động kinh doanh của mình, VPBank đã gặt hái được nhiều thành tích đáng khích lệ trong những năm vừa qua Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng chủ yếu là nghiệp vụ tín dụng, còn các nghiệp vụ khác như mua bán kinh doanh ngoại tệ, đầu tư chứng khoán…chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ Theo nguồn báo cáo kết quả kinh doanh ta có bảng số liệu tình hình cơ cấu dư

nợ của VPBank Chương Dương qua các thời kỳ như sau:

Trang 33

Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ.

Đơn vị : tỷ đồng

trọng (%)

trọng (%)

Nhìn bảng trên ta thấy kinh tế QD chỉ chiếm một phần khá khiêm tốn trong tổng dư nợ Năm 2008, tỷ trọng này là 3,8% và năm 2009 tỷ trọng này giảm còn 3,3% và tiếp tục giảm Xuống 3,1% trong năm 2010 Theo tôi đây là

do mục tiêu khách hàng của ngân hàng xác định chính là khu vực dân cư và các doanh nghiệp, bởi vì đây là một thị trường tiềm năng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì trường thì khu vực này ngày càng năng động trong công việc kinh doanh của mình và họ có nhu cầu rất lớn về vốn Và qua bảng

Trang 34

số liệu ta thấy rõ được điều này, khu vực kinh tế NQD và hộ gia đình, cá nhân chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng qua các năm và duy trị

ổn định sự tăng trưởng Cho vay khu vực kinh tế NQD chiếm tỷ trọng lớn trọng tổng dư nợ của ngân hàng và tăng đều qua các năm Năm 2008, dư nợ kinh tế NQD đạt mức 67,1 tỷ đồng chiếm 79,9% trong tổng dư nợ Đến năm

2009 dư nợ kinh tế NQD là 102,7 tỷ đồng( chiếm 81,21% trong tổng dư nợ) tăng 35,6 tỷ đồng tương đương 53% so với năm 2008 Và năm 2010 dư nợ kinh tế NQD đã tăng lên 176,3 tỷ đồng chiếm 83,33 % trong tổng dư nợ, tăng 73,6 tỷ đồng( 71,66% )so với cùng kỳ năm 2009

Ngoài ra dư nợ ở thành phần kinh tế cá nhân và gia đình cũng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ và cũng tăng trưởng đều đặn qua các năm Năm 2008 dư nợ đạt 13,1 tỷ đồng chiềm 15,6% Năm 2009 dư nợ tăng lên đạt 19,6 tỷ đồng chiếm 15,49% Năm 2010 dư nợ tiếp tục tăng lên đạt 28,7 tỷ đồng tương ứng 13,57%

Trong cơ cấu cho vay của ngân hàng thì hoạt động tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn.Do nằm trên vị trí địa lý thuận lợi, trên địa bàn phần lớn là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ- nhu cầu vay vốn ngắn hạn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh lớn, đồng thời địa bàn Hà Nội là nơi đông dân cư, nhu cầu vay tiêu dùng cũng không phải là nhỏ Cụ thể năm 2008 tín dụng ngắn hạn đạt 60,27 tỷ đồng chiếm 71,75% Đến năm 2009 tỷ trọng tuy

có giảm xuống còn 69,19% nhưng về số tuyệt đối tín dụng ngắn hạn vẫn tăng lên đạt 87,5 tỷ đồng Sự giảm xuống không nhiều của tỷ trọng cũng là một kết quả khả quan mà ngân hàng đạt được trong bối cảnh của nền kinh tế có nhiều diễn biến phức tạp và sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng Năm 2010 tín dụng ngắn hạn đạt 151 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 71,39%, một năm đầy nỗ lực phấn đấu của cán bộ ngân hàng và đây là một kết quả đáng khích lệ Tín dụng dài hạn cũng chiếm một phần không nhỏ trong cơ cấu dư nợ của VPBank Chương Dương, năm 2008 tín dụng dài hạn đạt 23,72 tỷ đồng chiếm 28,25% Năm 2009 tín dụng dài hạn đạt mức 39 tỷ đồng và chiếm tỷ trọng 30,81%, đến

Trang 35

năm 2010 tín dụng dài hạn tiếp tục tăng lên đạt 60,6 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 28,61%.

Qua những phân tích ở trên, ta thấy rằng ngân hàng VPBank Chương Dương đã thành công trong việc mở rộng hoạt động tín dụng Tình hình dư nợ đều tăng qua các năm, có được kết quả này là do công sức nỗ lực, sự nhiệt tình với nghề của cán bộ ngân hàng VPBank Chương Dương

2.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng VPBank Chương Dương.

Đối mặt với nhiều khó khăn đòi hỏi ban lãnh đạo ngân hàng VPbank Chương Dương luôn phải đề ra những phương hướng, chính sách phù hợp để đạt được mục tiêu và có những sự tăng trưởng vững chắc trong công cuộc đổi mới Trải qua 3 năm, thị trường với những diễn biến phát sinh đầy phức tạp

và bất lợi đối với ngân hàng,cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, đặc biệt là trong công tác huy động vốn Thực trạng này đã ảnh hưởng đến cả hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng VPbank Chương Dương nói riêng Trước những biến động đầy khó khăn, ngân hàng VPbank Chương Dương cũng đã cố gắng phát huy hết sức mình và đã đạt được những thành tích cao được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.3: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh

Đơn vị : Tỷ đồng

NĂM/CHỈ TIÊU 2008 2009 2009/2008 2010 2010/2009

Tổng thu nhập 11,3 17,9 6,6 58,41 27,9 10 55,86 Tổng chi phí 8,5 13,3 4,8 56,47 21,9 8,6 64,66 Lợi nhuận trước thuế 2,8 4,6 1,8 64,28 6 1,4 30,43

Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng VPBank Chương Dương 2008 - 2010

Qua số liệu ở bảng trên cho thấy, ngân hàng là đơn vị làm ăn có lãi , với kết quả kinh doanh luôn đủ bù đắp các khoản chi phí phát sinh và trích lập quỹ khi cần thiết Mặc dù năm 2008 ngân hang phải chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến các mức lãi suất liên tục giảm trong

Trang 36

những tháng cuối năm Việc huy động vốn của ngân hàng chịu nhiều khó khăn do lãi suất tiền gửi thấp, nguồn vốn của ngân hàng vẫn chịu mức lãi suất cao do huy động những năm về trước Tuy vậy ngân hàng vẫn kinh doanh có lãi và kết quả kinh doanh năm 2008 lợi nhuận đạt 2,8 tỷ đồng Năm 2009 nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ, xuất khẩu… đồng loạt gặp khó khăn Năm 2009 cũng là một năm đầy biến động của thị trường tài chính, ngân hàng nhưng VPbank Chương Dương vẫn Xuất sắc hoàn thành mục tiêu lợi nhuận theo kế hoạch đã được giao Năm 2009 lợi nhuận trước thuế đạt 4,6 tỷ đồng, tăng 1,8 tỷ đồng (64,28%) so với năm 2008 Năm 2010 nền kinh tế Việt Nam đã thoát ra khỏi tình trạng suy giảm, đang phục hồi và

có mức tăng trưởng khá cao Tuy nhiên sự tăng trưởng vẫn chưa được bền vững và nền kinh tế vẫn phải chịu nhiều sự biến động ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái toàn cầu đặc biệt là tình hình lạm phát ở mức

2 con số, giá vàng và tỉ giá biến động mạnh… Trước những khó khăn, thách thức như vậy VPbank Chương Dương đã có những chính sách quản lý nguồn vốn huy động cũng như nguồn cho vay thật hiệu quả và lợi nhuận vẫn đạt kết quả cao Năm 2010 lợi nhuận trước thuế đạt 6 tỷ đồng, tăng 1,4 tỷ đồng (30,43%) so với năm 2009 Qua bảng số liệu ở trên đã cho ta thấy sự cố gắng lớn của ngân hàng trước những khó khăn thách thức và cũng chứng tỏ rằng ngân hàng rất nhanh nhậy, linh hoạt trong việc điều hành lãi suất, thu hút nguồn vốn tăng trưởng ổn định, tận dụng được các cơ hội trong kinh doanh

2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHƯƠNG DƯƠNG.

Như đã phân tích ở trên, chúng ta đã biết khái quát về tình hình hoạt động tín dụng ở VPBank Chương Dương và kết quả đạt được là khá tốt Nhưng để đánh giá chính xác hơn về chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn, chúng ta cần đi sâu tìm hiểu những vấn đề liên quan đến chất lượng tín dụng ngắn hạn đặc biệt là các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn

Trang 37

2.3.1 Tình hình huy động vốn ngắn hạn.

Để thu hút tối đa nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức kinh

tế xã hội, VPBank Chương Dương đã luôn tìm tòi, sáng tạo để tạo ra sự khác biệt, mang đến những sản phẩm/dịch vụ cao cấp với tính độc đáo và nhiều tiện ích cho khách hàng Hoạt động với phương châm: lợi ích của khách hàng là trên hết, VPBank Chương Dương cam kết thoả mãn tối đa lợi ích của khách hàng trên cơ sở cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ phong phú, đa dạng, đồng bộ, nhiều tiện ích, chi phí có tính cạnh tranh VPBank Chương Dương đã liên tục đa dạng hoá các hình

thức huy động vốn về kỳ hạn nguồn vốn để đáp ứng được nhu cầu ngày càng

đa dạng, phong phú của khách hàng Kết quả huy động theo kỳ hạn được thể hiện qua bảng và biểu đồ sau:

Bảng 2.4: Kết quả huy động vốn theo kỳ hạn

Đơn vị: tỷ đồng

Số dư Tỷ

trọng (%)

Số dư Tỷ

trọng (%)

Số dư Tỷ

trọng (%)Tiền gửi KKH 18,07 13,9 25,5 12,75 41,92 13,1Tiền gửi NH 46,26 35,59 37,2 18,6 110,4 34,5Tiền gửi T,DH 65,67 50,51 137,3 68,65 167,68 52,4

Ngày đăng: 20/04/2014, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Các trang web : - vi.wikipedia.org - sbv.gov.vn - tailieu.vn- thuvienluanvan.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: - vi.wikipedia.org- sbv.gov.vn- tailieu.vn
1. Giáo trình tín dụng ngân hàng – Học viện ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê năm 2001 Khác
2. Giáo trình lý thuyết tiền tệ ngân hàng – Học viện ngân hàng nhà xuất bản thống kê năm 2005 Khác
3. tạp chí ngân hàng các năm 2008, 2009, 2010 Khác
4.Các văn bản pháp quy của NHNN Việt Nam và ngân hàng VPBank Khác
5. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng VPBank Chương Dương các năm 2008, 2009, 2010 Khác
6. Quy định lề lối làm việc của ngân hàng VPBank Chương Dương các năm 2008, 2009, 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động - Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương ”
Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động (Trang 30)
Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ. - Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương ”
Bảng 2.2 Cơ cấu dư nợ (Trang 33)
Bảng 2.4: Kết quả huy động vốn theo kỳ hạn - Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương ”
Bảng 2.4 Kết quả huy động vốn theo kỳ hạn (Trang 37)
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn của VPBank Chương Dương Đơn vị: Tỷ đồng - Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương ”
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn của VPBank Chương Dương Đơn vị: Tỷ đồng (Trang 39)
Bảng 2.6: Bảng cơ cấu cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế. - Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương ”
Bảng 2.6 Bảng cơ cấu cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế (Trang 41)
Bảng 2.7: Tình hình nợ quá hạn phân theo thời hạn tại VPBank  Chương Dương 2008 -2010. - Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương ”
Bảng 2.7 Tình hình nợ quá hạn phân theo thời hạn tại VPBank Chương Dương 2008 -2010 (Trang 44)
Bảng 2.8 : Tình hình thu lãi trong hoạt động tín dụng ở VPBank  Chương Dương. - Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương ”
Bảng 2.8 Tình hình thu lãi trong hoạt động tín dụng ở VPBank Chương Dương (Trang 46)
Bảng 2.9: Vòng quay vốn tín dụng. - Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương ”
Bảng 2.9 Vòng quay vốn tín dụng (Trang 48)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w