1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

103 850 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Khoa học Nông nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 535,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Kinh tế trang trại đã có từ lâu và đã trải qua nhiều bước thăng trầm khácnhau Sau khi thực hiện chủ trương khoán đến hộ gia đình và sau Luật Đất đai(1993) quy định người lao động, hộ gia đình có 5 quyền trong sử dụng đất

đã làm xuất hiện và phát triển trở lại mô hình trang trại Từ đó trang trại

đã sớm phát huy những ưu thế của mình đó là kinh tế trang trại (KTTT) vừa

có điều kiện làm tăng năng suất lao động, tăng năng suất trên một đơn vị diệntích, vừa có khả năng khai thác hữu hiệu lợi thế của từng vùng lãnh thổ Nhờvậy có thể sản xuất ra hàng loạt sản phẩm với chi phí thấp nhất Trên cơ sở đóthúc đẩy tăng trưởng cả thị trường đầu ra lẫn thị trường đầu vào trong sản xuấtnông nghiệp (SXNN), giúp giải quyết tốt những mục tiêu, nhu cầu mới khôngngừng nảy sinh, giúp cho cư dân nông thôn dần thoát khỏi “ngưỡng” kém pháttriển, góp phần đưa nền kinh tế đất nước “cất cánh” sang giai đoạn mới mộtcách chắc chắn và bền vững Như vậy, tuy mới mẻ nhưng KTTT đã tự khẳng

định là hình thức kinh tế vô cùng quan trọng, có thể coi KTTT là bước đột phácho sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thời kỳ này

Khoái Châu là một huyện lớn nằm ở phía bắc của tỉnh Hưng Yên có tổngdân số đông là 195.309 nhân khẩu Năm 1999 huyện Khoái Châu được tái lập với

điều kiện tự nhiên thuận lợi và đất đai màu mỡ cùng với sự phát triển của nền kinh

tế nông nghiệp - nông thôn các mô hình kinh tế trang trại được hình thành và pháttriển có hiệu quả Đến nay toàn huyện đã có 420 trang trại đạt tiêu chí cấp bộ vàliên bộ Bên cạnh đó Khoái Châu còn có thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, chợ

đầu mối thu mua nông sản phẩm của tỉnh Hưng Yên, đây là điều kiện và tiền đề cơbản cho việc phát triển trang trại Tuy nhiên, những vấn đề đặt ra là tình hình pháttriển kinh tế trang trại tại huyện Khoái Châu như thế nào ? Những giải pháp chủyếu phát triển kinh tế trang trại ra sao ? đó là những vấn đề cần các nhà khoa họcnghiên cứu và có những giải pháp phù hợp nhằm đánh giá thực trạng, đưa ra giải

Trang 2

pháp khắc phục khó khăn để thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển.

Do tác động nhiều mặt, cả chủ quan và khách quan làm ảnh hưởng đến sốlượng, quy mô, kết quả sản xuất của các trang trại trên địa bàn huyện, trong đó

có nhiều tác động tích cực cần phát huy, nhưng cũng có không ít những tác độngtiêu cực cần hạn chế, tháo gỡ trong thời gian tới để phát triển mạnh mẽ hơn nữahình thức KTTT của huyện Xuất phất từ thực tế trên, được sự đồng ý của KhoaNông học - Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, Trường ĐHNN - Hà Nội và sự đồng

ý của ban lãnh đạo huyện Khoái Châu, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện

Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên”.

1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

- Nghiên cứu thực trạng phát triển trang trại của huyện, qua đó chỉ rõnhững kết quả đạt được, những khó khăn, tồn tại và các giải pháp chủ yếu pháttriển hệ thống trang trại của huyện Khoái Châu

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên và xã hộicủa huyện Khoái Châu đối với phát triển trang trại

- Đánh giá thực trạng phát triển trang trại và tìm ra những khó khăn chủyếu trong phát triển trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu

- Đưa ra những định hướng và giải pháp chủ yếu để thúc đẩy phát triểntrang trại tại huyện Khoái Châu

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở khoa học cho việcphát triển hệ thống trang trại Đồng thời thông qua việc đánh giá điều kiện tựnhiên, kinh tế – xã hội với sự phát triển hệ thống trang trại của huyện KhoáiChâu làm cơ sở cho những định hướng cho các trang trại ở địa phương theohướng phát triển nông nghiệp hàng hoá bền vững

Trang 3

Ngày nay xu thế phát triển cuả kinh tế thị trường và tác động mạnh mẽcủa quá trình đô thi hoá, của phát triển khoa học công nghệ, sự đan xen trongcác hoạt động sản xuất kinh doanh trong các tầng lớp dân cư nên rất khó đưa

ra những tiêu chuẩn xác định giới hạn giữa nông thôn và thành thị

Quan niệm về hệ nông dân có nhiều ý nghĩa khác nhau Có ý kiến chorằng hộ nông dân là những hộ chủ yếu là hoạt động nông nghiệp theo nghìarông bao gồm cả hoạt động nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nôngnghiệp khác diễn ra ở nông thôn

Gần đây Elles (1988) cho rằng “Hộ nông dân là các hộ thu hoạch cácphương tiện sống từ ruộng đất sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sảnxuất trang trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặctrưng bằng việc tham gia một phần tham gia trong thị trường hoạt động vớimột trình độ không cao”

a) Hộ nông dân có những đặc điểm sau

- Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở vừa là đơn vị sản xuất vừa là đốitượng tiêu dùng nhưng đồng thời cũng là nơi phân phối của nông sản làm ra

- Quan hệ giũa sản xuất và tiêu dùng, biểu hiện trình độ phát triển của

hệ tự cung rự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá,trình độ này quyết địnhmối quan hệ giữa hộ nông dân với thi trường

Trang 4

- Các hộ nông dân ngoài hoạt động kinh doanh nông nghiệp còn thamgia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau nên khó giớihạn thế nào là hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp với các hộ nông dân códoanh nghiệp (như trang trại của họ).

Bảng 2.1: Bảng so sánh giữa hộ nông dân và doanh nghiệp

Mục tiêu Tự cung tự cấp, một phần

để bán

Để bán

Lao động Chủ yếu lao động gia đình Chuyên lao động thuê

Tư liệu sản xuất Của gia đình Mua thị trường hoàn toàn Mức độ tham gia thị

hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, họ tự chủ và chịu trách nhiệm về hoạt

động và phát triển của chính mình Kinh tế hộ nông dân tồn tại và phát triển

được là nhờ:

+ Hoạt động nông nghiệp của nông dân có khả năng thoả mãn nhu cầucủa quá trình tái sản xuất giản đơn nhờ kiểm soát được tư liệu sản xuất nhất làruộng đất

+Nhờ những giá trị xã hội của nông dân hướng mục tiêu sản xuấtvàonhu cầu là sự phát triển của cộng đòng hơn là đạt lợi nhuận cao nhất

+ Nhờ sự chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác (kế thừa)chống lại sự tập trung ruộng đất vào tay một số người

Trang 5

+ Người nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng thờigian lao động sống, tăng khả năng huy động các nguồn lao động sẵn có vào hệthống nông nghiệp của chính mình.

+ Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ và theo nhu cầu của thi trườngnên không thu hút vốn đầu tư vào một thời điêr để trở thành tư bản nôngnghiệp

+ Huy động thặng dư trong nông nghiệp của nông dân là để thoả mãnlợi ích của toàn xã hội thông qua thuế, địa tô, giá cả

+ Tiến bộ khoa học công nghệ, làm giảm lao động phổ thông trongnông nghiệp đã làm giảm giá thành và giá cả của các sản phẩm nông nghiệp.Vì vậy nông dân chỉ còn có khả năng tái sản suất giản đơn nên ko có sự hỗ trợcủa nhà nước, nên nhà nước muốn tái sản xuất mở rộng phát triển theo hướngnông nghiệp hàng hoá thị trường

Trong những năm 1960-1970 phong trào hợp tác xã ở miền Bắc đã hìnhthành nên tầng lớp nông dân tập thể.Thời kỳ này kinh tế hộ nông dân không

được coi trọng, thậm chí kỳ thị Trong nông nghiệp chỉ còn kinh tế hợp tácxã là chính, kinh tế nông dân không phát triển hoặc kém phát trển chỉ trongkhuôn khổ kinh tế phụ gia đình Tuy nhiên, đối với nhiều hộ nông dân bằngnhiều cách khác nhau họ vẫn hướng đến sự phát triển

Đến năm 1988 khi nghị quyết 10 - BCT ra đời (5/4/1988), hộ nông dân

được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ Từ đây kinh tế hộ nông dânkhông ngừng phát triển và tạo nên những thành tựu đặc biệt của nền nôngnghiệp nước ta Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng hoá đứng thứ 2,thư 3 của thế giới

Trang 6

c) Một số kiểu hộ nông dân

Gần đây một số nhà kinh tế học phương Tây nghiên cứu về hộ nông dân

đã đưa ra những mô hình mới về kinh tế hộ dựa trên những phân tích toán học,xã hội học, quy luật cung cầu trên thi trường nông nghiệp sản xuất hàng hoá

để xác định mục tiêu và cơ cấu phát triển của họ Theo họ có thể phân hộ nôngdân làm những kiểu sau:

- Kiểu hộ nông dân đang hoạt động trong hệ thống nông nghiệp tự cung

tự cấp nhóm hộ này không có phản ứng với thị trường

- Kiểu hộ hoạt động trong hệ thống độc canh, có bán một phần lươngthực thực phẩm để mua hàng tiêu dùng và một số ít vật tư nông nghiệp Kiểu

hộ này có phản ứng với thị trường, chủ yếu giá vật tư nhưng mức độ khônggay gắt, không kéo dài

- Kiểu hộ hoạt động tronghệ thống nông nghiệp phát triển (thâm canh,chuyên canh ) Kiểu hộ này bán phần lớn sản phẩm ra thị trường, kiểu hộ nàyphản ứng với giá cả thị trường trên một số phương diện

- Kiểu hộ hoạt động trong hệ thống nông nghiệp hàng hoá, bán toàn bộnông sản của mình ra thị trường với mục tiêu là lợi nhuận, như một xí nghiệp tưbản Mục tiêu của hộ quyết định việc lựa chọn sản phẩm kinh doanh, quyết địnhlựa chọn mức đầu tư Loại hộ này phản ứng gay gắt với giá cả của thị trường trênnhiều mặt như vật tư, nông sản, lao động, thuế Nhóm hộ này chấp nhận sự đổimới thay thế hệ thống nông nghiệp cũ bằng những hệ thống mới có hiệu quả hơn

Như vậy hộ nông dân biến đổi từ tình trạng tự cung tự cấp sang sản xuấtnông nghiệp hàng hoá ở các mức độ khác nhau Trong quá trình phát triển đó

hộ nông dân chấp nhận sự đổi mới từ hình thức độc canh, quảng canh, thâmcanh, chuyển sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá trang trại

2.1.2 Khái niệm về trang trại

Với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nông nghiệp nông thôn

Trang 7

thứ IX nêu rõ "Đẩy nhanh CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn theo hướnghình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và

điều kiện sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao

động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động nông thôn…"

Ngày nay kinh tế trang trại đã phát triển ở hầu hết các nước có sản xuấtnông nghiệp, lâm nghiệp hàng hoá, việc hình thành phát triển kinh tế trang trại

là quá trình chuyển đổi từ kinh tế hộ nông dân chủ yếu mang tính sản xuất tựcung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá với quy mô từ nhỏ đến lớn

ở Việt Nam có nhiều công trình đã nghiên cứu về trang trại và đưa cáccác quan điểm khác nhau:

Quan điểm 1: theo Trần Đức, trang trại là lực lượng chủ lực của các tổchức làm nông nghiệp ở nước tư bản cũng như các nước đang phát triển vàcũng là tổ chức kinh doanh của nhiều nước trên thế giới ở thế kỷ 21 [9]

Quan điểm 2: trang trại là tổ chức sản xuất cơ sở của nền nông nghiệpsản xuất hàng hoá thời kỳ công nghiệp hoá, là loại hình tổ chức đa dạng vàlinh hoạt về tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, có vị trí trung tâm thu hútcác hoạt động kinh tế của các tổ chức đầu tư [10]

Quan điểm 3: trang trại là một loại hình sản xuất nông nghiệp hàng hoácủa hộ gia đình được nhà nước giao đất, cho người chủ có năng lực chỉ đạo,quản lý kinh doanh, biết huy động vốn, sử dụng lao động và lựa chọn côngnghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và dịch vụ sản phẩm theoyêu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao

Từ những quan điểm trên theo quan điểm của chúng tôi có thể khái quáthoá và đưa ra khái niệm về trang trại như sau:

Trang trại là cơ sở doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp của một hoặcmột nhóm nhà kinh doanh

+ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở là doanh nghiệptrực tiếp sản xuất ra những nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hệ thống nông

Trang 8

nghiệp hàng hoá, phân công lao động xã hội được chủ trang trại đầu tư vốnkhai thác tài nguyên, lao động một cách hợp lý để sản xuất kinh doanh theoyêu cầu của thị trường, được nhà nước bảo hộ theo luật pháp hiện hành.

+ Cũng có thể hiểu trang trại là sự sắp xếp độc nhất và ổn định mộtcách hợp lý của các việc kinh doanh nông nghiệp của hộ nông dân quản lýtheo các hoạt động đã được xác định tuỳ thuộc vào môi trường vật lý, sinh học

và kinh tế xã hội phù hợp với mục tiêu, sở thích và nguồn lợi của nông hộ.Như vậy trang trại là một hệ thống cơ bản bao gồm nhiều hệ thống phụ nôngnghiệp, chúng có tác động qua lại lẫn nhau và có ảnh hưởng đến hệ thốngkhác cũng như môi trường xung quanh; điều đó được thể hiện qua sơ đồ sau:

Vai trò của hệ thống trang trại:

- Trang trại là tế bào của nền sản xuất hàng hoá, là bộ phận cấu thànhquan trọng của hệ thống nông nghiệp, là hình thức doanh nghiệp trực tiếp sảnxuất ra những nông sản phẩm hàng hoá cho xã hội phù hợp với đặc điểm sảnxuất nông nghiệp, phù hợp với quy luật sinh học và các quy luật sản xuất hànghoá như quy luật cung cầu, quy luật giá cả, quy luật thị trường, là đối tượng để

tỏ chức chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp đảm bảo thực hiện chiếnlược phát triển nền nông nghiệp hàng hoá thích ứng với sự hoạt động của cácquy luật kinh tế thị trường

- Nhờ hệ thống nông nghiệp trang trại mà chúng ta đã đánh thức nhiềuvùng đất hoang hoá, đồi núi trọc, sử dụng một phần sức lao động dư thừa (nhưvùng nông dân không có đất canh tác, vốn, lao động thất nghiệp thời vụ ) để

Nông trạiMôi

Trang 9

- Hệ thống trang trại là hệ thống có đủ các điều kiện để thể nghiệmcông nghệ kỹ thuật cao trong nông nghiệp Đa dạng hoá các sản phẩm nôngnghiệp nhờ đa dạng sinh học trong hệ thống cây trồng Hệ thống nông nghiệptrang trại với quy mô sản xuất lớn, quy mô đầu tư, cho ra đời một khối lượngsản phẩm lớn có đủ sức cạnh tranh với thị trường, dần dần hình thành thịtrường thương mại nông sản thúc đẩy sự nghiệp phát triển nông nghiệp nôngthôn ở nước ta.

- Phát triển hệ thống nông nghiệp trang trại là bước đi tất yếu để hìnhthành nền nông nghiệp hàng hoá ở nước ta

2.1.3 Những đặc trưng chủ yếu của hệ thống nông nghiệp trang trại

- Trang trại là nông trại, bao gồm hộ nông dân và nông trại của họ đượccoi là đơn vị ra các quyết định sản xuất và điều khiển cuối cùng của quá trìnhbiếu đổi đầu vào thành đầu ra của sản xuất nông nghiệp trong trang trại

- Trang trại được coi là hệ thống mở, sự kết hợp và chuyển hoá nănglượng thông tin đầu vào thành đầu ra của hệ thống phụ thuộc rất nhiều vàonăng lực quản lý, môi trường hệ thống, cấu trúc hệ thống, điều hành vàkiểm soát được khoa học công nghệ, kỹ thuật cũng như thị trường củangười nông dân

- Hệ thống trang trại có nhiều loại hình có các kiểu hệ thống canh tácnông nghiệp khác nhau, nó phản ánh tính đa dạng đa mục đích của người chủtrang trại

- Hệ thống trang trại là hệ thống động, đầu ra của hệ thống biến đổitheo quy luật cung cầu của thị trường, tính năng động của nó được thay đổitheo thời gian qua các biến đổi của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế vàxã hội nên hệ thống trang trại có thể được điều chỉnh và sửa đổi

- Hệ thống trang trại là hệ thống chuyên môn hoá, tập trung hoá cao,sản xuất nông sản hàng hoá theo nhu cầu của thị trường có lợi nhuận cao

Trang 10

- Trong quá trình phát triển hệ thống trang trại chúng ta thường gặp 2loại hình trang trại phát triển chủ yếu:

* Hệ thống trang trại tự cung tự cấp

- Sản phẩm của hệ thống mang tính tự cung tự cấp, một phần không

đáng kể sản phẩm trang trại tham gia vào thị trường nông sản

- Sử dụng các tài nguyên nông nghiệp như đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ,sinh vật ở mức độ thấp, khai thác nhưng không bảo vệ tái tạo nguồn nănglượng mà thiên nhiên ban phát, làm cạn kiệt và suy thoái tài nguyên nhanh

- Hệ thống thông tin, khoa học công nghệ mới kém phát triển, vốn đầutư thấp, sản phẩm không gắn với thị trường nên khó tiêu thụ

- Hệ thống cây trồng đơn giản, phân tán, đầu tư chủ yếu là lao độngsống nên độ rủi ro cao

- Cơ sở hạ tầng, cơ sở chế biến trang trại kém phát triển, thu nhập ngườilao động thấp

* Hệ thống trang trại sản xuất hàng hoá

- Trình độ chuyên môn hoá cao, sản xuất hướng tới thị trường do đó tỷtrọng hàng hoá sản phẩm cao (trên 70%), có sức cạnh tranh

- Sử dụng nhiều vốn, năng lượng vật tư, chất xám khoa học công nghệ,giảm sử dụng dạng lao động sống trên đơn vị diện tích canh tác Khai thác tàinguyên hợp lý, gắn sử dụng với tái tạo các nguồn năng lượng trong hệ thống,

đảm bảo cho hệ thống phát triển bền vững

- Mạng lưới thông tin đặc biệt thông tin thị trường, dịch vụ phát triểnhoạt động có hiệu quả

- Dịch vụ đầu vào, đầu ra ổn định, giá cả phù hợp sản phẩm đa dạng,sản lượng lớn, có điều kiện cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu

Trang 11

- Sản xuất có lãi, đời sống thu nhập của người lao động được cảithiện, trình độ chuyên môn được nâng cao, an ninh lương thực thực phẩm

Các yếu tố trên quyết định loại hình trang trại trồng cây gì, nuôi con gì,quy mô bao nhiêu và biện pháp kỹ thuật áp dụng, nó quyết định về lao động,

về vốn đầu tư, về thị trường

a Ruộng đất:

Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu là điều kiện cơ bản để thành lập

và phát triển trang trại Nếu không có ruộng đất thì không thể tiến hành sảnxuất ra hàng hoá nông sản nhưng để thành lập một trang trại theo đúng nghĩacủa nó thì quy mô rộngđất phải đạt đến một mức độ nhất định phù hợp với yêucầu phát triển kinh tế, yêu cầu kỹ thuật của từng loại hình trang trại mới đảmbảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả

Để trang trại phát triển ổn định, phù hợp với lượng hàng hoá mà thịtrường đòi hỏi, nhà nước sớm ban hành các chính sách cho phép các chủ trangtrại mua bán, sang nhượng, thuê, chuyển đổi mục đích sử dụng hay tích tụruộng đất để tăng quy mô trang trại

Trang 12

Giao quyền sử dụng đất lâu dài: Tuỳ theo loại hình trang trại có thể giaoquyền sử dụng đất từ 20, 30, 50 năm hoặc trên 100 năm để chủ trang trại yêntâm đầu tư nâng cao chất lượng đất đảm bảo phát triển trang trại bền vững.

Cho phép hình thành thịt rường giao dịch đất trang trại (như kiểu thịtrường chứng khoán) để các chủ trang trại có điều kiện phát triển, làm lànhmạnh hoá thị trường đất đai, ngăn cấm việc giao dịch ngầm bất động sản nấpdưới chiêu bài thành lập trang trại nông nghiệp

b Thuế:

Đa số các trang trại hiện nay của chúng ta được hình thành từ đất trống,

đồi núi trọc, đất hoang hoá, đất phục hoá bước vào kinh doanh trang trạichưa dài, chưa ổn định vì vậy nhà nước không nên đánh thuế thu nhập sảnphẩm hàng hoá trang trại trong những năm đầu, đặc biệt đối với loại hìnhtrang trại kinh doanh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp có thưòigian kiến thiết cơ bản dài

Cần có chính sách bảo hộ các sản phẩm nông nghiệp trang trại nếukhông trong trường hợp mất mùa liên tục do thiên tai, hay các sản phẩm bị cácnước cạnh tranh về giá chúng ta không thể xuất khẩu được, trong trường hợpnày nhà nước cần bảo hệ để duy trì sự phát triển trang trại Nhà nước có thểcho vay vốn ngắn hạn không lấy lãi, hay vay vốn dài hạn lãi suất thấp hoặckhông đánh thuế các vật tư nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ phát triểnnông nghiệp Về lâu dài, chúng ta cũng phải có chính sách thương mại quốcgia để bảo hệ sản phẩm nông nghiệp trang trại tránh độc quyền thương mạikhông bình đẳng như hiện nay

c Thị trường:

Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá nông sản Khi mà tất cả các quan hệkinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá Các yếu tố sảnxuất như vốn, tài sản, sức lao động, chất xám của sản phẩm dịch vụ làm ra đều

Trang 13

có giá trị mà giá cả hình thành tác động bởi quy luật cung cầu trên thị trường.Như vậy quy luật cung cầu sản phẩm nông sản hàng hoá trên thị trường nhưthế nào chúng ta hãy xem sơ đồ 2.2:

Cầu về

hàng hoá

nông sản

Cung vềhàng hoá

nông sản

Giá cả hànghoá

Giá trị hànghoá

Sơ đồ 2.2: Nguyên nhân chênh lệch giữa giá cả và giá trị hàng hoá

Nhìn sơ đồ trên ta thấy khi nhu cầu về hàng hoá nông sản bằng khảnăng cung cấp ( = ) thì gía cả nông sản hàng hoá bằng giá trị hàng hoá( =

), thị trường ổn định

Khi nhu cầu hàng hoá nông sản lớn hơn khả năng cung cấp ( >) thìgiá cả hàng hoá lớn hơn giá trị, giá cả đắt ( >), thị trường khủng hoảngthiếu, giá cả nông sản sẽ đẩy lên cao, kích thích phát triển sản xuất

Khi nhu cầu hàng hoá nông sản nhỏ hơn ( < ) thì giá cả hàng hoá rẻgây nên khủng hoảng thừa, người sản xuất phải điều chỉnh quy mô sản xuất

Vì thế, muốn ổn định thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá làm chotrang trại phát triển, người sản xuất phải đưa ra thị trường các loại sản phẩmmới và đưa ra đầu tiên (cầu nhiều mà cung còn khan hiếm bán được giá cao,thu nhiều lợi nhuận hơn)

Thị trường quyết định tốc độ phát triển lưu thông hàng hoá nông sảntrang trại Trong nền nông nghiệp hàng hoá, thị trường không phải là yếu tốbất biến Tiếp cần được thị trường sớm, chúng ta sẽ có những điều chỉnh hợp

lý về giá cả, về số lượng sản phẩm phải sản xuất để đưa ra thị trường, hướng

đầu tư và thời điểm, địa điểm tiêu thụ các sản phẩm để có lợi nhuận cao nhất

Trang 14

Người ta ví thị trường là trung tâm, cung cầu là động lực và cạnh tranh là sứcsống của nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá.

Thị trường là yếu tố sống còn của nền nông nghiệp hàng hoá Khi đã cóthị trường xuất khẩu ổn định, cần phải chú trọng phát triển thị trường trongnước Thị trường trong nước là nơi chia sẻ với trang trại khi gặp nhiều rủi ro,trường hợp cá Basa Việt Nam là minh chứng rõ ràng nhất Khi cá Basa nước ta

đang có thị trường tiêu thụ ổn định ở Mỹ và một số nước khác thì hầu như thịtcá Basa không hề có mặt ở thị trường nội địa Nhưng khi Mỹ áp dụng luậtthương mại chống bán phá giá để bảo vệ hàng nội địa của họ, cá Basa Việtnam mất thị trường, nhìn thấy nguy cơ bị phá sản, các chủ trang trại cá Basamới bắt đầu nhờ các phương tiện thông tin đại chúng hướng dẫn cách ăn, cách

sử dụng cá Basa cho người tiêu dùng trong nước để cá Basa có cơ hội tiêu thụ

được trong nước

Muốn giữ được thị trường điều không thể thiếu là hàng hoá nông sảnphải có thương hiệu Thương hiệu là sự công nhận chất lượng hàng hoá đẳngcấp quốc tế; thương hiệu hàng hoá là tấm hộ chiếu để chúgn đi bất cứ nơi nàochúng muốn Nhờ có thương hiệu mà cà phê Trung Nguyên có mặt ở Tokyo,NewYork; bưởi Năm Roi sau khi có thương hiệu giá bán đã tăng từ 4.500

đồng/quả lên 15.000 đồng/quả - 30.000đồng/quả

d Nguồn vốn:

Vốn là một trong những điều kiện quan trọng nhất để tiến hành sảnxuất kinh doanh trong các trang trại Muốn bỏ vốn vào tạo lập trang trại nông

- lâm - ngư nghiệp trong nền kinh tế thị trường trước hết cần nhất quán:

- Vốn đầu tư vào kinh doanh phải có lãi

- Đầu tư vốn phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường để lựa chọn và tậptrung cao cho các ngành chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh

tế cao, chứ không phải dựa vào khả năng có thể sản xuất gì để đầu tư

Trang 15

- Các chủ trang trại phải thực sự có trọn quyền tự chủ về tài chính Đểthực hiện được các quan điểm đó trong quản lý tài chính cần chú ý nghiên cứu

và liên hệ với thực tế của mình để có thể giải quyết tuyệt đối những câu hỏi

+ Hiệu quả đồng vốn của mỗi ngành sản xuất, dịch vụ ra sao

- Vốn hình thành trong các trang trại theo 2 nguồn

+ Nguồn vốn tự có

+ Nguồn vốn đi vay

Hiện nay các chủ trang trại đang khó khăn về vốn Để vượt qua họ phảibằng mọi cách tự tạo vốn, huy động vốn từ nhiều nguồn bằng hình thức khơidậy nguồn vốn bên trong và thu hút được nhiều nguồn vốn bên ngoài để đápứng nhu cầu vốn kinh doanh

Vốn trong kinh doanh được chia thành vốn cố định và vốn lưu thông

Để sử dụng vốn cố định có hiệu quả cần những biện pháp chủ yếu sau:

- Tập trung vốn cho ngành chuyên môn hóa sản xuất làm hàng hoátrong trang trại theo nhu cầu của thị trường

- Cần điều tra, quy hoạch, thiết kế, có luận chứng kinh tế kỹ thuật đốivới các công trình xây dựng trong trang trại

- Khẩn trương thi công để sớm phát huy tác dụng vốn đầu tư cơ bản.Sau khi xây xong phải thực hiện tốt chế độ sử dụng, bảo dưỡng

Vốn lưu động là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị tài sản lưu

động như: Hạt giống, con giống, phân bón, nguyên nhiên vật liệum vật rẻ tiền

Trang 16

mau hỏng, sản phẩm chờ tiêu thụ Đặc điểm của nó là thường xuyên vận động,thay đổi hình thái biểu biện và trải qua 3 giai đoạn:

- Vốn trong quá trình dự trữ (như dự trữ vật tư cho sản xuất)

- Vốn trong quá trình lưu thông (sản phẩm được tiêu thụ)

Để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần chú ý:

- Dự trữ vật tư hợp lý

- Thực hiện thâm canh khoa học, sử dụng các giống mới có năng suấtcao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn

- Lưu thông tiêu thụ sản phẩm nhanh

e Lựa chọn kỹ thuật và công nghệ để phát triển trang trại

- Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất của các trang trại phải ưu tiênlựa chọn kỹ thuật công nghệ cao theo hướng tiêu hao ít năng lượng đầu vào

Sử dụng công nghệ hiện đại nhưng phải kế thừa có lựa chọn các kỹ thuậttruyền thống, tiết kiệm lao động sống sử dụng có hiệu quả nguồn lao động cóchất xám cao

- Trong nền kinh tế hàng hoá, khi thành lập trang trại các chủ trang trạiphải xem xét vị trí đất trang trại, từ nơi sản xuất ra sản phẩm đến thị trường,

đất trang trại có nằm trong hệ thống tưới tiêu chủ động không? Nguồn dinhdưỡng đất có phù hợp với cây trồng chính không? Độ dốc đất, không gian đất

có liền khoản hay rải rác phân tán những hiểu biết đó cho phép chủ trangtrại tiến hành cải tạo, sử dụng, bồi dưỡng từng loại đất có hiệu quả phù hợp vớiyêu cầu của luật định

- Lựa chọn sử dụng quản lý tốt nguồn tài nguyen khí hậu trong pháttriển trang trại

Điều mà ai cũng biết là năng suất cây trồng cao hay thấp trước hết phụthuộc vào giống cây trồng, chế độ nước dinh dưỡng trong đất và khí hậu tốt hayxấu đối với mỗi loại cây trồng Đó là những yếu tố quan trọng nhất, có mốiquan hệ nhân quả sâu sắc nhất, chặt chẽ nhất và nghiêm khắc nhất Chỉ có thiên

Trang 17

nhiên mới là nguồn cung ứng dồi dào nhất, rẻ tiền nhất Nhưng thiên nhiênphân bố những yếu tố đó không đồng nhất theo lãnh thổ và diễn biến rất phứctạp Vì vậy muốn trang trại nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao nhất con ngườiphải nghiên cứu nó một cách toàn diện, nhận thức nó một cách đúng đắn nhất

để tiến hành quy hoạch phân vùng trang trại theo đơn vị lãnh thổ

Những quy luật sinh vật cũng như các quy luật tự nhiên (khí hậu, thờitiết, thủy văn ) đều hoạt động một cách tự nhiện Con người không thể ngăncản các quá trình đó và để tránh khỏi rủi ro chúng tai phải tổ chức sản xuấttrang trại thích nghi với điều kiện tự nhiên

Song việc khai hoang lập trang trại ở nước ta ở những vùng đồi núi, đấtdốc ở nước ta, do thiếu hiểu biết cần thiết đã chặt phá những khu rừng nguyênsinh, rừng tái sinh, đốn cả những đai rừng chắn gió mà chúng ta đã tạo dựnghàng trăm năm qua để chế ngự thiên tai bảo vệ mùa màng Theo Bộ Nôngnghiệp và PTNT hậu quả của quá trình đó hàng năm đã làm mất đi 100m3 đất,khoảng 200 tấn trong đó có 6 tấn mùn tương đương với 100 tấn phân chuồng

và 300 tấn đạm nguyên chất hoặc tương đướng với 1,5 tấn Sunfat đạm ở vùng

đồi núi nước ta Để phát triển trang trại theo hướng bền vững, mỗi địa phương,mỗi trang trại cần căn cứ vào kết quả phân vùng khí hậu nông nghiệp để xâydựng cho mình một lịch thời vụ thích hợp và một hệ thống cây trồng, vật nuôi

có lợi nhất, một chế độ luân canh, trồng xen, trồng gối, trồng lẫn hợp lý nhất.Làm được như vậy chắc chắn sẽ tận dụng tốt những tiềm năng khí hậu để sảnxuất quanh năm, đa dạng thời vụ, đa dạng nguồn gen giống cây trồng nângcao hiệu quả sản xuất trang trại

Có thể căn cứ vào miền khí hậu để lựa chọn cơ cấu cây trồng trong cáctrang trại theo bảng sau:

Trang 18

Bảng 2.2: Các miền khí hậu nông nghiệp và hướng chọn cây trồng nông nghiệp

(Dựa theo tài liệu của Viện khoa học kĩ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp và PTNT)

Các miền khí hậu nông nghiệp Năng lượng

mặt trời (tỉ kilocalo/ha/n

ăm)

Tổng nhiệt

độ cả năm (độ)

Số tháng

có nhiệt độ dưới 20 o

Chỉ số hạn mùa khô

(bốc hơi/mưa)

Chỉ số ẩm mùa mưa (mưa/ bốc hơi)

Năng suất cao nhất (tạ/ha)

Hướng chọn cây luân canh (cây

ngắn ngày)

2 Đông Bắc-Việt Bắc (Quảng Ninh,

Cao Lạng, Bắc Thái, Hà Tuyên)

Trang 19

f Kết cấu hạ tầng cơ sở:

Cơ sở hạ tầng là một yếu tố rất quan trọng, nếu hệ thống đường giaothông, thuỷ lợi mà tốt và thuận lợi làm động lực cho phát triển kinh tế trangtrại, lưu thông hàng hoá tốt và ngược lại

g Lao động:

ở nước ta nguồn lao động rất dồi dào, các trang trại thường thuê lao

động tham gia vào sản xuất kinh doanh trang trại với giá (18 - 25.000

đ/người/ngày), tuy nhiên lao động trình độ kỹ thuật đang làm cho các trangtrại không nhiều, hầu hết là lao động phổ thông Do vậy muốn ô kinh tế trangtrại cần đào tạo bồi dưỡng, tập huấn cho lao động của trang trại

2.1.5 Các tiêu chí nhận dạng trang trại

Dựa trên các đặc tính của kinh tế trang trại chúng ta xác định, nhậndạng trang trại về hai mặt, định tính và định lượng

+ Về định tính: đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất sản phẩmhàng hoá, tiêu chí này có sự thống nhất ở tất cả các nước có kinh tế trang trại

+ Về định lượng: thông qua các chỉ số cụ thể nhằm định dạng và phânbiệt đâu là trang trại và đâu không phải là trang trại từ đó phân loại quy môgiữa các trang trại

+ Trên thế giới: để nhận dạng thế nào là một trang trại, thế nào chưaphải là một trang trại, ở các nước phổ biến chỉ sử dụng tiêu chí định tính

Trang 20

chung có đặc trưng là sản xuất sản phẩm hàng hoá, không phải sản xuất tự cấp

tự túc Chỉ có một số nước sử dụng tiêu chí định lượng để nhận dạng trang trạinhư Mỹ, Trung Quốc Chủ yếu là các tiêu chí diện tích đất, giá trị sản lượnghàng hoá, trong đó tiêu chí về diện tích của các loại trang trại ở mỗi nước khácnhau tuỳ thuộc vào quỹ đất nhiều hay ít ở Nhật Bản, Đài Loan phân loạitrang trại có quy mô từ 0,3 ha - 10 ha trở lên [9]

+ ở Việt Nam: kinh tế trang trại được phát triển ở hầu hết các ngànhsản xuất nông - lâm - ngư nghiệp với quy mô và phương thức sản xuất đa dạng,phát triển Để thống nhất tiêu chí nhận biết trang trại, Bộ Nông nghiệp vàPTNT và Tổng cục Thống Kê đã ra thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN– TCTK ngày 23/06/2000 hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại.Tiếp đó là thông tư số 74/2003/TT – BNN ngày 04/07/2003, bổ xung mục IIIcủa thông tư liên tịch số 69 năm 2000/ TTLT – TCTK Tiêu chí để xác địnhkinh tế trang trại như sau chí sau:

- Tiêu chí định lượng:

Đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung: giá trị sản lượnghàng hoá, dịch vụ phải đạt bình quân 40 triệu đồng/năm trở lên Đối với cáctỉnh phía Nam và Tây Nguyên: giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ phải đạtbình quân 50 triệu đồng/năm trở lên

- Về quy mô sản xuất:

Trang trại trồng cây hàng năm: đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hảimiền Trung 2 ha; các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên  3 ha, trang trại trồng câylâu năm từ 3 ha trở lên Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha; trang trại lâm nghiệp 

10 ha đối với tất cả các vùng trong cả nước

Trang trại chăn nuôi đại gia súc: chăn nuôi sinh sản, lấy sữa 10 con trởlên, chăn nuôi lấy thịt: lợn từ 100 con trở lên; lợn sinh sản có thường xuyên từ

Trang 21

Trang trại chăn nuôi gia cầm: thường xuyên có 2.000 con trở lên, khôngtính đầu con dưới 7 ngày tuổi.

Trang trại nuôi trồng thuỷ sản: có diện tích mặt nước  2 ha (riêng đốivới nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

- Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản cótính chất đặc thù như: Trồng hoa cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong giống, thuỷsản và thuỷ đặc sản thì tiêu chí để xác định là giá trị sản lượng hàng hoá vàdịch vụ bình quân 1 năm (tiêu chí định ượng) Chỉ tiêu thứ hai là chỉ tiêu vềquy mô sản xuất của trang trại phản ánh đặc trưng các yếu tố sản xuất Đất đai,vốn (số đầu gia súc, gia cầm)

Tiêu chí xác định trang trại chỉ cần đạt một trong hai chỉ tiêu trên là vậndụng linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể Trong trường hợp sản xuất

đã định hình, đã có sản phẩm hàng hoá thì chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hoá

được đưa vào sử dụng để xác định, còn trong trường hợp cơ sở sản xuất đangtrong thời kỳ xây dựng, kiến thiết cơ bản chưa có sản phẩm hàng hoá thì sửdụng chỉ tiêu quy mô sản xuất Đất đai, vốn (số đầu gia súc Gia cầm) Theotôi, chỉ cần đưa ra chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hoá dịch vụ bình quân 1 nămhoặc quy mô sản xuất để xác định trang trại như sự điều chỉnh của Thông tư74/2003/TT – BNN là đủ, bởi vì đó là các chỉ tiêu phản ánh yếu tố quantrọng nhất của sản xuất trang trại Cụ thể là: khi cơ sở sản xuất nông nghiệp

đạt đến chỉ tiêu về sản lượng hàng hoá dịch vụ bình quân 1 năm hoặc chỉ tiêu

về quy mô sản xuất (đất đai, số lượng gia súc, gia cầm) theo tiêu chí của trangtrại nêu trên thì người chủ cơ sở sản xuất đó phải có vốn, trang thiết bị sảnxuất, trình độ tổ chức quản lý, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào sản xuất và tiếp cận thị trường hơn hẳn hộ nông dân sản xuất tự cấp, tự túc

Tuy nhiên chỉ tiêu về giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1năm hiện nay là 40 triệu đồng đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miềnTrung, 50 triệu đồng đối với các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên là hơi thấp,

đặc biệt là sau khi có phong trào “cánh đồng 50 triệu/ha” và “hộ có thu nhập

Trang 22

50 triệu đồng/năm”, vì nếu chỉ tiêu này sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn với chỉ tiêu

về quy mô sản xuất và sẽ có sự nhầm lẫn giữa trang trại và nông hộ sản xuấtgiỏi Do vậy ở tỉnh Hưng Yên tiêu chí xác định là trang trại được áp dụngtheo quyết định số 46/2005/QĐ-UB ngày 15/06/2005 của UBND tỉnh HưngYên và hướng dẫn số 51/CV-NNngày 21/09/2005 của Sở NN&PTNT về việcban hành quy định tạm thời về chính sách khuyến khích phát triển kinh tếtrang trại Cụ thể như sau:

1 Đối với hộ chuyên sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đượcxác định là trang trại phải đạt đồng thời hai tiêu chí về giá trị sản lượng hànghoá và quy mô sản xuất gồm:

- Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm phải từ 100triệu đồng trở lên

- Quy mô sản xuất:

+ Đối với trang trại trồng trọt: trồng cây hàng năm từ 0,7 ha trở lên; câylâu năm từ 1 ha trở lên

+ Đối với trang trại chăn nuôi: chăn nuôi bò lấy sữa, thường xuyên có

10 con trở lên; chăn nuoi trâu bò lấy thịt, thường xuyên có 30 con trở lên;chăn nuôi lợn nái sinh sản, thường xuyên có 20 mươi con trở lên; chăn nuoilợn thịt, thường xuyên có 100 con trở lên (không kể lợn sữa); chăn nuôi khépkín, thường xuyên có 10 lợn nái, 50 lợn thịt; chăn nuoi gia cầm thịt thườngxuyên có 1500 con trở lên (không tính đầu con dưới 7 ngày tuổi)

+ Đối với trang trại thuỷ sản: diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản

có từ 1 ha trở lên; diện tích mặt nước chuyên giống có từ 0,5 ha trở lên

2.2 Tình hình phát triển trang trại ở một số nước trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình phát triển trang trại ở một số nước trên thế giới

- ở Hà Lan các kết quả nghiên cứu cho thấy: 87% lượng sữa, 63% củcải đường, 85% rau quả tiêu dùng là do các trang trại cung cấp, khoảng 90%tín dụng được nhà nước bảo lãnh ở ngân hàng

Trang 23

- ở Pháp năm 1940 đã có 2,3 triệu trang trại quy mô 13ha/trang trại.Năm 1990 Chính phủ Pháp cho phép các trang trại tăng quy mô đất lên 28 ha.

Để trẻ hoá trang trại nhà nước giành một khoản tài chính cấp cho các chủtrang trại tuổi dưới 30 đi đào tạo về công nghệ và kỹ thuật mới, quản lý trangtrại, thịt rường và tiếp thị sản phẩm

- ở Mỹ quy mô trang trại từ 130 - 180ha, các trang trại ở Mỹ thườnghợp tác, phân công nhau trong phát triển Nhà nước làm nhiệm vụ điều tiết sảnxuất, hiện đại hoá cho trang trại, tạo ra hàng loạt các chính sách công bằngtrong hoạt động kinh doanh, có chính sách bảo hộ, trợ giá cho các trang trạikhi gặp rủi ro

- ở Nhật Bản năm 1945 đã có 5,7 triệu trang trại đến năm 1950 số trangtrại tăng lên 6,17 triệu trang trại, diện tích bình quân một trang trại 1,5ha Năm

1986, Chính phủ cho phép các chủ trang trại tích tụ ruộng đất để tăng quy môtrang trại lên 20-30ha Năm 1970, 1 ha trang rại chỉ sử dụng 1,75 lao động, đếnnăm 1980 - 1990 1 ha trang trại chỉ sử dụng từ 1 đến 1,1 lao động Các trangtrại ở Nhật cung cấp 81% nhu cầu thịt, 98% nhu cầu trứng, 89% nhu cầu sữa,78% nhu cầu rau quả Vì vậy lao động trang trại đã giảm nhanh từ 17 triệungười năm 1950 xuống còn 4 triệu người năm 1995 ở Nhật Bản trong quátrình phát triển tỷ lệ các trang trại sản xuất thuần nông giảm dần chỉ còn 15%năm 1999 Các trang trại kinh doanh tổng hợp tăng lên 85% năm 1999

Theo tài liệu của chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan đến cuốinhững năm 90, ở Tây Ây hầu hết các trang trại đều là trang trại gia đình, ởnước Mỹ trang trại gia đình chiếm 87% tổng số trang trại, 65% đất đai và gần70% giá trị nông sản của cả nước ở châu á đại bộ phận trang trại là trang trạigia đình và do các yếu tố của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có những đặc

điểm khác với những nước Âu - Mỹ về các yếu tố như mức bình quân đất đaitrên đầu người được tính là thấp khoảng 15 ha trong khi đó ở châu Âu là 0,25

Trang 24

ha, bắc Mỹ là 0,68 ha, Indonesia 3,7 ha, Thái Lan 4,28 ha, quy mô trang trạicủa tây Âu là 25 - 30 ha và Mỹ là 180 ha [10]

Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, cơ giới hoá - hiện đại hoácác nước phát triển và đang phát triển quan tâm Các trang trại ở các nướccông nghiệp phát triển, sức máy, cơ điện chiếm khoảng 80%, ở các nước đangphát triển chiếm khoảng 20%, các trang trại được ứng dụng ngày càng nhiềucác tiến bộ khoa học kỹ thuật như sinh học, hoá học, tin học… vào sản xuấtkinh doanh [10]

Trang trại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đảm bảocung cấp một cách cơ bản về nhu cầu nông sản phẩm trong nước mà còn xuấtkhẩu với số lượng hàng hoá lớn

Đối với vốn sản xuất kinh doanh: các chủ trang trại đều mong muốn có

đủ vốn để sản xuất kinh doanh thì ngoài nguồn vốn tự có của chủ trang trại,còn phải đi vay ngân hàng tín dụng, hoặc mua chịu vật tư Trên thực tế vayvốn tín dụng của các trang trại ngày càng nhiều và có xu hướng tăng Ví dụ: ởnhững năm 1945 hình thức vay mượn thông qua hàng hoá chiếm 42%, đếnnăm 1990 tăng lên 70 - 80%

Đối với lao động: hầu hết các lao động được làm việc ở các trang trại trênthế giới chủ yếu là lao động gia đình, vì có điều kiện trang bị máy móc hiện đại,

số lượng lao động trong trang trại không nhiều, bình quân mỗi trang trại có 1

-3 lao động chính, lao động làm thuê ở các trang trại trên thế giới chiếm khoảng

20 - 30% bao gồm cả lao động thường xuyên và lao động thời vụ

Đối với đất đai: phần lớn các trang trại sản xuất trên ruộng đất sở hữucủa gia đình Nhưng cũng có những trang trại phải lĩnh canh một phần hoặctoàn bộ ruộng đất của nhà nước, tư nhân Tiêu biểu là ở Pháp vào những nămcủa thập kỷ 90, số trang trại có ruộng đất riêng là 70%, 30% trang trại phảilĩnh canh một phần và 18% phải lĩnh canh toàn bộ ở Nhật Bản trước năm

1945 số trang trại có ruộng đất riêng chiếm 35%, sau năm 1950 số trang trại

Trang 25

2.2.2 Tình hình phát triển trang trại ở Việt Nam

Kể từ năm 1266 nhà Trần đã cho phép các vương hầu công chúa, phòmã, cung phi triệu tập dân nghèo khổ khai hoang miền ven biển, đắp đêngăn mặn khai phá đất bồi lập điền trang

Năm 1481 nhà Hậu Lê sử dụng tư binh, tù nhân, lính tráng ở địa phươngkhai hoang lập được 43 điền trang Năm 1802 - 1855 nhà Nguyễn đã ban hành

25 sắc luật cho phép chiêu mộ dân phiêu tán khẩn hoang lập đồn điền trangtrại phát canh thu tô

Năm 1890 cả nước có 108 đồn điền với tổng diện tích lên tới 10.898 ha,với quy mô 1ha/trang trại Năm 1912 tổng số đồn điền lên tới 2.355 đồn điền,với tổng quỹ đất 470.000ha, bình quân 200ha/đồn điền Cây trồng chủ yếu là

cà phê, cao su, hồ tiêu, bông, chè

Đến năm 1930 thực dân Pháp đã chiém 1,2 triệu ha bằng 1/4 đất canhtác lúc bấy giờ lập ra 4.000đồn điền - trang trại với quy mô bình quân khoảng300ha/trang trại

Từ năm 1475 - 1986 những đồn điền trang trại cú của tư bản được nhànước chuyển thành các nông trường quốc doanh Ví dụ các nông trường càphê ở Đaklac được hình thành từ các đồn điền sau đây:

- Nông trường Phước An, từ các đồn điền của Cada, Dương Văn Minh,Tám Mập, Lý Chính

- Nông trường 11/3 được hình thành từ các đồn điền Dinfan, Tư Và,Mewall

- Nông trường Đoàn Kết được hình thành từ các đồn điền của Rossi,Trần Thiện Tích

- Nông trường Thắng Loại - từ đồn điền Hồ Trọng Yến, Trần Trọng Lưu,Fubert, Tú Hoa

Trang 26

- Nông trường Eapock - từ đồn điền Larace, Freda, Chu Hoà Lâm.

- Nông trường Đức Lập - trước là đồn điền của Mai - dan sau là củaTrần Trọng Lưu

- Nông trường EaTung - từ đồn điền Tân Châu

- Nông trường EaTiêu - từ đồn điền Colonel, Rodon, Thai Quang Hiền,Trần Trọng Lưu

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2000 cả nước cókhoảng 113.000 trang trại, diện tích bình quân mỗi trang trại là từ 3 - 5 ha.Tổng số 113.000 trang trại có 62% chủ trang trại là nông dân thuần tuý, 38%còn lại thuộc các thành phần như công chức nhà nước, viên chức, lực lượng vũtrang, cán bộ về hưu

Vốn đầu tư mỗi trang trại khoảng 200 triệu đồng, trong đó 85% là vốn

tự có, 5% là vốn vay cộng đồng, 10% là vay qua ngân hàng và các dự án

Kinh tế trang trại tạo việc làm cho hơn 300.000 lao động gia đình,100.000 lao động thường xuyên và 30 triệu ngày công lao động thời vụ Tiềncông lao động mỗi tháng ở miền Bắc 350.000 đồng/tháng, ở miền Nam600.000 đồng/tháng

Hệ thống nông nghiệp trang trại đã khai phá 300.000 ha đất trống đồinúi trọc và đất hoang hoá, huy động hơn 20.000 tỷ đồng vốn đầu tư, tuy nhiêncác trang trại ở các vùng khác nhau có sự đầu tư khác nhau, ví dụ:

- Đăklăck: 619 triệu đồng/trang trại

- Lâm Đồng: 553 triệu đồng/trang trại

- Bình Dương: 490 triệu đồng/trang trại

- Quảng Ninh: 113 triệu đồng/trang trại

- Yên Bái: 96 triệu đồng/trang trại

Trang 27

- Nghệ An: 88 triệu đồng/trang trại

Thậm chí tại thời điểm 4/1999 có trang trại đầu tư tới 1,107 - 1,702 tỷ

đồng loại hình này có 24 trang trại

Kinh tế trang trại ở nước ta trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài và pháttriển theo quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hoá, mô hình kinh tếtrang trại mới được phát triển tốt ở những năm gần đây, ta có thể khái quát lạinhư sau:

Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 19 trong thời kỳ phong kiến của dân tộc cónhiều triều đại phong kiến có những chính sách khai khẩn đất hoang bằngcách lập đồn điền hoặc danh điền thái ấp

Theo Đại việt sử ký toàn thư thì thời kỳ Lý - Trần đã có điền trang củacác tầng lớp quý tộc Vào những năm 1166, triều đình đã ra lệnh cho cácvương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người có sản nghiệpkhai khẩn ruộng hoang lập điền trang [3]

Thời Lê - Nguyễn thì các trại ấp của các công thần và các quan lại thờihậu Lê có các loại mô hình của trại ấp ban cấp về cơ bản thuộc sở hữu nhànước và trại ấp khai hoang

Từ thế kỷ 19, thực dân Pháp xâm lược nước ta, chính sách bóc lột thuộc

địa của Pháp trong sản xuất nông nghiệp đồn điền gắn liền với sản xuất nôngsản hàng hoá Các trang trại thời này chủ yếu là đồn điền của người Pháp Đếnngày 31/12/1943 theo số liệu thống kê của Pháp, người Pháp chiếm 1 triệu ha

đất trồng trên cả nước và tổ chức thành 3928 đồn điền chủ yếu là đồn điềntrồng trọt và đồn điền chăn nuôi, phát triển mạnh là đồn điền chuyên trồngcây công nghiệp như đồn điền cao su, cà phê, chè trên quy mô lớn được ngườiPháp kinh doanh tập trung theo kiểu đồn điền tư bản chủ nghĩa [3]

- Giai đoạn 1954 - 1987, giai đoạn này nhà nước đã tiến hành xây dựngcác HTX, các nông, lâm trường quốc doanh, ruộng đất, các tư liệu sản xuấtthuộc quyền sở hữu tập thể Do xây dựng và thực hiện theo nền kinh tế tập

Trang 28

trung, quan liêu bao cấp nên kinh tế nước ta giai đoạn này phát triển rất trì trệ,thường xuyên phải nhập khẩu lương thực với số lượng lớn, riêng năm 1979phải nhập khẩu 2,2 triệu tấn lương thực.

- Giai đoạn từ năm 1988 đến nay, từ khi thực hiện nghị quyết 10 của BộChính trị (khoá VI) về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân từ đó

đã đặt nền móng cho kinh tế trang trại phát triển Với những thành tựu củacông cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp đã có những bước phát triển vượtbậc, nhiều hộ nông dân bước đầu đã có tích luỹ, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tếtrang trại phát triển

Sau Nghị quyết TW5 (khoá VII), hội nghị nghiên cứu kinh tế trang trại(7/1998) của Ban kinh tế Trung ương và Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày02/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về kinh tế trang trại, từ đó các tỉnhthành phố đã tiến hành khảo sát, hội thảo để đánh giá tình hình phát triển kinh

tế trang trại và đề xuất các chính sách, giải pháp nhằm đưa kinh tế trang trạiphát triển ngày càng hiệu quả theo định hướng CNH - HĐH nông nghiệp,nông thôn [3],[7]

Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế trang trại và sự hưởng ứng rộngrãi của nhân dân nhiều vùng và nhiều thành phần khác làm kinh tế trang trạichứng tỏ sự phát triển này đáp ứng đòi hỏi khách quan của nông nghiệp nôngthôn Đây là xu thế phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách pháp luậtcủa nhà nước, đưa sản xuất nông nghiệp lên sản xuất hàng hoá, đặc biệt quantâm ở vùng trung du và miền núi, từ đó có bước đột phá mới

Thực hiện thông tư liên tịch số 69/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổng cục Thống kê Theo kết quả tổng

điều tra nông thôn nông nghiệp và thủy sản năm 2006 cả nước có 113.699trang trại, so với năm 2001 tăng 52 682 trang trại (+ 86,4%)[15]

Trang 29

B¶ng 2.3: Ngµnh nghÒ s¶n xuÊt chÝnh cña trang tr¹i

DiÔn gi¶i

Tæng sè trang tr¹i

Sè trang tr¹i trång c©y hµng n¨m

Sè trang tr¹i trång c©y c«ng nghiÖp l©u n¨m

Sè trang tr¹i trång c©y ¨n qu¶ l©u n¨m

Sè trang tr¹i ch¨n nu«i

Sè trang tr¹i l©m nghiÖp

Sè trang tr¹i nu«i trång thuû s¶n

Trang 30

Bảng 2.3 cho thấy, cả nước có 108.371 trang trại, chưa kể trang trại sảnxuất kinh doanh tổng hợp là 5328 trang trại chiếm 4,69 % , trong đó trang trạinuôi trồng thuỷ sản chiếm tỷ lệ cao nhất 33.711 trang trại chiếm 29,65%,trồng cây hàng năm 32.575 trang trại bằng 28,65%, trồng cây công nghiệp lâunăm 18.121 bằng 15,94%, trồng cây ăn quả lâu năm 4.723 bằng 4,15%, chănnuôi 16.594 chiếm 14,59%, trang trại lâm nghiệp 2.640 chiếm 2,32%, nuôitrồng thuỷ sản

Đồng bằng sông Hồng trang trại chăn nuôi chiếm ưu thế với 7.436 trangtrại, Đồng bằng sông Cửu Long các trang trại thuỷ sản chiếm ưu thế với24.634 TT và trang trại trồng cây hàng năm là 24.333, trang trại cây ăn quảlâu năm là 1966 trang trại Vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Bắc Trung bộchiếm số lượng lớn ở các trang trại trồng cây lâu năm Vậy cơ cấu các loạihình trang trại được thể hiện rõ ở vị trí địa lý từng vùng kinh tế, vùng núi, gò

đồi chủ yếu phát triển các trang trại trồng cây lâu năm, vùng đồng bằng lạiphát huy thế mạnh của mình là phát triển các trang trại trồng cây hàng năm,trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản do có điều kiện phát triển và thịtrường tiêu thụ rộng lớn Những năm gần đây số trang trại trồng cây hàng năm

có xu hướng giảm, các trang trại trồng cây ăn quả, chăn nuôI, nuoi trồng thuỷsản vad sản xuất kinh doanh tổng hợp ngày càng tăng

Trang 31

Bảng 2.4: Bình quân diện tích đất của một số loại hình trang trại

ĐVT: ha

Diễn giải Trang trại trồng

cây hàng năm

Trang trại trồng cây lâu năm

Trang trại lâm nghiệp

Trang trại nuôi trồng thuỷ sản

Nguồn: Kết quả kiểm tra NT, NN và TS 2006

Quy mô của các trang trại nước ta qua các chỉ tiêu về đất đai, lao động,vốn đầu tư, cho chúng ta thấy đây là những thành công của chủ trương đúng đắn,

đổi mới chính sách phát triển kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang trại Tình hình

sử dụng đất đai của một số loại hình trang trại được thể hiện qua Bảng 2

Các trang trại tư hữu, giải quyết được việc làm cho một lượng lượng lao

động lớn dư thừa ở nông thôn, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định đờisống của người lao động Tại thời điểm 1/7/2006, các trang trại đã sử dụng

391 nghìn lao động làm việc thường xuyên Thu nhập bình quân 1 lao độnglàm việc thường xuyên của trang trại là 18 triệu đồng/năm cao gấp 2 lần so vớilao động nông thôn.[15]

Bảng 2.5 lao động thường xuyên toàn quốc bình quân một trang trại dao

động từ 2,9 người (trang trại chăn nuôi) đến 3,7 người (trang trại lâm nghiệp),trang trại cây hàng năm, lâu năm và thuỷ sản là 3,5 người

Trang 32

Bảng 2.5: Lao động của trang trại

ĐVT: người

Diễn giải

Số lao động thường xuyên BQ 1 trang trại cây hàng năm

Số lao

động thường xuyên BQ

1 trang trại cây lâu năm

Số lao

động thường xuyên BQ

1 trang trại chăn nuôi

Số lao

động thường xuyên BQ

1 trang trại lâm nghiệp

Số lao

động thường xuyên BQ

1 trang trại thuỷ sản

Nguồn: Kết quả điều tra NT, NN và TS 2006

Được sự tạo điều kiện của nhà nước về mọi mặt như xây dựng cơ sở hạtầng, dự án đầu tư, việc hình thành và phát triển trang trại chủ yếu dựa vào nộilực về vốn của chủ trang trại, từ đó cũng cho ta thấy được kết quả sản xuấtkinh doanh

Qui mô vốn sản xuất, kinh doanh của trang trại tăng nhanh, tổng số vốnsản xuất kinh doanh của các trang trại là 27.219,7 tỷ đồng, bình quân một trangtrại 239,4 triệu đồng, tăng 104,3 triệu đồng sao với năm 2001(+77,2%) Trangtrại phát triển theo hướng hàng hoá ngày càng lớn, gắn với thị trường Tổng thusản xuất kinh doanh của các trang trại năm 2006 đạt 19.388 tỷ đồng, bình quân

170 triệu đồng một trang trại, gấp 1,9 lần so với năm 2001 Giá trị sản phẩm vàdịc vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bán ra năm 2006 là 18.258 tỷ đồng, bìnhquân 1 trang trại 161 triệu đồng gấp 1,9 lần, tỷ suất hàng hoá là 95,8 %[15]

Trang 33

B¶ng 2.6: Vèn vµ tæng thu s¶n xuÊt kinh doanh binh qu©n cña trang tr¹i

SXKD

BQ 1 TT

Tæng thu SXKD BQ 1TT

Vèn SXKD

BQ 1TT

Tæng thu SXKD BQ 1 TT

Vèn SXKD

BQ 1TT

Tæng thu SXKD BQ 1 TT

Vèn SXKD BQ 1TT

Tæng thu SXKD BQ 1 TT

Trang 34

Bảng 2.6 cho chúng ta thấy số vốn sản xuất kinh doanh và tổng thusản xuất kinh doanh bình quân một trang trại trong một năm ở các vùng.Trang trại trồng cây lâu năm bình quân toàn quốc có số vốn sản xuất kinhdoanh là lớn nhất 433,3 triều đồng trong khí đó tổng thu SXKD là 138,1triệu đồng, trong đó vùng Đông năm bộ số vốn SXKD là cao nhất 640,1triều đồngcho một trang trại cây lâu năm; trang trại chăn nuôi có số vốnSXKD là 249,6 triệu đồng và tổng thu SXKD là 265 triệu đồng là trangtrại có tổng thu SXKD cao nhất so với vốn SXKD

Nhận xét:

Thực tế trên đã khẳng định chủ trương phát triển kinh tế trang trại làhoàn toàn đúng đắn Kinh tế trang trại hơn hẳn kinh tế hộ nông dân về khaithác tiềm năng đất đai, lao động, huy động nguồn vốn đầu tư trong dân, ápdụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, tạo ra nhiềusản phẩm nông, lâm nghiệp, thuỷ sản hàng hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùngtrong nước và xuất khẩu, thu hút một lực lượng lao động dư thừa đáng kể ởnông thôn, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động Đồngthời, nhiều trang trại là những hình mẫu về tổ chức sản xuất và phát triển kinh

tế ở nông thôn theo cơ chế thị trường Phát triển kinh tế trang trại đã góp phầntích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và chuyển dịchcơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn tạo ra vùng sản xuất tập trung làm tiền

đề cho công nghiệp chế biến sản phẩm nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đưa côngnghiệp và các ngành nghề dịch vụ vào nông thôn, làm thay đổi bước đầu bộmặt nông thôn

Trang 35

3 Đối tượng, thời gian, địa điểm, nội dung và phương pháp

nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khí hậu, đất đai và kinh tế – xã hội của huyện Khoái Châu

- Các trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu

3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện tại huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên từ tháng6/2008 đến tháng 6/2009 Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng và đưa ra cácgiải pháp phát triển hệ thống trang trại nông nghiệp

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của huyệnKhoái Châu

- Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở huyệnKhoái Châu

- Nghiên cứu hệ thống sản xuất của một số loại hình trang trại chủ yếutrên địa bàn huyện Khoái Châu nhằm phát hiện ra những yếu tố ảnh hưởnglàm hạn chế ở từng khâu và của từng hệ thống, từ đó đề xuất các giải pháp đểphát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Các phương pháp được lựa chọn trong nghiên cứu

- Phương pháp thống kê kinh tế: phương pháp này được vận dụng để lựachọn điểm nghiên cứu, lựa chọn các tiêu thức so sánh và phân tích

- Phương pháp PRA, RRA

Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của quá trìnhnghiên cứu Thông qua việc đi thực địa để quan sát, phỏng vấn các chủ trại,

Trang 36

chủ cơ sở chế biến, tiêu thụ để có những thông tin về vấn đề nghiên cứu vàvùng nghiên cứu Từ đó lên kế hoạch cho các công việc nghiên cứu tiếp theo

và đưa ra những hướng giải quyết sơ bộ

Đánh giá nhanh nông thôn có người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm củatrang trại tham gia nhằm tìm hiểu sự vận hành của hệ thống sản xuất tiêu thụsản phẩm của trang trại

3.4.2 Vận dụng các phương pháp trong nghiên cứu

3.4.2.1 Thu thập số liệu, tài liệu

* Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp

Thu thập và tính toán từ những số liệu đã công bố của các cơ quanThống kê Trung ương, địa phương, các tạp chí báo chuyên nghành, các tài liệucủa các cơ quan, các huyện, thành phố tỉnh Hưng Yên, các báo cáo tổng kếtcủa các đơn vị sản xuất kinh doanh nông sản trên địa bàn huyện Khoái Châu

*Thu thập số liệu từ các trang trại

- Chọn mẫu điều tra: Theo số liệu của Phòng thống kê huyện KhoáiChâu, toàn huyện có 4 loại hình sản xuất trang trại chính là:

+ Trang trại trồng cây lâu năm ( điều tra ở 20 trang trại )

+ Trang trại chăn nuôi ( điều tra ở 17 trang trại )

+ Trang trại Thuỷ sản ( điều tra ở 15 trang trại )

+ Trang trại kinh doanh tổng hợp ( điều tra ở 28 trang trại )

Các trang trại nói trên được phân bố trên các xã, thị trấn của huyện vớicác thông tin: Diện tích trang trại, nguồn vốn, lao động, hiệu quả kinh tế, cơcấu chi phí sản xuất

Việc nhận biết các trang trại chúng tôi đưa vào các tiêu chuẩn sau:

Về tiêu chí: giá trị sản lượng hàng hoá (doanh thu ) trong một năm.

Nguyên tắc cơ bản để định lượng tiêu chí này là căn cứ vào mứcdoanh thu trung bình tiên tiến của hộ nông nghiệp trong vùng hoặc tiểu

Trang 37

vùng Và như vậy mức doanh thu của trang trại sẽ là một đại lượng biến đổitheo từng thời kỳ.

Hầu hết các tỉnh ở nước ta đều dựa theo nguyên tắc này để xác địnhmức doanh thu tối thiểu của trang trại

Năm 2004 Khoái Châu có 1210 hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏicấp tỉnh với mức lãi từ 15 triệu đồng đến 100 triệu đồng/năm Doanh thu bìnhquân một năm của các hộ này đạt từ 30-45 triệu đồng Vì vậy, tạm thời ấn

định doanh thu của một trang trại phải đạt tối thiểu 40 triệu đồng/năm đối vớitất cả các loại trang trại

Tuy nhiên đối với những trang trại đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản(lập vườn cây, ao cá ) thì mức doanh thu có thể thấp hơn nhưng phaỉ đạt đượccác quy định khác như diện tích canh tác, quy mô vốn đầu tư

-Về tiêu chí vốn đầu tư: tổng vốn đầu tư (luỹ kế ).

Mức vốn đầu tư được xác định phải đảm bảo 2 yêu cầu:

+Phù hợp với quy mô diện tích hoặc quy mô đầu gia súc, gia cầm củatrang trại Ví dụ: một trang trại sử dụng 1 ha đất để trồng cây ăn quả thì vốn

đầu tư tương ứng để lập vườn cây sẽ không thấp hơn 40 triệu đồng Hoặc mộttrang trại chăn nuôi thì vốn đầu tư để nuôi 100 con lợn, hoặc 1500 con giacầm cũng không dưới 40 triệu đồng

+Phù hợp với mức doanh thu hàng năm mà vốn đầu tư (chủ yếu là đầutư xây dựng cơ bản) có thể tạo ra trong điều kiện hiện tại

Xuất phát từ yêu cầu đó, chúng tôi quy định mức vốn đầu tư (luỹ kế ) đểthiết lập một trang trại tối thiểu là 40 triệu đồng cho tất cả các loại trang trại

-Về tiêu chí: quy mô diện tích đất sử dụng hoặc quy mô đàn gia súc, gia cầm.

Việc lượng hoá tiêu chí chi phí này phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

Trang 38

+Phù hợp với quy mô diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu ngườicủa từng địa phương, từng vùng Những nơi có quỹ đất nông nghiệp lớn thìmức diện tích tối thiểu và bình quân của trang trại cũng phải lớn và ngược lại.

+Phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền nông nghiệp đi lên sảnxuất hàng hoá; tức là quy mô, diện tích hoặc đầu con gia súc, gia cầm sẽ biến

đổi trong quá trình hình thành và phát triển của trang trại

+Đảm bảo sự cộng tác tích cực và có hiệu quả của chính sách Nhà nước

đối với kinh tế trang trại nhằm khuyến khích hộ nông dân mở rộng quy mô,làm ăn kiểu trang trại ngày càng nhiều Theo yêu cầu này trang trại mới nảysinh không nên đề ra quy mô diện tích hoặc đầu con gia súc, gia cầm quá cao

so với kinh tế hộ trong vùng

+Phải gắn chặt việc lượng hoá tiêu chí quy mô diện tích hoặc đầu congia súc, gia cầm với việc lượng hoá các tiêu chí khác, nhất là vốn đầu tư

Những yêu cầu trên đảm bảo việc nhận dạng trang trại một cách khách quan,khoa học, tránh phiếm diện, cảm tính

Từ thực tiễn phát triển kinh tế trang trại ở nước ta chúng tôi quy địnhmức tối thiểu phải có của các trang trại như sau:

-Đối với trang trồng trọt và nuôi thuỷ sản: diện tích đất là 0,5 ha

-Đối với trang trại chăn nuôi: 100 con lợn hoặc 1500 con gia cầm

Nghiên cứu biện pháp khắc phục những hạn chế của trang trại

*Quy mô trang trại điều tra mở rộng ở 20 hộ chuyên trồng cây lâu nămgồm các thông tin: Diện tích, chi phí sản xuất

*Vấn đề đầu tư trong trang trại trồng trồng cây lâu năm

+Hiệu quả sản xuất theo mức đầu tư triệu đồng/1ha

Theo 3 mức: trung bình thấp 100 triệu đồng/ha

Trung bình trung bình 150 triệu đồng/haTrung bình cao 200 triệu đồng/ha

*Hiệu quả sản xuất theo mức đầu tư trên 1 ha ao

Trang 39

Theo 3 mức: Trung bình thấp 80 triệu đồng/ha

Trung bình trung bình 120 triệu đồng/haTrung bình cao 160 triệu đồng/ha

*Hiệu quả sản xuất theo mức đầu tư trên 100 con lợn thịt

Theo 3 mức: Trung bình thấp 100 triệu đồng/100 con lợn

Trung bình trung bình 150 triệu đồng/100 con lợn

Trung bình cao 200 triệu đồng/100 con lợn

Trang 40

* Đánh giá hiệu quả của các mô hình trang trại.

* Tổng thu nhập GR = (Y1xP1) + (Y2 xP2) + (Y3xP3)

Trong đó: Y1,Y2,Y3 là các sản phẩm chính, phụ trong hệ thống trang trại

P1,P2,P3 là giá ứng với từng sản phẩm ở thời điểm thị trường

* Thu nhập thuần:

- Lãi thuần: RAVC = GR -TVC

GR: Giá trị thu từ các sản phẩm hệ thống và dịch vụ trong thời gian 1

vụ hoặc 1 năm, hoặc 1 chu kỳ sản xuất

TVC: Các chi phí khả biến như tiền mua vật tư, giống, phân bón, tiềnnhân công, chi phí dịch vụ trong thời gian tạo ra sản phẩm,

Khi tính khấu hao tài sản cố định áp dụng cách làm trực tiếp

- Mức khấu hao = Giá mua – Giá thời điểm khấu hao

Thời gian sử dụng

3.4.2.2 Công cụ xử lý số liệu

Số liệu điều tra được phân tổ và xử lý trên máy tính bằng phần mềmExel Tính toán các chi tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại

3.4.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

-Phân tích thống kê: Vận dụng các chỉ tiêu như số tuyệt đối, số tương

đối, số bình quân, tốc độ phát triển bình quân để phân tích mức độ và xuhướng biến động của các yếu tố liên quan đến hệ thống sản xuất-chế biến-tiêuthụ sản phẩm của trang trại

Ngày đăng: 20/04/2014, 21:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hữu ảnh (1997), Tài chính nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính nông nghiệp
Tác giả: Lê Hữu ảnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
2. Lê Hữu ảnh (2000), Quản lý tài chính và hạch toán trong các trang trại, Trường ĐHNN I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính và hạch toán trong các trang trại
Tác giả: Lê Hữu ảnh
Năm: 2000
3. Ban Vật giá Chính phủ (2000), Tư liệu về kinh tế trang trại, NXB thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu về kinh tế trang trại
Tác giả: Ban Vật giá Chính phủ
Nhà XB: NXB thànhphố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
4. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2003), Báo cáo đánh giá tình hình phát triển kinh tế trang trại sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tìnhhình phát triển kinh tế trang trại sau 3 năm thực hiện Nghị quyết03/2000/NQ-CP
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2003
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại Bảng toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại Bảng toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
8. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), Kinh tế nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB Nôngnghiệp
Năm: 1997
9. Trần Đức (1997), Kinh tế trang trại, sức mạnh của nền nông nghiệp Pháp.NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trại, sức mạnh của nền nông nghiệp Pháp
Tác giả: Trần Đức
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1997
10.Trần Đức, Nguyễn Điền, Nguyễn Huy Năng (1993), Kinh tế trang trạigiađình trên thế giới và châu á, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trạigia"đình trên thế giới và châu á
Tác giả: Trần Đức, Nguyễn Điền, Nguyễn Huy Năng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1993
11. Frank Ellis (1995), Chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển
Tác giả: Frank Ellis
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
12. Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh (2000), Phát triển kinh tế hàng hóa trong nông thôn ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, thực trạng, giải pháp.NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hàng hóa trongnông thôn ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, thực trạng, giải pháp
Tác giả: Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
13. Lê Mạnh Hùng, Nguyễn Sinh Cúc, Hoàng Vĩnh Lê (1997), Thực trạng công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạngcông nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Lê Mạnh Hùng, Nguyễn Sinh Cúc, Hoàng Vĩnh Lê
Nhà XB: NXBNông nghiệp
Năm: 1997
14. Nguyễn Đình Hưng (1995), Nông nghiệp và các cải cách vĩ mô. NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp và các cải cách vĩ mô
Tác giả: Nguyễn Đình Hưng
Nhà XB: NXBThống kê
Năm: 1995
16. Phạm Viết Khánh (2001), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế các mô hình kinh tế trang trại ở tỉnh Hải Dương. Luận án thạc sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinhtế các mô hình kinh tế trang trại ở tỉnh Hải Dương
Tác giả: Phạm Viết Khánh
Năm: 2001
17. Nguyễn Thị Lan, Phạm Tiến Dũng (2006),Phương pháp thí nghiệm,NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thí nghiệm
Tác giả: Nguyễn Thị Lan, Phạm Tiến Dũng
Nhà XB: NXBNông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
19. Bùi Thị Sen (2004), Báo cáo tóm tắt thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại huyện Lạc Thuỷ - tỉnh Hoà Bình, LuËn văn thạc sĩ kinh tế, ĐHNN I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt thực trạng và giải pháp chủ yếunhằm phát triển kinh tế trang trại huyện Lạc Thuỷ - tỉnh Hoà Bình
Tác giả: Bùi Thị Sen
Năm: 2004
20. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên (2004), Báo cáođánh giá tình hình kinh tế trang trại tỉnh Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo
Tác giả: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên
Năm: 2004
21. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên (2006), Báo cáođánh giá tình hình kinh tế trang trại tỉnh Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo
Tác giả: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên
Năm: 2006
22. Phạm Chí Thành (1993), Hệ thống nông nghiệp, NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nông nghiệp
Tác giả: Phạm Chí Thành
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1993
23. Phạm Chí Thành (2008), Bài giảng nông lâm kết hợp, NXB nông nghiệp 24. Nguyễn Huy Trí (1998), bải giảng Hệ thống nông nghiệp,NXB Nôngnghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng nông lâm kết hợp
Tác giả: Phạm Chí Thành
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2008
26. Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ nông dân
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.2: Nguyên nhân chênh lệch giữa giá cả và giá trị hàng hoá - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Sơ đồ 2.2 Nguyên nhân chênh lệch giữa giá cả và giá trị hàng hoá (Trang 13)
Bảng 2.2: Các miền khí hậu nông nghiệp và hướng chọn cây trồng nông nghiệp - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 2.2 Các miền khí hậu nông nghiệp và hướng chọn cây trồng nông nghiệp (Trang 18)
Bảng 2.5 lao động thường xuyên toàn quốc bình quân một trang trại dao - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 2.5 lao động thường xuyên toàn quốc bình quân một trang trại dao (Trang 31)
Bảng 2.5: Lao động của trang trại - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 2.5 Lao động của trang trại (Trang 32)
Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu khí tượng huyện Khoái Châu từ năm 1995 - 2008 - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu khí tượng huyện Khoái Châu từ năm 1995 - 2008 (Trang 42)
Hình 4.1. Một số chỉ tiêu khí tượng huyện Khoái Châu - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Hình 4.1. Một số chỉ tiêu khí tượng huyện Khoái Châu (Trang 43)
Bảng 4.3. Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 của huyện Khoái Châu - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 4.3. Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 của huyện Khoái Châu (Trang 51)
Hình 4.2. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Khoái Châu năm 2008 - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Hình 4.2. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Khoái Châu năm 2008 (Trang 52)
Bảng 4.4: Thành phần dinh dưỡng đất của Khoái Châu - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 4.4 Thành phần dinh dưỡng đất của Khoái Châu (Trang 54)
Bảng 4.7. Lao động bình quân của các trang trại - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 4.7. Lao động bình quân của các trang trại (Trang 59)
Bảng 4.8. Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 4.8. Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại (Trang 66)
Bảng 4.9: Cơ cấu chi phí sản xuất của các trang trang trại 2008 - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 4.9 Cơ cấu chi phí sản xuất của các trang trang trại 2008 (Trang 68)
Bảng 4.15. Hiệu quả sản xuất theo mức đầu tư trên 100 con lợn thịt nuôi ở - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 4.15. Hiệu quả sản xuất theo mức đầu tư trên 100 con lợn thịt nuôi ở (Trang 72)
Bảng 4.14. Hiệu quả sản xuất theo mức đầu tư trên 1 ha đất ao - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 4.14. Hiệu quả sản xuất theo mức đầu tư trên 1 ha đất ao (Trang 72)
Bảng 4.18. Quy hoạch phát triển cây ăn quả của huyện Khoái Châu giai đoạn 2010 - 2020 - Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Bảng 4.18. Quy hoạch phát triển cây ăn quả của huyện Khoái Châu giai đoạn 2010 - 2020 (Trang 91)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w