1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc

116 489 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hồng Minh
Trường học Viện Sau Đại Học, Bộ môn Di truyền - Chọn giống cây trồng, Khoa Nông học
Chuyên ngành Nông nghiệp, Cây trồng
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề.

Rau là một nhu cầu thiết yếu của mỗi người Khi đời sống càng được nânglên thì nhu cầu về rau càng tăng cao và khắt khe hơn Để đáp ứng được yêu cầutiêu dùng thì cần có những loại rau giàu dinh dưỡng, dễ chế biến, có thể sử dụnglâu dài, liên tục Cà chua là một trong những loại rau đáp ứng được các yêu cầutrên

Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill), thuộc họ cà (Solanaceae), là loại

rau ăn quả có nguồn gốc từ Nam Mỹ Trong quả cà chua chín có chứa nhiềuđường, vitamin, khoáng chất quan trọng (Ca, Fe, Mg, P…) và các loại axit hữu cơ

Cà chua có thể sử dụng dễ dàng từ ăn tươi, chế biến, làm nguyên liệu cho sản xuất

Về mặt y học, cà chua có tính mát, vị ngọt giúp tạo năng lượng, tăng sức sống, cânbằng tế bào, giải nhiệt, điều hoà bài tiết, tăng khả năng tiêu hoá Không chỉ vậy, càchua còn có thể trồng dễ dàng ở nhiều khu vực trong nhiều điều kiện thời tiết khácnhau và có thể cho thu sản phẩm trong một thời gian tương đối dài Do đó, cà chua

là một trong những loại rau được nhiều người ưa dùng nhất

Sản xuất cà chua ở Việt Nam tập trung nhiều ở đồng bằng bắc bộ và trồngchủ yếu trong vụ đông nên hiệu quả kinh tế không cao Để nâng cao hiệu quả từsản xuất cà chua và nhằm đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng thì sản xuất cà chuaxuân hè đã được đưa vào cơ cấu mùa vụ từ những năm 70 của thế kỷ 20 Sản xuất

cà chua xuân hè có ưu điểm: tăng cao hiệu quả sản xuất, giải quyết vấn đề rau giáp

vụ, nguyên liệu cho các nhà máy chế biến cũng như nguồn lao động dư thừa… Tuynhiên, sản xuất cà chua xuân hè cũng gặp không ít khó khăn: điều kiện ngoại cảnhkhông phù hợp cho sinh trưởng, phát triển, tạo năng suất và chất lượng cà chua.Hơn nữa chúng ta chưa có một bộ giống phù hợp dành riêng cho sản xuất vụ xuân

hè Để sản xuất cà chua xuân hè trở thành một vụ chính trong công thức luân canhthì cần phải chọn tạo một bộ giống tốt với quy trình sản xuất riêng dùng vụ xuân

Trang 2

Với điều kiện ngoại cảnh ở vụ xuân hè, một giống được coi là tốt nếu có đầy

đủ các đặc tính sau: sinh trưởng, phát triển mạnh, cho năng suất, phẩm chất cao,khả năng chống chịu các loại sâu bệnh tốt trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao.Hiện nay, trên thị trường đã có những giống đáp ứng tương đối tốt các điều kiệntrên như: HT7, MV1, VR2, HT21, HT42, HT160, PT18…Tuy nhiên, so với nhucầu của sản xuất thì bộ giống này còn quá khiêm tốn

Để góp phần làm đa dạng hơn bộ giống cà chua trồng trong điều kiện trái vụ,được sự đồng ý của Viện Sau Đại học, Bộ môn Di truyền - Chọn giống cây trồng,

Khoa Nông học và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hồng Minh, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp

lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc”

* Đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển, cấu trúc cây của các tổ hợp lai

cà chua trong hai thời vụ

* Đánh giá khả năng đậu quả của các tổ hợp lai cà chua ở trái vụ

* Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên đồng ruộng của các tổ hợp lai ởhai thời vụ

* Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp lai

* Xác định một số chỉ tiêu về hình thái và chất lượng quả

1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài.

Trang 3

Từ kết quả nghiên cứu đạt được, đề tài đưa ra một số tổ hợp lai cà chua cótriển vọng, có khả năng trồng trái vụ, góp phần làm phong phú hơn cho bộ giống

cà chua hiện có

1.4 Phạm vi nghiên cứu.

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học, đánh giá tínhthích ứng thông qua các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, chống chịu một số loạibệnh hại chính, khả năng cho năng suất, đặc điểm cấu trúc cây, hình thái và phẩmchất quả với mục đích phục vụ nhu cầu ăn tươi, chế biến

Trang 4

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc, phân loại và giá trị của cây cà chua

2.1.1 Nguồn gốc, phân bố của cây cà chua

Nhiều nghiên cứu cho rằng, cà chua có nguồn gốc ở Nam Mỹ và là mộttrong những cây trồng quan trọng của người Anh Điêng [47] Bên cạnh ấy, việctìm thấy họ hàng của nhiều loại cà chua hoang dại ở khu vực từ Chilê tới Ecuador

và vùng nội địa Thái Bình Dương bao gồm cả quần đảo Galapagos cũng khẳngđịnh cà chua có xuất xứ từ khu vực này

Về nguồn gốc cũng có nhiều ý kiến khác nhau song tập trung chủ yếu vàohai hướng:

Hướng thứ nhất cho rằng cây cà chua có nguồn gốc từ L.esculentum

varpimpine lliforme

Hướng thứ hai cho rằng cà chua Anh Đào (L.esculentum var cerasiforme) là

tổ tiên của cà chua trồng ngày nay [13]

Cà chua tồn tại ở Pêru hàng nghìn năm nhưng nó chỉ thực sự được biết đếnkhi người Tây Ba Nha thám hiểm ra khu vực này vào những thập niên đầu của thế

kỷ 16[47] Nhiều bằng chứng về sự trồng trọt, ngôn ngữ và các phân tích về ditruyền đã chứng minh rằng cà chua đã được thuần hoá ở Trung Mỹ [41, 47, 63]

Theo tài liệu từ Châu Âu thì người Aztec và người Toltec là những ngườiphát tán cây cà chua đến các châu lục Ở châu Âu, sự tồn tại của cà chua đượckhẳng định thông qua tác phẩm giới thiệu về những giống cà chua có màu vàng và

đỏ nhạt được mang về từ Mêhicô của nhà nghiên cứu về thực vật Pier AndreaMatthiolus vào năm 1544[10] Đây cũng là thời điểm chứng minh sự tồn tại của càchua trên thế giới

Theo Luck Will (1946) cà chua từ Nam Mỹ được đưa đến châu Âu vào thế

kỷ 16 và được trồng đầu tiên ở Tây Ba Nha Vào thời gian này, nó chỉ được coinhư một loại cây cảnh, cây làm thuốc Đến năm 1750 cà chua được trồng làm thựcphẩm tại Anh và được gọi với nhiều tên gọi khác nhau: pomid’oro hay Goldenapple (ở Italia) hay pomme d’ amour (ở Pháp) Đến thế kỷ 18 đã có nhiều nghiêngiúp cho bộ giống cà chua trở nên đa dạng, phong phú hơn và nó đã trở thành thực

Trang 5

phẩm ở nhiều vùng Vào cuối thế kỷ 18, cà chua được dùng làm thực phẩm ở Nga

và đến đầu thế kỷ 19, sau chứng minh của George Washing Carver về sự an toàn

và tác dụng của cây cà chua thì nó mới chính thức được sử dụng làm thực phẩm và

đã trở thành thực phẩm không thể thiếu ở nhiều vùng trên thế giới

Đến thế kỷ 17 các lái buôn người châu Âu đã mang cà chua sang châu Á.Khoảng thế kỷ 18, cà chua có mặt ở Trung Quốc, sau đó được phát tán sang khuvực Đông Nam Á và Nam Á Đến thế kỷ 19, cà chua được liệt kê vào cây rau cógiá trị , từ đó được phát triển mạnh (dẫn theo tài liệu Kuo et và cs) [52]

Tuy có lịch sử từ rất lâu nhưng đến nửa đầu thế kỷ 20, cà chua mới thực sựtrở thành cây trồng phổ biến, dành được sự quan tâm của nhiều người trên toàn thếgiới( Morris 1998)[58]

2.1.2 Phân loại.

Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc họ cà (Solanaceae), chi Lycopersicon,

có bộ nhiễm sắc thể (2n = 24) Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về phân loại của càchua và lập thành các hệ thống phân loại theo quan điểm riêng của mình như côngtrình của N.J Muller (1940); Dakalov(1941); Bailey - Dillinger (1956); Brezhnev(1955

- 1964) hay của I.B.Libner Non necke (1989) Tuy nhiên hai hệ thống được sử dụngnhiều nhất là hệ thống phân loại của Muller (người Mĩ hay dùng) và hệ thống phânloại của Brezhnev (1964)

Theo phân loại của Muller thì cà chua trồng hiện nay thuộc chi

Eulycopersicon C.H.Muller Trong chi phụ này tác giả phân cà chua thành 7 loại và

cà chua trồng hiện nay (Lycopersicon esculentum Miller) thuộc loại thứ nhất [9]

Theo hệ thống phân loại của tác giả Brezhnev (1964), chi Lycopersicon Tourn

được phân làm 3 loài thuộc hai chi phụ:

Chi phụ 1: Eriopersicon: Dạng cây một năm hoặc nhiều năm, quả không bao

giờ chín đỏ, luôn luôn có màu xanh, có sọc tía, quả có lông, hạt nhỏ Chi phụ nàygồm 2 loài và các loài phụ:

1 Lycopersicon peruvianum Mill.

1 a L.peruvianum var.Cheesmanii Riloey và Var Cheesmanii f.minor

C.H.Mill (L.esc.var.miror Hook).

Trang 6

1 b L.peruvianum var denta tum pun.

2 Lycopersicon hirsutum Humb et Bonpl.

2 a L hirsutum var galabratum C.H.Mull.

2 b L hirsutum var glandulosum C.H.Mull.

Chi phụ 2: Eulycopersicon: Dạng cây hàng năm, quả chín đỏ hoặc vàng Chi phụ này gồm 1 loài là Lycopersicon esculentum Mill, loài này gồm 3 loài phụ:

a L.esculentum Mill Ssp Spontaneum Brezh - cà chua hoang dại, bao gồm

2 dạng sau:

+ L- Esculentum var pimpine lliforlium Mill (Brezh)

+ L- Esculentum var.race migenum (lange) Brezh.

b L esculentum Mill.SSp Subspontaneum - cà chua bán hoang dại, gồm 5 dạng

sau:

+ L- Esculentum var cersiforme (AGray) Brezh - cà chua Anh Đào.

+ L- Esculentum var.pyriforme (C.H Mull) Brezh - cà chua dạng lê.

+ L- Esculentum var.pruniforme Brezh - cà chua dạng mận.

+ L- Esculentum var.elonggetem Brezh - cà chua dạng quả dài.

+ L- Esculentum var.succenturiatem Brezh - cà chua dạng nhiều ô hạt.

c L.esculentum Mill ssp cultum - cà chua trồng trọt, là loại lớn nhất, có các biến chủng có khả năng thích ứng rộng, được trồng rộng khắp thế giới: Có 3 dạng:

+ L- Esculentum var Vulgare Brezh.

+ L- Esculentum var Validum (Bailey) Brezh: Cà chua anh đào, thân bụi,

cây thấp, thân có lông tơ, lá trung bình, cuống ngắn, mép cong

+ L- Esculentum var.grandiflium (bailey) Brezh: Cà chua lá to, cây trung

bình, mặt lá láng bóng, số lá trên cây từ ít đến trung bình [13]

2.1.3 Giá trị của cây cà chua.

2.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng.

Nhiều nghiên cứu và phân tích thành phần hóa học đã xếp cà chua vào nhómrau quả dinh dưỡng Trong quả cà chua chín có chứa nhiều đường (glucoza,fructoza, saccaroza), các vitamin (A, B1, B2, C), các axít hữu cơ (xitric, malic,galacturonic ) và các khoáng chất quan trọng: Ca, Fe, Mg

Trang 7

Theo phân tích của Edward Tigchelaar (1989) thì thành phần hóa học trongquả cà chua chín như sau: nước 94%; Chất khô 5  6%, trong đó bao gồm: Đường55%; Chất không hòa tan trong rượu 21%; Axít 12%; Chất vô cơ 7%; Chất khác5%.

Theo phân tích của Tạ Thu Cúc [8], thành phần hóa học của 100 mẫu giống càchua ở đồng bằng Sông Hồng là chất khô 4,3  6,4%; đường tổng số 2,6  3,5%;hàm lượng chất tan 3,4  6,2%; axít tổng số 0,22  0,72%; vitaminC: 17,1 38,81%

Các tài liệu khác đã xác định rằng cứ 100g phần ăn được của quả cà chua cóchứa 94g nước; 1g Protein; 0,2g chất béo; 3,6g cacbonhydrat; 10mg Ca; 0,6mg Fe;10mg Mg; 0,6mg P; 1700 mg vitaminA; 0,02 mg vitaminB; 0,6mg niacin và 21 mgvitaminC, năng lượng đạt 30kJ/100g [5]

B ng 1 Th nh ph n hoá h c c a 100g c chua ảng 1 Thành phần hoá học của 100g cà chua ành phần hoá học của 100g cà chua ần hoá học của 100g cà chua ọc của 100g cà chua ủa 100g cà chua ành phần hoá học của 100g cà chua

Nguồn : USDA Nutrient Data Base [73]

2.1.3.2 Giá trị sử dụng của cây cà chua.

Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng và có nhiều cách sử dụng

Có thể dùng ăn tươi thay hoa quả, trộn Salat, nấu canh, xào, nấu sốt vang và cũng

có thế chế biến thành các sản phẩm như cà chua cô đặc, tương cà chua, nước sốt

Trang 8

nấm, cà chua đóng hộp, mứt hay nước ép Ngoài ra, có thể chiết tách hạt cà chua

để lấy dầu

Về mặt y học, cà chua được coi là dược liệu chữa bệnh sốt, lao phổi, nhuậntràng Người Tây Ba Nha dùng cà chua, ớt, dầu mỡ để chế biến thuốc chữa mụnnhọt, lở loét Lá cà chua non giã nát cùng muối dùng để trị mụn nhọt, viêm tấy.Hợp chất tomatin chiết tách từ cây cà chua có khả năng kháng khuẩn, diệt nấm vàmột số sâu bệnh hại Nó cũng có tác dụng kích thích sinh trưởng đối với cây trồng

ở mức độ nhất định [5]

Theo Võ Văn Chi (1997), cà chua có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tạo nănglượng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, giải nhiệt, chống hoại huyết, khángkhuẩn, chống độc, kiềm hoá máu có dư axít, hoà tan urê, thải urê, điều hoà bài tiết,giúp tiêu hoá dễ dàng các loại bột và tinh bột [1]

Nhiều nghiên cứu mới đây cho rằng nước sốt cà chua có tác dụng ngăn ngừabệnh ung thư miệng [6] Đặc biệt, các nhà khoa học Anh và Hà Lan đã thành côngkhi cấy một gen quy định việc tạo ra chất Flavonol, hợp chất cho phép cơ thểchống lại bệnh ung thư và tim mạch [7]

Các nhà khoa học trường ĐH Y Khoa tại Tokyo đã tiến hành một cuộc thửnghiệm cho thấy nước ép cà chua hoàn toàn ngăn chặn được bệnh khí thũng Trong

cà chua có chứa antioxidant, lycopen tự nhiên có tác dụng mạnh chống bệnh khíthũng

2.1.3.3 Giá trị kinh tế.

Với giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng cao, cà chua được nhiều người ưachuộng nên nó là loại cây được trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người sảnxuất

Theo điều tra năm 1999, lượng cà chua trao đổi trên thị trường thế giới là36,7 triệu tấn với lượng sử dụng tươi chiếm từ 57% Ở Đài Loan hàng năm xuấtkhẩu cà chua tươi đạt 952.000 USD và 40.800 USD cà chua chế biến Còn ở Mỹtổng giá trị sản xuất 1 ha cà chua cao gấp 4 lần lúa nước và 20 lần lúa mì (nguồnUSD, 1997 dẫn theo G.W.Ware and J.PMC collum) Theo Manen và Pipob L.(1989) người dân phía bắc Thái Lan thu được 5.600  10.900 USD/ha từ sản xuất

Trang 9

cà chua Theo thống kê của tác giả T.Marikawa (1998): hàng năm Nhật Bản sảnxuất được 406.700 tấn nước sốt cà chua, 87.000 tấn nước ép cà chua; 7.700 tấn càchua nghiền bột Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn còn phải nhập thêm 77.000 tấn cà chuachế biến

Ở Việt Nam, tùy điều kiện sản xuất có thể thu được từ 13 triệu đồng/ 1 sàobắc bộ Với điều kiện của vùng Gia Lâm - Hà Nội thì một ha cà chua có thể thuđược 27.409.000 VNĐ (Bùi Thị Gia 2000)[9] Theo TS Ngô Quang Vinh-ViệnKhoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam: 1 ha cà chua ghép có thể đạt năng suấttới 100 tấn và cho thu nhập khoảng 150-200 triệu đồng [14] Theo Báo Nôngnghiệp Việt Nam,số ra ngày 29/5/2007: tại Lâm Đồng, sản xuất 1,7 ha cà chua kimcương đỏ(Red Diamond) cho thu nhập là 100 triệu đồng Theo số liệu điều tra củaPhòng nghiên cứu kinh tế thị trường (Viện nghiên cứu rau quả), sản xuất cà chua ởĐBSH cho thu nhập bình quân 42,0-68,4 triệu/ha/vụ với mức lãi thuần 15-26 triệu/

ha, cao gấp nhiều lần so với trồng lúa Cà chua là cây trồng thu hút nhiều lao động.Một hécta cà chua cần 500-600 công lao động cho cà chua chế biến và 8020 giờcho cà chua ăn tươi

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây cà chua.

2.2.1 Nhiệt độ.

Nhiệt độ tác động đến tất cả các giai đoạn, sinh trưởng, phát triển của cây cà

nhiệt độ 28-320C (Tiwari và Choudhury, 1993)[70] Trong khoảng từ 15,50C-290Cthì nhiệt độ càng tăng, nảy mầm càng tăng Nhiệt độ tối thiểu cho hạt nảy mầm là

100C, tối đa là 350C Nhiệt độ quá cao sẽ làm hạt mọc chậm, dễ mất sức sống, mầm

bị dị dạng ( Kuo và cs, 1998)[52]

nhưng cây sẽ chỉ ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ nhỏ hơn 150C và lớn hơn 350C(Lorenz và Maynard, 1988) [53] Biên độ nhiệt độ ngày-đêm cũng ảnh hưởng tớisinh trưởng sinh dưỡng của cây cà chua, nhiệt độ ban ngày từ 20-250C và nhiệt độban đêm từ 13-180C là ngưỡng nhiệt độ thích hợp nhất cho giai đoạn sinh trưởngsinh dưỡng của cây cà chua Nếu nhiệt độ ban ngày quá cao và nhiệt độ ban đêm

Trang 10

quá thấp sẽ gây hại cho sinh trưởng của cây cà chua Theo Nguyễn Thanh Minh,

2004 thì với cây cà chua có chiều cao từ 20-40cm, tốc độ tăng trưởng chiều cao

kiện nhiệt độ cố định ở ngưỡng 26,50C [24]

Nhiệt độ thích hợp cho cà chua ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực là từ

200C 300C Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn nhỏ lại chịu tác động khác nhau của yếu

tố nhiệt độ Với thời kỳ phân hoá mầm hoa, nhiệt độ ảnh hưởng tới vị trí chùm hoađầu tiên và số lượng hoa/chùm[52] Cũng ở giai đoạn này, biên độ nhiệt độngày/đêm ccòn có tác động đến kích thước hoa, trọng lượng noãn, bao phấn và sốngăn hạt, số lượng hạt phấn, sức sống của hạt phấn Theo Ho.L.C [48] hạt phấn cóthể nảy mầm trong khoảng nhiệt độ từ 50C-370C Ngoài ngưỡng nhiệt độ trên, tỷ lệnảy mầm của hạt phấn giảm rõ rệt Dưới tác động của nhiệt độ cao thì khả nănggiữ được sức sống, khả năng thụ tinh của hạt phấn cà chua là khác nhau và phụthuộc nhiều vào kiểu gen[26] Độ hữu dục của hạt phấn cà chua giảm đi ở nhiệt độcao (35-500C) Các giống cà chua chịu nóng có ngưỡng đông đặc protein là 550C

Tỷ lệ đậu quả tối ưu là ở khoảng nhiệt độ từ 180C-200C Trong giai đoạn 1-3 trước

sống hạt phấn và dẫn tới giảm năng suất[42] Theo Trần Khắc Thi, Trần NgọcHùng(1999), nhiệt độ cao hơn 270C kéo dài cũng làm hạn chế sinh trưởng, ra hoa

và đậu quả của cà chua Các tế bào phôi và hạt phấn sẽ bị huỷ hoại khi nhiệt độban ngày cao hơn 380C, nếu nhiệt độ ban đêm cao hơn 210C thì khả năng đậu quả

sẽ giảm Ở giai đoạn đậu quả, nhiệt độ cao làm giảm nghiêm trọng quá trình đậuquả ở hầu hết các giống cà chua, đặc biệt là nhóm cà chua quả to (Kuo và cs) [52]

Ở thời kỳ quả phát triển thì nhiệt độ khoảng 20220C sẽ thúc đẩy quả lớn nhanh

Quá trình chuyển hoá màu sắc ở quả cà chua từ lúc xanh đến chín liên quanđến một loạt các phản ứng hoá sinh phức tạp Trong quá trình chín, quả cà chuachuyển dần từ màu xanh sang màu đỏ hoặc màu vàng do lượng diệp lục(chlorophyll) giảm đi và sự tăng lên về lượng của lycopen và caroten Quá trìnhsinh tổng hợp các sắc tố này bị chi phối chủ yếu bởi nhiệt độ và ánh sáng Phạm vinhiệt độ thích hợp để phân huỷ chlorophyll là 150C-400C, hình thành lycopen là

Trang 11

120C-300C và để hình thành caroten là 150C-380C Theo Kuo và cs, nhiệt độ tối ưu

để hình thành sắc tố lycopen là 180C-240C, ở nhiệt độ 300C-360C, quả có màu vàng

chín không đều Khi nhiệt độ cao hơn 400C thì quả sẽ có màu xanh do chlorophyllkhông bị phân huỷ và lycopen không được hình thành Nhiệt độ cao cũng làm choquả nhanh mềm hơn do quá trình hình thành pectin giảm [52]

2.2.2 Ánh sáng.

Ánh sáng có ảnh hưởng tới mọi quá trình sinh trưởng, phát triển của câytrồng nói chung và cây cà chua nói riêng Ảnh hưởng của ánh sáng là tổng hợp sựảnh hưởng của 3 thành phần: thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng và chấtlượng ánh sáng

Về thời gian chiếu sáng: cây cà chua phản ứng không chặt với độ dài ngàynhưng chúng đều thông qua “Giai đoạn ánh sáng” Giai đoạn này bắt đầu khi phânhóa mầm hoa và kết thúc khi mới vào phân hóa hạt phấn Trong giai đoạn này, nếuánh sáng yếu sẽ làm cho nhuỵ phát triển không bình thường, giảm khả năng tiếpnhận của hạt phấn [8] Một số nghiên cứu khác cho rằng thời gian chiếu sáng vàhàm lượng nitrat có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ đậu quả, số lượng quả trên cây ở càchua Cụ thể, trong điều kiện ngày dài kết hợp bón đạm đủ yêu cầu thì số quả/câytăng, nhưng nếu không bón đạm thì cây sẽ không ra hoa và đậu quả Còn trongđiều kiện ngày ngắn, không bón đạm sẽ làm giảm số quả/cây Khi chiếu sáng 7giờ

và tăng lượng đạm sẽ làm giảm tỷ lệ đậu quả (Mai Phương Anh và cs,2000) [1]

Do có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới nên cây cà chua có yêu cầu lớn về cường

độ chiếu sáng Cà chua sinh trưởng và phát triển thích hợp nhất ở cường độ ánhsáng 14.00020.000lux Tuy nhiên, cà chua vẫn sinh trưởng được với mức cường

độ ánh sáng thấp nhất là 4000lux [8]

Chất lượng ánh sáng cũng có ảnh hưởng tới các giai đoạn sinh trưởng, pháttriển của cây cà chua Ánh sáng đỏ kích thích sự phát triển của lá, hạn chế chồinách, thúc đẩy quá trình hình thành sắc tố lycopen và caroten Ánh sáng lục làmtăng lượng chất khô Chất lượng quả cũng bị chi phối lớn bởi chất lượng, thời gian

và cường độ ánh sáng

Trang 12

Trong quá trình sản xuất, ánh sáng là yếu tố ngoại cảnh khó khống chế.Trong điều kiện thiếu ánh sáng, chúng ta có thể điều khiển sinh trưởng, phát triểncủa cây thông qua chế độ dinh dưỡng khoáng như cung cấp kali và phốt pho chocây ở giai đoạn phân hoá mầm hoa đến hình thành hoa thứ nhất nhằm hạn chế sựthui, rụng của hoa [8].

2.3.3 Nước

Các quá trình sinh lý cơ bản của cây đều chịu ảnh hưởng của chế độ nướctrong cây Cà chua là cây ưa ẩm, chịu hạn nhưng không chịu úng Do có khốilượng thân lá lớn, hoa, quả nhiều, năng suất cao nên cây có nhu cầu nước khá lớn

tấn/ha cà chua cần 6000m3 nước/ha

Nhu cầu nước thay đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây càchua Hạt có thể nảy mầm khi lượng nước đạt 325364% trọng lượng và độ ẩmđạt 70% Trong quá trình cây sinh trưởng và phát triển yêu cầu ẩm độ đất là7080% còn ẩm độ không khí là 4555% Theo Goxhy và Gerad (1971): Thời kỳkhủng hoảng nước tính từ khi ra hoa đến đậu quả Ở thời kỳ này nếu hạn vừa phải

sẽ làm giảm năng suất nhưng tăng về chất lượng và rút ngắn thời gian chín Nếugiai đoạn này thiếu nước sẽ gây ra hiện tượng thối đáy quả, quả bị rám do canxi bịgiữ ở các bộ phận già và không được vận chuyển đến bộ phận non Tuy nhiên nếu

độ ẩm tăng đột ngột sẽ làm giảm chất lượng quả, dễ gây ra nứt quả

mà cây trồng trước là những cây họ cà

Về sinh dưỡng, cà chua có nhu cầu với nhiều nguyên tố nhưng quan trọngnhất là 12 nguyên tố: Nitơ(N); Phốt pho(P); Kali(Mg); Lưu huỳnh(S); Magiê(Mg);Bo(B); Sắt(Fe); Mangan(Mn); Đồng(Cu); Kẽm(Zn); Molipden(Mo) và canxi(Ca)

Trang 13

Đối với nhóm nguyên tố đa lượng thì nhu cầu đạm là cao nhất, thứ đến làkali và lân Theo More(1978), để có 1 tấn cà chua cần 2,9 kg N; 0,4 kg P; 0,4 kgK; 0,45 kg Mg Becseev cho rằng để tạo một tấn quả cà chua cần 3,8kg N; 0,6 kg

P2O5; 7,9 kg K2O (trích dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998) [26] Theo Kuo và cs(1998),lượng phân cần bón cho cà chua sinh trưởng vô hạn là 180 kg N; 80 kg P2O5; 180

đối cao, đồng thời làm tăng hàm lượng đường trong quả Bên cạnh các nguyên tố

đa lượng thì việc cung cấp đầy đủ các nguyên tố vi lượng cũng góp phần nâng caonăng suất, chất lượng của cà chua Đặc biệt, việc bón thêm Ca sẽ hạn chế bệnh thốiđầu quả

Tuỳ theo từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển mà nhu cầu về lượng vàloạidinh dưỡng là khác nhau Với cây cà chua, nhu cầu sử dụng dinh dưỡng ở giaiđoạn cây non là cao hơn so với cây trưởng thành nên cần tập trung bón ngay từđầu Các thời kỳ bón phân là: ra nụ, hoa rộ, quả non, quả phát triển và sau thu háilần 1

2.3 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất cà chua trên thế giới

2.3.1 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua trên thế giới

Chọn giống là tạo ra sự tiến hóa có định hướng của thực vật, nhằm thay thếcác thực vật có sẵn trong tự nhiên theo ý muốn của con người, hình thành nênnhững kiểu di truyền mới đạt hiệu quả cao hơn

Đối với cây cà chua, những tiến bộ ban đầu về dòng, giống cà chua đều xuấtphát từ châu Âu Năm 1863, 23 giống cà chua được giới thiệu, trong đó giốngTrophy được coi là giống có chất lượng tốt Vào những năm 80 của thế kỷ 19 ởtrường đại học Michigân (Mỹ) đã tiến hành chọn lọc và phân loại cà chua trồngtrọt Cùng thời gian đó A.W.Livingston đã chọn lọc và đưa ra 13 giống trồngtrọt[13] Cuối thế kỷ XIX, có trên 200 dòng, giống cà chua được giới thiệu

Với tầm quan trọng của mình, cây cà chua đã thu hút được sự quan tâm củanhiều nhà khoa học trên thế giới Các nghiên cứu về nó đều nhằm mục đích tạo rađược các giống mới có đặc tính di truyền phù hợp với nhu cầu của con người Để

Trang 14

đạt được mục đích chung ấy, mỗi nhà chọn giống có các phương pháp chọn tạokhác nhau như: chọn lọc cá thể, lai hữu tính, sử dụng ưu thế lai hay ứng dụng côngnghệ sinh học và mỗi người lại chọn tạo theo những định hướng khác nhau,nhưng tập trung chủ yếu theo 4 hướng nghiên cứu chính:

+ Tạo giống chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận

+ Tạo giống chống chịu với sâu bệnh hại

+ Tạo giống có chất lượng phục vụ cho ăn tươi, chế biến

+ Tạo giống phù hợp với cơ giới hóa

2.3.1.1 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận

Nhiều nghiên cứu cho rằng, sinh trưởng, phát triển và chất lượng cà chuaphụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngoại cảnh Chính vì vậy, chọn tạo giống cà chua cókhả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận là một hướng đi đượcnhiều nhà khoa học quan tâm Các nhà chọn giống đã sử dụng nguồn gen của càchua hoang dại và bằng các con đường chọn giống khác nhau: lai tạo, chọn lọcgiao tử dưới điều kiện bất thuận, chọn lọc hợp tử (phôi non), đột biến nhân tạonhằm tạo ra các giống cà chua có khả năng chống chịu tốt với ngoại cảnh bấtthuận

Chọn lọc nhân tạo hạt phấn trên cơ sở đa dạng hoá di truyền của chúng làmột trong những phương pháp chọn giống Nhiều nghiên cứu cho thấy ở cà chuabằng cách chọn lọc hạt phấn với nhiệt độ cao, có thể nâng cao sự chống chịu củagiai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng [26]

Các nhà chọn giống cà chua của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển RauChâu Á (AVRDC) đã phát hiện ra rằng: chất lượng quả của các giống cà chua chọntạo cho vùng khí hậu ôn đới sẽ kém khi đem trồng chúng trong điều kiện nhiệt đới.Chính vì vậy, từ khi thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau Châu Á đãđặt ra mục tiêu là chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với điều kiện bấtthuận của các khu vực có khí hậu nhiệt đới và bước đầu họ đã gặt hái được nhiềuthành công Thành công lớn nhất phải kể đến đó là tập đoàn các dòng, các nguồngen mà họ đem gửi ở các trường đại học, viện nghiên cứu, các nhà khoa học của

Trang 15

trên 60 nước trong khu vực Nam Mỹ, Châu Phi, vùng đảo Thái Bình Dương vàChâu Á đều thể hiện khả năng vượt trội so với các giống địa phương về năng suất,tính chịu nhiệt và khả năng chống chịu với sâu bệnh Tập đoàn đó bao gồm các

32d-0-1-4 (Villareal,1978) [76] Cũng trong thời gian này, các nhà khoa học Ý đã đưa

ra một loạt giống chịu hạn năng suất cao, có thể thu hoạch bằng cơ giới như: CS80/64; CS 67/74; CS 72/64

Từ năm 1981-1983, các cơ quan nghiên cứu của Ấn Độ (Trường Đại họcNông nghiệp Punjab ở Ludhiana và Viện nghiên cứu Nông nghiệp Ấn Độ) đã tạo

ra các giống cà chua có năng suất cao, chất lượng tốt, đặc biệt có thể duy trì đượcchất lượng thương phẩm trong thời gian dài ở điều kiện mùa hè là:Punjab chhuhara

và Pusa Gaurav (Sight, Checma 1989) (Trích dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998) [26]

Trong nghiên cứu đánh giá khả năng chịu nhiệt của các dòng cà chua ở điều

được đánh giá là có khả năng chịu nhiệt Trong đó, LE.12 và LE.36 có tỷ lệ đậuquả cao nhất Khi tiến hành lai chúng với nhau và với PKM thì con lai của tổ hợpLE.12 x LE.36 đã cho tỷ lệ đậu quả cao nhất (79,8%) [51]

Sau thời gian hợp tác nghiên cứu và thử nghiệm với AVRDC, các nhà khoahọc Thái Lan đã giới thiệu 2 giống cà chua có khả năng chịu nhiệt cao là SVRDC4(thử nghiệm tại Đại học Khon Khan) và L22 (thử nghiệm tại Đại học Chiang Mai).Các giống này đã được trồng rộng rãi ở nhiều vùng của Thái Lan (Nikompun vàLumyong, 1989) [57]

Đánh giá về khả năng chịu nóng của 9 dòng cà chua, Abdul Baki (1991) [39]

đã rút ra những ưu thế của nhóm chịu nóng ở một loạt các tính trạng: nở hoa, đậuquả, năng suất quả, số hạt/quả Nhiệt độ cao làm giảm độ nở hoa, tỷ lệ đậu quả vànăng suất Đồng thời cũng làm tăng phạm vi dị dạng của quả như nứt quả, đốmquả, mô mọng nước, quả nhỏ và không thành thục Khả năng sản xuất hạt dướinhiệt độ cao(290C/ 280C giữa ngày và đêm) bị giảm hoặc bị ức chế toàn bộ

Khi nghiên cứu về biến động của hạt phấn và tỷ lệ đậu quả ở các kiểu gen càchua dưới 2 chế độ: nhiệt độ cao và nhiệt độ tối ưu, Abdul và Stommel (1995)[30]

Trang 16

đã cho thấy: ở nhiệt độ cao các kiểu gen mẫn cảm nóng hầu như không đậu quả, tỷ

lệ đậu quả của các kiểu gen chịu nóng trong khoảng 45-65% Như vậy phản ứngcủa hạt phấn khi xử lý nóng phụ thuộc vào từng kiểu gen và chưa có quy luậtchung để dự đoán trước về tỷ lệ đậu quả ở điều kiện nhiệt độ cao

Độ, các nhà khoa học đã xác định được 8 dòng có tỷ lệ đậu quả cao (60-83%) dùnglàm vật liệu cho chọn tạo giống chịu nhiệt là: EC50534, EC788, EC455,EC126755, EC276, EC10306, EC2694, EC4207 [30]

Trong chương trình về các dòng tự phối hữu hạn, vô hạn có khả năng cho đậuquả ở giới hạn nhiệt độ cực đại 320C-340C và cực tiểu 220C-240C, các nhà khoa họccủa AVRDC đã tạo ra được một số giống cà chua lai có triển vọng, được phát triển ởmột số nước nhiệt đới như: CLN161L; CLN2001C; CL143 (Morris,1998)[58]

Theo J.T.Chen và P.Hanson(AVRDC), có thể sử dụng sản phẩm Tomatotone(Tomatolan) hay axit 4-Chlorophenoxy axetic pha với nồng độ thích hợp phun trựctiếp lên chùm cà chua đã có 3-5 hoa nở vào lúc chiều mát (sau 3 giờ chiều) để kíchthích hình thành nhiều quả, quả to, năng suất cao nếu giai đoạn hình thành quả càchua có nhiệt độ cao hơn 300C

Nghiên cứu đánh giá 17 giống cà chua phục vụ ăn tươi (table tomato) ở Đạihọc Kasetsart tại Thái Lan, Tu Jianzhong (1992) đã chọn được 2 giống cà chuaFMTT33 và MFTT277 có quả to, cho năng suất cao (81 tấn/ha), có khả năng chịunhiệt, thích hợp cho việc sản xuất ở vùng nhiệt đới [72]

Tiến sĩ Eduar do Blumwald, Califonia-Mỹ, đã tạo ra loại cà chua có khảnăng sống trên đất mặn bằng cách chèn một đoạn ADN của một loài cỏ nhỏ thuộc

họ cải, có quan hệ họ hàng với cây Mù tạc, vào hạt cà chua rồi đem trồng [43]

Một số giống lai F1 của công ty S&G Seeds (Hà Lan) mới đưa ra thích hợptrồng ở vùng nhiệt đới như Rambo, victoria, Jackal đều có khả năng chống chịubệnh tốt, đậu quả tốt trong điều kiện nhiệt độ cao, tiềm năng năng suất khá [64]

Các nhà chọn giống Pháp cũng nghiên cứu và đưa ra thị trường nhiều giống

cà chua lai F1 có khả năng đậu quả ở nhiệt độ cao, chống chịu sâu bệnh, cho năngsuất và chất lượng tốt

Trang 17

Trong quá trình chọn tạo giống, thu thập và đánh giá nguồn gen nói chung,nguồn gen chịu nóng nói riêng được coi là công việc quan trọng và cần thiết choviệc tạo nên giống mới Việc thu thập này được nhiều nhà khoa học cũng nhưnhiều cơ quan nghiên cứu quan tâm và cũng có những thành tựu nhất định Cụ thể,AVRDC đã thu thập được 48.723 mẫu giống cà chua từ 153 nước Tập đoàn này

chủ yếu là các loài Lycopesicon esculentum; L.Cheesmaii; L.pimpinellfolium và các dòng lai giữa Lycopesicon esculentum x L.pimpinellfolium; L.Cheesmaii x

L.minutum Còn Viện nghiên cứu tài nguyên cây trồng Quốc tế(NBPGR) tại Ấn Độ

đã thu thập được 2.659 mẫu giống Trong đó có 2.229 mẫu được thu thập từ 43nước trên thế giới, còn 450 mẫu thu thập trong nước(Chu Jinping,1994)[40] TheoMetwally các nhà chọn giống Ai Cập cũng thu được trên 4000 mẫu giống thuộc

loài Lycopersicon esculentum, chi Lycopersicon từ 15 nước Qua đánh giá cho

thấy, chỉ có dưới 1% mẫu của tập đoàn này có khả năng chịu nhiệt ở mức độ cao.Điển hình như các giống Poter; Saladette; Gamad; Hoset [56]

Hiện nay, việc hợp tác giữa AVRDC với các công ty tư nhân ngày càng mởrộng và có hiệu quả Qua nghiên cứu 29 công ty giống của Châu Á cho thấy 33% cácgiống sẽ đưa ra trong tương lai có sử dụng nguồn gen của AVRDC Các nguồn gen cónhu cầu cao là: gen kháng bệnh(33%); chịu nóng(20%); thích ứng rộng (17%); chấtlượng cao(15%); năng suất cao(14%)

2.3.1.2 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với bệnh hại

Song song với hướng chọn tạo giống cà chua chống chịu với điều kiện bấtthuận, chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với các loại bệnh hại cũng

là một hướng đi dành được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học

Trong chương trình nghiên cứu về mối quan hệ của cà chua trồng và cà chuadại với bệnh virút xoăn lá cà chua, các nhà khoa học đã thử nghiệm, đánh giá khảnăng kháng bệnh virút xoăn lá của 1201 dòng, giống cà chua ở cả hai điều kiện:trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng từ năm 1986-1989 Kết quả nghiêncứu cho thấy có 4 dòng cà chua thuộc 2 loài (L.hirsutum và L.peruvianum) là:PI390658; PI390659; PI127830; PI127831 có khả năng kháng với bệnh xoăn lá cà

Trang 18

chua Ở cả hai điều kiện thử nghiệm, các dòng này đều không có biểu hiện triệuchứng của bệnh xoăn lá cà chua sau khi lâu nhiễm bệnh bằng bọ phấn trắng Ngoài

ra, khi tiến hành theo dõi về mật độ và thời gian sống của bọ phấn giữa các dòngkháng và dòng mẫn cảm trên đồng ruộng cho kết quả: Ở các dòng kháng, mật độ

bọ phấn là 0-4 con/m2, thời gian sống của bọ phấn trưởng thành là 3 ngày Còn trêncác dòng mẫn cảm thì có kết quả là 5-25con/m2 và 25 ngày[74]

Việc nghiên cứu giống chịu nhiệt và chống héo xanh vi khuẩn đã được cácnhà chọn giống Indonesia quan tâm nhằm phát triển cà chua ở các vùng đất thấp.Nghiên cứu được tiến hành trên các dòng, giống nhập nội và con lai của các dòng,giống đó với các giống địa phương Trong chương trình đó đã có hai giống đượccông nhận là Berlian và Mutiara (Permadi,1989) [60]

Ở Philipin, trường Đại học Nông nghiệp Philipin cũng tập trung nghiên cứu,phát triển những giống cà chua có khả năng chống bệnh và đậu quả ở nhiệt độ cao

Họ đã đưa ra được một số giống vừa có khả năng chống bệnh héo xanh vi khuẩn,vừa có khả năng đậu quả trong điều kiện nhiệt độ cao như: Marikit; Maigaya;Marilag [66]

Trong chương trình đánh giá 15 giống cà chua phục vụ chế biến tại Đại họcKasetsart, đã chọn được hai giống PT4225 và PT3027 của AVRDC cho năng suấtquả cao, chất lượng tốt, chống nứt quả, chống virut trong điều kiện nhiệt đới(ChuJinping,1994)[40]

Kết quả thử nghiệm so sánh 156 giống nhập nội, Jiulong, Dahong đã đưa ra

4 giống gồm: Flora 544 ;Heise 6035; Ohio 823; FL.7221 Bốn giống này thể hiệntính kháng bệnh Cucumovirus và Tomabovirus (Lin Jinsheng; Wang Longzhi ey

al, 1994) [54]

Trong chương trình hợp tác cải tiến giống cà chua có triển vọng của ViệnNghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Malaisia ( MARDI) với Trung tâm nghiêncứu & phát triển rau Châu Á (AVRDC) và Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệpNhiệt đới (TARC) đã đưa ra được 6 dòng có khả năng chịu nhiệt, chịu héo xanh vikhuẩn là: TM1; TM2; TM3; TM5; TM6 và TM10 (Melor 1986)[55];

Trang 19

Nhiễm bệnh viruts xoăn lá (ToLCV) vào giai đoạn ra hoa sẽ làm giảm đáng

kể năng suất cà chua Từ năm 2002-2004, các nhà khoa học của AVRDC đã tiếnhành thử nghiệm, đánh giá khả năng kháng bệnh ToLCV của 6 giống cà chua(CHT1312, CHT1313, CHT1372, CHT1374, CHT1358 và Tainan-ASVEG No.6 -đối chứng) ở bốn địa điểm: AVRDC, Annan, Luenbey, Sueishan Kết quả chothấy, khả năng kháng của các giống CHT là rất tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh chỉ từ 5-11%trong khi tỷ lệ nhiễm bệnh của đối chứng luôn ở mức cao 74-100%(2002) và 86,5-100% (2003) [31,32,34]

Dựa vào những kết quả nghiên cứu của PYTs, Đài Loan đã đưa các giống càchua lai CHT1200, CHT1201 vào sản xuất với tên gọi chính thức là Hualien-ASVEG No.13 và Hualien-ASVEG No.14 Các giống này có quả dạng oval, chắc,khi chín có màu vàng cam, hàm lượng ß-carotene cao, tỷ lệ nứt quả thấp, có khảnăng kháng ToMV và nấm héo rũ Fusarium chủng 1 và 2 [32, 34]

Tháng 8/2005, AVRDC giới thiệu 3 giống cà chua mới là CLN2026D;CLN2116B; CLN2123A Cả 3 giống này đều thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn,

có khả năng chống chịu với nhiều loại bệnh hại như héo xanh vi khuẩn, héo rũ,xoăn lá, đốm lá, khảm lá, các giống này cũng có khả năng chịu nóng tốt [35] Đếntháng 1/2006, AVRDC tiếp tục đưa ra giống cà chua mới CLN2498 Đây là giốngsinh trưởng bán hữu hạn, có gen có chứa alen Ty-2 (được lấy từ giống H24 của ẤnĐộ) giúp giống này có khả năng chống chịu đặc biệt với virus xoăn lá cà chua(ToLCVs) ở nhiều điều kiện sinh thái khác nhau Ngoài ra, giống này còn có năngsuất khá (50 tấn/ha), chất lượng tốt [36]

Tháng 01 năm 2007 dòng cà chua quả nhỏ màu vàng CHT1417 đã được côngnhận là giống mới và với tên gọi là ‘Hualien Asveg 21’ Đây là giống sinh trưởng vôhạn, quả dạng oval khi chín có màu vàng cam, quả chắc, hương vị tốt, tỷ lệ nứt quảthấp Đặc biệt, giống này có các gen Ty-2, Tm-2a, I-1 và I-2 giúp tăng khả năngkháng với các bệnh ToLCV, khảm lá và vi khuẩn héo rũ chủng 1 và 2 [68]

Việc xác định và chuyển gen kháng bệnh sang các loài cà chua trồng (L.esculentum) bằng biện pháp lai đã giúp tạo ra nhiều giống kháng bệnh, tạo lên sựphong phú cho bộ giống cà chua kháng bệnh trên thế giới Các nhà nghiên cứu

Trang 20

thuộc Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á đã nhận biết được nhiều vậtliệu mang gen kháng ToMV Một số vật liệu chứa gen Tm22 đã được dùng tronglai tạo giống như: L127 (ah-Tm22a), Ohio MR-12, MR-13.

2.3.1.3 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua chất lượng cao phục vụ ăn tươi, chế biến.

Để cải tạo chất lượng giống cà chua thì cà chua hoang dại được coi là nguồnvật liệu khởi đầu quan trọng vì ở những loài này thường có hàm lượng đường,vitamin cao (Tigchelar,1986)[69] Các nhà khoa học thường tiến hành lai giữa

loài trồng với loài L.peruviamum nhằm nâng cao hàm lượng đường, vitaminB, C Các nhà khoa học Bungari cho rằng lai giữa dạng trồng với dạng dại L race nige

rum thuộc biến chủng var race nige rum sẽ nâng cao được lượng chất khô trong

quả Còn khi chọn chủng var Chlolgatum làm vật liệu sẽ có hàm lượng đường cao.

Để có giống vừa chống được bệnh mốc sương lại có hàm lượng vitaminC cao, nên

cho lai với chủng Pimpine llifolium Chính các nghiên cứu đã mang đến cho người

Bungari giống cà chua trắng nổi tiếng

Hương vị của cà chua được quyết định bởi các yếu tố: hàm lượng đường tự

do (Fructoza và Glucoza), hàm lượng axít hữu cơ và tỷ lệ đường/axít Hàm lượngđường tự do trong quả tạo nên trên 50% lượng chất khô tổng số Chính vì vậy đã

có nhiều công trình nghiên cứu nhằm làm tăng hàm lượng chất khô cho các giống

đã có năng suất cao thông qua việc lai tạo giữa các loài khác nhau của chi

Lycopersicon Tuy nhiên, năng suất lại tỷ lệ nghịch với hàm lượng chất khô nên

cần dung hoà hai yếu tố này (dẫn theo Nguyễn Thanh Minh, 2004)[24]

Cũng bằng phương pháp lai tạo, mới đây giáo sư Ralph Bock thuộc viện kỹthuật sinh hóa học cây trồng Munter (Đức) đã tạo ra giống cà chua có khả năng giatăng sức khỏe Loại cà chua này cà màu đỏ rực rất giàu vitamin, protein, nhất làtiền vitaminA [62]

Ngoài việc tăng cường vitamin, hàm lượng đường các nhà khoa học cũngbắt đầu chú ý đến việc đưa một số chất kháng sinh vào trong quả cà chua nhằmgóp phần trị bệnh, tăng cường khả năng miễn dịch cho con người Với mục tiêunày, sau 10 năm nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu công nghệ sinh học thuộc

Trang 21

Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Trung Quốc đã cho ra đời giống cà chua cókhả năng chống lại sự xâm nhập của viruts gây bệnh viêm gan B vào cơ thể conngười (dẫn theo Nguyễn Thanh Minh, 2004)[24].

Các nhà khoa học Anh và Hà Lan đã thành công khi cấy một gene qui địnhviệc tạo ra chất Flavonol của loài hoa Dạ Yên Thảo vào cây cà chua để tạo ragiống cà chua có khả năng chữa bệnh ung thư và tim [7]

Theo Bùi Chí Bửu, đến cuối năm 1997, có 48 sản phẩm chuyển gen của 12loại cây trồng đã được thương mại hoá Trong đó, cà chua biến đổi gen chiếm 13%[4] Với tỷ lệ thương mại hoá khá cao như vậy, các nhà khoa học ở Novosibirskđang phát triển việc nghiên cứu đưa loại vacxin chống bệnh AIDS vào cà chuathông qua biến đổi gen Nhiều nghiên cứu cho rằng các mầm gây bệnh ở người vàđộng vật (viruts, prion ) không sinh sản trong các tế bào thực vật nên khi sử dụngcác protein tổng hợp từ cây biến đổi gen an toàn hơn nhiều so với các sản phẩm cónguồn gốc từ động vật [28]

Năm 2003, AVRDC đã đưa ra giống cà chua quả vàng có hàm lượng caroten cao gấp 3-6 lần so với giống cà chua màu đỏ Giống này còn có hàm lượngaxít, độ ngọt tương đương so với các giống cà chua quả đỏ Giống cà chua này sẽgóp phần làm giảm tỷ lệ quáng gà, mù cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em ở các nướcđang và kém phát triển [33]

-Chất lượng quả cà chua còn phụ thuộc vào tỷ lệ giữa độ chắc và dịch quảtrong ngăn hạt Dịch quả là nguồn axít quan trọng và giúp người sử dụng cảm nhậnhương vị của quả cà chua Theo Stevens, việc tăng hàm lượng axít và đường trongthành phần dịch quả là việc làm cần thiết để tạo hương vị tốt cho những giống càchua mới, đặc biệt là các giống phục vụ cho nhu cầu ăn tươi (Stevens, 1978)[67].Tuy nhiên, lượng dịch quả cao thường gây khó khăn trong công tác vận chuyển,bảo quản và thu hoạch Chính vì vậy, phải chú ý kết hợp hài hoà về tỷ lệ giữa độchắc quả và dịch quả ( Eskin, 1989)[44]

Bên cạnh các hướng chọn giống trên, chọn giống năng suất, có thời gian bảoquản dài hay chọn tạo giống phục vụ cho công nghiệp cũng là những hướng điđược các nhà khoa học quan tâm Ở Philipin, một loạt giống được chọn tạo nhằm

Trang 22

phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến như: Peto 93; 94; Proaco; BP1;THD.1 Còn ở Cuba, các nhà chọn giống đã sử dụng ưu thế lai và các dòng bấtdục đực để tạo ra các giống có ưu thế lai dương cao hơn hẳn bố mẹ tốt nhất vềtrọng lượng quả, số quả trên cây, chiều cao cây, năng suất cá thể và có ưu thế lai

âm về thời gian từ trồng đến ra hoa

Theo Jamina Zdravkovse et al (1999), khi gây đột biến gen ALC, quả có thểbảo quản 100% trong thời gian 140 ngày và 71% trong thời gian 243 ngày Khả

năng bảo quản quả giảm dần ở dị hợp tử giữa gen Nor và gen Rin ( khoảng 60%).

Dưới điều kiện ẩm độ thấp, nhiệt độ 25 0C thì quả nhỏ của đột biến gen Nor bị hỏng nhanh hơn đột biến bởi gen Rin [51].

2.3.2 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới.

Với nhiều ưu điểm nổi trội về khả năng thích nghi, sự yêu thích của ngườitiêu dùng, cây cà chua đã có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới Theo FAO (2005)hiện nay có 150 nước trồng cà chua với diện tích 4.570.869 ha, năng suất trungbình là 27,222 (tấn/ha), sản lượng là 124.426,995 tấn

Qua số liệu so sánh về diện tích trồng cà chua của FAO trong giai đoạn từ

1995 đến 2005 cho thấy diện tích cà chua thế giới đã tăng lên gấp 1.4 lần trongvòng 10 năm Trong đó, Châu Á là khu vực có mức độ tăng trưởng cao nhất: tăng200% Ở Châu Âu và Châu Mỹ, mức độ gia tăng không cao chỉ từ 20-30% Đặcbiệt, trong hai khu vực này còn có hiện tượng giảm diện tích gieo trồng cà chua ởmột số nước như Hungari (giảm 79%), Pháp (giảm 50%), Hi Lạp (giảm 17%), Mỹ(giảm 13,4%) Tuy có sự tăng giảm về diện tích ở các khu vực khác nhau xongnhìn chung là diện tích trồng cà chua hàng năm đều tăng dẫn đến sản lượng càchua hàng năm cũng tăng trong khi năng suất tăng không đáng kể

Bảng 2.Tình hình s n xu t c chua trên th gi iảng 1 Thành phần hoá học của 100g cà chua ất cà chua trên thế giới ành phần hoá học của 100g cà chua ế giới ới

Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (nghìn tấn)

Trang 23

Trong vòng 5 năm qua, tình hình tiêu thụ cà chua thế giới đã gia tăng nhanhchóng Lượng xuất khẩu hàng năm tăng trung bình 8%, đạt đỉnh cao 2,4 triệu tấntrong năm 2007 Tính đến 9 tháng đầu năm 2008, Mêhycô là nước xuất khẩu hàngđầu thế giới với lượng xuất khẩu chiếm 50% tổng lượng xuất khẩu thế giới Tiếptheo là Mỹ với 173 ngàn tấn Đứng sau là Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Braxin, Chilê.Nguyên nhân dẫn đến sự phát triển về thị trường mậu dịch cà chua là do sự gia tăngmối quan tâm đến rau quả tươi của người tiêu dùng, nguồn cung cấp dồi dào trên thếgiới và đặc biệt đó là chính sách giảm thuế và việc tăng cường xúc tiến thương mạicủa các nước Về nhập khẩu thì Nga, Canađa được coi là những thị trường và tiềmnăng của thế giới [46].

Trang 24

2.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà chua ở Việt Nam

2.4.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống cà chua ở Việt Nam

Cà chua xuất hiện ở Việt Nam từ hơn 100 năm nay, trong suốt thời gian ấycác nhà khoa học luôn tìm tòi nghiên cứu để làm sao có được những giống cà chuađáp ứng được nhu cầu của con người Tuy nhiên, công tác nghiên cứu giống chínhthức được bắt đầu vào thập niên 60 của thế kỷ trước Có thể khái quát thành cácgiai đoạn chính như sau:

* Giai đoạn 1(1968-1985):

Ở giai đoạn này, các công tác nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc nhậpnội, khảo nghiệm và tuyển chọn giống từ tập đoàn này Trong giai đoạn này, năngsuất được coi là mục tiêu đầu tiên của chọn giống

Theo các tác giả Vũ Tuyên Hoàng, Trần Khắc Thi và Mai Phương Anh thì

để có năng suất cao cần phải chọn được giống có số quả/cây lớn hơn 10 và trọnglượng trung bình quả đạt 7080g Trong giai đoạn này, bằng nhiều phương phápkhác nhau, các nhà khoa học của các đơn vị nghiên cứu đã chọn tạo được nhiềugiống cà chua có năng suất cao như: giống cà chua số 7 (khối lượng trung bình quả

từ 80100g), giống cà chua 214 (năng suất: 4045 tấn/ ha), giống cà chua "03",giống HP5 (trọng lượng quả cao 80100g, có khả năng chịu nóng, nhanh cho thuhoạch)

Bên cạnh hướng chọn tạo chính là năng suất, các nghiên cứu về khả năngkháng bệnh của cà chua cũng được quan tâm Bằng phương pháp đánh giá tập đoàngồm 100 mẫu giống cà chua trồng trong điều kiện vụ xuân hè với các mục tiêu: khảnăng kháng bệnh, năng suất, chất lượng Tạ Thu Cúc(1985) kết luận rằng: khả năngchống bệnh giảm dần theo thứ tự: cà chua dại L.racemigerum, Pháp số 7, BCA-5,Cuba; Cho năng suất cao gồm các giống:BCA-5, Nhật số 2, BCA-1, Ruko 3, BCA 3

và một số giống cho chất lượng tốt như: Pháp số 7, Rutgers, Saintpierre, Nhật số 2,Ogort, Triumph Cũng bằng việc nghiên cứu trên nguồn giống cà chua nhập nội,Trung tâm nghiên cứu cây trồng Việt Xô đã chọn tạo được một số mẫu giống chínsớm, năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu bệnh như: Raketa, Salut,Bogdannovskii(Trần Đình Long và CTV,1992) (dẫn theo Trần Thị Minh Hằng)[12]

Trang 25

* Giai đoạn 2 (1986-1995):

Các chương trình nghiên cứu đã được tập trung vào các chương trình khoahọc cấp nhà nước với nhiều mục tiêu: tạo giống chống chịu với điều kiện ngoạicảnh bất thuận, giống kháng bệnh, giống chất lượng

Bằng phương pháp chọn lọc, từ 17 mẫu giống nhập nội, trong thời gian 3năm (19911994), Viện nghiên cứu rau quả đã tìm ra giống cà chua quả nhỏ chịunhiệt VR2 [29]

Từ năm 1991-1995, với chương trình KN.01 “ Phát triển cây lương thực, câythực phẩm” đã có nhiều giống cà chua chất lượng được giới thiệu: Giống Hồng lan(Giống được GS.VS Vũ Tuyên Hoàng và CTV tuyển chọn từ một dạng đột biến do

xử lý lạnh cây con của giống Ba Lan trắng Đây là giống có năng suất cao, khảnăng thích ứng rộng, giống được công nhận giống quốc gia năm 1993)[2]; giốngSB2, SB3 (là các giống được Viện khoa học Nông nghiệp Miền Nam chọn lọc từ

tổ hợp lai giữa 2 giống Star x Ba lan)

Từ năm 1989, Trung tâm Kỹ thuật rau quả Hà Nội đã chọn lọc được giốngCS1 từ quần thể lai của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau Châu Á Đây làgiống có năng suất khá cao, có khả năng chống chịu tốt nhưng phẩm vị ăn tươikém[2]

* Giai đoạn 3 (1996 đến nay):

Các đề tài nghiên cứu về giống rau được bố trí trong chương trình cấp nhànước KC08 (1996-2000); KC06, KC07(2001-2005) và chương trình giống câytrồng vật nuôi của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Các nghiên cứu ở giaiđoạn này đi vào nghiên cứu theo chiều sâu, tập trung vào hướng: tạo giống có năngsuất cao, chống chịu tốt và dễ dàng sử dụng với dưới nhiều hình thức Với cácchương trình này nhiều giống cà chua lai cùng quy trình sản xuất hạt lai đã đượcxây dựng

Qua nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm với tập đoàn giống cà chua có nguồngốc từ Mondavi, các tác giả Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư đã tuyển chọnđược giống cà chua MV1, năng suất đạt từ 26,7342,3 tấn/ha và đã được côngnhận giống Quốc gia năm 1998 [18]

Trang 26

Bằng phương pháp chọn lọc cá thể, năm 1999 Viện nghiên cứu Rau quả cho

ra đời giống cà chua chịu nhiệt XH2 và đã được công nhận giống Quốc gia[2]

Trong chương trình tạo giống cà chua chịu nhiệt, bộ môn Di truyền giốngTrường Đại học Nông nghiệp I đã tạo ra giống cà chua lai HT7 Đây là giống cókhả năng chịu nhiệt tốt, năng suất và phẩm chất ở mức khá, chịu vận chuyển vàbảo quản lâu Giống HT7 đã được công nhận giống Quốc gia năm 2000 (TheoNguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư, Trần Đình Long, 2000) [20]

Để phục vụ mục tiêu tạo giống cà chua phục vụ trong công nghiệp chế biến

và xuất khẩu, Bằng phương pháp chọn dòng từ tổ hợp lai (NN325 x số 7), Viện câyLương thực và thực phẩm đã chọn được giống cà chua chế biến C95 Đây là giống

có năng suất cao, chất lượng tốt, đạt tiêu chuẩn chế biến công nghiệp và đã đượccác nhà máy chế biến chấp nhận[17]

Từ năm 1996-1998, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, đã tiếnhành thí nghiệm 15 giống cà chua chế biến nhập từ Trung tâm rau Châu Á Kết quả

đã chọn được giống cà chua chế biến có năng suất cao, phẩm chất tốt là: PT5679B;PT4678B; PT4675B Cùng trong giai đoạn này, bằng phương pháp chọn lọc cá thểqua nhiều thế hệ, các tác giả tại Viện nghiên cứu Rau quả đã chọn tạo được giốngPT18, là giống có khả năng chống chịu khá với nhiều loại bệnh hại, năng suất vàchất lượng phù hợp với chế biến [17]

Từ bộ giống gồm 12 giống cà chua với đặc tính chống chịu bệnh héo xanh vikhuẩn của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau Châu Á, Viện Nghiên cứu Rauquả đánh giá, so sánh và chọn lọc cá thể nhiều lần ở nhiều thời vụ từ năm 2000-

2002 đã xác định được giống cà chua CLN1462A là giống có triển vọng nhất vềnăng suất cũng như khả năng chống chịu một số đối tượng sâu bệnh hại chính trên

cà chua, đặc biệt là héo xanh vi khuẩn và được đặt tên là CHX1[17]

Bằng phương pháp so sánh, đánh giá một số giống cà chua chế biến nhậpnội, các tác giả Nguyễn Thanh Minh, Mai Thị Phương Anh đã đưa ra một số giống

cà chua vừa có năng suất cao, vừa đạt tiêu chuẩn chế biến như CB9A, CB7A,CB4A[24]

Trang 27

Với mục tiêu phục vụ chế biến và bằng phương pháp chọn giống ưu thế lai,tác giả Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư đã tạo ra giống HT21 Giống này cónăng suất cao(50 - 60 tấn/ha), khối lượng quả khá(60-70g/quả), có khả năng chốngchịu bệnh virút, sương mai tốt [20].

Trong đề tài “ Chọn tạo, nhân giống và kỹ thuật thâm canh một số cây rauchủ lực” với hợp phần “ Tạo giống cà chua ưu thế lai”, nhóm tác giả Nguyễn HồngMinh, Kiều Thị Thư đã tạo ra các giống cà chua theo mô hình cấu trúc cây mới làHT42 và HT160 Đây là giống cà chua chất lượng cao, có thời gian sinh trưởngngắn, khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện bất thuận( nhiệt độ cao,nhiệt độ thấp, ít ánh sáng), có khả năng chống chịu tốt với bệnh vi khuẩn[21]

Sử dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống cà chua là một phương pháp chọngiống có hiệu quả và là hướng đi căn bản nhất mà nhiều nước đang ứng dụng.Cũng bằng phương pháp này, từ vụ đông năm 1999, các nhà khoa học thuộc Việncây lương thực, thực phẩm đã phát hiện ra con lai F1 của tổ hợp lai (15 xVX3) vàđặt tên là VT3 Đây là giống có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cao,chín sớm, chống chịu bệnh sương mai, héo xanh khá Giống được công nhận tạmthời năm 2004[2,17]

Trong suốt quá trình phát triển của khoa học chọn giống cà chua thì chọn tạogiống cà chua quả nhỏ phục vụ công nghiệp chế biến (đóng hộp xuất khẩu) luôn làhướng đi dành được nhiều sự quan tâm Tuy nhiên, từ trước năm 2005, hướng đinày còn bị hạn chế về số lượng và chất lượng của các nghiên cứu[23,30] Đến năm2004-2005, các nhà khoa học của Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, mộttrong những đơn vị đứng hàng đầu về công tác chọn tạo giống cà chua, đã hoànthành quy trình công nghệ sản xuất hạt giống cà chua lai quả nhỏ trên quy mô lớn.Đến năm 2006-2007 đơn vị này đã đưa ra thị trường bộ giống cà chua lai quả nhỏphục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu với thương hiệu HT

Trong công tác chọn tạo giống cà chua thì nguồn vật liệu khởi đầu là mộtyếu tố hết sức quan trọng Có rất nhiều biện pháp để tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu.Trong số đó, có hiệu quả và được sử dụng khá phổ biến là phương pháp gây độtbiến nhân tạo Từ nguồn vật liệu là các giống cà nhập nội đã được thuần hoá, chọn

Trang 28

lọc, trồng phổ biến ở một số địa phương và các giống thuần và giống lai mới đượcthu nhập, Các tác giả Đinh Văn Luyện, Lê Thanh Nhuận thuộc Viện Di truyềnNông nghiệp đã tiến hành gây đột biến bằng các tác nhân lý, hoá học Kết quả đãchọn tạo ra một số dòng cà chua có triển vọng như: DT18, 32T, T1T, số 28 Trong

số các dòng cà chua triển vọng đã chọn được thì DT18 là dòng cà chua có khảnăng sinh trưởng, phát triển tốt nhất, có tiềm năng năng suất cao nhất và có hìnhdạng quả phù hợp với mục đích chế biến đóng lọ xuất khẩu( Đinh Văn Luyện, LêThanh Nhuận, 2005)[17]

Không chỉ quan tâm tới công tác chọn tạo giống mới, các nhà khoa học cũngthường xuyên nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chấtlượng, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh hại của cà chua.Ghép cà chua trên gốc cà tím chính là một trong những tiến bộ đó Theo Trần VănLài và cs (2003) tỷ lệ sống của cà chua ghép trên gốc cà tím đạt 92%, cao hơn sovới ghép trên cây cà pháo(60%) và cà bát(55%) Cây cà chua ghép không bị bệnhhéo xanh vi khuẩn, năng suất và phẩm chất tương đương với cà chua bình thường[15] Còn tác giả Trần Kim Cương cho rằng việc ghép giống cà chua lai 601 lên 2giống cà tím EG195 và EG203 thì cây cà chua sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất

và chất lượng quả bình thường Đặc biệt còn chống được bệnh héo xanh vi khuẩntrong điều kiện đồng bằng sông Cửu Long [10]

Bên cạnh các cơ quan khoa học nhà nước, các công ty tư nhân cũng gópphần làm phong phú bộ giống cà chua dùng cho chế biến Trong số các công ty ấynổi lên là Trang Nông, Hoa Sen, Đông Tây, Sygenta Bước đầu các công ty đãchọn được một số giống phù hợp với điều kiện của nước ta từ tập đoàn giống nhậpnội Đó là các giống TN184, TN002 (Vô hạn), TN52, TN54 (Hữu hạn) của TrangNông; VL2000, VL2200 (Công ty Hoa Sen); TM 2016, 2017( công ty Sygenta)

Tuy có lịch sử phát triển chưa lâu nhưng công tác chọn tạo giống cà chua củanước ta đã dành được những thành quả nhất định Để phục vụ tốt hơn nhu cầu củatrong nước cũng như theo kịp được sự phát triển của thế giới thì chúng ta cần cónhững định hướng, chiến lược phát triển cụ thể Đồng thời cũng cần thúc đẩy quan

Trang 29

hệ hợp tác, trao đổi với các cơ quan nghiên cứu Quốc tế, cũng như tạo điều kiện

để các đơn vị tư nhân tích cực tham gia vào công tác chọn tạo giống

2.4.2 Sản xuất cà chua ở Việt Nam

Là loại rau ăn quả có khả năng thích ứng rộng và có giá trị cao nên cà chuađược trồng ở hầu hết các tỉnh trong cả nước Diện tích trồng cà chua chiếm khoảng7-10% tổng diện tích trồng rau cả nước, tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng vàtrung du bắc bộ như Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Vĩnh Phúc, Hải Phòng Ởmiền Nam, các tỉnh trồng nhiều như An Giang, Tiền Giang, Lâm Đồng[8]

Bảng 4: Di n tích, n ng su t v s n lện tích, năng suất và sản lượng cà chua giai đoạn 2000-2005 ăng suất và sản lượng cà chua giai đoạn 2000-2005 ất cà chua trên thế giới ành phần hoá học của 100g cà chua ảng 1 Thành phần hoá học của 100g cà chua ượng cà chua giai đoạn 2000-2005 ng c chua giai o n 2000-2005 ành phần hoá học của 100g cà chua đoạn 2000-2005 ạn 2000-2005

Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (1000 tấn)

Nguồn: Trích số liệu cảu Tổng cục thống kê năm 2006

Từ năm 2000 đến năm 2005, sản xuất cà chua tăng mạnh cả về diện tíchtrồng( từ 6,976 ha đến 23,354 ha, tăng gấp 3,34 lần) lẫn sản lượng (từ 136,734 tấnnăm 2000 lên 462,435 tấn năm 2005) Tuy nhiên năng suất của năm 2005 khôngcao hơn năm 2000 Thực tế, diện tích trồng cà chua tăng mạnh trong giai đoạn từnăm 2000 - 2005 là do tăng nhanh về diện tích trồng cà chua trái vụ (vụ thu đông

và vụ xuân hè), mà trong đó vai trò của các giống chịu nhiệt trồng trái vụ là hết sức

rõ ràng

Theo TS Phạm Đồng Quảng và cộng sự, hiện nay, cả nước có khoảng 115giống cà chua được gieo trồng Trong đó có 10 giống được gieo trồng với diện tíchlớn( 6.259 ha, chiếm 55% diện tích cả nước) Giống M386 được trồng nhiềunhất( khoảng trên 1.400 ha), tiếp đến là các giống cà chua pháp, VL200, TN002, [3, 25]

Theo Trần Khắc Thi (2003), sản xuất cà chua ở nước ta còn nhiều hạn chếnhư: Sản xuất còn manh mún, sản phẩm không đủ phục vụ cho công nghiệp chế

Trang 30

biến, tập trung chủ yếu trong vụ đông xuân(chiếm hơn 70%) Hơn nữa chưa có bộgiống dùng riêng cho các thời vụ khác nhau; Việc đầu tư cho sản xuất còn thấp,đặc biệt là chưa có quy trình canh tác cho từng giống, từng địa phương, nếu có thìquy trình canh tác, thu hái diễn ra hoàn toàn thủ công.

3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu.

Vật liệu nghiên cứu là 12 tổ hợp lai cà chua do Trung tâm Nghiên cứu vàPhát triển rau chất lượng cao, Đại học Nông nghiệp Hà Nội đưa ra, gồm: T016;T026; T060; T067; T092; T270; T330; T350; T601; T612; T620; T673 Trong đó,T022 giống nhập nội làm đối chứng

3.2 Nội dung nghiên cứu.

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học, đánh giá năng suất, chất: lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua trồng ở vụ Xuân hè sớm Thí nghiệm 2: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học, đánh giá năng suất, chấtlượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua trồng ở vụ Xuân Hèmuộn

3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.

Trang 31

3.3.1 Thời gian nghiên cứu.

Các thí nghiệm được tiến hành trong hai thời vụ: xuân hè sớm và xuân hèmuộn

- Thí nghiệm 1 được trồng trong vụ xuân hè sớm:

3.3.2 Địa điểm nghiên cứu.

Xã Duy Phiên - huyện Tam Dương - Tỉnh Vĩnh Phúc.

3.4 Cách bố trí thí nghiệm.

Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, 3 lần nhắc lại,giống đối chứng được xen vào các công thức thí nghiệm ở các lần nhắc lại

Mỗi ô thí nghiệm 7,5 m2 trồng 22 cây

Khoảng cách trồng: Cây cách cây: 45 cm

Hàng cách hàng: 55cm

3.5 Các chỉ tiêu theo dõi.

3.5.1 Các giai đoạn sinh trưởng của cây cà chua trên đồng ruộng.

- Thời gian từ trồng đến ra hoa: 70% số cây nở hoa ở chùm 1

- Thời gian từ trồng đến đậu quả: 70% số cây đậu quả ở chùm 1

- Thời gian từ trồng đến bắt đầu chín: 30% số cây có quả chín ở chùm 1

3.5.2 Cấu trúc cây.

- Chiều cao từ gốc đến chùm quả 1, số đốt từ gốc đến chùm quả 1

- Số đốt trên thân chính, chiều dài trung bình đốt

- Màu sắc lá: xanh đậm, xanh sáng, xanh

- Dạng chùm hoa: đơn giản(dạng chùm ngắn - bình thường, dạng chùm dài –xương cá); phức tạp; trung gian

- Đặc điểm nở hoa: tập trung, rải rác

- Chiều cao cây cuối cùng: chiều cao từ gốc đến đỉnh thân chính

Trang 32

3.5.3 Tình hình nhiễm bệnh hại.

- Nhiễm bệnh do nấm: Đánh giá mức độ nhiễm bệnh mốc sương, thối quảtheo các cấp độ

- Nhiễm bệnh virút, vi khuẩn: Tính % cây bị nhiễm bệnh

3.5.4 Khả năng chịu nhiệt của các tổ hợp lai cà chua.

- Tỷ lệ đậu quả: mỗi cây theo dõi 5 chùm hoa, tính tỷ lệ đậu quả trên từngchùm và tính tỷ lệ đậu quả trung bình

3.5.5 Một số chỉ tiêu về hình thái quả.

- Màu sắc vai quả khi chưa chín: xanh, xanh nhạt, trắng

- Màu sắc quả chín: vàng, đỏ vàng, đỏ bình thường, đỏ cờ, đỏ thẫm

- Độ ướt thịt quả đánh giá theo các mức độ: rất ướt, ướt, khô nhẹ, khô

- Đặc điểm thịt quả, phân các nhóm: mềm nát, mềm mịn, chắc mịn, chắc bở,thô sượng

- Số ngăn hạt/quả

- Số hạt/quả

3.5.6 Một số chỉ tiêu về phẩm vị ăn tươi, độ Brix.

- Phẩm vị ăn tươi:

+ Khẩu vị nếm: ngọt đậm, ngọt, ngọt dịu, nhạt, chua dịu, chua

+ Đánh giá hương vị: có hương, không rõ, hăng

Trang 33

* Giai đoạn vườn ươm:

- Chuẩn bị hạt giống gieo: Chọn các mẫu có tỷ lệ nảy mầm cao >80%

- Chuẩn bị đất gieo: Làm đất nhỏ, lên luống, bón lót phân theo quy trình kỹthuật

- Gieo hạt: rắc đều hạt lên mặt luống, rắc chấu, phủ rơm và tưới nước

- Chăm sóc ở giai đoạn vườn ươm:

+ Tỉa cây: tiến hành tỉa thưa cây 2 lần: lần 1 khi cây1  2 lá thật , lần 2 saulần 1 bảy ngày, cần loại bỏ cây xấu, cây bệnh và đặc biệt là cây khác dạng

+ Tưới ẩm: thường xuyên duy trì độ ẩm cho đất Ngừng tưới trước nhổ trồngbẩy ngày

+ Phun phòng trừ sâu bệnh: Trong vụ Xuân hè, gieo hạt thường gặp nhiệt độthấp, ẩm độ cao, trời âm u nên cây phát triển chậm, bệnh tật nhiều cần chú ý pháthiện sớm bệnh và sâu hại Khi thấy xuất hiện bệnh thắt cổ rễ và sương mai có thểphun phòng bằng Zineb 0,1  0,3% hoặc oxyclorua đồng 1%

Khi cây có 4  5 lá thật thì tiến hành nhổ cây đi trồng Cần lưu ý không tướinước cho cây trước một tuần để cho cây cứng và tưới đẫm nước trước 3  4 giờrồi nhổ để tránh tổn thương rễ, để cây nơi kín gió râm mát

Trang 34

* Giai đoạn trồng ra ruộng.

- Làm đất: Cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, lên luống theo kích tthước:

- Bón phân: Quy trình bón trong thí nghiệm(tính cho 1 ha) như sau:

+ Lượng bón: 12 tấn phân chuồng + 360 kg đạm urê + 650 kg supe lân + 340

Thời gian bón: Bón sau trồng 28 ngày

Lượng bón: 40% lân + 30 % đạm + 30% kali

Cách bón: Bón phân xung quanh gốc

Trang 35

Lượng bón: toàn bộ lượng phân còn lại.

Cách bón:

- Chăm sóc khác:

+ Tưới nước: do khối lượng thân lá lớn nên cà chua có nhu cầu về nước lớn.Sau trồng cần tưới nước ngay để lấy lại trạng thái cân bằng cho cây Tuỳ vào điềukiện thời tiết mà ở giai đoạn bén rễ hồi xanh có thể tưới từ 1  2 lần một ngày.Cần chú ý giữ ẩm đất ở khoảng 70  80% cho các giai đoạn và đặc biệt tránh hạn

ở giai đoạn ra hoa đậu quả

+ Làm cỏ: Thường xuyên làm sạch cỏ trên ruộng trồng

+ Tỉa cành ánh: Tỉa ánh là công việc loại bỏ cành vô hiệu để tập trung nuôithân chính và quả, công việc này tiến hành càng sớm càng tốt Tiến hành tỉa ánh từkhi xuất hiện ánh non, mỗi cây chỉ giữ lại một thân phụ dưới chùm hoa thứ nhất.+ Cắm dàn: Làm dàn: Dàn giúp cây đứng thẳng, hạn chế sâu bệnh, làm chocây có thể tận dụng triệt để ánh sáng vào việc quang hợp Khi cây đậu quả thì dàn

có tác dụng đỡ quả Ngoài ra dàn giúp ta dễ dàng chăm sóc cây khi cây đượckhoảng 30-40cm thì tiến hành cắm dàn, cắm dàn theo kiểu hình chữ A

+ Buộc cây: Đây là công việc cố định cây, giúp cây không bị dập nát, gãy khigặp mưa gió hay do sức nặng của quả Dùng dây mềm buộc cây tựa nhẹ vào dàn,mối buộc đầu ở chùm hoa thứ nhất

+ Phòng trừ sâu bệnh:

Về sâu hại: Sâu hại: Thường gặp ở cà chua là sâu vẽ bùa, sâu xám, sâu xanh,

sâu khoang, các loại sâu này phá hoại trên lá, quả và gây khuyết cây Ngoài ra còn

có bọ trĩ, bọ phấn trắng, rầy xanh trích hút dịch và làm môi giới truyền bệnh Cầnthường xuyên bắt sâu hoặc có thể sử dụng thuốc Regel; Tập kỳ, Attara để phunphòng trừ

Trang 36

Về bệnh hại: Ở các thời vụ này thường gặp bệnh là mốc sương ở giai đoạn

đầu nên cần phun Zineb, Rhidomil để phòng trừ Cần chú ý tới các biện pháp chămsóc giúp cây khoẻ mạnh, chịu được bệnh virút Khi phát hiện bệnh virút, vi khuẩncần nhổ bỏ (dạng nặng) sau đó rắc vôi bột đảo đều để tránh lây lan

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm nông sinh học và khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai cà chua

4.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng chủ yếu của các tổ hợp lai cà chua ở các thời

vụ khác nhau

Để hoàn thành chu kỳ sống của mình, cây cà chua cần khoảng thời gian trêndưới 120 ngày Một chu kỳ sống hoàn thiện của cây cà chua có thể chia làm 2 giaiđoạn chính là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và thời kỳ sinh trưởng sinh thực Cácgiai đoạn này dài hay ngắn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố di truyền Tuy nhiên,bằng các biện pháp kỹ thuật, tác động đúng thời kỳ cần thiết ta cũng có thể rútngắn hoặc kéo dài thời gian sinh trưởng của cây ở các giai đoạn Để biết chính xáccác thời điểm phù hợp cho việc tác động các biện pháp kỹ thuật, chúng tôi tiếnhành theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp lai cà chua trong 2 thời vụxuân hè sớm và xuân hè muộn năm 2009 Kết quả được trình bày ở bảng 1

Trang 37

4.1.1.1 Thời gian từ trồng đến ra hoa

Để ra hoa được, cây phải trải qua thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và có sựtích luỹ đầy đủ về mặt dinh dưỡng Nếu thời kỳ này rút ngắn thì chu kỳ sống củacây cà chua sẽ rút ngắn Tuy nhiên, cây ra hoa sớm khi lượng dinh dưỡng tích luỹchưa đủ sẽ dẫn đến tình trạng cây bị sâu bệnh (ra hoa là giai đoạn mẫn cảm nhấtcủa cây đối với các loại sâu bệnh hại), dễ rụng hoa, rụng quả, quả nhỏ, kém chấtlượng Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc giảmnăng suất, chất lượng của cà chua Ngược lại, nếu giai đoạn này kéo dài sẽ làm ảnhhưởng tới giá trị kinh tế mà cây cà chua đem lại Đối với vụ xuân hè, cây cà chua

ra hoa sớm không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với việc tạo năng suất mà còn làmột trong những chỉ tiêu để đánh giá khả năng thích ứng đối với điều kiện trái vụ

ảnh hưởng đến số lượng, sức sống của hạt phấn và noãn Theo Kuo và cs (1998),nhiệt độ cao xảy ra vào thời điểm 2-3 ngày sau hoa nở sẽ gây cản trở tới quá trìnhthụ tinh [52] Độ ẩm không khí cao (>90%) dễ làm hạt phấn bị trương nứt, hoa càchua không thụ phấn được và sẽ rụng (Tạ Thu Cúc, 2000)[8] Do đó, chọn thờiđiểm cho cây cà chua ra hoa, đậu quả phù hợp là việc làm cần thiết để đảm bảođược năng suất, chất lượng và giá trị của cây cà chua Thời gian từ trồng đến rahoa được tính từ khi bắt đầu đưa cây con trồng ra ruộng cho đến khi ở cây bắt đầuxuất hiện hoa đầu tiên Trong giai đoạn này,cây cần trải qua các bước là bén rễ hồixanh, phát triển thân lá Đây chính là giai đoạn cây có nhu cầu lớn về các loại dinhdưỡng Thời gian từ trồng đến ra hoa được quy định bởi đặc tính di truyền củagiống và sự tác động của các điều kiện ngoại cảnh Chính vì vậy, để đạt được hiệuquả sản xuất cao thì cần chọn tạo các giống, xây dựng quy trình sản xuất phù hợp

để cho thời gian từ trồng đến ra hoa ở mức trung bình

Trong vụ xuân hè sớm, thời gian từ trồng đến ra hoa của các tổ hợp lai daođộng trong khoảng từ 28-46 ngày sau trồng Trong đó, giống đối chứng có thờigian này dài nhất (46 ngày sau trồng) Thời gian từ trồng đến ra hoa của các tổ hợplai trong điều kiện vụ xuân hè sớm dao động xung quanh khoảng 40 ngày sautrồng

Trang 38

Trong điều kiện vụ xuân hè muộn, thời gian từ trồng đến ra hoa của các tổhợp lai dao động trong khoảng từ 25-39 ngày sau trồng Tổ hợp lai ra hoa sớm nhất

là T620 (ra hoa sau trồng 25 ngày) và đối chứng vẫn là giống ra hoa muộn nhất (39ngày sau trồng)

Khi so sánh về thời gian từ trồng đến ra hoa của các tổ hợp lai ở hai thời vụxuân hè sớm và xuân hè muộn cho thấy, khoảng thời gian này ở hai thời vụ là có sựkhác biệt Nguyên nhân của sự khác biệt này chính là do điều kiện ngoại cảnh tácđộng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Trong điều kiện vụ xuân hè sớm,đầu vụ có nhiệt độ không khí thấp, cường độ ánh sáng yếu làm cây sinh trưởng pháttriển chậm nên giai đoạn từ trồng đến ra hoa dài hơn so với vụ xuân hè muộn

Bảng 4.1 Các giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp lai cà chua trong các thí nghiệm

Tổ hợp lai Thời gian từ trồng đến (ngày)

Trang 39

4.1.1.2 Thời gian từ trồng đến đậu quả

Thời gian này được tính khi có 75% số cây trên ô thí nghiệm đậu quả ởchùm 1, 2 và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đặc điểm di truyền của giống, điềukiện ngoại cảnh và chế độ chăm sóc

Cây cà chua là cây tự thụ điển hình, trong điều kiện thuận lợi tỉ lệ giao phấnchỉ đạt 4% Chính vì vậy, quá trình thụ phấn, thụ tinh của cà chua diễn ra nhanhhay chậm, dài hay ngắn là do bản chất di truyền của từng giống quy định

Theo Kuo và cs (1998) [52]: Sự thụ phấn có thể kéo dài từ 2-3 ngày trước nởđến 3-4 ngày sau khi hoa nở Trong điều kiện thuận lợi thì sau thụ phấn 2 ngày,quá trình thụ tinh sẽ xảy ra, bầu noãn sẽ phát triển thành quả non sau nở hoa 4-5ngày Thời gian từ ra hoa đến đậu quả chịu tác động khá lớn của điều kiện ngoạicảnh và ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ đậu quả, số lượng quả cũng như chất lượng quả

Trang 40

Thời gian này có mối tương quan chặt với thời gian từ trồng đến ra hoa, tổ hợp nào

ra hoa sớm thì sẽ đậu quả sớm

Thời gian từ trồng đến đậu quả của các tổ hợp lai dao động trong khoảng từ

33 đến 53 ngày sau trồng trong điều kiện vụ xuân hè sớm Tổ hợp lai đậu quả sớmnhất là T620 và T022 là giống đậu quả muộn nhất Một số tổ hợp lai có thời gianđậu quả tương đương nhau là: T060; T092; T673 (46 ngày sau trồng)

Đối với vụ xuân hè muộn, khoảng thời gian này kéo dài từ 29 - 44 ngày sau trồngtuỳ theo từng tổ hợp lai Trong đó, đối chứng có thời gian từ trồng đến đậu quả là 43ngày sau trồng Tương đương với đối chứng có các tổ hợp lai: T026; T060; T330

4.1.1.3 Thời gian từ trồng đến bắt đầu chín

Khi quả đã đạt kích thước tối đa và tích luỹ được lượng dinh dưỡng nhất địnhthì quả bắt đầu chuyển vào giai đoạn chín Ở cà chua, khi quả chín diễn ra đồng thờihai quá trình là chín sinh lý và chín hình thái Chín sinh lý là quá trình quả chín đượcthể hiện ở hàm lượng các chất đạt mức cao, đồng thời hạt đã hoàn thiện để phát triểnthành một cơ thể bình thường Chín hình thái đó là sự biến đổi về hình dạng, kíchthước và màu sắc quả để chúng ta dễ dàng phân biệt được quả xanh và quả chín Với

cà chua, quá trình chín hình thái được thể hiện rõ nhất ở sự hình thành các sắc tốLycopen và caroten, đây là các sắc tố quy định về màu sắc quả cà chua

Trong thí nghiệm, thời gian từ trồng đến bắt đầu chín của các tổ hợp lai dao động xung quanh 61-81 ngày sau trồng (vụ xuân hè sớm); dao động từ 57-74 ngày sau trồng (vụ xuân hè muộn) Ở cả hai thời vụ, T620 là tổ hợp lai bắt đầu chín sớm nhất (57 và 61 ngày sau trồng) Ở vụ xuân hè sớm đối chứng T022 là giống chín muộn nhất(81 ngày sau trồng), còn T026 là tổ hợp lai chín muộn nhất trong điều kiện vụ xuân hè muộn (74 ngày sau trồng) Nhìn chung, đa số các tổ hợp lai nghiên cứu đều nhanh cho thu hoạch (65 - 75 ngày sau trồng với vụ xuân hè sớm

và 60-70 ngày sau trồng với vụ xuân hè muộn)

4.1.1.4 Thời gian từ trồng đến chín rộ

Khi quả chín rộ cũng là lúc chúng ta thu hoạch dùng làm thương phẩm Để

có quả thương phẩm ngon, giá thành cao ta cần phải biết khoảng thời gian từ trồngđến chín rộ, từ đó bố trí thời vụ cho phù hợp Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành

Ngày đăng: 20/04/2014, 20:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1. Thành phần hoá học của 100g cà chua - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
ng 1. Thành phần hoá học của 100g cà chua (Trang 7)
Bảng 2.Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 2. Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới (Trang 22)
Bảng 3. Sản lượng cà chua của thế giới và 10 nước dẫn đầu thế giới trong 4 năm 1995, 2000, 2003, 2005 (nghìn tấn) - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 3. Sản lượng cà chua của thế giới và 10 nước dẫn đầu thế giới trong 4 năm 1995, 2000, 2003, 2005 (nghìn tấn) (Trang 23)
Bảng 4.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai Tổ hợp lai Chiều cao cây (cm) / Sau trồng (ngày) - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai Tổ hợp lai Chiều cao cây (cm) / Sau trồng (ngày) (Trang 42)
Bảng 4.3. Động thái tăng trưởng số lá của các tổ hợp lai cà chua Tổ hợp lai Số lá (lá)/ Sau trồng (ngày) - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.3. Động thái tăng trưởng số lá của các tổ hợp lai cà chua Tổ hợp lai Số lá (lá)/ Sau trồng (ngày) (Trang 46)
Bảng 4.4. Một số đặc điểm cấu trúc cây của các tổ hợp lai - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.4. Một số đặc điểm cấu trúc cây của các tổ hợp lai (Trang 49)
Bảng 4.5. Tổng hợp các tính trạng hình thái, đặc điểm nở hoa  của các tổ hợp lai trong hai thời vụ - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.5. Tổng hợp các tính trạng hình thái, đặc điểm nở hoa của các tổ hợp lai trong hai thời vụ (Trang 55)
Bảng 4.8. Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai Tổ hợp lai Số chùm - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.8. Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai Tổ hợp lai Số chùm (Trang 64)
Bảng 4.9. Năng suất của các tổ hợp lai cà chua Tổ hợp lai Năng suất cá thể - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.9. Năng suất của các tổ hợp lai cà chua Tổ hợp lai Năng suất cá thể (Trang 67)
Đồ thị 7 cho thấy: giữa hai thời vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn có sự chênh lệch khá lớn về năng suất - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
th ị 7 cho thấy: giữa hai thời vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn có sự chênh lệch khá lớn về năng suất (Trang 69)
Bảng 4.10. Một số chỉ tiêu phẩm chất quả Tổ hợp lai Độ - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.10. Một số chỉ tiêu phẩm chất quả Tổ hợp lai Độ (Trang 71)
Bảng 4.11. Đặc điểm hình thái quả Tổ hợp lai H - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.11. Đặc điểm hình thái quả Tổ hợp lai H (Trang 76)
Bảng 4.13. Tương quan giữa một số chỉ tiêu chất lượng của các tổ hợp lai Chỉ số hình - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.13. Tương quan giữa một số chỉ tiêu chất lượng của các tổ hợp lai Chỉ số hình (Trang 80)
Bảng 4.14. Các giống cà chua triển vọng vụ xuân hè sớm năm 2009 - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.14. Các giống cà chua triển vọng vụ xuân hè sớm năm 2009 (Trang 81)
Bảng 4.15. Các giống cà chua triển vọng vụ xuân hè muộn năm 2009 - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
Bảng 4.15. Các giống cà chua triển vọng vụ xuân hè muộn năm 2009 (Trang 82)
ẢNH 3,4: HÌNH ẢNH LÁT CÁT NGANG  MỘT SỐ TỔ HỢP LAI TRIỂN VỌNG - Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc
3 4: HÌNH ẢNH LÁT CÁT NGANG MỘT SỐ TỔ HỢP LAI TRIỂN VỌNG (Trang 93)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w