Thu hút FDI cho phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam
Trang 22
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Kinh tế
Đại học Quốc gia Hà nội
TS Vũ Anh Dũng
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp ĐHQG chấm luận án tiến sỹ họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà nội vào hồi ….giờ, ngày….tháng…năm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại: Trung tâm Thông tin-Thư viện ĐHQGHN
Thư viện Quốc gia
Trang 33
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
1 Phùng Xuân Nhạ (chủ nhiệm), Phạm Thu Phương và các thành viên (2006), Đề tài
đặc biệt cấp ĐHQGHN: Bản chất kinh tế của các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, 2004-2006
2 Phùng Xuân Nhạ (chủ nhiệm), Phạm Thu Phương và các thành viên (2010), Đề
tài trọng điểm cấp ĐHQGHN: Điều chỉnh chính sách đầu tư nước ngoài ở Việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, 2007-2010
3 Phùng Xuân Nhạ (chủ biên), Phạm Thu Phương, và các thành viên (2010), Điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB, Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nội
4 Phạm Thu Phương (2012), Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển công
nghiệp hỗ trợ của Đài Loan và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới (số tháng 11), tr 9-16
5 Phạm Thu Phương (2012), Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Malaysia và bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số tháng 12,
tr.44-52
Trang 44
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Quá trình sản xuất công nghiệp trong các thập kỷ vừa qua đã có những biến đổi hết sức sâu sắc và rõ rệt với trình độ phân công lao động quốc tế và phân chia quá trình sản xuất đã đạt đến mức rất cao Các sản phẩm công nghiệp hầu hết không còn được sản xuất trọn bộ tại một địa điểm mà được được phân chia thành nhiều công đoạn ở các châu lục, các quốc gia, các địa phương khác nhau Khái niệm CNHT ra đời như là một cách tiếp cận sản xuất công nghiệp mới với nội dung cơ bản là việc chuyên môn hóa sâu sắc các công đoạn của quá trình sản xuất Phát triển CNHT giúp các ngành sản xuất chủ động được nguồn nguyên vật liệu đầu vào, chủ động lựa chọn nhà cung cấp, cắt giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành, tăng năng lực cạnh tranh
Ở Việt Nam, trong 25 năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình chuyển dịch
từ một nền kinh tế đóng theo cơ chế tập trung sang một nền kinh tế mở với định hướng thị trường; bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển; bù đắp thâm hụt thương mại, cải thiện cán cân thanh toán; là động lực phát triển công nghiệp, tăng trưởng xuất khẩu và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy cạnh tranh nội bộ nền kinh tế Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên theo ông Từ Minh Thiện - GĐ TT xúc tiến thương mại TP HCM (ITPC) (2009) thì: Đa số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ xây dựng nhà máy, cơ sở sản xuất để hoàn thành giai đoạn cuối tại nước ta Do CNHT nội đi ̣a kém phát triển nên doanh nghiệp lắp ráp có vốn FDI, với yêu cầu chất lượng sản phẩm cao, tuy rất muốn tăng tỷ lệ nội địa hoá để giảm giá thành sản xuất nhưng ít tìm được nguồn cung cấp CNHT đáng tin cậy
Có thể thấy rằng, vẫn còn có những quan điểm trái ngược nhau về vai trò của FDI đối với sự phát triển CNHT, có quan điểm đánh giá cao vai trò thúc đẩy CNHT của FDI nhưng cũng có những cách nhìn trái chiều khi nhìn những mặt trái của FDI đối với CNHT Trên thực tế, các chính sách phát triển CNHT còn chung
Trang 55
chung, chưa có những chính sách trực tiếp hỗ trợ, thúc đẩy thu hút dòng vốn FDI vào CNHT Tuy nhiên, những điều đó cũng cho thấy tiềm năng thu hút FDI cho phát triển CNHT còn rất lớn và nếu được đầu tư phát triển sẽ trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Tất cả những điều trên đòi hỏi có một công trình nghiên cứu nhằm chỉ rõ
và phân tích thấu đáo về thu hút nguồn vốn FDI cho CNHT, từ đó đưa ra những giải pháp thúc đẩy thu hút FDI cho phát triển CNHT tại Việt Nam Đó là những vấn đề
được giải quyết trong luận án “Thu hút FDI cho phát triển CNHT của Việt Nam“
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Trong những năm gần đây, nguồn vốn FDI và CNHT là chủ đề được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu Trong các nghiên cứu này thường
có một phần hoặc ít nhiều đề cập đến việc thu hút nguồn vốn FDI để phát triển ngành công nghiệp nhưng nội dung về cách thức thu hút FDI để phát triển CNHT không phải là trọng tâm của các nghiên cứu
Các nghiên cứu ngoài nước:
Khái niệm đáng chú ý nhất hiện nay ở ngoài nước về FDI được phát triển bởi sự phối hợp giữa tổ chức OECD (1996, 2009) và Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1993) Theo đó, FDI là đầu tư vượt ra ngoài biên giới quốc gia của một nhà đầu tư với mục tiêu thiết lập mối quan hệ dài hạn về mặt vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp nước ngoài Hội nghị UNCTAD (2005) đại diện cho quan điểm rằng, sự
góp vốn dài hạn này hàm chứa mối quan hệ dài hạn (lasting interest) giữa nhà đầu
tư và dự án đầu tư, cũng như một sự chi phối rõ rệt tới ban điều hành của doanh nghiệp có vốn tham gia Ngoài ra, một doanh nghiệp hoạt động theo khái niệm này được gọi là FDI, nếu như có tỷ lệ góp vốn trên 10% tại doanh nghiệp nước ngoài Khi sự chi phối của các tập đoàn xuyên quốc gia đối với sự phát triển thịnh vượng nền kinh tế của các nước đang phát triển ngày càng trở nên rõ ràng, các nhà nghiên cứu tìm cách giải thích xem tại sao các tập đoàn xuyên quốc gia lại đẩy mạnh hoạt động của họ ra nước ngoài dưới hình thức đầu tư trực tiếp Hai tác giả Buckley
và Casson đã lập luận rằng, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) sẽ đầu tư ở nước
Trang 66
ngoài trong trường hợp các chi phí giao dịch đối với việc xuất khẩu hay như chi phí phát sinh từ rào cản thương mại cao hơn chi phí điều phối nội bộ giữa công ty mẹ - con Tác giả Stephek Herbert Hymer (1976) thì khẳng định, các TNCs do thiếu kiến thức về thị trường, chi phí phối hợp cao, rủi ro từ biến động tỷ giá và bị đối xử không công bằng trong các hợp đồng công nên chịu những bất lợi về cạnh tranh so với doanh nghiệp ở nước sở tại Vì thế, các công ty này phải dựa vào những thế mạnh khác như công nghệ hiện đại hơn, để cân bằng ưu thế Với mô hình chiết trung, còn
gọi là mô hình mẫu “OLI-Paradigma“ tương ứng với lợi thế sở hữu về mặt tổ chức (organizational advantage – “O”), lợi thế địa điểm (locational advantage – “L”) và lợi thế nội vi hóa (internalization advantage – “I”), tác giả Dunning John H (1981)
đã nêu ra ba điều kiện cần đối với doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư tại nước ngoài Dựa trên sơ đồ kim cương lợi thế cạnh tranh của M E Porter (1990), học giả Barclay (2002) đã giải thích những điều kiện tác động tới hành vi ra quyết định của nhà đầu tư khi đứng trước một cơ hội kinh doanh, có thể tóm tắt là: cấu trúc thị trường cạnh tranh hiện tại, nguồn lực của nước nhận đầu tư, nhu cầu trên thị trường của nước nhận đầu tư và khả năng cung ứng của ngành công nghiệp phụ trợ
Khái niệm CNHT được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Nhìn CNHT theo ngành, có 3 cách thể hiện chính thức trong các văn bản cấp quốc gia Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản đưa ra khái niệm về CNHT vào năm 1993, Phòng Năng lượng Hoa Kỳ trong ấn phẩm năm 2004, Văn phòng phát triển công
nghiệp phụ trợ Thái Lan Nghiên cứu của Junichi Mori trong “Development of
Supporting Industries for Vietnam’s Industrialization” (2005) cho rằng có hai cách
tiếp cận đối với khái niệm công nghiệp phụ trợ: từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinh doanh Các nghiên cứu này sử dụng những thuật ngữ tiếng Anh khác nhau (supporting industries, sub-contracting, related industries…) với các nội hàm khác nhau nhưng đều khẳng định vai trò của các ngành CNHT trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
Trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về CNHT và tác động của nó đến phát triển công nghiệp, đến năng lực cạnh tranh các ngành công nghiệp như các nghiên cứu
Trang 77
của M Porter (1990) về lợi thế cạnh tranh quốc gia, chuỗi giá trị và cụm công nghiệp Khái niệm CNHT xuất hiện trong lý thuyết về mô hình kim cương của Michael Porter nhấn mạnh mức độ quan trọng của CNHT trong việc tạo nên lợi thế cạnh tranh của quốc gia Dựa vào lý thuyết mô hình kim cương, M Porter mở rộng ý tưởng thành mô hình cụm công nghiệp, như gia tăng chất lượng sản phẩm, đổi mới và tạo ra doanh nghiệp mới Trong nghiên cứu của mình (Fujimoto, 2004; Takahiro Fujimoto và Junjiro Shintaku, 2005; Ohno và Fujimoto, 2006), giáo sư Takahiro Fujimoto và nhóm nghiên cứu đại học Tokyo đã đưa ra lý thuyết cấu trúc kinh doanh để giải thích những khác biệt cơ bản giữa các ngành công nghiệp chế tạo của một số nền kinh tế chủ yếu như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc Nghiên cứu của Jones Ronald W trong
Globalization and the theory of Input Trade (Boston, MA: MIT Press, 2000) giải thích
rằng cơ sở của việc sản xuất sẽ được đặt ở quốc gia có lợi thế tuyệt đối về đầu vào sản xuất cho dù có bất lợi tương đối về chi phí nhân công Như vậy, các quốc gia có CNHT phát triển về lâu dài vẫn duy trì sự phát triển kinh tế và lợi ích của quốc gia Tổ chức
năng suất châu Á (Asian Productivity Organization - APO) cũng nghiên cứu kinh
nghiệm phát triển CNHT của châu Á trong cuốn “Đẩy mạnh CNHT: các kinh nghiệm
của châu Á (Strengthening of supporting industries:Asian experiences) (2002) Các
nghiên cứu của Nhật Bản (JICA, JETRO) và diễn đàn phát triển Việt nam được công
bố trong “Xây dựng CNHT tại Việt nam” (Kenichi, 2007), báo cáo điều tra “Building
and Strengthening Supporting Industries in Vietnam” của Kyoshiro Ichikawa, nghiên
cứu “Công nghiệp phụ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”
(VDF, 2006) đã nghiên cứu sâu về công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam Tuy nhiên các nghiên cứu này thường tập trung vào một vài ngành CNHT có vốn đầu tư Nhật Bản như ô tô, điện tử… nhằm tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp Nhật Bản mà không nghiên cứu CNHT một cách toàn diện
Các nghiên cứu trong nước:
Tác giả Từ Thúy Anh (2010) cho rằng các nhà sản xuất, lắp ráp và cung ứng tại các KCN trên thế giới lại thường quan hệ chặt chẽ với các tổ chức phân phối, các cơ quan tài chính, các nhà tư vấn chuyên nghiệp, các nhà cung ứng dịch
Trang 88
vụ, cũng như được hỗ trợ bởi Chính phủ, bởi các hiệp hội, cơ sở giáo dục và hỗ trợ
kỹ thuật Việt Nam cũng nên xem xét gắn việc phát triển các cụm CNHT với các dịch vụ đi kèm, từ tài chính đến đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, vv Những suy nghĩ ban đầu về định vị doanh nghiệp hỗ trợ này cần được nghiên cứu sâu hơn thông qua khảo sát các doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài để khẳng định liệu cụm CNHT chuyên sâu về một ngành có thật sự ưu việt hơn cụm công nghiệp đa ngành hay không Những kinh nghiệm của các nước trong việc thu hút FDI vào phát triển CNHT cũng được nhiều tác giả đề cập như nghiên cứu của Nguyễn Thị Tường Anh, 2010; Đỗ Hương Lan, 2010 Tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã tiến hành nghiên cứu về chính sách thu hút FDI và phát triển CNHT ở Vĩnh Phúc, Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu trên cơ sở đánh giá tình hình thu hút FDI vào CNHT của các địa phương này từ đó đề xuất chính sách cho các địa phương trong việc thu hút FDI vào CNHT Một số nghiên cứu khác có đề cập đến đến sự cần thiết của việc thu hút FDI để phát triển CNHT ở Việt Nam tuy nhiên mới chỉ là những đề xuất được nêu lên ở trong phần giải pháp như một định hướng chính sách cho nhà nước chứ chưa
có nghiên cứu nào phân tích trực tiếp và đề xuất cách thức hiệu quả thu hút nguồn vốn FDI để phát triển CNHT
Như vậy, có khá nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước về CNHT và nguồn vốn FDI, các nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều cách để phát triển CNHT, nhiều mô hình để phát triển CNHT nhưng nhiều nước như Đài Loan, Thái Lan, Malaysia thành công là nhờ vào việc thu hút nguồn vốn FDI để thúc đẩy phát triển CNHT Do đó, đề tài sẽ tiếp tục bổ sung, phát triển các kết quả nghiên cứu đã có nhưng đề xuất cách thức hiệu quả thu hút nguồn vốn FDI cho phát triển CNHT ở Việt Nam nhằm lấp khoảng trống giữa lý thuyết và thực tiễn tại Việt Nam
3 Mục đích và câu hỏi nghiên cứu
Luận án nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn về việc thu hút FDI cho phát triển CNHT của Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu đó, luận án đặt ra bốn câu hỏi nghiên cứu chính sau:
1 Tại sao Việt Nam cần thu hút FDI cho phát triển CNHT?
Trang 99
2 Thực trạng thu hút FDI cho phát triển CNHT tại Việt Nam như thế nào?
3 Việt Nam đã có những chính sách gì để thu hút FDI cho phát triển CNHT?
4 Trong thời gian tới, Việt Nam cần thực hiện những giải pháp nào nhằm thu hút nguồn vốn FDI cho phát triển CNHT?
Để trả lời bốn câu hỏi trên, luận án đã tiến hành:
i) Nghiên cứu một số cơ sở lý thuyết và thực tiễn về FDI và CNHT; xu hướng thu
hút FDI cho phát triển CNHT của các nước đang phát triển ở giai đoạn đầu CNH; vai trò của FDI đối với phát triển CNHT; Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thu thu hút FDI cho phát triển CNHT; Nghiên cứu những thành công, hạn chế trong việc thu hút FDI cho phát triển công hỗ trợ ở một số nước châu Á;
ii) Đánh giá thực trạng thu hút FDI cho phát triển CNHT tại Việt Nam; và
iii) Đề xuất một số quan điểm và kiến nghị về giải pháp thu hút FDI hiệu quả cho
phát triển CNHT của Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dòng vốn FDI và công nghiệp hỗ trợ
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: Dòng vốn FDI vào lĩnh vực CNHT của Việt Nam từ năm 2000 - nay + Nội dung: Dòng vốn FDI cho phát triển CNHT của Việt Nam Nghiên cứu trường hợp CNHT ngành ô tô và CNHT ngành điện tử
5 Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu
Luận án sử dụng các phương pháp phân tích hệ thống, tổng hợp và so sánh, phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu, nghiên cứu case study, các nguồn tư liệu, cơ sở dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
6 Những đóng góp của luận án
- Luận án hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận về nguồn vốn FDI, CNHT và mối quan hệ giữa FDI và CNHT cũng như những nhân tố tác động đến thu hút FDI cho phát triển CNHT
Trang 1010
- Luận án nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc thu hút FDI cho phát triển CNHT ở một số nước trên thế giới (Đài Loan, Thái Lan, Malaysia) và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Luận án phân tích và làm rõ thực trạng thu hút FDI cho phát triển CNHT ở Việt Nam, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của chúng
- Luận án đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI cho phát triển CNHT của Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các hình, các bảng số liệu, các hộp, phần nội dung của luận án chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về FDI cho phát triển CNHT
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI cho phát triển CNHT của Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thu hút FDI cho phát triển CNHT của Việt Nam
1
Trang 1111
TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1.1 Cơ sở lý luận về FDI và công nghiệp hỗ trợ
1.1.1 FDI và vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển
Có thể khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu điển hình quốc tế về mặt tác động tích cực của dòng FDI đối với nước nhận đầu tư là: (1) Giảm tình trạng thiếu vốn và qua đó làm tăng năng suất lao động, việc làm và những yếu tố sản xuất khác; (2) Thúc đẩy tăng trưởng thông qua tăng thêm tổng vốn đầu tư xã hội; (3) Giữ cán cân thanh toán cân bằng; (4) Đóng góp vào đa dạng hóa cơ cấu sản xuất; (5) Hiệu ứng việc làm; (6) Chuyển giao công nghệ; Tạo ra hiệu ứng trong hoạt động sản xuất và đầu tư ở công đoạn sản xuất trước và sau Tình hình chung tại nhiều quốc gia, trong đó bao gồm Việt Nam là, FDI có đóng góp đáng kể đến tăng trưởng xuất khẩu, góp phần tạo việc làm, nhưng không giúp tăng nhiều mức độ thịnh vượng của quốc gia ngoài việc tạo công ăn việc làm ở mức tiền lương tối thiểu trong khu vực chế tạo
Tuy nhiên, dòng FDI có thể gây ra các nguy cơ bất ổn chủ yếu sau: (1) Chèn ép các nhà sản xuất trong nước thay vì hợp tác mạng lưới;
(2) Suy yếu sự thịnh vượng và chuyển lợi nhuận, thu nhập ra nước ngoài theo hướng có lợi cho nhà đầu tư thông qua các chương trình ưu đãi ồ ạt của nước
sở tại
1.1.2 CNHT trong chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu
1.1.1.1 Công nghiệp hỗ trợ
Luận án sử dụng cách hiểu về CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất
các nguyên vật liệu đầu vào, linh phụ kiện, các sản phẩm trung gian góp phần cấu thành nên sản phẩm cuối cùng của các ngành công nghiệp khác Ứng với mỗi
ngành công nghiệp khác nhau thì CNHT sẽ có những đặc điểm khác nhau, cung cấp các sản phẩm khác nhau Toàn bộ quá trình từ sản xuất nguyên vật liệu đến trước giai đoạn tạo thành sản phẩm cuối cùng là hệ thống công nghiệp hỗ trợ
Trang 1212
1.1.1.2 CNHT trong chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu
CNHT không thể nhìn theo ngành hay sản phẩm vì không thể bao quát hết tính phức tạp và đa dạng của sản xuất CNHT tập trung vào các mối kết nối và mô hình chia sẻ, do vậy thích hợp trong khung phân tích về chuỗi giá trị Nghiên cứu xem xét mô hình Phân tích chuỗi giá trị, Hệ thống chuỗi giá trị của Michael Porter Bên cạnh đó, việc phân tích chuỗi giá trị toàn cầu gắn với sự hình thành các liên kết sản xuất đã được các tác giả như Gereffi và Korzenniewicz (1994), Henderson (1998), Gereffi (1999), Morris và Kaplinsky (2001), Schmitz (2004) đề cập khá nhiều
Vấn đề cốt lõi khi phân tích về chuỗi giá trị toàn cầu ở nước nhận đầu
tư liên quan tới việc gia nhập vào chuỗi của các công ty ở những nước này Chuỗi giá trị toàn cầu và mạng lưới sản xuất liên quan đến phát triển một cấu trúc tầng Vai trò quan trọng trong mạng được điều khiển bởi các công ty dẫn đầu Những công ty dẫn đầu được hỗ trợ bởi các nhà cung cấp lớp 1 trên phạm vi toàn cầu, lần lượt được bao quanh bởi các tầng thấp hơn các nhà cung cấp của các bộ
phận, linh kiện, và các đầu vào khác
Hình 1.1: Chuỗi giá trị toàn cầu, mạng sản xuất toàn cầu
Nguồn: Abonyi G, 2005
Trang 1313
1.1.3 Vai trò của FDI đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ
Luận án xem xét vai trò của FDI đối với phát triển CNHT trên các khía cạnh: Phát triển hạ tầng nền công nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển CNHT; Mở rộng quy
mô thị trường; Tạo điều kiện cho nước chủ nhà tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu, đẩy nước chủ nhà lên những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị; Thực hiện phân công lao động quốc tế và phát triển nguồn nhân lực; Phát triển và chuyển giao công nghệ cho nước chủ nhà
Bên cạnh những tác động tích cực, FDI cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến CNHT ở nước nhận đầu tư như: (i) Chèn ép các nhà sản xuất trong nước thay
vì hợp tác mạng lưới khi các nhà sản xuất nước ngoài cùng sản xuất các sản phẩm CNHT với các doanh nghiệp nội địa; (ii) Ô nhiễm môi trường và cạn kiệt nguồn tài nguyên của nước sở tại do các doanh nghiệp CNHT thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu hoặc do chiến lược của các TNCs khi đầu
tư ra nước ngoài nhằm khai thác tài nguyên
1.2 Tiêu chí đánh giá việc thu hút FDI cho phát triển CNHT
- Dòng vốn FDI vào CNHT: Việc tăng hay giảm dòng vốn FDI vào CNHT phản ánh mức độ hấp dẫn của các ngành CNHT đối với các doanh nghiệp FDI cũng như cho chính các quốc gia tiếp nhận FDI Dòng vốn FDI vào CNHT được xem xét ở dòng vốn đầu tư thực hiện, số dự án phân theo ngành và quy mô của các doanh nghiệp FDI vào các ngành CNHT
- Chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI cho các doanh nghiệp CNHT: phản ánh chất lượng của sản phẩm CNHT cũng như khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ phía các TNCs, MNCs của các doanh nghiệp nội địa
- Mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa: thể hiện sự gắn kết giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI và được xem xét trên 2 khía cạnh:
+ Quan hệ giữa doanh nghiệp CNHT với khách hàng và nhà cung cấp
+ Tương quan giữa các nguồn cung cấp trong nội bộ doanh nghiệp, nguồn nhập khẩu và nguồn cung cấp trong nước