TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN LẠI VĂN ÂN NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MÔNG TẠI HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Mã số 831 03 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHO[.]
Trang 1LẠI VĂN ÂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THỊ KIM XUYẾN
HÀ NỘI, NĂM 2022
Trang 3Để hoàn thành luận văn với đề tài “Nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản”,
em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám hiệu Nhàtrường, Quý Thầy/Cô, cùng với sự nhiệt tình giúp đỡ của Anh/chị lãnh đạo vàphụ nữ dân tộc Mông trên địa bàn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Đến nay,
em đã hoàn thành Luận văn tốt nghiệp của mình, với sự trân trọng em xinchân thành cảm ơn đến: TS Phạm Thị Kim Xuyến, Trường Đại học CôngĐoàn, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian hoàn thành Luậnvăn Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy/Cô trong Khoa Xãhội học và khoa Sau đại học đã tận tình cung cấp tài liệu cần thiết và đónggóp nhiều ý kiến quý báu để em hoàn thành Luận văn này
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn và kính chúc Quý Thầy/Cô, đặc
biệt là TS Phạm Thị Kim Xuyến dồi dào sức khỏe và công tác tốt Kính chúc
Quý nhà trường đạt được nhiều thành công trong công tác giáo dục
Trân trọng!
Trang 4Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu đồ, hình
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 13
8 Khung phân tích 14
9 Kết cấu của luận văn 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI CỦA PHỤ NỮ TRONG SỨC KHỎE SINH SẢN 15
1.1 Các khái niệm cơ bản 15
1.1.1 Nhận thức 15
1.1.2 Hành vi 23
1.1.3 Sức khỏe sinh sản 26
1.1.4 Chăm sóc sức khỏe sinh sản 28
1.1.5 Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 28
1.2 Các lý thuyết vận dụng 28
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội 28
1.2.2 Lý thuyết nhận thức – hành vi 32
1.2.3 Lý thuyết vai trò 37
Trang 5người dân tộc thiểu số, sức khỏe sinh sản 39
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MÔNG TẠI HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN 42
2.1 Khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 42
2.1.1 Vị trí địa lý 42
2.1.2 Diện tích, địa hình, dân cư 42
2.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Đồng Văn năm 2021 43
2.2 Nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông về sức khỏe sinh sản 45
2.2.1 Nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông về làm mẹ an toàn 46
2.2.2 Nhận thức chung của phụ nữ dân tộc Mông về kế hoạch hóa gia đình 54
2.2.3 Nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông về phòng tránh và điều trị bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục 59
2.3 Hành vi của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản 65
2.3.1 Hành vi của phụ nữ dân tộc Mông về làm mẹ an toàn 66
2.3.2 Hành vi của phụ nữ dân tộc Mông về kế hoạch hóa gia đình 75
2.3.3 Hành vi của phụ nữ dân tộc Mông về phòng tránh và điều trị bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục 82
2.4 Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản 83
2.4.1 Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi về các biện pháp tránh thai 83
2.4.2 Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi về chăm sóc sức khỏe trước sinh 85 2.4.3 Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi về chăm sóc sức khỏe sau sinh 86
Tiểu kết chương 2 88
Trang 6NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MÔNG TẠI HUYỆN
ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN 89
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản 89
3.1.1 Các yếu tố nhân khẩu học 89
3.1.2 Hệ thống chính sách và mạng lưới về y tế 96
3.1.3 Về công tác tuyên truyền 101
3.1.4 Về điều kiện kinh tế gia đình 103
3.1.5 Về phong tục tập quán 105
3.2 Giải pháp nâng cao nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông về sức khỏe sinh sản 107
Tiểu kết chương 3 112
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC
Trang 7Từ viết tắt Nghĩa của từ
CSSKND Chăm sóc sức khỏe nhân dân
CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
IMR Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi
U5MR Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi
UNFPA Quỹ dân số liên hợp quốc – Tổ chức nhân quyềnTTDS-KHHGĐ Trung tâm dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Trang 8Bảng 2.1 Nhận thức của người phụ nữ dân tộc Mông về số lần đi khám thai ít
nhất khi mang thai 46Bảng 2.2 Hướng dẫn về thời gian tiêm phòng uốn ván đối với phụ nữ mang
thai 49Bảng 2.3 Nhận thức của người phụ nữ dân tộc Mông về số lần cần tiêm uốn
ván khi mang thai 49Bảng 2.4 Nhận thức của người phụ nữ dân tộc Mông về những thực phẩm và
vi chất cần bổ sung khi mang thai 50Bảng 2.5 Nhận thức của người phụ nữ dân tộc Mông về thời gian cho con bú
hoàn toàn bằng sữa mẹ 53Bảng 2.6 Các chủ đề từng được nghe của phụ nữ dân tộc Mông về sức khỏe
sinh sản 55Bảng 2.7 Các biện pháp tránh thai mà người phụ nữ Mông biết 57Bảng 2.8 Nhận thức của người phụ nữ dân tộc Mông về thời gian nên sử
dụng các biện pháp tránh thai sau khi sinh đẻ 59Bảng 2.9 Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua
đường tình dục mà phụ nữ dân tộc Mông biết đến 60Bảng 2.10 Phụ nữ dân tộc Mông với những triệu chứng của nhiễm khuẩn
đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục 64Bảng 2.11 Nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông về những đối tượng cần được
điều trị khi bản thân bị nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnhlây truyền qua đường tình dục 65Bảng 2.12 Số lần đi khám thai của phụ nữ dân tộc Mông trong lần mang thai
gần nhất 66Bảng 2.13 Số lần tiêm phòng uốn ván của phụ nữ dân tộc Mông trong lần
mang thai gần nhất 67Bảng 2.14 Địa điểm sinh con trong lần sinh con vừa qua 71
Trang 9nhất 73Bảng 2.16 Dự kiến nơi đẻ cho lần sinh tiếp theo của phụ nữ dân tộc Mông 74Bảng 2.17 Các biện pháp tránh thai mà người phụ nữ Mông sử dụng 75Bảng 2.18 Thống kê của Ban chỉ đạo Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe
nhân dân huyện Đồng Văn về các biện pháp tránh thai mà phụ nữdân tộc Mông sử dụng 77Bảng 2.19 Người quyết định sử dụng các biện pháp tránh thai trong gia đình
của người phụ nữ Mông 79Bảng 2.20 Lý do không sử dụng các biện pháp tránh thai của người phụ nữ
Mông 81Bảng 2.21 Hành động thường làm của phụ nữ dân tộc Môngnếu bản thân bị
nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyềnqua đường tình dục82
Bảng 2.22 Mối quan hệ độ tuổi và sử dụng các biện pháp tránh thai 83Bảng 2.23 Mối quan hệ giữa độ tuổi và nhận thức về chăm sóc trước sinh 85Bảng 2.24 Mối quan hệ giữa độ tuổi và nhận thức về chăm sóc sức khỏe sau
sinh 86Bảng 3.1 Tương quan trình độ học vấn và nhận thứcvề các biện pháp tránh
thai của phụ nữ dân tộc Mông 90Bảng 3.2 Tương quan trình độ học vấn và hành vi sử dụng các biện pháp
tránh thai của phụ nữ dân tộc Mông 91Bảng 3.3 Tương quan độ tuổi và nhận thức về các biện pháp tránh thai của
phụ nữ dân tộc Mông 93Bảng 3.4 Tương quan độ tuổi và hành vi sử dụng các biện pháp tránh thai của
phụ nữ dân tộc Mông 95Bảng 3.5 Công tác tuyên truyền/Các kênh tiếp cận thông tin về chăm sóc sức
khỏe sinh sản của phụ nữ dân tộc Mông 102Bảng 3.6 Mối quan hệ giữa mức thu nhập trung bình hàng tháng của gia đình
với số lần đi khám thai 103
Trang 10Biểu đồ 2.1 Nhận thức của người phụ nữ dân tộc Mông về thời gian bắt đầu
cho con bú sau khi sinh 52Biểu đồ 2.2 Hiểu biết của phụ nữ dân tộc Mông về sức khỏe sinh sản 54Biểu đồ 2.3 Nhận thức về nguyên nhân của nhiễm khuẩn đường sinh sản,
bệnh lây truyền qua đường tình dục ở phụ nữ dân tộc Mông 62Biểu đồ 2.5 Chăm sóc thời kỳ kinh nguyệt 74Biểu đồ 2.4 Lý do sử dụng các biện pháp tránh thai của người phụ nữ Mông78 Biểu đồ 2.6 Mối quan hệ giữa tuổi và khám thai định kỳ 84Biểu đồ 3.1 Trình độ học vấn cao nhất của người được phỏng vấn 89
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu BanChấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mớicũng tái khẳng định tầm quan trọng của việc phải nâng cao chất lượng dân số.Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi người dân và của cả xã hội [1], là một trongnhững yếu tố góp phần quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồnnhân lực để xây dựng, phát triển đất nước Sức khỏe sinh sản là một thành phầncủa sức khoẻ nói chung, nhưng nó khác biệt một cách cơ bản so với hầu hết mốiquan tâm về sức khoẻ khác, cho dù cả nam và nữ đều tham gia vào các hoạtđộng sinh sản, song việc mang thai, sinh đẻ, nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là đặcquyền của phụ nữ Do đó, phụ nữ được coi là trọng tâm của sức khỏe sinh sản vàsức khỏe sinh sản là cốt lõi của sức khoẻ người phụ nữ Vì thế, để có được sứckhỏe sinh sản tốt, không chỉ chăm sóc trong độ tuổi sinh đẻ mà cần được chămsóc ngay từ bào thai cho đến tuổi già
Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2020), tỉ lệ tăng dân số bình quângiảm từ 1.7% giai đoạn 1989-1999 xuống còn 1,14% giai đoạn 2009-2019 Tổng
tỷ suất sinh (TFR) là 2,09 con/phụ nữ và 1.44% là tỷ lệ tăng dân số giai đoạn2009-2019, mức sinh vẫn duy trì ổn định trong hơn một thập kỷ qua, xu hướngsinh hai con ở Việt Nam là phổ biến nhưng có sự phân hóa thành ba vùng mứcsinhNăm 2019, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) là 14 trẻ tử vong trên 1000trẻ sinh sống, giảm hơn một nửa so với cách đây 20 năm; tỷ số tử vong mẹ(MMR) là 46 ca trên 100.000 trẻ sinh sống, giảm 23 ca so với năm 2009 [58].Theo Báo cáo số 404/BC-BYT, ngày 24/3/2022 của Bộ Y tế tổng kết công tácchăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em/SKSS năm 2021, tỷ lệ phụ nữ đẻ được khámthai > 4 lần tăng từ 48,2% năm 2015 lên 74.4% năm 2020 [9] Tuy nhiên, kếtquả công tác này vẫn còn có sự chênh lệch giữa các vùng, đặc biệt là phụ nữDTTS ở vùng sâu, vùng xa, trong đó có huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
Trang 12Huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang thuộc vùng núi phía Bắc của Việt Nam,cách trung tâm thành phố Hà Giang 150 km; nơi có địa hình phức tạp nhiều núicao, vực sâu, độ dốc lớn, thời tiết khá khắc nghiệt, giao thông khó khăn, nềnkinh tế vẫn còn kém phát triển Nơi đây, dân số chủ yếu là người dân tộc Mông– một trong những dân tộc thiểu số ở Việt Nam có nhiều nét tập tục, văn hóa rấtđặc sắc nhưng vẫn còn đang gặp nhiều khó khăn trong phát triển và hội nhập sovới các dân tộc khác Với mặt bằng dân trí thấp, đặc biệt là người phụ nữ ở vùngnày gần như là thuần nông và tự cung tự cấp nên họ ít tiếp xúc với các thông tin,
và chưa có ý thức chăm lo cho sức khỏe sinh sản của bản thân cũng như cho concái, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên trên địa bàn huyện là 22,0%, tăng 5,2% so vớicùng kỳ năm 2020 [5] Từ thực tế xã hội đó, với câu hỏi: Sức khỏe sinh sản củaphụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn như thế nào? Nhận thức và hành vi vềsức khỏe sinh sản của phụ nữ dân tộc Mông trước, trong và sau khi sinh ra sao?Nhân tố nào đã tác động tới nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông về
sức khỏe sinh sản? Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản” Từ đó nhằm cải thiện và nâng cao đời sống sức khỏe nhân dân
địa phương nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc Môngnói riêng
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) là một nội dung quan trọnggắn liềnvới công tác dân số cũng như hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân(CSSKND) nên đã có nhiều tổ chức, các nhà nghiên cứu tìm hiểu vấn đề này,sau đây là một số công trình đã nghiên cứu:
Quỹ Dân số Liên hợp quốc – Tổ chức nhân quyền (UNFPA) (2003), “Thực
trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại tỉnh Hà Giang năm 2003”, Hà Nội Báo cáo chỉ ra rằng, những người phụ nữ càng hiểu
biết nhiều về các biện pháp tránh thai hiện đại thì họ càng có xu hướng sử dụngcác biện pháp tránh thai hiện đại Trong các biện pháp tránh thai thì vòng tránhthai được người Mông biết đến nhiều nhất và cũng được lựa chọn ưu tiên sử
Trang 13dụng Viên uống tránh thai thường không được phụ nữ dân tộc Mông ưu tiên sửdụng do bận rộn công việc, hay quên thời điểm cần uống thuốc và thiếu thôngtin khi chuyển từ vỉ thuốc cũ sang vỉ thuốc mới Người Mông ngại sử dụng baocao su do sự bất tiện, cũng như sự “phức tạp” trong cách sử dụng, với họ thì nếu
cả hai vợ chồng đều khỏe mạnh thì không cần sử dụng bao cao su khi quan hệ vìkhông sợ bị lây bệnh, một số cho rằng ngại người khác nghĩ mình không đứngđắn trong quan hệ tình dục
Quỹ Dân số Liên hợp quốc – Tổ chức Nhân quyền (UNFPA) (2008), “Sức
khỏe sinh sản của đồng bào Mông tỉnh Hà Giang – Nghiên cứu nhân học y tế”,
Hà Nội Báo cáo này là kết quả của nghiên cứu định tính về vấn đề sức khỏesinh sản ở Hà Giang được tiến hành trong tháng 4 đến tháng 5 năm 2007, vớitrọng tâm là người Mông sinh sống tại huyện Mèo Vạc Báo cáo này tập trungphân tích hiện hành về dịch vụ sức khỏe sinh sản đối với người dân tộc thiểu số(DTTS) và đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ này trongkhuôn khổ của Chương trình hợp tác Quốc gia 7 của Quỹ Dân số Liên hợp quốctại Việt Nam Báo cáo chỉ ra, đối với người Mông, sinh nở cũng có nghĩa là táisinh nguồn lao động và thu nhập; con cái cũng có nghĩa là tài sản Phụ nữ nào có
ít con thường bị hàng xóm gièm pha Gia đình giàu là gia đình có nhà cao cửarộng, nhiều thóc gạo, trâu bò và đông con 8-10 người Họ cần phải có cả con trai
và con gái (tuy nhiên thích con trai hơn) Con trai là chỗ dựa của gia đình, vàcon gái là những nội gia tốt Ngoài ra, người Mông còn có tập tục làm chiếcgiường mới nhưng hẹp cho cặp vợ chồng mới cưới nên hai người phải nằm sátvào nhau mới đủ, do vậy cũng dễ gây hứng khởi tình dục và dẫn đến sinh consớm Nhiều phụ nữ Mông không bao giờ sử dụng biện pháp tránh thai vì sợchồng đánh hoặc gia đình bên chồng mắng mỏ
Quỹ Dân số Liên hợp quốc – Tổ chức nhân quyền (UNFPA) (2008), “Sinh
đẻ của Cộng đồng DTTS - Nghiên cứu Định tính tại Bình Định”, Hà Nội.
Nghiên cứu này tổng hợp và phân tích các kết quả trong một nghiên cứu địnhtính quy mô nhỏ về tình hình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản chongười dân tộc thuộc các huyện miền núi, vùng sâu vùng xa của tỉnh Bình Định,
Trang 14Việt Nam Nghiên cứu thu thập thông tin tại các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh vàVân Canh vào tháng 9 năm 2007 Số liệu sơ cấp được thu thập dựa vào các kỹthuật phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung, quan sát không tham dự Nghiêncứu này cho thấy có tới 2/3 cán bộ y tế tại 3 xã chưa có dịp nào quan sát một ca
đẻ tại nhà Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản có thiết kế chưa phù hợp vớitập tục của người bản địa Trong số 3 xã khảo sát, chỉ có xã Vĩnh Kim có thểđáp ứng nhu cầu lưu trú bệnh nhân, 2 xã còn lại, số lượng phòng quá ít ỏi, không
có chỗ để bệnh nhân nghỉ trước và sau sinh Tình trạng thiếu cán bộ y tế khá phổbiến; cán bộ y tế xã kiêm nhiệm chuyên trách nhiều chương trình (phòng chốnglao, sốt rét, tiêm chủng trẻ em, sức khỏe sinh sản) do vậy thời gian, nhân lực, ưutiên dành cho dịch vụ sức khỏe sinh sản cung cấp cho bà con dân tộc bị hạn chếđáng kể Tình trạng vượt tuyến tới cơ sở y tế tuyến huyện để đẻ còn phổ biếntrong cộng đồng người dân tộc, đặc biệt tại huyện Vĩnh Thạnh Giám sát cáchoạt động dự án tại cơ sở còn nhiều hạn chế và ít được thực hiện đều đặn Cónhiều lý do giải thích cho tình hình này, cụ thể: Đội ngũ cán bộ tuyến huyệnmỏng, điều kiện đi lại khó khăn, phối hợp giám sát liên ngành giữa Trung tâm y
tế và Đội kế hoạch hóa gia đình còn yếu Các hoạt động truyền thông tại cộngđồng chủ yếu triển khai vào ban đêm nên công tác giám sát không thực hiệnđược Thiếu vắng những hoạt động truyền thông định hướng nhóm đối tượngchức sắc, uy tín trong công đồng dân tộc, nam giới, những người chồng, cha(những người có vai trò ảnh hưởng hoặc quyết định đối với phụ nữ)
Bộ Y tế (2009), “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản” (ban hành kèm theo Quyết định số 4620/QĐ - BYT ngày 25/11/2009
của Bộ trưởng Bộ Y tế) Tài liệu nhằm chuẩn hóa với các dịch vụ chăm sóc sứckhỏe sinh sản với việc ban hành các quy trình và hướng dẫn chuẩn về các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tài liệu này không những là cơ sở cho việc thựchiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, mà còn cung cấp, cập nhật cho cán
bộ y tế những quy định và hướng dẫn cơ bản giúp cho việc tra cứu trong quátrình cung cấp dịch vụ, qua đó nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hóa dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản; Cung cấp cơ sở để xây dựng các tài liệu đào tạo
Trang 15trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản; Cung cấp cơ sở xây dựng các công
cụ phục vụ công tác giám sát và đánh giá các cơ sở và cán bộ cung cấp dịch vụchăm sóc sức khỏe sinh sản Trong đó, hướng dẫn bao gồm 8 phần dựa theo 8nội dung liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản, như: trình bày những quyđịnh chung, các hướng dẫn làm mẹ an toàn từ việc chăm sóc trước đẻ, chăm sóctrong khi đẻ, chăm sóc sau đẻ, các bất thường trong thai nghén, chuyển dạ vàsinh đẻ, các thủ thuật và phẫu thuật , hướng dẫn chăm sóc trẻ sơ sinh, hướngdẫn kế hoạch hóa gia đình, nhiễm khuẩn đường sinh sản và nhiễm khuẩn lâytruyền qua đường tình dục, sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên, pháthai an toàn và nam học
Bộ Y tế (2016), “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản” (ban hành kèm theo Quyết định số 4128/QĐ - BYT ngày 29/7/2016
của Bộ trưởng Bộ Y tế) Đây là lần thứ hai Bộ Y tế xây dựng và ban hành
“Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản” Tài liệu chỉ
ra, sau 6 năm thực hiện Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏesinh sản, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được triển khai áp dụng trong lĩnhvực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản Nhiều quy định trongHướng dẫn đã không còn phù hợp với thực tế, cần được bổ sung, sửa đổi Chính
vì vậy Bộ Y tế đã rà soát, bổ sung và cập nhật lần thứ hai Hướng dẫn quốc gia
về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Tài liệu Hướng dẫn quốc gia về cácdịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ban hành năm 2016 được biên soạn với sựtham gia của các Bệnh viện đầu ngành về Sản Phụ khoa, Nhi khoa và Da liễu,các chuyên gia trong và ngoài nước, các lãnh đạo và chuyên viên các Vụ, Cụccủa Bộ Y tế, với sự hỗ trợ cả về tài chính và kỹ thuật của Tổ chức Y tế thế giới(WHO), Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc(UNICEF), Tổ chức Cứu trợ trẻ em Việt nam, Tổ chức Marie StopesInternational Trong quá trình soạn thảo, tài liệu đã nhận được nhiều ý kiến đónggóp quý báu của các cán bộ y tế địa phương cũng như các tổ chức trong nước vàquốc tế hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam
Trang 16Bộ Y tế (2004), “Hành vi tìm kiếm và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
sinh sản của phụ nữ DTTS Tây Nguyên” (nghiên cứu ở 4 tỉnh Gia Lai, Kom Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông), Báo cáo khoa học cấp Bộ Kết quả nghiên cứu cho
thấy ngành y tế nói chung và các địa phương khu vực Tây Nguyên nói riêng đã
có nhiều cố gắng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân và đếnnay đã có những thành tựu nhất định Tuy nhiên công tác này có một số khókhăn hạn chế Mô hình hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ còn mangtính bị động Ở đây còn tồn tại nhiều phong tục tập quán, thói quen có ảnhhưởng xấu đến hành vi chăm sóc sức khoẻ, coi việc sinh nở là chuyện kín đáo,cúng bái, tin vào các bà đỡ Bên cạnh đó thì khoảng cách địa lý, điều kiện kinh
tế xã hội của địa phương, năng lực kinh tế của gia đình, trình độ học vấn, ngônngữ cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, thái độ và hành vi tìm kiếm dịch vụchăm sóc sức khoẻ bà mẹ của phụ nữ DTTS Ngoài ra, sự tham gia của cộngđồng như chồng, người thân đối với hoạt động chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, chưakhuyến khích được phụ nữ tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế Nghiên cứutrên đã cung cấp cho chúng ta những mô hình dịch vụ y tế và đã chỉ ra được cácyếu tố tác động đến hành vi của phụ nữ Tây Nguyên trong việc chăm sóc sứckhỏe sinh sản Tuy nhiên đề tài chưa đề cập nhiều đến nhận thức của người dânnơi đây về chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông (2011), Giáo trình Chăm sóc sức khỏe
sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, Tài liệu Đào tạo sơ cấp Dân số y tế, Hà Nội.
Giáo trình được chia thành 23 bài, với các nội dung: Sức khỏe sinh sản, sứckhỏe tình dục và kế hoạch hóa gia đình; các biện pháp tránh thai; chăm sóc phụ
nữ trước sinh, trong đẻ và sau sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh khỏe mạnh
Đào Nguyễn Diệu Trang (2020), Nghiên cứu thực trạng sức khỏe sinh sản
và đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp ở nữ vị thành niên huyện miền núi A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y - Dược,
Đại học Huế Nghiên cứu chỉ ra những kiến thức cơ bản nhất về mang thai, vệsinh sinh sản còn rất hạn chế, chỉ có 14.1% vị thành niên có kiến thức chung tốt
về sức khoẻ sinh sản, 27.1% có thực hành tốt về sức khoẻ sinh sản 2.2% em bị
Trang 17viêm nhiễm đường sinh dục dưới, 50% em kết hôn sớm và đã tìm được một sốyếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về sức khỏe sinh sản Với kết quảnày cho thấy nhu cầu về nâng cao kiến thức chuyển đổi thực hành về sức khoẻsinh sản ở vị thành niên nữ trong khu vực miền núi còn rất cao, nhiệm vụ chămsóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên còn rất nặng nề và mất nhiều thời gian.Nghiên cứu đã lần nữa khẳng định hiệu quả của can thiệp phối hợp giữa nângcao năng lực và can thiệp truyền thông trong tăng cường kiến thức và thực hành
và đặc biệt làm giảm tỉ lệ kết hôn sớm, giảm tỷ lệ mắc viêm nhiễm sinh dục dưới
ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng Chỉ số hiệu quả chung cho phần kiến thức
là 19.6%, cho thực hành là 34.6%, và giảm viêm nhiễm đường sinh dục dưới là121.4% Kết quả này cho thấy các can thiệp là xứng đáng để triển khai bởinhững tác động rõ trên kiến thức và thực hành về sức khoẻ của vị thành niên
Bùi Thị Mai Hương (2020), Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của
phụ nữ người DTTS và hiệu quả tăng cường hoạt động của cô đỡ thôn bản tại tỉnh Ninh Thuận, Luận án tiến sĩ, Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương Luận án tập
trung mô tả thực trạng kiến thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sảncủa phụ nữ DTTS từ 15-49 tuổi tại 4 xã thuộc tỉnh Ninh Thuận năm 2013 vàđánh giá hiệu quả can thiệp tăng cường vai trò và hoạt động chăm sóc sức khỏesinh sản của cô đỡ thôn bản tại địa bàn nghiên cứu (2013-2016)
Hoàng Bá Thịnh (2007), Đời sống và sức khỏe sinh sản cư dân vạn đò, Tạp
chí Gia đình và giới, số 17 Tháng 3/2007 Về phương pháp bài viết dựa trên
những kết quả nghiên cứu về sự tham gia của người dân tại 6 xã thuộc 2 huyệnVân Đồn (Quảng Ninh) và Phú Vang (Thừa Thiên Huế), là địa bàn triển khai dự
án “Nâng cao hiểu biết về cư dân vạn đò” Kết quả nghiên cứu đã phân tích tìnhtrạng sức khỏe sinh sản đáng lo ngại của nhóm cư dân đặc thù này Tác giả cũngchỉ ra những hạn chế về chất lượng nhân lực y tế cũng như cơ sở y tế, tác giảcòn đề xuất phải có những thay đổi không chỉ trên phương diện vật chất mà còn
cả về mặt nhận thức Những giải pháp này đưa ra nhằm mục đích đưa ra cácdịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản đến với nhóm cư dân vạn đò một cách hiệuquả hơn
Trang 18Nguyễn Hữu Nhân, Phạm Anh Tuấn, 2004, “Tìm hiểu một số tập quán
chăm sóc sức khỏe sinh sản của người Dao ở Yên Bái”, Tạp chí Dân số và phát
triển, số 8/2004 Bài viết đề cập tới sự ảnh hưởng của phong tục tập quán đếntình hình chăm sóc sức khỏe sinh sản của đồng bào dân tộc Dao, Yên Bái nóichung và người Dao ở xã An Bình nói riêng trên cả hai bình diện tích cực và hạnchế, những phong tục đã tác động tới chăm sóc sức khỏe sinh sản đó là tập quánhôn nhân, các tập quán trong chăm sóc thai nghén, tập quán sinh đẻ và nuôi dạycon Những tập quán của người Dao trên đây giúp ta có cơ sở để nhận diện vềtính phức tạp trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản ở vùng sâu, vùng xanơi điều kiện kinh tế khó khăn và có đông người DTTS sinh sống Tuy nhiên bàiviết chưa đề cập nhiều đến các biện pháp để làm cho vấn đề chăm sóc sức khỏesinh sản được cải thiện hơn
Tóm lại, đã có rất nhiều các cuộc nghiên cứu đề cập đến các vấn đề chămsóc sức khỏe sinh sản, ở các cuộc nghiên cứu khác nhau, các tác giả đề cập đến
những khía cạch khác nhau của vấn đề Với đề tài: “Nhận thức và hành vi của
phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản”, tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu ba nội dung cơ bản của sức khỏe
sinh sản và cũng là những nội dung đang rất được quan tâm ở địa bàn nghiêncứu đó là: Kế hoạch hóa gia đình; làm mẹ an toàn; phòng tránh và điều trị nhiễmkhuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục và những yếu tố tácđộng tới vấn đề trên cũng như những biện pháp nào có thể hỗ trợ cho phụ nữtrong vấn đề sức khỏe sinh sản Với nghiên cứu này, tác giả hi vọng có thể gópmột tiếng nói riêng vào hàng loạt những nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này
ở nước ta hiện nay
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần vận dụng các lý thuyết xã hội học trong việc phân tích, làm
rõ nhận thức, hành vi và lý giải các yếu tố tác động đến vấn đề SKSS Bên cạnh
đó, từ kết quả nghiên cứu thực tiễn tại huyện Đồng Văncó thể làm tài liệu thamkhảo cho các nghiên cứu sau này
Trang 193.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần làm rõ thực trạng nhận thức và hành vi của phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ về SKSS và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng Từ đó, đưa ramột số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông về tầmquan trọng của việc CSSKSS đối với người phụ nữ dân tộc Mông trong độ tuổisinh đẻ Luận văn cũng là tài liệu tham khảo có giá trị cho Sở Y tế và Chi cụcDân số - Kế hoạch hoá gia đình tỉnh Hà Giang nói chung, huyện Đồng Văn nóiriêng về SKSS
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh
Hà Giang về sức khỏe sinh sản
- Mô tả hành vi của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh HàGiang về sức khỏe sinh sản
- Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộcMông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản
- Đề xuất những giải pháp nâng cao nhận thức, hành vi về sức khỏe sinhsản của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh
Hà Giang về sức khỏe sinh sản
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Phụ nữ dân tộc Mông đang trong độ tuổi sinh đẻ tại địa bàn nghiên cứu
- Cán bộ dân số, y tế tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
Trang 205.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 7/2019 - 7/2022
- Phạm vi nội dung: Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn
2011- 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011 với mục tiêuchính là nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng SKSS với 11 mục tiêu,
nhiệm vụcụ thể cho cả 2 lĩnh vực SKSS và dân số gồm:“(i)Chăm sóc bà mẹ khi
mang thai, (ii) Chăm sóc bà mẹ khi đẻ, (iii) Chăm sóc bà mẹ sau khi đẻ; (iv) Thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ); (v) Giảm nạo, phá thai và phá thai an toàn; (vi) Giáo dục SKSS vị thành niên; (vii) Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản; (viii) Các bệnh lây truyền qua đường tình dục; (ix) Phòng chống ung thư vú và các loại ung thư ở bộ phận sinh dục; (x) Phòng chống nguyên nhân gây vô sinh; (xi) Giáo dục tình dục, sức khỏe người cao tuổi
và bình đẳng giới” Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả lựa chọn 3 nội dung
chính để nghiên cứu bao gồm: Làm mẹ an toàn, KHHGĐ, Phòng tránh nhiễmkhuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Đề tài sử dụng các tài liệu bao gồm: báo cáo hàng năm của địa phương, cácluận văn, luận án, báo cáo khoa học liên quan đến vấn đề sức khỏe sinh sản đểphân tích, so sánh, tìm hiểu, đánh giá thực trạng, nhận thức và hành vi của phụ
nữ dân tộc Mông huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản
6.2. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Luận văn sử dụng phương pháp phỏng vấn là để thu thập thông tin phục vụmục đích nghiên cứu
- Chọn mẫu trong nghiên cứu:
+ Xác định kích thước và dung lượng mẫu
Để đảm bảo độ tin cậy của các thông tin thu được cỡ mẫu lựa chọn phải đủlớn Khi đó phân phối của trung bình mẫu sẽ gần với phân phối chuẩn
Trang 21= (15.739 x35:100) x 1.962x 0.25(15.739 x35:100) x 0.052 + 1.962 x 0.25= 360 người
Trên cơ sở danh sách tổng thể phụ nữ dân tộc Mông đang trong độ tuổi sinh
đẻ từ 15-49 tuổi trên địa bàn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nên để đảm bảo
độ tin cậy của thông tin thu được cách chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu theophân tầng
Mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên phân tầng với công thức tổng quát:Công thức tổng quát được áp dụng cho nghiên cứu là:
Nt2 * pq
n =
N ɛ2 + t2 * pqTrong Luận văn tác giả chọn mẫu với các yêu cầu sau:
- Yêu cầu độ tin cậy là 95.0% [tra trong Bảng giá trị của hệ số tin cậy tđược tính sẵn theo hàm t, của Lia pu nốp thì giá trị t=1.96
- Phạm vi sai số chọn mẫu không vượt 5% (ɛ = 0.05)
- Với giả định tỷ lệ 50% phụ nữ dân tộc Mông có nhận thức và sử dụng cácbiện pháp phòng tránh thai hợp lý và 50% người dân không/chưa có nhận thức
và sử dụng các biện pháp phòng tránh thai hợp lý Do p+q=1, do đó tích p.q sẽlớn nhất khi p=q=0,5 => p.q =0,25 => thay vào công thức trên để xác định cỡmẫu điều tra (n)
Nt 2 x pq
n = N2 + t 2 x pq
Như vậy luận văn sẽ lấy cỡ mẫu tối thiểu cần có là 360 người để khảo sát.Trong quá trình khảo sát, tác giả đã lấy mẫu số là 372đơn vị mẫu, tương ứng vớikhoảng 372phụ nữ dân tộc Mông đang trong độ tuổi sinh đẻ từ 15-49 tuổi trênđịa bàn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
+ Cách lấy mẫu
Đề tài lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản, tác giả trực tiếp đếntừng gia đình có phụ nữ dân tộc Mông đang trong độ tuổi sinh đẻ từ 15-49 tuổitrên địa bàn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang hoặc tại các cuộc họp của Hội phụ
nữ trên địa bàn huyện Đồng Văn để thu thập thông tin
+ Mô tả cơ cấu mẫu
Trang 22Đề tài đã thực hiện điều tra 372 đơn vị mẫu, tương ứng với khoảng 372 phụ
nữ dân tộc Mông đang trong độ tuổi sinh đẻ từ 15-49 tuổi trên địa bàn các xãhuyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Cụ thể:
Các xã trên địa bàn huyện Cơ cấu mẫu nghiên cứu
6.3. Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Nguồn số liệu sử dụng dựa trên bộ câu hỏi thiết kế sẵn để thu thập thôngtin và phỏng vấn phụ nữ dân tộc Mông đang trong độ tuổi sinh đẻ từ 15-49tuổi trên địa bàn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang được xử lý dựa trên phầnmềm SPSS 20.0
Trang 236.4. Phương pháp quan sát
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát để quan sát những người trả lời trựctiếp với mục đích nhằm thu thập thông tin về chăm sóc SKSS của phụ nữ dântộc Mông đang trong độ tuổi sinh đẻ từ 15-49 tuổi trên địa bàn huyện Đồng Văn,tỉnh Hà Giang
6.5. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu 05 phụ nữ dân tộc Mông
Phỏng vấn 03 cán bộ dân số tại Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình(TTDS-KHHGĐ) và Trung tâm Y tế huyện Đồng Văn
7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
7.1. Câu hỏi nghiên cứu
- Nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông về KHHGĐ; làm mẹ an toàn; phòngtránh và điều trị bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đườngtình dục như thế nào?
- Phụ nữ dân tộc Mông có những hành vi nào về KHHGĐ; làm mẹ an toàn;phòng tránh và điều trị bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền quađường tình dục?
- Các yếu tố nào tác động đến nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộcMông về KHHGĐ; làm mẹ an toàn; phòng tránh và điều trị bệnh nhiễm khuẩnđường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục?
7.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông về kế hoạch hóa gia đình; làm mẹ antoàn; phòng tránh và điều trị bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyềnqua đường tình dục còn hạn chế
- Các hành vi của phụ nữ dân tộc Mông về KHHGĐ; làm mẹ an toàn;phòng tránh và điều trị nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đườngtình dục còn chưa đúng mức cả về biện pháp lẫn cách thức thực hiện chủ yếutheo những kinh nghiệm dân gian, truyền thống hơn là chăm sóc theo khoa học
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của phụ nữ phụ nữdân tộc Mông về sức khỏe sinh sản nhưng yếu tố về trình độ học vấn của ngườiphụ nữ
Trang 24Phòng tránh và điều trị nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục Làm mẹ an toàn
KHHGĐ
Nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản
Giải pháp nâng cao nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông về sức khỏe sinh sản
là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của phụ nữ phụ nữ
dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về sức khỏe sinh sản
8 Khung phân tích
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luậnvề nhận thức và hành vi của phụ nữ trong chăm
sóc sức khỏe sinh sản
Chương 2 Nhận thức và hành vi của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng
Văn, tỉnh Hà Giang về chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chương 3 Các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao nhận thức và hành
vi của phụ nữ dân tộc Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về chăm sóc
sức khỏe sinh sản
Trang 25Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI CỦA PHỤ NỮ TRONG SỨC KHỎE SINH SẢN 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Nhận thức
1.1.1.1 Định nghĩa
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “nhận thức là quá trình hoặc kết
quả phản ánh và tái hiện vào trong tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về thế giới khách quan hoặc kết quả nghiên cứu của quá trình đó” [34,
tr.882]
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “nhận thức là quá trình biện
chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể” [32, tr.589]
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, “nhận thức được định nghĩa là quá
trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người,
có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn” [28, tr.220] Trong
Bút ký triết học, V.I Lênin đã khắc họa một cách cô đọng bản chất của nhậnthức Ông cho rằng, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự
nhận thức thực tại khách quan,“từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” [56, tr.179] Theo quan điểm đó, nhận
thức là một quá trình biện chứng, diễn ra qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính(trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) V.I Lênin lại
cho rằng, “nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi con người nhưng
không phải là sự phản ánh đơn thuần, trực tiếp hoàn toàn Quá trình này là cả một chuỗi những trừu tượng, sự cấu thành và sự hình thành nên các khái niệm, quy luật và chính các khái niệm, quy luật này lại bao quát một cách có điều kiện gần đúng tính quy luật phổ biến của thế giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển” [57, tr.192] Sự nhận thức của con người vừa ý thức, vừa vô thức, vừa cụ
thể, vừa trừu tượng và mang tính trực giác Quá trình nhận thức sử dụng tri thức
có sẵn và tạo ra tri thức mới
Trang 26Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nhận thức là quá trình phản ánh hiện
thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái
độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình” [20,
tr.79] Còn theo tác giả Vũ Dũng thì “nhận thức là hiểu được một điều gì đó,
tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về hiện tượng, quá trình nào đó ” [17, tr.185].Theo những quan điểm vừa nêu trên, hầu
hết các tác giả đều nhấn mạnh nhận thức là một quá trình tâm lý, điều này cónghĩa là nhận thức có mở đầu, diễn biến và kết thúc Mở đầu của quá trình nhậnthức là sự tác động của thế giới khách quan vào các giác quan và bộ não của chủthể, sau đó não bộ sẽ xử lý và mã hoá thông tin tạo ra sản phẩm của quá trìnhnhận thức Tuy nhiên, những định nghĩa trên chỉ mới dùng ở việc xét nhận thứcnhư một quá trình tâm lý mà chưa xem xét vai trò của những sản phẩm do nhậnthức tạo ra
Có thể thấy, các tác giả xem nhận thức là một quá trình riêng lẻ của tâm lý
người Trong thực tế ta thấy rằng: “Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống
tâm lý con người”, theo đó, cần hiểu “nhận thức như một quá trình tâm lý và xét nhận thức với các mặt còn lại của đời sống tâm lý để có những cái nhìn nhận toàn diện và sâu sắc nhất” Do vậy, có thể hiểu“nhận thức (cognitive) là một thuật ngữ đề cập đến các quá trình tinh thần liên quan đến việc đạt được tri thức và thông hiểu, bao gồm tư duy, hiểu biết, ghi nhở, đánh giá và giải quyết vấn đề” Đây là những chức năng nâng cấp cao hơn của não bộ bao gồm ngôn
ngữ, tưởng tượng, tri giác và lập kế hoạch Trong cuộc sống, con người luônluôn nhận thức sự vật, hiện tượng xung quanh mình, đồng thời con người cũng
tự nhận thức bản thân mình, chịu sự tác động liên tục của hiện thực khách quan,con người sẽ phản ảnh hiện thực khách quan ấy và tạo nên đời sống tâm lý củamình Nói cách khác, con đường phản ánh hiện thực khách quan bằng các giácquan, bằng những tín hiệu đặc biệt khác với sự tham gia của não bộ được gọi lànhận thức
Trang 271.2.1.2 Bản chất của nhận thức
Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý người Nhờ nhậnthức, conngười mới có cảm xúc, tình cảm, mới có ý chí và mới có hành độngđược Nhận thức là tiền đề cho các hiện tượng tâm lý khác Hoạt động nhận thứckhông chỉ phản ánh hiện thực xung quanh ta mà còn phản ánh cả hiện thực củabản thân ta, nó không chỉ phản ánh hiện thực bên ngoài mà còn phản ánh cái bêntrong, không chỉ phản ánh hiện tại mà còn phản ánh cái đã qua và cái sẽ tới củahiện thực khách quan Bản chất của quá trình nhận thức bao gồm một số đặcđiểm cơ bản sau:
Thứ nhất, nhận thức là một quá trình hoạt động: Ở con người, quá trình
nhận thức thường gắn với mục đích và động cơ nhất định nên nhận thức của conngười là một hoạt động Đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là trithức về hiện thực khách quan Nó không chỉ là tri thức về các thuộc tính bênngoài mà còn là tri thức về các thuộc tính bên trong Hoạt động nhận thức là cơ
sở của mọi hoạt động tâm lý người Nhận thức là hoạt động khám phá thế giớixung quanh của chủ thể, nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính vàquy luật khách quan của sự vật, hiện tượng Nhận thức đúng làm cơ sở cho tìnhcảm, ý chí, quan điểm, lập trường, tư tưởng và hành động đúng Hoạt động nhậnthức thể hiện ởnhững mức độ nhận thức khác nhau và mang lại sản phẩm khácnhau về hiện thực khách quan
Thứ hai, nhận thức mang bản chất xã hội lịch sử: Hoạt động nhận thức bao
giờ cũng phải dựa vào những tri thức đã có, dựa vào kinh nghiệm của nhân loại
đã tích luỹ được, tức là dựa vào kết quả nhận thức xã hội mà loài người đã đạtđược ở trình độ phát triển lịch sử lúc đó Nhận thức phải sử dụng các ngôn ngữkhác nhau do các thế hệ trước sáng tạo ra với tư cách là phương tiện biểu đạt,khái quát và giữ gìn kết quả hoạt động nhận thức được thúc đẩy bởi nhu cầu xãhội, nghĩa là ý nghĩa của con người được hướng vào giải quyết các vấn đề bứcxúc do xã hội đặt ra Nhận thức của con người mang tính chất lịch sử, bởi bềrộng của sự khái quát và chiều sâu của việc phát hiện ra bản chất của sự vật hiện
Trang 28tượng được quy định không chỉ bởi khả năng của cá nhân, mà còn bởi kết quảnhận thức mà loài người đã đạt được
1.2.1.3 Các giai đoạn của quá trình nhận thức
Khi nhận thức về thế giới xung quanh, con người có thể nhận thức cái bênngoài và cả cái bên trong của sự vật, hiện tượng, có thể nhận thức cái đã có, cáiđang có, và cả cái sẽ có, có thể nhận thức cái cụ thể, cái khái quát, cái quy luậtcủa sự vật, Từ đó có thể nhận thấy, nhận thức là một hoạt động tâm lý rất phứctạp, đa dạng, và ở nhiều mức độ khác nhau Tuy nhiên, có thể chia hoạt độngnhận thức thành hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính [22,tr.84] Cụ thể:
Nhận thức cảm tính: Quá trình nhận thức cảm tính là mức độ thấp của hoạt
động nhận thức Giai đoạn này bao gồm hai quá trình: cảm giác và trị giác Đặcđiểm dễ nhận thấy của quá trình nhận thức cảm tính là quá trình tâm lý, phảnánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng trong hiện thực kháchquan khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta [22, tr.84].Nhận thức cảm tính bao gồm 2 mức độ sau:
+ Cảm giác là hình thức đầu tiên thiết lập quan hệ tâm lý cơ thể với môitrường, mức độ phản ánh tâm lý thấp nhất, là hình thức khởi đầu trong sự pháttriển của hoạt động nhận thức của con người [22, tr.84] Theo A.V.Petrovski thì:
“Cảm giác là một quá trình tâm lý đơn giản nhất phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong cơ thể dưới sự tác động trực tiếp của những kích vật chất lên các giác quan” Tuy nhiên định
nghĩa:“Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc
tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan”
[22, tr84] chưa đầy đủ bằng: “Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh từng
thuộc tính riêng lẻ bề ngoài của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong của
cơ thể khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta” [20, tr.62].
Cảm giác là viên gạch đầu tiên để xây dựng nên tòa lâu đài nhận thức Cảm giác
là hình thức đầu tiên của hoạt động nhận thức, nhờ các cơ quan cảm giác conngười nhận được nguồn thông tin, tài liệu phong phú từ thế giới bên ngoài, cũng
Trang 29như thông tin về trạng thái cơ thể mình Cảm giác là nguồn cung cấp nguyênliệu để con người tiến hành những hoạt động tâm lý cao hơn [22, tr.87].
+ Tri giác là qua trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của
sự vật, hiện tượng, khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan [20, tr.143].Tri giác có một vai trò quan trọng đối với con người, nó là thành phần chính củanhận thức cảm tính
Nhận thức lý tính: Đây là mức độ nhận thức cao ở con người, trong đó con
người phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối quan hệ có tính quy luậtcủa hiện thức khách quan một cách gián tiếp Nhận thức lý tính bao gồm tư duy
và tượng
Như vậy, nhận thức có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống và hoạtđộng của con người, nhận thức là thành phần không thể thiếu trong sự phát triểncủa con người; là cơ sở để con người nhận biết thế giới và hiểu biết thế giới đó,
từ đó con người có thể tác động vào thế giới đó một cách phù hợp nhất, để đemlại hiệu quả cao nhất cho con người Trong luận văn này, triển khai khái niệmnhận thức chính là việc được biết, mức độ hiểu của phụ nữ dân tộc Mông vềchăm sóc SKSS
Trang 30Ta nhận thấy có 06 (sáu) mức độ nhận thức khác nhau:
- Biết: Bao gồm việc có thể nhớ lại các điều đặc biệt hoặc tổng quát, nhớlại các phương pháp và quá trình, hoặc nhớ lại một dạng thức, một cấu trúc, một
mô hình mà học viên đã có lần gặp trong quá khứ ở lớp học, trong sách vở, hoặcngoài thực tế Điều đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từcác sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ nhữngthông tin cần thiết [33, tr.51]
- Thông hiểu: Bao gồm cả kiến thức, nhưng ở mức độ cao hơn là trí nhớ
Nó có liên quan đến ý nghĩa và các mối liên hệ của những gì học sinh đã biết, đãhọc Mức hiểu nội dung mô tả việc học sinh thể hiện được khả năng như: (1)biết rõ những điều giáo viên nói khi giảng bài; (2) rút ra một ý nghĩa khi đọcmột trang sách, một bài viết; (3) giải thích vì sao một thí nghiệm có thể xảy ra[33, tr.51] Ở mức nhận thức này không những học sinh có thể nhớ lại và phátbiểu lại nguyên dạng vấn đề đã học, mà còn có thể thay đổi vấn đề đã học sangmột dạng khác tương đương nhưng có ý nghĩa hơn đối với người học Một họcsinh tỏ ra mình thông hiểu một định luậtnghĩa là có thể giải thích được ý nghĩacủa những khái niệm quan trọng trong định luật vật lý ấy, hay minh họa bằngmột thí dụ về các mối liên hệ được biểu thị bởi định lý đó Mức này gồm có 3loại: chuyển dịch, nội suy, ngoại suy
- Áp dụng: Bao gồm việc ứng dụng các điều trừu tượng, những nguyên lý,định luật đã học vào các trường hợp đặc biệt, cụ thể Các khái niệm trừu tượng
có thể ở dạng: Các tư tưởng tổng quát, các phương pháp được khái quát hoá, cácnguyên tắc, các ý tưởng và lý thuyết kỹ thuật phải nhớ và áp dụng [33, tr.55]
- Phân tích: Phân tích được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu rathành các phần sao cho có thể hiểu được các yếu tố, các mối quan hệ, cácnguyên tắc cấu trúc của nó Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộphận, phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận và nhận biết được các nguyên lý
tổ chức được bao hàm [33, tr.56]
- Tổng hợp: Tổng hợp được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lạivới nhau để hình thành một tổng thể mới Điều có thể bao gồm việc tạo ra một
Trang 31thông tin thống nhất, một kế hoạch hoặc một tập hợp các thao tác dự kiến, rút ramột tập hợp các mối quan hệ trừu tượng [33, tr.57].
- Đánh giá: Đánh giá được định nghĩa là khả năng xác định giá trị của tàiliệu (tuyên bố, báo cáo nghiên cứu) Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhấtđịnh Đó có thể bằng các dấu hiệu bên trong (cách tổ chức), bằng các tiêu chuẩnbên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặcđược cung cấp các tiêu chí [33, tr.57] Đồng ý với quan điểm của B.S.Bloom,quá trình nhận thức thành sáu mức độ Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài người nghiên cứu chỉ chọn 4 mức độ biết, hiểu, đánh giá và phân tích đểnghiên cứu sâu
1.2.1.5 Biểu hiện của nhận thức
Biểu hiện của nhận thức thể hiện rõ ở hai mặt: Mặt tự phát và mặt tự giác.Mặt tự phát là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ,hiếu động, linh hoạt, sôi nổi trong hành vi mà ở mỗi người có những mức độkhác nhau Riêng mặt tự giác là trạng thái tâm lý có mục đích và đối tượng rõrệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng Biểu hiện ở nhận thức nó thểhiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học Biểu hiệnđược thể hiện không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhucầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu Hạt nhân cơ bản của nhận thức là hoạtđộng tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đadạng Biểu hiện này không chỉ thể hiện bên trong mà còn thể hiện ra bên ngoàinhư là việc chú ý một vấn đề một hiện tượng nào đó
1.2.1.6 Mối tương quan giữa nhận thức và hành vi
Thứ nhất, nhận thức và hanh vi đều phản ánh hiện thực khách quan cơ bản
nhất của xã hội và mang tính chủ thể sâu sắc Mặc dù là thế nhưng hai quá trìnhnày vẫn có những mặt riêng của nó như là nhận thức thì phản ánh những thuộctính và các mối quan hệ của bản thân thế giới, còn hành vi thể hiện hành độngcủa con người trước những hiện trạng, biến đổi các sự vật hiện tượng với nhucầu, động cơ của con người Nhận thức và hành vi có mối quan hệ rất gắn bó vớinhau, hai quá trình tâm lý cơ bản này tạo nên hoạt động sống của con người
Trang 32Thứ hai, nhận thức chi phối hành vi, nhận thức là cơ sở là nền tảng để
quyết định hành vi Con người phải có thông tin về đối tượng để có hành viđúng mức nhất với đối tượng đó Trướcmột sự vật hiện tượng nào đó chúng taluôn luôn phải suy nghĩ để biết, hiểu nó là cái gì, nó như thế nào và nó có ýnghĩa gì trong cuộc sống nơi mà nó đang tồn tại Biết đối tượng là gì, nó có quantrọng, có ý nghĩa gì đối với mình hay không để từ đó có hành vi tích cực haytiêu cực với đối tượng để tránh xảy ra những thái độ không như mong muốn
Thứ ba, hành vi chịu sự chi phối của nhận thức nhưng hành vi cũng tác
động ngược lại nhận thức Khi chúng ta có hành vi tích cực với một vấn đề cụthể thì nhu cầu và hứng thú nhận thức của chủ thể sẽ được nâng lên Nhưng cónhiều khi con người lại không như vậy, nhiều lúc nhận thức đúng nhưng không
có hành vi tích cực và ngược lại, có hành vi đúng nhưng lại bị hạn chế về mặtnhận thức
Trong Luận văn này, khi điều tra nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông vềSKSS, tác giả đã dựa trên thang đo nhận thức của Benjamin S Bloom, tuynhiên, để phù hợp với việc đánh giá, tác giả đã điều chỉnh lại thang nhận thứcthành 04 mức: Biết, hiểu, chấp nhận và thực hiện
Hình 1.2 Đề xuất của tác giả về nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông
về chăm sóc sức khỏe sinh sản
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Với những mức độ khác nhau, nhận thức phát triển từ những bước đầu nhưbiết, hiểu, chấp nhận cho đến thực hiện Trong quá trình xây dựng và nâng cao
Trang 33nhận thức của phụ nữ dân tộc Mông, các thông tin đưa ra không chỉ để phụ nữdân tộc Mông biết mà còn phải hiểu rõ bản chất, ý nghĩa của nó Từ đó, thuyếtphục phụ nữ dân tộc Mông và gia đình của họ chấp nhận, thực hiện các biệnpháp tránh thai phù hợp để thực hiện tốt CSSKSS tại địa phương.
1.1.2 Hành vi
1.1.2.1 Khái niệm
Hành vi là khái niệm trung tâm của tâm lí học hiện đại, được nghiên cứubởi nhiều nhà tâm lí học thuộc các trường phái khác nhau
Theo quan niệm của trường phái tâm lí học hành vi, hành vi chỉ đơn thuần
là phản ứng trả lời kích thích Dù các quan niệm về cấu trúc và vai trò củanhững yếu tố tác động đến hành vi ở trường phái tâm lí học hành vi cổ điển, tâm
lí học hành vi mới hay tâm lí học hành vi tạo tác có vẻ khác nhau, nhưng thựcchất đều nhấn mạnh tính quyết định của kích thích đối với hành vi; không thừanhận hoặc đánh giá không đúng sự tồn tại của tâm lí, ý thức và ý nghĩa của nóđối với hành vi người, đánh đồng hành vi của con người với hành vi của con vật
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Hành vi con người là toàn bộ những phản ứng,
cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định” [34].
Tác giả Phạm Minh Hạc nhận xét: “Theo Freud, tất cả cái gì ta có được ở
con người, dù trong đó có kết quả của giáo dục, chỉ là nguồn năng lượng tính dục (libido) bị chèn ép tạo ra mà thôi” [20, tr.378] Các nhà tâm lí học thuộc
trường phái tâm lí học nhân văn cho rằng hành vi của con người không chỉ baogồm hành vi “mở” (là những phản ứng quan sát được) mà còn bao gồm hành vi
“kín” (là những phản ứng không quan sát được - những trải nghiệm chủ quancủa con người) Hai phần này ít gắn bó với nhau Họ cho rằng con người có thểnhận thức và kiểm soát được hành vi của mình chứ không phải do vô thức quyếtđịnh và con người có thể độc lập quyết định về hành vi của mình, chứ khôngphải hoàn toàn do tác động bên ngoài Như vậy, trường phái tâm lí học nhân văndựa trên quan điểm nhìn nhận hành vi người ở góc độ cá nhân, chưa đánh giáđúng sự chi phối của cộng đồng xã hội đến hành vi của cá nhân
Trang 34Trong Từ điển Tâm lý học, theo X.L Rubinstenin, “Hành vi là hình thức
đặc biệt của hoạt động: Nó trở thành hành vi khi động cơ hành động từ kế hoạch đối tượng chuyển sang kế hoạch quan hệ nhân cách xã hội (hai kế hoạch này không tách rời nhau: Quan hệ nhân cách xã hội được thực hiện hóa ở đối tượng).Hành vi người có tiền đề tự nhiên nhưng trên cơ sở được chế định bởi xã hội, gián tiếp bởi ngôn ngữ và các hệ thống dấu hiệu – ngữ nghĩa khác nhau mà hình thức đặc trưng của chúng là lao động thuộc tính gián tiếp và cái quan trọng trong hành vi là mối liên hệ với chuẩn mực đạo đức” [17 tr.259-260].
Để khắc phục những khiếm khuyết, hạn chế của các trường phái tâm lí họcnêu trên, các nhà tâm lí học hoạt động đã nghiên cứu và đưa ra quan niệm đúngđắn, khách quan hơn về hành vi Theo Vir-gốt-xki, tâm lí học phải nghiên cứuhành vi và tâm lí người trong sự tác động qua lại với môi trường xung quanh.Môi trường mà con người sống trong đó không nên hiểu một cách đơn giản làtổng các kích thích vật lí và các kích thích xã hội mà phải hiểu môi trường ấy cóchứa đựng đối tượng và sản phẩm lao động – đó là môi trường xã hội, trong đóbao gồm tổng hòa của các quan hệ xã hội do con người tạo ra trong quá trìnhthực hiện hoạt động của mình và con người tham gia vào các quan hệ ấy Ở đóchứa đựng quá trình hai chiều, môi trường tác động lên con người và con ngườitác động lên môi trường bằng hành động có mục đích, con người thay đổi môitrường, đồng thời thay đổi chính bản thân mình Do đó, chúng ta có thể hiểuhành vi người qua hoạt động của họ Về cấu trúc hành vi, Vư-gốt-xki chỉ rõ, cấutrúc hành vi người bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinhnghiệm kép
Theo Rubinstein, “hành vi là hình thức đặc biệt của hoạt động: Nó trở
thành hành vi khi động cơ hành động từ kế hoạch đối tượng chuyển sang kế hoạch quan hệ nhân cách xã hội (hai kế hoạch hoạch này không tách rời nhau: Quan hệ nhân cách xã hội được hiện thực hóa ở quan hệ đối tượng” [19, tr.260]
Về thành phần ý thức trong cấu trúc hành vi của con người, theo Lômôv:
“Ý thức phản ánh tồn tại Nhưng không nên cho rằng ở mọi thời điểm ý thức hoàn toàn tương ứng với tồn tại Đó không phải là cái bóng, không phải là hình
Trang 35ảnh trực tiếp, nó không nhắc lại nguyên xi sự kiện Ý thức “trùng hợp” với sự kiện chỉ ở quy mô tổng thể” [37, tr.285].
Trong quá trình hoạt động nhận thức, cá nhân không chỉ tiếp thu những trithức vốn có mà có khả năng tạo ra những tri thức mới Chức năng điều chỉnh ởcấp độ ý thức là tính có chủ định Hành vi cá nhân được thực hiện như là sự thể
hiện ý chí của nó Đối với hoạt động, “ý thức giữ vai trò định hướng cao cấp
nhất, điều khiển, điều chỉnh tinh vi nhất” [26, tr.93].
Đối với hành động của con người thì hành động có ý thức là hành động chủyếu, ngay cả hành động bản năng cũng được ý thức hóa Ở con người cũng cónhững hành động do vô thức định hướng, điều khiển, điều chỉnh (hành vi của trẻlúc nhỏ tuổi, hành động của người bị ám thị thôi miền tâm thần ) nhưng đókhông phải là những hành động đặc trưng, phổ biến, thường xuyên Như vậy,theo quan niệm của các nhà tâm lí học hoạt động, hành vi bao gồm và được biểuhiện ở hành động bên ngoài, gắn với tâm lí, ý thức bên trong của conngười Tuyđôi lúc con người có hành vi vô thức nhưng hành vi đặc trưng, phổ biến vàthường xuyên của con người là hành vi có ý thức Dựa trên cơ sở lí luận đó, ởViệt Nam đã có một số công trình nghiên cứu thực tiễn trong tâm lí học đãkhẳng định, hành vi đặc trưng của con người là hành vi có ý thức, biểu hiện ởcác mặt, thành phần bao gồm: Nhận thức, thái độ, động cơ và hành động bênngoài
Trong luận án tiến sĩ “Tâm lí học” Nghiên cứu hành vi gửi tiền tiết kiệmngân hàng của khách hàng cá nhân”, tác giả Lê Thị Thu Hằng (2012) khẳng
định: “Hành vi gửi tiền tiết kiệm ngân hàng của khách hàng cá nhân bao gồm
bốn khía cạnh được chia thành hai thành phần bên ngoài và thành phần bên trong, trong đó: Hành động là thành phần bên ngoài và động cơ, nhận thức, thái độ thuộc thành phần bên trong của hành vi đó” [21] Các thành phần bên
ngoài có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với nhau và chịu ảnh hưởng bởi nhiềuyếu tố khách quan, chủ quan
Tác giả Lê Thị Linh Trang (2013) trong luận án tiến sĩ tâm lí học “Nghiêncứu hành vi văn minh đô thị của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh” cũng cho
Trang 36rằng: “Hành vi văn minh đô thị bao gồm bốn mặt biểu hiện: Nhận thức, thái độ,
động cơ thực hiện và hành động bên ngoài” [41].
Trên cơ sở quan điểm về hành vi của trường phái tâm lí học hoạt động vàquan niệm của các tác giả nêu trên, tác giả luận văn quan niệm hành vi của con
người như sau:“Hành vi của con người là những phản ứng, ứng xử có ý thức
của chủ thể đối với thế giới xung quanh và với chính bản thân mình, được biểu hiện ở nhận thức, thái độ, động cơ và hành động bên ngoài của họ trong những điều kiện, tình huống nhất định” Từ khái niệm trên cần lưu ý:
Thứ nhất, hành vi luôn là hành vi của một chủ thể với toàn bộ điều kiện
tâm – sinh lý, xã hội, lịch sử và tính tích cực của nó Dù đôi khi có hành vi vôthức nhưng hành vi đặc trưng, thường xuyên, phổ biến của con người là hành vi
có ý thức
Thứ hai, hành vi biểu hiện ở nhận thức, thái độ, động cơ và hành động bên
ngoài của chủ thể
Thứ ba, hành vi luôn xảy ra trong điều kiện, tình huống nhất định trong bản
thân chủ thể và ở môi trường xung quanh
Thứ tư, có thể quan sát, nhận biết và đo lường những biểu hiện của hành vi.
Vận dụng vào luận văn, triển khai khái niệm hành vi bao gồm việc sử dụng,thực hành, ứng dụng, chăm sóc, sử dụng các dịch vụ y tế, ra quyết định… trongviệc CSSKSS cho bản thân của người phụ nữ dân tộc Mông
1.1.3 Sức khỏe sinh sản
Theo Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển
(Hội nghị Cairô 1994): “SKSS là trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn về thể chất,
tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh tật hay ốm yếu, trong tất cả mọi thứ liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình của nó”[26] Khái niệm về SKSS có một ý nghĩa xã hội sâu sắc SKSS là một thành
phần của sức khoẻ chung, nhưng nó khác biệt một cách cơ bản so với hầu hếtmối quan tâm về sức khoẻ khác, cho dù cả nam và nữ đều tham gia vào các hoạtđộng sinh sản, song việc mang thai, sinh đẻ, nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là đặcquyền của phụ nữ Do đó, phụ nữ được coi là trọng tâm của SKSS và SKSS làcốt lõi của sức khoẻ
Trang 37người phụ nữ Vì thế, để có được SKSS tốt, không chỉ chăm sóc trong độ tuổisinh đẻ mà cần được chăm sóc ngay từ bào thai cho đến tuổi già.
Theo Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển(Hội nghị Cairô 1994), SKSS bao gồm 10 nội dung sau:
- Làm mẹ an toàn: “Làm mẹ an toàn là tất cả các phụ nữ đều được nhận sự
chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ, bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa khi có tai biến xảy ra” [23] Đây là một lĩnh vực ưu tiên trong chăm sóc sức khoẻ ở nước ta.
- Kế hoạch hoá gia đình: Theo Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
số 06/2003/PL-UBTVQH11 ngày 09 tháng 01 năm 2003 về dân số, “KHHGĐ
là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình”[50] Trên thực tế, KHHGĐ là một quyền
của con người, quyền về sinh sản trong đó nam và nữ có quyền được nhận thôngtin và tiếp cận với các biện pháp KHHGĐ an toàn, hiệu quả, phù hợp khả năng
mà họ đã lựa chọn Thực hiện KHHGĐ mang lại cho người phụ nữ rất nhiều lợiích về sức khoẻ và cải thiện điều kiện sống thông qua khả năng giãn khoảngcách giữa các lần sinh và giới hạn số lần sinh KHHGĐ còn làm giảm số trườnghợp có thai ngoài ý muốn, giảm nguy cơ gây tử vong mẹ và các biến chứng liênquan đến thai nghén Bên cạnh đó, KHHGĐ còn giúp cho phụ nữ có một sứckhoẻ tình dục lành mạnh, an toàn; và đối với xã hội KHHGĐ làm giảm sự giatăng dân số và các chi phí y tế cho CSSKSS trong đó có chi phí nạo hút thai vàđiều trị các tai biến do nạo hút thai
- Nạo hút thai: Là một biện pháp chấm dứt thai nghén có chủ ý đối với thaingoài ý muốn hoặc vì những chỉ định y tế Việc đình chỉ thai nghén có thể tiếnhành ở bất kỳ tuổi thai nào Bao gồm hút thai, nạo thai hoặc phá thai to Hút thaisớm hay hút điều hoà kinh nguyệt là thủ thuật tiến hành khi phụ nữ mới 29 chậmkinh được 7-14 ngày; nạo thai là thủ thuật lấy thai từ buồng tử cung ra ngoàibằng kìm gắp và thìa nạo khi thai dưới 12 tuần
Trang 38- Phòng và điều trị vô sinh.
- Phòng tránh và điều trị nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền quađường tình dục, HIV/AIDS
- Phòng, chống khối u đường sinh dục
- Sức khoẻ sinh sản vị thành niên
- Giáo dục giới tính, tình dục
- Chăm sóc sức khoẻ trẻ em
- Thông tin, giáo dục, truyền thông [26]
1.1.4 Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) được định nghĩa “là sự phối hợp
các phương pháp kỹ thuật và dịch vụ để bảo đảm SKSS và sức khỏe nói chung bằng cách phòng bệnh và giải quyết các vấn đề về SKSS”[15, tr.438] Trong đó,
CSSKSS còn bao hàm cả những vấn đề đảm bảo cuộc sống tình dục lành mạnh,
an toàn và hòa hợp Như vậy, CSSKSS cho phụ nữ (chăm sóc thai nghén,KHHGĐ, phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS,nhiễm trùng đường sinh sản…) chỉ thực sự có hiệu quả khi chúng được lồngghép với nhau trong một tổng thể không thể tách rời [15, tr.438]
1.1.5 Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ làtất cả những phụ nữ nằm trong độ tuổi từ 15 đến 49 tuổi
1.2 Các lý thuyết vận dụng
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội
Các lý thuyết về hành động xã hội có nguồn gốc từ V.Pareto, M.Weber,E.Durkhiem, T.Parsons, và nhiều nhà xã hội học khác Những lý thuyết này đềucoi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữacon người và xã hội đồngthời là cơ sở của đời sống xã hội của con người Nhóm lý thuyết này bao gồm xãhội học theo trường phái M.Weber, xã hội học hiện tượng luận và xã hội họcdiễn giải, thuyết tương tác biểu trưng, phương pháp luận dân tộc học, lý thuyếtcấu trúc hóa Lý thuyết hành động xã hội ra đời phản ứng lại quan điểm của cácnhà hành vi luận về hành động của con người Trong xã hội học hành động xã
Trang 39hội được hiểu cụ thể hơn các ngành khoa học khác và thường gắn với các chủthể hành động là các cá nhân Các hướng tiếp cận đó không chỉ quan tâm đếnbản chất hành động, mà cũng quan tâm đến ý nghĩa và diễn giải hành động Mộtđặc trưng xác định một hành động là, khác với hành vi, nó mang một ý nghĩachủ quan của chủ thể hành động Các tác giả đó có nhiều quan điểm khác nhau
về hành động xã hội như M.Weber cho rằng, hành động xã hội là một hành vi
mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định, hành động nằm trong sự tươngtác V Pareto một nhà xã hội học người Ý, ông chia hành động xã hội ra làm hailoại: (1) Hành động phi lôgíc là hành động cơ bản của con người nói chung.Hành động phi lôgíc bị quy định bởi một lôgíc đặc biệt cụ thể của giới tình cảm
Nó không phải là kết quả của những tính toán duy lý của con người mà nó là kếtquả của những trạng thái tình cảm của con người của cái phi lý về mặt tâm lý.Hành động phi lôgíc là cái mà người thực hiện không biết đến mối quan hệ giữahiện tượng và sử dụng phương tiện không phù hợp để đạt được mục đích (2)Hành động lôgíc là hành động không tuân theo sự chỉ đạo của tình cảm do cá lýtrí và chuẩn mực điều tiết Trong trường hợp này phương tiện và mục đích gắn
bó với nhau bởi một lôgíc khách quan Như vậy, hành động xã hội luôn mang "ýnghĩa”, và có những “chuẩn mực” và "giá trị” xã hội nhất định
M.Webervà George Herbert Mead đều rất quan tâm đến “ý nghĩa” của hành
động Khái niệm “ý nghĩa” bao hàm những cơ sở sau Thứ nhất, ý nghĩa giúp tạo
ra một hình thái đặc thù cho sự cảm nhận, sự cảm nhận này làm cho hành vi của
người khác trở nên có ý nghĩa và có thể hiểu được Thứ hai, thông qua và vượt
quá một tình huống hành động cụ thể, nó cho phép nhìn vào nền văn hóa mà nóthể hiện (văn hóa: mối quan hệ giữa các chuẩn mực và giá trị của một hệ thống
xã hội)
Chuẩn mực có nguồn gốc từ tiếng latin, có nghĩa là quy tắc, sợi chỉ xuyên
suốt Nói đến chuẩn mực là nói đến một sự đánh giá, phán xử: Cái gì phù hợpchuẩn mực tức là bình thường, cái gì ngược với chuẩn mực là lệch chuẩn, bấthình thường Trong lĩnh vực hành động xã hội, chuẩn mực là những quy tắc ứng
xử được quy định rõ ràng, chúng tạo ra sự tiêu chuẩn hóa, điều khiến cho việc
Trang 40lặp lại các hành động và do đó các kỳ vọng hành động trở nên có thể tồn tại
được Giá trị là các nguyên tắc cơ bản định hướng hành động Chúng là những
quan điểm thái độ về những điều được mong muốn, về những quan niệm dẫndắt trong văn hóa, tôn giáo, đạo lý và xã hội Như vậy hành động xã hội luôngắn với ý nghĩa xã hội và tuân theo chuẩn mực, giátrị mà cá nhân tuân theo.Hành động bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như nhu cầu, lợi ích, định hướnggiá trị, của chủ thể hành động và hoàn cảnh xảy ra hành động đó
Lý thuyết hành động xã hội hiện đại trong xã hội học còn có ba mối quantâm khác nữa.Cụ thể:
Mối quan tâm thứ nhất là bản chất của sự hợp lý và của bản thân hành động
duy lý Mối quan tâm này thể hiện trong loại hình học của M.Weber và nó đặtvấn đề về khả năng giải thích tính nhân quả của hành động (Liệu những lý dokhiến người ta làm một việc gì đó có phải là một nguyên nhân giống như việcđốt nóng một mẩu kim loại là nguyên nhân khiến nó giãn nở?) Mối quan tâmnày cũng đặt ra vấn đề liệu có những tiêu chuẩn nào tuyệt đối không, hay liệunhững giải thích xã hội học có phải lúc nào cũng liên quan với nhau theo nghĩanào đó không Thuyết sự lựa chọn duy lý của Jon Elster đề cập đến một số vấn
đề nêu trên bản chất hơn
Mối quan tâm thứ hai là những quy tắc mặc định-là-đúng
(taken-for-granted) và vốn tri thức ẩn sau hành động- một chủ thể mà các nhà phương phápluận dân tộc học và hiện tượng luận rất lưu tâm
Mối quan tâmthứ ba mà trường phái tương tác biểu trưng hướng tới là việc
học hỏi và dàn xếp ý nghĩa (meaning) giữa các chủ thể
Tất cả các lý thuyết hành động đều đề cập một cái gì đó, dù hàm ý hay hiểnngôn, về tính duy lý của chủ thể hành động- chỉ khi nào chủ thể hành xử mộtcách duy lý
Tác giả tiêu biểu của thuyết hành động xã hội là M.Weber Ông khẳng
định: Hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học “Hành động là
một thái độ của con người (tự có, bên ngoài hoặc bên trong, cho phép hoặc không cho phép) khi và chỉ khi chủ thể gắn liền với thái độ của mình một ý