1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề thực tập phương hướng biện pháp đổi mới phương thức quản lý và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước

82 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề thực tập phương hướng biện pháp đổi mới phương thức quản lý và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 642,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I....................................................................................................................................1 (4)
    • 1.1. Tính cấp thiết (4)
    • 1.2. Cơ sở khách quan và chủ quan của luận văn (4)
      • 1.2.1. Nhóm các nhân tố khách quan (8)
      • 1.2.2. Nhóm các nhân tố chủ quan (10)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (12)
    • 1.4 Giới hạn phạm vi và mục tiêu nghiên cứu (14)
    • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (15)
  • CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (16)
    • 2.1. Khái quát về doanh nghiệp nhà nước (16)
      • 2.1.1. Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhà nước (16)
      • 2.1.2. Sự cần thiết của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (23)
    • 2.2. Khái quát về phương thức quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (26)
      • 2.2.1 Khái niệm quản lý vốn tại doanh nghiệp nhà nước (26)
      • 2.2.2 Tính tất yếu của việc quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (27)
      • 2.2.3 Phân loại phương thức quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (28)
  • CHƯƠNG III THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ – PHÁP LUẬT, MÔI TRƯỜNG THỂ CHẾ NỘI BỘ TRONG QUẢN LÝ VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM (30)
    • 3.1 Đánh giá thực trạng môi trường chính trị trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (30)
    • 3.2 Đánh giá thực trạng môi trường pháp luật trong quản lý vốn tại các (33)
      • 3.2.1 Tổng quan hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước từ năm 1986 đến nay (33)
      • 3.2.2 Đánh giá tác động của pháp luật hiện hành đối với hoạt động quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (37)
        • 3.2.2.1 Những tác động tích cực của hệ thống pháp luật tới doanh nghiệp nhà nước (37)
        • 3.2.2.2. Những điểm bất cập, tồn tại của hệ thống pháp luật tác động tới hoạt động quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (43)
      • 3.3.1 Thực trạng xây dựng chiến lược đầu tư, phát triển của các doanh nghiệp nhà nước (58)
      • 3.3.2 Thực trạng xây dựng điều lệ và hệ thống quy chế quản lý nội bộ (59)
      • 3.3.3 Thực trạng thể chế tổ chức và quản lý nhân sự trong doanh nghiệp nhà nước (60)
      • 3.3.4. Thực trạng cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ (62)
  • CHƯƠNG IV ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (63)
    • 4.1 Xác định mô hình quản lý vốn nhà nước chuyên nghiệp và tập trung (64)
    • 4.2 Hoàn thiện phương thức chính trị trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (71)
    • 4.3 Hoàn thiện phương thức pháp luật trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (73)
      • 4.3.1 Hoàn thiện quy định về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của đại diện chủ sở nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước (73)
      • 4.3.2 Hoàn thiện quy định về hoạt động đầu tư vốn, bán vốn và quản lý tài chính (74)
      • 4.3.3 Hoàn thiện quy định về giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (75)
      • 4.3.4 Hoàn thiện quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (75)
    • 4.4 Hoàn thiện phương thức thể chế nội bộ trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (77)
      • 4.4.1 Về xây dựng chiến lược đầu tư, phát triển của các doanh nghiệp nhà nước (78)
      • 4.4.2 Về xây dựng điều lệ và hệ thống quy chế quản lý nội bộ (78)
      • 4.4.3 Về thể chế tổ chức và quản lý nhân sự trong doanh nghiệp nhà nước.77 (80)
      • 4.4.4 Về cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ (81)

Nội dung

MỤC LỤC CHƯƠNG I 1 TÍNH CẤP THIẾT, PHẠM VI, CƠ SỞ VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1 1 1 Tính cấp thiết 1 1 2 Cơ sở khách quan và chủ quan của luận văn 1 1 2 1 Nhóm các nhân tố khách quan 5 1 2 2 Nhóm các n[.]

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG I 1

TÍNH CẤP THIẾT, PHẠM VI, CƠ SỞ VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1

1.1 Tính cấp thiết 1

1.2 Cơ sở khách quan và chủ quan của luận văn 1

1.2.1 Nhóm các nhân tố khách quan 5

1.2.2 Nhóm các nhân tố chủ quan 7

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 9

1.4 Giới hạn phạm vi và mục tiêu nghiên cứu 11

1.5 Phương pháp nghiên cứu 12

CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 13

2.1 Khái quát về doanh nghiệp nhà nước 13

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhà nước 13

2.1.2 Sự cần thiết của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 20

2.2 Khái quát về phương thức quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 23

2.2.1 Khái niệm quản lý vốn tại doanh nghiệp nhà nước 23

2.2.2 Tính tất yếu của việc quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 24

2.2.3 Phân loại phương thức quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 26

CHƯƠNG III THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ – PHÁP LUẬT, MÔI TRƯỜNG THỂ CHẾ NỘI BỘ TRONG QUẢN LÝ VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 27

3.1 Đánh giá thực trạng môi trường chính trị trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 27

3.2 Đánh giá thực trạng môi trường pháp luật trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 30

3.2.1 Tổng quan hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước từ năm 1986 đến nay 30

3.2.2 Đánh giá tác động của pháp luật hiện hành đối với hoạt động quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 34

3.2.2.1 Những tác động tích cực của hệ thống pháp luật tới doanh nghiệp nhà nước 35

3.2.2.2 Những điểm bất cập, tồn tại của hệ thống pháp luật tác động tới hoạt động quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 40

Trang 2

3.3 Đánh giá thực trạng thể chế nội bộ trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 55

3.3.1 Thực trạng xây dựng chiến lược đầu tư, phát triển của các doanh nghiệp nhà nước 55 3.3.2 Thực trạng xây dựng điều lệ và hệ thống quy chế quản lý nội bộ 56 3.3.3 Thực trạng thể chế tổ chức và quản lý nhân sự trong doanh nghiệp nhà nước 58 3.3.4 Thực trạng cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 60 CHƯƠNG IV ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 61 4.1 Xác định mô hình quản lý vốn nhà nước chuyên nghiệp và tập trung 61 4.2 Hoàn thiện phương thức chính trị trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 68 4.3 Hoàn thiện phương thức pháp luật trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 70

4.3.1 Hoàn thiện quy định về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của đại diện chủ

sở nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 70 4.3.2 Hoàn thiện quy định về hoạt động đầu tư vốn, bán vốn và quản lý tài chính 71 4.3.3 Hoàn thiện quy định về giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước 72 4.3.4 Hoàn thiện quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 72

4.4 Hoàn thiện phương thức thể chế nội bộ trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 74

4.4.1 Về xây dựng chiến lược đầu tư, phát triển của các doanh nghiệp nhà nước 75 4.4.2 Về xây dựng điều lệ và hệ thống quy chế quản lý nội bộ 76 4.4.3 Về thể chế tổ chức và quản lý nhân sự trong doanh nghiệp nhà nước.77 4.4.4 Về cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG IV 79

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1 Các nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước 4

Sơ đồ 2 Nguyên lý can thiệp và công cụ điều tiết kinh tế thị trường 21

Sơ đồ 3 Mô hình quản lý vốn nhà nước chuyên nghiệp và tập trung 68

Bảng 1 Những điểm khác biệt giữa Doanh nghiệp nhà nước và Doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân 18 Bảng 2 Những điểm khác biệt giữa doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam và doanh nghiệp nhà nước của một số nước trên thế giới 20 Bảng 4 Đánh giá các mô hình quản lý vốn nhà nước tập trung 64 Bảng 5 Tổng hợp các quy chế, quy định cần phải có trong doanh nghiệp 76

Trang 4

CHƯƠNG I TÍNH CẤP THIẾT, PHẠM VI, CƠ SỞ VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết

Xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn phát triển, nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã góp phần khẳng định, đối với một nền kinh tế đặcthù, được dẫn dắt bởi các nguyên tắc kinh tế xã hội chủ nghĩa thì thành phần kinh tế nhànước đóng vai trò quan trọng Các nguyên tắc pháp lý rường cột của Việt Nam cũng ghinhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước Gần đây nhất, Hiến Pháp Nước Cộng hòa Xã

hội Chủ nghĩa Việt Nam 2013 đã ghi nhận tại Điều 51: “ Nền kinh tế Việt Nam là nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành

phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” Kinh tế nhà nước được hiểu là một

tổ hợp tổng thể, bao gồm tất cả tài sản của doanh nghiệp nhà nước, tất cả các phần vốn

mà nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp khác, các tài sản liên quan tới tài nguyên tựnhiên, ngoài ra, còn bao gồm tất cả các quỹ, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, cácđơn vị sự nghiệp, kể cả các tổ chức chính trị, chính trị xã hội được chi trả lương từ ngânsách Như vậy, kinh tế nhà nước là một khái niệm rộng và khó xác định được hết giá trị

mà trong tương quan so sánh với các khu vực kinh tế khác thì kinh tế nhà nước chiếm ưuthế tuyệt đối Trong số các thành tố cấu thành nên phạm trù kinh tế nhà nước, có thể nói,doanh nghiệp nhà nước là một trong những thành tố quan trọng, là thành tố biến độnglinh hoạt, khi đặt bên cạnh các thành tố có tính ổn định khác, doanh nghiệp nhà nước cókhả năng đóng góp vào hiệu quả của kinh tế nhà nước bằng sự phát triển phù hợp quyluật nền kinh tế thị trường

Với cách xác định doanh nghiệp nhà nước như một thành tố quan trọng của kinh tếnhà nước, trên cơ sở mục tiêu hướng tới việc đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhànước trong giai đoạn hiện nay, có thể khẳng định việc nghiên cứu về “Phương hướng,biện pháp đổi mới phương thức quản lý và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhànước” được xác định là cấp thiết

1.2 Cơ sở khách quan và chủ quan của luận văn

Về mặt lý luận, kinh tế nhà nước được coi là mang tính chủ đạo, dẫn dắt nền kinh

tế khi: (i) Tạo lập, dẫn dắt, thúc đẩy hình thành, phát triển nền tảng hạ tầng kinh tế cơ

bản và thiết yếu, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy cạnh tranh và hội nhập;

(ii) Làm công cụ khắc phục những thất bại hoặc thiếu hụt của thị trường (các thành phần

kinh tế khác không tham gia; không có thị trường; do độc quyền tự nhiên; chưa hình

thành được thị trường cạnh tranh); (iii) Làm công cụ hỗ trợ cùng với công cụ chủ yếu là

chính sách vĩ mô để điều tiết kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô trong những trường hợp đặc biệt như khủng hoảng, suy giảm, lạm phát cao

Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn nhà nước trong các doanh nghiệp nhànước, trước hết sẽ đảm bảo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp này, từ đó khơidậy sự phát triển của cả khu vực kinh tế nhà nước Hơn nữa, cần phải phân tích thêmrằng, trong bối cảnh mới hiện nay, với tính cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế khá rõ

Trang 5

nét, kinh tế nhà nước không còn chủ đạo do tự thân và vì tự thân như trước đây1 mà ởmột tầm cao mới, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo bởi chính tiềm lực tài chính, sứcmạnh của thể chế chính sách đúng đắn, khả năng bù đắp thiếu hụt và khiếm khuyết củanền kinh tế thị trường, bên cạnh đó lại được thúc đẩy bởi động lực của sự cạnh tranh màtrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, không một thànhphần kinh tế nào khác có thể thực hiện được.

Với cách tiếp cận hiện đại về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước dẫn đến cáchtiếp cận đúng đắn về vai trò của doanh nghiệp nhà nước đối với kinh tế nhà nước nóiriêng và đối với nền kinh tế nói chung Theo đó, đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp nhà

nước không đồng nghĩa với các nhận định sau về doanh nghiệp nhà nước: (i) Phải có số

lượng đông đảo hoặc chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, hay chiếm tỷ trọng cao trong

GDP; (ii) Phải luôn luôn làm công cụ vật chất để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ

mô, luôn nắm giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế với toàn bộ là sở hữu nhà

nước; (iii) Phải đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất,

chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội

Mặt khác, trong bối cảnh mới hiện nay, như đã phân tích ở trên, thành phần kinh tếnhà nước không còn chủ đạo do tự thân và vì tự thân như trước đây, vì vậy, việc đánh giáhiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước nhà nước không giống như đánh giáhiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân Một cách thông thường,đối với các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, tiêu chí để xác định hiệu quả sử dụng vốn

là sự tăng trưởng của đồng vốn và mở rộng của quy mô doanh nghiệp Trong khi đó, cácdoanh nghiệp nhà nước, với tư cách là những chủ thể kinh doanh đặc biệt, bên cạnh mụctiêu lợi nhuận như các doanh nghiệp thông thường khác, các doanh nghiệp này còn phảiđảm bảo các mục tiêu chính trị, xã hội mà Đảng và nhà nước giao phó Do đó, tiêu chí đểxác định hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước nhà nước không phải lúcnào cũng đồng nhất với sự tăng trưởng của đồng vốn và mở rộng quy mô, hiệu quả củacác doanh nghiệp này cần nhìn nhận dưới góc độ những lợi ích kinh tế, xã hội mà cácdoanh nghiệp này mang lại

Trên cơ sở những phân tích về vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong việc nângcao vị thế chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, có thể thấy, việc nghiên cứu phươnghướng, biện pháp đổi mới phương thức quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhànước không những đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp mà còn tác động to lớnđến sự phát triển của cả nền kinh tế và toàn xã hội thông qua vai trò dẫn dắt của kinh tếnhà nước Để đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, các doanh nghiệp nhànước cần phải tìm các phương thức thông qua các biện pháp cụ thể nhằm khai thác và sửdụng một cách triệt để những nguồn lực bên trong và ngoài doanh nghiệp

Trong một nỗ lực thiết thực để xác định phương hướng, biện pháp đổi mới việcquản lý và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước, tác giả cho rằng, trước hết, cần

1 Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường, khi mà các thành phần kinh tế

tư nhân chưa có năng lực để phát triển, cạnh tranh và đầu tư, kinh doanh đa dạng vào các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế, theo đó, vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của Doanh nghiệp nhà nước được thể hiện ở việc chiếm số lượng đông đảo, chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế

Trang 6

phải xác định các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhànước nhà nước, trên cơ sở các yếu tố này, xác định các nguyên tắc, phương thức thựchiện cụ thể nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra Theo đó, một cách khách quan nhất, các nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước có thể được chiathành hai nhóm, bao gồm nhóm các nhân tố khách quan và nhóm các nhân tố chủ quan.Các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến hiệu quả quản lý vốn tại các doanhnghiệp nhà nước được thể hiện cụ thể ở Sơ đồ sau đây:

Trang 7

SƠ ĐỒ 1 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Hiệu quả

Không hiệu quả

Quản lý vốn tại Doanh nghiệp nhà nước

Quản lý vốn tại Doanh nghiệp nhà nước

Nhân tố khách quan

Xu hướng phát triển nền kinh tế

Môi trường xã hội

+ Tập quán dân cư

+ Mức độ thu nhập bình quân dâncư

Nhân tố khách quan phù hợp với

Nhân tố chủ quan:

+ Đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh

tế nhà nước trong nền kinh tế + Vốn nhà nước tại DN được bảo toàn và phát triển

+ Đảm bảo an toàn tài chính cho DN + Nâng cao sức cạnh tranh của DN

Nhân tố khách quankhông phù hợp

với Nhân tố chủ quan:

+ Không đảm bảo hoàn thành mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của DN + Vốn nhà nước tại DN bị thất thoát, giảm giá trị

+ DN mất an toàn tài chính + Sức cạnh tranh của DN bị suy giảm

Nhân tố chủ quan

Đường lối, quan điểm, tư

tưởng chỉ đạo của Đảng

Pháp luật, chương trình ,

kế hoạch phát triển

KT-XH của Nhà nước

Môi trường chính trị Pháp luật

- Chiến lược đầu tư, phát

triển của doanh nghiệp

Trang 8

1.2.1 Nhóm các nhân tố khách quan

Nhân tố khách quan được hiểu là các nhân tố mà sự tồn tại, tác động của nó nằmngoài phạm vi kiểm soát và khó có thể cưỡng lại của doanh nghiệp nói chung và doanhnghiệp nhà nước nói riêng Vì vậy, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp nhà nướckhó có thể thay đổi các nhân tố này mà chỉ có thể xác định rõ các nhân tố này để tìm cáchthích nghi và dự đoán trước xu hướng phát triển để có biện pháp ứng phó kịp thời Nhómnhân tố này gồm có:

(i) Xu hướng phát triển nền kinh tế

+ Trạng thái nền kinh tế

Trạng thái nền kinh tế là thành tố đầu tiên, quan trọng nhất của xu hướng pháttriển nền kinh tế, theo đó, trạng thái nền kinh tế tác động trực tiếp đến hiệu quả kinhdoanh, khả năng tích tụ và tập trung sản xuất của các doanh nghiệp nói chung và doanhnghiệp nhà nước nói riêng Cụ thể, nếu như nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định sẽ làmcho thu nhập của tầng lớp dân cư tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng lên.Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp nhà nước đáp ứng kịp thời nhu cầu của kháchhàng tạo nên sự thành công trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Ngược lại, nếu nhưnền kinh tế có mức lạm phát cao, các doanh nghiệp nhà nước sẽ không đầu tư vào sảnxuất kinh doanh đặc biệt là đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sảnxuất của doanh nghiệp bởi vì các trở ngại về việc không đảm bảo về mặt hiện vật các tàisản, không có khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xảy ra lạmphát rất lớn

+ Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của laođộng và quan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng làđộng lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức,cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao Hội nhập đã trởthành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đờisống của từng quốc gia Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hếtcác quốc gia để phát triển và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Hội nhập quốc

tế có thể tạo ra những cơ hội vô cùng thuận lợi cho các doanh nghiệp về nâng cao kimngạch xuất nhập khẩu, về dòng vốn đầu tư, về nguồn lực lao động, từ đó góp phần nângcao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng khiếndoanh nghiệp phải đối mặt với không ít những khó khăn: doanh nghiệp buộc phải tuânthủ những luật chơi, mà ở đó người thắng cuộc là những doanh nghiệp mạnh và hoạtđộng có hiệu quả hơn, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ cũng đều đều phải đối mặt vớinguy cơ bị lấn lướt bởi các doanh nghiệp nước ngoài có kinh nghiệm hoạt động theo cơchế thị trường và có sức mạnh tài chính hùng hậu Khi đối mặt với những khó khăn này,nếu doanh nghiệp nhà nước không điều chỉnh kịp thời thì có thể chính những khó khăn

Trang 9

này sẽ thành những rào cản lớn cho các doanh nghiệp nhà nước phát triển, từ đó làmgiảm hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

(ii) Môi trường kinh doanh thực tế

+ Đối thủ cạnh tranh

Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường, việc ghi nhận nhiều thành phầnkinh tế, với nhiều chủ thể kinh doanh tham gia trị trường thì việc tồn tại các đối thủ cạnhtranh của doanh nghiệp là tất yếu, khách quan Sự tồn tại của các đối thủ cạnh tranh cóthể ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước Cụ thể, nếudoanh nghiệp nhà nước có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh

sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều Bởi vì doanh nghiệp nhà nước lúc này chỉ có thể nângcao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm để đẩymạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, tăng vòng quay của vốn, yêu cầu doanh nghiệp phải

tổ chức lại bộ máy hoạt động phù hợp tối ưu hơn, hiệu quả hơn để tạo cho doanh nghiệp

có khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng, chủng loại, mẫu mã Như vậy đối thủ cạnhtranh, trong trường hợp cụ thể này là các doanh nghiệp khác trong nước và các doanhnghiệp nước ngoài khác có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh củacác doanh nghiệp nhà nước, đồng thời tạo ra sự tiến bộ trong kinh doanh, tạo ra động lựcphát triển của doanh nghiệp nhà nước

+ Thị trường và quy luật của nền kinh tế thị trường

Thị trường có tác động lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nói chung

và doanh nghiệp nhà nước nói riêng Đặc biệt, đối với một nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa như ở Việt Nam, các quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luậtcạnh tranh có thể tác động mãnh mẽ tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhànước Bởi vậy, các doanh nghiệp này cần hiểu rõ cũng như xây dựng những kế hoạch hợp

lý, phù hợp với sự phát triển và những biến thể của các quy luật này trong nền kinh tếViệt Nam

Đối với các doanh nghiệp nhà nước có sản phẩm ngoại nhập, các biến động trênthị trường đầu vào ảnh hưởng rất lớn đến chi phí nguyên vật liệu, đồng thời doanh nghiệpcũng phải chịu thêm ảnh hưởng biến động trên thị trường thế giới và tỷ giá trao đổi ngoại

tệ Các biến động trên thị trường đầu ra cũng có tác động lớn tới hiệu quả sử dụng vốncủa doanh nghiệp nhà nước Nếu quan hệ cung cầu trên thị trường thay đổi thì sẽ ảnhhưởng trực tiếp tới doanh nghiệp nhà nước thông qua thay đổi về giá bán và số lượng sảnphẩm tiêu thụ, hay doanh thu của doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra môi trường kinhdoanh còn có các nhân tố khác như hàng hoá thay thế, hàng hoá phụ thuộc doanh nghiệp,môi trường cạnh tranh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy các doanh nghiệp nhà nước cũng cần phải quan tâmđến các yếu tố này để có những cách ứng xử riêng với thị trường tại từng thời điểm cụthể

Do đó, trong dòng xoáy của thị trường, cùng với các doanh nghiệp khác trong nềnkinh tế, doanh nghiệp nhà nước phải có những dự đoán chính xác về biến động trên thị

Trang 10

trường đầu vào và đầu ra nhằm điều chỉnh các kế hoạch kinh doanh cũng như định hướngphát triển hiệu quả hơn.

(iii) Tập quán dân cư và mức độ thu nhập bình quân dân cư

Một cách khác quan, tập quán dân cư và mức độ thu nhập bình quân dân cư tácđộng một cách gián tiếp lên quá trình sản xuất cũng như công tác marketing của doanhnghiệp nhà nước Đặc biệt, yếu tố này quyết định mức độ chất lượng, số lượng, chủngloại hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng

Do đó, doanh nghiệp nhà nước cần phải nắm bắt và nghiên cứu, xây dựng kế hoạch kinhdoanh, mục tiêu chiến lược để phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng, mức thu nhậpbình quân của tầng lớp dân cư, tạo ra hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp nhà nước cũng như điều chỉnh các xu hướng khác của nền kinh tế phù hợp vớinhu cầu và tập quán của dân cư

1.2.2 Nhóm các nhân tố chủ quan

Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến hiệu quả sử dụng vốn tại các doanhnghiệp nhà nước, các nhân tố chủ quan cũng góp phần không nhỏ ảnh hưởng đến hiệuquả của việc nâng cao chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên,khác với các nhân tố khách quan, trong khi các doanh nghiệp nhà nước chỉ có thể xácđịnh là lựa chọn hành động phù hợp thì đối với các nhân tố chủ quan, Đảng, nhà nước vàbản thân các doanh nghiệp nhà nước có thể tự điều chỉnh hoặc lựa chọn thực hiện mộtcách phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước.Nhóm các nhân tố chủ quan bao gồm:

(i) Môi trường chính trị pháp luật

Cùng xuất phát từ việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường cho sự phát triển nềnkinh tế đất nước, tuy nhiên, khác với nhiều quốc gia khác, mô hình kinh tế thị trường ởViệt Nam được đặc trưng bởi định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó, nhân tố sâu xa bảođảm định hướng chính trị đối với kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo củaĐảng Cộng sản cầm quyền Với mục tiêu nhằm làm cho đường lối, quan điểm, tư tưởngchỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, nhà nước thông quaQuốc hội, Chính Phủ, các Bộ ngành và các cơ quan quản lý nhà nước khác ở địa phương

đã thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xãhội

Như vậy, có thể khẳng định, Đảng và nhà nước có tác động trực tiếp, mạnh mẽ tớiviệc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường nói chung và quá trình quản lý, sửdụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước nhà nước nói riêng Cụ thể, bằng chủ trương,đường lối chính sách Đảng đã xác định mục tiêu, nguyên tắc, chiến lược phát triển cácdoanh nghiệp nhà nước trong từng thời kỳ Trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sáchcủa Đảng, nhà nước đã cụ thể hóa thành pháp luật, quy định cụ thể về quyền và tráchnhiệm của các chủ thể liên quan đến việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanhnghiệp; quy định về cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành các doanh nghiệp nhà nước; quyđịnh về ngành nghề lĩnh vực nhà nước đầu tư vốn; đưa ra các định khung về quản lý tài

Trang 11

chính, quản lý hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó, nhà nướccòn thực hiện quyền chủ sở hữu của mình tại các doanh nghiệp nhà nước bằng việc thamgia vào quá trình xây dựng, thông qua kế hoạch phát triển kinh doanh, các quyết định sửdụng vốn quan trọng tại các doanh nghiệp này

Sự tác động của môi trường chính trị pháp luật đến quản lý và sử dụng vốn tại các

doanh nghiệp nhà nước có thể diễn ra theo hai hướng Một là, nếu Đường lối, quan điểm,

tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hộicủa nhà nước phản ánh chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường, lấy quyluật thị trường làm cơ sở thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanhnghiệp, đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường và

đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế thị trường Hai là, nếu Đường

lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triểnkinh tế – xã hội của nhà nước không phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của thịtrường, không lấy quy luật thị trường làm cơ sở thì sẽ gây tác động ngược lại, làm hạnchế hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp, bóp méo quy luật thị trường ảnh hưởng tiêucực đến toàn bộ nền kinh tế

(ii) Thể chế nội bộ của doanh nghiệp nhà nước

+ Chiến lược đầu tư, phát triển của doanh nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhànước nói riêng, việc xác định chiến lược đầu tư và phát triển có tác động trực tiếp đếnhiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước Trong trường hợp chiếnlược đầu tư kinh doanh, định hướng phát triển của doanh nghiệp nhà nước được xây dựngphù hợp với chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước, phù hợpvới môi trường kinh doanh, xu hướng phát triển của nền kinh tế sẽ là một đòn bẩy nângcao hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp Trong trường hợp ngược lại, nếuchiến lược đầu tư kinh doanh, định hướng phát triển của doanh nghiệp không phù hợpvới chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước, đối lập với môitrường kinh doanh, bẻ cong, bóp méo xu hướng phát triển của nền kinh tế, các quy luậtcủa kinh tế thị trường thì doanh nghiệp nhà nước sẽ phải đối mặt với các rủi ro thị trường,rủi ro pháp lý dẫn đến khả năng làm mất vốn nhà nước hoặc làm cho hiệu quả đầu tư vốnnhà nước không đạt được các chỉ tiêu đã đề ra trong tổng thể hiệu quả dẫn dắt nền kinh tếcủa thành phần kinh tế nhà nước

+ Điều lệ và hệ thống quy chế quản lý nội bộ

Như một nguyên tắc đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn, “Quốc có quốcpháp, gia có gia quy” là nguyên tắc bắt buộc phải được đề cao trong doanh nghiệp nhànước Theo đó, mỗi một doanh nghiệp nhà nước, muốn thực hiện các hoạt động có hiệuquả, cũng cần phải có một “pháp” hay “quy” cho riêng mình Trên cơ sở đó, Điều lệ và

hệ thống quy chế quản lý nội bộ được xây dựng ở mỗi doanh nghiệp nhà nước nhằm giúpchủ sở hữu nhà nước và người quản lý doanh nghiệp có thể điều hành công ty một cáchchặt chẽ, chuyên nghiệp Thông qua Điều lệ và hệ thống quy chế quản lý nội bộ, mọi hoạt

Trang 12

động sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp sẽ được thực hiện trong một khuôn khổ côngkhai, minh bạch, rõ ràng, thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát, xác định trách nhiệm củacác chủ thể liên quan từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn tại doanhnghiệp nhà nước.

(iii) Thể chế tổ chức và quản lý nhân sự trong doanh nghiệp

Thể chế tổ chức và quản lý nhân sự có ảnh hướng rất lớn đến hiệu quả sử dụngvốn của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhà nước Nhân tố này tác động trực tiếplên hiệu quả sử dụng vốn cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Bộ máy nhân

sự, các bộ phận rường cột của doanh nghiệp có năng lực tốt, tổ chức, cơ cấu tốt sẽ tạo nênhiệu quả và tạo ra uy tín cho doanh nghiệp nhà nước Điều này không những tác động tớikhả năng huy động vốn mà còn tác động tới khả năng sử dụng vốn để bù đắp chị phí sảnxuất kinh doanh và sinh lời Năng lực làm việc tốt sẽ giúp cho các bộ phận, phòng ban, cánhân phối hợp ăn khớp, nhịp nhàng, linh hoạt Công tác tổ chức tốt giúp các cá nhân tíchcực hoạt động theo một mục tiêu chung của tổ chức, hoàn thành kế hoạch, mục tiêu đã đề

ra Một người lãnh đạo giỏi sẽ khai thác được hết các nguồn lực trong doanh nghiệp củamình, tránh để lãng phí, thất thoát Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp nhà nước, công táchoàn thiện thể chế tổ chức là rất quan trọng, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện sẽ có thểgặp nhiều khó khăn, rào cản hơn so với các doanh nghiệp thông thường khác Lý dochính nằm ở chỗ, việc pha trộn, đan xem giữa phần vốn nhà nước và phần vốn của cácthành phần kinh tế khác kéo theo sự pha trộn và đan xen của các mục tiêu, tiêu chí đánhgiá, sắp xếp, tuyển dụng và sử dụng nhân sự Vì vậy, đối với các doanh nghiệp nhà nước,nếu vấn đề này không được quan tâm để điều chỉnh một cách hợp lý, thỏa đáng thì hiệuquả thậm chí sẽ đi ngược lại hoàn toàn với mục tiêu đề ra mà nguyên nhân không gì khác

là xung đột nhân sự, xung đột thể chế nội bộ

(iv) Cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ

Công nghệ, kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh sảnxuất của doanh nghiệp nhà nước Lợi thế kỹ thuật, công nghệ sẽ góp phần nâng cao năngsuất lao động, tiết kiệm chi phí, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ chodoanh nghiệp nhà nước, tăng lợi thế, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp này với cácdoanh nghiệp khác trên thị trường, từ đó làm tăng doanh thu và lợi nhuận, mang lại hiệuquả cao trong việc sử dụng đồng vốn của nhà nước Ngược lại, nếu doanh nghiệp có cơ

sở kỹ thuật lạc hậu thì sức sản xuất sẽ không cao, chất lượng sản phẩm kém, triệt tiêu dầnkhả năng cạnh tranh trên thị trường so với các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tếkhác và kết quả là hiệu quả sử dụng đồng vốn của nhà nước không đạt được mục tiêu đã

đề ra và làm ảnh hưởng tới vai trò chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế của thành phần kinh tếnhà nước

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Nhìn nhận một cách tổng quan thì “phương thức quản lý và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước” là vấn đề đã được một số tổ chức, cơ quan, nhà khoa học, chuyên gia… đề cập, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Cụ thể:

(i) Nghiên cứu của tác giả Mary M Shirley trong “Managing State-Owned Enterprises” (World Bank staff working papers number 577, Management and

Trang 13

development series number 4) Nghiên cứu của tác giả Mary M Shirley được thực hiện

từ những năm 1983 nhưng nghiên cứu này đã làm rõ vai trò của nhà nước trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước Nghiên cứu cũng đưa

ra kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới và các cơ quan quốc tế khác liên quan đến hoạt động quản lý các doanh nghiệp nhà nước

(ii) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2009 “Chính sách và cơ chế quản lý

vốn nhà nước tại các doanh nghiệp giai đoạn đến 2020”, đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Bộ tài chính do PGS.TS Nguyễn Đăng Nam làm chủ nhiệm đề tài Đề tài

đã đề cập đến chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp dưới góc độ quản

lý nhà nước Những nghiên cứu trong đề tài đã cho thấy được những nội dung cơ bản của chính sách và cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp ở Việt Nam Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa làm rõ được cơ chế giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp dưới góc độ quản lý kinh tế.

(iii) Luận án tiến sĩ “Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với Tổng công ty

91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam” của Tác giả Nguyễn Xuân Nam Đây là công trình nghiên cứu khá chuyên sâu về thực trạng quản lý vốn và tài sản của Tổng công ty 91 Đồng thời, nghiên cứu cũng đã chỉ ra các giải pháp nhằm giúp Tổng công ty 91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam Tuy nhiên, với việc xác định phạm vi nghiên cứu gắn liền với hoạt động của Tổng công ty

91, công trình nghiên cứu này chưa cho thấy được bức tranh toàn cảnh về hoạt động quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp ở Việt Nam và giải pháp hoàn thiện pháp luật cho toàn hệ thống.

(iv) Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh

nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thanh Hòa Luận án đã tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp dưới góc độ của chủ sở hữu nhà nước ở các khía cạnh: Cơ chế đầu tư, cơ chế quản lý sử dụng vốn, cơ chế phân chia lợi ích kinh tế, cơ chế giám sát và thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước Tuy nhiên, luận án vẫn chưa nhìn nhận về các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước và có các giải pháp đứng trên góc độ quản lý kinh tế.

Ngoài ra còn có các nghiên cứu, bài viết, hội thảo khoa học về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam đăng trên các báo, tạp chí kinh tế khác Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ đề cập tới cơ chế quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung phân tích các yếu tố tác động tới hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra, chưa có công trình nghiên cứu nào xác định, đánh giá và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện phương thức quản lý và sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước đồng thời trên ba phương diện chính trị, pháp luật và thể chế nội bộ

Trang 14

1.4 Giới hạn phạm vi và mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn tại cácdoanh nghiệp nhà nước, trong đó, bao gồm nhưng không giới hạn bởi các nhân tố kháchquan và chủ quan đã trình bày ở trên, tác giả khẳng định:

1 Vốn tại các doanh nghiệp nhà nước được sử dụng hiệu quả khi: (i) Chủ trương,

đường lối, chính sách của Đảng; Pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH của nhà nước phản ánh chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường, lấy quy

luật thị trường làm cơ sở; (ii) Môi trường kinh doanh thuận lợi; (iii) Điều lệ, quy chế

quản lý nội bộ, chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với Chính sách, Pháp luật của Đảng và nhà nước, phù hợp với nhu cầu, quy luật phát triển của thị trường và năng lực nội bộ của doanh nghiệp tốt.

2 Trong các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà

nước, nhân tố chủ quan có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến hiệu quả quản lý và sửdụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước Mặc dù, nhân tố chủ quan là nhân tố có thể tácđộng để thay đổi được cho phù hợp với các nhân tố khách quan thông qua hành động vàquyết định của Đảng, nhà nước và chính các doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, trướctiên và quan trọng nhất, việc tối ưu hóa những nhân tố chủ quan này phụ thuộc chủ yếuvào nhận thức, khả năng vận hành của mỗi doanh nghiệp nhà nước Đặc biệt, để các nhân

tố chủ quan này phát triển đúng hướng thì rất cần lấy sự tương thích với xu hướng pháttriển của nền kinh tế, môi trường kinh doanh và môi trường chính trị, pháp luật làm nềntảng để quyết định các hướng đi đúng đắn Trên cơ sở nhận định đó, khi đã xác định nhân

tố xu hướng phát triển của nền kinh tế và môi trường kinh doanh tồn tại một cách kháchquan, Đảng, nhà nước và doanh nghiệp nhà nước không thể can thiệp, bẻ cong hay bópméo để phục vụ cho mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp theo cáchriêng của mình, thì việc xác định đúng, đủ và chấp nhận, lựa chọn hành động phù hợp vớitất yếu khách quan và có hướng điều chỉnh nhân tố môi trường chính trị, pháp luật, thểchế nội bộ của chính doanh nghiệp sẽ là một phương thức hợp lý để phát triển

Do đó, tác giả xác định, phương hướng, biện pháp hàng đầu có thể thực hiện đượcnhằm đổi mới nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

đó là xây dựng các phương án tác động trực tiếp vào nhân tố môi trường chính trị - phápluật Một khi môi trường chính trị - pháp luật được xây dựng phù hợp với yêu cầu pháttriển khách quan của thị trường, có tác động tích cực đến hoạt động quản lý, sử dụng vốntrong nội bộ mỗi doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo cho hoạt động sử dụng vốn trong mỗidoanh nghiệp nhà nước diễn ra theo đúng khuôn khổ, định hướng và pháp luật của nhànước thì hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ được nâng cao Với quan

điểm đó, trong phạm vi luận văn “Phương hướng, biện pháp đổi mới việc quản lý và sử

dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước” tác giả phân tích và đưa ra các đề xuất cụ

thể nhằm tác động trực tiếp đến yếu tố môi trường chính trị - pháp luật theo hướng tíchcực nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước

Cụ thể, trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung giải quyết các vấn đề sau:

(i) Làm rõ bản chất, sự cần thiết của các doanh nghiệp nhà nước

Trang 15

(ii) Xác định các phương thức quản lý và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà

nước

(iii) Phân tích, đánh giá thực trạng môi trường chính trị - pháp luật trong quản lý

và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

(iv) Xác định phương hướng, biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và

sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Trên cơ sở nền tảng đó tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội, bao gồm:

- Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá, bình luận các quy định pháp luật, các bài học kinh nghiệm để làm cơ sở cho những kết luận khoa học Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi đánh giá nhằm rút ra những kết luận tổng quan, những quan điểm, các đề xuất, kiến nghị cụ thể liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài.

- Phương pháp so sánh luật học được sử dụng khi phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về vấn đề nghiên cứu trong mối tương quan với quy định pháp luật trong lĩnh vực khác, pháp luật của nước ngoài nhằm làm sáng tỏ những điểm chung, sự khác biệt trong các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các nước trên thế giới

- Phương pháp phân tích logic quy phạm được sử dụng khi đánh giá thực trạng pháp luật, xem xét về tính thống nhất, tính đồng bộ phát hiện mâu thuẫn trong nội dung quy định pháp luật về quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước, làm cơ sở cho các đề xuất kiến nghị giải pháp.

- Phương pháp chuyên gia được sử dụng để trao đổi, tham vấn ý kiến trong

đề xuất phương hướng, biện pháp đổi mới phương thức quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

Ngoài các phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát nêu trên, luận văn còn

áp dụng phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê dựa trên các số liệu, báo cáo tổng kết hàng năm của Chính phủ, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính, Ủy ban chứng khoán nhà nước, Tổng Cục Thống kê và Sở Kế hoạch và Đầu tư các Tỉnh, Thành trong cả nước để giải quyết được các nội dung thuộc yêu cầu của đề tài.

Trang 16

CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ VỐN TẠI CÁC

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 2.1 Khái quát về doanh nghiệp nhà nước

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhà nước

Theo Karl Marx, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử

mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đườngphát triển và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chính là nền kinh tế thị trường phát triển đếntrình độ phổ biến và hoàn chỉnh Sự thành công của nền kinh tế thị trường ở nhiều nước

từ Tây Âu đến Bắc Mỹ và cả Châu Á đã chứng minh cho tính tất yếu của nền kinh tế thịtrường trong sự phát triển của các quốc gia Tuy nhiên, mô hình kinh tế thị trường vẫnchứa đựng nhiều yếu tố chưa thuyết phục và chưa được mọi quốc gia chấp nhận một cách

dễ dàng Các yếu tố đó bao gồm: (i) Luôn luôn có nguy cơ mất cân đối cung - cầu tạo ra

các cuộc khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu; (ii) Vì mục tiêu lợi nhuận và cạnh

tranh, doanh nghiệp ít quan tâm đến lợi ích toàn cục, lợi ích cộng đồng (gây ô nhiễm,

phá hoại môi trường, trốn tránh luật pháp gian lận thương mại…); (iii) Kinh tế thị

trường về bản chất là mô hình làm giàu cho thiểu số; tự nó không thể làm giàu cho mọi người Trong bối cảnh đó, sự can thiệp của nhà nước xuất hiện như một lẽ tất yếu tạo ra

sự hoạt động có hiệu quả, có định hướng của nền kinh tế thị trường Lịch sử đã chứngminh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách

tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của nhà nước2 Thật vậy, một nền kinh tế khôngthể "cất cánh" được trừ phi nó có được một thượng tầng vững chắc Vì thế, ở nhiều quốcgia, nhà nước bỏ vốn vào đầu tư vào các doanh nghiệp tại các lĩnh vực nhà nước cần độcquyền, hoặc các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn làm hoặc khôngthể làm nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, đồng thời góp phần ổn định kinh tế

vĩ mô Đây được xác định là cơ sở cho sự ra đời của các doanh nghiệp nhà nước

Theo các góc độ tiếp cận khác nhau, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau vềdoanh nghiệp nhà nước

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sở hữu toàn dân là tư tưởng chi phối,doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò then chốt trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốcdân Theo đó, doanh nghiệp nhà nước được xác định là tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhànước/công hữu, và được điều hành, kiểm soát về mọi phương diện bởi nhà nước3

Đồng quan điểm trên, Ngân hàng Thế giới định nghĩa về doanh nghiệp nhà nước

như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay quyền

Trang 17

kiểm soát thuộc về chính phủ, và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc bán hàng hoá và dịch vụ”4

Theo lý thuyết kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức được sửdụng để chỉ một tổ chức sản xuất hàng hoá và dịch vụ mà giá trị của chúng không thuộc

về các chủ sở hữu cá nhân mà thuộc về xã hội5

Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước có lịch sử tồn tại khá lâu đời và hiện đanggiữ vai trò chủ đạo trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Trong từnggiai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về doanh nghiệp nhà nước cũng có những đặcthù và thay đổi nhất định phù hợp với thực tiễn kinh doanh

Trong thời gian đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, Doanh nghiệpnhà nước được gọi là doanh nghiệp quốc gia Theo Điều 2, Sắc lệnh số 104/SL do Chủ

tịch Hồ Chí Minh banh hành ngày 1/1/1948, “Doanh nghiệp quốc gia là một doanh

nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển” Sau đó, những đơn

vị kinh tế của nhà nước được gọi là Xí nghiệp quốc doanh, Lâm trường quốc doanh, Cửahàng quốc doanh

Thuật ngữ Doanh nghiệp nhà nước được sử dụng chính thức trong Nghị định338/HĐBT ngày 20/11/1991 ban hành Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhànước, theo đó doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là những tổ chức kinh doanh donhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ6 Luật Doanh nghiệp nhà nước số 39-L/CTN đưa rađịnh nghĩa cụ thể hơn, theo đó doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu

tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công íchnhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao7 Cũng theo Luật Doanhnghiệp nhà nước số 39-L/CTN, doanh nghiệp nhà nước nước tồn tại dưới các hình thức:doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty8

Năm 2003, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp nhà nước số 14/2003/QH11 kháiniệm Doanh nghiệp nhà nước đã có sự thay đổi căn bản Cụ thể, Theo Điều 1 Luật Doanhnghiệp nhà nước 2003, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữutoàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thứccông ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Như vậy, so với kháiniệm “doanh nghiệp nhà nước” theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995, khái niệm doanh

nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 có một số thay đổi như sau: (i)

Khái niệm doanh nghiệp nhà nước trong Luật 2003 có nội dung rộng hơn, doanh nghiệp nhà nước bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần hay có phần góp vốn chi

phối; (ii) Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo nhiều loại hình hơn, bao gồm cả

công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.

4 Ngân hàng thế giới (1999), Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới: Giới quan chức trong kinh doanh, ý nghĩa kinh tế và chính trị của sở hữu nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 28

5Rees Ray (1989), Public Enterprise Economics, 2nd Ed., Philip Allan, Deddington, Oxford, trang 1

6 Điều 1 Nghị định 388/HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991

7 Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước số 39-L/CTN

8 Điều 2 Luật Doanh nghiệp nhà nước số 39-L/CTN

Trang 18

Năm 2005, Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được ban hành, thay thế choLuật Doanh nghiệp nhà nước số 14/2003/QH11 và Luật doanh nghiệp số 13/1999/QH10,theo đó doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là doanh nghiệp trong đó nhà nước sởhữu trên 50% vốn điều lệ Như vậy, so với Luật Doanh nghiệp nhà nước số14/2003/QH11, hình thức tổ chức doanh nghiệp nhà nước bị thu hẹp hơn, doanh nghiệpnhà nước chỉ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữuhạn; các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm

2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần9

Năm 2014, với hướng tiếp cận “cởi trói” cho doanh nghiệp và tuân theo các cơ chếquản lý của nền kinh tế thị trường là hạn chế sự can thiệp của nhà nước10, Luật Doanhnghiệp năm 2014 đã có những thay đổi căn bản trong quy định về Doanh nghiệp nhà

nước Cụ thể, theo Luật doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do

nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ11 Quy định chỉ những doanh nghiệp nào do nhànước sở hữu 100% vốn điều lệ thì mới được coi là doanh nghiệp nhà nước đã hạn chế sốlượng doanh nghiệp nhà nước và mở rộng thành phần doanh nghiệp không bị ràng buộcbởi “cơ chế nhà nước” Với quy định này các công ty lớn hoạt động trong lĩnh vực thenchốt như dầu khí, vận tải hàng không, hay các ngân hàng có sở hữu của nhà nước thấphơn 100% vốn điều lệ đều không còn là doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp nàyngoài việc tháo bỏ cái mác doanh nghiệp nhà nước, cải tổ cơ chế quản lý điều hành, quảntrị rủi ro thì hoàn toàn có thể cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác

mà không có sự khác biệt nào Ngoài ra, quy định về hình thức tổ chức của doanh nghiệpnhà nước cũng có sự thay đổi, theo đó doanh nghiệp nhà nước chỉ được tổ chức dưới hìnhthức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu

Như vậy, dưới những góc độ tiếp cận, quan điểm khác nhau đã có nhiều địnhnghĩa khác nhau về doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiên, dù được tiếp cận dưới những góc

độ nào thì doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam cũng được đặc trưng bởi những khíacạnh sau:

(i) Nhà nước đầu tư vốn và thành lập doanh nghiệp nhà nước theo một thủ tục đặc biệt

Đối với các loại hình doanh nghiệp tư nhân (công ty cổ phần, công ty trách nhiệmhữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân), việc thành lập doanh nghiệp được xácđịnh là quyền của các tổ chức, cá nhân12 Theo đó, các tổ chức, cá nhân trên cơ sở thỏathuận hoặc dựa trên ý chí cá nhân để đưa ra quyết định bỏ vốn để thành lập doanh nghiệp,đồng thời thực hiện các thủ tục đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Như vậy,các tổ chức, cá nhân được quyền tự mình quyết định đầu tư vốn, thành lập doanh nghiệp

9 Khoản 1 Điều 166 Luật doanh nghiệp 2005

10 Theo Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật trung ương, Pháp luật về Doanh nghiệp, Đặc san Tuyên truyền pháp luật

số 3/2015

11 Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014

12 Theo Khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Trang 19

để thực hiện các hoạt động kinh doanh, cơ quan nhà nước chỉ cho phép thành lập trên cơ

sở đăng ký kinh doanh của các tổ chức, cá nhân

Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước được thành lập trên cơ sở Quyết định thànhlập của Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng

cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Mặt khác, nguồn đầu

tư vốn điều lệ để thành lập doanh nghiệp nhà nước và bổ sung vốn điều lệ cho doanhnghiệp nhà nước đang hoạt động từ các nguồn hình thành vốn nhà nước tại doanhnghiệp13.Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm phê duyệt vốn điều lệ và đầu tư đủ

vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước nhằm đảm bảo: (i) Không thấp hơn mức vốn

pháp định của ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước

theo quy định của pháp luật, (ii) Phù hợp với quy mô, công suất thiết kế đối với ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, (iii) Phù hợp với chiến

lược, kế hoạch đầu tư phát triển của doanh nghiệp, phù hợp với ngành, nghề kinh doanh

chính của doanh nghiệp nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt; và (iv) Phù hợp

với phương án sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước Như vậy, doanh nghiệp

nhà nước chỉ được thành lập khi có quyết định thành lập của Cơ quan nhà nước có thẩmquyền và nguồn vốn để thành lập doanh nghiệp nhà nước do nhà nước đảm bảo từ cácnguồn hình thành vốn nhà nước tại doanh nghiệp (vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếpnhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp,quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu

tư phát triển của nhà nước và vốn khác được nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp)

(ii) Nhà nước sở hữu 100% vốn Điều lệ trong doanh nghiệp nhà nước

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp được xác định là doanhnghiệp nhà nước khi tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà nước trong doanh nghiệp đó là100% Trong khi đó, ở các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia… (những nướccũng còn nhiều doanh nghiệp nhà nước tại các lĩnh vực quan trọng như điện, nước, viễnthông, ngân hàng, hàng không…) những doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ từ 20% trởlên đã được xác định là doanh nghiệp nhà nước14 Như vậy, việc xác định chỉ nhữngdoanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mới là doanh nghiệp nhà nướcđược xem là đặc trưng của doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam

(iii) Toàn bộ vốn và tài sản của doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu 100% của nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước đầu tư 100% vốn nên nó thuộc sở hữu nhànước, tài sản của doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận của tài sản nhà nước Doanhnghiệp nhà nước sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thểkinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ làngười quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của nhà nước nhà nước giao vốn

13 Khoản 3 Điều 22 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại Doanh nghiệp.

14 Theo ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng Thư ký Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI)

-https://www.ocs.com.vn/(X(1)S(m3ns2d00dcvvplgznuztntte))/newspages.aspx?catid=2021&mconid=1386

Trang 20

cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc bảo toàn

và phát triển vốn mà nhà nước giao

(iv) Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao.

Ở Việt Nam, nhà nước được xác định là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệpnhà nước nhà nước quản lý doanh nghiệp nhà nước thông qua cơ quan quản lý nhà nước

có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ Bao gồm những nội dung: (i) nhà nước quy

định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại doanh nghiệp nhà nước phù hợp với

quy mô, tính chất, lĩnh vực hoạt động của từng doanh nghiệp (ii) nhà nước quy định chức

năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp nhà nước như hội

đồng thành viên, Tổng giám đốc (iii) nhà nước quy định thẩm quyền trình tự thủ tục

của việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức vụ quan trọng của doanh

nghiệp như chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty ; (iv) nhà nước quyết định dự

án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định của doanh nghiệp có giá trị trên 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm quyết định dự án 15 ; (v) nhà nước xem xét, phê

duyệt dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp với giá trị trên 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm quyết định dự án16 Như vậy, nếu như người quản lý tại cácdoanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân có quyền linh hoạt đối phó với những điều kiện thayđổi của thị trường, chủ động trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến việc quản lý,điều hành hoạt động kinh doanh thì đối với doanh nghiệp nhà nước, sự can thiệp của nhànước vào hoạt động của doanh nghiệp nhà nước là rất lớn Sự can thiệp của nhà nước vàohoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng điểm khác biệt giữa doanh nghiệp nhà nướccủa Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới Lấy ví dụ từ Singapore, TemasekHoldings là tập đoàn kinh tế nhà nước thuộc 100% sở hữu của Chính Phủ Với vai trò làchủ sở hữu, Chính phủ đảm bảo việc thành lập và tổ chức Hội đồng quản trị có đủ nănglực, kinh nghiệm để định hướng đầu tư đối với Temasek và đảm bảo tính chặt chẽ trongquá trình đầu tư Bộ Tài chính Singapore được giao nhiệm vụ làm đại diện chủ sở hữunhưng không thực hiện việc quản lý điều hành; không chỉ định thành viên hội đồng quảntrị của công ty.17 Bên cạnh đó, Chính phủ Singapore cũng cam kết để Temasek hoạt độngcủa theo nguyên tắc thương mại, tách bạch hẳn với vai trò hoạch định chính sách gắn vớilợi ích công và điều tiết thị trường của Chính phủ Chính phủ không tham gia trực tiếpvào các quyết định đầu tư, các quyết định kinh doanh của công ty.18

Không chỉ đặc biệt trong phương thức tổ chức quản lý, mục tiêu hoạt động củadoanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam cũng có đặc trưng riêng Cụ thể, nếu như các doanh

15 Theo Điểm a Khoản 1 Điều 24 Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014

16 Theo Điểm a Khoản 4 Điều 28 Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014

17 TS Trần Tiến Cường, “Mô hình hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước: Kinh nghiệm của Trung Quốc và Singapore

và bài học tham khảo đối với Việt Nam”, 2013, Tr 13-14

18 TS Trần Thanh Hồng, “Kinh nghiệm quản lý và đầu tư vốn nhà nước của Temasek”, Trang thông tin điện tử tổng hợp Ban Kinh tế trung ương

Trang 21

nghiệp thuộc sở hữu tư nhân mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp này là tối đa hóalợi nhuận thì đối với các doanh nghiệp nhà nước, lợi nhuận chỉ là một trong các mục tiêuhướng tới, thậm chí trong nhiều trường hợp lợi nhuận không được xem là mục tiêu thiếtyếu của một nhóm các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong những lĩnh vực đặc thù.Mục tiêu hoạt động của mỗi doanh nghiệp nhà nước chịu sự chi phối của nhà nước vềmục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao Nếu nhà nước giao cho doanh nghiệp nhà nướcnào thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp nhà nước đó phải kinh doanh cóhiệu quả, doanh nghiệp nhà nước nào được giao thực hiện hoạt động công ích thì doanhnghiệp nhà nước đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh

tế xã hội

(v) Về lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

Theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinhdoanh tại doanh nghiệp 2014, nhà nước thành lập các doanh nghiệp nhà nước hoạt động

chủ yếu trong các lĩnh vực như: (i) Lĩnh vực cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết

yếu cho xã hội (bao gồm: dịch vụ bưu chính công ích; Xuất bản (không bao gồm lĩnh vực

in và phát hành xuất bản phẩm); Hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp theo quy định của pháp luật; Quản lý, khai thác công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên huyện; Quản lý, khai thác, điều hành hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia,

đường sắt đô thị; bảo đảm an toàn bay; bảo đảm an toàn hàng hải; (ii) Lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; (iii) Lĩnh vực độc quyền tự nhiên (bao gồm: Hệ thống

truyền tải điện quốc gia; nhà máy thủy điện có quy mô lớn đa mục tiêu, nhà máy điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; In, đúc tiền và sản xuất vàng miếng; Xổ số kiến thiết; Doanh nghiệp nhà nước có chức năng đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, mua bán và xử lý nợ phục vụ tái cơ cấu và hỗ trợ điều

tiết, ổn định kinh tế vĩ mô; (iv) Lĩnh vực yêu cầu ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo

động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế

Như vậy, những lĩnh vực mà doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hoạt động lànhững lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, góp phần định hướng, điều tiết, ổn định kinh tế

vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong khi đó, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân lại đa phần

là những lĩnh vực có khả năng mang lại lợi nhuận cao mà không đòi hỏi quá nhiều vềnguồn vốn đầu tư và thời gian thu hồi vốn nhanh

Bảng 1 Những điểm khác biệt giữa Doanh nghiệp nhà nước và Doanh nghiệp thuộc

sở hữu tư nhân Doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp thuộc sở hữu tư

nhân Nguồn vốn,

tài sản

Vốn từ ngân sách nhà nước, vốntiếp nhận có nguồn gốc từ ngânsách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tưphát triển tại doanh nghiệp, quỹ

Vốn thuộc sở hữu của các tổchức, cá nhân

Trang 22

hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốntín dụng do Chính phủ bảo lãnh,vốn tín dụng đầu tư phát triển củanhà nước và vốn khác được nhànước đầu tư tại doanh nghiệp.

Tính chất sở

hữu

Sở hữu toàn dân nhà nước là chủ

sở hữu Doanh nghiệp nhà nướckhông có quyền sở hữu đối với tàisản trong doanh nghiệp mà chỉ làngười quản lý tài sản và kinhdoanh trên cơ sở sở hữu của nhànước

Sở hữu tư nhân Cổ đông/thànhviên góp vốn là chủ sở hữu.Doanh nghiệp được thành lập cóquyền sở hữu đối với tài sảntrong doanh nghiệp

Mục tiêu hoạt

động

Bên cạnh mục tiêu lợi nhuận,Doanh nghiệp nhà nước còn cómục tiêu quan trọng là thực hiệnđịnh hướng, điều tiết, ổn địnhkinh tế vĩ mô mang tính chiếnlược trong từng thời kỳ, thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội của đấtnước theo định hướng xã hội chủnghĩa

Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu

Lĩnh vực hoạt

động

- Cung ứng sản phẩm, dịch vụcông ích thiết yếu cho xã hội;

- Lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốcphòng, an ninh;

- Lĩnh vực độc quyền tự nhiên;

- Lĩnh vực đòi hỏi ứng dụng côngnghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lựcphát triển nhanh cho các ngành,lĩnh vực khác và nền kinh tế

Các lĩnh vực mà pháp luậtkhông cấm, phù hợp cới xuhướng phát triển và nhu cầu của

xã hội

Quyền kiểm

soát

Phân phối lợi

ích

Toàn dân thông qua nhà nước Nhóm sở hữu, đối tượng hữu

quan

Trang 23

Bảng 2 Những điểm khác biệt giữa doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam và doanh

nghiệp nhà nước của một số nước trên thế giới Doanh nghiệp nhà nước ở Việt

Những doanh nghiệp mà nhànước nắm giữ từ 20% vốn điều

lệ trở lên đã được xác định làDoanh nghiệp nhà nước

Lĩnh vực hoạt

động

- Cung ứng sản phẩm, dịch vụcông ích thiết yếu cho xã hội;

- Lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốcphòng, an ninh;

- Lĩnh vực độc quyền tự nhiên;

- Lĩnh vực đòi hỏi ứng dụng côngnghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lựcphát triển nhanh cho các ngành,lĩnh vực khác và nền kinh tế

Những lĩnh vực cực kỳ quantrọng của nền kinh tế như dầukhí, xăng dầu, vận tải côngcộng

Nhà nước chọn lọc vấn đề đểcan thiệp vào hoạt động quản lý,kinh doanh của các doanhnghiệp nhóm này

2.1.2 Sự cần thiết của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước là “công cụ vật chất quan trọng” của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế thị trường

Theo lý thuyết Kinh tế thị trường, sự can thiệp của nhà nước vào thị trườngthường được lý giải là cần thiết, bởi lẽ, sự vận hành của cơ chế thị trường tự do chứađựng những “khiếm khuyết”dẫn đến tình trạng không công bằng và phi hiệu quả Theo

đó, nhà nước có thể can thiệp và điều tiết nền kinh tế thị trường thông qua các công cụthuộc bốn nhóm chính sách “cội nguồn”19 sau:

19 Theo Weimer D.I and Vinning A.R (1992) Policy Analysis: Concepts and Practice, 2nd ed., Prentice Hall, Englewood Cliffs,

New Jersey.

Trang 24

Ghi chú sơ đồ 2:

(i) Nhóm chính sách C1: Thuế và trợ cấp

(ii) Nhóm chính sách C2 và C3: Hệ thống luật pháp với hai tính chất hướng

dẫn và điều chỉnh

(iii) Nhóm chính sách C4: Hệ thống các cơ quan, tổ chức của nhà nước hay do

nhà nước lập ra hoặc hỗ trợ tham gia trực tiếp vào hệ thống thị trường như các đốitượng thuộc các khu vực khác (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước)

(v) Nhóm chính sách C5: Dự trữ quốc gia về những yếu tố chiến lược như

vàng, ngoại tệ tài nguyên chiến lược

Trong nhóm các chính sách “cội nguồn” được nhà nước sử dụng để can thiệp vào

nền kinh tế thị trường thì Nhóm chính sách C4 có nhiều ưu thế hơn Cụ thể: (i) Trong

Nhóm chính sách C4, nhà nước tham gia trực tiếp vào hệ thống kinh tế với tư cách là một nhân tố tích cực của thị trường, do đó, sự can thiệp của nhà nước trong trường hợp này

mang tính hiệu lực cao hơn so với các Nhóm chính sách khác; và (ii) Với việc dùng tiền

đầu tư vào các doanh nghiệp, tổ chức trực tiếp tham gia vào thị trường nhà nước trực tiếp có được những nguồn thu không hề nhỏ từ những hoạt động này, trong khi đó, các Nhóm chính sách khác chủ yếu là sử dụng tiền từ ngân sách cho hoạt động của mình mà không trực tiếp tạo ra lợi ích vật chất cho nhà nước.

Vai trò của Nhóm chính sách C4 trong việc điều chỉnh nền kinh tế thị trường làđiều không thể không thừa nhận Trong nhóm chính sách C4, các doanh nghiệp nhà nước(đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước) được xem là nhân tố trực tiếp tham gia vào quá trình

Sơ đồ 2 Nguyên lý can thiệp và công cụ điều tiết kinh tế thị trường

Chính phủ (C5)

Thị trường hàng hóa

Thị trường yếu tố

Hãng công ty

Hộ gia đình Thỏa

C1

Trang 25

thực thi các quyết định Đây là cơ sở đầu tiên để khẳng định của sự cần thiết của đầu tưvốn nhà nước vào doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Thứ hai, việc nhà nước thành lập và sử dụng các doanh nghiệp nhà nước chính

là sự bổ khuyết thị trường bằng lực lượng vật chất của nhà nước.

Về lý luận cũng như thực tiễn cho thấy, không phải lúc nào thị trường cũng đúngtrong việc phân bố nguồn lực của nền kinh tế; sự thất bại của thị trường sẽ mang đếnnhững hệ quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế, tạo nên những cuộc khủng hoảng kinh tế;đặc biệt là ở những quốc gia đang trong giai đoạn công nghiệp hóa20

Mặt khác, như đã đề cập, bản chất nền kinh tế thị trường, cho đến nay vẫn bộc lộ 3

khuyết tật lớn: (i) Luôn luôn có nguy cơ mất cân đối cung - cầu tạo ra các cuộc khủng

hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu; (ii) Vì mục tiêu lợi nhuận và cạnh tranh, doanh

nghiệp ít quan tâm đến lợi ích toàn cục, lợi ích cộng đồng như gây ô nhiễm, phá hoại môi

trường, trốn tránh luật pháp, gian lận thương mại v.v… là những điển hình; (iii) Kinh tế

thị trường về bản chất là mô hình làm giàu cho thiểu số; tự nó không thể làm giàu cho mọi người.

Để khắc phục những khuyết tật này, mỗi quốc gia sẽ tuỳ theo điều kiện lịch sử vàđặc điểm của mình và tùy theo mục tiêu của nhà nước đó đề ra những công cụ quản lýkhác nhau Ở Việt Nam, nhằm khắc phục các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường,nhà nước đã xây dựng một hệ thống pháp luật điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực Nhưngthực tế hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế chưa cao là do sự can thiệp củanhà nước, ở nhiều cấp chính quyền khác nhau, không phù hợp với sự vận động của thịtrường Mặt khác nhà nước lại thiếu công cụ và cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm cácchủ thể tham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra Do đó, cùng vớicông cụ kế hoạch và các chính sách điều tiết vĩ mô, việc thành lập và sử dụng các tổ chứckinh tế của nhà nước chính là sự bổ khuyết thị trường bằng lực lượng vật chất của nhànước Đây chính là lý do thứ hai cho việc nhà nước quyết định đầu tư vốn vào các doanhnghiệp

Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước là công cụ hữu hiệu để điều tiết kinh tế-xã hội, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

Có thể nhận ra rằng, ở các quốc gia đang phát triển, khi mà nguồn lực vật chất cònrất hạn chế, thì những nguồn lực quý giá khác cần được tập trung thành những lực lượngmạnh, đủ sức đáp ứng những mục đích phát triển thiết yếu Để thực hiện điều tiết, tránhcác tác động bất bình đẳng trong đầu tư xã hội, nhà nước cần phải có các công cụ kinh tế-tài chính, công cụ sản xuất đủ năng lực Các công cụ ấy vừa sản xuất ra của cải vật chất,cung cấp tài chính cho ngân quỹ quốc gia, vừa giúp nhà nước có thể tác động trực tiếpvào nền kinh tế - xã hội nhằm mục đích điều tiết, hỗ trợ phát triển, nhân lên những tácđộng tốt, hạn chế những tác động xấu của cơ chế thị trường Đối với những nhiệm vụ khókhăn nhất, trong những thời điểm nguy cấp nhất mà chẳng doanh nghiệp nào muốn làm,muốn nhận thì các doanh nghiệp nhà nước sẽ là lực lượng gánh vác

20 TS Trần Du Lịch, Nhìn nhận lại vai trò của Doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn phát triển mới

Trang 26

Đảng và nhà nước đã ban hành chủ trương khuyến khích mọi thành phần kinh tếtham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, đặc biệt là về vùng sâu, vùng

xa, nhưng các thành phần kinh tế khác không mặn mà do lợi ích kinh tế thấp, vốn đầu tưcao Vì vậy, các doanh nghiệp nhà nước vẫn là lực lượng chủ chốt, chưa thể thay thếtrong sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích Nhiều doanh nghiệp nhà nước đãđầu tư vào vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, có khả năng sinh lời thấp để tạo việc làm

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tập đoàn Viễn thông Quân đội phủ sóng viễn thông ởnhững vùng sâu xa nhất, dân cư thưa thớt, tuyến biên giới, hải đảo, lắp đặt, cung cấp dịch

vụ internet miễn phí cho các trường học Tập đoàn Dệt may Việt Nam tạo việc làm chohàng trăm nghìn lao động, đặc biệt là đang có xu hướng đầu tư về các huyện nghèo để tạocông ăn, việc làm, góp phần xóa đói nghèo cho người dân

Các doanh nghiệp nhà nước chính là điểm tựa cho các chính sách xóa nghèo, hỗtrợ để cân bằng phát triển giữa các vùng miền trong cả nước, mà nổi bật trong mấynăm gần đây là chương trình hỗ trợ phát triển cho các huyện nghèo Chỉ tính riêng Tậpđoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) trong 5 năm qua đã dành gần 3000 tỷ đồng chocông tác từ thiện, an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo Tập đoàn Viễn thông Quân đội(Viettel), Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Bưu chínhViễn thông Việt Nam (VNPT), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)… cũng đã dànhhàng nghìn tỷ đồng cho công tác này21

Từ những dẫn chứng trên cho thấy, việc nhà nước đầu tư vốn vào các doanhnghiệp là cần thiết, phù hợp với quy luật khách quan và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội

ở Việt Nam

2.2 Khái quát về phương thức quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

2.2.1 Khái niệm quản lý vốn tại doanh nghiệp nhà nước

Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, việc nhà nước đầu tư vốn vàocác doanh nghiệp là một lựa chọn hiệu quả giúp nhà nước khắc phục những khiếm khuyếtcủa nền kinh tế thị trường, góp phần định hướng sự phát triển của nền kinh tế, giữ vữngvai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong các thành phần kinh tế Đi đôi với việc nhànước thực hiện đầu tư vốn vào các doanh nghiệp, việc quản lý, giám sát một cách có hiệuquả nguồn vốn nhà nước đầu tư cũng trở thành xu thế tất yếu

Quản lý vốn tại doanh nghiệp nhà nước được hiểu là việc nhà nước, thông qua hệthống các cơ quan nhà nước– cơ quan đại diện chủ sở hữu – sử dụng các phương thức,công cụ quản lý do nhà nước ban hành phù hợp với các chính sách kinh tế - xã hội củaĐảng để định hướng đầu tư, sử dụng và giám sát việc sử dụng có hiệu quả, bảo toàn vàphát triển vốn tại các doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo các doanh nghiệp nhà nước hoạtđộng theo đúng mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ mà nhà nước đã đặt ra

Các yếu tố liên quan đến hoạt động quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước bao

gồm: (i) Chủ thể: Chủ thể của quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước là Chính phủ.

21 Theo http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/trong-nuoc/bai-1-danh-gia-dung-vai-tro-cua-doanh-nghiep-nha-nuoc/ 233120.html

Trang 27

Về bản chất, nhà nước là chủ sở hữu của nguồn vốn tại các doanh nghiệp nhà nước nhà nước, tuy nhiên, nhà nước không thể tự mình quản lý nguồn vốn này mà phải thông qua Chính phủ Chính phủ sẽ là chủ thể thay mặt nhà nước thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế Chính phủ thường ủy quyền cho một tổ chức hay một cơ quan làm đại diện phần vốn nhà nước đầu

tư tại doanh nghiệp nhà nước 22 (ii) Khách thể: Khách thể của quản lý vốn tại các doanh

nghiệp nhà nước là các tổ chức kinh tế được nhà nước đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất

kinh doanh (iii) Đối tượng: Đối tượng của quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước là

số vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, là bản thân doanh nghiệp đó và mở rộng hơn nữa là những tác động mà doanh nghiệp đó mang lại cho nền kinh tế - xã hội

2.2.2 Tính tất yếu của việc quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, nhà nước đầu tư và là chủ sở hữu của nguồn vốn đầu tư tại các doanh

nghiệp, tuy nhiên, do khái niệm nhà nước là một khái niệm phức hợp, là tổng hòa của cácthể chế, quy định, vì vậy, có thể nói, nhà nước không tự mình quản lý nguồn vốn này màgiao quyền cho một số cá nhân, tổ chức để thực hiện việc quản lý này Như vậy, về mặt

lý luận, mặc dù việc quản lý vốn nhà nước này vẫn dựa trên quyền lực nhà nước nhưng rõràng, về mặt thực tế là có sự tách biệt giữa chủ thể sở hữu vốn và chủ thể quản lý, sửdụng vốn nhà nước Khi đã thuộc về hai đối tượng khác nhau, mục tiêu của chủ thể sởhữu có thể sẽ không phù hợp với mục tiêu của chủ thể trực tiếp quản lý vốn nhà nước Do

đó, khả năng người được nhà nước giao nhiệm vụ đại diện nhà nước quản lý, sử dụngnguồn vốn nhà nước đầu tư tại Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này vào những động cơ

tư lợi, không phù hợp với mục tiêu của chủ sở hữu – nhà nước là có thể xảy ra Vì vậy,cần phải tìm ra những phương thức để nhà nước (với vai trò là chủ sở hữu vốn nhà nước)

có thể thắt chặt hơn nữa sự quản lý đối với nguồn vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệpnhằm đảm bảo vốn và tài sản của nhà nước không bị xâm phạm vì những mục tiêu sailệch trong quá trình hoạt động kinh doanh, cũng như đảm bảo doanh nghiệp hoạt độngtheo đúng mục tiêu nhà nước đề ra, góp phần nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhànước

Thứ hai, nhà nước quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước có vốn nhà nước

cũng chính là thực hiện một phần vai trò quản lý nhà nước của mình nhà nước ban hànhcác chế độ tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, theo dõi và kiểm tra việc chấp hànhcác chế độ đó Việc theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhànước giúp cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình thực tế tại các doanh nghiệp, theo dõitiến trình thực hiện các văn bản Từ đó thu thập thông tin để chỉnh sửa, bổ sung, hoànthiện các chính sách cho kịp thời, phù hợp với thực tế Đồng thời thông qua các hoạtđộng quản lý vốn đầu tư vào doanh nghiệp, nhà nước sẽ thu thập được những thông tinchính xác để đánh giá đúng chất lượng kinh doanh ở các doanh nghiệp nhà nước, đánhgiá đúng nhu cầu khách quan của thị trường cũng như xu thế phát triển ngắn hạn và dàihạn của nền kinh tế Trên cơ sở các thông tin chính xác và xác thực này, nhà nước thực

22 Phạm Thị Thanh Hoà, Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt Nam, Học viện Tài chính, trang 20

Trang 28

hiện đánh giá các tác động và có kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các doanh nghiệp, vốn và laođộng, hoàn thiện các khâu quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh doanh nói riêng và sắp xếp, ổnđịnh chiến lược phát triển chung của cả nền kinh tế nói chung nhằm thực hiện hiệu quảcác mục tiêu xã hội.

Thứ ba, tiếp cận ở góc độ đơn giản nhất, đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt

động kinh doanh, phần lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp này tương ứng với phầnvốn đầu tư của Nhà nước sẽ thuộc về nhà nước Trên cơ sở các nguồn lợi thu được từhoạt động của doanh nghiệp nhà nước, nhà nước duy trì và tái sản xuất mở rộng doanhnghiệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó của xã hội, của nền kinh tế mà nhà nước đã đặt

ra Do đó, để lợi nhuận sau thuế tại các doanh nghiệp nhà nước được tối đa hoá, nhà nướcphải thực hiện một cách hiệu quả việc quản lý phần vốn đầu tư nhằm làm cho phần vốn

đó được sử dụng một cách có hiệu quả, trên cở sở đó góp phần gia tăng lợi ích, đóng gópvào sự phát triển, trước hết tại chính doanh nghiệp nhà nước, sau đó là phục vụ cho sựphát triển tổng thể của nền kinh tế - xã hội

2.2.3 Phân loại phương thức quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

Phương thức quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước là những cách thức, công

cụ được chủ thể quản lý (nhà nước) vận dụng và kết hợp lại để tác động một cách trựctiếp vào đối tượng quản lý để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tạidoanh nghiệp

Có thể thể phân loại các phương pháp quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

theo nhiều cách như: (i) Căn cứ vào phương thức tác động, có phương pháp trực tiếp và

phương pháp gián tiếp; (ii) Căn cứ vào chức năng quản lý, có các phương thức kế hoạch hoá, phương thức tổ chức, phương thức kiểm tra, hạch toán…; (iii) Căn cứ vào nội dung

và cơ chế hoạt động quản lý, có các phương thức kinh tế, phương thức hành chính – tổ

chức, và phương thức tâm lý – xã hội/giáo dục; (iv) Căn cứ vào các nhân tố ảnh hưởng

đến hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước có phương thức chính trị, phương thức pháp luật và phương thức thể chế nội bộ.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu các phươngthức quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước theo căn cứ phân loại thứ (iv) Theo đó,các phương thức quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước được xác định khái quát nhưsau:

- Phương thức chính trị: Là tổng thể các quan điểm, đường lối, tư tưởng chỉ đạo

của Đảng về hoạt động quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước Nhữngquan điểm, đường lối, tư tưởng này được xem là nền tảng, kim chỉ nam cho việc xâydựng, tổ chức thực hiện các phương thức còn lại

- Phương thức pháp luật: Là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp doQuốc hội, Chính Phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác có thẩmquyền ban hành Những quy định này được xây dựng trên cơ sở quan điểm, đường lối tưtưởng chỉ đạo của Đảng và được xem là những quy tắc xử sự bắt buộc mà các chủ thể

Trang 29

liên quan phải chấp hành nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các doanhnghiệp nhà nước.

- Phương thức thể chế nội bộ: Là tổng thể các kế hoạch, quy định, quy chế nội bộ

được ban hành và áp dụng trong nội bộ các Doanh nghiệp nhà nước Các quy kế hoạch,quy định, quy chế này được ban hành trên cơ sở phù hợp với chính sách của Đảng, phápluật của nhà nước và thực tiễn nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

1. Sự tồn tại của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tất yếu khách quan

2. Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước có tính đặc thù so với các doanh nghiệp

thuộc sở hữu tư nhân và doanh nghiệp nhà nước trên thế giới

3.

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, trong đó doanh nghiệp nhà nước gópphần quan trọng trong việc bảo toàn và phát triển vai trò chủ đạo của kinh tếnhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của ViệtNam

4.

Việc xác định phương hướng, biện pháp đổi mới phương thức quản lý vốntại các doanh nghiệp nhà nước là một đòi hỏi tất yếu, khách quan trong yêucầu phát triển đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 30

CHƯƠNG III THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ – PHÁP LUẬT, MÔI TRƯỜNG THỂ CHẾ NỘI BỘ TRONG QUẢN LÝ VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ

NƯỚC Ở VIỆT NAM 3.1 Đánh giá thực trạng môi trường chính trị trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

Ở Việt Nam, ngay từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nhằm thực hiệnchủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc nhà nước đã đầu tư vốn thành lập nhiều xínghiệp quốc doanh (sau này gọi là Doanh nghiệp nhà nước) trong các ngành như : cơ khí,hóa chất, dệt … Sau khi hòa bình được lập lại, khu vực Doanh nghiệp nhà nước phát triểnnhanh chóng trong tất cả các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Giai đoạn 1961

- 1975 thực hiện đường lối công nghiệp hóa, khu vực Doanh nghiệp nhà nước tiếp tụctăng cường và mở rộng Sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, bằng việccải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và đầu tư mới của ngân sách, số lượng cácDoanh nghiệp nhà nước ngày càng tăng nhanh, các doanh nghiệp này đã góp phần to lớnvào phát triển kinh tế, quốc phòng phục vụ cho kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiệnđại hóa định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Tuy nhiên, trước yêu cầu của giai đoạn mới, khi nền kinh tế chuyển sang phát triểntheo cơ chế thị trường, những mặt yếu kém của các Doanh nghiệp nhà nước cũng bộc lộ

rõ nét, nhất là tình trạng hoạt động kém hiệu quả Trước thực trạng đó, Nghị quyết Hộinghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) số 018 - NQ/TW Về nhữngnhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế, ngày 12 tháng 07 năm 1984

nhận định “Công tác quản lý kinh tế còn nhiều khuyết điểm và nhược điểm, trong đó có

những mặt kéo dài và nghiêm trọng, không được cải tiến kịp thời phù hợp với tình hình mới” Để giải quyết thực trạng trên Nghị quyết chỉ rõ “cần khẩn trương sắp xếp lại các

cơ sở sản xuất, kinh doanh” Cụ thể: “(i) Tập trung những điều kiện sản xuất trong nước,

tích cực huy động các khả năng nhập khẩu, triệt để tiết kiệm (trước hết là tiết kiệm điện, xăng dầu, than, nguyên liệu ) để sản xuất những sản phẩm trọng yếu nhất, ưu tiên cho những cơ

sở quốc doanh quan trọng có điều kiện sản xuất ổn định, có hiệu quả kinh tế cao nhất; (ii)

Các bộ, các địa phương cùng với cơ sở sắp xếp lại các xí nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương, khắc phục tình trạng phân tán, chia cắt, chồng chéo Những cơ sở không có điều kiện sản xuất theo nhiệm vụ thiết kế cần được giúp đỡ chuyển hướng sản xuất, thay đổi phương án sản phẩm, nhằm duy trì và sử dụng có lợi nhất các năng lực sản xuất hiện có Kiên quyết giải thể những cơ sở không có khả năng bảo đảm sản xuất có hiệu quả, thua lỗ kéo dài Như vậy, ngay từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá

V), vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước đãđược Đảng quan tâm và xác định phương hướng rõ ràng

Tiếp theo Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V), Nghịquyết số 10-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Trang 31

(khoá VI) về phương hướng chỉ đạo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1991, ngày

26 tháng 11 năm 1990 khẳng định “Củng cố kinh tế quốc doanh, tìm mọi cách tháo gỡ

khó khăn cho các cơ sở kinh tế quốc doanh, nhất là các cơ sở quan trọng trong nền kinh

tế và các xí nghiệp có điều kiện vươn lên làm ăn có hiệu quả Đối với các cơ sở kinh tế quốc doanh làm ăn thua lỗ kéo dài, đặc biệt là các đơn vị cơ sở không thuộc lĩnh vực sản xuất và không thuộc các ngành trọng yếu thì kiên quyết xử lý bằng cách chuyển đổi

sở hữu hoặc giải thể Cần chỉ đạo khẩn trương việc thực hiện các biện pháp đã đề ra về tăng cường quản lý xí nghiệp, bổ sung, sửa đổi một số điểm trong quyết định 217 của Hội đồng Bộ trưởng”

Cụ thể hóa chủ trương nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn nhà nước tại doanhnghiệp Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) số02-NQ/HNTW về nhiệm vụ và giải pháp ổn định, phát triển kinh tế - xã hội trong những

năm 1992 - 1995, ngày 4-12-1991 đã chỉ rõ “Tập trung củng cố và phát triển kinh tế

quốc doanh trong những ngành và lĩnh vực then chốt, những doanh nghiệp trọng yếu Những ngành, lĩnh vực nào mà các thành phần kinh tế khác có thể đầu tư kinh doanh có hiệu quả thì nên khuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế ấy phát triển Theo hướng

đó, cần soát xét các xí nghiệp quốc doanh hiện có trong tất cả các lĩnh vực, xác định cụ thể từng xí nghiệp cần duy trì hình thức quốc doanh” Cụ thể hơn, Nghị quyết số 05 -

NQ/HNTW Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tiếp tụcđổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, ngày 10 tháng 6 năm 1993 quy định

“Các quốc doanh nông, lâm, ngư nghiệp phải nghiên cứu và áp dụng các hình thức giao

và khoán thích hợp đến công nhân viên, hộ thành viên và hộ dân cư tại địa phương, phát huy tốt tiềm năng đơn vị kinh tế tự chủ của hộ Đồng thời làm tốt quy hoạch, xác định phương hướng sản xuất, kinh doanh, phát huy có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật

và tiền vốn, vươn lên làm tốt chức năng trung tâm công nghiệp - dịch vụ, nhất là công nghiệp chế biến, trung tâm khoa học - kỹ thuật, trung tâm văn hoá - xã hội cho các thành phần kinh tế và dân cư trên địa bàn”

Tổng kết quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại cácdoanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1990 – 2000, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BanChấp hành Trung ương Đảng khoá IX Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng

cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đã xác định “Trong hơn 10 năm qua, Đảng và nhà

nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp

và nền kinh tế còn nhiều khó khăn gay gắt, doanh nghiệp nhà nước đã vượt qua nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước; đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước cũng còn những mặt hạn

chế, yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng như “quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ,

tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh; kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương

Trang 32

xứng với các nguồn lực đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp” Những hạn chế, yếu kém của doanh nghiệp nhà nước có nguyên nhân

khách quan, nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan trong đó có nguyên

nhân: (i) Chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế nhà

nước và doanh nghiệp nhà nước, về yêu cầu và giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và

nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; (ii) Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước còn nhiều yếu kém, vướng mắc; (iii) Cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập,

chưa đồng bộ, còn nhiều điểm chưa phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa tạo được động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ và người lao động trong

doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh (iv) Sự lãnh đạo

của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ đối với việc đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nhiệm vụ quan trọng và phức tạp này.

Trên cơ sở nhận định đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trungương Đảng khoá IX đã chỉ rõ kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vữngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đấtnước Doanh nghiệp nhà nước (gồm doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn và doanhnghiệp nhà nước giữ cổ phần chi phối) phải không ngừng được đổi mới, phát triển vànâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quantrọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủyếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế Việc xem xét, đánhgiá hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế,chính trị, xã hội; trong đó, lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủyếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chínhsách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp côngích Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX

khẳng định “Việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh

nghiệp nhà nước là nhiệm vụ cấp bách và cũng là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp, mới mẻ” Do đó, cần “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở tất cả các cấp, các ngành đối với việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”.

Tiếp theo Nghị quyết Trung ương 3 về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng caohiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết số 34 - NQ/TW ngày 3/2/2004 của Hộinghị Trung ương 9 khóa IX về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực

hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định “Tiếp tục sắp

xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước” là một

trong những chủ trương, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hộitoàn quốc lần thứ IX của Đảng Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IXngày ngày 10 tháng 4 năm 2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

5 năm 2006 – 2010cũng nhấn mạnh “Đẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hoá doanh

Trang 33

nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công ty nhà nước, nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ và

cơ chế quản lý năng động, để vốn nhà nước được sử dụng có hiệu quả và ngày càng tăng lên, đồng thời, thu hút mạnh các nguồn lực trong, ngoài nước để phát triển” là

phương hướng, nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 –

2010 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm nâng cao hiệu quảquản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của

Đảng và nhà nước trong giai đoạn tới là “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao hiệu

quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty Sớm hoàn thiện thể chế quản lý hoạt động của các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước Đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh, đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối Phân định rõ quyền sở hữu của nhà nước và quyền kinh doanh của doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp”.

Trên cơ sở nghiên cứu đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về quản

lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam qua các kỳ Đại hội Đảng, tác giả nhậnđịnh:

(i) Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà

nước của Đảng là chủ trương xuyên suốt kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đếnnay

(ii) Chủ trương nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp

nhà nước được phát triển qua từng thời kỳ theo hướng ngày càng phát triển hơn, phù hợphơn với thực trạng môi trường kinh doanh và xu hướng hội nhập của Việt Nam

(iii) Đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về quản lý vốn tại các

doanh nghiệp nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan và điều tiết thịtrường, lấy quy luật kinh tế thị trường làm cơ sở

(iv) Thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về nâng cao hiệu quả

quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại Doanh nghiệp, đến nay, Doanh nghiệp nhà nước đượcsắp xếp lại một bước quan trọng, cơ bản tập trung vào những ngành, lĩnh vực, địa bànthen chốt, quan trọng mà nhà nước cần nắm giữ, góp phần để kinh tế nhà nước thực hiệnvai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và nhu cầucủa quốc phòng, an ninh23

3.2 Đánh giá thực trạng môi trường pháp luật trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

3.2.1 Tổng quan hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước từ năm 1986 đến nay

Thực hiện đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về nâng cao hiệu quảquản lý và sử dụng vốn nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước, kể từ sau Đại hộiĐảng lần thứ VI đến nay khung pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng vốn

23 Theo Kết luận số 50-KL/TW, ngày 29/10/2012, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Đề án

“Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”

Trang 34

tại các doanh nghiệp nhà nước dần được hoàn thiện Có thể khái quát hệ thống pháp luậtđiều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước qua các giaiđoạn như sau:

- Giai đoạn 1986-1990

Thực hiện chủ trương “sắp xếp lại các cơ sở sản xuất, kinh doanh” của Đảng,

trong giai đoạn này, Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành Quyết định 217/HĐBT ngày14/11/1987, Quyết định 50/HĐBT ngày 22/3/1988 và sau đó là Quyết định 195/HĐBTngày 2/12/1988 bổ sung Quyết định 217-HĐBT quy định quyền chủ động trong tổ chứcsản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp quốc doanh Tuy nhiên, trong thực tế quyền tựchủ của doanh nghiệp quốc doanh vẫn bị hạn chế, cơ chế bao cấp, xin cho vẫn chi phốicác hoạt động của doanh nghiệp quốc doanh24

- Giai đoạn 1990 - 2000

Triển khai chủ trương “Tập trung củng cố và phát triển kinh tế quốc doanh trong

những ngành và lĩnh vực then chốt, những doanh nghiệp trọng yếu” của Đảng, khung

pháp lý liên quan tới cơ chế quản lý doanh nghiệp quốc doanh tiếp tục được xây dựng vàhoàn thiện theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn trong điều kiện chuyển sang cơ chế thịtrường cho sự quản lý của nhà nước Đầu tiên phải kể đến là việc ban hành Quyết định143/HĐBT ngày 10/3/1990 về việc thí điểm cổ phần hóa một vài doanh nghiệp quốcdoanh Kế tiếp là việc ban hành Quyết định 315/HĐBT ngày 1/9/1990, Nghị định388/HĐBT ngày 10/11/1991 về quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp quốc doanh,Quyết định 90/TTg ngày 7/3/1994 và Quyết định 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướngChính phủ về việc thí điểm thành lập các tập đoàn kinh doanh, Nghị định 28/1996/NĐ-

CP ngày 7/5/1996 và Nghị định 44/1998/NĐ- CP ngày 29/6/1998 về chuyển công ty nhànước thành công ty cổ phần đã thể hiện quyết tâm đẩy mạnh đánh giá, tổ chức sắp xếp lạidoanh nghiệp quốc doanh

Đặc biệt trong giai đoạn này, nhằm phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốcdoanh trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp củadoanh nghiệp nhà nước; tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; thúc đẩydoanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và thực hiện đúng các mục tiêu do nhànước giao cho doanh nghiệp, ngày 20/4/1995 Quốc hội đã Ban hành Luật Doanh nghiệpnhà nước số 39-L/CTN Sự ra đời của Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 đã tạo cơ sởpháp lý quan trọng cho việc quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước tronggiai đoạn này Cụ thể, trong giai đoạn 1990 – 2000, tỷ trọng GDP của doanh nghiệp quốcdoanh đã tăng từ 32,5% năm 1990 lên 42,2% GDP vào năm 1995 đã thể hiện sự lấn átcủa doanh nghiệp nhà nước đối với các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế kháctrong nền kinh tế ngày càng gia tăng25

24 Theo PGS.TS Nguyễn Văn Trình, Phó hiệu trưởng Trường cán bộ TP Hô Chí Minh, Tái cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước – tín hiệu mới từ kết quả thực hiện và giải pháp đẩy mạnh cho giai đoạn 2014 – 2015

25 Theo PGS.TS Nguyễn Văn Trình, Phó hiệu trưởng Trường cán bộ TP Hô Chí Minh, Tái cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước – tín hiệu mới từ kết quả thực hiện và giải pháp đẩy mạnh cho giai đoạn 2014 – 2015

Trang 35

- Giai đoạn 2000 – 2010

Đây là giai đoạn Đảng và nhà nước tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức lại và cổ

phần hóa doanh nghiệp nhà nước Thực hiện chủ trương “Việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới,

phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ cấp bách và cũng là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp, mới mẻ”, trong giai đoạn này,

Quốc hội đã ban hành Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 thay thế cho Luật doanh nghiệpnhà nước năm 1999 Năm 2005, Quốc hội lại ban hành Luật doanh nghiệp mới và đếnnăm 2010 Luật này đã chính thức thay thế cho Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 Theo

đó, doanh nghiệp nhà nước chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp 2005 như bất cứdoanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân nào khác Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã ban hànhnhiều nghị định như: Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002; Nghị định187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004; Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về việcchuyển doanh nghiệp nhà nước 100% vốn chủ sở hữu thành công ty cổ phần đã mở ragiai đoạn mới của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước so với giai đoạn trước chỉ là giaiđoạn làm thí điểm Trong giai đoạn 2000 - 2010 đã tiến hành cổ phần hóa gần 3.300doanh nghiệp nhà nước, gấp gần 6 lần so với giai đoạn 1990 - 2000 Do đó, tỷ trọng củakhu vực kinh tế nhà nước trong GDP cũng đã giả mạnh so với giai đoạn trước, năm 2010kinh tế nhà nước chỉ còn chiếm tỷ trọng 33,74% GDP so với 42,2% GDP năm 1990

- Giai đoạn 2011 đến nay

Tiếp tục triển khai chủ trương của Đảng về quản lý vốn nhà nước tại doanhnghiệp, từ năm 2011 đến này Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ TàiChính… đã ban hành một số Luật, Nghị định, Quyết định, Thông tư điều chỉnh hoạt độngquản lý, kinh doanh tại các doanh nghiệp nhà nước Các quy định pháp luật này đã cơ bảnkhắc phục được một số tồn tại, bất cập trong công tác quản lý, điều hành, sử dụng vốn, tàisản của các doanh nghiệp khác có vốn đầu tư của nhà nước để đầu tư vào sản xuất kinhdoanh Có thể khái quát thành 04 nhóm vấn đề như sau:

(i) Nhóm quy định về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của đại diện chủ sở nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

Nghị định số 25/2010/NĐ-CP về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên do nhà nước làm chủ sở hữu Kết luận số 50-KL/TW, ngày 29/10/2012 của Hội nghịlần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày23/02/2010 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiệnNghị quyết số 42/2009/QH12 ngày 27/11/2009 của Quốc hội về việc nâng cao hiệu lực,hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại cáctập đoàn, tổng công ty nhà nước; Chỉ thị số 1568/CT-TTg ngày 19/8/2010 của Thủ tướngChính phủ về việc triển khai thực hiện Kết luận số 78-KL/TW ngày 26/7/2010 của BộChính trị; Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 về phân công, phân cấp thựchiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà

Trang 36

nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; Nghị định số 151/2013/NĐ-CP về chứcnăng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của SCIC

(ii) Nhóm quy định về hoạt động đầu tư vốn, bán vốn và quản lý tài chính

Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanhnghiệp 2014; Luật doanh nghiệp 2014; Luật đầu tư 2014; Luật đấu thầu 2013;Nghị định

số 71/2013/NĐ-CP ngày 11/7/2013 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lýtài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;Nghị định số151/2013/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của SCIC; Nghị định số206/2013/NĐ-CP ngày 09/12/2013 về quản lý nợ của doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ100% vốn điều lệ; Nghị định số 57/2014/NĐ-CP về Điều lệ tổ chức và hoạt động củaSCIC;Quyết định số 21/2012/QĐ-TTg ngày 10/5/2012 về ban hành Quy chế quản lý và

sử dụng Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp;Quyết định 37/2014/QĐ-TTg vềtiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước;Quyết định số 2344/QĐ-TTg ngày02/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án tái cơ cấu Tổng công ty giaiđoạn đến năm 2015; Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứngkhoán và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán; Thông tư 220/2013/TT-BTC hướngdẫn Nghị định 71/2013/NĐ-CP;Thông tư 21/2014/TT-BTC về Quy chế hoạt động củaNgười đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; Côngvăn số 2660/BTC-UBCK hướng dẫn một số vấn đề liên quan đến thoái vốn thông quađấu giá cổ phần và niêm yết, đăng ký giao dịch của các doanh nghiệp cổ phần hoá; Côngvăn số 1971/UBCK-PTTT ngày 23/4/2015 của Ủy ban Chứng khoán nhà nước;CV5916/UBCK-QLPH ngày 28/0/2014 của UBCKNN

(iii) Nhóm quy định về giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước

Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanhnghiệp 2014; Nghị định số 61/2013/NĐ-CP ngày 25/6/2013 ban hành Quy chế giám sáttài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanhnghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp nhà nước; Nghị định 115/2014/NĐ-

CP quy định chế độ giám sát, kiểm tra việc thực hiện chiến lược, kế hoạch, mục tiêu,nhiệm vụ được giao của doanh nghiệp nhà nước; Nghị định 49/2014/NĐ-CP về giám sát,kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành pháp luật và tuânthủ quyết định của chủ sở hữu; Quyết định 36/2014/QĐ-TTg về Quy chế công bố thôngtin hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sởhữu;Thông tư 158/2013/TT-BTC hướng dẫn về giám sát tài chính và đánh giá hiệu quảhoạt động đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp nhà nước;Thông tư 171/2013/TT-BTC hướng dẫn công khai thông tin tài chính

(iv) Nhóm quy định chuyển đổi sở hữu, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước

Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 về việc chuyển công ty nhà nướcthành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách

Trang 37

nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu; Nghị định số

59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011, Nghị định số 189/2013/NĐ-59/2011/NĐ-CP 20/11/2013 về cổ phần hóa doanhnghiệp 100% vốn nhà nước; Nghị định số 151/2013/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ và

cơ chế hoạt động của SCIC; Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt “Đề án Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tậpđoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015”; Thông tư 118/2014/TT-BTChướng dẫn việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại Tổng công ty Đầu tư

và Kinh doanh vốn nhà nước; Thông tư 194/2013/TT-BTC hướng dẫn tái cơ cấu doanhnghiệp 100% vốn nhà nước không đủ điều kiện cổ phần hóa; Thông tư 127/2014/TT-BTC hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyểndoanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần; Thông tư 196/2011/TT-BTChướng dẫn bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa của doanhnghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần

3.2.2 Đánh giá tác động của pháp luật hiện hành đối với hoạt động quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

Có thể nói, các văn bản pháp luật được ban hành đã tạo khung pháp lý đồng bộcho hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng vốn tại các doanh nghiệpnhà nước Đặc biệt, các văn bản này đã góp phần khắc phục những hạn chế và theo sátthực tế hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước Tuynhiên, có thể nhận thấy, trong hệ thống pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động của cácdoanh nghiệp nhà nước có rất nhiều văn bản mới được ban hành trong giai đoạn 2013 –

2015, có những văn bản chỉ mới có hiệu lực từ 1/11/2015 và có văn bản phải đến8.12.2015 mới có hiệu lực Sự xuất hiện của những văn bản pháp luật mới đã tạo cơ sởpháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp nhà nước trong nhiều hoạt động Tuy nhiên, mộtthực tế là văn bản pháp luật mới có nhiều thay đổi so với các quy định trước đây điềuchỉnh hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước Trong khi đó, các văn bản hướng dẫnthi hành văn bản pháp luật mới chưa được ban hành hoặc đã được ban hành nhưng chưađầy đủ Mặt khác, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước có rấtnhiều điểm đặc thù mà bản thân nhiều quy định trong các văn bản mới chưa giải quyếtthấu đáo, cần được hướng dẫn cụ thể… Do đó, trong thời điểm hiện tại, việc phải thựchiện nhiều quy định mới khiến các doanh nghiệp nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc

tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh cũng như hoàn thiện hệ thống quy chế pháp lý nội

bộ Những tác động tích cực cũng như những mặt hạn chế hoặc còn tồn tại của hệ thốngpháp luật hiện hành tới các doanh nghiệp nhà nước có thể được khái quát như sau:

3.2.2.1 Những tác động tích cực của hệ thống pháp luật tới doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, pháp luật đã quy định về tái cơ cấu các cơ quan đại diện chủ sở hữu,

tổ chức thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý của chủ sở hữu nhà nước và thúc đẩy cải cách hành chính

Nhằm tạo ra nền tảng pháp lý cho các quy định về các chủ thể là đại diện chủ sởhữu phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp, pháp luật đã góp phần thúc đẩy đổi mới cơ

Trang 38

chế quản lý, giám sát của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và phần vốn nhà nướcđầu tư ở các doanh nghiệp Cụ thể là, pháp luật cũng đã có những quy định tách giữachức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và chức năng quản lý nhà nước tại các doanh

nghiệp Đây là nội dung mới và khác so với “Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm

là tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015” ban hành theo Quyết

định 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 Đây đồng thời là điều kiện cần thiết và quan trọng,bảo đảm cho việc thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và thực hiện chức năngchủ sở hữu nhà nước một cách chuyên trách, chuyên nghiệp, phù hợp với thể chế kinh tếthị trường và thông lệ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế26 Việc hình thành một cơquan chuyên trách thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước sẽ tách biệt đượcchức năng chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan hànhchính nhà nước; đảm bảo chức năng chủ sở hữu nhà nước được thực hiện tập trung, thốngnhất, chuyên trách, chuyên nghiệp; qua đó góp phần tạo điều kiện tập trung nguồn lực đểnâng cao hiệu quả chức năng quản lý nhà nước, chức năng chủ sở hữu nhà nước và khắcphục được các tồn tại, bất cập do chưa tách bạch được hai chức năng nêu trên của các cơquan hành chính nhà nước; đảm bảo nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa các loại hìnhdoanh nghiệp; đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo ngành, vùng lãnh thổ;thực hiện quản trị tốt và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Đây là điểm tựa quantrọng để đẩy mạnh cải cách, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước trong thờigian tới

Thứ hai, pháp luật hiện hành đã có các quy định cụ thể về đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể đại diện chủ sở hữu thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao

Trên cơ sở quan điểm phải tách bạch và chuyên môn hoá hoạt động quản lý vốnnhà nước, Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tạidoanh nghiệp (Luật số 69/2014/QH13), tại Điều 7 đã quy định về đại diện chủ sở hữu nhànước, theo đó, Chính phủ thống nhất thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sởhữu nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Cơ quan đạidiện chủ sở hữu là cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệmcủa đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lậphoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước đầu

tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở viên Cũng theoLuật này, các chủ thể đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp baogồm: Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc thành phố trực thuộctrung ương (gọi chung là UBND cấp Tỉnh), Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhànước (SCIC) Trong đó, SCIC là một mô hình đại diện chủ sở hữu tương đối mới và hiệnđại ở Việt Nam, thực hiện chuyên nghiệp các hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh

26 Cần đổi mới mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước theo hướng hình thành một cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng này.

Trang 39

nghiệp và đầu tư kinh doanh vốn nhà nước mang lại hiệu quả cao đối với việc sử dụngvốn nhà nước.

Đặc biệt, đối với Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), Nghịđịnh 151/2013/NĐ-CP quy định rõ các nhiệm vụ mang tính đặc thù mà SCIC phải thựchiện như: tiếp nhận và thực hiện quyền, nghĩa vụ chủ sở hữu nhà nước đối với doanhnghiệp; tiếp tục thực hiện các hoạt động sắp xếp, cổ phần hoá, bán vốn nhà nước đầu tưtại doanh nghiệp được chuyển giao theo quy định hiện hành; đầu tư vốn vào các tập đoàn,tổng công ty, hoặc công ty mẹ hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề nhà nước nắm giữquyền chi phối; đầu tư vốn vào các dự án theo chỉ định của Chính phủ và Thủ tướngChính phủ Đây là những nhiệm vụ trọng yếu, SCIC cần tập trung nguồn lực để triển khaitrong thời gian tới, góp phần thực hiện tốt chủ trương sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệuquả doanh nghiệp và đổi mới phương thức quản lý tại các doanh nghiệp lớn mà nhà nướccần tiếp tục giữ quyền chi phối Với những đặc thù trên, pháp luật hiện hành cũng đã traocho SCIC những “quyền năng” đặc biệt để SCIC thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụđược giao Cụ thể:

(i) Pháp luật hiện hành xác định rõ nhóm đối tượng và trách nhiệm chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp cho SCIC

Để phù hợp với chủ trương của Đảng và nhà nước về việc đẩy mạnh sắp xếp, nângcao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, đổi mới phương thức quản lý vốn; tách dần chứcnăng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp khỏi các bộ, Ủy ban nhân dâncấp tỉnh thực hiện thông qua SCIC, Nghị định 151/2013/NĐ-CP quy định rõ đối tượngtiếp nhận theo hướng loại trừ các doanh nghiệp chủ yếu làm nhiệm vụ cung ứng sảnphẩm, dịch vụ công ích, phục vụ an ninh quốc phòng; bổ sung việc tiếp nhận vốn nhànước tại các công ty liên doanh có vốn góp nhà nước do các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷban nhân dân tỉnh làm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước Đồng thời, Nghị định

151/2013/NĐ-CP cũng xác định rõ “Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp

tỉnh có trách nhiệm chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 1 Điều này cho Tổng công ty ngay sau khi các doanh nghiệp này hoàn thành cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sang hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn”.

(ii) Pháp luật hiện hành trao cho SCIC quyền năng thực hiện một số “cơ chế” đặc thù trong thực hiện nhiệm vụ thoái vốn nhà nước

Để khắc phục những bất cập trong cơ chế trước đây và tạo cơ sở pháp lý thuận lợicho hoạt động bán vốn tại các doanh nghiệp nhà nước mà nhà nước không cần duy trìvốn góp pháp luật hiện hành cho phép SCIC thực hiện một số cơ chế mang tính đặc thùnhư: cơ chế trích thưởng thành tích bán vốn tại các doanh nghiệp tiếp nhận; thực hiệnđánh giá lại vốn nhà nước khi SCIC nhận bàn giao theo nguyên tắc gắn với thị trường, cótính đến yếu tố rủi ro; còn số liệu phản ánh trên sổ sách kế toán của SCIC vẫn ghi theogiá trị vốn nhà nước được phản ánh theo giá sổ sách của doanh nghiệp nhận bàn giao

Trang 40

Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp chưa niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán,pháp luật hiện hành cho phép SCIC thực hiện bán vốn theo quy định hiện hành của nhànước và các quy định cụ thể như:

- SCIC được đấu giá công khai một phần số cổ phần dự kiến bán, dành phần cònlại (tối đa bằng 70% số lượng cổ phần dự kiến bán) để bán thỏa thuận cho người lao độnghoặc cho cổ đông chiến lược theo giá không thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất

- Trường hợp bán đấu giá không thành công, SCIC quyết định điều chỉnh giảm giákhởi điểm để đấu giá bán tiếp Việc giảm giá khởi điểm để đấu giá được thực hiện khôngquá 3 lần, thời gian giữa các lần điều chỉnh giákhông quá2 tháng Mức giảm tối đa mỗilần không quá 10% so với giá khởi điểm lần bán vốn trước đó

- Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thua lỗ và đã thực hiện đấu giácông khai nhưng không có người mua cao hơn hoặc bằng mệnh giá thì tổng công ty được

hạ giá khởi điểm thấp hơn mệnh giá để đấu giá bán nhằm thu hồi tối đa phần vốn nhànước đã đầu tư tại doanh nghiệp

- Trường hợp bán đấu giá cổ phần có tổng giá trị theo mệnh giá thấp hơn 10 tỷđồng hoặc cổ phần ở các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ có mệnh giá từ 10 tỷ đồng trởlên thì được thực hiện qua các công ty chứng khoán hoặc do SCIC tự tổ chức đấu giá

- SCIC được quyền bán đấu giá cổ phần cả lô Trên cơ sở đó Hội đồng thành viênSCIC đã ban hành Quy chế đấu giá bán cả lô cổ phần đối với trường hợp bán đấu giá trên

10 tỷ qua Sở giao dịch chứng khoán, tạo thuận lợi cho việc bán cả lô các doanh nghiệp cógiá trị vốn nhà nước trên 10 tỷ đồng

Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp niêm yết thì SCIC được phép thực hiện các quyđịnh đặc biệt sau

- Theo quy định của luật chứng khoán, trường hợp mua cổ phiếu có quyền biểuquyết dẫn đến việc sở hữu từ hai mươi lăm phần trăm trở lên số cổ phiếu đang lưu hànhcủa một công ty đại chúng thì bên mua phải chào mua công khai Tuy nhiên, SCIC đượcquyền áp dụng cơ chế đặc thù là nhà đầu tư tham gia đấu giá mua cổ phần của SCIC tạicông ty đại chúng không phải thực hiện các thủ tục về chào mua công khai mà chỉ thựchiện công bố thông tin theo mẫu (CV5916/UBCK-QLPH ngày 28/0/2014 của Uỷ banchứng khoán nhà nước) Cơ chế này sau đó đã được thể chế chính thức tại các văn bảncủa Bộ Tài chính và Nghị định 60/2015/NĐ-CP

- Việc chuyển nhượng các cổ phiếu của SCIC tại doanh nghiệp niêm yết ngoài SởGiao dịch chứng khoán đã được Uỷ ban chứng khoán chấp thuận việc không cần xin ýkiến Uỷ ban chứng khoán (Công văn số 1971/UBCK-PTTT ngày 23/4/2015 của Ủy banChứng khoán nhà nước)

(iii) SCIC được quyền chủ động trong việc thực hiện cơ chế tiền lương

Nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm gắn với hiệu quả hoạt động quản

lý, đầu tư, kinh doanh vốn, pháp luật hiện hành quy định cơ chế tiền lương, quỹ lươngđối với người lao động của SCIC được thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật;đơn giá tiền lương được xác định và ổn định trong 03 năm và Hội đồng thành viên SCIC

Ngày đăng: 28/03/2023, 18:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w