1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề thực tập bàn về ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán tài chính ở việt nam thực trạng và giải pháp

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn về ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán tài chính ở việt nam, thực trạng và giải pháp
Tác giả Nguyễn Thị Mơ
Người hướng dẫn TS. Trần Mạnh Dũng
Trường học Cao học
Chuyên ngành Kiểm toán tài chính
Thể loại Bài kiểm tra giữa kỳ
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 157,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ MÔN KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI BÀN VỀ Ý KIẾN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN TRÊN BÁO CÁO KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Giáo viên hướng dẫn TS Trần Mạnh Dũng Lớp Ca[.]

Trang 1

BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ MÔN KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

ĐỀ TÀI: BÀN VỀ Ý KIẾN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN TRÊN BÁO CÁO KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Mạnh Dũng

Trang 2

1 Giới thiệu về đề tài nghiên cứu

Nhu cầu kiểm toán xuất phát từ nhiều lý do, trong đó chủ yếu do các chủ sở hữu doanh nghiệp (cổ đông) bởi họ không thể và cũng không cần thiết tự kiểm tra mọi thông tin tài chính của doanh nghiệp do giám đốc doanh nghiệp chịu trách nhiệm lập và báo cáo cho họ, do vậy họ đã bổ nhiệm các kiểm toán viên – những người có đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, độc lập, khách quan - thay thế họ kiểm tra một cách độc lập và báo cáo lại theo ý kiến của mình về tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính

Cùng với sự phát triển và đa dạng của nền kinh tế, các thông tin tài chính được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau cho các đối tượng khác nhau Tuy nhiên tất cả những người sử dụng kết quả kiểm toán đều cần sự đảm bảo rằng những thông tin tài chính mà

họ được cung cấp có trung thực và hợp lý hay không Như vậy nghĩa vụ trước hết của kiểm toán viên là báo cáo một cách độc lập theo ý kiến của mình dựa trên kết quả kiểm toán về mức độ trung thực và hợp lý của các thông tin tài chính Đồng thời trong một số trường hợp, kết quả kiểm toán cho thấy doanh nghiệp có hành vi không tuân thủ pháp luật ở mức độ nào đó mà theo qui định của pháp luật cần báo cáo cho các cơ quan chức năng, khi đó kiểm toán viên còn có nghĩa vụ báo cáo lại cho các cơ quan chức năng về hành vi vi phạm đó của doanh nghiệp

Kiểm toán viên là người chịu trách nhiệm chính về kết quả của cuộc kiểm toán, thực hiện công việc kiểm tra, kiểm soát, phân tích và đánh giá lại toàn bộ công việc kế toán và lập Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, qua đó, dựa vào kết quả công việc của mình, kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán để xác nhận sự trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính của doanh nghiệp, cũng như sự tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành khi lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp Ý kiến kết luận cuối cùng của kiểm toán viên được thể hiện công khai trên văn bản pháp luật gọi là Báo cáo kiểm toán Có thể nói Báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên về báo cáo tài chính là khâu công việc cuối cùng của quá trình kiểm toán báo cáo tài chính Như vậy, báo cáo kiểm toán đóng vai trò hết sức quan trọng đối với người sử dụng thông tin như nhà đầu tư, cổ đông, cơ quan quản lý…Tuy nhiên, trên thực tiễn ý kiến của kiểm toán viên phản ánh trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính ở Việt Nam đã thực sự làm đúng ý nghĩa vốn có của nó hay

Trang 3

không? Bài viết này xin được đề cập đến vấn đề ý kiến của Kiểm toán viên trên Báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt Nam

2 Tổng quan nghiên cứu

Theo Chuẩn mực số 700 "Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính" ban hành theo Quyết định số 120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 9 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Báo cáo kiểm toán là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên và công ty kiểm toán lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về báo cáo tài chính của một đơn vị đã được kiểm toán

Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ ý kiến của kiểm toán viên về các báo cáo tài chính trên phương diện phản ánh (hoặc trình bày) trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, trên phương diện tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), và việc tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan "Phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu" được hiểu là ý kiến của kiểm toán viên đưa ra trong báo cáo kiểm toán là một sự đảm bảo chắc chắn rằng báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu; nhưng không đảm bảo tuyệt đối rằng không

có bất kỳ một sai sót nào trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán

Tuy nhiên, trong thực tế luôn tồn tại khoảng cách giữa kiểm toán viên và những những người sử dụng kết quả kiểm toán về những mong muốn của những đối tượng này với phạm vi trách nhiệm của kiểm toán viên Nó còn được gọi là “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” Theo Liggio (1974), khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là sự khác biệt giữa mức độ dự định thực hiện theo nhận thức của kiểm toán viên và của những người sử dụng Báo cáo tài chính Khoảng cách này luôn tồn tại khách quan và luôn vượt quá trách nhiệm và khả năng của kiểm toán viên Trách nhiệm của kiểm toán viên là đảm bảo rằng trong báo cáo tài chính đó không có các sai sót trọng yếu, và nếu có các sai sót trọng yếu, kiểm toán viên phải hành động theo hướng dẫn của các chuẩn mực kiểm toán và pháp luật Như vậy, ý kiến của kiểm toán viên trên Báo cáo kiểm toán không thể tuyệt đối đáp ứng được tất cả những kỳ vọng của người sử dụng kết quả kiểm toán

Trang 4

3 Lý luận cơ bản về ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính

Báo cáo kiểm toán thông thường có 4 nội dung:

(1) Phạm vi cuộc kiểm toán

Là cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính cho năm tài chính nào (như: gồm Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh Báo cáo tài chính); của đơn vị kế toán nào (như: của Công ty Cổ Phần ABC) và được đính kèm theo Báo cáo kiểm toán này

(2) Xác định trách nhiệm

Trước hết là trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán (như: Ban giám đốc đơn vị được kiểm toán chịu trách nhiệm lập và trình bày Báo cáo tài chính)- trách nhiệm này chỉ

rõ, nếu Báo cáo tài chính có sai sót, gian lận thì trách nhiệm chủ yếu thuộc về Ban giám đốc đơn vị được kiểm toán; và trách nhiệm của kiểm toán viên (như: kiểm toán viên có trách nhiệm trình bày ý kiến kiểm toán dựa trên kết quả cuộc kiểm toán) - trách nhiệm này chỉ rõ, kiểm toán viên chỉ là nhà tư vấn độc lập - tư vấn chuyên môn

(3) Cơ sở của cuộc kiểm toán

Chỉ rõ cuộc kiểm toán được thực hiện dựa trên các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, các chuẩn mực kế toán và các quy định pháp lý có liên quan đến Báo cáo tài chính của doanh nghiệp Cơ sở của cuộc kiểm toán cũng khẳng định kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện hết tất cả các gian lận của Báo cáo tài chính mà thông thường cần phải

có các cuộc thanh tra, điều tra của cơ quan Luật pháp - với quyền lực hành chính và phương tiện kỹ thuận, kỹ thuật điều tra, xét hỏi mới có thể phát hiện và kết luận được

(4) Phần ý kiến của kiểm toán viên

Là phần ghi ý kiến kết luận của kiểm toán viên và công ty kiểm toán của kiểm toán viên và công ty kiểm toán dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán

Thông thường, 3 nội dung đầu của Báo cáo tài chính rất ít thay đổi Nếu có, chỉ là

sự khác nhau về phạm vi cuộc kiểm toán Nhưng quan trọng nhất của một Báo cáo kiểm toán là phần (4) Ý kiến của kiểm toán viên Để hiểu đúng giá trị của phần (4) quan trọng

Trang 5

nhất này, cũng là giá trị của sản phẩm kiểm toán, chúng ta cần phân biệt ý kiến của kiểm toán viên thường có 4 tình huống sau đây:

a Ý kiến chấp nhận toàn phần

Trường hợp kiểm toán viên có ý kiến chấp thuận toàn phần, thường được trình bày như sau: "Theo ý kiến của chúng tôi, Báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của Công ty Cổ Phần ABC tại ngày 31/12/20XX, cũng như kết quả kinh doanh và các luồng lưu chuyển tiền tệ trong năm tài chính kết thúc tại ngày 31/12/20XX, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành và các quy định pháp lý có liên quan"

Ý kiến chấp nhận toàn phần có hàm ý rằng tất cả các thay đổi về nguyên tắc kế toán

và các tác động của chúng đã được xem xét, đánh giá một cách đầy đủ và đã được đơn vị nêu rõ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính Ý kiến chấp nhận toàn phần được áp dụng cho cả trường hợp báo cáo tài chính được kiểm toán có những sai sót nhưng đã được kiểm toán viên phát hiện đơn vị đã điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên và đã được kiểm toán viên chấp nhận Ngoài ra, ý kiến chấp nhận toàn phần còn được áp dụng cho cả trường hợp báo cáo kiểm toán có một đoạn nhận xét để làm sáng tỏ một số yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến báo cáo tài chính, nhưng không có ảnh hưởng đến báo cáo kiểm toán Cũng cần lưu ý rằng: ý kiến chấp nhận toàn phần không có nghĩa là báo cáo tài chính được kiểm toán là hoàn toàn đúng, mà có thể có sai sót nhưng sai sót đó là không trọng yếu

b Ý kiến ngoại trừ

Trường hợp kiểm toán viên có ý kiến ngoại trừ (hay còn gọi là ý kiến chấp nhận từng phần) thường được trình bày như sau: " (như ý kiến toàn phần), tùy thuộc vào (hoặc ngoại trừ) các khoản sau: Giá trị hàng tồn kho đúng với thực tế; Giá trị vốn góp của

cổ đông A bằng máy móc thiết bị được Hội đồng chấp thuận chấp thuận " Ý kiến chấp nhận từng phần cũng được đưa ra trong trường hợp kiểm toán viên cho rằng không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần, và những phần không chấp nhận do không đồng ý với Giám đốc hay do công việc kiểm toán bị giới hạn là quan trọng nhưng không liên quan tới một số lượng lớn các khoản mục tới mức có thể dẫn đến “ý kiến từ chối, hoặc ý kiến

Trang 6

không chấp nhận” Trường hợp này, nhà đầu tư cần hiểu rằng: Các điểm ngoại trừ sẽ khác nhau trong từng trường hợp; Các điểm ngoại trừ đều có ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính Nếu các điểm ngoại trừ là không đúng thì Báo cáo tài chính là không trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu Điểm ngoại trừ là điểm không chắc chắn thường liên quan đến các sự kiện chưa xảy ra hoặc do hạn chế của cuộc kiểm toán

mà kiểm toán viên không thể kiểm tra và kết luận được là đúng hay sai

c Ý kiến không chấp thuận

Trường hợp kiểm toán viên đưa ra ý kiến không chấp thuận (hay còn gọi là ý kiến trái ngược) thường được trình bày như sau: "Theo ý kiến của chúng tôi, Báo cáo tài chính phản ánh không trung thực và không hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của Công ty Cổ Phần ABC tại ngày 31/12/20XX, cũng như kết quả kinh doanh và các luồng lưu chuyển tiền tệ trong năm tài chính kết thúc ngày 31/12/20XX, không phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành và các quy định pháp lý có liên quan"

Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược) được đưa ra trong trường hợp các vấn đề không thống nhất với Giám đốc là quan trọng hoặc liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục đến mức độ mà kiểm toán viên cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần

là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính.Trường hợp này, nhà đầu tư cần hiểu rằng Báo cáo tài chính có nhiều điểm sai sót trọng yếu đến mức không thể sử dụng được các thông tin trên báo cáo Thực tế, ý kiến không chấp thuận thường ít xảy ra Và nếu có xảy ra thì cũng không được công khai cùng Báo cáo tài chính, vì có tác dụng phản diện đối với doanh nghiệp

d Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến)

Trường hợp kiểm toán viên đưa ra ý kiến từ chối, thường được trình bày như sau:

"Theo ý kiến của chúng tôi, vì những lý do nêu ra dưới đây, chúng tôi không thể đưa ra ý kiến về Báo cáo tài chính " Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến) được đưa ra trong trường hợp hậu quả của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục tới mức mà kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán để có thể cho ý kiến về

Trang 7

báo cáo tài chính Trong thị trường hiện nay, ý kiến của kiểm toán viên chủ yếu là hai trường hợp: Chấp nhận toàn phần và Ý kiến ngoại trừ

4 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng ý kiến của kiểm toán viên ở Việt Nam hiện nay về kết quả kiểm toán báo cáo tài chính

4.1.1 Thực trạng

Xung quanh “ý kiến của kiểm toán viên” phản ánh trên các báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính ở Việt Nam hiện nay còn có khá nhiều vấn đề cần trao đổi

Về nội dung, phần trình bày ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán là phần đúc kết nhất khẳng định lại toàn bộ những kết luận về đối tượng kiểm toán Do bản chất vốn có của một cuộc kiểm toán và tính chất của các gian lận, không thể đảm bảo chắc chắn rằng gian lận luôn được phát hiện nên trong thực tế, một chuyên gia phát hiện gian lận nhiều kinh nghiệm cũng không thể đảm bảo chắc chắn phát hiện được toàn bộ các gian lận khi chúng được che dấu một cách cố ý Vì vậy, xét trên một phương diện nào

đó, độ tin cậy với những kết luận của kiểm toán viên chỉ mang tính tương đối

Qua khảo sát và thống kê ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán về kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết đã được công bố (năm 2012) cho thấy: hơn 90% báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính đã khảo sát kết luận của kiểm toán viên cho rằng” Theo chúng tôi, báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu…”; khoảng 0,5% ý kiến cho rằng không thể đưa ra kết luận nhưng những báo cáo này chỉ xuất hiện sau khi đơn vị được kiểm toán đã lên sàn được một thời gian; còn lại là các báo cáo chứa đựng ý kiến ngoại trừ của kiểm toán viên Kết quả này phản ánh một thực trạng: gần 100% báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết ở Việt Nam phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu

Tuy nhiên, hơn ai hết, các công ty được kiểm toán và bản thân các kiểm toán viên hiểu rất rõ báo cáo tài chính của các đơn vị được kiểm toán nói riêng và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nói chung ở Việt Nam trung thực và hợp lý (trên khía cạnh trọng yếu) ở mức nào! Bởi vì, bên cạnh những gian lận bị che dấu mà kiểm toán viên không phát hiện ra thì còn tồn tại khá nhiều gian lận đã được phát hiện nhưng cũng bị che dấu bằng cách này hay cách khác

Trang 8

Về cách thức sử dụng ngôn ngữ của kiểm toán viên trong phần trình bày ý kiến trên các báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính, theo kết quả điều tra các nhân viên của một số đơn vị kiểm toán, được biết: thông thường, khi tiến hành một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, thời gian đầu công việc được các kiểm toán viên thực hiện khá chặt chẽ và triệt để, song càng về sau - nhất là gần sát thời điểm kết thúc kiểm toán - việc kiểm toán càng được “lỏng tay” hơn! Cũng không ai dám khẳng định là không có việc “làm đẹp”,

"đánh bóng" các báo cáo tài chính để công bố rộng rãi, thu hút các nhà đầu tư và tất cả những ai đã và sắp quan tâm tới đơn vị là điều dễ hiểu!

Qua nghiên cứu các báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết đã được công bố, dễ bắt gặp hay dễ tìm thấy các báo cáo kiểm toán có chứa ý kiến chấp nhận toàn phần Ngôn ngữ mà kiểm toán viên sử dụng trong việc bày tỏ

ý kiến trên báo cáo kiểm toán thường gần giống nhau; chẳng hạn: "Theo ý kiến chúng tôi, xét trên mọi khía cạnh trọng yếu thì Báo cáo tài chính đã phản ảnh trung thực và hợp lý

về tình hình tài chính của Công ty và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình hình lưu chuyển tiền tệ trong năm tài chính " hoặc: "Theo ý kiến chúng tôi, Báo cáo tài chính

đề cập đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của Công ty, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ cho năm tài chính kết thúc cùng ngày, đồng thời phù hợp với các Chuẩn mực, Chế độ Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam hiện hành và các quy định pháp lý có liên quan", hay: "Theo ý kiến của chúng tôi, Báo cáo tài chính kèm theo đã phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, tình hình tài chính của Công ty cũng như kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ cho năm tài chính kết thúc cùng ngày, phù hợp với các Chuẩn mực Kế toán Việt Nam, Hệ thống Kế toán Việt Nam và các quy định hiện hành khác về kế toán tại Việt Nam, Những ý kiến tương tự như: "Theo ý kiến của chúng tôi, Báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của Công ty , cũng như kết quả kinh doanh và các luồng lưu chuyển tiền tệ trong năm tài chính kết thúc, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành và các quy định pháp lý có liên quan" hay : "Theo ý kiến của chúng tôi, báo cáo tài chính kèm theo đã phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, tình hình

Trang 9

tài chính của Công ty cũng như kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ cho năm tài chính kết thúc cùng ngày, phù hợp với các Chuẩn mực Kế toán Việt Nam, Hệ thống Kế toán Việt Nam và các quy định hiện hành khác về kế toán tại Việt Nam" chiếm hầu hết trong các báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên

Bên cạnh các ý kiến chấp nhận toàn phần, ý kiến chấp nhận từng phần cũng được kiểm toán viên vận dụng khá triệt để và ngày càng nhiều hơn Ý kiến này được các kiểm toán viên sử dụng để loại trừ ảnh hưởng của một số vấn đề có tính trọng yếu đến báo cáo tài chính của đơn vị mà thực chất là một cách chối bỏ trách nhiệm của kiểm toán viên đối với kết quả kiểm toán Bằng cách này, kiểm toán viên dễ dàng đẩy trách nhiệm (nếu có)

do những ảnh hưởng này có thể phát sinh trong tương lai mà đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên không thể kiểm soát được Ngôn ngữ mà kiểm toán viên sử dụng khi nêu

ý kiến chấp nhận từng phần dù có khác nhau tí chút nhưng người sử dụng thông tin cũng

dễ dàng nhận ra mục đích của những ý kiến này Chẳng hạn: "Trong kỳ, Công ty chưa tiến hành trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi theo thông tư số 228/2009/TT-BTC … Theo ý kiến của chúng tôi, ngoại trừ vấn đề nêu trên và ảnh hưởng của chúng, Báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của Công ty tại ngày 31/12/2014, cũng như kết quả kinh doanh và các luồng lưu chuyển tiền tệ trong năm tài chính kết thúc tại ngày 31/12/2014, phù hợp với chuẩn mực

và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành và các quy định pháp lý có liên quan…” Để đảm bảo tính hợp lý của nội dung báo cáo và đảm bảo tính an toàn cho nhận xét kiểm toán, các câu như "ngoại trừ ảnh hưởng của những vấn đề nêu trên và ảnh hưởng của chúng nếu có ” được sử dụng khá phổ biến Rõ ràng, những câu đệm trên xuất hiện đã làm giảm tính rủi ro cho phần trách nhiệm của các kết luận kiểm toán đưa ra Bởi ảnh hưởng

‘nếu có” của các vấn đề nêu trên thường liên quan đến các sự kiện có thể sảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và của kiểm toán viên Việc đưa ra ý kiến này giúp kiểm toán viên hoàn thành trách nhiệm kiểm toán của mình nhưng cũng làm cho người đọc báo cáo tài chính phải lưu ý và tiếp tục theo dõi khi sự kiện có thể xảy ra

Trang 10

Bên cạnh những vấn đề xuất phát từ kiểm toán viên và từ công ty kiểm toán, chúng ta cũng không thể không đề cập đến vấn đề xuất phát từ khách thể kiểm toán dẫn đến làm giảm độ tin cậy của báo cáo kiểm toán Công ty kiểm toán và kiểm toán viên chỉ dùng nghiệp vụ của mình kiểm tra bản báo cáo tài chính, phát hiện, chỉ rõ những sai sót

về hạch toán, đồng thời đề nghị doanh nghiệp điều chỉnh số liệu theo hướng chính xác, trung thực và minh bạch hơn Nhưng doanh nghiệp có làm theo đề nghị đó hay không lại

là chuyện khác

Các bản báo cáo tài chính “đã kiểm toán” hiện được coi là một nguồn thông tin quan trọng về tình hình hoạt động của doanh nghiệp mà nhà đầu tư có thể tiếp cận Nhiều nhà đầu tư tin rằng, hầu hết các báo cáo tài chính đều phản ánh trung thực, chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp do đã vượt qua “rào chắn ” kiểm soát số liệu tài chính là các công ty kiểm toán Bởi vậy, chúng nghiễm nhiên trở thành một cơ sở quan trọng để

họ đánh giá tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và ra quyết định đầu tư Tuy nhiên, trên thực tế, chất lượng của các bản báo cáo tài chính hiện nay chưa thực sự đáng tin tưởng, mặc dù chúng đều được gắn mác “đã kiểm toán” Sự kiện Công ty Cổ Phần Bông Bạch Tuyết là một ví dụ minh chứng cho trường hợp báo cáo tài chính đã được gắn mác

"đã kiểm toán" để chúng ta phải suy nghĩ Rất nhiều mục hồi tố điều chỉnh trong báo cáo tài chính năm 2007, kết quả kinh doanh của Công ty đã bị thay đổi hoàn toàn so với báo cáo tài chính có kiểm toán 2006

Như vậy, ý kiến của Kiểm toán viên và của Công ty kiểm toán về báo cáo tài chính

có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều phía Trường hợp ý kiến đưa ra thiếu chính xác, nhà đầu tư vẫn là người hứng chịu nhiều thiệt thòi nhất Bởi vì, không phải nhà đầu tư nào cũng có đủ năng lực để xem và hiểu rõ được thuyết minh báo cáo tài chính và đánh giá được các điểm quan trọng của các điểm ngoại trừ trong báo cáo của Kiểm toán viên, thậm chí, hiểu rõ báo cáo của kiểm toán viên thì với hàng loạt yếu tố ngoại trừ trong báo cáo tài chính như vậy, nhà đầu tư cũng không hoàn toàn đủ thông tin để đánh giá được thực chất hoạt động doanh nghiệp để ra quyết định đầu tư đúng đắn Việc hồi tố báo cáo tài chính làm thay đổi hoàn toàn kết quả kinh doanh của công ty như thế, ngoài bài học kinh nghiệm đối với nhà đầu tư nên xem xét kỹ báo cáo tài chính trước khi đưa ra quyết

Ngày đăng: 28/03/2023, 17:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w