1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập nhóm lần thứ nhất học phần tư duy pháp lý xác định câu hỏi kết luận và câu hỏi pháp lý mấu chốt trong tình huống sau anh a và chị b là vợ chồng sống ở hải dương

14 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Nhóm Lần Thứ Nhất Học Phần Tư Duy Pháp Lý
Tác giả Hà Thị Nga, Phạm Mai Xuân, Phạm Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Như Quỳnh, Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Lê Trần Mai Hiền, Vũ Xuân Thọ, Nguyễn Việt Hoàng, Đinh Phạm Hà Vy, Nguyễn Lâm Xuân Quyền
Người hướng dẫn Phạm Mai Xuân
Trường học Trường Đại Học Hải Dương
Chuyên ngành Tư Duy Pháp Lý
Thể loại Bài Tập Nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 177,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP NHÓM LẦN THỨ NHẤT HỌC PHẦN TƯ DUY PHÁP LÝ (NHÓM 7) Nhóm 7 (gồm có những thành viên sau) 1 Hà Thị Nga – 19064029 2 Phạm Mai Xuân – 19064056 3 Phạm Thị Hồng Hạnh – 19064014 4 Nguyễn Như Quỳnh –.

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM LẦN THỨ NHẤT HỌC PHẦN TƯ DUY PHÁP LÝ

(NHÓM 7)

Trang 2

Nhóm 7 (gồm có những thành viên sau):

1 Hà Thị Nga – 19064029

2 Phạm Mai Xuân – 19064056

3 Phạm Thị Hồng Hạnh – 19064014

4 Nguyễn Như Quỳnh – 19064041

5 Nguyễn Thị Ngọc Diệp – 16061053

6 Lê Trần Mai Hiền – 16061105

7 Vũ Xuân Thọ - 19064046

8 Nguyễn Việt Hoàng – 19064018

9 Đinh Phạm Hà Vy – 19064028

10 Nguyễn Lâm Xuân Quyên - 19064040

Trong đó nhóm trưởng là: Phạm Mai Xuân - 19064056

Phân công công việc cho từng thành viên như sau:

Câu 1: Nguyễn Như Quỳnh

Câu 2: Đinh Phạm Hà Vy

Câu 3: Nguyễn Lâm Xuân Quyên

Câu 4 + làm bản word: Lê Trần Mai Hiền + Nguyễn Thị Ngọc Diệp

Câu 5 + thuyết trình: Hà Thị Nga + Phạm Mai Xuân

Câu 6: Hà Thị Nga (tóm tắt) + Phạm Hồng Hạnh (nhận xét) + Vũ Xuân Thọ (bình luận)

Power point: Nguyễn Việt Hoàng

Trang 3

Sau khi phân công các thành viên đã thảo luận để đi đến kết luận chung đồng thời biểu quyết kết quả làm việc cũng như mức độ tham gia của từng thành viên trong nhóm (theo 4 mức Tốt, Khá, Trung Bình, Yếu) cụ thể như sau:

1 Hà Thị Nga – 19064029:

2 Phạm Mai Xuân – 19064056:

3 Phạm Thị Hồng Hạnh – 19064014:

4 Nguyễn Như Quỳnh – 19064041:

5 Nguyễn Thị Ngọc Diệp – 16061053:

6 Lê Trần Mai Hiền – 16061105:

7 Vũ Xuân Thọ - 19064046:

8 Nguyễn Việt Hoàng – 19064018:

9 Đinh Phạm Hà Vy – 19064028:

10 Nguyễn Lâm Xuân Quyên – 19064040:

Ký và ghi rõ họ tên các thành viên làm bài tập nhóm dưới đây:

Trang 4

Đề bài:

1) Xác định câu hỏi kết luận và câu hỏi pháp lý mấu chốt trong tình huống sau: Anh A và chị B là vợ chồng sống ở Hải Dương Năm 2001 do điều kiện kinh tế gia đình quá khó khăn, anh A đã vào Sài Gòn làm ăn và ba tháng một lần đều gửi tiền về cho vợ Đến năm 2003 chị B không thấy anh A gửi tiền nữa và cũng không thấy anh A liên lạc về Khoảng sáu tháng sau khi không nhận được tin tức gì của anh A, chị B đã vào Sài Gòn tìm nhưng không có kết quả Chị B quay về Hải Dương Tám năm sau, chị có tình cảm với anh C là hàng xóm nhà mình Chị muốn làm thủ tục đăng ký kết hôn với anh C nên đã làm đơn yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tuyên bố anh A là đã mất tích Sau đó chị cưới anh C Một năm sau, anh A trở về

2) Xác định câu hỏi kết luận và câu hỏi pháp lý mấu chốt trong tình huống sau: A chuyển nhà đến nhà mới và vì vậy A đã nhờ hai người bạn đến trợ giúp D là một người bạn không được nhờ, nhưng vì biết thông tin A chuyển nhà nên đã đến và tự nguyện giúp đỡ A A không nhờ D, nhưng cũng không phản đối việc

D tự nguyện giúp mình Do bị trượt chân ở cầu thang nên D đã bị ngã gẫy chân trái D yêu cầu A phải bồi thường D cho rằng: Vì A đã chấp nhận việc được trợ giúp, do vậy A nên gánh chịu mọi rủi ro, phí tổn A cho rằng D tự gây ra hậu quả thì phải tự chịu trách nhiệm, A không phải chịu trách nhiệm từ việc bất cẩn của D, mà A đâu có nhờ D giúp đó là việc D tự nguyện A sẽ không bồi thường 3) Cho ví dụ về Lỗi ngụy biện lợi dụng nặc danh (anonymous authority); Lỗi ngụy biện người rơm (straw man); Lỗi ngụy biện khái quát hóa vội vã (secundum

quid) (mỗi loại ít nhất 3 ví dụ).

4) Hãy đưa ra 1 tình huống pháp lý giả định mà chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể, đồng thời đưa ra phương án giải quyết căn cứ vào phương pháp suy luận thực tế (Realism)

5) Ông Nguyễn Tiến Đạt, PGĐ Sở GD-ĐT nói: «Không đâu chăm lo mầm non tốt như nước ta» Nhóm hãy xác định câu nói này đã vi phạm quy luật tư duy nào,

mắc lỗi ngụy biện nào? Hãy phản biện lại lập luận trên?

6) Tóm tắt, nhận xét và bình luận án lệ: Án lệ số 30/2020/AL về hành vi cố ý

điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi gây tai nạn

Trang 5

BÀI LÀM

1) Theo tình huống thì vấn đề không liên quan đến tài sản nên chỉ xem xét quan hệ

HNGĐ

Căn cứ Bộ luật Dân sự 2015:

"Điều 68 Tuyên bố mất tích

1 Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính

từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng

2 Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa

án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình."

- Tình huống có một chi tiết chưa rõ, đó là: vợ của người bị tuyên bố mất tích đã xin ly hôn hay chưa? Điều này có ảnh hưởng đến việc xác định hôn nhân giữa B và C có hợp pháp hay không?

⇒ Như vậy:

- Câu hỏi kết luận: Quan hệ hôn nhân của B và C có hợp pháp không?

- Câu hỏi pháp lý mấu chốt: Quan hệ hôn nhân giữa A và B còn tồn tại hay không?

2) Sự kiện pháp lý: D trượt chân ở cầu thang khi giúp đỡ A trong quá trình chuyển

nhà

Căn cứ Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 (căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại):

“Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi

Trang 6

của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”

⇒ Như vậy:

- Câu hỏi kết luận : Việc D trượt chân có phải lỗi do anh A gây ra hay không?

- Câu hỏi pháp lý mấu chốt : Theo luật, anh A có phải chịu trách nhiệm và bồi thường cho thiệt hại của D hay không?

3)

- Ví dụ về Lỗi ngụy biện lợi dụng nặc danh (anonymous authority):

 Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng ngâm khẩu trang với muối có thể chữa khỏi bệnh COVID-19;

 Một người bạn nước ngoài với tôi rằng bệnh ung thư của ông đã được chữa khỏi nhờ vào việc ngày nào ông cũng uống viên thuốc này;

 Các nhà khoa học đã chứng minh rằng uống nước Coca Diet trộn ruồi chỉ trong 7 ngày sẽ làm giảm cân nhanh chóng

- Ví dụ về Lỗi ngụy biện người rơm (straw man):

 A nói: “Nhiều người nên có ý thức vứt rác đúng quy định, không nên vứt rác bừa bãi” B nghe vậy, nói: “Không có người vứt rác bừa bãi thì những người làm nghề quét rác lại bị thất nghiệp”;

 X nói: “Chúng ta nên bỏ nhiều tiền hơn vào y tế và giáo dục” Y ngạc nhiên nói: “Cắt giảm chi tiêu quân sự thì đất nước chúng ta tự vệ bằng cách nào được”;

 M nói: “Ta không nên bán khẩu trang với giá cao”, N nói: “Không tăng giá thì nhiều nhà sẽ lâm cảnh nghèo trong thời kỳ dịch COVID mất”

- Ví dụ về Lỗi ngụy biện khái quát hóa vội vã (secundum quid):

 Lớp tôi vừa xảy ra một vụ học sinh bị bắt vì tội chép phao Vì vậy tôi thấy học sinh bây giờ toàn đứa lười học, hư hỏng;

 Dạo thấy số người khỏi bệnh COVID đã tăng dần lên Vậy nên bệnh COVID đã không còn là vấn đề quan trọng ở các quốc gia trên thế giới;

 Nhiều em học sinh Việt đạt giải toán quốc tế, nên người Việt mình thông minh nhất trên thế giới

Trang 7

Tình huống giả định:

A và B là người yêu đồng giới 10 năm, cùng là người nước X Vì pháp luật quốc gia X không công nhận kết hôn đồng giới nên họ kết hôn tại Mỹ vào năm 2015 và bước vào quá trình sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cùng năm

đó Bác sĩ đã thụ tinh thành công từ trứng của B rồi đặt 2 phôi thai lần lượt vào tử cung của 2 người 9 tháng sau, A sinh ra một bé gái trong khi B hạ sinh một bé trai Đến năm 2016, họ chuyển về nước X sinh sống cùng nhau và cùng nuôi dưỡng 2 con tại đây Đầu năm 2018, A phát hiện B có người yêu khác, sau đó thì B thường xuyên vắng nhà, bỏ bê chuyện chăm sóc 2 con Trong suốt khoảng thời gian năm 2018, A một mình chăm sóc 2 con, và 2 đứa trẻ cũng gần gũi với A hơn

Đến đầu năm 2019, 2 người xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, B đã đuổi A ra khỏi căn

hộ của họ và yêu cầu A không được dẫn 2 đứa con theo Sau đó, B cắt toàn bộ liên lạc với A và ngó lơ yêu cầu được gặp các con của đối phương Khoảng thời gian tiếp theo,

A luôn liên tục đến nhà và cầu xin B để được gặp lại các con nhưng không thành Cuối năm 2019, A đã gửi đơn kiện đòi quyền giám hộ đối với 2 con tới tòa án và được tòa

án thụ lý

Vậy tòa án sẽ xét xử vụ việc này như thế nào?

Giải quyết tình huống:

Pháp luật quốc gia X không công nhận hôn nhân đồng giới nên pháp luật sẽ không bảo vệ các quan hệ tài sản, quan hệ con cái, phát sinh trong quá trình chung sống của

2 người đồng giới Hơn nữa A không hề có bất kỳ ràng buộc pháp lý nào với những đứa trẻ bởi cô không phải là mẹ về mặt sinh học của chúng Bởi cả 2 đứa trẻ đều sinh

ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm từ trứng của B

Như vậy, bằng phương pháp suy luận thực tế, nhóm xin được giải quyết tình huống trên như sau:

Phải cân bằng tất cả các các giá trị và lợi ích liên quan để phát triển một quy tắc pháp lý mới:

Trang 8

Quyền lợi của B: Xét về mặt di truyền, B là mẹ của cả 2 đứa trẻ về mặt sinh

học Do đó, pháp luật hoàn toàn công nhận quyền giám hộ của B

nhưng A có công nuôi dưỡng, chăm sóc 2 con từ nhỏ Đặc biệt, có 1 khoảng thời gian A một mình chăm sóc, nuôi dưỡng 2 con A lại chính là người đã

mang thai và sinh ra bé gái.

⇒ Xét về yếu tố mang thai và nuôi dưỡng, A có khả năng sẽ được công nhận quyền giám hộ bé gái

học, cả 2 đứa trẻ đều sinh ra từ trứng của B bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, trong đó bé trai lại được chính B mang thai và sinh ra, nhưng trong suốt khoảng thời gian năm 2018, B lại bỏ bê việc chăm sóc con mà để A một mình chăm sóc 2 con Hơn thế, B lại có người yêu mới, nếu 2 đứa trẻ tiếp tục chung sống với B thì liệu có đảm bảo rằng chúng sẽ được B và người yêu mới của B yêu thương, chăm sóc

⇒ Cần phải xem xét các yếu tố để đảm bảo quyền lợi của 2 đứa trẻ, chúng có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để phát triển toàn diện Điều đó phụ thuộc rất lớn vào người mẹ của 2 đứa trẻ

⇒ Như vậy, xem xét các yếu tố để cân bằng quyền lợi giữa các bên, đặc biệt là quyền lợi của 2 đứa trẻ, đưa ra kết luận: A giành được quyền giám hộ và nuôi dưỡng 2 con, B

có quyền được thăm non và nghĩa vụ cấp dưỡng đối với 2 con

5)

- Câu nói của ông Nguyễn Tiến Đạt (PGĐ Sở GD-ĐT) vi phạm quy luật lí do đầy đủ

- Ông mắc lỗi ngụy biện khái quát hóa vội vã

- Chúng ta có thể phản biện lại ông như sau: “Ông dựa trên bằng chứng nào để đưa ra kết luận rằng nước ta chăm lo mầm non tốt nhất?” hoặc “Ông dựa trên

Trang 9

cơ sở nào để nói rằng các nước khác chăm lo mầm non không tốt bằng nước ta?”

6)

 Tóm tắt

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 31-5-2016, Phan Đình Q có giấy phép lái

xe hạng C điều khiển xe ôtô tải (BKS 38C - 073.05) loại xe có trọng tải 06 tấn

đi trên đường quốc lộ 1A, theo hướng từ xã Đ đến xã T Đi cùng chiều với Q có

xe máy điện (BKS 38MĐ1-218.54) do em Hoàng Đức P điều khiển đang đi trên phần đường dành cho người đi bộ và xe thô sơ

Khi Q điều khiển xe ô tô đi đến Km 584 Quốc lộ 1A thuộc xã T, huyện

A (đoạn giao nhau với xã T) thì bất ngờ Q điều khiển xe ôtô chuyển hướng rẽ phải đi vào đường liên xã theo hướng đến Ủy ban nhân dân xã T, cùng lúc này

em Hoàng Đức P cũng vừa đi đến

Do Q điều khiển xe chuyển hướng, nhưng lại không quan sát kỹ nên xe ô

tô của Q đã va chạm gây ra tai nạn đối với xe máy điện do em P điều khiển, làm phần khung kim loại bảo vệ bình hơi phía bên phải xe ô tô va chạm với xe máy điện của em P, làm xe máy điện của em P bị cuốn vào gầm xe ô tô Sau khi xảy

ra va chạm thì Q liền dừng xe lại, nhảy xuống khỏi xe rồi đi vòng ra sau phía bên phụ xe ô tô để kiểm tra thì nhìn thấy có một người nằm dưới gầm xe ô tô, đầu hướng về cổng chào xã T, còn chân thì hướng quốc lộ 1A, tay phải nằm vắt

ra ngoài, bánh phía sau bên phụ của ô tô đè lên phần vai, gáy của em P, phần mặt bên trái của P tiếp xúc với mặt đường Khi thấy em P bị tai nạn nằm ở tư thế bị chèn ở phía trước của hàng bánh sau xe ô tô, Q đứng quan sát được khoảng gần một phút, rồi lên xe cài số 1 để tiếp tục cho xe chạy tiến lên và xe ô

tô của Q đè qua đầu nạn nhân, làm cho nạn nhân bị vỡ sọ não và tử vong

Hành vi phạm tội của bị cáo Phan Đình Q thì trước đó Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã đưa ra xét xử sơ thẩm theo tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh truy tố về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh cho rằng: Hành vi phạm tội của Q là hành vi "Giết người" nên đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, để chuyển hồ sơ lên cấp tỉnh điều tra,

Trang 10

truy tố - xét xử Phan Đình Q về tội “Giết người”, bởi: Sau khi điều khiển xe ô

tô đã gây ra tai nạn cho em Hoàng Đức P, Khi xuống kiểm tra nhìn thấy nạn nhân P bị cuốn vào gầm ô tô và đang nằm ở phía trước bánh xe ô tô là nguy hiểm, nhưng Q lại không giữ nguyên hiện trường và tìm cách đưa nạn nhân ra khỏi xe ô tô để đưa đi cấp cứu, mà Q lại cho xe tiếp tục chạy tiến lên phía trước

và chấp nhận cho xe ô tô chạy qua người nạn nhân đang nằm dưới gầm xe ô tô

và hậu quả là em Hoàng Đức P đã bị bánh phía sau xe ô tô đè qua đầu, làm vỡ

sọ não và đã tử vong ngay lúc đó Xét thấy, Phan Đình Q có đầy đủ năng lực nhận thức việc Q cho xe ô tô đi tiếp là rất nguy hiểm cho tính mạng của nạn nhân nằm dưới xe ô tô như nhiều lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án

Sau khi xét xử sơ thẩm:

- Ngày 26-11-2018, bị cáo Phan Đình Q kháng cáo kêu oan, bị cáo cho rằng Tòa

án cấp sơ thẩm xử bị cáo tội “Giết người” là không đúng tội danh, mà bị cáo chỉ phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” Ngày 30-11-2018, đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo với nội dung:

Đề nghị xử tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo, vì Tòa sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt còn quá nhẹ

- Ngày 17-12-2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VC1-HS: Đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 và xử tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo Tại phiên tòa, Kiểm sát viên lại đề nghị không áp dụng tình tiết côn

đồ mà áp dụng Điểm q “Phạm tội vì động cơ đê hèn” và tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Đình Q tiếp tục kêu oan về tội danh, bị cáo

cho rằng bị cáo không phạm tội giết người, mà chỉ phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, vì bị cáo không phạm tội giết người, nhưng có khi bị cáo lại khai sau khi xuống xem thì bị cáo thấy nạn nhân đã chết

Trang 11

 Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Sau khi kiểm tra tính có căn cứ pháp luật của bản án sơ thẩm và xét hỏi làm rõ tại phiên tòa, thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Q về tội: “Giết người” là hoàn toàn có căn cứ pháp luật, bị cáo không nhận tội giết người chỉ là nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn mà thôi Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất, động

cơ đê hèn, vì bị cáo muốn nạn nhân chết hẳn thì bị cáo mới cho xe đi tiếp Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng Điểm n Khoản 1 Điều 93 như nội dung kháng nghị mà cần áp dụng Điểm q Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự

1999 để xét xử bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng nghị, để xử tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo Q

 Người bào chữa cho bị cáo Phan Đình Q - Luật sư Nguyễn Văn Đ thì đề nghị: Tòa án cấp phúc thẩm xem xét thấu đáo và thận trọng về hành vi phạm tội của

bị cáo, để không chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và quyết định bản án về tội danh của Tòa án cấp sơ thẩm, để từ đó không kết án bị cáo Q về tội giết người, mà kết án bị cáo về tội

“Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

 Người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại - Luật sư Nguyễn Khắc T, Văn phòng luật sư A thuộc Đoàn luật sư H, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm kết án bị cáo như bản án sơ thẩm và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội để xử tăng hình phạt tù đối với bị cáo

 Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và bào chữa của luật sư cho bị cáo, cũng như lời trình bày của đại diện hợp pháp của người bị hại và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại và các đương sự khác trong vụ án

 Nhận xét

- Án lệ số 30/2020/AL là án lệ đầu tiên về hành vi cố ý điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông chính thức đưa vào

áp dụng tại các cơ quan tố tụng trong cả nước từ ngày 15/4/2020 Án lệ này có

ý nghĩa rất lớn giúp cơ quan tố tụng các cấp có căn cứ lập luận,chứng cứ để xử

Ngày đăng: 28/03/2023, 17:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w