1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin

57 762 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng Sabin
Tác giả Lê Văn Phủng
Trường học Viện Kiểm định Quốc gia vắc-xin và sinh phẩm y tế
Chuyên ngành Y học
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 577,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về sản xuất, với điều kiện cơ sở vật chất chưa đảm bảo đủ độ an toàn như hiện nay, Việt Nam chưa thể dùng chủng virut bại liệt hoang dại, vì trong quá trình này, virut hoang dại có thể b

Trang 1

Viện Kiểm định Quốc gia vắc-xin và sinh phẩm y tế

Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ:

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc-xin bại

liệt bất hoạt từ chủng Sabin

Chủ nhiệm đề tài: Lê Văn Phủng

7959

Hà nội - 2007

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh bại liệt là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do Polyovirus gây ra Bệnh thường gặp ở trẻ em và có thể gây liệt cơ vận động, để lại di chứng liệt suốt đời; đặc biệt nghiêm trọng nếu như liệt các cơ hô hấp thì có thể đe dọa tới tính mạng

Để ngăn chặn bệnh bại liệt, biện pháp dự phòng đặc hiệu là hiệu quả nhất Để dự phòng đặc hiệu, người ta sử dụng vắc xin bại liệt Có 2 loại vắc xin phòng bệnh bại liệt là vắc xin bất hoạt (IPV) và vắc xin sống giảm độc lực (OPV) Vắc xin sống giảm độc lực kích thích cơ thể tạo nên miễn dịch tại chỗ và miễn dịch dịch thể Tuy nhiên, dùng vắc xin này có nhược điểm là chủng Sabin được tạo ra từ chủng hoang dại làm giảm độc lực, nên trong quá trình phát triển tự nhiên, virut Sabin có thể gây đột biến và có nguy cơ quay trở lại có độc lực, đặc biệt là typ 3 Vắc xin IPV chủ yếu gây miễn dịch dịch thể, ngăn ngừa virut xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương Trong vắc xin này, virut bại liệt đã bị bất hoạt nên không có khả năng hồi độc

Trong quá trình thanh toán bệnh bại liệt, việc sử dụng vắc xin sống giảm độc lực là thích hợp và hiệu quả nhất Cho đến nay, mặc dù bệnh bại liệt ở Việt Nam đã được thanh toán từ năm 2000, song vẫn cần thiết cho trẻ mới sinh uống phòng bệnh bại liệt bằng vắc xin OPV vì dự kiến của Tổ chức

Y tế Thế giới là, đến năm 2005 sẽ thanh toán bệnh bại liệt trên phạm vi toàn cầu, nhưng trên thực tế đã chưa thực hiện được Năm 2001, 3 khu vực đã được công nhận thanh toán bại liệt bao gồm: Trung Mỹ, Tây Thái Bình Dương và châu Âu, còn các vùng khác vẫn chưa thanh toán được bệnh bại liệt: Tây Á, Đông Nam Á, Trung Đông, Nam Phi Do đó, dịch bại liệt có thể lan tràn sang các nước đã thanh toán bệnh bại liệt Indonesia là nước đã thanh toán được bệnh bại liệt năm 2000, nhưng do virut bại liệt hoang dại từ Trung Phi xâm nhập vào đã gây ra những ca bại liệt mới, lan tràn thành vụ dịch nhỏ, có tới hơn 300 ca mắc bại liệt do virut hoang dại và hơn 40 trường

Trang 3

hợp có liên quan đến virut vắc xin Như vậy để bảo vệ được thành quả thanh toán bệnh bại liệt là vô cùng khó khăn Trước tình hình đó, Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo rằng, từ nay đến 2010, tất cả các nước vẫn sử dụng OPV hoặc IPV, nhưng từ sau 2010 chỉ sử dụng vắc xin IPV để phòng bệnh bại liệt

Ở nước ta, nếu sử dụng IPV nhập ngoại cho trẻ em dưới 1 tuổi thì rất khó khăn về kinh phí (350 tỷ đồng /năm) Về sản xuất, với điều kiện cơ sở vật chất chưa đảm bảo đủ độ an toàn như hiện nay, Việt Nam chưa thể dùng chủng virut bại liệt hoang dại, vì trong quá trình này, virut hoang dại có thể

bị thải ra ngoài, là nguy cơ gây nên dịch bại liệt

Xuất phát từ tình hình đó, Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất vắc xin và sinh phẩm y tế đã nghiên cứu sản xuất vắc xin bại liệt bất hoạt dùng chủng giảm độc lực của Sabin theo công nghệ của Nhật Bản để phục vụ cho trẻ em của Việt Nam Để được cấp phép sử dụng, sản phẩm phải được nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng Mục tiêu của đề tài này là:

1 Thực địa giai đoạn 1: Đánh giá tính an toàn của vắc xin IPVs trên người lớn tình nguyện;

2 Thực địa giai đoạn 2: Đánh giá tính an toàn và đáp ứng miễn dịch trên trẻ em

Trang 4

Chương I TỔNG QUAN

1.1 Virut bại liệt

Virut Bại liệt (VRBL) được Landsteiner và Popper phát hiện năm

1909 sau khi tiêm dịch tuỷ sống của một trẻ bị chết vì bại liệt vào não khỉ [3]

1.1.1 Phân loại virut

Virut Bại liệt có tên là Poliovirus, là thành viên của nhóm virut đường

ruột, họ Picornaviridae [51, 67] Họ Picornaviridae bao gồm 3 typ kháng

nguyên [76]

Typ 1: tên gọi là Brunhilde với các chủng đại diện là Mahoney (Mỹ)

và 1942 (Viện Pasteur Paris)

Typ 2: chủng gốc là Lansing với các chủng đại diện là MEF và 1523 (Viện Pasteur Paris)

Typ 3: chủng gốc là Leon với các chủng đại diện là Saukett và 1226 (Viện Pasteur Paris) [3, 50]

Typ 1 là nguyên nhân chính của các vụ dịch lớn, chiếm 80-90% Trong khi đó typ 2 và 3 gặp ít hơn tuỳ theo từng nước và từng vùng địa lý khác nhau

1.1.2 Hình thái học

VRBL có cấu trúc hình khối 20 mặt [55], đường kính khoảng 30 nm, không có vỏ, khối lượng 6,8 x 106 dalton Tỷ trọng của virut là 1,34 g/cm3 trong ceaseum chloride Bao bọc xung quanh lõi ARN là một vỏ capsit Capsit bao gồm 60 tiểu đơn vị (Capsomer) giống hệt nhau xếp đối xứng, mỗi tiểu đơn vị được cấu tạo bởi một trong 4 chuỗi polypeptit là VP1, VP2, VP3

và VP4 [65, 77] Bằng phương pháp hiển vi điện tử và siêu cấu trúc, người ta biết chi tiết về cấu trúc của hạt virut hoàn chỉnh

Trang 5

1.1.3 Tính chất miễn dịch học

Miễn dịch thụ động được truyền từ mẹ sang con Kháng thể này chỉ xuất hiện ở trẻ sơ sinh sau đó giảm dần và biến mất khi trẻ được 6 tháng tuổi [72] Miễn dịch chủ động là sự đáp ứng miễn dịch (ĐƯMD) khi cơ thể bị nhiễm virut tự nhiên hay do dùng vắc xin Đây là loại miễn dịch quan trọng

mà loài người đã biết ứng dụng để phòng bệnh bằng cách dùng vắc xin Khi

cơ thể bị nhiễm VRBL hoặc dùng vắc xin, cơ thể sẽ tạo ra miễn dịch đặc hiệu chống lại VRBL với miễn dịch dịch thể là chủ yếu (IgM, IgG và IgA) Những người bị thiếu hụt miễn dịch, khi bị nhiễm VRBL, kể cả virut vắc xin Sabin đều có nguy cơ mắc bệnh Bại liệt [8] Chính vì vậy mà vắc xin Sabin bị chống chỉ định đối với những người này Còn đối với vắc xin IPV

có thể dùng được cả khi người đó có nguy cơ mắc bệnh cao

Một số yếu tố làm giảm khả năng miễn dịch tại chỗ như những người cắt bỏ tuyến giáp và tuyến hạnh nhân [8] Trong một số vụ dịch, người ta thấy, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai, trẻ suy dinh dưỡng có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn [15, 77]

1.1.4 Sự nhân lên của VRBL trong tế bào cảm thụ

VRBL cũng giống như các virut khác, bắt buộc phải nhân lên trong tế bào cảm thụ Dựa vào tính chất này mà người ta đã phân lập và nghiên cứu sâu được về virut và sản xuất vắc xin

Sự nhân lên của VRBL đã được biết từ năm 1913 Dựa vào tính ưa tế bào thần kinh của VRBL, người ta đã dùng mô não và tuỷ sống để nuôi cấy virut Năm 1949, lần đầu tiên Enders đã thành công trong việc nuôi cấy VRBL trên tế bào mô của động vật có vú trong phòng thí nghiệm [15, 71] Tiếp sau đó ông đã khẳng định, VRBL có khả năng nhạy cảm với nuôi cấy tế bào thận khỉ tiên phát Đây là một phát hiện quan trọng, tạo tiền đề cho việc sản xuất vắc xin phòng Bại liệt, kể cả OPV và IPV Ngày nay, nhiều nhà sản xuất vắc xin Bại liệt trên thế giới vẫn còn sử dụng tế bào này Ngoài tế bào

Trang 6

khác như HEp-2 có nguồn gốc từ tế bào ung thư biểu mô người, RD có nguồn gốc từ tế bào ung thư phổi của người, tế bào Vero có nguồn gốc từ thận khỉ xanh Phi châu Những dòng tế bào này được sử dụng rộng rãi trong các phòng thí nghiệm về Bại liệt [78]

1.2 Tình hình bệnh bại liệt ở Việt Nam

Ở Việt Nam bệnh Bại liệt đã xuất hiện từ lâu và đã hoành hành nhiều năm trên toàn quốc Năm 1952, vụ dịch Bại liệt lớn đầu tiên được phát hiện

ở Hà Nội có khoảng 1500 người mắc Trong 3 năm liên tục 1957, 1958,

1959 đã xảy ra 3 vụ dịch lớn ở Hà Nội và miền Bắc Việt Nam với hàng ngàn người mắc, trong đó 80-90% là trẻ dưới 3 tuổi Vụ dịch năm 1959 có tỷ lệ mắc trên toàn miền Bắc là 44,99/100.000 dân Riêng tại Hà Nội, tỷ lệ mắc là 226/100.000 dân [6, 9] Vắc xin Bại liệt (Sabin) được sử dụng đầu tiên ở miền Bắc từ tháng 12 năm 1959 do Liên Xô cung cấp với số lượng ít Từ cuối năm 1961, đầu năm 1962 bắt đầu dùng vắc xin Sabin do Việt Nam sản xuất và dùng liên tục cho đến ngày nay Kết quả là các vụ dịch lớn không xảy ra nữa mà chỉ còn những trường hợp mắc bệnh lẻ tẻ Năm 1961, với 529

ca bại liệt chiếm tỷ lệ 3,9/100.000 dân; đến năm 1965, tỷ lệ này chỉ còn 0,66/100.000 dân, giảm gần 6 lần [11]

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1975 bệnh Bại liệt xuất hiện ở nhiều nơi trong cả nước, nhất là các tỉnh phía Nam [8]

Năm 1981 Việt Nam tiến hành chương trình tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi Đến năm 1986 chương trình được mở rộng trên phạm vi cả nước và chương trình uống vắc xin phòng Bại liệt đã đạt được kết quả cao Trong những năm 80 đạt 87% và trong những năm 90 đạt trên 90% Kể từ năm 1993, hàng năm còn tổ chức 2 đợt vào những ngày tiêm chủng toàn quốc cho trẻ dưới 5 tuổi uống 2 liều vắc xin Bại liệt đạt trên 99% Do đó tình hình mắc bệnh Bại liệt giảm đi rõ rệt: Năm 1993, năm bắt đầu chiến dịch những ngày tiêm chủng toàn quốc, có 152 ca Bại liệt trong toàn quốc Năm 1994 còn 31

Trang 7

ca, năm 1995 còn 12 ca, đến 1996 chỉ còn 2 ca và năm 1997 chỉ còn 1 ca Từ

đó đến nay không còn ca Bại liệt do virut hoang dại nào được phát hiện

1.3 Vắc xin phòng bệnh bại liệt

1.3.1 Lịch sử vắc xin Bại liệt

Hiện nay trên thị trường có 2 loại vắc xin Bại liệt:

- Vắc xin chết (còn được gọi là vắc xin Bại liệt bất hoạt): được làm

từ những hạt virut đã bị bất hoạt không có khả năng gây nhiễm trùng

- Vắc xin sống giảm độc lực: được làm từ những hạt virut còn khả

năng gây nhiễm nhưng đã được làm giảm độc lực đến mức không còn khả

năng gây bệnh nữa

* Trước năm 1955

Những thông báo sớm nhất về sự gây được miễn dịch cho người đối với bệnh Bại liệt là của Brodie và Park năm 1936 và Kolmer -1936 Những tác giả này đã dùng phương pháp hoá học để bất hoạt hỗn dịch virut thu được sau khi gây nhiễm virut vào hệ thống thần kinh trung ương của khỉ [18, 46] Vào thời gian đó, khả năng kiểm tra về tính an toàn của vắc xin chưa được tốt, do đó vắc xin còn gây ra nhiều tai biến

Hơn một thập kỷ sau, vào năm 1948, Morgan đã chứng minh rằng hỗn dịch virut Bại liệt typ 2 được bất hoạt bằng Formaldehyde có khả năng gây đáp ứng miễn dịch trên khỉ Cũng theo phương pháp đó, người ta đã thực hiện đối với virut typ 1 Nghiên cứu trên chuột đã khẳng định rằng virut bất hoạt typ 2 gây được đáp ứng miễn dịch trên loài gặm nhấm [24] Năm 1952, khi tiến hành thử nghiệm trên đười ươi và 6 người tình nguyện cho thấy kháng thể tồn tại trên 6 tháng [33] Những kết quả nghiên cứu này cho thấy virut bất hoạt bằng Formalin có khả năng gây đáp ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể khỏi bị bệnh Bại liệt

Một phát hiện quan trọng nữa là, virut Bại liệt có khả năng nhân lên trên các nuôi cấy tế bào mô thần kinh của người và khỉ [30] Sau đó, người ta

Trang 8

khỉ Hỗn dịch virut này được bất hoạt bằng Formalin và có khả năng gây đáp ứng miễn dịch Hiệu lực bảo vệ của cả 3 typ vắc xin bất hoạt bằng formalin

đã được chứng minh qua một thử nghiệm lớn trên thực địa của Thomas Francis năm 1954 [15, 71] Kết quả của thử nghiệm này cho thấy, vắc xin có hiệu lực bảo vệ đạt 80-90%, trong đó typ 1 là 60-70%, typ 2 là 90% và typ 3 trên 90% Sự khác biệt giữa các typ và hiệu lực thấp hơn so với dự kiến là do

sự có mặt của Merthiolate (Thimerosal), một chất dùng làm chất bảo quản Hàm lượng của chất này trong typ 1 lớn hơn typ 2 và 3 Vấn đề này được chứng minh một cách rõ ràng khi người ta thay thế Merthiolate bằng chất khác

Tiếp sau đó, IPV đã được sản xuất và sử dụng ở nhiều nước trên thế giới Cho đến nay, nó vẫn là một trong hai vắc xin chủ yếu phòng Bại liệt

Do những ưu điểm của nó mà có một số ý kiến cho rằng, sau khi thanh toán Bại liệt trên toàn thế giới sẽ chỉ dùng IPV trong 2 đến 3 năm liên tiếp

1.3.2 Sản xuất vắc xin Bại liệt bất hoạt

Phương pháp sản xuất, tinh chế, kiểm định vắc xin Bại liệt bất hoạt đã

có nhiều tiến bộ và thay đổi so với phương pháp được sử dụng trong thời gian đầu

Ban đầu vắc xin được sản xuất trên nuôi cấy tế bào thận khỉ tiên phát trong những chai nhỏ (Chai dẹt, dung tích 1,2-1,5 lít) Nhưng ngày nay nó đã được nuôi cấy trên những bình lớn (Tank) với những vật mang vi thể (Microcarier) [45] Đó là những hạt thủy tinh hình cầu có kích thước khoảng

1 micro mét Có 3 loại tế bào được sử dụng, đó là tế bào thận khỉ thứ phát

Trang 9

(đã được cấy truyền), tế bào Vero có nguồn gốc từ tế bào thận khỉ xanh châu Phi, và tế bào lưỡng bội có nguồi gốc từ người (MRC-5) Chất lượng của kháng nguyên được tạo ra từ những dòng tế bào này đều như nhau Bước tiếp theo của qui trình sản xuất là cô đặc nước nổi, tinh chế và bất hoạt bằng formaldehyde để loại bỏ tính gây bệnh của virut mà vẫn giữ được tính kháng nguyên [70] Đòi hỏi đầu tiên của vắc xin Bại liệt bất hoạt là việc bất hoạt hoàn toàn tính gây bệnh của virut mà không ảnh hưởng đến khả năng gây đáp ứng miễn dịch của chúng Đó là kết quả của việc nghiên cứu quá trình virut bị bất hoạt ở những nhiệt độ khác nhau, cũng như là ở các nồng độ formalin khác nhau Với những điều kiện thích hợp, kháng nguyên vẫn còn tính miễn dịch tốt như thời điểm mà virut chưa bị bất hoạt [70]

Chủng virut gốc được sử dụng là Mahoney (đối với typ 1), MEF (typ 2) và Saukett (typ 3) Ngày nay hầu hết các nhà sản xuất trên thế giới đều dùng những chủng này trừ Thuỵ Điển họ dùng chủng Brunenders cho typ 1 Hiệu giá của vắc xin đã được tiêu chuẩn hoá trên in vitro (như đơn vị kháng nguyên D) cũng như trên in vivo (như ĐƯMD trên động vật) dựa trên tiêu chuẩn của TCYTTG Tổ chức này chấp nhận một vắc xin chuẩn về khả năng ĐƯMD đã được thử nghiệm trên trẻ em [70] Vắc xin IPV hiện nay được kiểm định tính an toàn và hiệu lực mà không cần dùng khỉ [45] Hiệu giá của vắc xin này không bị thay đổi trong vòng ít nhất là 2 năm khi bảo quản ở 2-80C

Để tránh nhiễm trùng trong quá trình sản xuất, một số kháng sinh đã được sử dụng như Streptomycin, Neomycin, Polymycin B Trong quá trình tinh chế, các kháng sinh này sẽ được làm giảm đến mức không chuẩn độ được ở vắc xin thành phẩm Lượng nhỏ formalin và 2-phenoxyethanol còn lại trong vắc xin được coi như là chất bảo quản

1.3.3 Khả năng bảo vệ của vắc xin IPV

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa số liều vắc xin được tiêm và tỷ lệ %

Trang 10

năm 1955, một vụ dịch Bại liệt đã bùng nổ ở Mỹ mà người ta nghi là do liên quan đến số liều vắc xin được tiêm Nhưng thực tế đây là do vắc xin không

lệ lớn hơn với số liều ít hơn, và theo lý thuyết thì sẽ có một vắc xin mà có khả năng bảo vệ 100% chỉ với 1 liều tiêm duy nhất

Những số liệu ban đầu ở vùng nhiệt đới cho thấy, ở những vùng đó, IPV tạo ra hiệu quả giống như là vùng ôn đới Một nghiên cứu ở Senegal nhận thấy kết quả hiệu lực bảo vệ là 89% sau khi tiêm 2 liều IPV Tại Israel

cho con số tương tự sau 3 liều vắc xin, còn ở Ấn Độ thì chỉ sau 1 liều

1.3.3.1 So sánh giữa hai loại vắc xin OPV và IPV

Hai loại này đều có tác dụng bảo vệ tốt đối với bệnh Bại liệt Tuy nhiên, mỗi loại đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó

Vắc xin bất hoạt (IPV)

- Ưu điểm:

+ Bảo quản dễ dàng, thuận lợi hơn OPV

+ Không bị ức chế bởi một số vi khuẩn đường ruột khác khi sử dụng

Trang 11

+ Vì virut đã bị bất hoạt nên chúng không có khả năng quay trở lại độc lực như vắc xin sống

+ Vắc xin này có thể dùng an toàn cho người bị suy giảm miễn dịch hoặc bị ức chế miễn dịch, và cả những người trong gia đình họ

- Nhược điểm:

Hiệu giá ban đầu của IPV thấp nên cần phải tiêm nhắc lại Đối với những nước đang phát triển thật khó khăn để tiêm một vài mũi cho một số lượng lớn trẻ nhỏ và trẻ chuẩn bị đến trường Giá thành của IPV rất cao, do đó càng khó khăn cho những nước nghèo

Miễn dịch thu được từ IPV là miễn dịch dịch thể trong huyết thanh Chúng chỉ có thể ngăn ngừa sự lan toả của virut từ hầu họng và ruột non đến

hệ thần kinh trung ương chứ không thể bất hoạt và ngăn ngừa sự nhân lên của virut ở hầu họng và ruột được Khi bị nhiễm virut Bại liệt hoang dại, những người được tiêm IPV vẫn đào thải virut ra ngoài và trở thành một nguồn lây nguy hiểm Hay nói cách khác, IPV chỉ có thể bảo vệ cho từng cá nhân riêng lẻ

Vắc xin sống giảm độc lực (OPV)

OPV đã được sử dụng rộng rãi vì rất dễ sử dụng và giá thành rẻ OPV không chỉ tạo ra kháng thể trong huyết thanh mà còn tạo ra kháng thể tại chỗ

ở ruột và tạo ra kháng thể bền vững giống như bị nhiễm virut tự nhiên

TCYTTG đã dùng OPV cho chương trình TCMR trên toàn thế giới Khoảng trên 80% trẻ em dưới 1 tuổi trên thế giới đã được gây miễn dịch cơ bản bằng OPV và virut Bại liệt hoang dại đã dần dần không còn tồn tại trong

tự nhiên nữa

Sự ĐƯKT của trẻ sơ sinh thấp hơn so với những trẻ lớn hơn Khoảng 70% số trẻ sơ sinh có ĐƯMD tại chỗ trong ruột và 30-50% trẻ sơ sinh tạo được kháng thể trong máu đối với 1 hoặc 3 typ Nhưng những trẻ này sẽ tạo được miễn dịch đầy đủ trong những lần uống OPV tiếp theo

Trang 12

Nhược điểm cơ bản của OPV là có thể gây ra bệnh Bại liệt do vắc xin với tỷ lệ khoảng 1 trường hợp trên 1 đến 2 triệu liều được uống Trong khi đó IPV không gây ra tai biến này

Vấn đề kết hợp hai loại vắc xin này:

Ở một số nước như Đan Mạch, Israel, người ta đã kết hợp 2 loại vắc xin IPV và OPV trong việc gây miễn dịch cho trẻ Chiến lược này đã được thực hiện thành công ở một số vùng có nguy cơ cao ở Trung Đông, nơi có khả năng du nhập virut hoang dại từ ngoài vào Một nghiên cứu trên những thanh niên trẻ ở Israel năm 1988 đã chỉ ra rằng: Nếu chỉ dùng IPV thì không ngăn chặn được sự lan truyền của virut Bại liệt hoang dại và nếu chỉ dùng OPV cho trẻ nhỏ thì không có khả năng bảo vệ suốt đời

Sự kết hợp hai loại vắc xin này là kết hợp những nét ưu điểm của mỗi loại Vắc xin OPV tạo ra được miễn dịch giống như bị nhiễm tự nhiên, ngăn chặn được sự lưu hành của VRBL hoang dại, kháng thể tồn tại lâu trong cơ thể Trong khi đó IPV tạo ra miễn dịch tức thời mà không chịu sự ức chế nào của các yếu tố tự nhiên Tuy nhiên sự kết hợp này làm tăng chi phí cho việc

phòng chống bại liệt

1.3.3.2 Vấn đề sử dụng vắc xin sau khi đã thanh toán Bại liệt

Đây là một vấn đề còn phải nghiên cứu và thảo luận tiếp Theo Joseph

L Melnick [38], để hạn chế nguy cơ bệnh quay trở lại có thể xảy ra trong tương lai, có liên quan đến việc sản xuất vắc xin thì các chủng virut độc lực

để sản xuất IPV phải được thay thế bằng chủng giảm độc lực của Sabin Cũng đã có nhà sản xuất nghiên cứu về vấn đề này Sau khi thanh toán bại liệt bằng OPV nên sử dụng 1 hoặc 2 năm chỉ bằng IPV Khi đó sẽ không còn VRBL do người uống OPV thải ra nữa, tức là sẽ không còn VRBL (cả virut hoang dại và virut vắc xin) lưu hành

Theo Cochi, tại cuộc họp của TCYTTG tại Geneva vào tháng 3 năm

1998 về cơ sở khoa học của việc ngừng gây miễn dịch đối với bại liệt [22] là

Trang 13

để không phải dùng vắc xin bại liệt trong tương lai chúng ta phải tiến hành một số bước như sau:

Giả sử năm 2000 là ca bại liệt cuối cùng xảy ra

- Đối với những nước dùng IPV: Tiếp tục dùng IPV cho đến hết năm

1.4 Thanh toán Bại liệt ở Việt Nam

Việt Nam đã đưa OPV vào sử dụng từ trên 40 năm nay Khả năng bảo

vệ của OPV do nước ta sản xuất đạt >90% và bệnh bại liệt đã giảm đến mức không còn nữa Số ca mắc bại liệt đã giảm dần kể từ khi có vắc xin Năm

1993 có 157 ca bệnh bại liệt do virut bại liệt hoang dại Đến năm 1994 còn

31 ca, năm 1995 còn 12 ca, năm 1996 còn 2 ca và năm 1997 còn 1 ca Từ đó đến nay chưa phát hiện một trường hợp bại liệt do virut hoang dại nào nữa

Từ năm 1993 đến nay tỷ lệ uống OPV3 luôn đạt >90% và tỷ lệ uống bổ sung cho trẻ <5 tuổi luôn đạt gần 100% Chúng ta có 2 phòng thí nghiệm chuẩn thức để chẩn đoán virut bại liệt ở Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, và một hệ thống giám sát liệt mềm cấp đến tận cơ sở với hệ thống sổ sách theo dõi cẩn thận, chế độ báo cáo thường xuyên Kết quả của việc sử dụng vắc xin OPV

là Việt Nam đã thanh toán được bệnh Bại liệt vào tháng 10 năm 2000

Trang 14

1.5 Tình hình nghiên cứu sản xuất vắc xin bại liệt bất hoạt của Nhật Bản

Xuất phát từ việc vi rút bại liệt hoang dại đã được loại trừ, cần sử dụng vắc xin an toàn hơn để không còn virut Sabin lưu hành ngoài môi trường, người ta đã sử dụng vắc xin Bại liệt bất hoạt Những nghiên cứu đầu tiên người ta nhận thấy, sử dụng chủng virut Bại liệt hoang dại (chủng độc lực)

để sản xuất vắc xin bất hoạt thì hiệu ứng bảo vệ tương tự như khi dùng OPV (chủng giảm độc lực của Sabin) Song việc sử dụng chủng độc lực vô cùng nguy hiểm đối với nhiều nước, trong khi điều kiện sản xuất chưa bảo đảm,

dễ dàng đưa virut Polio hoang dại ra ngoài cộng đồng qua nước thải Khả năng gây dịch bệnh là có thể Xuất phát từ tình hình trên, một số nước đã nghiên cứu và sử dụng chủng giảm độc lực của Sabin để sản xuất IPV Nhật Bản là một trong những nước trên đã áp dụng phương pháp này

Kết quả nghiên cứu của Nhật Bản

Vắc xin của Nhật Bản sử dụng tế bào Vero nuôi theo hệ thống động trong bình lớn có những hạt rất nhỏ mang tế bào (microcarrier system- celligen plus) Chủng 3 typ của Sabin được gây nhiễm trên tế bào Vero nuôi cấy trong hệ thống này đều cho kết quả cao (tính theo lg10):

Typ I: 10 CCID50/ml Typ II: 9,2 CCID50/ml Typ III: 9,4 CCID50/ml

- Sự cô đặc virut bằng siêu lọc còn lại 60 - 80%

- Sự cô đặc virut bằng siêu ly tâm còn lại 50-75%

- Kháng nguyên D thu được trước và sau khi bất hoạt là 70-80%

- Tổng số thu được từ virut ban đầu đến khi bất hoạt xong khoảng 50% Trong một liều 0,5 ml kháng nguyên D có:

30-Typ I: 3 đơn vị Typ II và III: 100 đơn vị

Trang 15

- Sau quá trình tinh chế (làm sạch), các thông số thu được tương tự như tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới đòi hỏi

- Tính ổn định của vắc xin IPV sản xuất từ chủng Sabin: được nghiên cứu ở các nhiệt độ -20oC, 4oC, và 36oC

+ Ở 4oC ổn định, không giảm hiệu giá sau 2 năm

+ Ở 36oC hiệu giá giảm từ từ, nhưng không quá 12 tháng

+ Giữ ở - 200C, không thích hợp với S-IPV và không bền ở 370C Một nghiên cứu khác về kháng thể trung hoà được tạo ra ở những trẻ

sử dụng vắc xin bại liệt theo 2 phác đồ khác nhau:

+ Sử dụng 2 liều S-IPV

+ Sử dụng 2 liều S-IPV + 1 liều OPV

cho thấy đều có đáp ứng miễn dịch cao ở những người biểu hiện quá mẫn (xem bảng 1.2)

Bảng 1.2: Kháng thể trung hòa được tạo ra ở những trẻ em tình nguyện

có phản ứng huyết thanh âm tính được tiêm phòng

Hiệu giá kháng thể trung bình chủng Sabin (log2) Vắc xin

Typ I Typ II Typ III

11,1 ± 0,4

n = 31 8,2 ± 0,7

n = 42 8,9 ± 0,6

2 liều S-IPV và 1

liều OPV

n = 26 9,9 ± 0,4

n = 20 10,1 ± 0,7

n = 28 8,8 ± 0,9 Như vậy, vắc xin S- IPV dùng cho trẻ em đã có đáp ứng miễn dịch chống lại bệnh Bại liệt là ứng cử viên đầy triển vọng cho kế hoạch toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới nhằm ngăn chặn vi rút hoang dại và độc lực liên quan đến vắc xin

1.6 Tình hình sử dụng IPV và OPV ở Mỹ và các nước khác

- Vắc xin bại liệt bất hoạt hiện nay được khuyến cáo sử dụng ở Mỹ

- Cho đến những năm gần đây, Mỹ vẫn dùng OPV vì nó dễ cung cấp, giá không đắt và bảo vệ người trong cộng đồng hiệu quả hơn IPV OPV là vắc xin

Trang 16

dạng nước dùng cho trẻ em qua đường uống, chứa virut sống giảm độc nhưng cũng có một số rất nhỏ có thể đột biến và gây nên liệt cho trẻ em sau khi dùng vắc xin Cứ khoảng 3 triệu trẻ em được uống vắc xin có thể có 1 trẻ bị liệt

- Ở Mỹ, OPV được dùng với qui mô lớn và thấy hiệu quả hơn IPV, khi virut bại liệt hoang dại vẫn có mặt Hiện nay, virut bại liệt hoang dại đã được thanh toán khỏi miền Bắc và miền Nam nước Mỹ, IPV được khuyến cáo để thay cho OPV bởi vì IPV chứa virut chết, nó không thể đột biến và gây nên tai biến liệt Vì vậy, sẽ không có rủi ro liên quan đến tiêm vắc xin IPV

- Mặc dù virut bại liệt hoang dại được thanh toán ở Mỹ đã trên 20 năm, nhưng các quốc gia ở Tây bán cầu và một số nơi khác trên thế giới bệnh vẫn còn rất phổ biến Các vụ dịch bại liệt vẫn còn xuất hiện ở châu Á, châu Phi Vì vậy nước Mỹ vẫn tiếp tục dùng vắc xin

- Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mục tiêu đặt ra là hướng tới thanh toán bệnh Bại liệt trên toàn thế giới vào năm 2005 Nếu mục tiêu đó đạt được và có thể khẳng định rằng bại liệt đã được thanh toán, thì vắc xin bại liệt sẽ không cần thiết phải sử dụng lâu dài nữa (giống như vắc xin phòng bệnh đậu mùa), nhưng cho đến nay bệnh bại liệt do virut hoang dại đang còn lưu hành ở một số nước như Ấn

Độ, Pakistan, vùng Caribe và châu Phi Gần đây nhất đã có tới hơn 300 ca mắc bại liệt ở Indonesia, do vậy việc dùng vắc xin uống vẫn cần thiết Tuy nhiên, ở một số nước, nếu đã thanh toán bại liệt qua nhiều năm thì nên dùng vắc xin bại liệt bất hoạt theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới

1.7 Sản xuất vắc xin bại liệt bất hoạt tại Việt Nam

1.7.1 Chủng sản xuất

Chủng virut Sabin gồm 3 týp do Viện Bại liệt Nhật Bản cung cấp (týp

1, 2, 3) Cả 3 týp này đều có nguồn gốc từ chủng Sabin (SO) và được cấy truyền từ 2 đến 3 lần

- Chủng bại liệt typ 1 : WHO- IS-90C

- Chủng bại liệt typ 2 : IIS - 90A

- Chủng bại liệt typ 3 : IIIS-79A

Trang 17

1.7.2 Tế bào

Sử dụng hai loại tế bào

- Tế bào thận khỉ Macaca mulatta tiên phát 1 lớp hoặc tế bào thận bào

- Vô trùng

- Phát hiện trực khuẩn Lao

- Tác nhân ngoại lai trên

4 loại tế bào: Hep2C, Vero, thận khỉ cùng loài, thận thỏ sơ sinh

Tế bào vero (ATCC)

Vero đời cấy truyền thứ 124: 1 ampul

Nuôi trên chai thuỷ tinh (hoặc trên microcarrier) Gây nhiễm

Mẻ gặt đơn Kiểm tra vô trùng

Kiểm tra hiệu giá (phương pháp vi lượng)

Trang 18

Hộn vắc xin Kiểm tra vô trùng

Kiểm tra hiệu giá (phương pháp vi lượng)

Kiểm tra an toàn đặc hiệu trên 4 loại động vật nhỏ:

Cô đặc vắc xin Kiểm tra vô trùng

bằng hệ thống siêu lọc Kiểm tra hiệu giá (phương pháp vi lượng) (Ultra filtration) Thử nghiệm nhận dạng

Cô đặc virut vắc xin bằng Kiểm tra hiệu giá của virut

siêu ly tâm

(Ultra centrifugation)

36.000vòng/phút/4giờ

Tinh khiết Kiểm tra tính tinh khiết của virut

(cột DEAE Sepharose CL-6B)(Bằng điện di hoặc kính hiển vi điện tử)

(Formalin tỷ lệ 1:4000) Kiểm tra virut bại liệt sống tồn dư

370C/12 ngày

Vắc xin đơn giá Kiểm tra vô trùng

Sản phẩm vắc xin cuối cùng Kiểm tra vô trùng

(pha vắc xin tam liên Định lượng D-antigen

và đóng ống) Kiểm tra chất gây sốt

Trang 19

1.8 Chiến lược sử dụng vắc xin IPV trên thế giới - liều dùng khuyến cáo

- Trẻ em dùng 4 liều IPV ở các lứa tuổi:

+ Hầu như không dùng vì đã được dùng từ nhỏ

+ Những người ở nhóm có nguy cơ cao và nếu cần phải tiêm phòng vắc xin bại liệt:

1 Những người đi du lịch trên thế giới vào những khu vực còn có virut Bại liệt hoang dại

2 Những người làm việc trong phòng thí nghiệm mà phải tiếp xúc với Poliovirus

3 Những người chăm sóc y tế có liên quan đến bệnh nhân bị Bại liệt Những người trong 3 nhóm này nếu chưa bao giờ tiêm phòng vắc xin thì nên tiêm 3 liều IPV vào các khoảng thời gian:

+ Liều 1 ở bất kỳ thời gian nào

+ Liều 2 từ 1 đến 2 tháng sau liều 1

+ Liều 3 từ 6 đến 12 tháng sau liều 2

Những người trong 3 nhóm này đã được tiêm 1 hoặc 2 liều rồi thì nên tiêm 1 đến 2 liều nữa thì sẽ được bảo vệ an toàn Nếu những người trong 3 nhóm này đã dùng 3 hoặc hơn 3 liều vắc xin IPV hoặc OPV trước đó, thì có thể tiêm 1 liều tăng cường IPV

Những người không nên tiêm IPV:

- Những người bị dị ứng với các kháng sinh như Neomycin, Steptomycin, Polymycin B

- Đã bị phản ứng trầm trọng với IPV

Trang 20

- Bất kỳ ai đã bị ốm nặng trong lịch trình tiêm phải chờ khỏi mới tiêm IPV Tuy vậy, nếu cảm lạnh thì vẫn có thể tiêm được

Những rủi ro khi dùng IPV:

- Sưng tại chỗ tiêm, ngoài ra hiện nay chưa phát hiện có vấn đề gì khác khi tiêm IPV

Có 3 cách sử dụng vắc xin (dùng 4 liều theo thời gian ghi trên)

Cách 1: 2 liều tiêm IPV và 2 liều tiếp theo là OPV (Liều 1,2: IPV; liều 3,4: OPV)

Cách 2: Dùng hoàn toàn IPV (4 liều đều tiêm IPV)

Cách 3: Dùng hoàn toàn OPV (4 liều đều dùng OPV)

* Các nước đã sử dụng vắc xin bại liệt bất hoạt (IPV): Mỹ, Ireland,

Đức, Pháp, Đan Mạch, Nhật Bản

* Giá vắc xin IPV

- Do xu hướng trên thế giới sử dụng vắc xin hỗn hợp vắc xin bại liệt bất

hoạt với các vắc xin khác như bạch hầu, ho gà, uốn ván, nên không có đơn giá của vắc xin bại liệt bất hoạt

- Vắc xin bại liệt bất hoạt được Sanofi Pasteur chào với giá một liều vắc xin bán thành phẩm là khoảng 3 USD Tại Việt Nam, 1 liều vắc xin bại liệt bất hoạt giá (đại lý): 54.500đ/liều; Giá đến người sử dụng: 70.000đ/liều (2005) CDC cho rằng vắc xin bại liệt bất hoạt (IPV) đắt gấp 5 lần vắc xin bại liệt sống (OPV)

Ở Việt Nam, giá nhập cho người sử dụng của vắc xin IPV gấp 90 lần giá vắc xin OPV (2005)

Trang 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm

- Viện Kiểm định Quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm Y tế

- Xã Vân Du và Tân Phúc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ 9/2006 - 11/2007

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Cỡ mẫu

- Cho thử nghiệm giai đoạn 1: 20 người lớn khỏe mạnh

- Cho thử nghiệm giai đoạn 2: 200 trẻ từ 2-7 tuổi, chia làm 2 nhóm ngẫu

nhiên, một nhóm tiêm vắc xin nghiên cứu IPV, một nhóm tiêm vắc xin đối chứng Imovax

2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng

Cho thử nghiệm giai đoạn 1:

- Người trưởng thành từ 23-53 tuổi, khỏe mạnh, không mắc các bệnh

suy giảm miễn dịch, không có tiền sử dị ứng, không mắc các bệnh cấp tính, không sốt

- Tình nguyện tham gia vào nghiên cứu (thể hiện qua việc ký đơn tình

nguyện)

- Đối tượng được khám sức khỏe trước khi tham gia vào nghiên cứu và

phải đạt các tiêu chuẩn về lựa chọn đối tượng

Cho thử nghiệm giai đoạn 2:

- Trẻ em từ 2-7 tuổi, khỏe mạnh, không mắc những bệnh gây suy giảm

miễn dịch, không bị suy dinh dưỡng, không bị dị tật bẩm sinh, không mắc những bệnh cấp tính

Trang 22

- Trẻ có bố hoặc mẹ, hoặc người bảo trợ của trẻ đồng ý cho trẻ tham gia

vào nhóm nghiên cứu

- Trẻ được khám sức khỏe trước khi tham gia vào nghiên cứu và phải

đạt các tiêu chuẩn về lựa chọn đối tượng

2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ (chung cho cả 2 giai đoạn)

- Đang tham gia vào một nghiên cứu về thuốc hoặc vắc xin khác,

- Sử dụng thuốc giảm miễn dịch trong vòng 6 tháng trước khi bắt đầu

tiêm vắc xin,

- Mắc các bệnh suy giảm miễn dịch,

- Sử dụng một vắc xin khác trong vòng 30 ngày trước khi bắt đầu tiêm

vắc xin nghiên cứu,

- Có tiền sử dị ứng với bất cứ thành phần nào của vắc xin,

- Đang bị bệnh cấp tính,

- Sử dụng globulin miễn dịch hoặc các chế phẩm của máu trong vòng 3

tháng trước khi tiêm vắc xin

- Có xét nghiệm HIV dương tính

2.3 Vắc xin nghiên cứu

2.3.1 Vắc xin sử dụng cho nhóm nghiên cứu

Là vắc xin IPV do Trung tâm Nghiên cứu Vắc xin và Sinh phẩm Y tế sản xuất

Trang 23

Số lô: Z0036

Dạng đóng gói: 0,5 ml/lọ

Liều dùng: 0,5 ml

Hạn sử dụng: 12/2007

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

- Giai đoạn 1: Thử nghiệm tính an toàn: trên 20 người lớn khoẻ mạnh Sau khi tiến hành có kết quả, báo cáo tổng kết giai đoạn 1 Nếu đạt yêu cầu mới chuyển sang giai đoạn 2 (Kết quả nghiên cứu giai đoạn 1 đã được báo cáo cho Hội đồng Khoa học của Bộ Y tế ngày 12/06/2007)

- Giai đoạn 2: Đánh giá tính an toàn và hiệu lực Thử nghiệm trên 200 trẻ, chia 2 nhóm: 100 trẻ từ 2 đến 7 tuổi bằng vắc xin thử nghiệm và

100 trẻ trong lứa tuổi đó bằng vắc xin đối chứng IMOVAC - POLIO Aventis Pasteur (Pháp)

2.4.1.1 Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1

Áp dụng thiết kế nghiên cứu mở, ngẫu nhiên, không có nhóm chứng Giai đoạn 1 tiến hành tiêm 3 mũi vắc xin, cách nhau một tháng và sau mỗi lần tiêm phải theo dõi sự kiện bất lợi sau tiêm trong thời gian 1 tháng Thu thập

số liệu dựa trên phiếu theo dõi sự kiện bất lợi sau tiêm Kết quả nghiên cứu giai đoạn 1 được đưa ra thẩm định và đánh giá trước Hội đồng Khoa học Bộ

Y tế Sau khi kết quả giai đoạn 1 đạt yêu cầu mới tiếp tục tiến hành thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2

Phác đồ tiêm vắc xin giai đoạn 1:

2.4.1.2 Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2

Áp dụng thiết kế nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng, 1 lần mù: vắc xin dùng để thử lâm sàng là vắc xin bại liệt bất hoạt do Polyvac sản xuất, vắc xin

Trang 24

dùng cho nhóm chứng là vắc xin bại liệt bất hoạt của Pháp - IMOVAC POLIO, do Aventis Pasteur sản xuất

Giai đoạn 2 cũng tiến hành tiêm 3 mũi vắc xin, cách nhau một tháng và sau mỗi lần tiêm phải theo dõi sự kiện bất lợi sau tiêm trong thời gian 1 tháng Thu thập số liệu dựa trên phiếu theo dõi sự kiện bất lợi sau tiêm Các đối tượng được lấy máu xét nghiệm kháng thể bại liệt trước khi tiêm mũi 1 và sau khi tiêm mũi 3 là 1 tháng

Phác đồ tiêm vắc xin giai đoạn 2:

- Kỹ thuật xét nghiệm: Xác định hiệu giá kháng thể bằng phương pháp trung hoà vi lượng để đánh giá đáp ứng miễn dịch của 2 vắc xin tiêm Kỹ thuật này được thực hiện tại Phòng xét nghiệm Virút đường ruột, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương Chi tiết kỹ thuật ghi trong "Phụ lục 2"

- Thu thập số liệu: Sử dụng phiếu theo dõi sự kiện bất lợi

- Đánh giá kết quả: Thống kê kết quả xét nghiệm hiệu giá kháng thể trung hoà của từng đối tượng nghiên cứu

- Báo cáo: Người viết báo cáo cuối cùng được mở mã để biết kết quả từng loại vắc xin và từng nhóm nghiên cứu

2.4.2 Tổ chức thực hiện

2.4.2.1 Công tác chuẩn bị

a) Tuyển chọn đối tượng:

- Lập danh sách các trẻ từ 2-7 tuổi, cả 2 giới

- Tổ chức tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, nội dung nghiên cứu,

quyền lợi, trách nhiệm của đối tượng tham gia nghiên cứu cho các gia đình có trẻ ở lứa tuổi 2-7 nằm trong danh sách lựa chọn

- Tổ chức cho bố mẹ hoặc người bảo trợ của trẻ ký phiếu tình nguyện về

việc đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu sau khi đã đọc kỹ thông tin về

Trang 25

vắc xin, bản mô tả quyền lợi và nghĩa vụ của người nghiên cứu, mỗi đối tượng được gắn với một mã số duy nhất và không trùng lặp

- Đối tượng được tổ chức khám sức khỏe trước khi tiêm vắc xin 4 ngày,

và chỉ những đối tượng đủ tiêu chuẩn mới được đưa vào danh sách nghiên cứu Tổng số có 207 đối tượng đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu

- Lập danh sách của 207 đối tượng này, xếp thứ tự theo vần họ tên của

trẻ, sau đó dùng tính năng lựa chọn ngẫu nhiên trong phần mềm EXCEL để phân bổ ngẫu nhiên các đối tượng trên vào 2 nhóm nghiên cứu và đối chứng với kết quả có 103 đối tượng được phân vào nhóm nghiên cứu và 104 đối tượng vào nhóm đối chứng

b) Lựa chọn cán bộ y tế thực hiện tiêm phòng vắc xin:

- Là cán bộ y tế khoẻ mạnh, có tay nghề tiêm chủng thành thạo, không bị

các bệnh nhiễm trùng ngoài da Có khả năng chẩn đoán và xử lý sơ bộ khi có sự cố (ví dụ: chẩn đoán và xử lý sốc theo đúng phác đồ điều trị của Bộ Y tế)

- Đã được tập huấn về công tác chuẩn bị, tiêm vắc xin và theo dõi sau

tiêm trước khi tiến hành thử nghiệm

- Tuân thủ các quy định kỹ thuật: Bảo quản vắc xin đúng quy định; Kiểm

tra sơ bộ lọ vắc xin trước khi tiêm về nhãn mác, màu sắc, ; Thực hiện quy trình vô trùng đúng kỹ thuật; Tiêm đúng liều, đúng đường tiêm và tuân thủ thực hành an toàn trong tiêm chủng (vệ sinh tay, quần áo bảo

hộ, dùng bơm tiêm vô khuẩn 1 lần v.v )

d) Địa điểm tổ chức tiêm:

- Đủ rộng, thoáng, đủ ánh sáng, đảm bảo vệ sinh,

- Có đủ trang thiết bị và đồ dùng cần thiết phục vụ cho việc tiêm phòng

và sơ cứu ban đầu Bao gồm:

+ Có đầy đủ bơm tiêm vô trùng theo số lượng người tiêm

Trang 26

+ Có hộp an toàn để đựng bơm tiêm đã sử dụng

2.4.2.2 Tiến hành tiêm chủng

- Bảo quản và vận chuyển vắc xin theo đúng quy định: sau khi nhận từ nhà sản xuất, mẫu vắc xin được bảo quản trong kho lạnh của Viện có theo dõi nhiệt độ hàng ngày Vào ngày tiêm chủng, vắc xin được vận chuyển theo dây chuyền lạnh (trong colbox có đá lạnh kèm nhiệt kế theo dõi) đến tận nơi tiêm chủng và giao cho cán bộ tiêm chủng

- Trước khi tiêm, cán bộ tiêm chủng phải kiểm tra lọ vắc xin bằng mắt

về các thông tin trên nhãn mác như: tên, số lô, hạn sử dụng, xem có trùng hợp với thông tin ghi trong phiếu theo dõi không

- Kiểm tra bằng mắt xem có hiện tượng gì bất thường không (VD: đổi màu, rạn nứt, có vật lạ )

- Dùng bơm tiêm nhựa vô trùng loại 1 ml hút ra đúng 0,5 ml vắc xin và tiêm vào vùng cơ delta Dùng bơm tiêm riêng cho mỗi đối tượng Trước khi tiêm, vị trí tiêm phải được sát trùng bằng cồn 700

- Vắc xin khi đã mở lọ vắc xin phải tiêm ngay trong vòng 6 giờ (để tránh bị nhiễm trùng)

- Sau khi tiêm, giữ trẻ ngồi lại ít nhất 30 phút để theo dõi đề phòng sốc phản vệ

- Trẻ được tiêm xong được ghi vào phiếu theo dõi về thời gian tiêm, người tiêm, thời gian bắt đầu theo dõi

2.4.2.3 Phác đồ tiêm vắc xin

Nghiên cứu này đã tiến hành tiêm 3 mũi vắc xin cho đối tượng nghiên cứu và sau mỗi mũi tiêm phải theo dõi trong thời gian 30 ngày (lịch tiêm cụ thể như sau: mũi 1: 20/06/2007, mũi 2: 20/07/2007, mũi 3: 19/08/2007) Kết thúc 30 ngày theo dõi sau khi tiêm đầy đủ 3 mũi vắc xin, nhóm nghiên cứu

đã tổng hợp số liệu, đưa ra đánh giá về tính an toàn của vắc xin thử nghiệm

và báo cáo kết quả

Trang 27

2.4.2.4 Phương thức theo dõi

Cán bộ y tế theo dõi các đối tượng tham gia thử nghiệm sau khi tiêm

30 phút (theo dõi tại chỗ), 24 giờ, 48 giờ và 30 ngày Tất cả các chỉ tiêu theo dõi dựa vào phiếu theo dõi sự kiện bất lợi sau tiêm (được soạn thảo theo các chỉ tiêu theo dõi sau tiêm vắc xin và sinh phẩm của Tổ chức Y tế Thế giới)

- Sưng tấy (đường kính >= 5 mm)

Triệu chứng toàn thân

b) Sự kiện bất lợi nghiêm trọng (SAEs)

Một sự kiện bất lợi nghiêm trọng là bất cứ một phản ứng nào có thể dẫn đến:

- Gây tử vong

- Đe doạ đến tính mạng

- Để lại kết quả vĩnh viễn hoặc gây tàn tật / mất khả năng vận động chủ yếu

Trang 28

- Cần phải nằm viện

- Kéo dài thời gian nằm viện

- Các phản ứng gây nguy hiểm đến đối tượng tham gia nghiên cứu hoặc cần phải can thiệp để ngăn ngừa một trong những kết quả liệt kê như trên (ví dụ như ung thư xâm lấn hoặc ung thư ác tính, điều trị hồi sức trong phòng cấp cứu hoặc tại nhà do co thắt phế quản dị ứng; loạn thể tạng máu hoặc co giật mà không cần nằm viện)

Đối với mỗi sự kiện bất lợi nghiêm trọng xảy ra, chủ nhiệm đề tài, nhà tài trợ, Hội đồng đạo đức cấp cơ sở, Hội đồng đạo đức cấp Bộ, cơ quan chủ trì đề tài phải được thông báo trong vòng 24h

c) Đánh giá mức độ của các triệu chứng

Đối với các triệu chứng cơ năng:

1 Nhẹ: Là sự kiện bất lợi xảy ra mà người tham gia nghiên cứu dễ dàng chịu đựng, gây ra sự khó chịu nhỏ và không ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày

2 Trung bình: Là sự kiện bất lợi gây khó chịu làm ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày

3 Nặng: Là sự kiện bất lợi xảy ra làm ngăn cản các hoạt động bình thường hàng ngày

Đối với các triệu chứng thực thể:

Mức độ nặng của sốt (nhiệt độ nách) được đánh giá như sau:

Ngày đăng: 20/04/2014, 13:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (1992). Tiêu chuẩn Việt Nam cho vắc xin phòng bại liệt sống. TCVN903 Khác
2. Đoàn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Văn Mẫn, Phạm Ngọc Oanh, Nguyễn Hiền Thanh, Trần Xuân Phúc (1990). Sự đáp ứng kháng thể bại liệt ở trẻ em dưới 12 tháng tuổi sau khi uống đủ 3 liều văcxin Sabin trong năm TCMR 1989. Báo cáo khoa học đề tài 64B-05-02. 54-58. Bộ Y tế Khác
3. Hoàng Thuỷ Nguyên, Nguyễn Trung Thành, Huỳnh Ngọc Tính và cs (1967). Tình hình bệnh bại liệt ở miền bắc Việt Nam sau 6 năm gây miễn dịch rộng rãi bằng văcxin sống giảm độc lực (Sabin). Y học Việt Nam; 3,4: 8-11 Khác
4. Học viện Quân Y, Viện VSDT trung ương (1999). Nghiên cứu và sử dụng các vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng Quốc gia. 28-37 Khác
5. Lê Thị Luân (1997). Tính ổn định của vắc xin bại liệt uống sản xuất tại Việt Nam từ 1993 đến 1996 và ảnh hưởng của nhiệt độ đối với hiệu giá vắc xin tam liên. Luận án phó tiến sĩ khoa học Y dược. Viện VSDT Trung ương Khác
6. Lê Thị Song Hương và cs (1999). Nghiên cứu hiệu lực vắc xin phòng bại liệt uống sản xuất tại Trung tâm Khoa học sản xuất Vắc xin Sabin trên thực địa Hải Phòng. Đề tài NCKH cấp Bộ Khác
7. Nguyễn Thị Tuyến (2003). Vi sinh Y học. Nhà xuất bản Y học. 321-325 8. Nguyễn Hiền Thanh (1996). Giám sát học những trường hợp liệt mềmcấp tính do POLIO gây nên trong năm 1991-1994 ở Bắc Việt Nam. Luận án PTS Y dược. Viện VSDT Trung ương Khác
9. Phạm Ngọc Thạch, Võ Tố, Hoàng Thuỷ Nguyên (1960). Việc gây miễn dịch rộng rãi chống bệnh bại liệt cho các trẻ em ở nước Việt Nam Khác
10. TCMR-Thanh toán bại liệt Quốc gia (1993). Hội thảo nâng cao kỹ năng giám sát bệnh bại liệt. Hà Nội, 3 Khác
11. TCMR quốc gia (1996). Tổng kết công tác tiêm chủng mở rộng năm 1996 Khác
12. TCMR quốc gia (1997). Báo cáo tổng kết công tác tiêm chủng mở rộng năm 1997 Khác
13. TCMR quốc gia (1998). Tổng kết công tác tiêm chủng mở rộng năm 1998 Khác
14. WHO (1993). Cơ sở miễn dịch học của tiêm chủng/ miễn dịch học đại cương. WHO/EPI/Gen/ 93.11.Phần tiếng Anh Khác
15. Aronoff, Hughes, Kohl, Speck, Wald (1987). Advances in Pediatric Infectious Diseases. Year Book Medical Publishers, Inc. 2. 57-78 Khác
16. Assaad F., Ljunggars-Esteves K. (1984). World overview of poliomyelitis: Regional patterns and trends. Rev. Infect Dis. 6 [Suppl 2]302-307 Khác
17. Balanant J., Guilott S., Candrea A., Delpeyroux F.,Crainic R. (1991). The natural genomic variability of poliovirus analyzed by a restriction fragment length polymorphism assay. Virology, 184: 645-654 Khác
18. Brodie M, Park W.H. (1936). Active immunization against poliomyelitis. Am.J. Public Health 26:119-125 Khác
20. Chumakov K.M., Dragunsky E.M., Norwood L.P., et al (1994). Consistent selection of mutation in the 5’- untranslated region of Oral poliovirus vaccine upon passaging In Vitro. Journal of Medical Virology. 42: 79-85, Japan Khác
21. Chumakov K.M., Powers L.B., Noonan K.E., Roninson I.B., Levenbook I.S. (1991). Correlation between amount of virus with nucleotide sequence and the monkey test for acceptability of OPV. Proc.Natl. Acad.Sci. USA. 88, 199-203 Khác
22. Cochi S. (1998). Possible strategies for stopping immunization. WHO / EPI / POLIO / SIM .98. WP1.2 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tỷ lệ trẻ 0-4 tuổi mắc Bại liệt liên quan đến số liều vắc xin tiêm - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 1.1 Tỷ lệ trẻ 0-4 tuổi mắc Bại liệt liên quan đến số liều vắc xin tiêm (Trang 10)
Bảng 1.2: Kháng thể trung hòa được tạo ra  ở những trẻ em tình nguyện  có phản ứng huyết thanh âm tính được tiêm phòng - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 1.2 Kháng thể trung hòa được tạo ra ở những trẻ em tình nguyện có phản ứng huyết thanh âm tính được tiêm phòng (Trang 15)
Bảng 3.2: Tỷ lệ đối tượng xuất hiện các sự kiện bất lợi tại chỗ sau tiêm - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.2 Tỷ lệ đối tượng xuất hiện các sự kiện bất lợi tại chỗ sau tiêm (Trang 31)
Bảng 3.3: Tỷ lệ xuất hiện phản ứng đau tại chỗ ở cỏc thời điểm theo dừi - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.3 Tỷ lệ xuất hiện phản ứng đau tại chỗ ở cỏc thời điểm theo dừi (Trang 32)
Bảng 3.7. Lý do bỏ cuộc của các đối tượng nghiên cứu  STT Mã  đối tượng Thời điểm bỏ cuộc Lý  do bỏ cuộc - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.7. Lý do bỏ cuộc của các đối tượng nghiên cứu STT Mã đối tượng Thời điểm bỏ cuộc Lý do bỏ cuộc (Trang 34)
Bảng 3.8: Tỷ lệ đối tượng xuất hiện các sự kiện bất lợi tại chỗ sau tiêm - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.8 Tỷ lệ đối tượng xuất hiện các sự kiện bất lợi tại chỗ sau tiêm (Trang 34)
Bảng 3.10: Tỷ lệ đối tượng xuất hiện các sự kiện bất lợi toàn thân sau tiêm - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.10 Tỷ lệ đối tượng xuất hiện các sự kiện bất lợi toàn thân sau tiêm (Trang 35)
Bảng 3.9: Tỷ lệ xuất hiện phản ứng đau tại chỗ ở cỏc thời điểm theo dừi - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.9 Tỷ lệ xuất hiện phản ứng đau tại chỗ ở cỏc thời điểm theo dừi (Trang 35)
Bảng 3.11: Hiệu giá kháng thể trước tiêm vắc xin - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.11 Hiệu giá kháng thể trước tiêm vắc xin (Trang 36)
Bảng 3.12. Hiệu giá kháng thể trung bình nhân - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.12. Hiệu giá kháng thể trung bình nhân (Trang 37)
Bảng 3.13: Tỷ lệ tăng hiệu giá kháng thể týp 1 sau tiêm - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.13 Tỷ lệ tăng hiệu giá kháng thể týp 1 sau tiêm (Trang 38)
Bảng 3.14: Tỷ lệ tăng hiệu giá kháng thể týp 2 sau tiêm - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.14 Tỷ lệ tăng hiệu giá kháng thể týp 2 sau tiêm (Trang 38)
Bảng 3.15: Tỷ lệ tăng hiệu giá kháng thể týp 3 sau tiêm - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.15 Tỷ lệ tăng hiệu giá kháng thể týp 3 sau tiêm (Trang 39)
Bảng 3.16: Tỷ lệ tăng HGKT giữa nhóm nghiên cứu so với nhóm đối chứng - Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và đáp ứng kháng thể của vắc xin bại liệt bất hoạt từ chủng sabin
Bảng 3.16 Tỷ lệ tăng HGKT giữa nhóm nghiên cứu so với nhóm đối chứng (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w