1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ ÁN MÔN HỌC Đề tài: MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

43 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam
Tác giả Đào Duy Tùng
Người hướng dẫn Th.S Phan Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế bảo hiểm
Thể loại Đề án môn học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 165,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ ÁN MÔN HỌC Đề tài: MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Trang 1

Lớp chuyên ngành: Kinh tế bảo hiểm 53B

Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Anh Tuấn

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẤT NGHIỆP

1.1 Dân số, lao động và việc làm

1.1.1 Dân số - cơ sở hình thành nguồn lao động

1.1.2 Quan hệ dân số - lao động và việc làm tại Việt Nam

1.2 Thất nghiệp và sự cần thiết triển khai Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam

1.2.1 Những nội dung cơ bản về thất nghiệp

1.2.2 Sự cần thiết triển khai Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

PHẦN II: HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

2.1 Pháp luật về thực hiện chính sách hỗ trợ người thất nghiệp tại Việt Nam giai đoạn trước 2006

2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam.

PHẦN III: MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

3.1 Một số bất cập trong luật BHTN Việt Nam

3.1.1 Đối tượng tham gia BHTN

3.1.2 Điều kiện đối với hưởng BHTN

3.1.3 Căn cứ tính đóng quỹ BHTN

3.1.4 Thủ tục tham gia và hưởng BHTN

3.1.5 Chế độ BHTN

3.2 Những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai luật BHTN tại Việt Nam

PHẦN IV: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP UẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Trang 3

NĐ - CP

: Hợp đồng lao động: Hợp đồng làm việc: Nghị định – Chính phủ

Trang 4

cụ để thực hiện đảm bảo an sinh xã hội là ban hành chính sách BHTN.

BHTN là một trong những biện pháp được nhà nước ta quan tâm, vì nó không chỉđảm bảo cuộc sống cho cá nhân người bị thất nghiệp mà còn góp phần ổn định xã hội,làm giảm sự căng thẳng xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra BHTN được xem làquá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính thông qua việc đóng góp của NLĐ,NSDLĐ và sự hỗ trợ của nhà nước, nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho NLĐ trong thời

kỳ họ bị mất việc làm, đồng thời tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới Như vậy,

có thể thấy BHTN vừa là công cụ góp phần giải quyết thất nghiệp vừa là một chínhsách xã hội rất quan trọng

Tuy nhiên, trong quá trình thực thi pháp luật về BHTN, vẫn còn nhiều những hạnchế, bất cập nhất định cần được nhìn nhận và hoàn thiện luật pháp để bảo vệ quyền lợicho NLĐ và góp phần ổn định cũng như phát triển kinh tế đất nước Do đó, em đã

quyết định lựa chọn đề tài: MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG HỆ THỐNG VĂN BẢN

QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM.

Do điều kiện thời gian, khả năng tìm kiếm tư liệu còn hạn chế cũng như nhữngthiếu sót về kiến thức và trình độ thực tế bản thân, đề tài không thể tránh khỏi nhữngsai sót, rất mong được thầy cô và các anh chị đóng góp ý kiến để bài làm được hoànthiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN SỐ, VIỆC LÀM

VÀ THẤT NGHIỆP

1.1 Dân số, lao động và việc làm

1.1.1 Dân số - cơ sở hình thành nguồn lao động

1.1.1.1.Một số khái niệm cơ bản:

Dân số trong độ tuổi lao động: Ở Việt Nam, căn cứ theo Điều 6 Bộ Luật Lao

Động đã sửa đổi và bổ sung năm 2007 “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có

khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” và Điều 145 “Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng khi có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội như sau: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi ”, ta xác định được độ

tuổi lao động của người Việt Nam như sau:

 Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi

 Nữ từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi

Dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang

có việc làm hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm trong một ngành nào đó của nền kinh

tế quốc dân trong một khoảng thời gian xác định Dân số hoạt động kinh tế hay còn gọi

là "Dân số làm việc" hoặc "Lực lượng lao động"

Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động và

những người trong độ tuổi lao động trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều trakhông làm việc và không có nhu cầu tìm việc như những người làm công việc nội trợcho gia đình; học sinh, sinh viên; những người mất khả năng lao động

Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả

năng tham gia lao động Hiện nay, nguồn lao động xã hội thường tăng nhanh hơn cơhội việc làm, do đó luôn có bộ phận NLĐ thiếu hoặc không có việc làm

Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ, tạo

ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm và được thừa nhận Căn cứ theo Bộ Luật Lao

động, tại Điều 13 cũng đã định nghĩa: “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp

luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.

Trang 6

1.1.1.2 Dân số - cơ sở hình thành nguồn lao động

Giữa dân số và nguồn lao động luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trongmối quan hệ đó thì dân số là cơ sở hình thành nên nguồn lao động, được biểu hiệnthông qua quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố của dân số

 Quy mô, cơ cấu dân số

 Nếu dân số đông, quy mô lớn, cơ cấu dân số trẻ thì số dân trong độ tuổi lao độnglớn và ngược lại

 Nếu dân số ít sẽ dẫn đến tình trạng thiếu nguồn lao động trong tương lai và cóảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế

 Chất lượng dân số càng cao càng tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng

nguồn lao động, chất lượng đó thường liên quan đến những yếu tố cứng sau:

 Sức khoẻ bao gồm thể lực thể hiện ở khả năng vận dụng cơ bắp vào quá trình lao động, có được nhờ quá trình rèn luyện cùng chế độ ăn uống, làm việc nghỉ ngơi; trí lực

biểu hiện thông qua khả năng vận dụng trí óc trong quá trình lao động, có được là nhờvốn có bẩm sinh, quá trình học tập và rèn luyện bản thân

 Trình độ học vấn, chuyên môn cùng trình độ lành nghề phải tốt và phù hợp vớiyêu cầu công việc, thường được đánh giá thông qua năng lực thực tế và bằng cấp đạtđược

Ngoài ra, phẩm chất cá nhân phù hợp với công việc như ý thức kỷ luật, ý thức

trách nhiệm, sự trung thành, tận tụy… cũng được coi là yếu tố mềm, rất quan trọng,

nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế

 Mức sinh quyết định hình dáng cấu trúc tuổi, giới tính và chi phối biến đổi trongquy mô, sự phân bố, tốc độ gia tăng dân số và ảnh hưởng đến nguồn lao động:

 Mức sinh cao, quy mô dân số đông và nguồn lao động sẽ dồi dào

 Mức sinh có ảnh hưởng tới cấu trúc tuổi của dân số, từ đó dẫn theo lao động cóthể trẻ ra hoặc già đi

 Mức chết cũng tác động ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, chất lượng nguồn lực:

 Mức chết tăng, quy mô lao động giảm, tỉ lệ phụ thuộc giảm

 Mức chết giảm, tuổi thọ trung bình dân cư tăng lên, cung lao động lão niên tăng

Trang 7

 Mức chết trẻ em giảm, mức sinh giảm, cung lao động trẻ tương lai giảm, cơ cấunguồn lao động già đi, ảnh hưởng tới chất lượng nguồn lao động.

 Phân bố dân cư

 Vùng có mật độ dân cư thưa, sẽ thiếu nguồn lao động cho sự phát triển kinh tế xãhội, không đủ nguồn lực khai thác tài nguyên vùng

 Vùng có mật độ dân số quá đông, nguồn lao động dồi dào, nguồn tài nguyên khaithác dần cạn kiệt dẫn đến thừa nguồn lao động, từ đó xảy ra tình trạng thất nghiệp vàthiếu việc làm

1.1.2 Quan hệ dân số - lao động và việc làm tại Việt Nam

1.1.2.1 Đặc trưng mối quan hệ dân số - lao động và việc làm ở Việt Nam

Việt Nam có quy mô dân số lớn và phát triển nhanh nên quy mô của lực lượnglao động cũng rất lớn Điều này đồng nghĩa với lượng cung lao động sẽ lớn hơn lượngcầu lao động, đặc biệt đối với lao động phổ thông, lao động có trình độ tay nghề thấp,dẫn tới số thất nghiệp tích luỹ tăng lên, tình trạng thiếu việc làm ngày càng trở nên phổbiến:

 Tuy số lượng lao động lớn nhưng nhìn chung chất lượng lao động thấp, khôngđáp ứng được nhu cầu thị trường Biểu hiện của chất lượng lao động thấp ở chỗ:

 Sức khoẻ của NLĐ kém thể hiện qua các chỉ tiêu chiều cao, cân nặng, tình trạngbệnh tật Nguyên nhân một phần cũng là do trước đây mức sinh cao, trẻ em khôngđược chăm sóc và giáo dục một cách đầy đủ

 Trình độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo bài bản thấp, ý thức chấp hành kỉ luậtlao động, tinh thần, thái độ việc làm chưa được tốt, thiếu năng động và chủ động hiểubiết thị trường

 Cơ cấu lao động theo ngành nghề thể hiện tình trạng lạc hậu của nền kinh tế Sáutháng đầu năm 2013, lao động từ 15 tuổi trở nên đang làm việc của khu vực nông, lâm,ngư nghiệp vẫn chiếm tới 47.4% Trong khi đó, nước ta đất nông nghiệp ít, nên tìnhtrạng thất nghiệp, nông nhàn phổ biến mọi nơi và ở mức cao

Trang 8

 Vốn đầu tư chủ yếu tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ,hai khu vực tạo ra được nhiều việc làm, thu hút nhiều NLĐ từ các vùng khác đến, tạo

ra dòng di dân ngày càng lớn

1.1.2.2 Tạo việc làm cho người lao động

Với những đặc trưng kể trên, vấn đề tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho NLĐ

đã và đang trở thành nhiệm vụ kinh tế - xã hội cấp bách nhất của nước ta hiện nay Giảiquyết vấn đề việc làm có thể trên cơ sở định hướng như sau:

 Giảm áp lực gia tăng dân số nhờ tiến hành thông qua việc đẩy mạnh thực hiệncông tác dân số và kế hoạch hóa gia đình

 Quản lý một cách hiệu quả luồng di dân nông thôn – thành thị, thông qua việc tạoviệc làm cho các tỉnh thành phố và khu vực nông thôn

 Nâng cao chất lượng nguồn lao động bằng việc nâng cao chất lượng hoạt độngđịnh hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên đồng thời nâng cao chất lượng giáodục, cải tiến hoạt động đào tạo nghề

 Đẩy mạnh hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tạo việc làm, mở rộng xuấtkhẩu lao động, cho phép những người có điều kiện tham gia xuất khẩu lao động

 Xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô thúc đẩy tăng trưởngkinh tế cao đi kèm với tăng nhu cầu về lao động một cách bền vững Đồng thời tăngcường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp để giải quyết việc làm cho người thất nghiệp vàngười thiếu việc làm, cho các đối tượng yếu thế trong thị trường lao động

1.2 Thất nghiệp và sự cần thiết triển khai Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam

1.2.1 Những nội dung cơ bản về thất nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp

Trong điều kiện kinh tế thị trường thì thất nghiệp và việc làm là hai mặt của mộtvấn đề và đều liên quan đến NLĐ trong xã hội Trong đó, việc làm là một trong nhữngnhu cầu thiết yếu nhất của NLĐ bởi vì nhờ có việc làm mà NLĐ mới có thu nhập đểnuôi sống bản thân và gia đình Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà có một

bộ phận NLĐ tìm kiếm việc làm rất khó khăn, thậm chí có người không tìm kiếm

Trang 9

được, đồng thời có những người đang làm việc vì lý do chủ quan, khách quan đã thấtnghiệp Trong xu hướng toàn cầu hoá và ổn định xu hướng này hiện nay thì đây là vấn

đề đang được đặc biệt quan tâm hàng đầu

Theo định nghĩa của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng

tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thế tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”

Theo Bộ luật Lao động Việt Nam (sửa đồi năm 2002) có quy định về thất nghiệp

và người thất nghiệp như sau:

“Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng lao động,

có khả năng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương tối thiểu”.

“Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, đến 55

tuổi đối với nữ, làm việc theo hợp đồng lao động, có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác nhau không có việc làm và đang đi tìm việc làm trong tuần lễ điều tra”.

Theo định nghĩa này, ở Việt nam những người được coi là thất nghiệp bao gồm:

 NLĐ đang làm việc bị mất việc vì các lý do sau: doanh nghiệp phá sản; doanhnghiệp sắp xếp lại sản xuất hoặc áp dụng công nghệ mới; doanh nghiệp giải thể theoquy định của pháp luật; NLĐ bị chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn, bị sa thải, HĐLĐ hếtthời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp đồng

 NLĐ mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp hoặc thôi họcnhưng chưa tìm kiếm được việc làm

 Bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong hết nghĩa vụ quân sự, NLĐ đi xuất khẩulao động về nước chưa có việc làm

 Những người nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ sản xuất

 Những đối tượng sau thời gian quản giáo hoặc sau chữa trị bệnh đang có nhu cầutìm kiếm việc làm

Những người không được coi là người thất nghiệp bao gồm:

 Những người có việc làm nhưng hiện không làm việc vì một số lý do như nghỉphép, nghỉ ốm, tai nạn

Trang 10

 Những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học,đang thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, làm nội trợ hoặc không có nhu cầu về việclàm.

Như vậy, người thất nghiệp được quy định bao gồm cả NLĐ đã từng đi làm và cảnhững người chưa từng đi làm, có nhu cầu tìm việc nhưng hiện không có việc làm

Theo Luật BHXH (năm 2006) của Việt Nam: “Người thất nghiệp là người đang

đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” Các hợp đồng này không xác định thời

hạn hoặc xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng, NLĐ yêu cầu phải làm việc trongcác đơn vị có sử dụng từ 10 lao động trở nên và có đóng BHTN theo quy định

1.2.2.2 Phân loại thất nghiệp

Thất nghiệp được chia ra thành nhiều loại khác nhau vì mỗi loại thất nghiệp đều

do những nguyên nhân và có những chính sách và biện pháp giải quyết theo cácphương thức khác nhau

Căn cứ vào tính chất thất nghiệp:

 Thất nghiệp tự nhiên: xảy ra do quy luật cung cầu của thị trường sức lao động tácđộng, chịu ảnh hưởng bởi tốc độ gia tằng dân số

 Thất nghiệp cơ cấu: do cơ cấu ngành nghề vùng, miền tác động, phát sinh do sựmất cân đối giữa cung và cầu về các loại lao động, mức cầu về loại lao động này tănglên còn loại lao động khác thì giảm đi, tuy nhiên mức cung điều chỉnh không kịp mứccầu, từ đó dẫn đến gây ra thất nghiệp

 Thất nghiệp tạm thời: chủ yếu phát sinh do sự di chuyển không ngừng của conngười và phân bố NLĐ giữa các vùng, miền, thuyên chuyển công tác giữa các giaiđoạn khác nhau trong quá trình kinh doanh sản xuất

 Thất nghiệp chu kỳ: xuất hiện khi mức cầu chung không đủ để mua toàn bộ sảnlượng tiềm năng của nền kinh tế, gây ra hiện tượng suy thoái và sản lượng thực tế sẽthấp hơn mức tiềm năng Nó gắn liền với giai đoạn suy thoái và đóng cửa của chu kìkinh doanh

 Thất nghiệp thời vụ: phát sinh theo các chu kỳ sản xuất kinh doanh

Trang 11

 Thất nghiệp công nghệ: do những tiến bộ khoa học kỹ thuật ảnh hưởng đến, đặcbiệt khi dây chuyền sản xuất tự động áp dụng rộng rãi.

Căn cứ vào mức độ thất nghiệp

 Thất nghiệp toàn phần: NLĐ hoàn toàn không có việc làm hoặc thời gian làmviệc thực tế mỗi tuần dưới 8 giờ và họ vẫn có nhu cầu làm thêm

 Thất nghiệp bán phần: NLĐ vẫn có việc làm nhưng khối lượng công việc ít hoặcthời gian lao động thực tế trung bình chỉ đạt 3 đến 4 giờ một ngày làm việc và họ cónhu cầu làm thêm

1.2.2.3 Nguyên nhân thất nghiệp

 Tốc độ gia tăng dân số nhanh Dân số gia tăng hàng năm sẽ bổ sung một lực

lượng lao động rất lớn vào nguồn lao động của mỗi quốc gia Dân số càng tăng và tốc

độ gia tăng dân số càng nhanh thì lực lượng lao động dư thừa càng lớn, từ đó làm nảysinh một bộ phận NLĐ bị thất nghiệp Đây cũng chính là một trong những nguyênnhân chính gây ra tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam cũng như ở các nước đang vàchậm phát triển khác

 Hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ cũng mang tính chu kỳ Chu kỳ kinh

doanh có thể mở rộng (cầu lao động tăng, thu hút lao động) hay thu hẹp (cầu lao độnggiàm, dư thừa lao động) theo sự điều tiết của thị trường, chu kì đó diễn ra ngày càngnhanh chóng nhằm đáp ứng mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Khi mà cung cầu lao độngtrên thị trường thay đổi không có sự phù hợp, từ đó sẽ làm phát sinh hiện tượng thấtnghiệp

 Sự ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự tự động hoá quá trình

sản xuất diễn ra nhanh chóng và ngày càng phổ biến Các chủ doanh nghiệp với mục

Trang 12

tiêu tối đa hóa lợi nhuận, luôn muốn tìm cách mở rộng sản xuất, đổi mới dây chuyềncông nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất và nâng cao lợi thếcạnh tranh Tuy nhiên, khi số lượng máy móc ngày càng gia tăng thì số công nhân bịthay thế ngày càng nhiều, dẫn tới việc bổ sung một lượng đáng kể số công nhân rơi vàonhóm người thất nghiệp.

 Khủng hoảng kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế có nhiều mặt tiêu cực

tác động đến thị trường lao động Sự thay đổi thể chế chính trị, việc điều chỉnh chínhsách vĩ mô, các giải pháp điều hành kinh tế của Chính phủ trong giai đọan này làm chonhu cầu sử dụng lao động có sự thay đổi, làm cho tình trạng thất nghiệp thay đổi theo

 Cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế thay đổi làm mất cân đối lớn giữa cung và

cầu trên thị trường lao động Những ngành nghề làm ăn có hiệu quả, cần mở rộng sảnxuất kinh doanh hay xuất hiện ngành nghề mới sẽ tạo cơ hội thu hút thêm nhiều laođộng Bên cạnh đó, những ngành nghề bị thu hẹp sản xuất buộc phải sa thải NLĐ, từ

đó một bộ phận NLĐ bị thất nghiệp Khi đó, NLĐ bị thất nghiệp muốn tham gia vàothị trường lao động trong những ngành nghề mới đòi hỏi phải được đào tạo lại nhằmđáp ứng yêu cầu công việc mới Trong thời gian đó, họ trở thành người thất nghiệp cơcấu

 Do ý muốn chủ quan của NLĐ không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểm

làm việc, không bằng lòng với vị trí hiện có hoặc mức lương được chi trả, không còn

đủ sức khỏe để đảm đương công việc đang làm… Họ phải tìm kiếm công việc mới,phù hợp hơn nhằm đáp ứng yêu cầu bản thân

1.2.2.4 Hậu quả thất nghiệp

Thất nghiệp là vấn đề xã hội mà bất cứ quốc gia nào, tại bất cứ thời điểm nàocũng phải trải qua và nó gây ra rất nhiều thiệt hại cho đời sống kinh tế - xã hội của mộtquốc gia Chính vì vậy, có thể thấy, thất nghiệp là một vấn đề vô cùng nan giải

Đối với bản thân người thất nghiệp

 Thất nghiệp gắn liền với sự mất mát thu nhập, người thất nghiệp dễ bị vướng phảitình trạng dưới mức sống tiêu chuẩn chung của xã hội, từ đó buộc họ phải xác lập một

Trang 13

quan hệ lao động mới, thường đi liền với điều kiện làm việc và điều kiện tài chính kémhơn việc làm trước đó

 Khi thất nghiệp kéo dài, hậu quả là họ sẽ mất đi khả năng nâng cao trình độ nghềnghiệp, đồng thời ngăn cản việc học nghề hay chuyển một nghề khác

Đối với nền kinh tế:

 Thất nghiệp gây lãng phí về nguồn nhân lực, khiến cho nền kinh tế hoạt độngkém hiệu quả, đình đốn và chậm phát triển

 Thất nghiệp làm năng suất lao động xã hội giảm, hiệu quả sử dụng lao động giảmtheo, từ đó dẫn đến khả năng sản xuất thực tế kém hơn mức tiềm năng

 Tình trạng thất nghiệp gia tăng kéo theo sự gia tăng của lạm phát, từ đó làm nềnkinh tế bị suy thoái, trì trệ, tốc độ phát triển cùng với khả năng phục hồi sẽ chậm lại

Đối với xã hội:

 Những người không có việc làm thường rơi vào tình trạng chán nản, tuyệt vọng,tổn thương cả về thể chất và tinh thần, dẫn đến ý thức chấp hành pháp luật bản thângiảm xuống, người thất nghiệp bị đẩy đến chỗ bất chấp kỷ cương, luật pháp và đạo đức

để kiếm kế sinh nhai

 Thất nghiệp góp phần gây nên thâm hụt ngân sách nhà nước do trợ cấp thấtnghiệp gia tăng trong khi nguồn thu từ thuế thì giảm và gia tăng các tệ nạn xã hội, từ

đó mà trách nhiệm xã hội tăng lên đáng kể

Đối với tình hình chính trị:

 Thất nghiệp làm cho tình hình chính trị trở nên bất ổn, rối loạn nếu không đượccan thiệp kịp thời Thất nghiệp gây ra các cuộc biểu tình, đình công, là cơ hội cho cácthế lực thù địch tiến hành các hoạt động chống phá nhà nước, chống phá Đảng cầmquyền

 Thất nghiệp làm cho NLĐ giảm niềm tin vào chế độ và khả năng lãnh đạo củaChính phủ cầm quyền

1.2.2 Sự cần thiết triển khai Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

Với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, thị trường lao động mới hình thành,phần đông lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn, làm việc trong nông nghiệp

Trang 14

với thời gian nông nhàn nhiều, do đó xu hướng người dân đổ xô ra khu vực thành thị làkhá phổ biến, dẫn đến thất nghiệp cao ở khu vực thành thị và thiếu việc làm ở khu vựcnông thôn

Hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp chung của Việt Nam khá thấp, dao động trong khoảng

từ 1.8% – 2.4% Hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn và thành thị đều có xuhướng giảm nhanh

Tuy nhiên, năm 2013, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm không thểcải thiện được thị trường lao động thế giới, tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam cũngtăng nhẹ, cùng với tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương cao hơn

BẢNG TỶ LỆ THẤT NGHIỆP CHUNG CỦA VIỆT NAM

Trang 15

số nhanh, nguyên nhân từ phía NLĐ hay do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàncầu, thất nghiệp xuất hiện chủ yếu còn do một số những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu thực tế.

Hiện nay, tỷ lệ cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp tại Việt Nam còn ở mức khá cao.Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội cùng Tổng cục Thống kêcông bố, trong quý IV-2013, cả nước có 900.000 người thất nghiệp, trong đó có tới

72.000 cử nhân, thạc sĩ. Rất nhiều sinh viên ra trường đã phải làm việc trái ngành nghề.

Trong khi đó, việc các doanh nghiệp phải đào tạo lại nhân lực là khá phổ biến Có thểthấy, các cử nhân, thạc sĩ hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm chomình một công việc phù hợp với nhu cầu và ngành nghề đào tạo của mình

Đối với những NLĐ đã tìm kiếm được việc làm cho mình thì hiện tượng nhảyviệc cũng xảy ra không hiếm Ngoài lý do tìm kiếm môi trường làm việc phù hợp, cơhội thăng tiến cao thì rất nhiều nhân viên quyết định bỏ việc và đi tìm một công việckhác là do thu nhập không đáp ứng được nhu cầu sống

Thứ hai, do chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. 

Để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, ngày càng có nhiều khu công nghiệp,khu đô thị mọc lên và đi kèm với đó là diện tích đất nông nghiệp ngày càng co lại.Thiếu kiến thức, thiếu chuyên môn trong khi ruộng đất canh tác lại bị thu hẹp khiếncho đời sống người nông dân gặp nhiều khó khăn, buộc họ phải di cư đến các thànhphố lớn, tìm kiếm việc làm mưu sinh Chính vì vậy, giải quyết việc làm cho người dân

bị thu hồi đất đã và đang là một vấn đề cần được các cấp chính quyền lưu tâm xem xét

Thứ ba, do tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số doanh nghiệp.

Tái cấu trúc được xem là phương án tiên quyết giúp các doanh nghiệp thoát khỏitình trạng nợ nần chồng chất trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn như hiện nay Tuynhiên, tái cơ cấu doanh nghiệp lại là một trong những nguyên nhân dẫn đến thấtnghiệp

Ví dụ như trường hợp của tập đoàn Mai Linh, khi mà những sai lầm trong chiếnlược kinh doanh và tái cấu trúc hoạt động đã đẩy tập đoàn vào tình trạng thua lỗ, nợ

800 nhà đầu tư lên đến 500 tỷ đồng Để có thể thanh toán khoản tiền này, tập đoàn Mai

Trang 16

Linh đã phải dự kiến bán 1.000 xe taxi nhằm thu về được 200 - 300 tỷ đồng Điều nàyđồng nghĩa với việc hơn 2.000 lao động sẽ có nguy cơ rơi vào tình trạng thất nghiệp.

Để có thể giải quyết và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của thất nghiệp lên nềnkinh tế và đời sống xã hội, Chính phủ ta cần có nhiều những giải pháp đồng bộ dài hơinhằm giảm bớt áp lực gia tăng thất nghiệp Trong đó, việc tăng cường năng lực hệthống an sinh xã hôi, xây dựng một chế độ bảo hiểm thích hợp cho NLĐ khi bị mấtviệc đang có nhiều khả thi và được nhiều nước trên thế giới áp dụng Tuy nhiên, việcban hành chế độ BHTN là cần thiết nhưng phải được nghiên cứu thấu đáo, cụ thể vàthận trọng trong tổ chức thực hiện

Ở nhiều nước, chế độ BHTN là chế độ ra đời muộn bởi phạm vi thất nghiệpkhông thể dự đoán được chính xác nên việc xác định tài chính bảo hiểm gặp phải nhiềukhó khăn Mặt khác, BHTN chỉ hữu ích trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế lớn với sựgia tăng của số người thất nghiệp Điều đó đồng nghĩa với việc quỹ BHTN sẽ giảmnhanh chóng do bội chi và như vậy tính chất bảo hiểm sẽ không còn nữa Bên cạnh đó,xây dựng và thực hiện BHTN rất cần lưu ý đến vấn đề quản lý bởi lẽ chúng ta khó biếtđược NLĐ có việc lại lúc nào để ngừng trợ cấp và hiện nay tiền lương không phải lànguồn thu nhập duy nhất của NLĐ Việt Nam

Vì những lý do trên mà việc thực hiện BHTN ở Việt Nam cần phải có sự chuẩn bịchu đáo, cần chọn đúng thời điểm thích hợp để thực hiện Việc tổ chức thực hiện chế

độ này phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan bảo hiểm và cơ quan lao động để nắmchắc số lượng người thất nghiệp, tình trạng thất nghiệp thật sự của NLĐ Trong quátrình thực hiện cần thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện những vướngmắc, bất cập để kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định mới Đây được xem là nhữngvấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của chế độ BHTN

Trang 17

PHẦN II: HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

2.1 Pháp luật về thực hiện chính sách hỗ trợ người thất nghiệp tại Việt Nam giai đoạn trước năm 2006

Thất nghiệp là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường và vấn đề đặt ra lànhà nước ta cần có những biện pháp hỗ trợ NLĐ khi bị mất việc và có giải pháp nhằmtạo điều kiện cho NLĐ tham gia hoặc có cơ hội quay trở lại thị trường lao động

Trong công cuộc tiến hành sự nghiệp đổi mới và mở cửa phát triển nền kinh tế thịtrường, để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ và hướng tới mục tiêu tiến bộ xã hội, nhà nước

ta đã ban hành Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 1994 quy định về bảo vệ quyền lợi choNLĐ được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc (Điều 42) và trợ cấp mất việc (Điều 17):

 Điều 17: Do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ làm cho NLĐ làm việc thường

xuyên trong các doanh nghiệp từ 1 năm trở lên bị mất việc thì NSDLĐ phải có tráchnhiệm đào tạo lại để họ có thể tiếp tục làm việc thì doanh nghiệp phải trợ cấp mất việclàm, mỗi năm làm việc trả một tháng lương, thấp nhất là hai tháng lương

 Điều 42: Trường hợp chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ đã làm việc thường xuyên

trong doanh nghiệp, cơ quan tổ chức từ một năm trở lên, NSDLĐ có trách nhiệm trợcấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương nếu có.Những chính sách và biện pháp trên bước đầu đã góp phần quan trọng trong việcnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ tìmkiếm hoặc tạo việc làm mới, giúp họ hòa nhập trở lại thị trường lao động Tuy nhiêntrong thực tế vẫn còn một số lượng khá lớn NLĐ sau khi thôi việc vẫn không tìm đượcviệc làm, và do đó đã tạo ra một áp lực lớn cho xã hội

Do vậy, một trong những sửa đổi, bổ sung quan trọng trong BLLĐ năm 2002 làviệc quy định về chế độ BHTN tại điều 140 - Luật số 35/2002-QH10 của Quốc hội:

“Nhà nước quy định chính sách bảo hiểm xã hội nhằm từng bước mở rộng và

nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc, phục hồi sức khỏe, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp người lao động ốm đau,

Trang 18

thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác”

“Chính phủ quy định cụ thể việc đào tạo lại đối với người lao động thất nghiệp,

tỷ lệ đóng bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện và mức trợ cấp thất nghiệp, việc thành lập quản lý và sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp”.

Đây là một quy định rất chính xác và kịp thời, bởi BHTN là một loại hình bảohiểm chuyên biệt dành cho những NLĐ thôi việc hoặc mất việc theo quy định phápluật đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng có hiệu quả

Ở nước ta, từ khi BHTN ra đời đã tạo thêm một lưới an sinh nhằm hỗ trợ choNLĐ khi bị mất việc có thể vượt qua khó khăn và có cơ hội tìm được việc làm mới.Hơn nữa, NLĐ đủ điều kiện luật định khi bị mất việc có được hưởng chế độ trợ cấpthất nghiệp, hưởng bảo hiểm y tế khi bị ốm đau và trong thời gian đó còn được hỗ trợhọc nghề, tìm kiếm việc làm Do vậy, BHTN góp phần bảo vệ quyền lợi cho NLĐ,đảm bảo công bằng xã hội và phát triển xã hội cân bằng

2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam từ sau năm 2006

Nhận thức rõ về tác hại về tình trạng thất nghiệp và những nhược điểm của nhữngchính sách đã thực thi, Đảng và nhà nước ta đă ban hành chính sách riêng về BHTN.Chính sách BHTN ở nước ta có hiệu lực từ 01/01/2009 Hệ thống văn bản thực hiệnchính sách BHXH có những căn cứ và tiến trình bổ sung sửa đổi như sau:

(1) Luật BHXH: Luật số 71/2006/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/6/2006, trong đó có quy định chế độ BHTN, chế độbảo hiểm này có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/01/2009, theo đó chế độ BHTN đượcchỉ ra với những nội dụng cơ bản như sau:

Về đối tượng tham gia BHTN:

Do đây là một chế độ bảo hiểm mới, khá phức tạp, khó quản lý nên thời gian đầutriển khai thực hiện, diện NLĐ được tham gia BHTN còn khá hạn chế Theo quy định

của Luật BHXH, “Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt

Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này

Trang 19

không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng” (khoản 3 Điều 2) và “Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

là người sử dụng lao động quy định tại khoản 2 Điều này có sử dụng từ mười lao động trở lên” (khoản 4 Điều 2) với khoản 2 Điều 2 là “Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động”.

Về điều kiện hưởng BHTN:

Điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp phức tạp hơn nhiều so với các chế độBHXH khác vì ở nước ta ranh giới để phân định giữa có việc làm và không có việclàm, giữa có thu nhập và không có thu nhập là không rõ ràng Do đó, để được hưởngtrợ cấp thất nghiệp NLĐ phải có một quá trình làm việc nhất định và tham gia đóngBHTN trong một thời gian tối thiểu Việc quy định này, nhằm đảm bảo cho quỹ có đủđiều kiện để chi trả trợ cấp Theo đó, Luật BHXH quy định điều kiện hưởng chế độ trợ

cấp thất nghiệp là NLĐ đã “Đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội"; “Chưa

tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp” đồng thời “Đã có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trong vòng 24 tháng trước khi thất nghiệp” (khoản 1, 2, 3 Điều 81), quy định này là khá phù hợp với điều kiện tài chính

của quỹ BHTN trong thời gian đầu thực hiện

Về nguồn hình thành quỹ BHTN

Việc hình thành quỹ BHTN của các quốc gia đều tập trung vào ba đối tượng làNLĐ, NSDLĐ và Nhà nước Sự đóng góp này tạo ra sự ràng buộc giữa nghĩa vụ, tráchnhiệm và quyền lợi của các bên tham gia Quỹ phải được thực hiện trên nguyên tắchạch toán độc lập và tự chủ, được bảo toàn về giá trị và tránh những rủi ro về tài chính

Về mức đóng góp phải đảm bảo nguyên tắc không làm ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tiêudùng và cuộc sống trước mắt của NLĐ, không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và

Trang 20

hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp Do đó, Luật BHXH đã

quy định “Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm

thất nghiệp”, “Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp”

và “Nhà nước hỗ trợ hàng tháng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo

hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, ngoài ra quỹ còn có thể có các nguồn thu khác” (khoản 1, 2, 3 Điều 102 của Luật).

Về mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp

Mức hưởng có quan hệ mật thiết với mức đóng để đảm bảo khả năng duy trì quỹ,tránh tình trạng quỹ mất khả năng chi trả Ngoài ra, mức hưởng và thời gian hưởngcũng phải phù hợp để không gây ra hiện tượng ỷ lại vào trợ cấp, không muốn quay trởlại làm việc Thông thường mức hưởng phụ thuộc vào mức tiền lương làm căn cứ đóngBHTN Các nước thường quy định thời gian hưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào thờigian tham gia BHTN; mức độ khó dễ tìm việc làm của người thất nghiệp Vì đây là

một chế độ bảo hiểm phức tạp, nên Luật BHXH đã quy định: “Mức trợ cấp thất nghiệp

hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp” (khoản 1 Điều 82 của Luật) và thời

gian hưởng trợ cấp cũng phụ thuộc vào thời gian tham gia đóng BHTN nhưng tối đakhông quá 12 tháng Đây là một quy định phù hợp để tránh gánh nặng cho quỹ trongthời gian đầu triển khai thực hiện

(2) Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008: Quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHTN

Về quản lý nhà nước về BHTN: Theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số

127/2008/NĐ-CP thì:

“Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, chỉ đạo xây dựng, ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách về bảo hiểm thất nghiệp”

“Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực

hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp”, bao gồm chủ trì, phối hợp với các Bộ,

Trang 21

ngành, cơ quan, tổ chức nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật vềBHTN; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tuyên truyền, phổ biến chế độ,chính sách; thực hiện công tác thống kê; hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra việc thực hiệncác quy định; giải quyết khiếu nại, tố cáo về BHTN; thực hiện chức năng thanh trachuyên ngành và thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHTN theo quy định củapháp luật.

“Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền

hạn thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp”, bao gồm xây dựng pháp

luật, chính sách liên quan đến BHTN; theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chínhsách, pháp luật về BHTN thuộc thẩm quyền; thực hiện báo cáo với cơ quan có thẩmquyền trong phạm vi, quyền hạn quản lý nhà nước về BHTN

“Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp trong phạm vi địa phương Sở Lao động - Thương binh

và Xã hội chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp”, bao gồm tổ

chức dạy nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ hưởng trợ cấp thất nghiệp trên địabàn; theo dõi, kiểm tra thực hiện pháp luật về BHTN; chủ trì hoặc phối hợp kiểm tra,thanh tra việc thực hiện chế độ, chính sách; kiến nghị các Bộ, ngành có liên quan giảiquyết những vấn đề về BHTN thuộc thẩm quyền cũng như hàng năm báo cáo tình hìnhthực hiện pháp luật về BHTN theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội

Về quyền lợi của NLĐ: Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định thì quyền lợi của

NLĐ bao gồm những khoản sau:

1 Được xác nhận đầy đủ về đóng BHTN trong sổ BHXH

2 Được nhận lại sổ BHXH khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ/HĐLV

3 Được hưởng đầy đủ, kịp thời chế độ BHTN quy định

4 Yêu cầu NSDLĐ cung cấp thông tin về việc đóng BHTN; yêu cầu cơ quan laođộng, tổ chức BHXH cung cấp thông tin liên quan đến BHTN

Ngày đăng: 28/03/2023, 16:07

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w