Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu 2
I Tổng quan về nợ công và quản lý nợ công 4
1 Nợ công 4
1.1 Khái niệm 4
2.1 Phân loại 4
2 Quản lý nợ công 5
2.1 Sự cần thiết quản lý nợ công 5
2.2 Quản lý nợ công ở Việt Nam 6
II Quản lý nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005-2011 9
1 Tình hình nợ công 9
1.1 Quy mô nợ công 9
1.2 Cơ cấu nợ công 10
1.3 Tình hình sử dụng nợ công 12
1.4 Tình hình trả nợ công 14
2 Công tác quản lý nợ công 15
2.1 Một số nét khái quát về quản lý nợ công trong thời gian qua 15
2.2 Những chính sách quản lý đã và đang áp dụng 16
3 Hiệu quả quản lý nợ công 18
3.1 Về tính ổn định của nợ công 19
3.2 Tính công bằng về gánh nặng nợ liên thế hệ 20
III Giải pháp cho vấn đề quản lý nợ công 22
Kết luận 26
Tài liệu tham khảo 27
Trang 3Danh mục các chữ viết tắt
WB – World Bank – Ngân hàng Thế giới
IMF – International Moneytary Fund – Quỹ tiền tệ Quốc tế
ODA - Official Development Assistance – Hỗ trợ phát triển chính thức
GDP - Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR - Incremental Capital - Output Rate – Hệ số sử dụng vốn
DBR – Tỉ lệ Thu ngân sách Nhà nước
HIPCs - Heavily Indebted Poor Countries
Trang 4Lời mở đầu
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng với quy mô ngàycàng lớn trong tất cả mọi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội đòi hỏi các quốc gia cần phảinhanh chóng và thức thời trong chính sách của mình nhằm tránh khỏi tình trạng lạchậu so với Thế giới Để phát triển kinh tế, các quốc gia cần có nguồn lực mà vốn làyếu tố cực kì quan trọng đặc biệt là đối với những nước đang và kém phát triển Ởnước ta, nguồn thu chủ yếu là từ thuế, phí và lệ phí; muốn mở rộng phát triển thì phảitiết kiệm Tuy nhiên tỷ lệ tiết kiệm của nước ta lại thấp, sản xuất chưa phát triển và đạthiệu quả cao, chi còn nhiều hơn thu nên vấn đề thiếu vốn và thâm hụt ngân sách làthường xuyên Để giải quyết vấn đề này thì chính phủ và các doanh nghiệp phải đi vaydưới nhiều hình thức khác nhau: vay từ các doanh nghiệp, vay cá nhân, các tổ chứctrong và ngoài nước Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng sử dụng vốn vay cũng chính làtạo cho mình một khoản nợ đáng kể Chính vì vậy chúng ta cần phải hiểu rõ việc sửdụng nợ công rất cần có một chiến lược cụ thể, hợp lý và có chính sách quản lý nợcông cho hợp lý và hiệu quả để tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ
Xác định được vấn đề vay nợ và quản lý nợ công là rất quan trọng trong tiếntrình phát triển của một quốc gia cụ thể là Việt Nam, chúng em đã chọn đề tài:“Thựctrạng và giải pháp cho công tác quản lý nợ công của Việt Nam trong giai đoạn 2005-2011” ( mốc giai đoạn đánh dấu luật đầu tư ra đời, mở rộng các cơ chế thu hút đầu tư
vốn nước ngoài vào Việt Nam) để nghiên cứu Bài tiểu luận gồm 3 phần chính như sau: Tổng quan về nợ công và quản lý nợ công; Thực trạng quản lý nợ công ở Việt
Nam giai đoạn 2005-201; Giải pháp cho công tác quản lý nợ ở Việt Nam Về lí luận,bài viết nhằm cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản về nợ công Về thựctiễn, bài viết nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả công tác quản lý nợ ở Việt Nam từ đó đề
ra những giải pháp hợp lý cho công tác quản lý nợ để tiến tới mục tiêu phát triển bềnvững
Do thời gian nghiên cứu và hiểu biết còn nhiều hạn chế, bài viết không tránhkhỏi những sai sót Rất mong cô và các bạn đọc và đưa những ý kiến đóng góp đểchúng em hoàn thiện, hơn hết là có thể sửa chữa trong các bài lần sau Chúng em xincảm ơn!
Trang 5I Tổng quan về nợ công và quản lý nợ công
1 Nợ công
1.1 Khái niệm
Nợ công theo WB định nghĩa là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộcmọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay bao gồm (1) nợ của Chính phủ trungương và các Bộ, ban, ngành trung ương; (2) nợ của các cấp chính quyền địa phương;(3) nợ của Ngân hàng trung ương; và (4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sởhữu trên 50% vốn, hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chínhphủ hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ
Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm:
- Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam
- Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ,
tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài18 Như vậy, theo pháp luậtViệt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà làtoàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước
Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cáncân thanh toán quốc tế Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằmđảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếubằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác
Căn cứ theo cách phân chia của IMF: nợ công bao gồm nợ của khu vực công
và khu vực phi tài chính công
- Khu vực tài chính công: các tổ chức tiền tệ (ngân hàng Trung ương, các tổ chức tíndụng nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng không cho vay màmang mục đích hỗ trợ phát triển)
- Khu vực phi tài chính công: chính phủ, thành phố, các tổ chức chính quyền địaphương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà nước
Trang 6Theo luật quản lý nợ của Việt Nam có hiệu lực vào ngày 1/1/2010 thì nợ công bao gồm:
- Nợ chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài của chính phủ vàcác đại lý của chính phủ, các tỉnh, thành phố, các tổ chức chính trị thuộc chính phủ vàdoanh nghiệp nhà nước
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tíndụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền pháthành
2 Quản lý nợ công
2.1 Sự cần thiết quản lý nợ công
Danh mục nợ của Chính phủ thường rất lớn và phức tạp, do đó có thể tạo ra rủi
ro lớn đối với cán cân thanh toán và từ đó ảnh hưởng đến tình trạng ổn định tài chínhcủa quốc gia cũng như mức ổn định của kinh tế toàn cầu Nếu như các Chính phủ cấutrúc được các khoản nợ một cách hợp lý thì sẽ giúp giảm thiểu các rủi ro, việc giảmthiểu các rủi ro từ cấu trúc nợ thông qua đưa ra danh mục nợ có liên quan tới cấu phầncác loại tiền, cấu trúc lãi suất, cấu trúc thời hạn, cấu trúc nợ công trong nước và nướcngoài nhằm đạt được danh mục nợ tốt nhất cho tương lai Để ngăn chặn lây lan sự bất
ổn định kinh tế đòi hỏi quản lý nợ công một cách hợp lý và hiệu quả
Mỗi chính phủ khi lựa chọn chính sách kinh tế vĩ mô đều quan tâm đến khả năngchịu đựng rủi ro của khu vực công, các khoản nợ có lãi suất thả nổi và những khoản nợnước ngoài ngày càng chịu sự phức tạp của lãi suất và tỷ giá Chính vì điều này đòi hỏiphải có chính sách quản lý nợ công thận trọng giúp giảm thiểu những cuộc khủnghoảng tài chính – tiền tệ bắt nguồn từ quản lý nợ công yếu kém
Cần phải có sự phối hợp với các nhà hoạch định chính sách tài chính và chínhsách tiền tệ để chia sẻ các mục tiêu về quản lý nợ công Khi tài khóa bị thâm hụt buộcChính phủ phải vay nợ ngoài những giải pháp mang tính nội tại trong điều kiện kinh tếnhư tăng thu, giảm chi hoặc phát hành tiền Nhưng khi quyết định vay nợ bao nhiêu đểđảm bảo nhu cầu của Chính phủ cũng như vay nợ phải với chi phí thấp đồng thời giảmthiểu được rủi ro Nhưng khi sử dụng vay nợ thông qua các công cụ như phát hành tráiphiếu sẽ ảnh hưởng đến lãi suất và cung cầu tiền trên thị trường Do đó cần phải gắn
Trang 7kết với nhà hoạch định chính sách tiền tệ để đảm bảo không ảnh hưởng đến mục tiêucủa chính sách tiền tệ mà vẫn đảm bảo nhu cầu của Chính phủ với chi phí thấp và ít rủiro.
Nợ công liên tục tăng cao sẽ dẫn đến hệ lụy gì? Nếu nợ công tăng cao mà không
có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ Hệ lụy của nợ công,nếu không trả được sẽ dẫn đến lệ thuộc nước ngoài, lệ thuộc các quốc gia hay những tổchức tài chính nào đó, bởi mình không có quyền kiểm soát mà phải nghe theo họ.Thậm chí phải chấp nhận những việc mà bình thường một quốc gia không thể chấpnhận được
2.2 Quản lý nợ công ở Việt Nam
Mục tiêu quản lý
Đảm bảo đáp ứng được nhu cầu tài chính và thanh toán của Chính phủ và cácthành phần kinh tế của khu vực công với chi phí thấp nhất phù hợp với mức độ rủi ro
có thể chấp nhận được trong trung và dài hạn đồng thời đảm bảo quản lý, phân bổ và
sử dụng vốn vay có hiệu quả, đồng thời tạo điểu kiện thuận lợi cho phát triển thịtrường trái phiếu Chính phủ trong nước, tăng cường tiếp cận, chủ động tham gia thịtrường vốn quốc tế
Khuôn khổ pháp luật
Luật Quản lý nợ công của Việt Nam (Luật số 29/2009/QH 12) có hiệu lực từngày 1/1/2010 đã chính thức được thực hiện Luật Quản lý nợ công xác định rõ cáchình thức nợ công; nội dung quản lý nhà nước về nợ công; nguyên tắc quản lý nợ côngcũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong quản lý nợ công Ngoài ra còn cócác văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện như nghị định số 79/2010/NĐ-CP ngày14/7/2010, thông tư số 56/2011/TT-BTC ngày 29/4/2011
Nguyên tắc quản lý
Điều 5 Luật Quản lý nợ công nêu rõ:
Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công, từ việchuy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ
Bảo đảm an toàn nợ trong giới hạn được cấp có thẩmquyền phê duyệt, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và cân đối vĩ mô nền kinh tế
Bảo đảm hiệu quả trong việc vay vốn và sử dụng vốn vay;không vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn Vốn vay thương mại nước ngoài chỉ sử dụng
Trang 8cho các chương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và bảo đảm khả năng trả
nợ
Người vay chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả
nợ đối với khoản vay
Thực hiện công khai, minh bạch trong việc huy động, phân
bổ, sử dụng vốn vay, trả nợ và quản lý nợ công Chương trình, dự án sử dụng vốn vaycủa Chính phủ, chính quyền địa phương phải được kiểm toán bởi Kiểm toán nhà nướchoặc kiểm toán độc lập
Mọi nghĩa vụ nợ của Chính phủ được đối xử bình đẳng
Công cụ quản lý nợ công
Theo nghị định số 79/2010/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý nợ công, Chính phủthống nhất quản lý toàn diện nợ công thông qua các công cụ sau:
Chiến lược dài hạn về nợ công bao gồm các nội dung:Đánh giá thực trạng nợ công và công tác quản lý nợ công trong giai đoạn thực hiệnChiến lược trước đó; xây dựng mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay vàquản lý nợ công; đưa ra các giải pháp, chính sách quản lý đảm bảo huy động vốn, sửdụng vốn có hiệu quả và an ninh tài chính và tổ chức thực hiện chiến lược
Chương trình quản lý nợ trung hạn bao gồm các mục tiêu,nhiệm vụ và giải pháp về huy động, sử dụng vốn vay, trả nợ và cơ chế, chính sách, tổchức quản lý nợ trong giai đoạn 3 năm liền kề để thực hiện các chỉ tiêu an toàn về nợ
đã được Quốc hội xác định trong mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay vàquản lý nợ công
Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủbao gồm: Kế hoạch vay trong nước: bao gồm kế hoạch huy động vốn cho ngân sáchnhà nước và kế hoạch huy động vốn cho đầu tư phát triển; kế hoạch vay nước ngoài:được thực hiện thông qua các hình thức huy động, gồm vay ODA, vay ưu đãi, vaythương mại và được chi tiết theo chủ nợ nước ngoài; kế hoạch trả nợ: được chi tiếttheo chủ nợ, có phân định trả nợ gốc và trả nợ lãi; trả nợ trong nước và trả nợ nướcngoài
Các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công ( theo nghị định
số 56 /2011/TT-BTC của bộ tài chính) bao gồm:
Trang 9Nợ công/ GDP(%): Chỉ số này phản ánh quy mô nợ công so với thu nhập của toàn
bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm
Nợ Chính phủ so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ Chính phủ so với thunhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm (50%)
Nợ vay thương mại nước ngoài của Chính phủ so với GDP: Chỉ số này phản ánhquy mô nợ vay thương mại nước ngoài Chính phủ so với thu nhập của toàn bộ nềnkinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm
Nợ được Chính phủ bảo lãnh so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ đượcChính phủ bảo lãnh so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm31/12 hàng năm
Nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước: Tỷ lệ này xácđịnh quy mô của nghĩa vụ nợ dự phòng phát sinh từ khoản vay, phát hành trái phiếuđược Chính phủ bảo lãnh so với nguồn thu ngân sách nhà nước và được tính tại thờiđiểm 31/12 hàng năm
Nợ chính quyền địa phương so với GDP:Chỉ số này phản ánh quy mô nợ của tất cảChính quyền địa phương so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thờiđiểm 31/12 hàng năm
Tuy nhiên, để đánh giá tính bền vững của nợ công, tiêu chí tỷ lệ nợ công/GDPđược coi là chỉ số đánh giá phổ biến nhất Để bảo đảm an toàn của nợ công, các nướcthường sử dụng các tiêu chí sau làm giới hạn vay và trả nợ: (i) Giới hạn nợ công khôngvượt quá 50% - 60% GDP hoặc không vượt quá 150% kim ngạch xuất khẩu; (ii) Dịch
vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và không vượt quá 10% chingân sách Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp lý với trường hợp cácnước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP
Trang 10I Quản lý nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005-2011
1 Tình hình nợ công
1.1 Quy mô nợ công
Từ năm 2005 tới nay, nợ công của Việt Nam liên tục tăng về giá trị tuyệt đối, mức
nợ bình quân đầu người và tỷ lệ nợ công trên GDP
Hình 1: Tình hình nợ công của Việt Nam 2005-2010
nợ công của Việt Nam chỉ là 23.2 tỉ USD, chiếm 44.5% GDP thì năm 2010, nợ công
đã tăng lên là 55.2 tỉ USD, chiếm 56.6% GDP Mặc dù tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong tầmkiểm soát nhưng nó quá cao so với mức phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển (từ30-40%) và với thực trạng nợ công của một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc(17,4%), Indonesia (26,5%) Với mức nợ như vậy, trung bình mỗi người Việt Namđang gánh 580.91 USD nợ công và hiện tại, Việt Nam đang được xếp vào nhóm nước
có mức nợ công trên trung bình
Như vậy, chỉ trong vòng 5 năm, nợ công của Việt Nam đã tăng lên gần 2.5 lần
và Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại thuộc Bộ Tài chính dự kiến trong năm 2011,
nợ công bao gồm cả vay nước ngoài lẫn trong nước sẽ lên đến mức 1.375 tỉ đồng,tương đương 58,7% GDP Với đà này thì trong vòng tám năm nữa, nợ công của ViệtNam sẽ lên 100% GDP, theo cách tính của chúng ta, nếu tính theo WB và IMF sẽ còncao hơn nữa Nợ công tăng cao, vượt quá 100% GDP sẽ là một mối lo ngại lớn, tiềm
ẩn nguy cơ vỡ nợ dẫn đến khủng hoảng nợ công, như một số nước Hy Lạp: 123%GDP; Ailen:142% GDP
Bảng 1: Thống kê tỷ lệ nợ công / GDP của một số nước châu Á năm 2010
Trang 11( Theo The Economist)
Nợ công của Việt Nam tăng nhanh trong giai đoạn này là vì sao? Trả lời phỏngvấn tờ Thanh Niên đầu tháng 10 vừa qua, tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiêncứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright, giải thích rằng nguyên nhân khiến
tỷ lệ nợ công ngày càng tăng là do “tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trungbình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45% Tỷ lệ đầu tư lớn,
tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ”
(trên 5% GDP) khiến chính phủ phải đi vay nợ”
Bên cạnh đó, có một vấn đề cũng rất đáng lưu tâm, đó là thực trạng có nhữngđánh giá và những con số khác nhau về thực trạng nợ công của Việt Nam hiện nay.Trảlời câu hỏi này, ông Hoàng Hải, phó cục trưởng cục Quản Lý nợ và Tài chính đốingoại (Bộ tài chính), nói “Tính đến 31/12/2009, nợ công so với GDP của Việt Nam là52,6%, trong đó nợ Chính phủ/GDP là 41,9%, nợ Chính phủ bảo lãnh/GDP là 9,8%.Con số 52,6% nợ công tại thời điểm cuối năm 2009 là chưa có quy định của Thủ tướng
về nợ công bởi Luật Quản lý nợ công có hiệu lực từ 1/1/2010 Như vậy, dù nó vượtquá 50% GDP nhưng vì khi đó chúng ta chưa có ngưỡng an toàn nên cũng khó có thểnói mức dư nợ đó có an toàn hay không” Tuy nhiên, cho dù hiện nay, khi Luật quản lý
nợ công đã ban hành, và thực tế, nợ công của Việt nam so với GDP đã là 56.6%(2010) thì chính phủ vẫn công bố nợ công của Việt Nam vẫn ở ngưỡng an toàn Nhưvậy, ngưỡng an toàn của nợ công thực tế cũng là một tiêu chí rất khó xác định, và cácchuyên gia thì vẫn cứ lo ngại cho tình trạng trả nợ công của nước ta
1.2 Cơ cấu nợ công
1.2.1 Theo đối tượng nợ
Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam 2009, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợđược Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Với cách tính này, nợ Chínhphủ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ công của Việt Nam Tỷ lệ nợ công năm 2009Việt Nam là 52,6%/GDP, nợ Chính phủ là 41,9%, nợ Chính phủ bảo lãnh là 9,8%, nợchính quyền địa phương là 0,8% Con số tương tự của năm 2010 lần lượt là 56,6%,44,3%, 11,36% và 0,94%
Trang 121.2.2 Theo nguồn vay
Nguồn cung cấp nợ nước ngoài chủ yếu của Việt Nam là các khoản vay ODA.Theo danh mục nợ công năm 2009 của Bộ Tài chính, 60,3% nợ công là ODA và29,8% được tài trợ từ trái phiếu trong nước Các điều khoản ưu đãi của ODA đã giúpViệt Nam giảm bớt được áp lực nợ công; tuy nhiên, tỷ trọng nợ nước ngoài cao tăngnguy cơ rủi ro về cơ cấu nợ trong tương lai Kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng nợtrong lịch sử cho thấy, khi tỷ trọng nợ nước ngoài quá cao, Chính phủ mất đi tính chủđộng khi ứng phó với các biến động kinh tế thế giới và khó kiểm soát các món nợ vayphụ thuộc vào tỷ giá hối đoái và tâm lý của nhà đầu tư quốc tế
1.2.3 Về cơ cấu lãi suất
Các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa số đều có lãi suất thấp, trong đóchủ yếu là ở mức 1% - 2,99% Tuy nhiên so với các năm trước, năm 2010, các khoảnvay của Việt Nam có lãi suất cao hơn và khoản vay với lãi suất thả nổi đang ngày càngtăng lên, gây thêm áp lực nợ cho Chính phủ Trong 25,097 tỷ USD tổng nợ nước ngoàicủa Chính phủ, có 19,313 tỷ USD có lãi suất từ 1 - 2,99%; trên 1,678 tỷ USD chịu lãisuất từ 3 - 5,99% (tăng 176 triệu USD so với 2009) và có tới 1,888 tỷ USD ở mức lãisuất 6- 10%, tăng hơn gấp đôi so với 2009 Ngoài ra, các khoản vay với lãi suất thả nổicũng tăng 6,66 triệu USD so với 2009 Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại,lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006lên 1,9%/năm trong năm 2009 và năm 2010 đạt tới 2,1%/năm Với thực trạng này, rõràng chi phí trả lãi đang trở thành gánh nặng ngày càng gia tăng của Chính phủ
1.3 Tình hình sử dụng nợ công
1.3.1 Tích cực
Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính NguyễnThành Đô khẳng định trên báo Hải quan online ngày 22/10/2011 “ Việt Nam chỉ vaycho đầu tư phát triển, không vay cho chi tiêu thường xuyên; nợ công đang ở trong giớihạn an toàn và không có tình trạng nợ quá hạn hay không trả được nợ…”
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, nợ công đã đáp ứng được nhu cầu bổ sung vốncho đầu tư phát triển và cân đối ngân sách Nhà nước với số vốn vay Chính phủ chiếmkhoảng 17% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đã bù đắp bội chi NSNN khoảng 5%
1.3.2 Hạn chế
Trang 13Vấn đề nợ công của Việt Nam, bao gồm cả nợ vay nước ngoài lẫn nợ vay trongnước, cần được xem xét đầy đủ trong mối quan hệ mật thiết với đầu tư công Nợ công
sẽ không quá nặng nề khi đầu tư công được cắt giảm hợp lý và có hiệu quả Một sốliệu do Bộ Tài chính công bố cho thấy rằng trên 70% nguồn vốn ODA được sử dụngcho đầu tư công và cung ứng vốn thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh của các tậpđoàn kinh tế nhà nước Điều đáng tiếc là khu vực kinh tế nhà nước làm ăn thườngkhông hiệu quả Các số liệu thống kê chính thức cho biết rằng khu vực kinh tế nhànước chiếm 70% tổng vốn đầu tư quốc gia nhưng chỉ đóng góp khoảng 30% vào tổngsản lượng quốc gia Điều đó có nghĩa là các khu vực tư và khu vực đầu tư nước ngoàichỉ sử dụng 30% vốn đầu tư quốc gia nhưng lại đóng góp đến 70% tổng sản lượng.Hiệu quả sử dụng nguồn vốn của khu vực kinh tế nhà nước như vậy là bốn lần kémhơn các khu vực kinh tế khác, năng suất lao động kém hơn và thu nhập lao động bìnhquân cũng thấp hơn, trong khi khu vực này ngoài những ưu đãi mang tính chính sách
về nguồn vốn, về lãi suất còn được hưởng các đặc quyền, các ưu thế kinh tế vượt trội
mà các khu vực khác không có
Trên thực tế, tình hình sử dụng nợ công ở nước ta hiện nay vẫn còn rất nhiềubất cập
Thứ nhất, tình trạng lãng phí trong việc sử dụng đồng tiền vay nợ của đầu tư
công càng ngày càng đáng báo động Nguồn vốn vay thường được đầu tư dàn trải chonhiều ngành, nhiều địa phương theo sự đòi hỏi không bao giờ đủ của họ trở nên mỏng
và thiếu, dẫn đến tình trạng phổ biến ở mọi ngành, mọi nơi là đầu tư dở dang, kéo dài,
dự án đầu tư chậm đưa vào hoạt động, chi phí đầu tư ngày càng tăng
Nếu tính cho tất cả các dự án đầu tư công trên cả nước, số thiệt hại và lãng phí
về thời gian, tiền bạc sẽ là một con số khó tưởng tượng Đó là chưa kể đến hiện tượngtham nhũng đã xà xẻo nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn ODA ở cả hai đầu: từphía người đi vay lẫn người cho vay
Thứ hai, tình hình sử dụng vốn đầu tư nói chung của Việt Nam thấp, thể hiện
qua chỉ số ICOR:
Trang 14Hình 4: Chỉ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010
Từ 2009-2010 có dấu hiệu tốt hơn khi Icor giảm Nhưng nhìn chung chỉ số Icor củaViệt Nam qua các năm là rất cao so với các nước đang phát triển trong khu vực nhưnăm 2009 Icor của Việt Nam là 8 trong khi Thái lan chỉ có 5 Điều đáng nói ở đây làkhu vực đầu tư công, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước, thành phần chủ đạo củanền kinh tế, thì hệ số ICOR lại cao vọt Nếu hệ số ICOR chung của nền kinh tế là 8,
ICOR của khu vực kinh tế Nhà nước lên tới 12 (Nguồn: Ủy ban Tài chính và Ngân sách Quốc hội)
Tình hình đầu tư không hiệu quả một phần có nguyên nhân khách quan từ kinh
tế toàn cầu càng ngày càng cạnh tranh gay gắt nhưng có nguyên nhân chủ qua rất lớn
là nạn tham nhũng và rút ruột các công trình đặc biệt là các công trình đầu tư từ nợcông Hiện tượng rút ruột khiến cho các công trình chất lượng kém, không đảm bảoyêu cầu, tiếp theo là sửa chữa, phá ra làm lại, một công trình rút ruột ba, bốn lần Theobáo cáo của Quốc hội, công trình nào cũng bị rút ruột 5, 10, 20%, thậm chí đến 30%
Nợ công được sử dụng vào những việc có ích, nhưng hiệu quả rất thấp Chẳng hạn,việc xây dựng đường xá giúp cho việc thông thương hàng hóa, đời sống kinh tế, xã hộihai bên con đường đó phát triển Nhưng hiệu quả không xứng với đồng tiền bỏ ra vàchỉ hiệu quả tức thời Ví như con đường người ta làm chạy được 20-30 năm thì mìnhlàm chỉ chạy được 3-4 năm đã phải đào lên sửa chữa Thêm vào đó là tình trạng dự án,công trình thi công dở dang, chuyển tiếp, kéo dài, chậm tiến độ vẫn không được khắc