1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài tốt nghiệp môi trường quy hoạch môi trường làng nghề dương liễu

33 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Hoạch Môi Trường Làng Nghề Dương Liễu
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Quy Hoạch Môi Trường
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 8,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1) Vị trí địa lý (2)
  • 2) Địa hình (3)
  • 3) Khí hậu (3)
  • 4) Thuỷ văn (3)
  • 5) Đất đai (4)
  • II. Điều kiện kinh tế xã hội (4)
  • III. Phương pháp nghiên cứu (5)
    • 2. Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu (7)
  • IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (7)
    • 1. Hiện trạng sản xuất tại làng nghề (7)
    • 2. Hiện trạng môi trường làng nghề (11)
    • 3. Hiện trạng quản lý và quy hoạch làng nghề (15)
  • V: ĐỀ XUẤT QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ (19)
    • 1. Quy hoạch đối với một hộ sản xuất (19)
    • 4. Cấp nước (25)
    • 5. Quy hoạch quản lý môi trường làng nghề (25)
  • VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (27)
  • Kết luận (27)
  • Tài liệu tham khảo (28)

Nội dung

Lý do tôi chọn đề tài này vì rất nhiều vấn đề hiện đang được dư luậnquan tâm, đó là:  Sự suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng môi trường làng nghề  Chưa có hình thức xử lý nước thải, bã t

Vị trí địa lý

Xã Dương Liễu nằm ở phái Tây

Bắc huyện Hoài Đức, cách thủ đô Hà

- Phía Đông giáp xã Đức Thượng.

- Phía Tây giáp huyện Đức Thọ.

- Phía Bắc giáp xã Minh Khai

Tổng diện tích đất tự nhiên 410,54 ha với dân số 11.667 người; mật độ phân bố bình quân 2845 người/km²

Toàn xã chia làm 14 xóm bao gồm

(miền làng : 10 xóm và miền bãi : 4 xóm )

Địa hình

Vùng đất có địa hình tương đối bằng phẳng, chia thành hai miền rõ ràng: miền làng và miền bãi, nhờ đê chắn chia cắt Điều kiện tự nhiên này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông, mở rộng sản xuất và thúc đẩy giao lưu hàng hóa Ngoài ra, vùng còn nổi bật với tiềm năng phát triển các ngành nghề, chăn nuôi gia súc, đa dạng hóa cây trồng ở miền bãi và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN).

Khí hậu

Chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng Bắc bộ, Một năm có 2 mùa rõ rệt:

- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9.

- Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Nhiệt độ trung bình hàng năm 22.5°C, độ ẩm tương đối cao Lượng mưa trung bình 1800 đến 1900 mm, số giờ nắng trung bình : 1567 giờ/năm.

Thuỷ văn

Nguồn nước mặt tại khu vực này khá phong phú, chủ yếu được cung cấp bởi sông Hồng thông qua hệ thống kênh thủy lợi Đan Hoài và sông Đáy Đây là các nguồn cấp nước chính cho khu vực ngoài đê, đảm bảo nguồn nước ổn định và thuận lợi cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất.

Nước ngầm trong vùng trầm tích châu thổ Sông Hồng mang đặc điểm địa chất thủy văn tiêu biểu của vùng đồng bằng sông Hồng Nguồn nước này chủ yếu phục vụ cho hoạt động sinh hoạt hàng ngày và sản xuất của cộng đồng địa phương.

Bản đồ hành chính xã Dương Liễu

Đất đai

Tổng diện tích đất tự nhiên: 4105 ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp : 288.83 ha chiếm 70.36% diện tích đất tự nhiên.

- Đất chuyên dùng : 62.44 ha chiếm 15.21% diện tích đất tự nhiên.

- Đất ở : 55 ha chiếm 13.39% diện tích đất tự nhiên.

- Đất chưa sử dụng : 4.27 ha chiếm 1.04% diện tích đất tự nhiên

Điều kiện kinh tế xã hội

.1 Dân số và lao động

Dân số toàn xã là 11.780 người, chia thành 14 xóm bao gồm 4 xóm vùng bãi và 10 xóm vùng đồng, thể hiện sự đa dạng về địa bàn sinh sống Lực lượng lao động của xã khá dồi dào, với tổng số 6.825 người, trong đó có 3.549 lao động nữ, góp phần vào phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên, phần lớn lao động chủ yếu là thủ công, chưa qua đào tạo do khó khăn trong việc tiếp thu khoa học công nghệ mới, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả công việc Lao động nông nghiệp chiếm khoảng 1.300 người, trong khi lao động công nghiệp và thủ công nghiệp chiếm tới 4.300 người, phản ánh sự tập trung vào các ngành nghề truyền thống Ngoài ra, có khoảng 800 người lao động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế địa phương.

Trong những năm qua, tỷ trọng kinh tế của xã Dương Liễu tăng trung bình từ 8-10% mỗi năm, chủ yếu nhờ vào sự phát triển của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ Ngành nông nghiệp, đặc biệt lĩnh vực chăn nuôi, luôn chiếm tỷ lệ cao từ 50-54%, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế địa phương Năm 2005, tổng thu nhập của xã ước đạt 96,5 tỷ đồng, tăng trưởng đạt 8,5%, phản ánh sự phát triển toàn diện của nền kinh tế xã Dương Liễu.

- Ngành nông nghiệp đạt 20.3 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 20.8%.

- Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt 50.2 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 52.3%.

- Ngành thương mại dịch vụ đạt 26 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 26.9%.

- (Nguồn Báo cáo tình hình môi trường làng nghề xã Dương Liễu tháng 8/2006)

.3 Thực trạng phát triển các ngành nghề và các lĩnh vực

Bảng 1: Phân bố ngành nghề của xã Dương Liễu

Loại hình sản xuất Số hộ Loại hình sản xuất Số hộ

Mô hình hộ gia đình Mô hình doanh nghiệp công ty

1.Sản xuất mì bún 70 1 Sản xuất bánh kẹo 25

2 Nấu nha 100 2 Sản xuất gương, ghế nhựa 4

3 Lọc tinh bột 235 3 Cơ khí 6

4 Sản xuất miến 55 4 In lưới 4

5 Chế biến tinh bột sắn thô

6 Chế biến tinh bột dong thô

8 Xay, nghiền 300 8 Sản xuất khác 26

Sản xuất và chế biến tinh bột sắn, dong riềng là hoạt động chính chiếm tỷ lệ 73% tại xã Dương Liễu, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương Ngoài ra, các ngành công nghiệp liên quan cũng đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ hơn, góp phần thúc đẩy sự đa dạng hóa và nâng cao giá trị nông sản tại khu vực.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu

Là phương pháp tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được và tổng hợp mối quan hệ giữa chúng , phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Hiện trạng sản xuất tại làng nghề

Dương Liễu là xã có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển lâu đời, nổi bật với nghề chế biến nông sản như tinh bột thô, miến dong và mạch nha Trong những năm gần đây, do nhu cầu thị trường, xã đã mở rộng hơn với các ngành nghề mới như dệt may và làm bánh kẹo Toàn xã có 2.652 hộ, trong đó có tới 2.556 hộ tham gia vào các công đoạn hoặc toàn bộ quá trình sản xuất tiểu thủ công nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Bảng : Các loại hình sản xuất và % số hộ xã Dương Liễu tham gia

STT Hoạt động sản xuất Số hộ Tỷ lệ (%)

1 Sản xuất tinh bột sắn 1200 47.1%

2 Sản xuất tinh bột dong 100 7.9%

(Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã DươngLiễu)

Bảng : Thống kê các sản phẩm chủ yếu

TT Sản phẩm Số lượng Số hộ Tỷ lệ sản lượng(%)

6 Mạch nha 15.000 100 13.9% b Công nghệ sản xuất

Công nghệ sản xuất bột sắn và dong riềng

Công nghệ sản xuất chính ở làng nghề là bán thủ công với sự trợ giúp của máy móc tại một số khâu như: rửa, nghiền, khuấy trộn,…Quy trình sản xuất tinh bột sắn và dong riềng thể hiện ở sơ đồ dưới đây:

 Sơ đồ sản xuất tinh bột sắn:

 Sơ đồ sản xuất tinh bột dong:

Máy cạo vỏ và rửa củ

Lọc thô Máy nghiền Điện, nước cấp Điện Điện, nước cấp Bã thải

Nước thải, thu bột mủ

Nước thải, thu bột đen

1) Quy trình thu mua nguyên liệu

Qua quá trình quan sát thực địa và phỏng vấn người dân địa phương, nhóm tác giả đã xác định rõ rằng các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Lai Châu là nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho sản xuất, bên cạnh đó còn nhận nguồn nguyên liệu từ Sơn Tây, Vĩnh Phúc, Nghệ An và Vĩnh Phú.

Phương tiện vận chuyển chính là ô tô tải, tập trung từ tháng 8 đến tháng 4 âm lịch hàng năm, tạo thành một chợ sầm uất với hàng trăm xe từ nhiều địa phương Mặc dù quá trình này không phát sinh nhiều rác thải, nhưng do cơ sở hạ tầng giao thông địa phương không tốt, gây ra bụi bẩn, ô nhiễm mỹ quan và tiếng ồn, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.

Hiện nay, xã đã sử dụng máy móc trong quy trình sản xuất, trong đó khâu rửa và bóc vỏ đều được thực hiện bằng thiết bị tự động, nâng cao năng suất và đảm bảo vệ sinh Lượng nước cấp cần thiết cho quá trình này rất lớn, góp phần quan trọng vào hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm Việc áp dụng công nghệ hiện đại giúp tối ưu hóa quy trình, giảm thiểu lao động thủ công và nâng cao tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.

Máy cạo vỏ + rửa củ

Lọc lần 2 Điện Điện, nước cấp Nước thải, đất cát, vỏ

Máy nghiền Điện, nước cấp Bã thải

Bã thải Điện, nước cấp

Nước thải, Tinh bột dong, loại 1

Nước thải trong quá trình sản xuất tinh bột dong loại 2 cần lượng nước cấp từ 2-3 m³/tấn, hoặc từ 4-5 m³/tấn củ dong để đảm bảo quy trình diễn ra hiệu quả Quá trình này tạo ra lượng cặn lắng lớn, gây tắc nghẽn cống rãnh do nước chảy thẳng xuống khu vực xung quanh Việc kiểm soát lượng nước thải và xử lý cặn lắng là rất quan trọng để duy trì hệ thống thoát nước và hạn chế ô nhiễm môi trường.

Khâu nghiền khô không sử dụng nhiều nước, giúp tiết kiệm nguyên liệu và dễ dàng thao tác Quá trình này được thực hiện bằng máy móc hiện đại, đảm bảo nguyên liệu được nghiền đến độ mịn phù hợp để tối ưu hóa chất lượng sản phẩm Sau khi nghiền, nguyên liệu sẽ trải qua bước lọc để loại bỏ tạp chất, nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất.

Quá trình này nhằm mục đích tách các hạt tinh bột nhờ nước và loại bỏ phần bã xơ hiệu quả Nguyên liệu sau khi nghiền được lọc qua máy ly tâm để tách riêng phần bã thô, đồng thời phần bột và nước tiếp tục qua quá trình khuấy và sàng qua một lá ngâm trong nước nhằm tách bã lần hai Sau đó, phần bột lẫn nước được đưa vào bể lắng để loại bỏ tạp chất; nhu cầu nước cho quá trình này là từ 4 đến 5 mét khối trên mỗi tấn củ, đảm bảo hiệu quả và tiết kiệm nguồn nước.

Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2001, máy liên hoàn kết hợp giữa quá trình nghiền và lọc đã được giới thiệu, tuy nhiên việc xả thải trực tiếp cùng lượng bã thải lớn ra môi trường khiến nhiều lo ngại về khả năng gây tắc nghẽn hệ thống cống rãnh Hiện nay, có khoảng 200 hộ sản xuất tinh bột dong đã trang bị loại máy móc này để nâng cao năng suất, tuy nhiên vấn đề xử lý chất thải vẫn còn cần được chú trọng để đảm bảo môi trường.

Lắng 1: Mục đích là tách bột đen (lẫn tạp chất khác) và bột tươi riêng ra Nước thải ở lần lắng này có hàm lượng chất hữu cơ cao do sự lên men của vi sinh vật làm nước có mùi chua rất khó chịu

Lắng 2: Mục đích làm trắng thêm và cứng thêm bột (với bột sắn). Trong quá trình sản xuất bột dong thì bột thu được qua lắng 2 là bột loại 2 vì đó chính là bột còn lại sau khi lọc lần 1 Nhu cầu nước ở quá trình này là 3.5 –5.5m 3 /tấn nguyên liệu.

Hiện trạng môi trường làng nghề

a Chất lượng môi trường nước

Nước thải từ các hộ chế biến nông sản tại Dương Liễu ước tính khoảng 600m³ mỗi ngày, nhưng thực tế còn cao hơn nhiều, đặc biệt vào mùa vụ chính Loại nước thải này chứa các hóa chất tẩy rửa, mang tính axit và kiềm, qua quá trình phân huỷ tạo ra khí độc có mùi hôi thối khó chịu Hệ thống dẫn nước thải kém hiệu quả, thường xuyên bị ứ đọng do rác thải rắn gây tắc nghẽn, gây ô nhiễm nghiêm trọng hệ thống nước ngầm Nhiều giếng khơi bị bỏ hoang hoặc không còn nước, hoặc dù còn có nước nhưng không ai dám sử dụng Ao tù nước đen sánh còn gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến đời sống của các loài thủy sinh, đe dọa cân bằng sinh thái khu vực.

Nước thải từ nghề chế biến nông sản kết hợp với nước thải rửa chuồng trại gia súc, gia cầm lên đến 7.500 m3 mỗi ngày đêm, chủ yếu không qua xử lý Các loại nước thải này trực tiếp xả vào hệ thống mương tiêu thoát rồi tuôn thẳng ra sông Nhuệ và sông Đáy, gây ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường Việc xả thải không kiểm soát này đe dọa nghiêm trọng đến hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng.

Nước thải và chất thải rắn từ bã dong riềng, sắn gây ô nhiễm nguồn nước tại làng nghề, làm tăng mức độ nhiễm khuẩn gấp 5-8 lần so với quy định Các bệnh về mắt và đường hô hấp tại đây cao gấp 3-5 lần so với các khu vực lân cận Theo điều tra, tỷ lệ người dân mắc bệnh đau mắt hột tại Dương Liễu, Cát Quế, Hà Tây lên tới 70%, phản ánh rõ tác động của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe cộng đồng.

Bảng : Chỉ tiêu ô nhiễm nước thải làng nghề xã Dương Liễu

Các chỉ tiêu phân tích Đơn vị tính

Nước thải từ các hộ chế biến

Nước thải từ các kênh thải

Tổng vi khuẩn Vk/100ml 750 16450 -

Trứng giun đũa Tr/100ml - 2,7 -

Trứng giun móc Tr/100ml - 1,8 -

Trứng giun tóc Tr/100ml - 0,54 -

Hầu hết các chỉ tiêu đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần đặc biệt là BOD, COD cao hơn cả chục lần.

Nước thải từ các hộ chế biến được thải trực tiếp qua hệ thống cống rãnh, ao hồ trong khu dân cư đã phần nào được xử lý, giúp giảm đáng kể pH và các chất ô nhiễm trong nước Tuy nhiên, chất lượng môi trường không khí vẫn còn gặp nhiều vấn đề, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và cần có các biện pháp cải thiện hiệu quả hơn.

Vấn đề ô nhiễm môi trường không khí do quá trình sản xuất chưa được nghiên cứu đầy đủ như ô nhiễm nước, chủ yếu vì phần lớn các công đoạn chế biến và vận hành trong sản xuất bột sắn đều là quá trình “ướt” Nguồn gây ô nhiễm không khí đặc trưng của làng nghề chế biến nông sản chính là mùi hôi thối phát sinh từ sự phân hủy các hợp chất hữu cơ có trong chất thải rắn và nước thải, tạo ra các khí độc như NH2, H2S, NH3 gây khó chịu và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.

Một nguồn gây ô nhiễm không khí nữa là khói, bụi sinh ra trong quá trình đốt than, củi phục vụ cho đun nấu và đốt lò nấu mạch nha, làm miến. Nhu cầu nhiên liệu tương đối lớn, trung bình các hộ dân sử dụng khoảng 3.000 - 4.000 tấn than đá/năm c Chất thải rắn

Theo số liệu thống kê, lượng bã thải phát sinh từ quá trình sản xuất và chế biến tinh bột sắn, bột dong cùng các loại bánh kẹo tại địa phương hàng ngày lên tới hơn một lượng lớn Các chất thải này chủ yếu tập trung tại các khu chợ của xã, gây ảnh hưởng đến môi trường và vệ sinh cộng đồng Việc xử lý và quản lý hợp lý nguồn thải này là cần thiết để giảm thiểu tác động tiêu cực, đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững khu vực nông thôn Do đó, cần có các giải pháp xử lý phù hợp nhằm hạn chế ô nhiễm từ bã thải, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống cộng đồng.

Bảng : Thống kê tình hình rác thải, bã thải

Loại rác thải, bã thải Lưu lượng

Số hộ tham gia Lượng rác(tấn/ngày)

Rác thải từ chế biến tinh bột sắn thô

Rác thải từ chế biến tinh bột dong thô

Rác thải từ loại hình sản xuất khác

Rác thải sinh hoạt dịch vụ

(_Nguồn: Báo cáo tình hình môi trường làng nghề sản xuất xã Dương

Bã thải sắn chứa hàm lượng xơ cao, phần lớn được phơi khô làm nhiên liệu, thức ăn cho gia súc, gia cầm, cá và phụ gia sản xuất tương ớt, nhưng còn lại phần lớn bị thải bỏ, góp phần gây ô nhiễm môi trường đất và khí, ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt và nước ngầm Trong các làng nghề, xỉ than là chất thải rắn gây bụi trong quá trình đốt lò, và phần lớn các chất thải này không được xử lý mà thải trực tiếp ra mương rãnh, ao hồ quanh khu vực, gây mất mỹ quan và ô nhiễm môi trường.

Bảng : Khối lượng bãi thải vào mùa chế biến 2001-2002 tại xã Dương Liễu

Nguồn thải Khối lượng nguyên liệu (tấn) Khối lượng bã tươi (tấn)

Tổng lượng bã thải từ sản xuất sắn và dong riềng đạt 63.000 tấn mỗi năm, nhưng thực tế, phần lớn bã thải chứa tới 90% nước, khiến việc vận chuyển và tái sử dụng gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, quá trình xử lý và sử dụng các loại bã thải này còn hạn chế Khoảng 95% lượng bã sắn được dùng trong chăn nuôi, trong khi phần lớn bã dong riềng vẫn chưa được tận dụng hiệu quả.

Hiện trạng quản lý và quy hoạch làng nghề

Trong những năm qua, nhận thức về vấn đề bảo vệ môi trường đã được nâng cao rõ rệt, góp phần thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND) đã tập trung chỉ đạo các ngành chức năng tuyên truyền và vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường Đến cuối năm 2001, xã đã thành lập tổ vệ sinh môi trường gồm 15 thành viên, chuyên thực hiện các công việc như khơi thông cống rãnh, xử lý các điểm ùn tắc và thu gom rác thải, góp phần cải thiện môi trường sống cộng đồng.

Do lượng rác thải ngày càng lớn và nguồn kinh phí hạn chế, hoạt động của tổ vệ sinh môi trường chỉ đáp ứng một phần nhu cầu của cộng đồng Hiệu quả tuyên truyền nâng cao ý thức người dân trong việc thu gom rác thải còn chưa cao, gây ảnh hưởng đến công tác bảo vệ môi trường Quy chế quản lý vệ sinh môi trường còn nhiều hạn chế, các điểm tập kết rác thải và bãi chứa bãi thải hiện đang bị quá tải, góp phần vào tình trạng ô nhiễm và khó kiểm soát vấn đề vệ sinh chung.

Xưởng xử lý nước thải của công ty TNHH Mặt Trời Xanh hoạt động nhưng bị quá tải do thiết kế ban đầu nhỏ hơn so với tốc độ sản xuất của làng nghề hiện tại Ngoài ra, chưa tính hết khả năng lượng bã thải từ sản xuất củ dong và chăn nuôi của các hộ dân xả thẳng xuống hệ thống cống rãnh Điều này dẫn đến hiện tượng quá tải vào các tháng cao điểm niên vụ, gây tắc nghẽn cục bộ và khiến nước thải, rác thải rắn chưa được xử lý triệt để.

Việc sản xuất và chăn nuôi của các hộ dân tập trung trong khu dân cư dẫn đến tình trạng sản xuất song song với đời sống sinh hoạt hàng ngày Điều này gây ảnh hưởng lớn đến an toàn và vệ sinh môi trường, đặc biệt khi diện tích bình quân mỗi hộ còn rất thấp Việc quản lý chặt chẽ và nâng cao ý thức của người dân là cần thiết để đảm bảo phát triển bền vững và cải thiện chất lượng cuộc sống tại địa phương.

Đất ở chủ yếu dùng để sản xuất, kinh doanh và chăn nuôi tập trung tại một khu vực, trung bình từ 120 đến 144 m² mỗi hộ Tuy nhiên, diện tích đất hạn chế gây ra tình trạng mặt bằng chật hẹp, không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và phát triển hoạt động nông nghiệp Điều này dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng do các hoạt động không kiểm soát và thiếu không gian phù hợp để thực hiện các công việc Giải pháp để giảm ô nhiễm môi trường chính là mở rộng diện tích đất sản xuất và đảm bảo quy hoạch hợp lý, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng.

Hình thức xử lý các loại rác thải, bã thải:

Trong quản lý rác thải sinh hoạt, phương pháp chủ yếu vẫn là thu gom qua hệ thống tổ VSMT và sự tự thu gom của các gia đình, sau đó tập kết tại các bãi rác đảm bảo vệ sinh, thuận tiện cho công tác xử lý và hạn chế ô nhiễm môi trường.

 Đối với rác thải chăn nuôi: Một phần được các gia đình thu gom làm phân bón, còn lại xả thẳng ra hệ thống cống rãnh.

 Đối với rác thải CN - TTCN:

Sản xuất tinh bột sắn thô tạo ra các phụ phẩm như bã sắn dùng làm thức ăn chăn nuôi, đồng thời nước thải từ quá trình này được xả vào hệ thống cống rảnh Vỏ củ sắn và dong củ một phần được thu gom để tái sử dụng, phần còn lại thải ra môi trường và tập kết ở ven các trục đường làng, gây ô nhiễm và ảnh hưởng đến cảnh quan địa phương.

Sản xuất tinh bột dong thô liên quan đến quá trình nghiền nhỏ bã trong hệ thống xả nước của máy liên hoàn, xả thẳng ra hệ thống cống rãnh Phương pháp này tạo ra lượng lớn bã thải và nước thải, gây tắc nghẽn hệ thống cống và đóng vai trò chính trong việc gây ô nhiễm môi trường.

Trong các ngành sản xuất như miến dong, mạch nha, bánh kẹo, bún phở khô và lọc tinh bột, phần lớn chất thải rắn không được xử lý đúng quy trình mà chủ yếu được hộ gia đình tự thu gom Tuy nhiên, một lượng lớn chất thải vẫn bị thải trực tiếp ra hệ thống cống rãnh, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái đô thị.

Rác thải trong lĩnh vực thương mại dịch vụ chủ yếu được thu gom và tập trung tại các điểm xử lý do Ban quản lý các khu chợ và hộ gia đình thực hiện Đặc biệt, lượng rác thải tập trung nhiều nhất tại các chợ hàng nông sản và chợ tiêu dùng, ảnh hưởng đến vệ sinh và môi trường khu vực bán hàng Việc quản lý hiệu quả rác thải tại các chợ này là yếu tố quan trọng để duy trì môi trường sạch sẽ, nâng cao chất lượng dịch vụ và đảm bảo sức khỏe cộng đồng.

Nước thải của toàn xã được tập trung về hai cống XIPHONG đầu làng, sau đó chảy về hồ điều hòa để lắng đọng Hệ thống xử lý sơ bộ của xưởng xử lý chất thải, do Công ty TNHH Mặt trời xanh đảm nhận, thu gom lượng cặn bã và xử lý sơ bộ trước khi xả ra môi trường.

Chất thải xây dựng là một vấn đề ngày càng trở nên đáng lo ngại do tốc độ đô thị hoá nhanh chóng, dẫn đến lượng chất thải từ vật liệu xây dựng gia tăng trong cộng đồng Hiện nay, chưa có giải pháp xử lý hiệu quả cho các loại chất thải này, gây ô nhiễm môi trường và làm biến dạng cảnh quan đô thị Các hộ dân thường đổ và tập kết chất thải xây dựng tại nhiều điểm khác nhau, gây khó khăn trong công tác quản lý và kiểm soát.

 Tại xã: Xây dựng và ban hành Quy chế vệ sinh môi trường thời điểm tháng 3/2000 với mức thu 3000 đồng/khẩu hoặc 20.000 đồng/hộ/năm.

 Năm 2003 sửa đổi bổ sung quy chế VSMT, triển khai thu phí vệ sinh môi trường Phí VSMT: 5000 đồng/ 01 nhân khẩu.

Quỹ bảo vệ môi trường được thu dựa trên hướng dẫn của UBND tỉnh, với mức thu từ 50.000 đồng đến 1.500.000 đồng mỗi hộ, tùy theo ngành nghề sản xuất Tuy nhiên, thực tế việc thu này còn hạn chế do nhận thức của người dân chưa đầy đủ, dẫn đến mức thu hàng năm chỉ đạt từ 20 đến 50% kế hoạch đề ra.

Vào đầu năm 2001, UBND xã thành lập tổ vệ sinh môi trường nhằm thu gom rác thải sinh hoạt và xử lý các vấn đề về nước thải tại các điểm công cộng, với mức lương trung bình 500.000 đồng/người/tháng từ phí dịch vụ và quỹ bảo vệ môi trường Tuy nhiên, nguồn kinh phí này hiện nay rất hạn chế do người dân chưa đóng góp đầy đủ, khiến ngân sách xã phải đầu tư khoảng 100 triệu đồng mỗi năm cho hoạt động của tổ VSMT Với mức thu hiện tại, trong tương lai gần, ngân sách xã sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động của tổ vệ sinh môi trường.

Bảng 7: Kinh phí cho hoạt động vệ sinh môi trường

Năm Nguồn kinh phí Hoạt động vệ sinh môi trường

Quỹ VSMT Phí MT Ngân sách xã bù

Chi lương Chi hoạt động

Bảng 8: Các điểm xử lý chất thải, bã thải hiện tại:

STT Điểm tập kết Địa hình Diện tích sử dụng

1 Ao khoảnh 1 cạnh xưởng xử lý chất thải Vùng đồng 1.600

2 Ao ải cạnh nghĩa trang Vùng bãi 1.700

3 Chuôm trũng sen Vùng đồng

4 Hồ lò gạch Vùng bãi

5 Hồ sân kho A( Bụng chứa nước thải) Vùng đồng 4.100

Khoảng cách các bãi tập kết rác thải gần nhất chỉ 200m, trong khi các bãi còn lại nằm từ 1km đến 2km xa hơn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái và sức khỏe của người dân trong khu vực Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, UBND xã thường xuyên tổ chức các hoạt động san lấp các bãi đổ chất thải nhằm xử lý hiệu quả hơn Hiện nay, việc vận chuyển chất thải chủ yếu được thực hiện bằng xe đẩy (3 người/xe), với khối lượng rác chở trong một ngày tương đối nhỏ, góp phần kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ vệ sinh môi trường địa phương.

ĐỀ XUẤT QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

Quy hoạch đối với một hộ sản xuất

Các hộ sản xuất lớn có khả năng gây ô nhiễm cao cần được di dời khỏi khu vực quy hoạch nhằm đảm bảo môi trường Trong khi đó, các hộ sản xuất nhỏ và vừa, với lượng chất thải hạn chế hơn, đóng vai trò nhỏ hơn trong vấn đề ô nhiễm và cần được quản lý phù hợp để duy trì phát triển bền vững.

 Về không gian sản xuất:

Chỉ tiêu xây dựng cơ sở sản xuất nhỏ trong hộ gia đình cần được thực hiện một cách hợp lý để tối ưu hóa sử dụng diện tích đất đai Việc sử dụng phần đất vào mục đích sản xuất phải đảm bảo hiệu quả cao, đồng thời duy trì môi trường làm việc thoáng mát và vệ sinh Điều này giúp nâng cao năng suất, bảo vệ sức khỏe cho người lao động và góp phần phát triển bền vững hoạt động sản xuất tại hộ gia đình.

Dưới đây là mô hình của hai hình thức sản xuất phổ biến nhất trong ngành: hộ sản xuất tinh bột sắn và hộ sản xuất tinh bột dong, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ đa dạng của thị trường Các hộ sản xuất này tập trung vào quy trình chế biến tinh bột từ nguyên liệu chính, đảm bảo chất lượng và năng suất cao Ngoài ra, còn có các hộ sản xuất miến dong, chuyên sản xuất sản phẩm truyền thống, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hằng ngày Mô hình này giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Sơ đồ quy hoạch hộ sản xuất tinh bột sắn

Bã, vỏ sắn Máy ép bã và nơi chưá bã

Kho chứa tinh bột p.giao dịch

Bể nước Máy làm tấm miến Máy cắt

Kho để phên Cổng vào

Sơ đồ quy hoạch hộ sản xuất miến dong

 Về nước thải của hộ sản xuất

Hiện nay, tình trạng cống thoát nước thải bị tắc nghẽn do nước thải chứa nhiều rác thải không rõ ràng Đặc biệt, các hộ xay bột dong thường xuyên xả nước có lẫn bã bột để trôi theo hệ thống cống, do người dân lo ngại phát sinh mùi hôi và không có phương pháp xử lý bã thải phù hợp Vấn đề xử lý bã thải cho các hộ kinh doanh sẽ được phân tích và đề xuất trong các phần tiếp theo của bài viết.

Vì tình trạng ô nhiễm hiện tại, mỗi hộ sản xuất cần có hệ thống lọc bã ngay từ nguồn thải để hiệu quả thu gom chất cặn bã, hạn chế tình trạng tắc nghẽn cống Việc lắp đặt hệ thống lọc bã góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng nước thải và duy trì hệ thống thoát nước hoạt động hiệu quả Đây là giải pháp cần thiết để đảm bảo nguồn nước sạch và bảo vệ môi trường sống của cộng đồng.

Mô hình hệ thống lọc bã từ nguồn thải của hộ sản xuất có thể như sau:

 Về vấn đề bã thải của hộ sản xuất:

Các hộ chế biến tinh bột sắn thường thải ra lượng lớn vỏ sắn, phần sắn thừa và bã sắn, trong đó bã sắn còn chứa nhiều giá trị dinh dưỡng, được tận dụng làm thức ăn gia súc Tuy nhiên, mỗi mùa sản xuất trong làng thải ra lượng bã sắn dư thừa vượt quá nhu cầu tiêu thụ của vật nuôi Do đó, các hộ sản xuất quy mô lớn cần sử dụng dụng cụ ép bã sắn để phơi khô, từ đó bán cho các hộ chăn nuôi khác hoặc tiêu thụ nội bộ trong cộng đồng, giúp giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Nước thải Lưới 1 Lưới 2 Cống chính làng khi hết mùa sắn Vỏ và sắn thừa với số lượng không lớn lắm sẽ được thu gom lại để xử lý.

- Đối với các hộ chế biến tinh bột dong:

Dựa trên số liệu thống kê, rác thải từ quá trình chế biến tinh bột dong thô chiếm lượng lớn nhất trong các loại rác thải sinh ra trong làng Điều này cho thấy quá trình chế biến tinh bột dong thô góp phần đáng kể vào lượng chất thải và ảnh hưởng đến môi trường địa phương Việc quản lý hiệu quả các loại rác thải này là rất cần thiết để giảm thiểu tác động tiêu cực, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.

Bã dong chỉ còn lại chất xơ và ít giá trị dinh dưỡng nên gia súc không thể tiêu thụ được Người dân chỉ biết thải theo dòng nước để tiêu thoát lượng bã khổng lồ Việc này làm ô nhiễm trầm trọng môi trường nước, mất mỹ quan vì bã rong bị oxy hoá trong không khí nên có màu đen ngòm, mùi hôi nồng nặc. Đối với riêng từng hộ sản xuất và kinh doanh tinh bột dong, tôi có đề xuất như sau:

Hộ kinh doanh tinh bột dong cần lắp đặt hệ thống lưới lọc bã phù hợp ngay từ nguồn thải để tránh xả trực tiếp xuống cống, góp phần bảo vệ môi trường Mắt lưới phải có kích thước phù hợp để hạn chế việc bã dong lọt qua, đảm bảo hiệu quả lọc và giảm thiểu ô nhiễm Mô hình lọc này tương tự như mô hình 3 đã được đề cập trước đó, giúp tối ưu quá trình xử lý nước thải từ các hộ chế biến tinh bột.

Sau khi thu gom, bã đậu có thể được vận chuyển đến khu vực thoáng để phơi và ép thành bánh, sau đó sấy khô để làm nhiên liệu Việc xử lý này cần tuân thủ các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường để không gây ô nhiễm cho cộng đồng xung quanh Ngoài ra, bã đậu còn có thể được ép thành bánh ngay tại cơ sở sản xuất rồi vận chuyển đến khu vực thoáng để phơi khô trước khi dùng làm chất đốt, giúp tối ưu hóa quá trình chế biến và bảo vệ môi trường.

Bã thải và xỉ than cần được quản lý và tận dụng hiệu quả để giảm thiểu tác động đến môi trường Xỉ than có thể được sử dụng để bón cho cây trồng trong vườn hoặc đưa ra ngoài đồng ruộng, góp phần cải thiện năng suất đất Ngoài ra, xỉ than còn có thể trộn vào vữa trát tường để nâng cao tính chất kỹ thuật và tiết kiệm chi phí xây dựng Việc tái sử dụng xỉ than không những giúp giảm lượng chất thải công nghiệp mà còn mang lại lợi ích kinh tế và môi trường cho các hoạt động nông nghiệp và xây dựng.

Quy hoạch cụm sản xuất nhằm tập trung các hộ có tiềm năng kinh tế lớn và khả năng gây ô nhiễm cao, giúp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và sản xuất Việc phân cụm các hộ sản xuất cùng loại không chỉ nâng cao hiệu quả kinh doanh mà còn thuận lợi trong việc thu gom và xử lý nước thải Các yêu cầu quy hoạch cụ thể cần đảm bảo tính khả thi, an toàn môi trường và hiệu quả xử lý các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất.

- Cần xây dựng lại một khu sản xuất tập trung, đảm bảo không gây ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khoẻ và sinh hoạt của người dân.

Trong việc bố trí nơi sản xuất, nên lựa chọn vị trí ở cuối hướng gió để giảm thiểu ô nhiễm và ảnh hưởng đến khu dân cư Vị trí gần các tuyến đường giao thông thuận tiện giúp dễ dàng chuyên chở hàng hóa, tiết kiệm thời gian và chi phí vận chuyển Đồng thời, khu vực sản xuất cần có hệ thống cấp thoát nước thuận lợi để đảm bảo vận hành hiệu quả và vệ sinh cho hoạt động sản xuất.

- Giữa các cụm sản xuất nên có khoảng trống nhất định để tạo điều kiện thông thoáng cho xưởng sản xuất, thuận tiện việc vệ sinh phân xưởng.

3 Quy hoạch sử dụng đất

Làng nghề Dương Liễu có quy mô nhỏ và mang tính chất đa ngành nghề truyền thống, góp phần gìn giữ giá trị văn hóa địa phương Để thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, cần chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Việc quy hoạch sử dụng đất hợp lý là rất quan trọng nhằm mở rộng quy mô, thu hút lực lượng lao động trong cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế cả nước.

Tổng hợp, nghiên cứu các loại ngành, nghề có tính chất tương đối giống nhau sẽ nằm cạnh nhau theo từng vùng có ưu tiên các ngành nghề thường phải vận chuyển khối lượng nguyên liệu, nhiên liệu và hàng hoá lớn ở cạnh các trục đường lớn.

Cấp nước

Định hướng lâu dài xây dựng trạm xử lý cấp nước sạch cho các doanh nghiệp bằng hệ thống đường ống cấp nước chung.

Quy hoạch quản lý môi trường làng nghề

Việc quản lý tổng thể môi trường làng nghề là cần thiết để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường; tuy nhiên, điều này gặp nhiều khó khăn do điều kiện kinh tế địa phương còn hạn chế Dù gặp khó khăn, việc nâng cao công tác quản lý môi trường làng nghề vẫn là ưu tiên hàng đầu để tránh thiệt hại cho phát triển kinh tế-xã hội địa phương và cả nước.

Để quản lý tốt môi trường làng nghề, cần thành lập một cơ quan chuyên trách về quản lý môi trường làng nghề, có chức năng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng liên ngành nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong khu vực làng nghề.

 Tạo nguồn kinh phí phục vụ việc BVMT

Nguồn kinh phí chủ yếu dựa trên đóng góp theo quy mô sản xuất, kết hợp với sự hỗ trợ từ nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước để đảm bảo phát triển bền vững Khoản kinh phí này sẽ được đầu tư vào xây dựng và sửa chữa cơ sở hạ tầng, như hệ thống cấp thoát nước, hệ thống xử lý rác thải và nước thải, cũng như trồng cây xanh nhằm nâng cao môi trường sống và tạo sạch đẹp cho cộng đồng.

Chương trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được triển khai nhằm nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc giữ gìn môi trường sống Mỗi cá nhân sẽ tự ý thức và trách nhiệm trong các hành động hàng ngày để góp phần bảo vệ môi trường Việc giáo dục này giúp thúc đẩy lối sống bền vững và nhận thức rõ ràng về ảnh hưởng của từng hành động đối với môi trường Nhờ đó, cộng đồng trở nên ý thức hơn trong việc xử lý rác thải, tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu ô nhiễm Đồng thời, chương trình còn góp phần hình thành ý thức trách nhiệm cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường cho thế hệ tương lai.

Chính sách phân bố và sắp xếp quỹ đất hợp lý nhằm tối ưu hóa sử dụng đất đai và nâng cao hiệu quả quy hoạch Việc cải tạo hệ thống cấp thoát nước, điện, giao thông đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hạ tầng bền vững Đồng thời, đảm bảo có các khu vực xử lý và chôn lấp rác thải hợp lý để bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.

Quản lý tổ chức các cơ sở sản xuất hiệu quả bao gồm việc bố trí máy móc, dụng cụ hợp lý và gọn gàng để nâng cao năng suất Việc vệ sinh thường xuyên khu vực sản xuất giúp duy trì môi trường sạch sẽ, thoáng mát, hạn chế ô nhiễm không khí và đảm bảo an toàn cho nhân viên.

 Thực hiện giám sát lượng thải của các cơ sở gây ô nhiễm nặng và tiến hành di rời khỏi khu dân cư.

Ngày đăng: 28/03/2023, 15:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w