Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn tài nguyên động vật thủy sản rất đa dạng và phong phú, đã xác định được 132 loài cá trong đó có 7 loài cá quý hiếm đã được xác định, chiếm khoảng 50% th
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
- -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT
THỦY SẢN Ở MỘT SỐ VƯỜN QUỐC GIA VÀ KHU BẢO TỒN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Tp Hồ Chí Minh, tháng 8/2011
Trang 2BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
- -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT
THỦY SẢN Ở MỘT SỐ VƯỜN QUỐC GIA VÀ KHU BẢO TỒN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chủ nhiệm đề tài Người cùng thực hiện:
CN Đặng Ngọc Thùy
KS Nguyễn Văn Phụng
CN Lê Thị Thanh Ngân
Tp Hồ Chí Minh, tháng 8/2011
Trang 3Nhóm đề tài cũng cảm ơn tất cả những đóng góp của các nhà khoa học đã đóng góp các ý kiến thông qua các buổi hội thảo về phương pháp luận trước khi triển khai đề tài cũng như các kết quả đạt được Ngoài ra, chúng tôi cũng chân thành cảm ơn Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Ban Lãnh Đạo Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II đã tạo điều kiện thuận lợi và chỉ đạo để đề tài này đạt kết quả tốt
Cuối cùng chủ nhiệm đề tài cảm ơn tất cả các thành viên đề tài đã tham gia trong suốt quá trình thu mẫu, khảo sát thực địa, tổng hợp số liệu viết báo cáo và các công việc liên quan khác để đề tài được triển khai một cách thuận lợi
Trang 4TÓM TẮT
Đa dạng động vật thủy sản ở một số khu bảo tồn vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long được nghiên cứu từ năm 2009 đến năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn tài nguyên động vật thủy sản rất đa dạng và phong phú, đã xác định được 132 loài cá (trong
đó có 7 loài cá quý hiếm đã được xác định), chiếm khoảng 50% thành phần loài cá nước ngọt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Tổng cộng 38 loài lưỡng cư bò sát đã được xác định, trong đó có 13 loài quý hiếm Đối với các loài giáp xác đã xác định được 12 loài, chiếm 55,56% thành phần loài tôm nước ngọt trong vùng Tổng cộng 8 loài nhuyễn thể đã được xác định được Nhìn chung, các khu bảo tồn góp phần quan trọng trong việc bảo tồn
và lưu giữ nguồn gien các loài động vật thủy sản và các loài động vật hoang dã khác, đặc biệt là các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng Kết quả phân tích tương quan cho thấy
sự đa dạng động vật thủy sản có mối liên hệ khá chặt chẽ đến chất lượng nước và nguồn thức ăn tự nhiên
Cộng đồng địa phương sống xung quanh các khu bảo tồn khá đông đúc và phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên của khu bảo tồn Điều kiện kinh tế xã hội khó khăn: tỷ
lệ hộ thuộc diện nghèo chiếm 26,67%; thu nhập bình quân đạt 23,63 triệu đồng/hộ/năm;
hộ có vay mượn tiền chiếm 51,90% với số tiền trung bình là 5,70 triệu đồng; không có đất nông nghiệp canh tác chiếm 53,33% Trong cơ cấu nghề của nông hộ, chủ yếu tập trung vào nghề làm mướn (69,05% số hộ có liên quan) và nghề khai thác thủy sản (63,66%)
Cơ chế quản lý các khu bảo tồn hiện nay chủ yếu là bảo vệ nghiêm ngặt theo hệ thống quản lý Nhà Nước, chưa quan tâm đúng mức đến cộng đồng địa phương trong việc
ổn định đời sống và hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên của khu bảo tồn Do đó
đã nảy sinh mâu thuẫn với ban quản lý khu bảo tồn Chính vì thế, mô hình quản lý “Bảo tồn kết hợp với phát triển bền vững đa dạng sinh học” được xây dựng và đề xuất nhằm kiện toàn phương thức quản lý hiện tại Trong đó, cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng và có tính quyết định Nguồn tài nguyên thiên nhiên trong các khu bảo tồn chỉ
có thể được bảo vệ một cách hiệu quả khi đời sống của người dân địa phương được ổn định và nâng cao Ngoài ra, mỗi khu bảo tồn cần thành lập Ban tư vấn gồm đại diện các nhà khoa học/quản lý để tư vấn cho Ban quản lý khu bảo tồn các kế hoạch hành động thích hợp trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Hệ động vật có mối liên hệ rất mật thiết đến hệ thực vật vì hệ thực vật là nơi cư trú quan trọng đối với cá động vật rừng/động vật thủy sản Dựa trên tất cả những yếu tố ảnh hưởng đến hệ động vật và hệ thực vật (điều tiết nước, cháy rừng, khai thác trái phép, phát triển kinh tế xã hội và phát triển du lịch sinh thái), các giải pháp quản lý đòi hỏi phải đáp ứng được yêu cầu sinh thái của cả 2 hệ động và thực vật Tổng cộng có 9 giải pháp được
đề xuất Trong đó, có 4 giải pháp liên quan trực tiếp đến Ban quản lý khu bảo tồn (Điều tiết nước thích hợp cho các mục tiêu bảo tồn, hạn chế cháy rừng, quản lý và phục hồi hệ động vật, quản lý và phục hồi hệ thực vật); 4 giải pháp liên quan đến việc ổn định đời sống của cộng đồng địa phương (sử dụng tài nguyên bền vững, đa dạng sinh kế, phát triển
du lịch sinh thái, phát triển các dịch vụ xã hội); và 1 giải pháp về nâng cao nhận thức bảo
vệ và phát triển hệ động thực vật cho cộng động địa phương và ban quản lý khu bảo tồn
Trang 5MỤC LỤC
I GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.3 Nội dung nghiên cứu 3
1.4 Giới hạn của đề tài 4
II TỔNG QUAN 5
2.1 Hiện trạng phân khu chức năng ở các KBT nghiên cứu 5
2.1.1 VQG Tràm Chim 5
2.1.1.1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 5
2.1.1.2 Phân khu phục hồi sinh thái 6
2.1.1.3 Phân khu dịch vụ hành chánh 7
2.1.2 KBVCQ Trà Sư 7
2.1.2.1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 8
2.1.2.2 Phân khu phục hồi sinh thái 8
2.1.2.3 Phân khu dịch vụ hành chánh 9
2.1.3 VQG U Minh Hạ 9
2.1.3.1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 10
2.1.3.2 Phân khu phục hồi sinh thái 11
2.1.3.3 Phân khu dịch vụ hành chánh 12
2.2 Đa dạng động vật thủy sản 12
2.2.1 VQG Tràm Chim và vùng lân cận 12
2.2.1.1 Cá 12
2.2.1.2 Tôm cua 13
2.2.1.3 Lưỡng cư bò sát 13
2.2.1.4 Nhuyễn thể (Mollusca) 13
2.2.3 KBVCQ Trà Sư và vùng lân cận 14
2.2.3.1 Cá 14
2.2.3.2 Tôm cua 15
2.2.3.3 Lưỡng cư bò sát 15
2.2.3.4 Nhuyễn thể (Mollusca) 15
2.2.4 VQG U Minh Hạ và vùng lân cận 15
2.2.4.1 Cá 15
2.2.4.2 Tôm cua 16
2.2.4.3 Lưỡng cư bò sát 16
2.2.4.4 Nhuyễn thể (Mollusca) 17
2.3 Quản lý và sử dụng tài nguyên ĐDSH 17
2.3.1 Nguyên tắc quản lý nguồn tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng 17
2.3.2 Quản lý nguồn tài nguyên ở một số khu bảo tồn 18
2.3.2.1 Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen 18
2.3.2.2 VQG U Minh Thượng 18
2.3.2.3 VQG Xuân Thủy 19
Trang 6III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Cách tiếp cận 21
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.3 Vị trí thu mẫu 24
3.4 Phương pháp thu và phân tích mẫu 27
3.4.1 Chất lượng nước 27
3.4.2 Thực vật và động vật nổi 28
3.4.3 Động vật thủy sản 28
3.4.4 Điều tra kinh tế xã hội 29
3.5 Thu thập số liệu thứ cấp 30
3.6 Chỉ số đánh giá đa dạng sinh học 30
3.7 Phân tích thống kê 32
3.8 Giải pháp và xây dựng mô hình quản lý 32
IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Điều kiện tự nhiên, chất lượng nước và nguồn thức ăn tự nhiên ảnh hưởng đến tính đa dạng động vật thủy sản 34
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
4.1.2 Chất lượng nước 35
4.1.2.1 Hiện trạng chất lượng nước 35
4.1.2.2 Ảnh hưởng đến động thực vật nổi 39
4.1.2.3 Ảnh hưởng đến động vật thủy sản 43
4.1.3 Nguồn thức ăn tự nhiên 49
4.1.3.1 Thực vật nổi 49
4.1.3.2 Động vật nổi 52
4.1.3.3 Ảnh hưởng đến động vật thủy sản 54
4.2 Đa dạng động vật thủy sản 56
4.2.1 Cá 56
4.2.1.1 VQG Tràm Chim 57
4.2.1.2 KBVCQ Trà Sư 61
4.2.1.3 VQG U Minh Hạ 63
4.2.1.4 So sánh đa dạng giữa các khu bảo tồn 65
4.2.2 Giáp xác 68
4.2.2.1 VQG Tràm Chim 68
4.2.2.2 KBVCQ Trà Sư 69
4.2.2.3 VQG U Minh Hạ 70
4.2.2.4 So sánh tính đa dạng giữa các khu bảo tồn 71
4.2.3 Nhuyễn thể 71
4.2.3.1 VQG Tràm Chim 72
4.2.3.2 KBVCQ Trà Sư 73
4.2.3.3 VQG U Minh Hạ 74
4.2.3.4 So sánh tính đa dạng giữa các khu bảo tồn 74
4.2.4 Lưỡng cư bò sát 75
4.2.4.1 VQG Tràm Chim 77
4.2.4.2 KBVCQ Trà Sư 78
Trang 74.2.4.3 VQG U Minh Hạ 79
4.2.4.4 So sánh tính đa dạng giữa các khu bảo tồn 80
4.2.5 So sánh tính đa dạng giữa các khu bảo tồn 81
4.3 Kinh tế xã hội 82
4.3.1 Trình độ học vấn của nông hộ 82
4.3.2 Tình trạng cư trú và mức nghèo 82
4.3.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 83
4.3.4 Nghề nghiệp của nông hộ 84
4.3.5 Thu nhập của nông hộ 84
4.3.6 Nhận thức của người dân về tầm quan trọng của khu bảo tồn 85
4.3.7 Ảnh hưởng đến tính đa dạng động vật thủy sản 86
4.3.7.1 Khai thác trái phép 86
4.3.7.2 Thu hẹp môi trường sống 87
4.3.7.3 Cơ chế quản lý 87
4.4 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp và mô hình quản lý 88
4.4.1 Hiện trạng quản lý ở các khu bảo tồn 88
4.4.1.1 VQG Tràm Chim 91
4.4.1.2 KBVCQ Trà Sư 95
4.4.1.3 VQG U Minh Hạ 98
4.4.2 Đề xuất mô hình và giải pháp quản lý 101
4.4.2.1 Mô hình quản lý chung 101
4.4.2.2 Giải pháp quản lý chung 108
4.4.2.2.1 Điều tiết nước 109
4.4.2.2.2 Phòng và chữa cháy rừng 111
4.4.2.2.3 Quản lý và phục hồi thực vật rừng 112
4.4.2.2.4 Quản lý và phục hồi động vật thủy sản 114
4.4.2.2.5 Đào tạo nâng cao năng lực 116
4.4.2.2.6 Nâng cao nhận thức về ĐDSH 117
4.4.2.2.7 Phát triển du lịch sinh thái 117
4.4.2.2.8 Ứng phó biến đổi khí hậu 120
4.4.2.2.9 Sử dụng nguồn tài nguyên bền vững 121
4.4.2.2.10 Đa dạng sinh kế 124
4.4.2.2.11 Phát triển các dịch vụ xã hội 128
4.4.3 VQG Tràm Chim 128
4.4.3.1 Mô hình quản lý 128
4.4.3.2 Giải pháp quản lý 130
4.4.3.2.1 Quản lý nước để bảo tồn động thực vật và phòng cháy rừng 130
4.4.3.2.2 Sử dụng bền vững tài nguyên và phục hồi động vật thủy sản 131
4.4.3.2.3 Đa dạng sinh kế 132
4.4.3.2.4 Nâng cao nhận thức và các dịch vụ xã hội khác 133
4.4.4 KBVCQ Trà Sư 134
4.4.4.1 Mô hình quản lý 134
4.4.4.2 Giải pháp quản lý 136
4.4.4.2.1 Quản lý nước để bảo tồn động thực vật và phòng cháy rừng 136
4.4.4.2.2 Sử dụng bền vững tài nguyên và phục hồi động vật thủy sản 138
Trang 84.4.4.2.3 Đa dạng sinh kế 140
4.4.4.2.4 Nâng cao nhận thức và các dịch vụ xã hội khác 140
4.4.5 VQG U Minh Hạ 141
4.4.5.1 Mô hình quản lý 141
4.4.5.2 Giải pháp quản lý 143
4.4.5.2.1 Quản lý nước để bảo tồn động thực vật và phòng cháy rừng 143
4.4.5.2.2 Sử dụng bền vững tài nguyên và phục hồi động vật thủy sản 145
4.4.5.2.3 Đa dạng sinh kế 146
4.4.5.2.4 Nâng cao nhận thức và các dịch vụ xã hội khác 147
V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149
5.1 Kết luận 149
5.1.1 Chất lượng nước 149
5.1.2 Thực vật nổi 151
5.1.3 Động vật nổi 152
5.1.4 Đa dạng sinh học động vật thủy sản 154
5.1.5 Điều kiện kinh tế xã hội 156
5.1.6 Tổ chức quản lý 158
5.1.6.1 VQG Tràm Chim 158
5.1.6.2 KBVCQ Trà Sư 159
5.1.6.3 VQG U Minh Hạ 160
5.2 Kiến nghị 161
5.2.1 Mô hình và giải pháp quản lý 161
5.2.2 VQG Tràm Chim 163
5.2.3 KBVCQ Trà Sư 164
5.2.4 VQG U Minh Hạ 166
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 168
6.1 Tài liệu tiếng Việt 168
6.2 Tài liệu tiếng Anh 172
VII PHỤ LỤC 173
Phụ lục 1: Thành phần loài cá ở ba khu bảo tồn 173
Phụ lục 2: Thành phần loài giáp xác ở ba khu bảo tồn 177
Phụ lục 3: Thành phần loài nhuyễn thể giữa các khu bảo tồn 178
Phụ lục 4: Thành phần loài lưỡng cư và bò sát giữa các khu bảo tồn 179
Phụ lục 5: Áp phích Panô trưng bày nơi công cộng 181
Phụ lục 6: Mô hình nuôi cá đồng rừng U Minh (Cà Mau) 182
Phụ lục 7: Giới thiệu các sinh kế mới ở các khu bảo tồn 186
Phụ lục 8: Hình các loài cá các khu bảo tồn 189
Phụ lục 9: Hình các loài giáp xác ở các khu bảo tồn 200
Phụ lục 10: Hình các loài lưỡng cư bò sát ở các khu bảo tồn 201
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Bản đồ ba khu bảo tồn nghiên cứu vùng ĐBSCL 23
Hình 2: Bản đồ thu mẫu ở VQG Tràm Chim 25
Hình 3: Bản đồ thu mẫu ở KBVCQ Trà Sư 26
Hình 4: Bản đồ thu mẫu ở VQG U Minh Hạ 27
Hình 5: Biến động một số yếu tố chất lượng nước ở VQG Tràm Chim 36
Hình 6: Biến động một số yếu tố chất lượng nước ở KBVCQ Trà Sư 37
Hình 7: Biến động một số yếu tố chất lượng nước ở VQG U Minh Hạ 38
Hình 8: Tương quan giữa số loài cá và pH ở VQG Tràm Chim năm 1992 43
Hình 9: Biến động pH ở VQG Tràm Chim trong giai đoạn 1992 – 2010 44
Hình 10: Biến động thành phần loài cá ở VQG Tràm Chim (1992 – 2010) 44
Hình 11: Tương quan NH3-N và độ trong với sản lượng mẻ khai thác ở VQG Tràm Chim .45
Hình 12: Tương quan TDS và độ kiềm với sản lượng mẻ khai thác ở VQG U Minh Hạ 48 Hình 13: Biến động thực vật nổi ở VQG Tràm Chim 50
Hình 14: Biến động thực vật nổi ở KBVCQ Trà Sư 51
Hình 15: Biến động thực vật nổi ở VQG U Minh Hạ 51
Hình 16: Biến động động vật nổi ở VQG Tràm Chim 53
Hình 17: Biến động động vật nổi ở KBVCQ Trà Sư 53
Hình 18: Biến động động vật nổi ở VQG U Minh Hạ 54
Hình 19: Tương quan động thực vật nổi và cá ở VQG U Minh Hạ 56
Hình 20: Phân khu chức năng của VQG Tràm Chim 91
Hình 21: Hệ thống cống điều tiết nước ở VQG Tràm Chim 92
Hình 22: Hướng dẫn điều tiết nước ở VQG Tràm Chim (Khu A1) 93
Hình 23: Phân khu chức năng của KBVCQ Trà Sư 96
Hình 24: Hệ thống cống điều tiết nước ở KBVCQ Trà Sư 97
Hình 25: Phân khu chức năng của VQG U Minh Hạ 99
Hình 26: Hệ thống cống điều tiết nước ở VQG U Minh Hạ 100
Hình 27: Sơ đồ tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hệ động vật của KBT 103
Hình 28: Sơ đồ tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thực vật của KBT 105
Hình 29: Mô hình bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH 107
Hình 30: Hệ thống các giải pháp quản lý ở KBT 109
Hình 31: Sơ đồ quản lý nước ở các KBT 111
Hình 32: Vòng đời của nhóm cá sông 115
Hình 33: Các yếu tố tác động đến mô hình du lịch sinh thái ở KBT 119
Hình 34: Cơ cấu tổ chức sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên của KBT 124
Hình 35: Sơ đồ quản lý kinh tế xã hội bền vững 126
Hình 36: Sơ đồ tổ chức hỗ trợ sinh kế ở KBT 127
Hình 37: Mô hình quản lý tổng hợp ở VQG Tràm Chim 129
Hình 38: Mô hình quản lý tổng hợp ở KBVCQ Trà Sư 135
Hình 39: Mô hình quản lý tổng hợp ở VQG U Minh Hạ 142
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Biến động số lượng loài cá ở VQG Tràm Chim 12
Bảng 2: Thành phần loài nhuyễn thể từ các nghiên cứu trước đây 14
Bảng 3: Xếp hạng ưu tiên về công tác bảo tồn một số vùng đất ngập nước 22
Bảng 4: Các chỉ tiêu chất lượng nước và phương pháp xác định 27
Bảng 5: Ý nghĩa của hệ số tương quan (r) 32
Bảng 6: So sánh yếu tố chất lượng nước bên trong và bên ngoài KBT 35
Bảng 7: So sánh yếu tố chất lượng nước theo mùa bên trong khu bảo tồn 39
Bảng 8: Tương quan (r) giữa chất lượng nước và thực vật nổi ở VQG Tràm Chim 40
Bảng 9: Tương quan (r) giữa chất lượng nước và động vật nổi ở VQG Tràm Chim 40
Bảng 10: Tương quan (r) giữa chất lượng nước và thực vật nổi ở KBVCQ Trà Sư 41
Bảng 11: Tương quan (r) giữa chất lượng nước và động vật nổi ở KBVCQ Trà Sư 41
Bảng 12: Tương quan (r) giữa chất lượng nước và thực vật nổi ở VQG U Minh Hạ 42
Bảng 13: Tương quan (r) giữa chất lượng nước và động vật nổi ở VQG U Minh Hạ 42
Bảng 14: Tương quan (r) giữa chất lượng nước và cá ở VQG Tràm Chim 45
Bảng 15: Tương quan (r) giữa chất lượng nước và cá ở KBVCQ Trà Sư 47
Bảng 16: Tương quan (r) giữa chất lượng nước và cá ở VQG U Minh Hạ 48
Bảng 17: Thành phần loài thực vật nổi 49
Bảng 18: So sánh thực vật nổi theo vị trí và theo mùa ở VQG Tràm Chim 50
Bảng 19: So sánh thực vật nổi theo vị trí và theo mùa ở KBVCQ Trà Sư 50
Bảng 20: So sánh thực vật nổi theo vị trí và theo mùa ở VQG U Minh Hạ 51
Bảng 21: Thành phần loài động vật nổi 52
Bảng 22: So sánh động vật nổi theo vị trí và theo mùa ở VQG Tràm Chim 52
Bảng 23: So sánh động vật nổi theo vị trí và theo mùa ở KBVCQ Trà Sư 53
Bảng 24: So sánh động vật nổi theo vị trí và theo mùa ở VQG U Minh Hạ 54
Bảng 25: Tương quan (r) giữa động thực vật nổi và cá ở VQG Tràm Chim 55
Bảng 26: Tương quan (r) giữa động thực vật nổi và cá ở KBVCQ Trà Sư 55
Bảng 27: Tương quan (r) giữa động thực vật nổi và cá ở VQG U Minh Hạ 55
Bảng 28: Cấu trúc thành phần loài cá ở ba KBT 56
Bảng 29: Cấu trúc thành phần loài cá ở VQG Tràm Chim 57
Bảng 30: Biến động thành phần loài theo mùa 57
Bảng 31: Các loài cá quý hiếm ở VQG Tràm Chim 59
Bảng 32: Sản lượng mẻ khai thác tiêu biểu bằng ngư cụ đáy 59
Bảng 33: Sản lượng mẻ khai thác tiêu biểu bằng dỡ chà 60
Bảng 34: Cấu trúc thành phần loài cá ở KBVCQ Trà Sư 61
Bảng 35: Biến động thành phần loài & cấu trúc thành phần loài theo mùa 61
Bảng 36: Các loài cá quý hiếm ở KBVCQ Trà Sư 62
Bảng 37: Sản lượng mẻ khai thác bằng lưới chụp ở KBVCQ Trà Sư 63
Bảng 38: Cấu trúc thành phần loài cá ở VQG U Minh Hạ 64
Bảng 39: Cấu trúc thành phần loài theo mùa VQG U Minh Hạ 65
Bảng 40: So sánh tính đa dạng thành phần loài cá giữa các khu bảo tồn 66
Bảng 41: Sự phong phú và kích thước cá sặc bướm giữa bên trong và bên ngoài 67
Bảng 42: Sự phong phú và kích thước cá rô đồng giữa bên trong và bên ngoài 68
Trang 11Bảng 43: Cấu trúc thành phần loài giáp xác 68
Bảng 44: Thành phần loài giáp xác ở VQG Tràm Chim 69
Bảng 45: Thành phần loài giáp xác ở KBVCQ Trà Sư 70
Bảng 46: Thành phần loài giáp xác ở VQG U Minh Hạ 70
Bảng 47: So sánh tính đa dạng thành phần loài tôm cua giữa các khu bảo tồn 71
Bảng 48: Cấu trúc thành phần loài nhuyễn thể giữa các khu bảo tồn 72
Bảng 49: Thành phần loài nhuyễn thể ở VQG Tràm Chim 72
Bảng 50: Thành phần loài nhuyễn thể ở KBVCQ Trà Sư 73
Bảng 51: Thành phần loài nhuyễn thể ở VQG U Minh Hạ 74
Bảng 52: So sánh tính đa dạng thành phần loài nhuyễn thể giữa các khu bảo tồn 75
Bảng 53: Mức độ tương đồng và dị biệt nhuyễn thể giữa các khu bảo tồn 75
Bảng 54: Cấu trúc thành phần loài lưỡng cư bò sát giữa các khu bảo tồn 76
Bảng 55: Cấu trúc thành phần loài lưỡng cư bò sát ở VQG Tràm Chim 78
Bảng 56: Cấu trúc thành phần loài lưỡng cư bò sát ở KBVCQ Trà Sư 79
Bảng 57: Cấu trúc thành phần loài lưỡng cư bò sát ở VQG U Minh Hạ 79
Bảng 58: Đa dạng thành phần loài lưỡng cư bò sát giữa các KBT 80
Bảng 59: So sánh tính đa dạng động vật thủy sản giữa các khu bảo tồn 81
Bảng 60: Trình độ học vấn của chủ hộ (%) 82
Bảng 61: Tình trạng cư trú nông hộ 82
Bảng 62: Mức độ nghèo của nông hộ (%) 83
Bảng 63: Tình hình sản xuất nông nghiệp của nông hộ 83
Bảng 64: Nghề nghiệp của nông hộ (%) 84
Bảng 65: Thu nhập của nông hộ 85
Bảng 66: Đánh giá tầm quan trọng của KBT của người dân địa phương 85
Bảng 67: Đề nghị của cộng đồng địa phương trong việc quản lý KBT 86
Bảng 68: Quy định quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các KBT 90
Bảng 69: Mực nước điều tiết nước ở VQG Tràm Chim 92
Bảng 70: Ma trận SWOT về công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH 102
Bảng 71: Tỷ lệ diện tích các thảm thực vật 112
Bảng 72: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của phát triển du lịch sinh thái 118
Bảng 73: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ đối với cộng đồng địa phương 125
Bảng 74: Bảng tra cấp cháy rừng theo độ ẩm 145
Trang 12CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 13I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có tổng diện tích tự nhiên 4.051.900ha, chiếm 12,2% tổng diện tích của cả nước Trong đó, diện tích dành cho phát triển lâm nghiệp là 357.837ha chiếm 8,83% (307.524ha có rừng và 50.313ha chưa có rừng), tập trung nhiều nhất ở tỉnh Kiên Giang (113.854ha) và Cà Mau (108.471ha) (thống
kê 12/2010) Trong 357.837ha gồm: 77.115ha rừng đặc dụng, 110.985ha rừng phòng hộ
và 169.737ha rừng sản xuất ĐBSCL có hai hệ sinh thái rừng ngập nước đặc trưng là hệ
sinh thái rừng ngập nước chua phèn với cây tràm (Melaleuca cajuputi) là tiêu biểu với
tổng diện tích khoảng 140.000ha và hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển đặc trưng là cây đước (Rhizophora apiculata) với diện tích 92.627ha Độ che phủ rừng vùng ĐBSCL hiện nay đạt 10,71% (theo kết quả Dự án 661)
Đối với rừng ngập nước chua phèn vùng ĐBSCL hiện có 8 khu bảo tồn (KBT) được thành lập với tổng diện tích 29.922ha rừng đặc dụng: VQG Tràm Chim (Đồng Tháp), VQG U Minh Hạ (Cà Mau), VQG U Minh Thượng (Kiên Giang), Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư (An Giang), Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng (Hậu Giang), Ban quản lý sân chim Bạc Liêu, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Láng Sen và Trung tâm bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười (Long An) Đối với rừng ngập mặn hiện
có hai KBT với tổng diện tích 16.414ha rừng đặc dụng: VQG Mũi Cà Mau và Khu bảo tồn đất ngập nước Thạnh Phú (Bến Tre)
Việt Nam được xếp vào nhóm 12 quốc gia có tính ĐDSH cao nhất thế giới (John
và Nguyễn Đức Tú, 2007) ĐDSH bao gồm sự phong phú về loài sinh vật, kiểu gen, và hệ sinh thái trong tự nhiên Hiện nay Việt Nam đã thống kê và mô tả được 870 loài cá, 310
loài thú, 17,700 loài thực vật (Bộ TNMT et al., 2005), 822 loài chim (BirdLife International 2006), 286 loài bò sát (Bộ TNMT et al., 2005) và 145 loài lưỡng cư (IUCN
et al., 2006) trong khu vực nội địa Ngoài ra, nhiều loài mới cũng không ngừng được mô
tả trong thời gian gần đây
Vùng ĐBSCL là vùng khai thác thủy sản trọng điểm của cả nước Nguồn lợi thủy sản rất đa dạng và phong phú và nghề khai thác thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cũng như việc làm cho hàng triệu người dân địa phương Hiện nay đã xác định được 255 loài cá thuộc 43 họ và 130 giống (Mai Đình Yên, 1992);
18 loài tôm nước ngọt (Nguyễn Văn Thường và Trương Quốc Phú, 2004), 54 loài lưỡng
cư bò sát (Hồ Thu Cúc và Nguyễn Thiên Tạo, 2009)
Các động vật thủy sản có một mối liên hệ hữu cơ mật thiết với nhau được biểu diễn trong mắt xích chuỗi thức ăn, nếu một mắt xích bị mất đi, sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ các sinh vật khác trong chuỗi thức ăn đó Khi một số loài bị mất đi, một số loài khác có thể lại chiếm ưu thế, điều này làm cho hệ thống sinh thái đó bị mất cân bằng Do đó, ĐDSH được xem là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá tính bền vững của một quần
xã sinh vật trong một thủy vực
Mặc dù Việt Nam được xếp vào những quốc gia có tính sinh học cao nhất thế giới, nhưng cũng được xếp vào quốc gia có tính ĐDSH bị đe dọa nặng nề nhất (John và Nguyễn Đức Tú, 2007) Hiện nay có tổng cộng 522 sinh vật được xếp vào nhóm sinh vật
Trang 14đang bị đe dọa (John và Nguyễn Đức Tú, 2007) Theo IUCN et al (2006) Việt Nam có 8 loài chim đặc hữu (trong đó 6 loài bị đe dọa ở mức độ toàn cầu); 5 loài thú và 1 loài bò sát đặc hữu bị đe dọa toàn cầu; 39 loài lững cư đặc hữu (trong đó có 4 loài đang bị đe dọa ở mức độ toàn cầu)
Một số nguyên nhân chính cho vấn đề này đó là khai thác quá mức do nhu cầu ngày càng tăng, đô thị hóa, diện tích tự nhiên bị thu hẹp dần, và công tác bảo tồn chưa đạt hiệu quả cao Điều này dẫn đến số lượng cá thể các loài hoang dã đang suy giảm mạnh, và
số lượng loài đang bị đe dọa ngày càng gia tăng, đặc biệt đối với những loài phân bố hẹp như những loài đặc hữu Trung bình mỗi năm diện tích rừng tự nhiên bị mất đi là
350,000ha trong thời gian 30 năm gần đây (Mai Văn Nam et al., 2001) Điều này tác động
mạnh mẽ đến tính đa dạng học trong khu vực
Trước tình hình đó, công tác bảo tồn ĐDSH đã và đang được chú ý và đẩy mạnh
Cụ thể là Việt Nam đã ban hành Luật Đa Dạng Sinh Học và có hiệu lực từ ngày 1/07/2009 quy định về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Ngoài ra, hệ thống KBT thiên nhiên ngày càng được mở rộng Theo IUCN (2008) Việt Nam có 164 khu rừng đặc dụng (30 vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan, và 20 khu nghiên cứu khoa học) bao gồm các hệ sinh thái và cảnh quan đặc trưng với giá trị ĐDSH tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước, với tổng diện tích tự nhiên là 2.265.753,88ha, chiếm 6,8% diện tích tự nhiên
Việc mở rộng hệ thống rừng đặc dụng đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ môi trường, hệ sinh thái và nguồn tài nguyên thiên nhiên, đây là nơi cư trú quan trọng cho các loài động vật hoang dã Điều này đã đóng góp tích cực đối với việc bảo vệ môi trường và ĐDSH trong nước và toàn cầu Việt Nam đã tham gia vào một số công ước quốc tế về bảo tồn như: Công ước Ramsar năm 1971, Công ước đa dạng sinh học (CBD) năm 1992, Công ước về buốn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp năm 1975 (CITES), Công ước về các loài di cư; Công ước bảo tồn các di sản thiên nhiên
và văn hóa thế giới (UNESCO); và là thành viên của tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN)
Việc đánh giá hiện trạng ĐDSH động vật thủy sản ở các KBT được xem là một công việc hết sức quan trọng Đây cũng là một trong những lĩnh vực ưu tiên của quốc gia nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn ĐDSH góp phần vào công tác bảo tồn của thế giới đề ra như các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết Trên cơ sở đánh giá hiện trạng
đa dạnh sinh học động vật thủy sản, sẽ đề xuất một số các giải pháp và mô hình quản lý thích hợp trong một số KBT vùng ĐBSCL
Trang 151.2 Mục tiêu của đề tài
− Xây dựng cơ sở khoa học phục vụ bảo tồn động vật thủy sản cho một số vườn quốc gia và khu bảo tồn vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
− Đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp để duy trì và bảo vệ sự đa dạng sinh học các động vật thủy sản
1.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài có 4 nội dung sau:
– Nội dung 1: Xác định và đánh giá các yếu tố môi trường nước, điều kiện tự nhiên
và nguồn thức ăn tự nhiên ảnh hưởng đến sự phân bố và ĐDSH động vật thủy sản Yêu cầu của nội dung này cần đánh giá hiện trạng các yếu tố tự nhiên (môi trường nước, điều kiện tự nhiên và nguồn thức ăn tự nhiên) và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố này đến tính ĐDSH động vật thủy sản Để từ đó có kế hoạch bảo tồn ĐDSH một cách hiệu quả
– Nội dung 2: Điều tra và đánh giá hiện trạng ĐDSH động vật thủy sản Yêu cầu của nội dung này cần xác định mức độ đa dạng và phong phú động vật thủy sản thông qua một số chỉ tiêu đánh giá Dựa trên cơ sở đó có kế hoạch bảo tồn và phát triển thích hợp
– Nội dung 3: Điều tra và đánh giá điều kiện kinh tế xã hội của cộng đồng người dân
có đời sống gắn liền với vùng nghiên cứu Yêu cầu của nội dung này cần đánh giá các đặc điểm kinh tế xã hội của cộng đồng sống xung quanh KBT ảnh hưởng đến việc bảo tồn động vật thủy sản
– Nội dung 4: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp và mô hình quản lý thích hợp để bảo
vệ và phát triển bền vững ĐDSH động vật thủy sản Dựa trên các kết quả của các nội dung trên, tiến hành đánh giá tổng hợp và đề xuất các giải pháp và mô hình quản lý thích hợp để bảo tồn ĐDSH một cách hiệu quả hơn
Cấu trúc của báo cáo sẽ trình bày theo thứ tự từng nội dung trên Ba nội dung đầu tiên sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá thực trạng: môi trường nước, động thực vật phiêu sinh, đa dạng sinh học động vật thủy sản, điều kiện kinh tế xã hội của cộng đồng người dân địa phương sống xung quanh các KBT và công tác quản lý ở các KBT Dựa trên cơ sở đó, nội dung 4 sẽ đề xuất các giải pháp và mô hình quản lý trong việc bảo tồn ĐDSH bền vững ở các KBT vùng ĐBSCL
Trang 161.4 Giới hạn của đề tài
Mặc dù ĐDSH bao gồm ba thành phần: đa dạng về thành phần loài sinh vật, phong phú về kiểu gen, và đa dạng hệ sinh thái trong tự nhiên, nhưng Đề tài chỉ giới hạn ở đánh giá về tính đa dạng thành phần loài
Động vật thủy sản trong Đề tài này chỉ bảo gồm các động vật thủy sản sau: (1) Cá thuộc lớp cá xương (Osteichthyes); (2) Tôm tép cua thuộc lớp giáp xác (Crustacea); (3) Nhuyễn thể thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) và lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia); (4) Lưỡng
cư bò sát thuộc lớp lưỡng cư (Amphibia) và lớp bò sát (Reptilia), tuy nhiên trong lớp bò sát không bao gồm những loài sống chủ yếu trên cạn như: họ tắc kè (Gekkonidae), họ nhông (Agamidae), họ thằn lằn bóng (Scincidae) và họ kỳ đà (Varanidae)
Ba KBT thuộc hệ sinh thái đất ngập nước chua phèn điển hình cho vùng ĐBSCL nằm trong hệ thống rừng đặc dụng được chọn trong nghiên cứu này bao gồm: VQG Tràm Chim; KBVCQ Trà Sư; và VQG U Minh Hạ Ba KBT thiên thiên này đều thuộc vùng đất ngập nước cần được ưu tiên cho công tác bảo tồn, trong đó VQG Tràm Chim được xếp ưu
tiên thứ 2, VQG U Minh Hạ xếp thứ 5, và KBVCQ Trà Sư xếp thứ 8 (Buckton et al.,
2000)
Trang 17II TỔNG QUAN
2.1 Hiện trạng phân khu chức năng ở các KBT nghiên cứu
2.1.1 VQG Tràm Chim
thành lập với tên gọi là Công ty Nông Lâm Ngư trường Tràm Chim, với mục đích
là trồng tràm và khai thác thủy sản, và vừa giữ lại được một phần hình ảnh của vùng ngập nước Đồng Tháp Mười trước kia
Thiên Nhiên Tràm Chim cấp tỉnh, với mục đích là bảo tồn loài sếu đầu đỏ
theo Quyết định số 47/TTg ngày 2 tháng 2 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ kèm theo thông tư số 4991/KGVX, với diện tích 7.500 ha
ngày 29 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích được điều chỉnh lại là 7.588 ha
2.1.1.1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Phân khu này (A1) có diện tích là 4.942,8ha, chiếm 67,6% Đây là nơi kiếm ăn của
rất nhiều loài chim với các thảm thực vật như: cỏ năng (Euleocharis spp.); tràm (Melaleuca cajiputi); lúa ma (Oryza spp.); cỏ ống (Panicum spp.); cỏ mồm (Ischaemum spp.); sen-súng-nghễ Trong đó, diện tích đồng cỏ năng chiếm cao nhất với 37%, tiếp sau
đó là diện tích rừng tràm chiếm 20% diện tích phân khu này
Đây là phân khu có hệ thống quản lý nước hoàn chỉnh cho phép chủ động điều tiết nước mực nước bên trong Phân khu này có hệ thống kinh mương − bờ đê xung quanh, hiện tại có 4 cống điều tiết nước nằm ở hệ thống bờ đê này Ngoài ra, một số kênh đã được đào ở bên trong, do đó độ phèn và chu trình chất dinh dưỡng cũng bị thay đổi Điều này đã làm thay đổi về thành phần thực vật, phân bố, và tốc độ sinh trưởng của chúng (VQG Tràm Chim, 2007)
Chức năng của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt gồm:
• Bảo tồn các loài chim nước, đặc biệt là sếu đầu đỏ (Sarus crane Sharpii)
• Bảo tồn sinh cảnh tự nhiên độc đáo như đồng cỏ, lúa trời, đầm sen, đầm súng, đồng cỏ năng, các rạch nước tự nhiên
• Bảo tồn quá trình sinh thái của đất ngập nước như tái tạo chế độ ngập nước tự nhiên như trước đây nhằm bảo vệ đa dạng sinh học của đất ngập nước
Trang 18Các biện pháp quản lý:
tồn đa dạng sinh học Thí dụ như nâng cấp và xây dựng các cống, đập tràn, cột đo nước để phục vụ cho việc điều tiết mực nước được thích hợp, tạo điều kiện cho các quần xã thực vật phát triển và tạo nơi cư trú và bãi ăn cho các loài chim nước
phát triển của một số loài thực vật
ốc bưu vàng (Pomacea canaliculata)
thủy sản và thực vật với sự tham gia của cộng đồng
• Phát triển khu lịch sinh thái như lập các tuyến du lịch sinh thái để nâng cao giá trị tham quan và học tập nghiên cứu
2.1.1.2 Phân khu phục hồi sinh thái
Phân khu phục hồi sinh thái (A2, A3, A4, A5) có tổng diện tích 2.340ha, chiếm 31,9% Trước đây phân khu A2, A3, A4 là khu bảo vệ nghiêm ngặt, tuy nhiên sau này được chuyển thành phân khu phục hồi sinh thái nhằm thực hiện các biện pháp tái tạo các quá trình sinh thái của dất ngập nước, điều tiết rừng tràm, và xử lý các vật liệu dễ cháy để phòng chống cháy rừng
Khu A2 có diện tích 112,7ha Đây là phân khu cũng có hệ thống kiểm soát mực nước bên trong phân khu và có các thảm thực vật như năng, tràm, cỏ ống, cỏ mồm, cây mai dương, nghể
Hiện nay diện tích khu A3 chỉ còn 44,5ha do một phần phía Đông-Nam của khu này đã trả lại cho người dân địa phương Trước đây, tiểu khu này là bãi ăn quan trọng của sếu đầu đỏ, nhưng hiện tại đồng cỏ năng biến mất và cây mai dương xâm lấn phần lớn diện tích khu vực này (VQG Tràm Chim, 2007)
Khu A4 có diện tích là 731,9ha Trước đây đây là bãi ăn quan trọng của sếu, tuy nhiên cây mai dương đã xâm lấn khu vực này và làm cho diện tích cỏ năng bị thu hẹp đáng kể Đây là phân khu có hệ thống kênh nối liên thông với các kênh bên ngoài, do đó tiểu khu này thông thoáng trực tiếp với các vùng bên ngoài, đặc biệt là trong mùa lũ, ngược lại không giữ được nước trong mùa khô Đáng chú ý là sự xâm lấn của cây mai dương trở nên rất nghiêm trọng
Khu A5 có diện tích 440,5ha Đây là khu không có hệ thống kênh-bờ đê điều tiết nước Hiện nay sếu đến kiếm ăn ở khu vực này khá nhiều, tuy nhiên cây mai dương đang xâm lấn làm hạn chế sự phát triển của năng Ngoài ra lượng phù sa nhiều trong mùa lũ, cho nên làm giảm sự phát triển của đồng cỏ năng (VQG Tràm Chim, 2007)
Trang 19Chức năng của khu phục hồi sinh thái bao gồm:
• Bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước
• Bảo vệ nơi làm tổ, đẻ trứng, và chỗ kiếm ăn của các loài chim
trúc rừng tràm
• Phát triển du lịch sinh thái
Các biện pháp quản lý:
• Bảo vệ và tái tạo, nơi cư trú, và kiếm ăn của các loài chim
• Tái tạo bãi ăn, và nơi cư trú của Sếu bằng việc trồng năng kim
tồn nơi cư trú của các loài chim
ngoại lai
2.1.1.3 Phân khu dịch vụ hành chánh
Phân khu (C) có diện tích 30,6ha được quy hoạch xây dựng các công trình phục vụ công tác quản lý hành chính, nghiên cứu khoa học, và phát triển du lịch sinh thái Nghiêm cấm định cư và lấn chiếm trái quát, xây dựng các công trình lớn gây tác động đến môi
trường
2.1.2 KBVCQ Trà Sư
rừng tràm Trà Sư theo Công Văn số 22/TT.UB
xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Trà Sư theo công văn số: 1609/CV-BNN-KL
giúp xây dựng Dự án bảo tồn rừng Trà Sư theo Công văn số: 28/CV/ KL
phê duyệt thành lập “Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư” với tổng diện tích
845ha
Trang 202.1.2.1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Diện tích phân khu này là 441ha (chiếm 52% tổng diện tích) bao gồm các tiểu khu 2a, 2b, 5a, 5b, 6a, 6b Các tiểu khu này được phân cách bằng hệ thống kinh mương, do đó các tiểu khu độc lập với nhau Phần lớn diện tích này rừng tràm (373ha), đất trống có cỏ
là bãi ăn của chim (36ha), diện tích mặt nước là 25ha
Chức năng của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt gồm:
• Bảo vệ và tái tạo những cảnh quan tiêu biểu của vùng đất ngập lũ
• Bảo tồn các quần xã thực vật, bảo vệ khu làm tổ nơi cư trú và kiếm ăn của các loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài chim nước và dơi
• Tạo nơi cư trú thích hợp cho các loài thủy sản và cung cấp nguồn giống thủy sản tự nhiên cho những vùng lân cận
• Cung cấp địa bàn du lịch sinh thái, giáo dục và bảo vệ môi trường
Các biện pháp quản lý:
quần xã thực vật, và duy trì được những cảnh quan và môi trường của vùng đất ngập lũ này
thiết bị và huấn luyện cho các nhân viên quản lý, đặc biệt là có sự tham gia của nhân dân địa phương vào các hoạt động quản lý bảo vệ rừng
hưởng xấu đến môi trường, và không phá vỡ cảnh quan thiên nhiên
lịch sinh thái và tuần tra canh gác
lịch sinh thái
• Nghiêm cấm xây dựng các công trình lớn gây ảnh hưởng đến nơi cu trú và môi trường sống của các loài động vật Nghiêm cấm chặt phá rừng và săn bắn động vật rừng
2.1.2.2 Phân khu phục hồi sinh thái
Phân khu này bao gồm các tiểu khu 1a, 1b, 14a, 4b với tổng diện tích là 245ha, chiếm 29% tổng diện tích Trong đó diện tích rừng tràm là 186ha, đồng cỏ và lung đìa là 55ha
Chức năng của phân khu phục hồi sinh thái gồm:
vùng lõi
• Phục hồi cảnh quan thiên nhiên của hệ sinh thái đất ngập nước
Trang 21Các biện pháp quản lý gồm:
• Thực hiện các biện pháp hợp lý để tránh làm thoài hóa và suy giảm tài nguyên thiên nhiên
• Trồng một số loài thực vật và thả một số loài động vật có nguồn gốc bản địa
động vật hoang dã
2.1.2.3 Phân khu dịch vụ hành chánh
Diện tích phân khu này là 159ha ở tiểu khu 3a và 3b
Chức năng của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt gồm:
• Cung cấp các dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ ngơi và giải trí
thưa rừng và khai thác nguồn lợi thủy sản
Các biện pháp quản lý:
tập
vụ các hoạt động du lịch sinh thái
cho người dân địa phương
2.1.3 VQG U Minh Hạ
diện tích rừng là 3.214ha và diện tích phần còn lại bao gồm đất nông nghiệp, kênh rạch, và đất thổ cư
KBT thiên nhiên Vồ Dơi thành VQG nhằm bảo tồn đa dang sinh học của hệ sinh thái vùng rừng tràm trên đất than bùn của vùng U Minh Hạ
Hạ theo Quyết định số 358/QĐ-CTUB ngày 6/5/2005 Theo Quyết định này VQG
U Minh Hạ sử dụng toàn bộ diện tích khu bảo tồn thiên nhiên Vồ Dơi và một phần
Trang 22diện tích: Lâm Ngư Trường Trần Văn Thời thuộc huyện Trần Văn Thời; Lâm Ngư Trường U Minh III thuộc huyện U Minh; và Khu Trại Giam K1 Cái Tàu
diện tích là 8.527,8ha theo Quyết định số 112/QĐ-TTg ngày 20 tháng 1 năm 2006
2.1.3.1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Đây là toàn bộ diện tích vùng lõi KBT thiên nhiên Vồ Dơi cũ, đây là phân khu bảo tồn hệ sinh thái trên đất than bùn có tổng diện tích 2.592,6 ha, chiếm 30% tổng diện tích, thuộc các tiểu khu IX, X, XI, XII Trong đó rừng trồng là 1.315,6 ha (51%), rừng tự nhiên
là 1.110,6ha (43%), đất phi nông nghiệp (kênh, giao thông) là 173,7ha (6%), đất trống là 2,7ha
Chức năng của phân khu này là:
quan tự nhiên hệ động vật và thực vật tự nhiên
dã, đặc biệt là các loài chim nước
cho vùng và những vùng lân cận
quan thiên nhiên, và môi trường sinh thái đất ngập nước
Các biện pháp quản lý:
quá trình tái sinh và sinh trưởng của rừng; bảo vệ và tái tạo nơi cư trú của các loài động vật và thực vật bản địa
quần xã thực vật và động vật, duy trì những cảnh quan và môi trường của các sinh cảnh tự nhiên, bảo vệ hệ sinh thái rừng trên đất than bùn
số công trình tháp quan sát, cầu gỗ nhỏ và các điểm dừng chân, và một số mô hình của các di tích lịch sử ở quy mô nhỏ để phục vụ cho các hoạt động du lịch sinh thái
trường, đảo lộn cảnh quan thiên nhiên, và các khu cư trú của các loài động vật Ngoài ra cũng nghiêm cấm chặt phá rừng và săn bắn các loài động vật, nghiêm cấm xây dựng các khu định cư và trung tâm dân cư kế cận
cường trang thiết bị, phương tiện, và huấn luyện nhân viên quản lý bảo vệ rừng
Trang 23Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động quản lý bảo vệ rừng và sử dụng bền vững tài nguyên rừng
2.1.3.2 Phân khu phục hồi sinh thái
Đây là vùng phục hồi và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng ngập nước (hoàn toàn
là rừng trồng) với diện tích là 5.134,2ha, chiếm 60% tổng diện tích, thuộc các tiểu khu: I(59), II(69), III(70), IV(61), V(72), VI(73), VII(63), XIII (V+VI) Trong đó, diện tích rừng là 4.608,7ha (90%), đất phi nông nghiệp là 524,7ha (10%), đất trống là 0,8ha
Chức năng của phân khu này là:
sống và kiếm ăn của các động vật hoang dã và các loài chim nước; bảo vệ nguồn gien sinh vật quý hiếm và những cảnh quan thiên nhiên đặc thù của hệ sinh thái rừng ngập nước
• Tái tạo hệ động vật và thực vật bản địa
• Sử dụng bền vững các loại tài nguyên của hệ sinh thái đất ngập nước
Các biện pháp quản lý:
• Tái tạo rừng bằng các phương tiện xúc tiến tái sinh tự nhiên và trồng lại rừng bằng các biện pháp thích hợp
rừng; tăng cường năngg lực cho các nhân viên quản lý bảo vệ rừng, thu hút sự tham gia của nhân dân địa phương vào các hoạt động quản lý bảo vệ rừng
phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương
bảo nhu cầu quản lý điều tiết nước, phục vụ cho du lịch sinh thái, và giao thông tuần tra quản lý rừng
bùn
điểm dừng chân, và một số mô hình di tích lịch sử thu nhỏ để phục vụ cho các hoạt động du lịch sinh thái
• Nghiêm cấm xây dựng những công trình lớn thu hút đông người gây ảnh hưởng đến môi trường sống và nơi cư trú các động vật
Trang 242.1.3.3 Phân khu dịch vụ hành chánh
Phân khu này sẽ được xây dựng ở khu vực mới thuộc tiểu khu VIII (75;76;77) với tổng diện tích là 801ha, chiếm 10% tổng diện tích được chia thành ba khu vực chính như sau: (1) Khu trung tâm quản lý hành chính và nghiên cứu khoa học; (2) Xây dựng một hồ sinh thái chứa nước lớn (200-250ha) nhằm phòng chữa cháy rừng và cung cấp nước ngọt người dân vùng lân cận; (3) Khu dịch vụ du lịch sinh thái bao gồm khu trung tâm hành chánh dịch vụ du lịch, khu tham quan động vật, khu rừng sinh thái tạo cảnh quan cho
khách du lịch
2.2 Đa dạng động vật thủy sản
2.2.1 VQG Tràm Chim và vùng lân cận
2.2.1.1 Cá
Từ tháng 11/1991 đến tháng 7/1992 ở VQG Tràm Chim đã xác định được 20 loài
cá Do khai thác triệt để trong năm 1991 (mở cống tháo nước cạn để khai thác cá), cho nên mực nước mùa khô năm 1992 rất thấp (0,6 – 0,8m) và nhiễm phèn nặng (pH = 2,8), cho nên tháng 7/1992 chỉ xác định được 4 loài Sự khai thác triệt để kết hợp với sự nhiễm phèn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng loài cá và sản lượng khai thác (Nguyễn Thanh Tùng, 1997) Đây là khoảng thời chưa có sự điều tiết nước (mực nước rất cạn trong mùa khô) và có sự khai thác thủy sản, do đó đã ảnh hưởng đến tính đa dạng thành phần loài cá
Năm 1993 – 1996 đã xác định được tổng cộng 77 loài cá ở VQG Tràm Chim Trong đó thành phần loài cá tăng dần theo thời gian và thay đổi theo mùa rõ rệt: thành phần loài cá mùa mưa đa dạng hơn mùa khô, mùa mưa cao hơn 10 – 18 loài (Bảng 1) Sự biến động về chất lượng nước và quản lý khai thác đã ảnh hưởng rất lớn đến biến động thành phần loài cá ở Tràm Chim Nhóm cá trắng hay nhóm cá sông chiếm ư thế với 80,52% tổng thành phần loài (Nguyễn Thanh Tùng, 1997) Từ năm 1995 trở đi, VQG Tràm Chim được điều tiết mực nước một cách chủ động (mực nước trong mùa khô được điều tiết cao hơn so với bên ngoài), thành phần loài cá cũng đa dạng hơn so với trước đó Như vậy việc điều tiết nước và chế độ quản lý chặt chẽ về khai thác thủy sản đã phát huy tính hiệu quả trong việc bảo tồn tính đa dạng thành phần loài cá ở VQG Tràm Chim Bảng 1: Biến động số lượng loài cá ở VQG Tràm Chim
Nguồn: Nguyễn Thanh Tùng (1997)
Năm 2006 đã xác định được tổng cộng 49 loài ở khu vực Đồng Tháp Mười, trong
đó có 33 loài cá kinh tế ở VQG Tràm Chim (Linstead et al., 2006) Đây là nghiên cứu chỉ xác định thành phần loài cá kinh tế, các loài cá có kích thước nhỏ chưa được cập nhật cho nên thành phần loài thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây
Trang 25Kết quả khảo sát năm 2007 đã xác định được 119 loài cá (WWF, 2007) Trong đó
đa số thuộc nhóm cá trắng di cư từ sông vào VQG thông qua hệ thống cống điều tiết lũ chiếm 76,47% tổng thành phần loài
2.2.1.2 Tôm cua
Theo Nguyễn Đinh Hùng (1993) đã xác định được 4 loài tôm/tép/cua, trong đó có
3 loài tôm/tép (Macrobrachium lanchesterri; M esculentum; Caridina nilotica) và 1 loài cua đồng (Somanniathelphusa degasti) ở VQG Tràm Chim
Năm 1997 xác định được tổng cộng 7 loài thuộc lớp giáp xác, trong đó có 6 loài
tôm/tép (Macrobrachium lanchesterri; M mammilodactylus; M sintangense; Caridina ninotica; C acuticaudata; C vietnamica ) và 1 loài cua đồng (Somanniathelphusa
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Công Thuận và Dương Trí Dũng (2006) chỉ xác định được 1 loài cua đồng (Somaniniathelphusa sinensis), không xác định được loài tôm/tép phân bố tại đây
Trên đây là những nghiên cứu về động vật đáy nói chung, không có nghiên cứu nào chuyên biệt về thành phần loài tôm cua Do đó thành phần loài tôm cua khá khác nhau
2.2.1.3 Lưỡng cư bò sát
Đối với nhóm lưỡng cư bò sát, trong VQG Tràm Chim đã xác định được tổng cộng
23 loài, trong đó 5 loài ếch/nhái/cóc, 5 loài thằn lằn và 13 loài trăn/rắn Chú ý là các loài trong bộ rùa không được nghiên cứu Tất cả các loài này được chụp hình ngay tại hiện trường và là nghiên cứu đầu tiên về lưỡng cư bò sát ở VQG Tràm Chim (Krohn, 2009) Ngoài ra thành phần loài lưỡng cư bò sát trên địa bàn huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp (rất gần với VQG Tràm Chim) đã xác định được 49 loài, trong đó có 17 loài ếch/nhái/cóc,
21 loài trăn/rắn, 4 loài rùa/baba, 1 loài cá sấu, 6 loài tắc kè/ kỳ nhông/ thằn lằn/ thạch sùng (Hoàng Thị Nghiệp và Phạm Văn Hiệp, 2009)
VQG Tràm Chim là khu đất ngập nước nằm trong vùng Đồng Tháp Mười thuộc hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam Đây là khu vực đất ngập lũ theo mùa với các thảm thực vật đặc trưng là rừng tràm và các trảng cỏ, ngoài ra hầu như toàn bộ diện tích vùng lân cận được sử dụng cho mục đích nông nghiệp Do đó thành phần loài lưỡng cư bò sát
có tính đa dạng thấp hơn so với những vùng khác
2.2.1.4 Nhuyễn thể (Mollusca)
Trong giai đoạn 1991 – 1993, VQG Tràm Chim đã xác định được tổng cộng 12 loài nhuyễn thể, trong đó 5 loài thuộc lớp Gastropoda và 7 loài thuộc lớp Bivalvia (Nguyễn Đinh Hùng, 1993) Năm 1996 VQG Tràm Chim đã xác định được tổng cộng 8 loài: 4 loài thuộc lớp Gastropoda và 4 loài thuộc lớp Bivalvia (Nguyễn Đinh Hùng và Trần Quang Minh, 1997) Chú ý là trong giai đoạn 1991 – 1993 là chưa có sự điều tiết
Trang 26nước, nhưng giai đoạn 2005 – 2006 là có sự điều tiết nước Điều này cho thấy sự điều tiết nước đã làm suy giảm tính đa dạng thành phần loài nhuyễn thể ở VQG Tràm Chim (giảm
4 loài) Thành phần loài của 2 công trình nghiên cứu này được trình bày trong Bảng 2 Bảng 2: Thành phần loài nhuyễn thể từ các nghiên cứu trước đây
Công trình nghiên cứu
(1993) Trần Quang Minh (1997) Nguyễn Đinh Hùng và
Nghiên cứu gần đây nhất (Nguyễn Công Thuận và Dương Trí Dũng, 2006) có thành phần loài đa dạng hơn các nghiên cứu trước đó là do nghiên cứu này có thu mẫu thêm ở một số kênh ở bên ngoài KBT Do đó thành phần loài thuộc lớp Bivalvia rất đa dạng với 7 loài
2.2.3 KBVCQ Trà Sư và vùng lân cận
2.2.3.1 Cá
Thành phần loài động vật thủy sản chưa được nghiên cứu nhiều ở KBVCQ Trà Sư Theo kết quả nghiên cứu của của Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh An Giang (2004) đã xác định được 23 loài cá, trong đó 10 loài thuộc nhóm cá đồng có khả năng chịu phèn nên xuất hiện quanh năm và 13 loài thuộc nhóm cá sông chỉ xuất hiện vào mùa lũ
Kết quả điều tra thành phần loài cá trên địa bàn tỉnh An Giang đã xác định được
130 loài cá thuộc 40 họ và 13 bộ, trong đó có 51 loài cá kinh tế Thành phần loài cá chủ yếu thuộc 3 bộ: cao nhất là bộ cá chép (Cypriniformes) với 35,38%, kế đến là bộ cá nheo
Trang 27(Siluriformes) với 25,38%, bộ cá vược (Peciformes) chiếm 20,77% (Nguyễn Thanh Tùng
et al., 2007)
2.2.3.2 Tôm cua
Thành phần loài giáp xác trong KBVCQ Trà Sư đã xác định được 1 loài tép
(Macrobrachium sp.) và 1 loài cua đồng (Somanniathelphusa degasti) (Chi Cục Kiểm
Lâm tỉnh An Giang, 2004)
Thành phần loài tôm tép trên địa bàn tỉnh An Giang đã xác định được 4 loài
tôm/tép nước ngọt (Macrobrachium rosenbergii; M equidense; M lanchesteri; M mirabile ) thuộc 1 họ tôm gai (Palaemonidae) (Nguyễn Thanh Tùng et al., 2007)
2.2.3.4 Nhuyễn thể (Mollusca)
Đối với nhuyển thể ở KBVCQ Trà Sư đã xác định được tổng cộng 4 loài: 2 loài thuộc lớp Gastropoda và 2 loài thuộc lớp Bivalvia (Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh An Giang, 2004) Nghiên cứu này kết luận rằng tính đa dạng và phong phú thường tập trung ở các khu vực có sự trao đổi nước thường xuyên
Thành phần loài nhuyễn thể ở kinh Cái Mây, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã xác định được 7 loài thuộc lớp Bivalvia (Corbicula spp.) và không có sự phân bố của loài
thuộc lớp Gastropoda (Dương Trí Dũng et al., 2008) Nhóm tác giả kết luận các loài hến (Corbicula spp.) là chỉ thị cho môi trường chịu tác động trực tiếp của nguồn nước sông
Sinh vật lượng biến động khá lớn từ 20,9 – 3.569g/m2
2.2.4 VQG U Minh Hạ và vùng lân cận
2.2.4.1 Cá
Theo kết quả của điều tra của VQG U Minh Hạ (2007) ước lượng có khoảng 37 loài cá Trong đó có 9 loài cá bản địa có giá trị kinh tế: rô đồng, thát lát, lóc đồng, dày, lóc bông, sặc rằn, sặc bướm, trê vàng và trê trắng Tuy nhiên nghiên cứu này không liệt kê thành phần loài cá này
Năm 2009 VQG U Minh Hạ xác định được 6 loài cá có giá trị kinh tế (Võ Thị
Gương et al., 2009) Thành phần loài đặc trưng cho rừng U Minh, chủ yếu thuộc nhóm cá
Trang 28đen như cá lóc đồng, rô đồng, trê vàng, thát lát, sặc bướm và sặc rằn có khả năng chịu được điều kiện khăc nghiệt của môi trường
Thành phần loài cá ở VQG U Minh Thượng (Kiên Giang) đã xác định được tổng cộng 37 loài cá thuộc 17 họ và 7 bộ Nghiên cứu này thu mẫu bằng rất nhiều loại ngư cụ như lưới chụp, vó, lờ lợp, câu, câu giăng, lưới bén, vợt xúc và khảo sát chợ lân cận
(Nguyễn Xuân Đặng et al., 2004) Cũng trong thời gian này Trần Đắc Định et al (2004)
xác định được 9 loài cá có giá trị kinh tế cao như cá: lóc đồng, cá dày, rô đồng, trê vàng, trê trắng, thát lát, sặc bướm, sặc điệp và sặc rằn
Thành phần loài cá ở Lâm Ngư Trường Sông Trẹm, có vị trí gần với VQG U Minh
Hạ đã xác định được tổng cộng 34 loài cá (Phạm Minh Thành, 2006) Thành phần loài cá
ở Lâm Ngư Trường Sông Trẹm bao gồm nhóm cá đen, cá trắng và cá nước lợ vì đây là một KBT có sự trao đổi nước với môi trường bên ngoài, do đó thành phần loài cá cũng được bổ sung từ các thủy vực lân cận
2.2.4.2 Tôm cua
Thành phần loài tôm cua ở VQG U Minh Hạ chưa được nghiên cứu Đối với VQG
U Minh Thượng đã xác định được 3 loài tép (Macrobrachium mamilodactylus, Macrobrachium sp và Caridina sp.) Thành phần loài nhìn chung kém đa dạng, trong tất
cả 15 điểm thu mẫu chỉ có 3 điểm là xác định có sự phân bố, các điểm còn lại đều không
thấy sự xuất hiện của các loài này (Trần Kim Hằng et al., 2002)
2.2.4.3 Lưỡng cư bò sát
Đối với lưỡng cư và bò sát, VQG U Minh Hạ cũng đã xác định được 11 loài lưỡng
cư và 36 loài bò sát (VQG U Minh Hạ, 2007; Nguyễn Văn Thế, 2010; Trần Phú Cường, 2010) Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Cà Mau cũng khẳng định có 11 loài lưỡng cư thuộc 5
họ chủ yếu phân bố ở rừng tràm và 41 loài bò sát thuộc 15 họ, trong đó 30 loài xác định phân bố ở rừng tràm và 34 loài phân bố ở rừng ngập mặn (Võ Ngươn Thảo, 2010) Đáng chú ý là trong 41 loài bò sát, có 11 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam và 3 loài nằm trong sách đỏ của IUCN Tuy nhiên các kết quả này chỉ mang tính ước lượng, không có danh sách cụ thể kèm theo
Theo kết quả nghiên cứu về lưỡng cư bò sát ở VQG U Minh Thượng cho thấy đã xác định được 34 loài bò sát và 7 loài lưỡng cư (cóc nhà, ếch đồng, cóc nước sần, ếch cua, chàng hiu, ngéo, ếch cây) Trong 34 loài bò sát có 3 loài rùa (rùa nắp, rùa răng, rùa ba
gờ), 7 loài thằn lằn/thạch sùng/ tắc kè, 24 loài trăn/rắn (Nguyễn Xuân Đặng et al., 2004)
Thành phần loài lưỡng cư bò sát ở khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang (VQG U Minh Thượng, VQG Phú Quốc, khu vực An Minh – An Biên và Kiên Lương – Kiên Hải)
đã xác định được 107 loài chiếm 19,63% tổng số loài lưỡng cư bò sát đã được miêu tả ở Việt Nam thuộc 20 họ và 5 bộ (Lê Nguyên Ngật và Nguyễn Văn Sáng, 2009) Trong đó VQG U Minh Thượng có 47 loài (7 loài lưỡng cư; 9 loài tắc kè/thằn lằn/kỳ đà; 25 loài trăn/rắn; 6 loài rùa/baba)
Trang 292.2.4.4 Nhuyễn thể (Mollusca)
Thành phần loài nhuyễn thể ở VQG U Minh Hạ chưa được nghiên cứu Trong một nghiên cứu ở VQG U Minh Thượng cũng khẳng định là không có sự phân bố các loài
nhuyễn thể tại khu vực (Trần Kim Hằng et al., 2002)
2.3 Quản lý và sử dụng tài nguyên ĐDSH
2.3.1 Nguyên tắc quản lý nguồn tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng
IUCN (2008) đề ra 5 nguyên tắc trong việc quản lý nguồn tài nguyên trong các KBT có sự tham gia của cộng đồng địa phương như sau:
Nguyên tắc 1:
Cộng đồng địa phương, người dân bản địa đã gắn bó lâu đời với tự nhiên và thấu hiểu sâu sắc tự nhiên Họ đã góp phần quan trọng vào việc gìn giữ các hệ sinh thái của trái đất thông qua sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững và tôn trọng tự nhiên dựa trên nền tảng bản sắc dân tộc Chính vì vậy mà xung đột giữa mục tiêu bảo tồn với sự tồn tại của người dân địa phương sống trong và xung quanh ranh giới KBT đã không xẩy ra Hơn thế, họ phải được coi là những đối tác bình đẳng và được hưởng lợi trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược bảo tồn có những tác động đến đất đai, lãnh thổ, nguồn nước, duyên hải và các nguồn lợi khác, đặc biệt tác động đến quá trình xây dựng và quản
lý các KBT
Nguyên tắc 2:
Xây dựng và quản lý các KBT cần dựa trên sự tôn trọng tất cả các quyền của cộng đồng địa phương và người bản địa trong việc sử dụng theo truyền thống và bền vững đất đai, lãnh thổ, nguồn nước, bờ biển và các nguồn lợi khác Đồng thời, các thoả thuận đó phải trên cơ sở khẳng định trách nhiệm của cộng đồng địa phương, người dân bản địa trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, tính toàn vẹn của hệ sinh thái, nguồn tài nguyên thiên nhiên có trong các KBT
Nguyên tắc 3:
Nguyên tắc phân cấp, tham gia, minh bạch và trách nhiệm cần được thể hiện trong tất cả các hoạt động liên quan đến lợi ích chung của khu bảo tồn thiên nhiên, cộng đồng địa phương, ngươi dân bản địa
Nguyên tắc 4:
Cộng đồng địa phương, người dân bản địa phải có khả năng chia sẻ một cách công bằng và đầy đủ các lợi ích có liên quan đến các KBT, được công nhận tất cả các quyền công bằng như các đối tác khác
Nguyên tắc 5:
Quyền của cộng đồng địa phương, người dân bản địa đối với các KBT thường mang gắn với trách nhiệm có tính quốc tế vì nhiều vùng đất đai, lãnh thổ, nguồn nước, biển, bờ biển và các nguồn tài nguyên khác mà họ sở hữu hoặc chiếm dụng thường liên
Trang 30biên giới quốc gia, trong thực tế, các vùng này lại có hệ sinh thái phong phú cần được bảo
vệ
2.3.2 Quản lý nguồn tài nguyên ở một số khu bảo tồn
Việc sử dụng tài nguyên của KBT có sự tham gia của người dân đại phương hiện nay chưa có khung pháp lý quy định một cách chính thức Tuy nhiên, một số KBT có hệ sinh thái đặc thù và điển hình đã và đang thử nghiệm mô hình này với sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ Do đó, mỗi KBT có cơ chế quản lý khác nhau
2.3.2.1 Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen
Đây là khu bảo tồn có tổng diện tích 5.030ha và có vị trị rất gần với VQG Tràm Chim vì đều nằm trong vùng Đồng Tháp Mười Do đó, điều kiện tự nhiên giữa hai KBT này rất giống nhau: ngập lụt theo mùa, nguồn lợi thủy sản được bổ sung từ thượng nguồn sông Mekong và chế độ thủy văn Chất lượng nước trong phân khu phục hồi sinh thái khá
phèn (pH= 3,90), nhưng trong phân khu ĐDSH cao hơn (pH=5,85) (Đoàn Văn Tiến et al.,
2007)
Hệ động vật và thực vật rất đa dạng và phong phú: 85 loài cá, 76 loài chim, 152
loài thực vật, 6 loài thú và 21 loài lưỡng cư bò sát (Đoàn Văn Tiến et al., 2007; Nguyen Phuc Bao Hoa et al., 2006)
Người dân địa phương sống xung quanh KBT khá nghèo (7%) có ít hoặc không có đất canh tác nông nghiệp và phụ thuộc vào nguồn tài nguyên trong KBT Có khoảng 300
hộ sống xung quanh KBT làm nghề khai thác thủy sản chủ yếu cung cấp thực phẩm cho gia đình và tình trạng xâm nhập trái phép để khai thác nguồn tài nguyên bên trong KBT
không thể tránh khỏi (Đoàn Văn Tiến et al., 2007)
Thông qua Dự án “Phát triển sinh kế và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười” đã thành lập các nhóm sử dụng tài nguyên để khai thác tài nguyên theo những kế hoạch sử dụng tài nguyên bền vững đã được thảo luận và phê duyệt của KBT để cải thiện đời sống gia đình Ngoài ra dự án cũng hỗ trợ sinh kế/tín dụng/nước sạch cho các đối tượng khó khăn để nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sóng, góp phần làm giảm áp lực khai thác nguồn tài nguyên của KBT Dự án đã đạt được những kết quả rất khả quan
Đối với một số tài nguyên như cá, rau, cỏ, củi và mật ong đề xuất cho phép cộng đồng khai thác hợp lý theo duy định của KBT Nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng đang phụ thuộc vào nguồn tài nguyên của KBT, giảm mâu thuẫn, tạo điều kiện cho hệ thực vật phát triển (Quỹ Bảo Tồn Việt Nam, 2009)
Trang 31Hệ động vật và thực vật rất đa dạng và phong phú: 37 loài cá, 41 loài lưỡng cư bò sát, 151 loài chim, 8 loài dơi, 24 loài thú, 29 loài bướm, 172 loài côn trùng, 243 loài thực
vật (Nguyễn Xuân Đặng et al., 2004)
Các mối đe dọa đến VQG U Minh Thượng bao gồm: cháy rừng, than bùn bị khô, săn bắn và phát triển du lịch Trong đó, tình trạng săn bắn động vật hoang dã bất hợp pháp
là do dân địa phương hay từ bên ngoài chủ yếu là do đời sống khó khăn Ước tính có khoảng gần 1.000 hộ dân sống trong vùng đệm có liên quan đến các hoạt động trái phép này
Trước tình hình đó, tổ chức CARE quốc tế đã phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện dự án “Phát triển cộng đồng và bảo tồn U Minh Thượng” từ 1998 đến
2003 Dự án này nhằm bảo tồn tài nguyên ĐDSH hiện có thông qua tăng cường năng lực cho Ban quản lý VQG và nâng cao đời sống của các cộng đồng vùng đệm Điều này làm giảm bớt sự phụ thuộc vào của người dân địa phương vào tài nguyên của VQG
Ngoài ra, VQG khuyến khích mạnh mẽ sự tham của cộng đồng vào việc giám sát bảo vệ để việc quản lý của VQG được hiệu quả hơn VQG đề xuất có một chính sách quốc gia để hỗ trợ cho việc sử dụng nguồn tài nguyên trong KBT một cách có hệ thống
của hiệu quả (Nguyễn Xuân Đặng et al., 2004)
2.3.2.3 VQG Xuân Thủy
VQG Xuân Thủy thuộc hệ sinh thái đất ngập nước cửa sông ven biển với tổng diện tích 7.100ha thuộc tỉnh Nam Định Đây là hệ sinh thái đất ngập nước điển hình vùng cửa sông Hồng và là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam
Hệ động vật và thực vật rất đa dạng và phong phú: 219 loài chim, 101 loài thực vật bậc cao, 156 loài cá, 10 loài động vật có vú và nhiều loài lưỡng cư bò sát (Phạm Định
Việt Hồng et al., 2007)
Năm 2004, VQG đã xây dựng cơ chế đồng quản lý để quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản để hạn chế tình trạng xâm nhập khai thác trái phép của cộng đồng địa phương thông qua Dự án “Xây dựng mô hình quản lý sử dụng khôn khéo và bền vững ở VQG Xuân Thủy” Quy chế quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng đã thể chế hóa các vấn đề như sử dụng khôn khéo nguồn tài nguyên và xác định rõ giữa quyền lợi và trách nhiệm giữa các bên liên quan Điều này làm giảm mâu thuẫn và từng bước ổn định đời sống người dân (Phạm Định Việt Hồng et al., 2007)
VQG đã kết hợp với chính quyền địa phương để áp dụng các giải pháp đồng bộ mang tính tổng hợp như: tăng cường công tác bảo tồn thiên nhiên, tuyên truyền giáo dục cộng đồng, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính để nâng cao thu nhập Điều nàu giúp cộng đồng ổn định đời sống và từng bước giảm áp lực khai thác nguồn tài nguyên của VQG
VQG phối hợp thường xuyên với Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng và chính quyền các
xã vùng đệm giám sát bảo vệ, xử phạt các đối tượng khai thác trái phép như bắt chim Nâng cao nhận thức của cộng đồng Giao khoán rừng ngập mặn cho người dân địa phương có hoạt động khai thác thủy sản để bảo vệ Kết hợp với chính quyền địa phương
Trang 32hỗ trợ xây dựng trường học , trung tâm học tập cộng đồng, trạm y tế, giao thông để phát triển vùng đệm
Ngoài ra, để giảm áp lực khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng địa phương, VQG Xuân Thủy đã tổ chức thành lập các CLB để đa dạng sinh kế và nâng cao thu nhập Mỗi CLB đều có quy chế hoạt động riêng Trong đó, quy định rõ ràng chức năng nhiệm vụ cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của hội viên
CLB sản xuất nấm: với 3 sản phẩm là nấm rơm, nấm sò và nấm mỡ Việc sản xuất nấm từ rơm rạ cũng hạn chế hiện tượng đốt tràn lan gây cháy rừng và hạn chế thải rơm rạ xuống sông gây ô nhiễm Có hình thức khen thưởng để khuyến khích tham gia Trong năm 2009, CLB đã sử dụng 45,8 tấn nguyên liệu và sản xuất được 34 tấn nấm các loại, thu được 163 triệu đồng
CLB nuôi ong: số lượng thành viên ngày càng tăng Năm 2009 có 18 thành viên với 74 đàn ong, tổng sản lượng mật đạt 671kg
Ban du lịch sinh thái: các thành viên được tập huấn về các kiến thức phục vụ du lịch, tham quan học hỏi một số mô hình du lịch ở địa phương khác Ngoài ra, các thành viên cũng tuyên truyền bảo vệ môi trường/nguồn lợi thủy sản cho du khách Thu nhập bình quân đạt 300.000 – 500.000đ/tháng
CLB bảo tồn chim: CLB có 30 thành viên với nhiệm vụ là giám sát và bảo vệ chim Đồng thời cũng tuyên truyền bảo vệ chim cho người dân địa phương Phối hợp với VQG và bộ phận an ninh để giám sát bảo vệ
Ngoài ra, VQG hỗ trợ cho người dân địa phương một số sinh kế khác như: nuôi nhuyễn thể, nuôi giun quế, làm phân vi sinh… (Nguyễn Văn Cách, 2010)
Trang 33III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
– Tăng cường các biện pháp bảo tồn, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản một số đối tượng quan trọng
– Bảo vệ nguồn lợi thủy sản dựa trên cộng đồng như khuyến khích cộng đồng cùng tham gia trong việc bảo tồn và phát triển Đồng thời tuyên truyền và giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của các KBT cũng như các tác động tiêu cực đến nguồn lợi thủy sản
Tiếp cận trên cơ sở khoa học:
Cơ sở khoa học để bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH trong các KBT dựa trên các luận cứ khoa học sau:
– Điều tra khảo sát và đánh giá các yếu tố được xem có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến mức độ đa dạng và phong phú động vật thủy sản như: các yếu tố về chất lượng nước, nguồn thức ăn tự nhiên, các hoạt động khai thác, điều kiện kinh tế xã hội của cộng đồng người dân địa phương, cơ chế quản lý v.v
– Đánh giá mức độ ĐDSH thông qua các chỉ số thường dùng như chỉ số Viewer (H’), chỉ số Simpson (D), số loài (S), cấu trúc về phân loại (bộ, họ, giống, loài), chỉ số khác biệt về phân loại ( +
Shannon-∆ và +
∧ ), chỉ số tương đồng (Ss) và chỉ số dị biệt, số loài quý hiếm và ngoại lai
– Phân tích và đánh giá hiện trạng ĐDSH động vật thủy sản thông qua việc điều tra khảo sát theo không gian và thời gian phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên và
hệ sinh thái mỗi KBT
– Xây dựng mô hình quản lý và các biện pháp thích hợp để bảo vệ và phát triển bền vững ĐDSH
Tiếp cận trên quan điểm quản lý tổng hợp và đa ngành:
Sự suy giảm tính ĐDSH trong hệ sinh thái có thể có các nguyên nhân khác nhau (chủ quan và khách quan): điều kiện tự nhiên, ô nhiễm, khai thác quá mức, bất cập trong quản lý v.v Do đó, để việc quản lý nguồn lợi thủy sản có hiệu quả thì phải dựa trên quan điểm tổng hợp và cần có sự phối hợp đồng bộ các cơ quan chức năng để tăng cường việc
Trang 34thực thi các quy định, điều chỉnh linh hoạt các mục tiêu quản lý và việc quản lý phải dựa vào sự tư vấn của khoa học
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Vùng ĐBSCL có tổng cộng 10 KBT nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của quốc gia, trong đó có 8 KBT thuộc hệ sinh thái rừng ngập nước chua phèn với cây tràm
(Melaleuca cajuputi) là loài tiêu biểu và 2 KBT thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển với cây đước (Rhizophora apiculata) là điển hình Tuy nhiên, trong nghiên cứu này
chỉ tập trung nghiên cứu thuộc hệ sinh thái rừng ngập nước chua phèn
Tám KBT thuộc hệ sinh thái rừng ngập nước chua phèn phân bố rải rác trong vùng ĐBSCL gồm: VQG Tràm Chim (Đồng Tháp), VQG U Minh Hạ (Cà Mau), VQG U Minh Thượng (Kiên Giang), Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư (An Giang), Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng (Hậu Giang), Ban quản lý sân chim Bạc Liêu, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Láng Sen và Trung tâm bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười (Long An)
Một số khu vực đất ngập nước vùng ĐBSCL đã được đánh giá và xếp loại về tầm quan trọng để bảo tồn theo 14 tiêu chí: diện tích, đa dạng loài, đa dạng sinh cảnh, độ hiếm
về loài, độ hiếm về sinh cảnh, mức tự nhiên, tính mong manh, có vị trí là một đơn vị sinh thái, tiềm năng quản lý bảo tồn, tiềm năng giáo dục và văn hóa, động lực bảo tồn và giá trị
bảo tồn (Buckton et al., 2000) Thứ tự xếp loại được thể hiện trong Bảng 3
Bảng 3: Xếp hạng ưu tiên về công tác bảo tồn một số vùng đất ngập nước
Nguồn: Buckton et al.(2000)
Do hạn chế về kinh phí, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ở ba KBT vùng ĐBSCL
Ba KBT này phải đại diện cho vùng ĐBSCL: thuộc các hệ sinh thái khác nhau và phân bố rải rác trong vùng để có thể đánh giá được tổng thể về công tác bảo tồn ĐDSH trong vùng Việc lựa chọn các KBT dựa theo một số tiêu chí như sau:
– KBT nằm trong hệ sinh thái rừng ngập nước chua phèn với cây tràm (Melaleuca cajuputi) là loài tiêu biểu
– Vị trí địa lý: KBT phân bố trên các hệ sinh thái đất ngập nước khác nhau
– Mức độ ưu tiên về công tác bảo tồn từ thấp tới cao
Trang 35Dựa vào các tiêu chí trên, ba KBT đặc trưng và có thể đại diện cho hệ sinh thái đất ngập nước vùng ĐBSCL được chọn trong nghiên cứu của đề tài gồm (Hình 1)
(1) VQG Tràm Chim (huyện Tam Nông - tỉnh Đồng Tháp): Được thành lập năm 1998 với tổng diện tích 7.313ha Đây là một khu vực đất ngập nước đặc trưng và đại diện cho vùng Đồng Tháp Mười, đặc trưng bởi các trảng cỏ và sếu đầu đỏ, ưu tiên cho bảo tồn cao (xếp thứ 2), có vị trí gần với sông Tiền (15km) và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chế độ thủy văn hệ thống sông Mekong
(2) KBVCQ Trà Sư (huyện Tịnh Biên - tỉnh An Giang): Được thành lập năm 2005 với tổng diện tích 845ha Đây là vùng đất thấp ngập nước (ngập sâu) và đại diện cho vùng Tứ Giác Long Xuyên KBT này cũng có vị trí tương đối gần với sông Hậu (15km) và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chế độ thủy văn hệ thống sông Mekong và chế độ điều tiết nước từ đập tràn Trà Sư và Tha La giáp biên giới với Campuchia
Ưu tiên cho bảo tồn thấp (xếp thứ 8)
(3) VQG U Minh Hạ (huyện U Minh và Trần văn Thời – tỉnh Cà Mau): Được thành lập năm 2006 với tổng diện tích 8.528ha Đây là KBT nằm trên đất than bùn, đặc trưng cho vùng Bán đảo Cà Mau, nhiễm mặn vào cuối mùa khô VQG U Minh Hạ nằm cách xa hệ thống sông Mekong và không bị ảnh hưởng bởi chế độ thủy văn sông Mekong, nhưng chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy văn vùng biển Tây, cách bờ biển khoảng 10km Ưu tiên cho bảo tồn trung bình (xếp thứ 5)
Hình 1: Bản đồ ba khu bảo tồn nghiên cứu vùng ĐBSCL
Trang 36Đối tượng điều tra và thu mẫu của đề tài bao gồm:
+ Chất lượng nước
+ Thực vật nổi
+ Động vật nổi
+ Động vật thủy sản
+ Điều kiện kinh tế xã hội
Đề tài được thực hiện trong hai năm (2009 và 2010) với 4 đợt thu mẫu chính Đối với: chất lượng nước, thực vật nổi, động vật nổi và động vật thủy sản được thu mẫu vào cùng thời điểm và vị trí thu mẫu để có cơ sở đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố trên Bốn đợt thu mẫu chính như sau:
+ Đợt 1: Tháng 7/2009
+ Đợt 2: Tháng 10/2009
+ Đợt 3: Tháng 4/2010
+ Đợt 4: Tháng 10/2010
Ngoài ra, đối với nhóm động vật thủy sản còn tiến hành điều tra/thu mẫu vào một
số đợt thu mẫu khác nhằm có thể thống kê đầy đủ về mức độ đa dạng thành phần loài phân bố trong mỗi KBT Đối với việc điều tra kinh tế xã hội được tiến hành trong năm
2010 để phỏng vấn nông hộ theo phiếu điều tra
3.3 Vị trí thu mẫu
Vị trí thu mẫu ở mỗi KBT được thể hiện trong Hình 2 – 4 Vị trí thu mẫu đại diện cho hầu hết các phân khu chức năng; các loại hình thuỷ vực khác nhau như kênh rạch và đầm lầy; bên trong và bên ngoài KBT
Đối với các chỉ tiêu về chất lượng nước, động thực vật thủy sinh và nhuyễn thể được thu mẫu tại các vị trí đã xác định (Hình 2 – 4) Đối với các động vật thủy sản khác như cá, tôm tép và lưỡng cư bò sát còn được thu mẫu ở các vị trí khác trong KBT như vùng đầm lầy, hệ thống bờ đê kênh rạch, rừng tràm, trảng cỏ và cây bụi
Trang 37Điểm bên trong
Điểm bên ngoài
Hình 2: Bản đồ thu mẫu ở VQG Tràm Chim
Trang 38Hình 3: Bản đồ thu mẫu ở KBVCQ Trà Sư
Điểm bên trong Điểm bên ngoài
Trang 39Hình 4: Bản đồ thu mẫu ở VQG U Minh Hạ
3.4 Phương pháp thu và phân tích mẫu
3.4.1 Chất lượng nước
Mẫu được thu cách mặt nước 1 m bằng dụng cụ thu mẫu theo tầng tại các điểm thu mẫu (Hình 2 – 4) Các yếu tố được xác định tại chỗ là: nhiệt độ, độ trong, độ mặn, pH Mẫu đo oxy được cố định tại chỗ và xác định sau đó tại phòng thí nghiệm Viện NCNTTS
kiềm tổng cộng, sắt tổng cộng, ammonia, nitrite và phosphate Các yếu tố được phân tích theo các phương pháp được thể hiện trong Bảng 4
Bảng 4: Các chỉ tiêu chất lượng nước và phương pháp xác định
Trang 40Đánh giá chất lượng nước dựa theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
2008 (QCVN 08: 2008/BTNMT)
3.4.2 Thực vật và động vật nổi
Sử dụng lưới vớt phiêu sinh động – thực vật chuyên dùng, với kích thước mắt lưới 30-50micron mét Đối với mẫu định tính: thu mẫu theo chiều ngang/dọc và chiều thẳng đứng để đảm bảo xác định hoàn toàn thành phần loài trong thủy vực tại các điểm thu mẫu (Hình 2 – 4) Đối với mẫu định lượng: 160 lít nước được lọc qua lưới thu mẫu để xác định
số lượng cá thể với đơn vị là cá thể/lít Mẫu vật được đựng trong lọ nhựa và bảo quản trong dung dịch Formaline 5% Toàn bộ mẫu vật được định danh bằng kính hiển vi với độ phóng đại từ 100 – 450 lần và sử dụng các tài liệu chuyên ngành để định loại
3.4.3 Động vật thủy sản
Cá và giáp xác:
Sử dụng lưới kéo với các loại mắt lưới khác nhau để có thể thu mẫu các đối tượng phân bố trong khu vực nghiên cứu Lưới kéo làm bằng lưới mùng với kính thước mắt lưới rất nhỏ (2a= 0,5 – 1mm), do đó có thể thu được những loài có kích thước nhỏ như: tép năng, cá ăn mỗi, cá bạc đầu, cá trâm v.v Ngoài ra, một số loại lưới kéo có kích thước lớn hơn để thu mẫu những đối tượng lớn hơn Đây là loại ngư cụ rất hiệu quả trong việc thu mẫu vì có thể thu mẫu ở hầu hết các loại thủy vực khác nhau và có tính chủ động cao
Sử dụng lưới bén (mua trước) có kích thước mắt lưới khác nhau (từ 1,2cm đến 19,8cm) với tổng chiều dài 60m và được thả ở mỗi điểm thu mẫu để đánh giá mức độ đa dạng và phong phú Đồng thời cũng để đánh giá mức độ tương quan đến các yếu tố liên quan khác
Ngoài ra, sử dụng các loại ngư cụ khác để xác định mức độ đa dạng loài như: lờ lợp, dỡ trà, chài, cào, lưới chụp, xiệc điện, đáy, vợt tay Ngoài các vị trí thu mẫu cố định (Hình 2 – 4), đề tài còn thu mẫu ở hầu hết các phân khu chức năng tại các loại hình thuỷ vực khác nhau như kênh rạch, trảng cỏ ngập nước, rừng tràm và đầm lầy nhằm có thể xác định được tất cả thành phần loài phân bố trong vùng nghiên cứu
Bên cạnh đó, việc thu mẫu còn kết hợp với cán bộ bảo vệ KBT và một số ngư dân được phép khai thác bên trong KBT nhằm thu mẫu liên tục trong năm Các thông tin liên quan đều được nghi chép ở mỗi điểm thu mẫu Mẫu vật được cố định dung dịch formol, sau đó các mẫu vật này được đưa về phòng thí nghiệm để phân tích định loại
Định loại bằng phương pháp hình thái thông qua các tài liệu chuyên ngành như: Chavalit (2008); MFD (2003); Kottelat (2001 và 1998); Rainboth (1996); Mai Đình Yên
et al., (1978; 1979; 1985; 1992); Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993); Nguyễn Văn Thường và Trương Quốc Phú (2004); Holthuis (1980), Nguyễn Văn Xuân (2004; 2007; 2010); John (2008)
Tất cả các mẫu vật được lưu và trưng bày trong Phòng bảo tàng – Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II