1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề án môn học một số vấn đề về phát triển công nghiệp với môi trường sinh thái (thực trạng tại làng nghề khai thác và sản xuất cao lanh ở sóc sơn hà nội

30 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Về Phát Triển Công Nghiệp Với Môi Trường Sinh Thái (Thực Trạng Tại Làng Nghề Khai Thác Và Sản Xuất Cao Lanh Ở Sóc Sơn - Hà Nội)
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Môi Trường
Thể loại Đề án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 137,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lêi më ®Çu Đề án môn học Lời mở đầu Chóng ta đều biết tác dụng to lớn, tích cực cũng nh­ vai trò động lực của công nghiệp hoá hiện đại hoá đối với sự phát triển của xã hội loài người là hết sức quan t[.]

Trang 1

Lời mở đầu

Chóng ta đều biết tác dụng to lớn, tích cực cũng nh vai trò động lực củacông nghiệp hoá- hiện đại hoá đối với sự phát triển của xã hội loài người là hếtsức quan trọng Chỉ vài ba thế kỷ lại đây, nhờ có công nghiệp hóa- hiện đại hoá

đã biến nhiều nước vốn lạc hậu, kém phát triển trở thành những nước phát triểncao Các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ cùng với quá trình côngnghiệp hoá đã làm biến đổi sâu sắc và triệt để tự nhiên- xã hội- con người.Thắng lợi to lớn đó đã làm cho con người tưởng rằng họ có thể hoàn toàn thốngtrị được tự nhiên Do vậy, đã từ lâu con người tác động vào tự nhiên, khai thác

tự nhiên không thương tiếc,sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên lãng phí, đó

là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường sinh thái

Đối với Việt Nam, trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đấtnước chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể đưa nền kinh tế đất nước từlạc hậu sang bước phát triển mới với cơ cấu ngành đa dạng Trong đó nền côngnghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhiều khu côngnghiệp, khu chế xuất ra đời đang tạo chỗ dựa vững chắc cho nền kinh tế pháttriển, đồng thời không thể không kể đến sự duy trì và phát triển của các làngnghề truyền thống Hiện nay, nước ta có khoảng 1450 làng nghề đem lại doanhthu hàng nghìn tỷ đồng.Trong những năm đổi mới, với chính sách phát triểnnền kinh tế nhiều thành phần trong cơ chế thị trường, các làng nghề truyềnthống được khôi phục mạnh mẽ và phát triển lan toả thêm hàng trăm làng nghềmới

Sự phát triển của các làng nghề truyền thống không chỉ đóng góp vào sựtăng trưởng của nền kinh tế mà còn có tác dụng giải quyết việc làm, tăng thunhập cho người nông dân, làm thay đổi bộ mặt nông thôn…Tuy nhiên, nó cũng

đã và đang thải ra môi trường khối lượng lớn chất thải, bụi khói…gây ảnh

Trang 2

hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng, việc khai thác không hợp lý tài nguyênthiên nhiên tại các làng nghề gây tình trạng cạn kiệt tài nguyên, làm mất cảnhquan chung không chỉ tại chính địa phương…

Như vậy, vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay không chỉ là vấn đề màĐảng và Nhà nước quan tâm mà là vấn đề của tất cả mọi người với phươngchâm lấy phòng ngừa và ngăn chặn làm nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ônhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ và sử dụng hợp

lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, mỗi chúng ta cần phải không ngừng bảo vệ vàcải thiện môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sự pháttriển bền vững của đất nước, đó cũng chính là bảo vệ và cải thiện cuộc sống củachính mình

Thực tế hiện nay ở Sóc Sơn-Hà Nội, hoạt động khai thác,sản xuất caolanh đang tiến hành trên qui mô lớn( hàng trăm nghìn tấn sản phẩm/năm), theonhiều phương pháp (cơ giới, bán cơ giới,thủ công) đang gây ra tình trạng lãngphí tài nguyên và ô nhiễm môi trường khu vực đòi hỏi phải có nhiều giải pháp

Trang 3

Theo đó, ta thấy rằng môi trường bao gồm nhiều thành phần hợp thành,các thành phần Êy thường xuyên tác động lẫn nhau, quy định và phụ thuộc lẫnnhau làm cho hệ thống môi trường phát triển Môi trường không phải là một hệtĩnh mà luôn luôn thay đổi trong cấu trúc của nó, trong quan hệ tương tác giữacác phần tử cơ cấu và trong từng phần tử cơ cấu Môi trường dù có quy mô thếnào thì nó cũng là hệ thống mở, tức là các dòng vật chất, năng lượng, thời gianliên tục “chảy” trong không gian và thời gian, vì thế, các vấn đề môi trường cầnđược giải quyết bằng nỗ lực của toàn thể cộng đồng Đồng thời, môi trường cókhả năng tự tổ chức và tự điều chỉnh , tức là chúng có khả năng tự tổ chức lạihoạt động của mình và tự điều chỉnh để thích ứng với những thay đổi bên ngoàitheo qui luật tiến hoá nhằm hướng tới sự ổn định, nhờ có đặc tính này đã tạo

mở hướng giải quyết căn bản, lâu dài cho các vấn đề môi trường cấp bách hiệnnay (tạo khả năng tự phục hồi của các tài nguyên sinh vật đã suy kiệt…)

Trang 4

1.1.2 Môi trường sinh thái

Môi trường sinh thái được định nghĩa là hệ thống các quần thể sinh vậtcùng sống và cùng phát triển trong một môi trường nhất định, có quan hệ tươngtác với nhau và với môi trường đó

Qua định nghĩa trên ta thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa con người

và tự nhiên, đó là mối quan hệ song song cùng tồn tại và phát triển, không thể

có sự phát triển tách rời giữa tự nhiên và con người

1.1.3 Ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường bởi cácchất gây ô nhiễm, trong đó chất gây ô nhiễm là những chất độc hại được thải ratrong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hay trong các hoạt dộng khác, chất thải

có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác

Ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người vàthiên nhiên (thành phần của môi trường bao gồm không khí, đất, nước, âmthanh, ánh sáng, núi, rừng, sông, hồ, các khu dân cư, khu sản xuất, cảnh quanthiên nhiên, và các hình thái vật chất khác,…)

Ô nhiễm môi trường còn có thể dẫn đến suy thoái và những sự cố môitrường, đó là các tai biến hay rủi ro xảy ra như bão, lũ, hạn hán, cháy rừng, mưaaxit, núi lửa phun trào, động đất,…gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sốngcủa con người

1 2.. Sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp và các

Các doanh nghiệp hay các làng nghề được hình thành đều nhằm mụcđích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh để sinh lời, tìmkiếm lợi nhuận Chúng có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vừa

là tế bào kinh tế vừa là tổ chức xã hội của đất nước, đồng thời đóng góp phầnđáng kể vào thu nhập quốc dân

Trang 5

Trong 5 năm gần đây, ngành công nghiệp nước ta đã có những bước tiếnđáng kể nhờ có sự đổi mới các chính sách kinh tế, tốc độ tăng GDP trong ngànhđạt hơn 13%, tỷ trọng các ngành công nghiệp trong GDP đang tăng (năm 1991là19,8% lên 23,7% năm 1996, đến năm1999 đã là 29,1%…) và phấn đấu đếnnăm 2010 sẽ đạt tỷ trọng 35%.

Bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống ngày càng phát triểnnhanh cả về qui mô, chất lượng, hiệu quả như dệt may,da giày, chế biến nôngsản- thực phẩm…, đã hình thành một số ngành công nghiệp mới đóng vai tròquan trọng trong nền kinh tế như dầu khí, điện tử, cơ khí lắp ráp ôtô-xe máy…Kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp ngày càng tăng nhanh, chiếm khoảng70% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất

ra đời đã và đang tạo nên chỗ dựa vững chắc cho nền kinh tế Hiện nay, nước ta

đã có hàng trăm khu công nghiệp thu hút hàng nghìn dự án với tổng số vốn đầu

tư đăng ký trên 10 tỷ USD, giải quyết việc làm cho hơn 100.000 người laođộng, đóng góp đáng kể vào giá trị sản lượng công nghiệp và xuất khẩu

Đồng thời không thể không nhắc đến sự đóng góp của các làng nghề vào

sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân, nó đã góp phần cải tạo bộ mặtnông thôn Việt Nam, cải thiện đời sống cho người nông dân Nước ta cókhoảng 1450 làng nghề hàng năm đem lại doanh thu tới hàng nghìn tỷ đồng.Hiện nay, cùng với sự đổi mới của các chính sách kinh tế, các làng nghề đangphát triển mạnh mẽ

Tuy nhiên, nhìn chung thực tế nền công nghiệp nước ta vẫn chỉ là mộtnền công nghiệp lạc hậu so với thế giới, vẫn còn là nền công nghiệp ở trình độthấp, đa phần là qui mô vừa và nhỏ, công nghệ cũ, lạc hậu hoặc không đồngbộ…, hơn nữa nguồn vốn cho xử lý chất thải lại quá eo hẹp, đôi khi còn khôngđược tính đến nên đã gây thiệt hại lớn về môi trường

Trang 6

Mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp với môi trường sinh thái

Kinh tế, xã hội và môi trường luôn ở trong mối quan hệ hữu cơ ràng buộc

và thúc đẩy lẫn nhau Tác động của môi trường tới quá trình phát triển kinh tế

-xã hội là sự tác động hai chiều, vừa có tính tích cực cũng lại có tính tiêu cực.Nói cách khác, môi trường có những tác động thúc đẩy sự phát triển, song nócũng gây ra những cản trở đối với quá trình phát triển Giải quyết tốt mối quan

hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế – xã hội là nhiệm vụ có tính sống còncủa loài người Tuỳ thuộc vào trình độ khoa học công nghệ và trình độ quản lý,

ở mỗi thời kỳ, mỗi cộng đồng có những cách giải quyết mối quan hệ này khácnhau

Trong mối quan hệ với kinh tế, môi trường đóng vai trò là nguồn cungcấp đầu vào cho quá trình sản xuất, phát triển (nhất là đối với ngành côngnghiệp vì công nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo, quyết định sự phát triển củacác ngành khác cũng như của toàn bộ nền kinh tế ) Không có một quá trình sảnxuất nào không đòi hỏi phải khai thác tài nguyên thiên nhiên, các thành phầnmôi trường Ngay từ thời kỳ sơ khai con người đã nhận thức được mối quan hệxuôi chiều này, con người đã sớm lệ thuộc vào tự nhiên vì khi đó, săn, bắt, háilượm là nguồn thu nhập chính của con người Đến thế kỷ 18, cuộc cách mạngcông nghiệp đã biến công nghiệp trở thành một ngành phát triển rất nhanh về cảqui mô, phạm vi và tốc độ Và hoạt động của ngành công nghiệp có những tácđộng mạnh mẽ nhất, làm biến đổi nhanh chóng môi trường thiên nhiên nhất.Các quá trình công nghiệp tạo ra những vòng tuần hoàn, chu chuyển mới củavật chất trong hệ thống “sản xuất công nghiệp – môi trường ” như sau:

Môi trường Sản xuất công nghiệp Chất thải công nghiệp

Sản phẩm có Ých

Quá trình tiêu dùng

Trang 7

Chất thải Tốc độ sử dụng và khai thác tài nguyên động thực vật dùng cho chế biến côngnghiệp nhanh hơn rất nhiều lần khả năng tự tái sinh của chúng, tốc độ khai tháctài nguyên khoáng sản của ngành công nghiệp khai thác cũng nhanh không kém

và tốc độ này tăng không ngừng trong những năm gần đây Nhìn chung hầu hếtcác ngành công nghiệp đều sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên Tuynhiên nguồn cung cấp này có giới hạn, không phải là vô hạn như người ta vẫntưởng Do đó, yêu cầu đặt ra là vấn đề khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệmnguồn tài nguyên thiên nhiên

Trong mối quan hệ với các hiện tượng xã hội, môi trường lại chịu sự chiphối, sự tác động mạnh mẽ bởi các hiện tượng này như vấn đề gia tăng dân số

đã gây áp lực rất lớn với môi trường do các nhu cầu tiêu dùng tăng quá nhanhcộng với lối sống thiếu tính ổn định của tầng lớp giàu có cũng gây sức Ðp nhấtđịnh; nạn nghèo đói, thất nghiệp, trình độ dân trí thấp … cũng là những vấn đề

đe dọa đối với môi trường

Nh vậy, môi trường có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống conngười Phát triển kinh tế không những gây ra những tác động trực tiếp tới môitrường mà còn có thể gây ra tác động gián tiếp do các hiện tượng xã hội phátsinh trong quá trình phát triển Vì vậy, công tác bảo vệ môi trường luôn phảitiến hành song song với những hoạt động kinh tế - xã hội,tức là vấn đề về môitrường phải là vấn đề được đưa ra ngay khi bắt đầu lập kế hoạch của quá trìnhsản xuất

1.4.Tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay

Ngày nay, các vấn đề về môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễmnguồn nước, hiệu ứng nhà kính, mưa axit, lỗ thủng tầng ôzôn…không còn làvấn đề mới mẻ trên trái đất của chúng ta, chúng được đề cập thường xuyên hơntrên các phương tiện thông tin đại chúng, dù vậy chúng không những chưađược giải quyết mà còn có xu hướng gia tăng mạnh

Trang 8

1.4.1.Một vài đánh giá chung về tình trạng ô nhiễm môi trường

Trong gần 20 năm nay, tầng ôzôn của trái đất có nhiều biến đổi, theo báocáo của Tổ chức Khí tượng thế giới cho biết tầng ôzôn đã giảm tới mức thấpnhất trong 100 năm qua Dự báo đến năm 2075 tầng ôzôn của khí quyển sẽgiảm xuống 40% so với năm 1985, do đó số người mắc bệnh ung thư da sẽ là

150 triệu người, đục thuỷ tinh thể sẽ là 18 triệu người, sản lượng mùa mànggiảm 7,5%, tài nguên thuỷ sản tổn thất 25%, khả năng miễn dịch của cơ thể conngười sẽ bị suy giảm nhiều Nếu cứ tiếp tục nh vậy thì không bao lâu sau conngười cũng nh các loài sinh vật khác đều sẽ bị huỷ diệt

Nước của các biển và đại dương luôn bị ô nhiễm bởi các chất phế thải từtrên bờ, các đại dương đang dần trở thành “thùng rác” của trái đất

Rác thải đang là một tai họa lớn của nhân loại trong thế giới hiện đại, rácthải tràn ngập khắp các lục địa, các đại dương và bầu trời của trái đất Rác thảichủ yếu từ sinh hoạt, từ sản xuất đã trở thành vấn đề của nhiều nước Hiện nay,mỗi năm trên thế giới có khoảng 2 tỷ tấn rác thải công nghiệp, trong đó cókhoảng 500 triệu tấn có chất độc hại Vấn đề về rác thải đang được liệt vào mộttrong mười vấn đề lớn nhất về môi trường

Trên trái đất có hằng hà sa số các loại sinh vật gọi là tính đa dạng sinhhọc Tuy nhiên, tính đa dạng bao gồm cả loài người Êy đang bị tổn thươngnghiêm trọng: tính đến cuối thế kỷ này, toàn cầu sẽ có khoảng 100 loài sinh vật

bị tuyệt chủng, đã có 75% giống cây trồng bị tuyệt chủng, trong 4500 loài giasúc và gia cầm có 1/3 đang có nguy cơ tuyệt chủng…Dự báo hai đến ba nămtới sẽ có khoảng 1/ 4 sinh vật trên trái đất lâm vào cảnh tuyệt chủng, đến năm

2050 tỷ lệ Êy có thể là 1/ 2, như vậy có nghĩa là mỗi ngày có khoảng 15 –150loài biến mất

Trang 9

Rừng nuôi dưỡng nhân loại và được coi là “lá phổi siêu cấp của thiênnhiên”, có thể nói không có rừng thì không thể có ngày nay của nhân loại Thếnhưng ngày nay tài nguyên rừng đang ngày càng cạn kiệt, ở thời kỳ đầu vănminh của con người diện tích rừng khoảng 8 tỷ ha, đến thế kỷ 19 chỉ còn 5,5 tỷ

ha, cuối thế kỷ 20 thì chỉ còn 2,6 tỷ ha, như vậy, cứ mỗi năm giảm đi 11 –15triệu ha

Nói riêng ở Việt Nam, rừng đang bị phá hoại nghiêm trọng và ngày naycũng bị giảm sút nghiêm trọng, rừng nguyên thuỷ nước ta ban đầu có diện tíchgần bằng diện tích cả nước giờ chỉ còn lại 66432 km2, độ che phủ từ 48% tổngdiện tích cả nước chỉ còn 20% trong năm 1990, nói chung mỗi năm rừng ViệtNam bị mất khoảng 200.000 ha

1.4.2 Tình trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp

Quy mô sản xuất công nghiệp ngày càng mở rộng và tăng với tốc độ rấtnhanh ( hàng loạt các ngành công nghiệp mới ra đời, số lượng các doanhnghiệp công nghiệp xuất hiện ngày càng tăng…) đã khai thác và sử dụng tàinguyên với khối lượng ngày càng lớn làm cho nguồn tài nguyên trở nên bị cạnkiệt

Công nghiệp chế biến gỗ đã làm giảm tài nguyên rừng nghiêm trọng,diện tích rừng không ngừng bị thu hẹp, riêng ở nước ta diện tích rừng hiện naychỉ còn trên 10%, theo ước tính hàng năm khai thác phá huỷ 60-200 ngàn ha…Công nghiệp chế biến với công nghệ hiện đại sử dụng nguồn tài nguyên cònlãng phí rất nhiều Lượng chất thải lớn được thải ra từ công nghiệp trở lại môitrường dưới các dạng lý, hoá tính khác nhau Những năm gần đây với côngnghệ hiện đại, hoạt động sản xuất của con người thải vào không khí 110 triệutấn SO2 ,69 triệu tấn NO2, 2 triệu tấn chì, 11000 tấn thuỷ ngân… Ở nước ta, sảnxuất công nghiệp cũng đã thải ra một khối lượng lớn chất thải làm tăng dần ônhiễm môi trường sinh thái ( khu công nghiệp Việt Trì hàng năm lượng nướcthải từ các nhà máy lên tới 35 triệu m3 trong đó có chứa khoảng 100 tấn H2SO4,

4000 tấn HCl,…)

Trang 10

Công nghiệp khai thác tài nguyên khoáng sản phát triển nhanh đáp ứngnhu cầu trực tiếp của công nghiệp chế biến, vì thế đã góp phần làm giảm nguồntài nguyên thiên nhiên một lượng đáng kể.

Ở các khu công nghiệp của Việt Nam thường tiêu thụ và thải ra mộtlượng lớn nước rất lớn có mức ô nhiễm cao, đến nay hầu như đều chưa có hệthống xử lý nước thải tập trung hoàn chỉnhvà vận hành theo qui trình, mới chỉ

có 5 khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung là Loteco, Vedan( Đồng Nai ), khu công nghiệp Việt Nam – Singapor (Bình Dương ), khu côngnghiệp Nomura (Hải Phòng), khu công nghiệp Nội Bài ( Hà Nội ) Vì thế lượngnước thải ô nhiễm thải ra môi trường ngày càng tăng, theo tính toán hiện tại cáckhu công nghiệp trọng điểm phía Nam hàng ngày thải vào sông Sài Gòn, ĐồngNai khoảng 130.000 m3 nước thải trong đó có khoảng 23,2 tấn cặn lơ lửng, 7,5tấn nitro, 1 tấn photpho và nhiều kim loại nặng…

Đo đạc thực tế tại một số khu công nghiệp cho thấy đã có một số khu bị

ô nhiễm khí SO2 như các khu Thượng Đình (Hà Nội ), dệt Nam Định có nồng

độ SO2 vượt tiêu chuẩn cho phép 3- 4 lần, một số khu công nghiệp thải nhiềukhí SO2 gây hiện tượng lắng đọng axit cục bộ, làm môi trường đất xung quanh

bị axít hoá

Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường cũng thường xảy ra ở các cơsởan xuất qui mô vừa và nhỏ do không được đầu tư nhiều, công nghệ còn lạchậu, chưa chú trọng đến vấn đề xử lý ô nhiễm

Ở Bắc Ninh hiện nay có khoảng 158 làng nghề truyền thống đang trongtình trạng báo động về ô nhiễm môi trường, trong đó có nhiều làng nghề nổitiếng như làng mộc Đồng Kỵ ( Đồng Quang – Từ Sơn), làng tranh Đông Hồ,làng giấy Phong Khê…, các làng nghề đã khôi phục và phát triển góp phầnnâng cao đời sống nhân dân, song nó cũng góp phần không nhỏ vào vịêc làm ônhiễm môi trường Một trong những làng nghề có nguồn nước thải khá lớn làlàng giấy Phong Khê (Yên Phong) và khu vực sản xuất giấy Phúc Lâm (TiênDu) với hơn 50 xí nghiệp và trên 70 phân xưởng sản xuất đã tạo ra 1200 – 1500

Trang 11

m3 nước thải; làng nghề Đa Hội, nơi có hơn 200 hộ sản xuất chuyên nghề sắtvới qui mô xí nghiệp và hàng ngàn hộ sản xuất thủ công với qui mô nhỏ mỗingày đã thaỉi ra môi trường 2,5 – 3,5 tấn gỉ sắt cùng với 3500 – 4000 m3 nướcthải…; vấn đề về ô nhiễm không khí phải kể đến làng nghề đúc nhôm ở VănMôn ( Yên Phong), ở đâycó 80 hộ đúc thường xuyên, thời gian cao điểm lên tới

120 hộ với sản lượng 10 – 12 tấn một ngày, tuy không lớn nhưng khí thải vàbụi lơ lửng đã phát tán khắp nơi làm cho bầu không khí ở khu vực này và cáckhu vực xung quanh bị ô nhiễm nặng…

Việc ô nhiễm môi trường làng nghề đã gây ra không Ýt bệnh tật chonhững người sống trong các làng nghề đó Tại các làng nghề ở Bắc Ninh, NamĐịnh, Hưng Yên trong 6 tháng đầu năm 2002 có gần 70 ca tai nạn lao độngtrong đó chủ yếu là bỏng và chấn thương chân tay, tại làng nghề Phong Khê(Bắc Ninh) hiện nay có khoảng 57% người dân bị các bệnh về đường hô hấp,khoảng 16% người dân mắc các bệnh ngoài da, 15,6% mắc bệnh đau đầu mấtngủ…, tại làng nghề Bát Tràng hiện nay có khoảng 65% người dân mắc cácbệnh về hô hấp như xoang, viêm họng, viêm mũi…

Làng nghề ô nhiễm không còn là vấn đề của riêng khu vực nào mà đã trởthành tình trạng chung của cả nước vì trên thực tế do hạn chế về vốn và kỹthuật nên ở đây chưa đặt vấn đễ xây dựng các dự án xử lý chất thải, khói bụi…

vì thế tình trạng ô nhiễm là phổ biến

Vậy chóng ta phải có hướng phát triển mới nh thế nào để có thể pháttriển mà hạn chế những thiệt hại về môi trường, đây đang là vấn đề cấp báchcần giải quyết Hiện nay, vấn đề phát triển bền vững ngày càng được quan tâmđúng mức?

1.5.Phát triển bền vững là nỗ lực của toàn nhân loại trước nguy cơ diệt vong

Đây không còn là khái niệm hoàn toàn mới mẻ, nó phản ánh xu thế củathời đại và định hướng tương lai của loài người Phát triển bền vững được định

Trang 12

nghĩa là sự phát triển lành mạnh, trong đó sự phát triển của cá nhân hay cộngđồng này không làm thiệt hại đến lợi Ých của cá nhân hay cộng đồng khác, sựphát triển của thế hệ hôm nay không làm thiệt hại đến lợi Ých của thế hệ sau,

sự phát triển của loài người không đe dọa hay làm giảm nơi sinh sống của cácloài khác trên hành tinh (các loài cộng sinh) Bởi vì sự sống còn của con người

là dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng của các loài khác, dựa trên cơ sở duy trìdược sản lượng, năng suất tự nhiên, khả năng phục hồi và sự đa dạngcủa sinhquyển Một xã hội phát triển bền vững không sử dụng các nguồn tài nguyênkhông tái tạo (khoáng sản, nhiên liệu hoá thạch) nhanh hơn quá trình tìm ranhững loại thay thế chúng và không thải ra môi trường những chất độc hạinhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ và vô hiệu hoá chúng

Phát triển bền vững vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại vừa không xâm phạmđến lợi Ých của thế hệ tương lai Tuy nhiên, phát triển bền vững là bài toán cựckhó không thể giải quyết triệt để được, song đây là phương pháp lành mạnhnhất, có giá trị nhất Đòi hỏi phải tìm ra cách giải hợp lý nhất

Ở Việt Nam, chóng ta đã ý thức được những nguy cơ và thách thức đòihỏi phát triển bền vững, vấn đề này đã được đề cập đến như một yêu cầu quantrọng trogn hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược, các kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội ở tất cả các cấp, các lĩnh vực Đại hội Đảng khoá IX đã đề

ra chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2001- 2010: “Phát triểnnhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tể đi đôi với thực hiện tiến bộ,công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” - đặt bảo vệ môi trường ngang hàngvới các nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đất nước đã thể hiện ý chí quyết tâmcủa Đảng và Nhà nước ta trong việc kiến tạo một đất nước Việt Nam trong lành

và bền vững trong tương lai

Tuy vậy, phạm vi phát triển bền vững vẫn còn chưa được hiểu một cáchthấu đáo nhất Mặc dù chúng ta đã có nhiều nỗ lực từng bước cải thiện chấtlượng môi trường song công tác này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của quátrình phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn mới Nhìn chung môi trường

Trang 13

nước ta vẫn tiếp tục bị ô nhiễm và suy thoái, có nơi nghiêm trọng, ý thức tựgiác bảo vệ, giữ gìn môi trường công cộng chưa trở thành thói quen trong cáchsống của đại bộ phận dân cư.

Chương II

Thực trạng phát triển làng nghề sản xuất cao lanh ở Sóc Sơn – Hà Nội với hoạt động bảo vệ môi trường

2.1 Hoạt động khai thác và sản xuất cao lanh tại Sóc Sơn –

Hà Nội

Sóc Sơn là vùng nguyên liệu khoáng sản cao lanh quan trọng của Hà Nội

cà các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ Vùng khoáng sản cao lanh Sóc Sơn đượcphát hiện từ những năm 70 Năm 1984, Viện Địa chất Khoáng sản phát hiện vàthăm dò hai điểm cao lanh trên cánh đồng trồng lúa thuộc hai xã Phù Linh vàNam Sơn; năm 1986, đoàn Địa chất Hà Nội đã phát hiện và thăm dò bổ sungmột số điểm cao lanh phong tại Đồi Mã, xã Phù Linh; năm 1994, các nhà địachất trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phát hịên và thăm dò được một số điểmcao lanh khác tại các xã Minh phó, Minh Trí và Bắc Sơn

Năm 1985 cùng với sự thành lập của xí nghiệp Cao lanh sứ gốm SócSơn, hoạt động khai thác bắt đầu có qui mô hơn Hiện nay, quy mô khai thácngày càng được mở rộng với qui mô ngày càng lớn, địa điểm khai thác ban đầucủa xí nghiệp là các quặng cao lanh trầm tích do Viện Địa chất Khoáng sản

Trang 14

thăm dò, sau đó từ năm 1987 đến năm 1996 tập trung chủ yếu ở Đồi Mã Donhu cầu thị trường, đến năm 1997, dân cư địa phương bắt đầu khai thác mạnh ở

xã Minh Phú và Minh Trí Ban đầu thị trường tiêu thụ chủ yếu của cao lanh SócSơn là làng gốm sứ Bát Tràng, tiếp theo là các nhà máy sứ và gốm xây dựngvùng đồng bằng Bắc bộ Tính riêng năm 2001 sản lượng tiêu thụ các loại sảnphẩm cao lanh của xí nghiệp Cao lanh Gốm sứ Sóc Sơn đã đạt 140.000 tấn,diện tích các trường khai thác cao lanh Sóc Sơn hiện chiếm khoảng 10 – 15%diện tích phân bố cao lanh

2.1.1 Về diện tích khai thác :

Theo thống kê về diện tích các khai trường khai thác cao lanh và sét caolanh ta có những số liệu chứng tỏ rõ hơn về dấu hiệu lãng phí trong quá trìnhkhai thác tại địa bàn Sóc Sơn:

Tại xã Phù Linh có hai địa điểm khai thác là Đồi Mã và cánh đồng VệLinh thì tổng diện tích các trường khai thác là 7,5 ha, trong đó gồm có ba đơn

vị khai thác là xí nghiệp Cao lanh sứ gốm Sóc Sơn tại xã Đồi Mã với diện tích1,5 ha (tuy nhiên hiện nay moong khai thác đã ngừng hoạt động và trở thành aochứa nước sinh hoạt của dân địa phương ), tại cánh đồng Vệ Linh với diện tích

3 ha ( hiện nay moong khai thác đang hoạt động cùng với các phương tiện cơgiới), xí nghiệp Gốm xây dựng Hồng Hà có địa điểm khai thác tại cánh đồng

Vệ Linh với diện tích 3 ha (moong khai thác mới bắt đầu hoạt động năm 2001

và hiện nay vẫn đang hoạt động bình thường)

Tại xã Minh Phú có địa điểm khai thác là đồi Phúc Thịnh đang đượckhai thác theo mùa vụ do dân cư địa phương khai thác trên diện tích khaitrường là 10 ha

Tại xã Minh Trí có địa điểm khai thác là đồi Đồng Đò hiện nay vẫn dodân cư địa phương tổ chức khai thác tự phát theo mùa vụ trên diện tích trườngkhai thác là 8 ha

Trang 15

Tại xã Phù Lỗ có địa điểm khai thác là Thái Phù với diện tích trườngkhai thác là 1,5 ha do xí nghiệp Cao lanh Gốm sứ Sóc Sơn khai thác, hiện naymoong khai thác đang hoạt động bình thường.

Như vậy diện tích trường khai thác của các đơn vị khai thác cao lanh SócSơn hiện nay khá lớn so với diện tích cao lanh có tại địa bàn và có sự khai tháclãng phí không có sự quản lý, qui hoạch của địa phương do khai thác tự phátcủa người dân địa phương… chỉ vì lợi Ých trước mắt, hơn nữa diện tích trườngsau khai thác không được san lấp, lại sử dụng cho mục đích chứa nước sinhhoạt, đó là nguồn nước bị ô nhiễm

2.1.2.Về công nghệ - kỹ thuật khai thác và sản xuất

Đa sè khai thác vẫn ở dạng manh mún tự phát, không có khả năng sửdụng các thiết bị kỹ thuật – công nghiệp hiện đại để kiểm soát và hạn chế sựphát thải của loại tác nhân gây ô nhiễm môi trường xung quanh.Do nguồn vốn

bị hạn chế nên thiếu các biện pháp xử lý chất thải cũng như thiếu các công nghệhiện đại để có thể sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên cao lanh, từ đó hạn chếchất thải ra môi trường giảm bớt ô nhiễm Thể hiện:

Ở các khai trường khai thác cao lanh, việc đào xúc và vận chuyển quặng

từ dưới moong sâu lên mặt đất bằng lao động thủ công do đó năng suất khôngcao, lại dễ gây lãng phí trong quá trình vận chuyển, dẫn đến sử dụng lãng phítài nguyên

Kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, kém phát triển: các khu chế biến trong các

xí nghiệp không được xây dựng đồng bộ mà đa số là mới tăng thêm một vàikhu trong thời gian gần đây khi nhu cầu về sản xuất sản phẩm cao lanh tănglên, như vậy dù qui mô có tăng thêm nhưng cũng vẫn chỉ là do chắp vá nên hiệusuất không cao Cơ sở chế biến kỹ thuật lạc hậu, chưa có máy móc thiết bị hiệnđại nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất mới (vừa tăng năng suất vừa tiết kiệm

Ngày đăng: 28/03/2023, 15:59

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w