( BÀI THI MÔN CH VÀ HỆ THỐNG Y TẾ VIỆT NAM TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN, ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH THÔNG TƯ 432018TT BYT NGÀY 26 THÁNG 12 NĂM 2018 CỦA BỘ Y TẾ ) MỤC. chính sách y tế
Trang 1BÀI THI MÔN CHÍNH SÁCH VÀ HỆ THỐNG Y TẾ VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 3
2 Những thuận lợi, khó khăn khi triển khai Thông tư số 43/2018/TT-BYT 8
2.1 Thuận lợi 8
2.2 Khó khăn 10
3 Những điểm mạnh và những điểm cần cải thiện của thông tư 12
3.1 Những điềm mạnh 13
3.2 Những điểm cần cải thiện của thông tư 14
PHẦN III: KẾT LUẬN 25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Phụ lục 28
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU
An toàn là nền tảng của chất lượng trong chăm sóc sức khỏe An toànngười bệnh là phòng ngừa và giảm thiểu các sai sót có thể gây nguy hại chongười bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc tại cơ sở y tế [2] Do vậy, tháchthức hàng đầu trong lĩnh vực y tế hiện nay là bảo đảm cung cấp các dịch vụchăm sóc sức khỏe an toàn cho người bệnh/khách hàng Khi sai sót y khoakhông mong muốn xảy ra, có thể xảy ra tử vong, chấn thương vật lý hoặc tâm lýnghiêm trọng đối với người bệnh.Người bệnh phải gánh chịu hậu quả tổn hại tớisức khỏe, tính mạng, tài chính, tâm lý ngắn hạn lẫn lâu dài Và các cán bộ y tếliên quan trực tiếp tới sự cố y khoa không mong muốn cũng là nạn nhân trướcnhững áp lực của dư luận xã hội và cũng cần được hỗ trợ về tâm lý khi rủi ronghề nghiệp xảy ra
Các nghiên cứu về sai sót y khoa của các Quốc gia phát triển mạnh về Yhọc trên Thế giới từ những năm 2000, cho thấy số người bệnh nội trú gặp sự cố
y khoa chiếm từ 3,7%-16,6% Nguyên nhân của các sự cố y khoa chủ yếu do lỗi
hệ thống (70%) và chỉ có (30%) sai sót liên quan tới cá nhân người hành nghề.Nghiên cứu sự cố y khoa trong các bệnh viện Anh Quốc ghi nhận tần suất ngườibệnh gặp sự cố y khoa chiếm 10,8% người bệnh nội trú và khoảng 50% sự cố cóthể phòng ngừa Chính vì vậy, việc phòng ngừa sai sót y khoa, đảm bảo an toànngười bệnh là một thách thức lớn đối với ngành y tế [15] Ở Việt Nam, an toànngười bệnh được coi là một hoạt động hết sức quan trọng trong lĩnh vực khámchữa bệnh và điều trị
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình là cơ sở khám chữa bệnh đa khoa tuyếncao nhất của tỉnh Thái Bình Tuy nhiên cũng giống như một số cơ sở y tế khác,tại bệnh viện vẫn còn xảy ra một số sự cố y khoa không mong muốn gây ảnhhưởng tiêu cực tới người bệnh cũng như ảnh hưởng tới uy tín trong hoạt độngkhám chữa bệnh của bệnh viện Mặc dù Bệnh viện đã tập trung đầu tư cơ sở vậtchất, nhân lực và thực hiện một số giải pháp quản lý để tăng cường, cải thiện antoàn cho người bệnh
Trang 4Năm 2018, Bộ Y tế ban hành thông tư 43/2018/TT-BYT về việc hướng dẫnphòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm 03hoạt động chính là: Báo cáo sự cố y khoa; Phân tích phản hồi và xử lý sự cố ykhoa; Khuyến cáo và khắc phục để phòng ngừa sự cố y khoa Xuất phát từ tầmquan trọng và mức độ ảnh hưởng của sự cố y khoa, chúng tôi tiến hành làm tiểu
luận: “Phân tích quá trình xây dựng, triển khai, thực hiện đánh giá, phân tích Thông tư 43/2018/TT-BYT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám chữa bệnh” với mong muốn đạt được những mục đích sau:
1 Mô tả được cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Thông tư BYT ngày 26 tháng 12 năm 2018
43/2018/TT-2 Phân tích những thuận lợi và khó khăn khi triển khai thực hiện Thông
tư 43/2018/TT-BYT ngày 26 tháng 12 năm 2018
3 Phân tích những điểm mạnh và những điểm cần cải thiện của thông tư
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm [3]
Y văn trên thế giới đã sử dụng các thuật ngữ khác nhau để mô tảnhững rủi ro trong thực hành y khoa, các thuật ngữ chính về sự cố y khoa(SCYK) được định nghĩa như sau:
Sai sót (Error): Là thất bại khi thực hiện kế hoạch được đề ra trước đó
hoặc là triển khai sai kế hoạch nên không thể để đạt được mục đích Đôi khi
là đưa ra kế hoạch sai dẫn đến sai sót Sai sót cũng có thể xảy ra khi làmngược lại với kế hoạch
Sự cố y khoa (Medical adverse event): các tai biến/biến chứng xảy ra
ngoài ý muốn, hậu quả làm cho việc điều trị kéo dài, tăng tỷ lệ mắc và tửvong của người bệnh
Sự cố y khoa (Adverse Event) là các tình huống không mong muốn xảy ra
trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan,chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác độngsức khỏe, tính mạng của người bệnh
1.2 Phân loại sự cố y khoa
Phân loại theo tính chất chuyên môn:
- Hiệp hội an toàn NB Thế giới phân loại sự cố y khoa theo 6 nhóm gồm:
- Do nhầm tên người bệnh
- Do thông tin bàn giao của cán bộ y tế không đầy đủ
- Do sai sót dùng thuốc, bao gồm kê đơn thuốc, cấp phát thuốc, pha chếthuốc và sử dụng thuốc
- Do nhầm lẫn liên quan tới phẫu thuật (nhầm vị trí, nhầm phương pháp,nhầm người bệnh)
- Do nhiễm khuẩn bệnh viện
- Do người bệnh ngã trong thời gian đang điều trị tại các cơ sở y tế
Trang 6Phân loại theo lỗi cá nhân và hệ thống:
Sơ đồ 1 Mô tả các lớp hàng rào bảo vệ của hệ thống phòng ngừa sự cố y khoa
Trong y tế, các quy trình chuyên môn, các hoạt động của thầy thuốc nhưkhám bệnh, chẩn đoán, kê đơn, can thiệp thủ thuật, kể cả các hoạt động hànhchính gián tiếp cũng đều có thể gây rủi ro trực tiếp hoặc gián tiếp trên ngườibệnh Vì vậy, thường quy làm việc của các bệnh viện, mọi quy trình công việccần được thiết kế sao cho toàn bộ hệ thống có khả năng phát hiện và phòng ngừa
sự cố xảy ra với người bệnh
Phân tích các yếu tố liên quan tới sự cố y khoa theo Tài liệu đào tạo liên tục
An toàn người bệnh, Cục Khám chữa bệnh, Bộ Y tế -2014:
Sơ đồ 2 Mối liên quan giữa lỗi cá nhân và lỗi hệ thống
Trang 7Các lỗi do cá nhân người hành nghề hay còn gọi là lỗi hoạt động (activeerrors) liên quan trực tiếp tới người hành nghề vì họ trực tiếp liên quan tới ngườibệnh Khi sự cố xảy ra, người làm công tác khám chữa bệnh trực tiếp (bác sĩ,điều dưỡng, hộ sinh…) dễ bị gán lỗi Trên thực tế có nhiều lỗi cá nhân nhưng do
hệ thống gây ra Theo các nhà nghiên cứu y khoa, 70% các sự cố y khoa khôngmong muốn có nguồn gốc từ các yếu tố của hệ thống và chỉ có 30% là do cánhân người hành nghề Quy chụp trách nhiệm cho cá nhân sẽ dẫn đến văn hóagiấu sự thật sẽ ít hiệu quả trong việc mang lại những kết quả dài hạn
Các lỗi do hệ thống (latent factors) liên quan tới các sai sót, sự cố y khoa cóthể là: các chính sách không phù hợp, các quy định chuyên môn chưa lấy ngườibệnh làm trung tâm, thiếu nhân lực, ca kíp kéo dài, thiếu phương tiện phục vụngười bệnh, cơ chế tự chủ v,v Những yếu tố này thường ít được chú ý xem xétliên quan khi phân tích nguyên nhân sự cố y khoa Do vậy nếu chỉ tập trung vàolỗi cá nhân thì nguyên nhân gốc gây ra sự cố vẫn chưa được giải quyết và lỗitương tự sẽ tiếp tục xảy ra
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Sự cố y khoa trên thế giới
Hàng năm, có khoảng 134 triệu sự cố y khoa xảy ra ở các nước thu nhậpthấp và trung bình gây ra 2,6 triệu ca tử vong do không đảm bảo an toàn ngườibệnh Bên cạnh đó, chi phí do sự cố y khoa ước tính lên đến khoảng 42 tỷ USDmỗi năm Trên thế giới, gần 14% bệnh nhân bị tổn hại từ chính những dịch vụ y
tế mà họ nhận được trong thời gian nằm viện [8]
Tại Mỹ nghiên cứu tổng quan của John T Jame đăng trên tạp chí LippincottWilliam & Wilkin ước tính thấp nhất 210.000 tử vong hàng năm liên quan tới sự
cố y khoa so với nghiên cứu của Viện Y học Mỹ (Insitute of Medicine) năm
1999 ước tính hàng năm có tới 44.000-98.000 người tử vong liên quan tới sự cố
y khoa Số người chết vì sự cố y khoa trong các bệnh viện của Mỹ cao hơn tửvong do tai nạn giao thông (43.458), ung thư vú (42.297), và bệnh AIDS(16.516) là ba vấn đề sức khỏe mà người dân Mỹ quan tâm [1] Các sự cố y
Trang 8khoa không mong muốn đã làm tăng chi phí bình quân cho việc giải quyết sự cốcho một người bệnh là 2262 US$ và tăng 1,9 ngày điều trị/người bệnh [22].Trong một nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Quốc tế về Thực hành Điềudưỡng cho thấy sai sót khi dùng thuốc, chẩn đoán sai, nhiễm trùng bệnh viện, lở
và ngã nằm trên giường là những sự cố thường gặp nhất; và khối lượng côngviệc và nhân sự không đủ, hiệu suất kỹ thuật, sự cẩu thả và đạo đức kém, quản
lý kém, nhu cầu công việc tâm lý xã hội và hướng dẫn bằng văn bản là nhữngnguyên nhân phổ biến nhất gây ra các sự cố y khoa. Nghiên cứu cũng đưa rakhuyến nghị Y tá và quản lý bệnh viện và các nhà hoạch định chính sách y tếnên phát triển và đưa ra các chiến lược và chính sách hiệu quả để ngăn ngừahoặc giảm thiểu sự xuất hiện của các sự cố bất lợi [7]
Nghiên cứu cắt ngang của Tiến sỹ Eunhee Cho đăng tải trên Joural ofnursing Scholardhip năm 2015 sử dụng kết hợp dữ liệu khảo sát điều dưỡng
( N = 4.864 người), dữ liệu cơ sở ( N = 58 bệnh viện) và dữ liệu bệnh nhân xuất viện ( N = 113.426 bệnh nhân) ở Hàn Quốc cho thấy ba sự cố y khoa được điều
dưỡng báo cáo phổ biến nhất bao gồm sử dụng sai thuốc hoặc liều lượng chobệnh nhân, loét tì đè và chấn thương do ngã sau khi nhập viện. Số lượng bệnhnhân trên mỗi điều dưỡng lớn hơn có liên quan đáng kể với tỷ lệ sử dụng thuốchoặc liều lượng sai cao hơn (tỷ lệ chênh lệch [OR] = 1,01, khoảng tin cậy 95%[CI] = 1,007–1,016), loét tì đè (OR = 1,01 , KTC 95% = 1,007–1,016), và bệnhnhân ngã do chấn thương (OR = 1,02, KTC 95% = 1,013–1,022). Một môitrường làm việc tốt hơn có mối quan hệ nghịch đảo đáng kể với các sự cố ykhoa [6]
Báo cáo y tế lần thứ 9 của Bang Minisota – Mỹ (2013) ghi nhận năm 2012
có nhiều sự cố y khoa hơn các năm trước, bình quân mỗi tháng có 26,1 sự cố,28% các sự cố y khoa gây hậu quả cho người bệnh và 4% sự cố y khoa dẫn đếnchết người;Các sự cố liên quan tới phẫu thuật sai phương pháp, sai vị trí vẫn có
xu hướng tăng nhẹ Ngoài ra, xu hướng tranh chấp trong khám chữa bệnh giữamột bên là người sử dụng dịch vụ y tế và người cung cấp hoặc cơ sở cung cấpdịch vụ y tế ngày càng gia tăng [13]
Trang 9Nghiên cứu của O'Hara JK năm 2018 trong 2471 bệnh nhân nội trú thamgia nghiên cứu thì có tới 579 người cung cấp 1155 báo cáo sự cố do bệnh nhânbáo cáo. 14 danh mục đã được phát triển để phân loại các báo cáo, trong đóthông tin liên lạc xảy ra thường xuyên nhất (22%), tiếp theo là các vấn đề vềnhân sự (13%) và các vấn đề về môi trường chăm sóc (12%). 406 trong tổng số
1155 báo cáo sự cố bệnh nhân (35%) được các bác sĩ phân loại là sự cố an toàncho bệnh nhân theo định nghĩa tiêu chuẩn. 1/10 bệnh nhân (264 bệnh nhân) xácđịnh có sự cố về an toàn bệnh nhân, với lỗi thuốc là sự cố được báo cáo thườngxuyên nhất [17]
1.2.2 Sự cố y khoa tại Việt Nam.
Việt Nam cũng không phải ngoại lệ với những sự cố y khoa không mongmuốn xảy ra liên tiếp trong thời gian qua Một số sự cố đã gây thiệt hại khôngchỉ vể sức khỏe, tài chính mà còn là ngay cả tính mạng người bệnh Các cán bộ
y tế liên quan trực tiếp tới sự cố y khoa không mong muốn cũng trở thành nạnnhân trực tiếp của dư luận xã hội Những năm qua sự cố y khoa không chỉ là hồichuông cảnh báo cho ngành y mà còn làm rúng động dư luận xã hội: Năm 2017
có 8 người chết trong sự cố chạy thận tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, 4 trẻ
sơ sinh tử vong do nhiễm khuẩn bệnh viện Sản nhi Bắc Ninh; Năm 2018 tạiBệnh viện 108 đã chỉ định siêu âm thai cho cụ ông 85 tuổi Sự cố y khoa khôngchỉ đến từ nguyên nhân do sai sót chuyên môn, mà còn đến từ các nguyên nhânkhác như hỏng hóc trang thiết bị, thuốc, vật tư, quản lý người bệnh… Tại ViệtNam trong sự cố y khoa không chỉ ảnh hưởng tới người bệnh mà một số trườnghợp ảnh hưởng tới nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân như những trường hợpmắc phơi nhiễm HIV, viêm gan B…khi điều trị
Theo thống kê của Sở Y tế Hà Nội, năm 2016 có 7 trường hợp tử vong liênquan đến sự cố y khoa; năm 2017 và 2018 đều có 3 trường hợp; 4 tháng đầunăm 2019, đã có 5 trường hợp tử vong do sự cố y khoa (2 trường hợp tại BVcông lập và 3 trường hợp ở các BV ngoài công lập) [9] Nghiên cứu của Lê ThịAnh Thư “Giám sát VPBV liên quan đến thở máy” của 170 người bệnh tại bệnhviện Chợ Rẫy năm 2011 tỷ lệ NKBV chiếm 39,4%[12]
Trang 10Điều tra cắt ngang hàng năm tại một số bệnh viện khu vực phía Bắc nhưbệnh viện Bạch Mai Việt- Đức, Thanh Nhàn, Lao và bệnh phổi Hà Nội… tỉ lệNKBV dao động từ 3% – 7% với 3 loại nhiễm khuẩn chính là nhiễm khuẩn hôhấp, nhiễm khuẩn vết mổ, nhiễm khuẩn tiết niệu [16].
Các bệnh viện tuyến tỉnh, trung ương tiếp nhận một lượng bệnh nhân nặng
từ các địa phương, thực hiện nhiều kỹ thuật phức tạp, can thiệp chuyên sâu,…nên việc phòng ngừa sự cố y khoa càng cần được chú trọng
Đứng trước thực trạng đó để thống nhất hoạt động quản lý sự cố y khoatrong các cơ sở y tế Việt Nam Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 43/2018/TT-BYT, ngày 26/12/2018 về việc hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm 03 nội hoạt động chính là: Báo cáo sự cố ykhoa; Phân tích phản hồi và xử lý sự cố y khoa; Khuyến cáo và khắc phục đểphòng ngừa sự cố y khoa
2 Những thuận lợi, khó khăn khi triển khai Thông tư số 43/2018/TT-BYT 2.1 Những thuận lợi khi triển khai Thông tư số 43/2018/TT-BYT
Trong những năm gần đây Bộ Y tế đã thay đổi quan điểm phục vụ, đổi mới
từ cách nghĩ, cách làm, cách kiểm tra.Theo đó, thay đổi từ tư duy ban ơn thành
tư duy người cung cấp dịch vụ phục vụ tốt cho người bệnh Lấy người bệnh làmtrung tâm, hướng đến an toàn cho người bệnh, hài lòng cho người bệnh Bộ đãban hành bộ 83 tiêu chí đảm bảo an toàn người bệnh “Trước đây, khi xảy ra sự
cố, các cá nhân, cơ sở y tế vẫn có tư duy giấu giếm Đến nay, việc báo cáo sự cố
y khoa đã chủ động hơn nhằm tìm ra những nguy cơ để phòng ngừa” [9]
Trước khi thông tư 43/2018/TT-BYT ban hành, đã ban hành nhiều văn bảnliên quan Cụ thể: Thông tư số 19/2013/TT_BYT về việc hướng dẫn thực hiệnquản lý chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại bệnh viện ngày 12/7/2013;BộTiêu chí chất lượng chính thức của các bệnh viện Việt Nam tại quyết định6858/QĐ-BYT, ngày 18/11/2016, gồm 83 tiêu chí đánh giá trên 5 phần cơ bảnnhư Hướng đến người bệnh, phát triển nguồn nhân lực bệnh viện; Hoạt độngchuyên môn, Hoạt động cải tiến chất lượng bệnh viện và tiêu chí đặc thù chuyênkhoa trong đó có phần phòng ngừa các sự cố và khắc phục tại chương D2; Trong
Trang 11đó có 02 tiêu chí là D2.2: Xây dựng hệ thống báo cáo, phân tích sự cố y khoa vàtiến hành các giải pháp khắc phục và D2.3[4].
Thông qua cải cách của Chính phủ, sự minh bạch đang dần tăng và hoạtđộng y tế - dù tốt hay xấu – cũng trở nên rõ ràng, các bệnh viện và bác sĩ sẽ phảiđối mặt với sự giám sát ngày càng tăng Dù đây là một điều tốt về lâu dài vàchuyển đổi các hệ thống y tế theo mô hình an toàn và ít biến động hơn, trongtương lai gần sẽ có nhiều kiện tụng hơn trừ khi bệnh viện chủ động thực hiệnnhững bước chuẩn bị
Ngày nay bệnh viện tư và bệnh viện công dần có chất lượng tương đươngnhau, bệnh viện tư có khả năng chuyên môn và chuyên sâu hơn, khả năng tậptrung nhiều dịch vụ chuyên khoa hơn theo cách thúc đẩy chất lượng và có thểđầu tư CNTT toàn diện, đảm bảo chất lượng và các hoạt động cải tiến giúp giảmrủi ro cho cả bác sĩ y tế và tổ chức nói chung
Các bệnh viện đã quan tâm nhiều tới sự cố y khoa bằng việc thường xuyên
tổ chức diễn tập các tình huống cấp cứu tối khẩn cấp, triển khai phần mềm báocáo sự cố y khoa…
Nội dung sự cố y khoa được đưa vào các khóa học trong các Trường đạihọc, cao đẳng Y dược
Công nghệ thông tin phát triển đồng thời đưa các công cụ quản lý sự cố ykhoa, thuốc, vật tư… đã được phát triển và đưa vào sử dụng
Luật khám chữa bệnh hiện hành và nghị định 102/2011/NĐ-CP bảo hiểmtrách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnhquy định: các bệnh viện mua bảo hiểmtrách nhiệm cho bác sĩ Nếu xảy ra sự cố y khoa, cơ quan bảo hiểm sẽ đứng ra làmtrọng tài và sau đó chi trả phí đền bù sai sót Đây từng được coi là hướng mở đểbác sĩ mạnh dạn hơn trong báo cáo sự cố y khoa, từ đó cơ quan quản lý có thểnhận diện sai sót y khoa xảy ra từ các khâu nào là chính, sự cố nào hay gặp, thóiquen nào hay dẫn đến sai sót… nhằm có biện pháp can thiệp
2.2 Khó khăn khi triển khai Thông tư số 43/2018/TT-BYT
Các sự cố y khoa có thể xảy ra ở bất cứ công đoạn nào của mọi quy trình từchẩn đoán, chăm sóc đến điều trị Đặc biệt, bệnh viện là nơi các thầy thuốc
Trang 12thường xuyên bị áp lực công việc do tình trạng quá tải và áp lực về tâm lý, vìvậy, sự cố y khoa không mong muốn là điều khó tránh khỏi và trong nhiềutrường hợp ngoài tầm kiểm soát Khi sự cố xảy ra, cả người bệnh và thầy thuốcđều là nạn nhân [9] Việc triển khai thực hiện Thông tư số 43/2018/TT-BYT làrất cần thiết nhưng trong quá trinh triển khai vẫn còn vấp phải một số khó khănliên quan tới yếu tố người hành nghề, yếu tố chuyên môn, yếu tố môi trườngcông việc và yếu tố liên quan tới quản lý và điều hành cơ sở y tế.
Yếu tố con người
Sợ: Do nỗi sợ về việc kiện tụng về các sai sót thực hành nghề nghiệp, về
“vết đỏ” cảnh cáo trong hồ sơ lưu trữ ở sở Y tế, mất danh tiếng, cả các bác sĩ vàphía bệnh viện thường y che giấu các sai sót, sự cố và đổ lỗi cho nhau Nỗi sợmất thể diện trong ánh mắt đồng nghiệp cũng như mất uy tín nghề nghiệp là yếu
tố quan trọng không thể bỏ qua khi một nhân viên y tế mắc phải sai sót.Sự lolắng này là nguyên nhân dễ hiểu các báo cáo sai sót không thường được thựchiện trong lĩnh vực y tế
Việc thực hiện báo cáo sự cố y khoa gặp phải những khó khăn nhấtđịnh trong đó vấn đề đổ lỗi, quy trách nhiệm là một rào cản không nhỏ,năm 2015 trong một nghiên cứu về thực trạng và khó khăn khi báo cáo sự
cố y khoa của 232 điều dưỡng, kỹ thuật viên Bệnh viện Đại học Y Hà Nộicho kết quả 34,1% cho là sẽ ảnh hưởng đến đồng nghiệp, 27,6% cho rằng
sợ bị buộc tội [14] Sự đổ lỗi cho nhau không chỉ xảy ra giữa ban lãnh đạo bệnhviện với bác sĩ Bác sĩ có thể đỗ lỗi cho điều dưỡng, cho các đồng nghiệp khác.Hoặc sự đổ lỗi có thể xảy ra giữa 2 điều dưỡng, bác sĩ hay các nhân viên y tếkhác cũng như là giữa các chuyên khoa với nhau.
Sự ám ảnh lâu dài: Ở bệnh viện, khi một người bệnh tử vong bởi 1 sai sót ykhoa, sự cố này ăn sâu vào trí nhớ của nhân viên y tế và các đồng nghiệp Nếu
cá nhân đó không bị sa thải và vẫn tiếp tục làm việc, thì về lâu dài, anh ấy sẽđánh mất dần sự tin tưởng của các đồng nghiệp mình KHông một nhân viên y tếhay bác sĩ nào muốn hình ảnh của mình trở nên tồi tệ trong mắt đồng nghiệp.Tuy nhiên, trong thực tế, áp lực từ các đồng nghiệp là rất lớn và như là 1 sự