1cơ sở lý thuyết 2thực trạng thất nghiệp 2009-2012 3.giải pháp giải quyết thất nghiệp
Trang 1Lời mở đầu
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã tạo
ra không ít những bước nhảy vọt về mọi mặt, đã đưa nhân loại tiến xa hơn nữa Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu phát triển rực rỡ về khoa học kỹ thuật, các ngành như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu, lương thực,thực phẩm sang các nước,… Đằng sau những thành tựu chúng ta đã đạt được, thì cũng có không ít vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm như: Tệ nạn xã hội, lạm phát, thất nghiệp, …Nhưng có lẽ vấn đề được quan tâm hàng đầu ở đây là thất nghiệp.Thất nghiệp, đó là vấn đề cả thế giới cần quan tâm Bất kỳ một quốc gia nào dù nền kinh tế có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại thất nghiệp, đó là vấn đề không tránh khỏi, chỉ có điều là thất nghiệp đó ở mức độ thấp hay cao mà thôi Cũng như nhiều nơi trên thế giới, tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam đã trở thành
sự kiện thời sự với những tin tức xuất hiện hầu như hàng ngày trên các phương tiện truyền thông về một doanh nghiệp nào đó, một khu công nghiệp nào đó đã và đang định sa thải bao nhiêu công nhân Kèm theo
đó, những phóng sự, những bài viết về thực trạng cuộc sống bi đát của những công nhân ngoại tỉnh mất việc càng làm u ám thêm vấn đề thất nghiệp ở Việt Nam trong cơn khủng hoảng bỏn qua bất bình xã hội ,tội phạm hay bạo lực, giờ đây nổi sợ hải kinh hoàng nhất đang hoành hànhtrên toàn thế giới là vấn đề không thể kiếm được việc làm và hiện
tượng thất nghiệp ngày càng tăng , thất nghiệp trở thành mối quan tâmnóng bỏng toàn cầu ,vượt xa mọi vấn đề lo lắng thông thường khác, nhất là khi khủng hoảng kinh tế , tài chính gõ của đến từng hộ gia đình trong đề tài này , chúng em xin trình bày thực trạng thất nghiệp của nềnkinh tế viêt nam từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 đến 2012 với góc độ nghiên cứu và tiếp cận đề tài
Trang 2Chương1:cơ sở lý thuyết
.Định nghĩa:
1.1 Thất nghiệp là khái niệm chỉ những người trong lực lượng lao động
xã hội không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm
1.2 Lực lượng lao động xã hội: là một bộ phận của dân số bao gồm
những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi nhưng trên thực tế có tham gia lao động Lực lượng lao động = Số người có việc + Số người thất nghiệp
1.3 Độ tuổi lao độ:là khoảng tuổi do pháp luật mỗi quốc gia quy định
và những người trong độ tuổi ấy có nghĩa vụ phải tham gia lao động
1.4 Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm
trên tổng sốlực lượng lao động xã hội
1.5 tỷ lệ tham gia lao động là phần trăm lực lượng lao động trên tổng
số dân trong độ tuổi lao động
2 Phân loại thất nghiệp
2.1 Theo lý do thất nghiệp
- Bỏ việc: Tự ý bỏ việc vì những lí do khác nhau
- Mất việc: Do các hãng cho thôi việc vì những khó khăn trong kinh doanh
- Nhập mới: Lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động, nhưng chưa tìm được việc làm
- Tái nhập: Những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lại làm việcnhưng chưa tìm được viêc làm
Trang 32.2 Theo nguồn gốc thất nghiệp:
- Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra khi có một số người lao động đang trong
thời gian tìmkiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp hơn với mình
- Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có thay đổi cơ cấu kinh tế,có sự chuyển
đổi động tháisản xuất,chỉ xảy ra ở một bộ phận thị trường lao động
- Thất nghiệp chu kì xảy ra bởi sự suy giảm tổng cầu trong nền kinh tế,
thất nghiệpnày xảy ra trên toàn bộ thị trường lao động
- Thất nghiệp mùa vụ: có việc làm theo một mùa nhất định vì thế khi
chuyển sang mùa
khác họ trở lên thất nghiệp
2.3 Ngoài ra còn có một cách phân loại mới
-Thất nghiệp tự nguyện: Chỉ những người không muốn làm việc do việc
làm hoặcmức lương chưa phù hợp với bản thân họ
-Thất nghiệp không tự nguyện: Chỉ những người mong muốn làm việc
và tích cực tìmkiếm việc làm nhưng không có việc
- Thất nghiệp tự nhiên: là thất nghiệp ở mức sản lượng tiềm năng Về
bản chất thấtnghiệp tự nhiên là thất nghiệp tự nguyện khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng
- Thất nghiệp trá hình: chỉ những người đi làm thực sự nhưng thu nhập
quá ít
3.1 Lý thuyết tiền công linh hoạt (quan điểm của trường phái cổ điển)
Trong nền kinh tế giá cả và tiền công là hết sức linh hoạt, do vậy thị
Trang 4trường lao độngluôn ở thế cân bằng và thị trường chỉ có một loại thất nghiệp là thất nghiệp tự nguyện.
3.2 Lý thuyết tiền công dính (cứng nhắc – quan điểm của Keynes)
Trong nền kinh tế tiền công và giá cả không linh hoạt như người ta tưởng mà nó bịdính (cứng nhắc) bởi sự rang buộc bằng những thỏa thuận trong hợp đồng và nhữngquy định của chính phủ Vì vậy thị
trường lao động sẽ có lúc không ở trạng thái cânbằng và nền kinh tế sẽ
có hai loại thất nghiệp là thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệpkhông tự nguyện
Chương 2: thực trạng thất nghiệp của việt nam từ năm 2008-2012
2.1 thực trạng thất nghiệp năm 2008
Dưới tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ giảm sút; tiêu thụ sản phẩm chậm, hàng hóa ứ đọng, kể cả các vật tư quang trọng, lương thực và nhiều nông sảnxuất khẩu có khối lượng lớn; số người mất việc làm năm 2008 khoảng 667.000 người, 3.000 lao động từ nước ngoài phải về nước trươc thời hạn theo bộ lao động, tỷ lệ thất nghiệp ở việc nam vào khoảng 4,65% tức là khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm
Danh sách các doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động, thu hẹp sản xuất ngày càng dài thêm trong các báo cáo của sở lao động - thương binh và xã hội TPHCM khủng hoảng kinh tế toàn cầu và làn sóng thất nghiệp đã lan đến việt nam , khi hàng ngàn lao động ở các thành phố đã bị mất việc làm trong những tháng cuối năm
Trang 5Trong thông báo gửi sở lao động -thương binh và xã hội TPHCM, công
ty TNHH sambu vina Sport cho biết giảm 224 lao động kể từ ngày
11-1-2009 trước đó, nhiều danh nghiệp cũng đã thông báo về việc cắt giảm lao động như công ty sony việt nam, công ty liên doanh RSC, công ty TNHH Castrol BP Petco, công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Dai-Ichi Việt Nam, công ty TNHH tư vấn thiết kế liên hiệp quốc tế với tổng số lao động bị mất việc trên 1.000 người, hàng ngàn lao động mất việc cuối năm 2008 hàng vạn người bị nợ lương, không có tiền thưởng nhiều người có củng như không, vì tiền thưởng cho một năm lao động cật lực không đủ ăn bát phở
Trang 6Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi năm 2008 phân theo vùng (Theo thống kê của
Trong thông báo gửi sở lao động -thương binh và xã hội TPHCM, công ty TNHH sambu vina Sport cho biết giảm 224 lao động kể từ ngày 11-1-2009 trước đó, nhiều danh nghiệp cũng đã thông báo về việc cắt giảm lao động như công ty sony việt nam, công ty liên doanh RSC, công
ty TNHH Castrol BP Petco, công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Dai-Ichi Việt Nam, công ty TNHH tư vấn thiết kế liên hiệp quốc tế với tổng số lao động bị mất việc trên 1.000 người, hàng ngàn lao động mất việc cuối năm 2008 hàng vạn người bị nợ lương, không có tiền thưởng nhiều người có củng như không, vì tiền thưởng cho một năm lao động cật lực không đủ ăn bát phở
Theo Tổng cục thống kê(TCTK), chi tiêu tỷ lệ thất nghiệp ở nước
ta những năm gần đây chỉ được tính cho khu vực thành thị, với những người trong độ tuổi 15-60 với nam và 15-55 với nữ để đánh giá tình hình lao động, còn một chỉ tiêu khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm nhưng từ trước đến nay chưa công bố ở việt nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn tỷ lệ thất nghiệp, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn thành thị, với cách hiểu như vậy tỷ lệ thất nghiệp của việt nam là 4,65% tăng 0,01% so với năm 2007, trong khi đó
tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện là 5,1% tăng 0,2% so với năm 2007, đáng chú ý tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn tới 6,1% trong khi tỷ lệ này
ở khu vực thành thị là 2,3%, 5 năm lại đây tỷ lệ thất nghiệp , thiếu việc làm có su hướng giảm 0,1-0,2% năm, nhưng do ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới , từ năm 2007 đến nay, tỷ lệ này đang tăng dần Việt Nam đang tích cực khai các giải pháp để giảm tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm về đúng quỹ đạo giảm như các năm trước theo dự báo
Trang 7của TCTK tỷ lệ thiếu việc làm năm 2009 sẽ tăng lên 5,4% (2008:5,1%); trong đó khu vực nông thôn khoảng 6,4%.
khảo sát cho thấy người lao động nhập cư đang đối mặt với tình trạng giảm thu nhập, nhiều người lao động nhập cư tại các làng nghề vàkhu công nghiệp được khảo sát đang quay lại quê nhà, họ và làng quê
họ nơi đã từng hưởng lợi từ tiền gửi về do làm thuê, đang gánh chịu nhiều nhất những tác động trước mắt của khủng hoảng kinh tế xu thế
và hướng đi của lao động di cư trong nước và mối liên kết nông thôn - thành thị là những chỉ số quang trọng cần được sử dụng để tiếp tục theo dõi tác động xã hội của khủng hoảng kinh tế trong thời gian tới người lao động phỏng vấn cho biết, nếu năm 2007 họ có thể có việc làm 20 ngày\tháng thì đến cuối năm 2008 họ chỉ có việc làm 10 ngày\tháng, trong đó số ngày làm các công việc xây dựng giảm khoảng 70%, các công việc khác như khuân vác, chuyển đồ, thu dọn vệ sinh giảm khoảng 30% tiền tiết kiệm hàng tháng trung bình giảm mạnh và hầu như không có
tăng trưởng GDP Việt Nam giảm từ 8,5% năm 2007 xuống còn 6,23% năm 2008 theo các chuyên gia kinh tế, về lý thuyết,GDP giảm 2 điểm phần trăm thì tỷ lệ thất nghiệp sẻ tăng 1%
theo thống kê của bộ lao động- thương binh- xã hội, hết năm
2008 cả nước mới có gần 30.000 lao động tại khối doanh nghiệp bị mất việc vì nguyên nhân kinh tế suy giảm bộ này đưa ra ước tính số lao động bị mất việc vì nguyên nhân trên trong năm 2009 sẻ vào khoảng 150.000 người, còn theo cách tính của tổ chức lao động quốc tế (ILO),
cứ 1% tăng trưởng GDP sẽ có thêm 0,33-0,34% lao động có việc làm như vậy với việt nam, nếu GDP giảm khoảng 2% trong năm 2008 tương
Trang 8ướng sẻ có 0,65% việc làm bị mất, 0,65% tương ướng với số lượng khoảng 300 nghin người.
tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương thuộc viện khoa học lao động và xã hội khẳng định ,năm 2008 tổng việc làm mới được tạo ra chỉ là 800.000
so với khoảng 1,3 triệu việc làm mới được tạo ra trong năm 2007 nhiềungành sử dụng nhiều lao động có tốc độ tăng việc làm cao bị ảnh hưởng
rõ rệt từ cuộc khủng hoảng kinh tế, các ngành nhỏ và vừa là nơi tạo ra khoảng 50% việc làm trong hệ thống doanh nghiệp nói chung , mỗi nămtăng thêm khoảng 500.000 lao động, tuy nhiên thời gian qua nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn phải cắt giảm nhân sự
Xuất khẩu lao động gặp khó khăn
theo bộ lao động- thương binh -xã hội năm 2008 cả nước giải quyết việc làm cho 1,35 triệu lao động ,trong đó thông qua các chương trình kinh tế xã hội là 1,1 triệu, xuất khẩu lao động 85.000 bốn thị
trường xuất khẩu lao động trọng điểm của việt nam là Đài Loan
(33.000), Hàn Quốc (16.000), Malaysia (7.800) và Nhật Bản(5.800) Malaysia là thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất trong các năm 2005-2007 mỗi năm quốc gia này tiếp nhận khoảng 30.000 lao động Việt Nam năm 2008 do lo ngại nhiều rủi ro cũng như khan hiếm nguồn lao động, số người Việt sang Malaysia giảm hẳn chưa tới 10.000 người lao đông ở nông thôn đi xuất khẩu lao động rất đông,
nhiều người vay mượn tiền để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động, khôngmay gặp những nước bị ảnh hưởng suy thoái kinh tế trầm trọng, cũng đành tay trắng về nước theo báo cáo tại hội nghị việc làm và xuất khẩu lao động (XKLĐ) năm 2008, mục tiêu trong 2 năm 2009-2010 là giải quyết việc làm trong nước cho 3-3,2 triệu lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị ở mức dưới 5%, giảm tỷ lệ lao động làm việc
Trang 9trong lĩnh vực nông nghiệp xuống dưới 50% năm 2010, đến năm 2010, bình quân mỗi năm đua được 100 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài trong đó 60% lao động qua đào tạo nghề, 5-10% lao động ở các huyện có tỷ lệ nghèo cao
2.2 thực trạng thất nghiệp năm 2009
Năm 2009 là năm đầu tiên chính phủ thực hiện chính sách đóng bảo hiểm thất nghiệp, nhằm bù đắp một phần thu nhập cho người lao động bị mất việc làm hoặc bị chấm dứt hợp đồng lao động, đồng thời tạo điều kiện để họ có cơ hội tìm được việc làm trong thời gian sớm nhất, tất cả những điều này đã tạo điều kiện cho thị trường lao động Việt Nam thật sự '' vươn mình'' phục hồi trở lại, nhu câu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong các tháng cuối năm tăng cao, theo đó tỷ lệ lao động mất việc cũng giảm đi nhiều
theo báo cáo của bộ lao động -thương binh -xã hội do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, đến cuối năm 2009 cả nước đã có 133.262 laođộng bị mất việc làm chiếm 18% lao động làm việc trong các doanh nghiệp có báo cáo, chưa kể 40.348 lao động ở các làng nghề bị mất việc làm và khoảng 100.000 người phải giảm giờ làm, nghỉ luân phiên
năm 2008 tỷ trọng lao động thất nghiệp của nữ trong tổng số người thất nghiệp là 57,5%, của nam giới là 42,5%, tuy nhiên kết quả điều ta lao động và việc làm 1-9-2009 cho thấy tỷ trọng lao động thất nghiệp nữ đã giảm xuống gần như tương đương so với lao động thất nghiệp nam (50,2% và 49,8%)
Trong năm 2009, tình trạng thất nghiệp cũng chưa được cải
thiện, số lao động đang trong trình trạng thất nghiệp cũng còn ở mức cao Lý do chính vẫn là do tầm ảnh hưởng rộng lớn của khủng hoảng
Trang 10kinh tế toàn cầu và lạm phát tăng cao Theo TS Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học - Lao động và Xã hội việc ước tính số lao động thất nghiệp ở Việt Nam không dễ do thiếu hệ thống giám sát và khai báo thất nghiệp Vì thế, để đưa ra một con số dự báo dựa trên những cơ sở khoa học và thực tế, theo TS Hương, có thể ước lượng được số việc làm bị mất đi do nền kinh tế bị khủng hoảng dựa vào sự chênh lệch giữa số việc làm được tạo ra với các mức tăng trưởng kinh
tế khác nhau Và, với cách tính của TS Hương, dự báo số người bị mất việc làm do cuộc khủng hoảng trong thời kỳ 2008 -2009 ở VN sẽ khoảng494.000 người, chênh gần 100.000 người so với con số mà Cục Việc làmđưa ra Con số 400.000 người mất việc do Cục Việc làm đưa ra trong cuộc họp báo mới đây đã gặp phải sự hoài nghi của nhiều chuyên gia Ông Diệp Thành Kiệt - Phó Chủ tịch Hội Dệt - may, thêu - đan TPHCM cho rằng, con số 400.000 người thất nghiệp trong năm 2009 không phản ánh đúng thực trạng của thị trường lao động VN Một chuyên gia
về lao động việc làm cũng cho rằng, con số này được Cục Việc làm đưa
ra mới chỉ dựa trên báo cáo của sở LĐTBXH từ 47 tỉnh, thành, vì thế chưa phản ánh được bức tranh toàn diện về tình trạng mất việc trên cả nước
Bên cạnh đó, chính ông Cục trưởng Cục Việc làm Nguyễn Đại Đồngcũng thừa nhận, hiện VN vẫn chưa có biện pháp nào để quản lý người lao động chặt chẽ như một số nước khác Ông Cục trưởng cũng cho biết, ít nhất phải tới sau 2010, VN mới có thể áp dụng hình thức "thẻ lao động" để quản lý lao động chặt chẽ hơn Trong đợt khảo sát cuối năm 2008 đầu 2009, cục mới chỉ thống kê được số lao động bị mất việc tại các Cty Còn với những lao động sau khi mất việc tại Cty này ngay lậptức lại xin được việc tại Cty khác thì không có cơ sở nào để thống kê
Trang 11Ông Đồng dự tính, nếu thống kê được cả những người này, con số thất nghiệp năm 2009 chỉ dừng ở mức 300.000 người
Có một thực tế là từ cuối năm 2008 đến nay, nhiều doanh nghiệptrong các khu công nghiệp đã cắt giảm lao động do suy giảm kinh tế Tuy nhiên, không thể nói rằng tất cả những lao động này bị thất nghiệp
vì phần lớn những người này đã trở về quê và tìm kiếm một công việc mới (có thể là công việc không phù hợp) nhưng vẫn cho thu nhập, dù cóthể là thu nhập thấp Chính vì vậy, cần hết sức thận trọng khi nói về tìnhtrạng thất nghiệp hiện nay Khi suy thoái kinh tế đã kết thúc, thì tiến trình hồi phục thường phải kéo dài trong rất nhiều năm Do vậy, ngay trong khủng hoảng, thì việc đánh giá chính xác tình hình để làm cơ sở xây dựng chiến lược nguồn nhân lực với Doanh Nghiệp, với chính quyềnvẫn có giá trị quyết định tới khả năng vượt qua khủng hoảng và phát triển Với người lao động, việc làm càng dễ mất đi, thì công việc mới càng dễ sinh ra Nhưng với Doanh Nghiệp, không ổn định được nguồn nhân lực thì không thể nói tới khả năng bình ổn sản xuất
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc lao động mất việc làm là do các doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm, không thu hồi được vốn để tái sản xuất, dẫn đến việc phải thu hẹp sản xuất và cắt giảm lao động Khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm ảnh hưởng đến tài chính cũng như doanh thu của doanh nghiệp, dẫn đến việc doanh nghiệp sa thải nhân viên để giảm chi phí Điều đó dẫn đến việc gia tăng tỉ lệ thất
nghiêp Nền kinh tế hiện nay chịu tác động rất nhiều từ sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, trong khi đó tay nghề cũng như trình độ về khoa học
kĩ thuật của người lao động Việt Nam còn thấp nên dẫn đến tình trạng không có việc làm của đa số người lao động
2.3 thực trạng thất nghiệp năm 2010
Trang 125 tháng đầu năm 2010: Theo báo cáo thống kê của Bộ Lao Thương Binh-Xã Hội, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, đến cuối năm 2009, cả nước đã có 133.262 lao động bị mất việc làm, chiếm 18% lao động làm việc trong các doanh nghiệp có báo cáo Ngoài ra trên cả nước còn có 40.348 lao động ở các làng nghề bị mất việc và khoảng 100.000 người khác phải giảm giờ làm, nghỉ luân phiên Trong năm
Đông-2010, nền kinh tế thế giới nói chung và nên kinh tế Việt Nam nói riêng đang trong giai đoạn phục hồi sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu Nhiều doanh nghiệp đã hoạt động trở lại và đang cần nguồn nhân công lớn nhưng đa số vẫn thiếu nhân lực trầm trọng
Sau thời kỳ khủng hoảng, thất nghiệp, thanh niên (lực lượng lao động chủ chốt) chưa tìm được việc làm nên tiếp tục học tại các khoá đào tạo nghề để hy vọng kiếm được một công việc tốt hơn, vì thế thời gian học nghề của họ bị kéo dài ra Họ sẽ là lực lượng làm tăng thêm số lượng lao động chưa có việc làm, trong khi không ít doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn do thiếu hụt lao động Hơn nữa, với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học và công nghệ theo chiều sâu, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, sự gia tăng hoạt động của các công
ty đa quốc gia đã khiến không ít lao động phổ thông mất việc làm, bổ sung cho đội quân thất nghiệp…
Bên cạnh lý do lạm phát, Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi tình trạng suy giảm tăng trưởng toàn cầu, nhất là vì kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư ngoại quốc và xuất khẩu ( đặc biệt là sang Hoa Kỳ và châu Âu ) Danh sách các doanh nghiệp phải giải thể, ngưng hoạt động, thu hẹp sản xuất ngày càng nhiều Hậu quả là nạn thất nghiệp sẽ tăng cao ở Việt Nam trong năm nay
Trang 13Lao động Việt Nam vẫn chưa có trình độ tay nghề cao: Đa số lao động chưa đáp ứng được yêu cầu mới, tính chuyên nghiệp chưa cao Việc kỹ năng không đáp ứng yêu cầu và sự thiếu phối hợp giữa hệ thốngđào tạo và giáo dục, các nhu cầu thị trường LĐ và quan niệm lạc hậu về vai trò và trách nhiệm giới Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề rất thấp, chỉ khoảng 26% Lao động của chúng ta đúng là dồi dào thật nhưng vẫn không tìm được việc làm, hoặc có việc làm nhưng không ổn định một phần do trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu Do đó, lao động vẫn trong tình trạng bán chuyên nghiệp, công việc chắp vá, không ổn định Mặt khác, do kinh tế đã phục hồi, các khu công nghiệp, các nhà máy mọc lên nhiều nên người lao động đã có nhiều cơ hội để lựa chọn Yêu cầu về việc làm cũng cao hơn: điều kiện, môi trường, lương, nhà ở… Còn trước đây, thì nhu cầu của lao động ít hơn, cứ có công việc là làm, kể cả lương thấp họ cũng chấp nhận.
tình trạng thất nghiệp 7 tháng cuối năm 2010: Việc suy giảm kinh
tê năm 2009 buộc 280 doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh phải sa thải 53.000 nhân viên và đưa 16.000 nhân viên khác phải làm việc bán thời gian.Mặc dù 80 phần trăm của những người này đã tìm được công
ăn việc làm trở lại, tỷ lệ thất nghiệp của thành phố vẫn còn ở 5,45% Theo các chuyên gia kinh tế thì năm 2010, tỉ lệ thất nghiệp chungcủa cả nước là 4.66% Người lao động làm việc trong các nhà máy xí nghiệp, các nhân viên thiếu về trình độ sẽ có nguy cơ thất nghiệp rất cao, nhất là những người lao động thiếu tay nghề và chuyên môn Bên cạnh đó, vì nền kinh tế Việt Nam đang trong thời gian phục hồi nên các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa có nhu cầu tuyển nhân công nhiều nên một phần lớn các sinh viên ra trường sẽ không có việc làm, điều này dẫn đến việc gia tăng tỉ lệ thất nghiệp