Đất nước ta hiện đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sẽ không có ý nghĩa gì nếu không đẩy mạnh và hoàn thiện các hình thức và
Trang 4Mục lục
Trang
Đặt vấn đề
Phần 1 - Tổng quan lý thuyết chung về dự báo phát triển kinh tế - xã hội
1.1 Một số vấn đề lý luận về dự báo phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1 Một số khái niệm: “Sự nhìn trước”, “Sự tiên đoán”, “Dự báo”
1.1.2 Qúa trình hình thành khoa học dự báo
1.1.3 Cơ sở phương pháp luận của dự báo phát triển kinh tế - xã hội
1.1.4 Phân loại các dự báo phát triển kinh tế - xã hội
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản và trình tự xây dựng dự báo
1.2 Các phương pháp chung dự báo phát triển kinh tế - xã hội
1.3 Vai trò của dự báo trong hoàn thiện kế hoạch hoá và quản lý
nền kinh tế quốc dân
Phần 2 - Nghiên cứu đối tượng và thực tiễn dự báo sử dụng đất ở nước ta
2.1 Đặc điểm của đối tượng dự báo sử dụng đất
2.1.1 Tài nguyên đất đai - đối tượng dự báo và vai trò của nó
2.1.2 Đặc điểm của đối tượng dự báo sử dụng tài nguyên đất đai cả nước
2.2 Thực tiễn công tác xây dựng tài liệu tiền kế hoạch (dự báo) sử
dụng tài nguyên đất đai ở nước ta
2.2.1 Dự báo sử dụng đất trong các tài liệu tiền kế hoạch mang tính
tổng thể 2.2.2 Dự báo sử dụng đất trong quy hoạch, kế hoạch hoá việc sử
dụng đất đai
2.3 Quan hệ giữa dự báo chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai với
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Phần 3 - Cơ sở khoa học và phương pháp luận dự báo sử dụng tài
nguyên đất đai
3.1 Cơ sở lý luận dự báo sử dụng tài nguyên đất đai
3.1.1 Các nguyên tắc cơ bản xây dựng dự báo sử dụng tài nguyên
đất đai 3.1.2 Các loại hình và nội dung dự báo sử dụng tài nguyên đất đai
3.1.3 Trình tự và thời hạn dự báo sử dụng tài nguyên đất đai
3.1.4 Nền dự báo
3.2 Phương pháp dự báo sử dụng tài nguyên đất đai
1 44 46791213
192323232534353839
42
42
42
45 48 5667
Trang 53.2.1 Phân loại các phương pháp dự báo sử dụng đất
3.2.2 Đánh giá các phương pháp dự báo
3.2.3 Kiểm định độ tin cậy của dự báo
3.3 Khả năng ứng dụng các phương pháp trong dự báo sử dụng
tài nguyên đất đai
3.3.1 Phương pháp đánh giá giám định
3.3.2 Phương pháp dự báo theo suy luận (lô gíc)
3.3.3 Phương pháp toán học của dự báo
3.3.4 Phương pháp dự báo theo định mức
3.3.5 Các phương pháp dự báo đặc thù
Phần 4 - Kết quả thử nghiệm dự báo sử dụng đất vùng Tây Nguyên
4.1 Phương pháp luận dự báo sử dụng đất của vùng
4.1.1 Xác định loại hình dự báo sử dụng đất
4.1.2 Xác định trình tự và nội dung dự báo sử dụng đất
4.1.3 Lựa chọn các phương pháp dự báo
4.2 Kết quả dự báo sử dụng đất vùng Tây Nguyên
4.2.1 Khái quát chung vùng Tây Nguyên
4.2.2 Tiềm năng đất đai của vùng
4.2.3 Định hướng phát triển và quan điểm sử dụng đất của vùng
4.2.4 Dự báo các chỉ tiêu sử dụng quỹ đất của vùng
4.2.5 Đánh giá kết quả dự báo và các giải pháp
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
67 68697171747585877991919293102102103104106115119
Trang 6Đặt vấn đề
Dù đang làm công việc hàng ngày, dù suy nghĩ hay mơ ước, con người
luôn quan tâm đến tương lai (nhân loại đang sống chính là để cho ngày mai)
Một điều rất tự nhiên là trong mọi thời đại, những trí tuệ xuất sắc nhất thường
cố gắng nhiều vì tương lai, đoán nhận, báo trước những gì sẽ xẩy ra Đất nước ta hiện đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sẽ không có ý nghĩa gì nếu không đẩy mạnh và hoàn thiện các hình thức và phương pháp quản lý, cũng như việc kế hoạch hoá và dự báo các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trong
đó có tài nguyên đất đai
Đất đai là vấn đề rất nhạy cảm, bức xúc hiện nay, tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội Trong Nghị quyết số 26 - NQ/TW của Hội nghị Trung
ương 7 khoá IX - Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khẳng định: “ đất đai là tài sản đặc biệt của quốc gia, là nguồn nội lực quan trọng và nguồn vốn to lớn của đất nước ” Quan điểm chỉ đạo cũng đặt ra: “Khai thác, sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất;
đầu tư mở rộng diện tích, nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và môi trường sinh thái theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước” Chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai luôn gắn liền với quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai - là tài liệu dự báo dài hạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và rất cần thiết, làm định hướng cho cho việc tổ chức sử dụng và quản lý quỹ đất đai trong một tương lai xa
ở nhiều nước trên thế giới để đáp ứng yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong các thời kỳ khác nhau đã xây dựng hệ thống thống nhất: chiến lược - quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất như là công cụ quan
trọng để tổ chức sử dụng và quản lý một cách toàn diện (cả về không gian và thời gian), hợp lý và có hiệu quả đất đai - nguồn tài nguyên hạn chế và không
tái tạo của mỗi quốc gia
Thực tiễn nước ta trong những năm qua cho thấy, ngay từ khi ban hành Luật đất đai 1993, công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai các cấp đã được triển khai trên phạm vi cả nước Trong quá trình thực hiện công tác này, đặc biệt là
quy hoạch sử dụng đất đai các cấp vĩ mô (cả nước, bao gồm cả các vùng và cấp tỉnh) còn gặp nhiều bất cập trong việc cân đối sử dụng quỹ đất theo định hướng lâu dài do thiếu các dự báo với tầm nhìn xa hơn (mang tính chiến lược) Nhu
cầu bức xúc là cần xây dựng dự báo chiến lược sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất
đai của cả nước và từng vùng dựa trên cơ sở lý luận và khoa học chắc chắn,
Trang 7nhằm đáp ứng kịp thời việc chỉnh lý định kỳ quy hoạch sử dụng đất đai các cấp trong giai đoạn mới, góp phần định hướng tổ chức sử dụng và quản lý Nhà nước
về đất đai ngày càng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả hơn
Hiện nay, trong hoạt động dự báo nói chung cũng như trong dự báo của một số ngành và lĩnh vực đã có nhiều phương pháp luận, tuy nhiên nếu chỉ vận dụng cách giải quyết dựa theo kinh nghiệm của các phương pháp luận đó vào việc dự báo sử dụng đất là không đủ, bởi vì hoàn cảnh của đối tượng nghiên cứu thuộc lĩnh vực này luôn thay đổi và biến động Thêm vào đó, việc tiên đoán, lập
dự báo sử dụng tài nguyên đất đai là một công việc khá phức tạp và hoàn toàn mới mẽ đối với nước ta Để có tầm nhìn đúng với mức độ chính xác cao của các
dự báo về tương lai sử dụng và quản lý quỹ đất quốc gia cũng như của các vùng, nhất thiết phải dựa trên cơ sở phương pháp luận và những căn cứ khoa học mà
từ trước đến nay chưa được đầu tư nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống ở nước ta
Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng dự báo chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai, thử nghiệm kết quả nghiên cứu ở vùng Tây Nguyên.” là một yêu cầu rất cấp thiết, nhằm bước đầu
hệ thống hoá những nội dung cơ bản của hệ thống dự báo chung, trên cơ sở đó nghiên cứu đề xuất các vấn đề lý luận và phương pháp dự báo sử dụng tài
nguyên đất đai nói riêng với mục tiêu cụ thể là:
- Xây dựng cơ sở phương pháp luận và những căn cứ khoa học lập các dự báo sử dụng tài nguyên đất đai
- Xác định khả năng ứng dụng trong thực tiễn xây dựng chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai đáp ứng yêu cầu của định hướng phát triển kinh tế xã - hội trong các thời kỳ khác nhau ở phạm vi cấp vùng và cả nước
Xuất phát từ mục tiêu đặt ra, nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung
vào các vấn đề chủ yếu sau:
- Hệ thống hoá phương pháp luận dự báo trên sơ sở nghiên cứu tổng quan những vấn đề cơ bản về dự báo phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội
- Nghiên cứu tài nguyên đất đai như đối tượng của dự báo trong lĩnh vực
sử dụng đất đai
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và phương pháp luận xây dựng dự báo chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai
- Nghiên cứu ý nghĩa thực tiễn và khả năng ứng dụng các phương pháp trong lĩnh vực dự báo sử dụng đất
- Thử nghiệm dự báo sử dụng tài nguyên đất đai vùng Tây Nguyên
Trang 8Các phương pháp chính được áp dụng trong quá trình nghiên cứu là:
- Phương pháp nghiên cứu mẫu
Đề tài đã hoàn thành với các sản phẩm sau:
- Báo cáo chuyên đề 1: “Cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng dự báo sử dụng tài nguyên đất đai” (64 trang)
- Báo cáo chuyên đề 2: “Phương pháp luận xây dựng dự báo sử dụng tài nguyên đất đai” (38 trang)
- Báo cáo chuyên đề 3: “Kết quả thử nghiệm dự báo sử dụng đất vùng Tây Nguyên” (64 trang và 13 phụ lục)
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng dự báo chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai, thử nghiệm kết quả nghiên cứu ở vùng Tây Nguyên”
Các kết quả nghiên cứu của đề tài được trình bày trong báo cáo tổng hợp gồm 121 trang, trong đó có 7 biểu số liệu, 49 công thức, 12 sơ đồ và đồ thị, 3 bản đồ thu nhỏ Kèm theo là danh mục tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu và 8 phụ lục Ngoài đặt vấn đề và kết luận, báo cáo kết quả được chia thành 4 phần:
Phần 1: Tổng quan lý thuyết chung về dự báo phát triển kinh tế - xã hội Phần 2: Nghiên cứu đối tượng và thực tiễn dự báo sử dụng đất ở nước ta Phần 3: Cơ sở khoa học và phương pháp luận dự báo sử dụng tài nguyên đất đai Phần 4: Kết quả thử nghiệm dự báo sử dụng đất vùng Tây Nguyên
Giá trị của đề tài chính là những căn cứ và cơ sở khoa học để lập các dự báo liên quan tới sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất đai trong quá trình xây dựng
dự báo chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai quốc gia và các vùng, làm định hướng thống nhất và có tính khả thi cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất các cấp phù hợp với viễn cảnh phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng quỹ đất
đai trong tương lai xa của đất nước
Trang 9Phần 1
tổng quan lý thuyết chung
Về dự báo phát triển kinh tế - x∙ hội
1.1 một số vấn đề lý luận về dự báo phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1 Một số khái niệm: “Sự nhìn trước”, “Sự tiên đoán”, “Dự báo”
Hoạt động của con người luôn thể hiện rất rõ sự vươn tới tương lai
Điều này được phản ánh trong ngôn ngữ, trong sự hình thành các cụm từ như
“nhìn trước” (hay “tiên kiến”), “tiên đoán” (hay “đoán trước”), “dự báo” và
“kế hoạch” Những khái niệm này về nội dung có khác nhau, nhưng nói
chung cùng nhằm diễn đạt sự hiểu biết của con người về tương lai của quá
trình nào đó trong thế giới hiện thực hoặc sự nhận thức tương lai về sự kiện
nào đó (và ngay cả khi sự kiện đó đã có mặt từ quá khứ) Trong phạm vi nội
dung nghiên cứu của đề tài chỉ xem xét những đặc điểm cần lưu ý khi giải
thích về một số khái niệm như: “sự nhìn trước”, “sự tiên đoán” và “dự báo”
Khái niệm “kế hoạch” sẽ được đề cập đến khi nghiên cứu mối quan hệ giữa
dự báo và kế hoạch
1 Sự nhìn trước (Sự tiên kiến)
“Sự nhìn trước” một cách khoa học - đó là một phần, một mặt, một giai
đoạn trong hoạt động nhận thức của chủ thể, mà kết quả của nó là sự thu nhận
hiểu biết về các sự kiện tương lai Sự nhìn trước được thể hiện như là khả năng
đã được hoàn thiện trong quá trình điều hoà của vật chất sống của não phản ánh
trước về hiện thực Như vậy, có thể coi “sự nhìn trước” là:
- Dựa trên tri thức về các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy
và là mục đích của nhận thức;
- Là hình thức hoạt động cấu trúc của não nhằm dựng lên bức tranh về
hiện tượng không quan sát được ở thực tại;
- Là kiến thức suy luận hay kiến thức xác suất phát triển một cách trực giác;
- Chứa mô hình thông tin về các sự kiện tương lai;
- Có thể thể hiện như là một cách nhận thức có khoa học
2 Sự tiên đoán (Sự đoán trước)
“Sự nhìn trước” định nghĩa theo cách trên sẽ là cùng loại với các khái
niệm “sự tiên đoán” và “dự báo” khi chúng ta hiểu sự đoán trước là sự nhìn
trước các sự kiện mà đặc trưng về lượng của chúng hoặc là không thể xác định
được (ở một mức độ phát triển hiện tại của nhận thức) hoặc là khó xác định
Trang 10thoả mãn những điều kiện sau đây:
- Tại thời điểm phát biểu mệnh đề không thể xác định một cách đơn trị
(một cách dứt khoát) tính đúng hoặc sai của nó;
- Chứa sự chỉ dẫn về khoảng không gian hoặc thời gian, đóng và mở mà ở trong khoảng đó sẽ xảy ra sự kiện được dự báo;
- Tại thời điểm phát biểu mệnh đề cần phải quy định những cách thức kiểm tra phương pháp dự báo, sự đánh giá chính xác xác suất xuất hiện sự kiện
được dự báo, sự kiểm tra việc thể hiện sự kiện được dự báo
Về định nghĩa có thể hiểu: Dự báo là hệ thống những nhận định (phán
đoán, hiểu biết) đủ luận cứ khoa học về tình trạng trong tương lai của một
sự vật, hiện tượng, sự kiện hoặc về cách thức và thời hạn đạt được tình trạng
đó Chúng mang đặc điểm xác suất (có thể xẩy ra), nhưng đủ độ tin cậy (ở mức tin nào đó)
Để hiểu đúng định nghĩa trên cần chú ý đến những điểm sau:
- Xây dựng dự báo dựa vào những nghiên cứu đặc thù như: phân tích quá
khứ, hiện tại và tương lai của sự vật, hiện tượng và sự kiện (như vậy cơ sở phương pháp luận khác hẳn so với những quan điểm khoa học giả hiệu về dự
đoán tương lai và tất cả những hiểu biết của tôn giáo)
- Mối tương giao của kết quả (nhận định về tương lai) với cách thức
và phương tiện cụ thể để đạt được những nhận định đó trên cơ sở lựa chọn
có lý trí, nghĩa là cần chọn một hoặc vài hướng (phương án, quyết định) có
khả năng
- Đặc điểm xác suất của nhận định và phán đoán về tương lai là do ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên làm sai lệch hoặc thay đổi sự phát triển của quá trình hình thành đối tượng dự báo
- Độ tin cậy được đặc trưng bởi hệ số xác suất thực hiện dự báo trong
khoảng tin cậy cho trước và phụ thuộc vào các yếu tố sau: thời hạn dự báo (đến thời điểm nào), mức phức tạp của đối tượng dự báo, tình trạng nghiên cứu của
đối tượng, mức hoàn thiện của phương pháp được sử dụng
Trang 111.1.2 Quá trình hình thành khoa học dự báo
Cho đến nay, trong khoa học dự báo vẫn còn nhiều vấn đề chưa hình thành trọn vẹn Đối tượng của nó là các phương pháp dự báo Còn phạm vi ứng dụng là các hiện tượng xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, Khi xem xét khoa học dự báo, trước hết cần lưu ý đến sự hình thành vấn
đề tiên đoán
Mô hình hệ thống của dự báo có thể diễn đạt như sau: thoạt tiên xuất hiện nhu cầu thực tiễn về tiên đoán và vấn đề lý thuyết về khả năng tiên đoán về sự phát triển của đối tượng cụ thể Vấn đề này được nêu ra trong phạm vi từng khoa học và được phát biểu dưới dạng thức của khoa học đó
Khi khoa học phát triển đến một giai đoạn nhất định, vấn đề tiên đoán trở thành bức thiết hàng ngày đối với mọi ngành khoa học Chính ý nghĩa đó
đòi hỏi phải hiểu cho được ý kiến cho rằng một trong những chức năng chính của khoa học là chức năng tiên đoán Vấn đề tiên đoán có ý nghĩa quan trọng
đối với nhân loại đến mức là nó đã làm nảy sinh thêm một khoa học mới - khoa học dự báo
Để có thể hiểu chính xác hơn quá trình hình thành khoa học dự báo cần lưu ý đến một số đặc điểm sau:
1 Trước hết phải khẳng định chủ nghĩa duy vật là hướng cơ bản của thời kỳ hiện đại Trong khi đó, chủ nghĩa duy tâm khi nhận thức về tương lai đã và đang phủ nhận khả năng và sự cần thiết phải tiên đoán Theo họ, tương lai chỉ là lĩnh vực của hy vọng chứ không phải là lĩnh vực nghiên cứu;
2 Chủ nghĩa duy vật trước Mác về cơ bản đã giải thích đúng các hiện tượng và quá trình xảy ra trong tự nhiên, phái không tưởng cũng đã tiếp cận đến
dự báo khoa học đối với sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, khi giải quyết các vấn đề có liên quan đến lịch sử loài người thì chủ nghĩa duy vật trước Mác đã sa vào chủ nghĩa duy tâm;
3 Chủ nghĩa duy vật biện chứng ngược hẳn lại với phái siêu hình cho phép thực hiện những phép ngoại suy mà về thực chất chúng liên quan với quá trình phát triển;
4 Nhận thức luận của Lênin và trường phái hiện đại về phản ánh hiện thực là cơ sở lý luận chung của khoa học dự báo;
5 Việc bổ sung vào những hệ nhân quả của sự phát minh các quá trình và các quy luật ngẫu nhiên điều khiển các hệ đó đã mở rộng khả năng dự báo các
hệ thống phức tạp;
Trang 126 Do tác động của sự phát triển nhanh chóng của khoa học, giá trị thực tiễn của chức năng tiên đoán của các lý thuyết khoa học đã bắt đầu được hiểu chặt chẽ hơn Ngày nay dự đoán nhất thiết phải được đưa vào nội dung của từng học thuyết;
7 Sự hoàn thiện các vấn đề của lý thuyết hệ thống phù hợp với sự phát triển của việc phân tích đối tượng dự báo;
8 Các đề tài điều khiển và liên lạc do điều khiển học đặt ra, hoà lẫn vào đề tài tiên đoán, bởi vì điều kiện cần thiết của quá trình điều khiển là dự báo liên tục;
9 Nguyên tắc phát triển nền kinh tế quốc dân có kế hoạch, các công trình khoa học và kỹ thuật liên quan chặt chẽ với dự báo Dự báo có cơ sở khoa học phải được tiến hành trước kế hoạch
Về nguyên tắc, khoa học dự báo cũng được xây dựng theo sơ đồ cơ bản của quá trình, nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, tức là từ cụ thể qua trừu tượng đến cụ thể ở mức
độ mới Trong giai đoạn đầu (từ cụ thể) cần phải hệ thống hoá và nghiên cứu
các cách xây dựng và cấu trúc của các phương pháp dự báo do các khoa học riêng lẻ đề xuất Các phương pháp và phương pháp luận cho dự báo sự phát triển của các đối tượng thuộc các khoa học cụ thể là tài liệu kinh nghiệm mà
sự phân tích và tổng hợp tài liệu đó là cơ sở cho việc hình thành các quy luật
ở giai đoạn thứ hai (tới trừu tượng) cần phải nêu lên, những giả thuyết và lý thuyết giải thích các quy luật xây dựng các phương pháp dự báo, các đặc thù tương lai của các đối tượng thuộc những môi trường khác nhau Những giả
thuyết và lý thuyết đó sẽ được kiểm tra (ở giai đoạn thứ ba) tại các đối tượng
thuộc lĩnh vực đang nghiên cứu
Tuy nhiên, trước mắt các hướng xây dựng khoa học dự báo bằng con
đường kinh nghiệm - quy nạp và con đường tiên đề - suy diễn có một nhiệm vụ rất lớn mà nếu không giải quyết thì sẽ chẳng thực hiện nổi con đường nào cả để xây dựng một hệ thống các khái niệm có thể cho phép mô tả và giải thích rõ ràng các sự kiện và các quan hệ giữa chúng Thật vậy, hệ thống hoá và phân loại tư liệu kinh nghiệm sẽ không có ý nghĩa nếu thiếu hẳn các khái niệm dự báo, kết quả xây dựng và phát biểu các tiên đề hoặc các nguyên tắc ban đầu của khoa học
dự báo cũng phụ thuộc vào việc xây dựng một hệ thống các khái niệm Do đó việc xây dựng hệ thống này là nhiệm vụ trước nhất của các nhà nghiên cứu
1.1.3 Cơ sở phương pháp luận của dự báo phát triển kinh tế - xã hội
Khoa học dự báo đang ở giai đoạn hình thành phương pháp nghiên cứu và
hệ thống các khái niệm Còn sự liên hệ với thực tiễn thì đã khá chặt chẽ bởi vì nhu cầu về dự báo đặc biệt to lớn
Trang 13Từ định nghĩa về khoa học dự báo cho thấy, đối tượng của nó bao gồm toàn bộ các vấn đề có liên quan đến việc hoàn thiện các biện pháp xây dựng phương pháp dự báo và các nguyên tắc lập các dự báo Nghiên cứu khoa học dự báo trước hết cần giải quyết được các vấn đề cơ bản dưới đây:
1 Phân loại các dự báo và xác định đối tượng cần dự báo;
2 Quan hệ giữa môi trường chứa đối tượng cần dự báo và các phương pháp dự báo đối tượng đó;
3 Các thông số cơ bản của một dự báo;
4 Thời gian hoàn thành dự báo;
5 Xác định các giai đoạn hoàn thiện cho một dự báo;
6 Phân loại và tổng kết các phương pháp dự báo hiện có;
7 Thiết lập các yêu cầu về phương pháp luận đối với việc dự báo về những hệ quả xã hội của cách mạng khoa học - kỹ thuật
Về cơ bản, cơ cấu của khoa học dự báo gồm ba bộ phận:
- Phương pháp dự báo;
- Quá trình hoàn thiện mỗi dự báo;
- Sự đánh giá các dự báo
Sự tìm hiểu các bộ phận trên sẽ dựa trên lý thuyết chung về các hệ thống
điều khiển học, các ngành toán học khác nhau, triết học, lôgic học, lý thuyết độ
đo và dựa trên nhiều sự kiện do các khoa học cụ thể đạt được trong quá trình dự báo các đối tượng của mình
Công tác dự báo là quá trình nghiên cứu mà kết quả thu nhận được những số liệu có thể về tình trạng trong tương lai của đối tượng hoặc hiện
tượng được dự báo Nói khác đi là quá trình (gồm các biện pháp hay hoạt
động) về xây dựng các dự báo dựa trên cơ sở khoa học Ngành khoa học, môn
học về những quy luật xây dựng các dự báo, học thuyết về phương pháp, nguyên tắc và phương tiện đoán trước một cách có khoa học được gọi là dự
báo học (khoa học dự báo)
Dự báo học có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp của nó Về nghĩa rộng dự báo học nghiên cứu những định luật và quy luật chung nhất về lý luận
và thực tiễn của công tác dự báo (ở đây nói về các học thuyết chung nhất của công tác dự báo) Về nghĩa hẹp - nghiên cứu những quy luật và phương pháp
xây dựng các dự báo trong từng lĩnh vực riêng như: cuộc sống, thiên nhiên và
hoạt động xã hội (ở đây nói về những học thuyết riêng với tính hai chiều, theo hướng dự báo học chung và theo hướng của ngành khoa học cụ thể)
Trang 14Ví dụ: Xây dựng học thuyết dự báo sử dụng tài nguyên đất một mặt dựa
trên những định luật và quy luật dự báo chung nhất (có nghĩa dựa trên dự báo học ở nghĩa rộng) Mặt khác nó xuất phát từ đặc điểm của đối tượng dự báo - là
đất, từ các phương pháp cụ thể và cách cải tạo việc sử dụng đất
Nhiệm vụ chính của dự báo học - là nghiên cứu những vấn đề về nhận thức và cách suy luận học thuyết dự báo, về các nguyên tắc khoa học phân loại
và xây dựng các dự báo về phương pháp luận và phương pháp phán đoán có
khoa học (theo nghĩa rộng) Về nghĩa hẹp - những nhiệm vụ trên liên quan đến
đặc điểm, đối tượng và phương pháp nghiên cứu của từng ngành khoa học Điều
đó có nghĩa, nhiệm vụ của công tác dự báo chính là xây dựng những dự báo đủ luận cứ khoa học về phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từng ngành, từng
xí nghiệp và cả cuộc sống bao gồm các vấn đề xã hội, văn hoá, tinh thần, Cũng như mọi ngành khoa học cơ sở phương pháp luận của dự báo học là
hệ thống đặc tính nhìn nhận thế giới quan, những phương pháp và hình thức khoa học chung nhất của việc nghiên cứu, những phương pháp đặc trưng cho nhiệm vụ cần giải quyết
Xuất phát từ đặc điểm về chất của đối tượng dự báo và những định luật, quy luật tiến hoá của nó có thể sử dụng mọi luận điểm của học thuyết Mác Lênin Như đã biết triết học nghiên cứu những định luật chung nhất của thiên nhiên và xã hội Vì vậy những luận điểm cơ bản của nó như: từng vật chất và nhận thức thế giới, mối quan hệ và tác động lẫn nhau của các hiện tượng, phương pháp lịch sử, các phạm trù duy vật biện chứng và thuyết nhận thức sẽ là cơ sở để giải quyết các vấn đề dự báo học chung và riêng Ngoài ra dự báo học riêng còn dựa trên những luận điểm khác của học thuyết Mác - Lênin
Ví dụ: Đối với dự báo về kinh tế những luận điểm sau có ý nghĩa rất quan trọng: học thuyết tái sản xuất của Mác, những quy luật kinh tế khách quan của chủ nghĩa xã hội, học thuyết về kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân
Về dự báo xã hội: Những định luật và quy luật về dân số, sự phát triển cá nhân, các mối quan hệ xã hội,
Trong học thuyết dự báo sử dụng tài nguyên thiên nhiên (trong đó có tài nguyên đất) cơ sở phương pháp luận là những nguyên tắc tác động qua lại giữa
xã hội và thiên nhiên, luận điểm về vai trò của đất trong cuộc sống con người và tiến hoá của xã hội, những quy luật khách quan phát triển nông nghiệp mà ở đó
đất giữ vai trò là tư liệu sản xuất chính của sản xuất,
1.1.4 Phân loại các dự báo phát triển kinh tế - xã hội
Dự báo có thể được phân biệt theo nhiều dấu hiệu khác nhau Những dấu hiệu đó có thể là:
Trang 15- Lĩnh vực hoặc đối tượng dự báo
- Mục đích và nhiệm vụ dự báo
- Thời hạn dự báo
- Cơ sở khoa học và đặc điểm của dự báo
- Phương pháp được sử dụng
1 Căn cứ theo lĩnh vực hoặc đối tượng của dự báo
Chia 3 nhóm: Dự báo tự nhiên học, khoa học kỹ thuật và xã hội học Bản thân chúng được chia thành các dạng khác nhau Có 8 dạng dự báo chính sau
đây: Khoa học - kỹ thuật; Dân số; Tài nguyên thiên nhiên và việc sử dụng chúng; Khí tượng thuỷ văn; Kinh tế; Xã hội; Chính sách đối ngoại; Sách lược quân sự
2 Theo tiêu chuẩn mục đích và nhiệm vụ dự báo
Căn cứ vào câu hỏi xây dựng dự báo để làm gì? Có thể chia ra 2 dạng dự báo: Dự báo tìm kiếm - xác định những tình trạng có khả năng của đối tượng dự báo trong tương lai; Dự báo định mức - xác định cách thức và thời hạn đạt được
những tình trạng có khả năng của sự vật hoặc hiện tượng (mục đích của dự báo)
3 Theo thời hạn dự báo
Thời hạn dự báo phụ thuộc vào đặc điểm, mục đích và đối tượng dự báo Trong các dự báo kinh tế - xã hội, căn cứ vào đặc điểm và mức độ phát triển của
hiện tượng dự báo có thể chia ra như sau: Dự báo định kỳ (< 1 năm) - tính cho thời
gian trong suốt quá trình không có sự thay đổi căn bản của đối tượng dự báo; Dự
báo ngắn hạn (< 5 năm) - chỉ có sự thay đổi về lượng; Dự báo trung hạn (5 - 10 năm) - thay đổi cả về lượng và chất, chủ yếu là về chất; Dự báo dài hạn (15 đến 20
- 25 năm) và tương lai lâu dài (>20 - 25 năm) - thay đổi căn bản về chất đặc trưng
cho bối cảnh chung theo các khuynh hướng phát triển của sự vật hoặc hiện tượng
4 Theo cơ sở khoa học xây dựng dự báo
Có thể chia ra: Dự báo khảo cứu (hình thức) - được xây dựng trên cơ sở
sử dụng các nguồn thông tin về các yếu tố (thu thập số liệu và thông tin về đối tượng dự báo, xử lý và nghiên cứu chúng ); Dự báo trực giác - biểu thị nhận
định của cá nhân hoặc tập thể các nhà chuyên môn về tương lai của đối tượng
dựa vào kinh nghiệm và trực giác (linh cảm) nghề nghiệp
5 Theo phương pháp xây dựng dự báo
Trong quá trình phát triển lý luận và thực hiện công tác dự báo sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, được chia thành các phương pháp cơ bản sau:
Đánh giá giám định; Mô hình suy luận; Mô hình toán chương trình mục tiêu;
Định mức; Phối hợp
Trang 16Từ những vấn đề trên ta có thể xây dựng hệ phân loại các dự báo theo sơ
dự báo
Thời hạn dự báo
Cơ sở
KH dự báo
Đặc
điểm dự báo
Phương pháp
- Tài nguyên nước và sử dụng
- Biến động dân số
- > 20 loại dự báo nhỏ khác
- Mô hình suy luận
- Ngoại suy toán học
- Mô hình toán
- Định mức
- Chương trình mục tiêu
dự báo sử dụng tài nguyên thiên nhiên, Như vậy để tiến hành dự báo theo một hướng chính cần tiến hành dự báo theo các hướng liên quan:
- Hướng dự báo chính (chủ đạo) tạo ra diện dự báo - chính là đối tượng dự báo
- Các hướng dự báo phụ tạo thành nền dự báo, tập hợp các điều kiện bên
ngoài (đối với đối tượng dự báo) cần thiết để giải quyết nhiệm vụ dự báo
Khi xây dựng dự báo sử dụng đất, hướng phụ là: dự báo dân số, định hướng phát triển kinh tế và xã hội Chúng ảnh hưởng đến các thông số của đối
tượng dự báo (cơ cấu diện tích đất nông nghiệp, đất khu dân cư, đất xây dựng công nghiệp, các công trình công cộng, cơ sở hạ tầng ), đến loại biện pháp bảo
vệ và cải tạo đất,
Trang 171.1.5 Các nguyên tắc cơ bản và trình tự xây dựng dự báo
Những nguyên tắc cơ bản xây dựng dự báo thuộc lý thuyết chung của dự
báo học gồm:
1 Tính hệ thống của công tác dự báo, tính liên kết và phối hợp của các
dự báo (giữa đối tượng dự báo và nền dự báo)
2 Tính thống nhất của các dự báo theo định mức và tìm kiếm có bản chất
và thời hạn dự báo khác nhau
3 Tính phương án của công tác dự báo - xây dựng các phương án dự báo dựa vào phương án của nền dự báo
4 Tính liên tục của công tác dự báo, chỉnh lý các dự báo tuỳ theo mức độ xuất hiện những thông tin mới về đối tượng dự báo
5 Tính kiểm định của dự báo (chứng minh dự báo): xác định độ tin, độ
chính xác và độ luận cứ của các dự báo
6 Những sinh lợi (hiệu quả) của dự báo: tăng hiệu quả kinh tế do sử
dụng dự báo so với chi phí xây dựng dự báo
Những nguyên tắc trên chủ yếu thể hiện về mặt kỹ thuật xây dựng dự báo
và đánh giá kết quả của công tác dự báo Chưa đề cập đến các yêu cầu kinh tế - xã hội Những vấn đề này sẽ là đối tượng nghiên cứu của dự báo học riêng biệt
Ví dụ: Khi xây dựng các dự báo kinh tế cần tuân thủ nguyên tắc thống kê cả điều kiện khách quan và các yêu cầu, chỉ thị theo ngành dọc Khi dự báo sử
dụng đất nguyên tắc quan trọng dựa trên sở hữu nhà nước (toàn dân) về đất đai,
tính hợp pháp của việc sử dụng đất và các yêu cầu có tính khoa học như: không ngừng cải tạo và bảo vệ đất
Trình tự xây dựng dự báo khác nhau tuỳ thuộc vào các lĩnh vực dự báo,
phương pháp được sử dụng, mục đích và nhiệm vụ đề ra Có thể chia thành các bước chính sau:
1 Thu thập và nghiên cứu những thông tin cần thiết để mô tả đối tượng dự báo
2 Thu thập các số liệu của nền dự báo (dự báo phụ)
3 Xây dựng các mô hình tìm kiếm và theo định mức, nghiên cứu và thu nhận các thông số về dự báo
4 Kiểm định các dự báo
Nội dung các công việc trong các bước thực hiện, được xác định trên cơ
sở nhiệm vụ dự báo Trong đó xác định rõ mục đích, nhiệm vụ và trình tự xây dựng dự báo Tuỳ thuộc vào ý nghĩa của dự báo và phạm vi của đối tượng dự báo sẽ lựa chọn cách thức phù hợp tổ chức xây dựng các dự báo
Trang 181.2 các phương pháp chung dự báo phát triển kinh tế - xã hội
Khoa học hiện đại đã đề xuất hàng loạt biện pháp có giá trị cho công tác
dự báo khoa học - kỹ thuật Có thể chia toàn bộ những phương pháp mà các ngành khoa học khác nhau vận dụng để xây dựng dự báo phát triển đối tượng của
mình làm 3 nhóm chính: Các phương pháp khoa học chung (hoặc là các phương tiện lôgic); Các phương pháp liên khoa học; Các phương pháp khoa học riêng
- Các phương pháp khoa học chung được căn cứ trên cơ sở vận dụng theo một trình tự xác định, các thao tác tư duy cho đối tượng dự báo Kết quả là thành lập một hệ thống những kết luận đề cập đến mối quan hệ giữa đối tượng
dự báo và các điều kiện mà trong đó đối tượng đang tồn tại Các phương pháp
dự báo khoa học chung bao gồm tất cả những phương pháp do nghiên cứu lôgic học đề xuất, bao gồm: Quan sát và thí nghiệm; Phân tích và tổng hợp; Dự kiến
và giải quyết; Quy nạp và suy diễn; Tương tự hoá; Phân loại và hệ thống hoá;
Phương pháp căn nguyên (tức là phương pháp nghiên cứu sự xuất hiện, sự hình thành đối tượng hay còn gọi là “Phương pháp gen” ) Những phương pháp
nêu trên đều được mô tả khá đầy đủ trong các tài liệu về lôgic học
- Các phương pháp liên khoa học là loại hấp dẫn hơn cả đối với các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau vì các phương pháp
đó được sử dụng để dự báo một khối lượng lớn các hiện tượng - từ những phát minh khoa học đến những chỉ tiêu kinh tế khác nhau Các phương pháp và hình thức nghiên cứu được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực khoa học tạo cơ sở phương pháp luận chung gồm: phương pháp hệ thống, hình thức hoá trên cơ sở sử dụng các phương pháp toán học, thuyết điều khiển học, mô hình suy luận,
- Phương pháp đặc thù (phương pháp khoa học riêng) của dự báo được
chia ra làm 3 nhóm: trưng cầu ý kiến của các nhà giám định, ngoại suy và mô hình hoá Các phương pháp chính là: đánh giá giám định, mô hình suy luận,
toán học (ngoại suy, mô hình hoá, lý thuyết xác suất và thống kê), định mức
Ngoài ra còn sử dụng nhiều phương pháp khác có ý nghĩa riêng do từng loại
dự báo học đảm nhận nghiên cứu Ví dụ: Trong dự sử dụng tài nguyên đất phương pháp định mức có ý nghĩa quan trọng nhờ nó sẽ xác định được nhu cầu
đất cho từng ngành và từng xí nghiệp ở giai đọan dự báo, vì vậy việc xây dựng các định mức có cơ sở khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với loại dự báo này
Các phương pháp thường được áp dụng trong dự báo chung bao gồm:
1 Các phương pháp dựa trên những đánh giá chuyên gia
*) Phương pháp “Tấn công n∙o” được phổ biến vào những năm 50 như
là một hình thức biểu hiện có hệ thống những khả năng sáng tạo Mục đích của
Trang 19phương pháp - phát hiện những tư tưởng mới trên cơ sở trực giác của nhà khoa học trong quá trình “tấn công não”
“Tấn công não” trực diện có thể do từng người hoặc các nhóm tiến hành Thực chất của phương pháp là căn cứ vào giả thiết cho rằng trong một số lớn các tư tưởng ít ra cũng phải có một vài tư tưởng có giá trị Người ta thường “tấn công não” theo những quy tắc cơ bản sau:
- Phát biểu đề tài dưới dạng những thuật ngữ cơ bản và chỉ có một tiêu
điểm (tức là quy về một mối);
- Không tuyên bố bất kỳ một tư tưởng nào là sai lầm và không dừng cuộc tấn công lại;
- ủng hộ bất kỳ một tư tưởng nào, ngay cả những tư tưởng chỉ có thể có
được trong tương lai xa;
- Thường xuyên động viên những người tham gia để tạo ra các quan hệ tranh luận tự do
*) Phương pháp nhóm xung kích yêu cầu tiến hành “tấn công não” để
làm rõ sự nhất trí trong một vấn đề nào đó thuộc một nhóm 6 người
* Phương pháp “sáng tạo thao tác” đề nghị chỉ riêng người chủ trì thiết
kế được biết chính xác môi trường của vấn đề và các biện pháp có thể có nhằm giải quyết vấn đề đó Mục đích tấn công trong trường hợp này tìm lời giải chắc chắn nhất
*) Phương pháp delphi Có thể dùng một số phương pháp để dựng nên bức
tranh có căn cứ khoa học về tương lai của thế giới Bản chất của một trong những phương pháp đó là căn cứ vào việc xử lý thống kê ý kiến của các nhà chuyên môn
về viễn cảnh của lĩnh vực chuyên ngành và các lĩnh vực có liên quan
Mục đích của “phương pháp Delphi” - tìm hiểu ý kiến của các nhà chuyên môn về vấn đề nào đó trong điều kiện không tổ chức những cuộc tranh luận trực diện giữa họ với nhau, nhưng cho phép mọi người có thể cân nhắc lại ý kiến của mình sau mỗi lần tham khảo câu hỏi và câu trả lời của tập thể Đặc điểm nổi bật của phương pháp Delphi là sự vận dụng rộng rãi những đánh giá về lượng của các
dự báo Điểm hạn chế cơ bản của việc lấy ý kiến chuyên gia là do có sự hoàn toàn coi thường các câu hỏi vì sự phát triển của xã hội và các quan hệ xã hội
2 Phương pháp nội suy và ngoại suy
Phép nội suy trong toán học được định nghĩa rất rõ ràng: Nếu cho hàm f(x) và biết được các giá trị yj = f(xj) của nó, j = 0,1, n, tại các điểm x0, x1,
xn, thì việc xác định giá trị của hàm số tại các điểm x nằm giữa các điểm xj
được gọi là nội suy
Trang 20Trong quá trình nội suy, điều kiện cơ bản đối với hàm đã cho là:
- Hàm đó phải liên tục và có dạng giải tích
- Đối với một số loại hàm cụ thể hoặc đạo hàm của chúng phải chỉ rõ những bất đẳng thức xác định khả năng áp dụng phép nội suy được đối với hàm đã cho;
- Hàm cần phải có một số đạo hàm không đồng biến nhanh quá
Có thể dùng thuật toán về hình thức giống phép nội suy vào việc tiên
đoán những tham số của một đối tượng thuộc bất kỳ khoa học nào Thí dụ, tiên
đoán của D.I.Menđêlêc về các nguyên tố hoá học mới có thể phát biểu như là sự xác định các giá trị của đối tượng tiên đoán tại một số điểm nằm trong đoạn
x0, xn theo những giá trị cho trước của các tham số ở tại các điểm x0< x < xn
Ngoại suy trong toán học được hiểu như sau: Nếu biết giá trị của hàm tại các điểm x0<x1, <xn trong khoảng ở {x0, xn} thì thủ thuật xác định giá trị của hàm tại điểm x ngoài khoảng {x0, xn} được coi là ngoại suy Phép ngoại suy luôn cho những giá trị gần đúng của hàm f(x) Các giá trị này có một sai số nào
đấy thường được tính theo những công thức riêng cho từng loại ngoại suy
Khá phổ biến là có thể dùng các công thức nội suy cho cả ngoại suy Trong các khoa học mà đối tượng của chúng không được xác định đến mức độ
đủ chính xác để có thể vận dụng được khái niệm hàm thì thuật ngữ ngoại suy
được dùng để biểu diễn thuật toán lôgic chuyển các kết luận nhận được ở trong
khoảng quan sát (trong một tập hợp con nào đấy) sang các hiện tượng nằm ngoài khoảng quan sát (sang tập hợp con khác hoặc toàn bộ tập hợp)
Trong ngoại suy có thể phân ra bốn nhóm đường cong biểu thị các khuynh hướng khác nhau:
- Nhóm thứ nhất: sự tăng tuyến tính của một thông số nào đó cùng với sự
tắt dần ở cuối giai đoạn đang xét
- Nhóm thứ hai: chia thành hai nhóm nhỏ: độ tăng cấp số nhân thuần tuý
và các hàm mũ có sự bão hoà Độ tăng cấp số nhân thuần tuý quan sát thấy ở sự phát triển của rất nhiều thông số, thuộc các hệ thông dụng, đồ thị biểu diễn các
xu hướng đó là những hàm mũ thuần tuý
Nhóm thứ hai gồm các hàm mũ có sự bão hoà - những đường cong logictic
hoặc những đường cong S - ảnh Các đường cong đó có thể đối xứng (các mô hình Lênxơ và Hatman) hoặc không đối xứng (mô hình Hompetx) mô hình
Hompetx mô tả nhiều hiện tượng kinh tế và được biểu diễn bằng công thức sau:
t
-ke
P = Le-be (1.1)
Trong đó: P- Thông số đang xét
Trang 21L- Giới hạn của thông số
b, k - Các hằng số
t - Thời gian
- Nhóm thứ ba: Gồm những đường cong đặc trưng cho độ tăng hàm mũ
kép có kèm bão hoà đoạn cuối
- Nhóm thứ tư: Gồm những đường cong mà lúc đầu tăng chậm về sau
tăng theo hàm mũ rất nhanh và đoạn cuối là bão hoà
Độ tin cậy và độ chính xác của các dự báo, của các khuyng hướng tiến bộ khoa học - kỹ thuật nhận được bằng phương pháp ngoại suy còn có thể tăng thêm nữa nếu như vận dụng phương pháp đó cùng với phương pháp nào đấy
thành một tổ hợp các phương pháp (phương pháp chuyên gia, )
Nhiều khi, sự vận dụng tuỳ tiện phương pháp ngoại suy thường dẫn đến những nghịch lý và sai lầm Vì vậy, cần phải hoàn thiện những giới hạn và các
điều kiện rõ ràng khi áp dụng phương pháp ngoại suy như là một phương pháp
dự báo Sự hoàn thiện này có thể đi theo con đường phân tích hàng loạt thí dụ vận dụng phép ngoại suy để dự báo trong thời gian trước đây và phát hiện những nguyên tắc chung về phương pháp luận cho việc áp dụng phép ngoại suy trong các tình huống khác nhau
3 Phương pháp mô hình hoá
Cơ sở của phương pháp này là khả năng xác định sự tương quan giữa hiểu biết về các đối tượng tư duy và chính các đối tượng đó Những hiểu biết của con người về đối tượng đã được vật chất hoá ở dạng các mô tả, thể hiện, dùng sơ
đồ, chính là sự phản ánh chính xác hoặc gần đúng đối tượng đó Hình thức vật
chất hoá sự hiểu biết (về một đối tượng nào đó) chính là mô hình của chính đối
tượng đó Phương pháp khảo sát trong đó không nghiên cứu chính các đối tượng của nhận thức mà chỉ nghiên cứu các mô hình của chúng và sau đó các kết quả lại được chuyển từ mô hình sang đối tượng được gọi là mô hình hoá Dựa vào
đặc điểm của các mô hình có thể phân biệt một số kiểu mô hình hoá như sau:
- Mô hình hoá vật thể: dựng lại mô hình những đặc trưng cơ bản của đối
tượng Các đặc trưng này bao gồm đặc trưng vật lý, đặc trưng hình học, đặc trưng chức năng và đặc trưng động thái
- Mô hình hoá vật lý: nghiên cứu trên mô hình các quá trình vật lý xẩy ra
trong đối tượng Trong trường hợp này áp dụng rộng rãi lý thuyết đồng dạng và
lý thuyết độ đo
- Mô hình toán - vật thể: mô tả các quá trình vật lý xẩy ra trong đối tượng dưới
dạng hệ các công trình vi phân và giải các hệ phương trình đó trên máy tính điện tử
Trang 22- Mô hình hoá ký hiệu (bằng ký hiệu toán học hoặc logic học): đó là sự mô tả đối tượng và các quá trình xảy ra trong đối tượng bằng những nhóm chữ cái (ký hiệu) thuộc bảng chữ cái nào đó với các phép biến đổi áp dụng trên các nhóm
chữ đó và giải thích các kết quả biến đổi trong lĩnh vực xác định của đối tượng
- Mô hình hoá thông tin: nếu như thay cho bảng chữ cái bằng một trong
những ngôn ngữ máy để làm ký hiệu mô hình hoá và các biến đổi do máy tính
điện tử thực hiện thì chúng ta sẽ nhận được mô hình thông tin
Tất cả các kiểu mô hình hoá nói trên đều có thể coi là phương pháp mô hình hoá Nhiệm vụ được nêu ở đây là: Hãy xác định xem trong những điều kiện nào thì mô hình có được chức năng dự báo và phải có những hạn chế và nhượng bộ nào để giải thích kết luận về tính chất của các phần tử thuộc mô hình
và về tương quan giữa chúng như là tiên đoán về những tính chất và các tương quan giữa các phần tử của đối tượng
4 Các phương pháp thuộc lý thuyết xác suất và thống kê
Các phương pháp mô hình hoá thống kê về cơ bản dựa trên sự tồn tại mối quan hệ phụ thuộc qua lại giữa các đối tượng của thế giới hiện thực Khái niệm tương quan có giá trị thực tiễn rất lớn trong sự nghiên cứu các quá trình và các hiện tượng không liên hệ với nhau bằng các mối quan hệ nhân - quả Thường có thể hiểu tương quan là những thay đổi tương ứng của một đối tượng xảy ra khi có
sự thay đổi của đối tượng khác có liện hệ với đối tượng thứ nhất Hoặc thường có thể thấy tương quan giữa hai đại lượng không phải là một cái gì khác mà chính là
sự phản ánh tác động của đại lượng thứ ba lên hai đại lượng ban đầu
Nếu có liên hệ tương quan giữa hai sự kiện và muốn căn cứ vào giá trị đã cho của một sự kiện để nói về sự kiện kia thì thường dùng các phương trình hồi quy Hồi quy đơn giản được biểu diễn bởi phương trình y = bx + a, trong đó a
y = β1x1+ β2x2 + β3x3 + α (1.3)
Trong đó β và α là những hằng số (xác định bằng phương pháp chọn lọc)
Khi đánh giá độ tin cậy của các dự báo lập trên cơ sở tương quan thống
kê cần đảm bảo 2 yêu cầu:
Trang 23- Kiểm tra tư liệu thống kê thu được về sự phong phú theo hệ số đại diện cho trước;
- Đặt cơ sở cho khả năng áp dụng phương pháp xác suất được chọn vào hiện tượng cần nghiên cứu
Trong nhiều tài liệu thường hay gặp những ý kiến về tính chất vô định của toán học thống kê Khó mà đồng ý với những tác giả cho rằng các phương pháp thống kê là vạn năng Có thể ủng hộ ý kiến cho rằng: “ Cần có hàng loạt giả thiết để làm cơ sở xuất phát cho bất kỳ tiên đoán hoặc dự báo nào Nếu những giả thiết đó đúng thì chúng ta sẽ có được những dự báo chính xác hoặc
đủ chính xác Nếu những giả thiết ban đầu mà sai thì dự báo sẽ không chính xác
dù cho những số liệu thu được để dự báo có chính xác đến đâu đi chăng nữa Thống kê học giúp chúng ta tiên đoán, nhưng bản thân thống kê học không thể
đảm bảo được tính đúng đắn của tiên đoán này Nhờ thống kê có thể đạt được những kết quả tốt trong công tác dự báo nhưng về căn bản, tất cả đều phụ thuộc vào những giả thiết ban đầu”
Một trong những nhiệm vụ của khoa học dự báo là tiếp tục nghiên cứu
mở rộng khả năng áp dụng các tư tưởng, các định lý của lý thuyết xác suất và thống kê toán học làm phương pháp dự báo
5 Phương pháp tương tự hoá
Dự báo dự theo tương tự hoá đã được sử dụng từ lâu trong các lĩnh vực
đời sống xã hội Nhưng sự hoàn thiện một cách có hệ thống các phương pháp dự báo trên cơ sở tương tự hoá chỉ mới được tiến hành cách đây không lâu
Phương pháp dự báo phát triển kỹ thuật dựa trên tương tự với tiến hoá của thế giới động vật do nhà bác học nổi tiếng Lenx hoàn thiện dựa vào kết quả nghiên cứu các công trình của nhà sinh vật học R Pirl Năm 1924 - 1925 R.Pirl
đã phát hiện ra những quy luật thú vị của độ tăng các tế bào chuột bạch
Theo dõi sự tương tự giữa độ tăng của các thông số sinh vật học và độ tăng của thông tin khoa học Lenx đã đề nghị một công thức xác định thông tin mới:
L
I = (1.4)
1- ae-bt
Trong đó:
I - Lượng thông tin có tại thời điểm t;
L - Giới hạn trên của thông tin;
t - Thời gian;
a - Hằng số không có bậc;
b - Hằng số (bậc - thời gian)
Trang 24Đồ thị của công thức trên chính là đường cong S - ảnh Công thức này giải thích đúng những hiện tượng trong khoa học như độ tăng số lượng các nhà bác học, độ tăng khối lượng xuất bản phẩm
Xây dựng các dự báo khoa học kỹ thuật dựa trên tương tự hoá như Lenx
đề xuất là một điều rất hấp dẫn Nhưng những dự báo nhận được trong trường hợp này không thể coi là đáng tin cậy được nếu như chúng không được kiểm tra bằng những phương pháp khác nào đấy
1.3 vai trò của dự báo trong kế hoạch hoá và quản lý nền kinh
tế quốc dân
Trong quản lý nền kinh tế quốc dân bộ phận trung tâm là kế hoạch hoá ởmức độ khoa học cao nhất là xây dựng kế hoạch cho 5 năm và xác định các hướng chính về phát triển kinh tế - xã hội cho 10 năm, đồng thời tăng cường công tác xây dựng các dự báo cho 15 - 20 năm hoặc lâu hơn Công tác dự báo lại là bộ phận cấu thành quan trọng của công tác kế hoạch hoá
Để tăng thời hạn kế hoạch cần thiết xây dựng các tài liệu tiền kế hoạch -
đó là các dự báo Chúng giúp cho cơ quan xây dựng kế hoạch có lượng thông tin cần thiết về các hướng có thể và hậu quả phát triển, về các biện pháp quan trọng và phương tiện đạt được nhiệm vụ đặt ra, về nhu cầu vật chất, lao động, kinh phí, từ đó đưa ra khả năng cách giải quyết có hiệu quả nhất, chọn các thông số đưa vào trong kế hoạch, thống nhất các chỉ tiêu phải thực hiện
Dự báo là giai đọan cần thiết của quá trình xây dựng kế hoạch, là bộ phận cấu thành của kế hoạch hoá Dự báo và lập kế hoạch là 2 giai đọan liên kết nhau của một quá trình quản lý Dự báo giải quyết những vẫn đề cơ bản sau:
- Xác định xu thế phát triển của đối tượng
- Chỉ ra những yếu tố cụ thể quyết định đến những xu thế đó, cho biết những hướng nghiên cứu trong tương lai
- Xác định quy luật, đặc điểm, khả năng phát triển của đối tượng theo dự báo và biện pháp tác động
Thời hạn, độ lớn của những đặc trưng bằng số và các tham số khác trong
dự báo mang tính xác suất và nhất thiết phải xét đến khả năng điều chỉnh Khả năng này sẽ có nếu như quá trình hoàn thiện các dự báo là liên tục
Đặc thù của các dự báo còn thể hiện ở chỗ hiệu quả của chúng chỉ có thể đạt được trong điều kiện có mặt của một số phương án dự báo về cùng một
sự kiện Dự báo nhiều phương án có khả năng bao quát toàn thể mọi sự thay
đổi có thể có đối với các điều kiện, đối với những tình huống mới v.v Do
đó, dựa vào trình tự xuất hiện những biến đổi nói trên thường chuyển từ một
Trang 25phương án này sang phương án khác nhưng giữ nguyên khả năng điều khiển tối ưu đối với quá trình
Công tác dự báo là một khâu của công tác kế hoạch hoá và được tiến hành trước xây dựng kế hoạch Các dự báo tạo khả năng hoàn thiện các kế hoạch nền kinh tế quốc dân, cải tạo toàn bộ cơ chế quản lý cũng như soạn thảo
sách lược đúng về chính trị và kinh tế cho giai đoạn lâu dài (trên 10 - 15 năm)
Đôi khi chúng giúp cho việc xác định hướng hợp lý về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt khi nguồn dự trữ của các loại tài nguyên có hạn và khả năng khôi phục lại chậm
Công thức thông dụng “quản lý (điều khiển) - có nghĩa thấy trước” đã
trở thành cần thiết và quan trọng Điều này liên quan đến kế hoạch hoá nói chung cũng như với bộ phận cấu thành quan trọng của nó - là dự báo Những nguyên nhân khách quan đảm bảo xây dựng những tài liệu tiền kế hoạch cho thời gian lâu dài là:
- Tăng không ngừng nhịp độ sử dụng tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng nhu cầu xã hội trong điều kiện giữ gìn và cải tạo tốt môi trường thiên nhiên
- Vai trò các chương trình tổng hợp dài hạn về khoa học - kỹ thuật, kinh tế, xã hội, tăng lên, thực hiện chúng thường vượt quá giới hạn một kế hoạch 5 năm
- Nhiệm vụ lớn và phức tạp được giải quyết trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội đòi hỏi chú ý đến không chỉ những hậu quả trước mắt và phải cho cả lâu dài
- Để xây dựng sự kế tục trong chính sách cần các phương hướng chiến lược cho một vài kế hoạch 5 năm sắp tới
- Mối liên quan về phương diện hợp tác với các nước
Khác với dự báo, kế hoạch có những khoảng thời gian và các điều kiện xác định đơn trị đối với việc thực hiện một sự kiện nào đó Căn cứ vào định nghĩa kế hoạch như là một hệ thống được quy định trước về các biện pháp, được xét trước đến trình tự và thời hạn hoàn thành các công việc, tính không đơn trị của một chỉ tiêu nào đó dù chỉ rất nhỏ sẽ dẫn đến sự không ổn định của toàn thể
“toà nhà” kế hoạch
Từ đó cho thấy, để hạn chế sự rủi ro đến mức thấp nhất cần phải gạt đi những dự báo mang tính không đơn trị mà chỉ chấp nhận một phương án dự báo phù hợp nhất cho việc lập kế hoạch Như vậy, dễ dàng nhận thấy vai trò và quan hệ giữa dự báo và kế hoạch Trong đó, dự báo - là công việc xây dựng các mô hình sự kiện nhiều phương án, công việc này tiến hành trước kế hoạch,
Trang 26còn kế hoạch được lập ra để thực hiện dự báo đó Thí dụ, theo ý kiến của các nhà kinh tế thì lập kế hoạch tương lai cho các nghiên cứu khoa học bao gồm bốn giai đoạn cơ bản:
- Phân tích các dự báo và chọn phương án hợp lý hơn cả;
- Hoàn thiện viễn cảnh lớn cho một thời hạn xác định;
- Xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện các công trình nghiên cứu;
- Xây dựng kế hoạch ứng dụng những kết quả nghiên cứu trong thực tiễn Tuy nhiên, giữa dự báo và kế hoạch có những khác biệt rất căn bản:
1 Kế hoạch sau khi thông qua trở thành chỉ thị mang tính pháp lệnh nhất thiết phải thực hiện Dự báo mang đặc điểm tương đối, tính phương án và không
có hiệu lực pháp lý đối với chủ thể và tính bắt buộc về mặt thực hiện
2 Kế hoạch là chỉ thị nên chỉ có một, còn dự báo cho phép có vài phương
án giải quyết, được quyền lựa chọn thông qua việc luận chứng
3 Kế hoạch thể hiện quan điểm của xã hội còn dự báo - ý kiến (quan
điểm) của những người xây dựng dự báo (tập thể hoặc từng chuyên gia)
4 Kế hoạch trong suốt quá trình thực hiện rất hạn chế việc điều chỉnh, nhất là về mặt hạ các chỉ tiêu kế hoạch, còn dự báo khi cần thiết sẽ xem xét lại
và chỉnh lý
*
* *
Từ những kết quả nghiên cứu tổng quan có thể đưa ra một số nhận định
và đánh giá sau đây:
- Mặc dù chưa được hình thành trọn vẹn, nhưng các vấn đề về cơ sở khoa học và phương pháp luận của dự báo chung như: hệ thống các quan niệm, phân loại, các nguyên tắc về phương diện kỹ thuật, nội dung, trình tự và phương pháp xây dựng dự báo cũng như mối quan hệ giữa dự báo với việc kế hoạch hoá và quản lý nền kinh tế quốc dân là khá hoàn thiện và đầy đủ
- Việc ứng dụng lý thuyết chung để dự báo phát triển trong một số ngành thuộc các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và kinh tế - xã hội là khá thành công và
đã thu được được nhiều bài học kinh nghiệm
- Trong lĩnh vực sử dụng đất đai, đối tượng nghiên cứu (dự báo) có những khác biệt rất căn bản (sẽ được làm rõ ở các phần sau), lại luôn thay đổi và biến
động, mặt khác có những yêu cầu khá đặc biệt gắn liền với đặc điểm điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường Vì vậy, nếu chỉ vận dụng các nguyên lý
Trang 27chung của dự báo cũng như kinh nghiệm dự báo của các ngành để tiên đoán và lập dự báo sử dụng đất là không đủ
Trước hết phải có nhận thức đúng trong việc triển khai nghiên cứu cơ sở khoa học và phương pháp luận về dự báo sử dụng tài nguyên đất đai, đây là một trong những vấn đề khá phức tạp và mới mẽ đối với nước ta, các kết quả nghiên cứu lại chưa nhiều, không đầy đủ và thiếu hệ thống Cách tiếp cận được thực
hiện như sau: Nghiên cứu chắt lọc những vấn đề lý luận cơ bản (các nguyên tắc, phân loại, trình tự, thời hạn, nội dung, các yếu tố nền của dự báo ) phù hợp
với đặc điểm của dự báo chuyên ngành về sử dụng tài nguyên đất đai trên cơ sở
hiểu rõ đối tượng dự báo (quỹ đất đai) và những kinh nghiệm thực tiễn trong sử
dụng đất; Lựa chọn các phương pháp thích hợp và khảo nghiệm khả năng ứng dụng có hiệu quả để dự báo trong lĩnh vực sử dụng tài nguyên đất đai
Trang 28Phần 2
nghiên cứu đối tượng và thực tiễn
dự báo sử dụng đất ở nước ta
2.1 Đặc điểm của đối tượng dự báo sử dụng đất
2.1.1 Tài nguyên đất đai - đối tượng dự báo và vai trò của nó
Xây dựng các dự báo về sử dụng tài nguyên đất đai phải dựa trên những
luận điểm khoa học của dự báo học chung cũng như trên cơ sở lý luận và phương
pháp của dự báo học riêng Đặc thù của những dự báo này xuất phát từ đặc điểm
của đối tượng dự báo, đặc tính về lượng và chất của tài nguyên đất đai, ý nghĩa của
nó trong tái sản xuất mở rộng, cũng như đặc điểm về chức năng của đất đai
Về ý nghĩa kinh tế tài nguyên đất đai bao gồm toàn bộ diện tích đất sử
dụng trong nông - lâm nghiệp và cho các mục đích khác Trong thực tiễn đôi
khi còn được gọi là quỹ đất đai, hai khái niệm này thực chất không khác nhau
Đất nước ta trải dài từ 8033’ đến 23023’ vĩ độ Bắc và từ 102010’ đến
109026’ kinh độ Đông Tổng diện tích tự nhiên khoảng 33 triệu ha, trong đó đất
nông nghiệp trên 9 triệu ha, chiếm hơn 28%; diện tích tự nhiên bình quân đầu
người 0,4314 ha, trong đó đất nông nghiệp 0,1224 ha, đất canh tác 0,0803 ha
Như vậy, diện tích bình quân đất tự nhiên, đặc biệt đất nông nghiệp theo đầu
người ở nước ta rất thấp
Tài nguyên đất đai được hình thành dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và
hoạt động tích cực của con người, của xã hội Sử dụng chúng (cụ thể trong việc kế
hoạch hoá và dự báo) chịu ảnh hưởng lớn bởi những đặc điểm sau: Giới hạn về
mặt số lượng; tính bất động (không di chuyển); không đồng nhất về địa hình, tính
chất vật lý, thành phần hoá học, điều kiện độ ẩm, độ phì tự nhiên và độ phì kinh tế
(nhân tạo) xuất hiện dưới tác động lên đất của con người Tất cả những đặc điểm
trên ảnh hưởng khác nhau đến việc xuất hiện đặc tính khách quan rất có giá trị là
khả năng tăng tính chất sản xuất của đất do sử dụng đất hợp lý và thận trọng
Tài nguyên đất đai có ý nghĩa rất lớn và toàn diện trong cuộc sống của loài
người và phát triển xã hội Khoa học đã gọi đất là “mẹ” của của cải, còn lao động
là điều kiện cần của đất hay là “cha” của của cải: Theo lời Mác: “Công nhân
không thể tạo ra được cái gì khi thiếu thiên nhiên, thiếu thế giới cảm nhận bên
ngoài Đây chỉ là phương tiện mà công nhân thực hiện lao động của mình, triển
khai hoạt động, nhờ đó lao động sẽ sản xuất ra sản phẩm” Giá trị của tài nguyên
thiên nhiên trong đó có đất được khẳng định trong toàn bộ quá trình phát triển lực
lượng sản xuất và sản xuất của cải vật chất Trên cơ sở phát triển công cụ lao
Trang 29động sẽ tăng cường tác động của con người đến thiên nhiên, xảy ra việc trao đổi chất giữa con người và thiên nhiên ở quy mô ngày càng lớn, vai trò kinh tế của tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất tăng lên trong sự phát triển sản xuất vật chất
và tạo những điều kiện cần thiết cho hoạt động cuộc sống của con người
Xét về mặt chức năng, tài nguyên đất đai đóng vai trò rất khác nhau Đối với tất cả các ngành kinh tế quốc dân đất là điều kiện chung nhất của lao động, là cơ sở về không gian của hoạt động sản xuất Trong nông nghiệp và lâm nghiệp
đất, nói chính xác hơn - là lớp đất phủ bề mặt của nó được coi như tư liệu sản xuất chính, đất là đối tượng đồng thời là phương tiện của lao động Ngoài ra đất còn là kho tàng thiên nhiên về nguồn nguyên liệu khoáng và các tài nguyên khác làm cơ sở phát triển các ngành trong công nghiệp khai thác và chế biến
Những điều trên cho thấy tài nguyên đất đai là một bộ phận quan trọng của tiềm năng sản xuất, là sức sản xuất thiên nhiên của xã hội
Đất còn là thành phần của môi trường thiên nhiên, của sinh quyển và có mối quan hệ mật thiết với các tài nguyên thiên nhiên khác như: nước, thực vật, điều này cho thấy đất không những chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội rất quan trọng, bởi vì tình trạng của đất cũng như của các tài nguyên thiên nhiên khác ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của con người đến sự phát triển thể chất và tinh thần Chính vì vậy, thực hiện nhiệm vụ tăng cường độ
sử dụng tài nguyên đất đâi và thiên nhiên nói chung luôn phải phối hợp với các biện pháp bảo vệ thiên nhiên trong đó có bảo vệ đất, khôi phục và cải tạo độ phì của đất, tăng những tính chất và chất lượng đất theo hướng có lợi cho con người Như vậy, đối với đất phải rất thận trọng, cần sử dụng đất có lý trí trên quan
điểm không chỉ cho hôm nay mà phải cho cả tương lai của các thế hệ mai sau Khi xây dựng các dự báo ngắn hạn và dài hạn cần chú ý đến mọi chức năng của
đất, tính chất khách quan của nó, xác định cách tốt nhất sử dụng chất lượng hữu ích hiện có của đất, đồng thời tiếp tục phát triển và cải tạo các tính chất đó
ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lývì vậy xuất hiện sự cần thiết khách quan về kế hoạch hoá sử dụng đất ngang tầm với các tài nguyên vật chất khác của sản xuất xã hội Điều kiện nước ta cho phép đủ khả năng tổ chức sử dụng đất có kế hoạch và có mục đích cụ thể theo nhu cầu của toàn xã hội cũng như của từng người sử dụng đất
Những nhiệm vụ cụ thể trong lĩnh vực kế hoạch hoá và dự báo là xuất phát điểm trong quá trình xây dựng các kế hoạch và dự báo về sử dụng tài nguyên đất đai Những nhiệm vụ đó là: Đẩy nhanh tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chuyển sang những nhân tố mới phát triển sản xuất của xã hội, thận trọng
đối với giá trị vật chất và tài nguyên thiên nhiên, xây dựng và thực hiện những chương trình tổng hợp nền kinh tế nhà nước,
Trang 30Sử dụng thiên nhiên cần phải giải quyết nhiều vấn đề phức tạp và lâu dài liên quan đến khoảng không lớn và chứa đựng ý nghĩa toàn dân tộc Vì vậy, cần
có mức độ cao về kế hoạch hoá các biện pháp bảo vệ thiên nhiên không chỉ căn
cứ vào nhiệm vụ và kết quả trước mắt mà cả những hậu quả trong lâu dài Xác
định bằng phương pháp dự báo trên cơ sở nghiên cứu các phương án có khả năng và lựa chọn từ đó giải pháp tối ưu
2.1.2 Đặc điểm của đối tượng dự báo sử dụng tài nguyên đất đai cả nước
1 Thực trạng sử dụng quỹ đất đai
Trên cơ sở thống kê, phân tích các số liệu kết quả tổng kiểm kê đất đai năm 2000, những vấn đề chủ yếu về quy mô diện tích, cơ cấu, đặc điểm phân
bố và tình hình sử dụng quỹ đất của cả nước được thể hiện dưới đây:
Tính đến ngày 01/01/2000, tổng diện tích đất tự nhiên (DTĐTN) của cả
nước là 32.924.061 ha Hiện trạng phân bổ quỹ đất cả nước theo 7 vùng kinh tế
- tự nhiên như sau:
Bảng 2.1: Hiện trạng phân bổ quỹ đất cả nước theo các vùng năm 2000
Quỹ đất tự nhiên Đất đang sử dụng Đất chưa sử dụng Các vùng Diện tích
(ha)
Tỷ trọng (%)
Diện tích
(ha)
% so với DTĐTN
% so với DTĐ đang
SD cả nước
Diện tích
(ha)
% so với DTĐTN
% so với DTĐ chưa
3.971.232
100.00
31,33 3,83 15,64 13,44 16,55
7,15 12,06
22.896.796
5.545.602 1.108.216 3.231.471 2.796.290 4.397.239 2.185.127 3.632.851
69,54
53,77 87,86 62,75 63,18 80,72 92,81 91,48
100,00
24,22 4,84 14,11 12,21 19,21 9,54 15,87
10.027.265
4.768.274 153.188 1.918.598 1.629.284 1.050.211 169.329 338.381
30,46
46,23 12,14 37,25 36,82 19,28 7,19 8,52
100,00
47,55 1,53 19,13 16,25 10,47 1,70 3,37
Như vậy, riêng vùng MN&TDBB đã chiếm gần 1/3 tổng DTĐTN cả
nước Vùng có tỷ trọng DTĐTN thấp nhất là ĐBBB (3,83%), tiếp đến là ĐNB (7,15%) Các vùng còn lại có tỷ trọng dao động trong khoảng từ 12 - 17%
Theo mục đích sử dụng các loại đất chính của cả nước về mặt diện tích và cơ cấu được thể hiện như sau:
Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Đất nông nghiệp: 9.345.346 28,38
Đất lâm nghiệp có rừng: 11.575.429 35,16
Đất chuyên dùng: 1.532.843 4,66
Trang 31§å thÞ 2.2 - HiÖn tr¹ng ph©n bæ DT§ ®ang sö dông c¶ n−íc n¨m 2000
a) Ph©n theo DT§ ®ang SD cña c¸c vïng
b) C¬ cÊu DT§ ®ang SD cña c¸c vïng so víi DT§ ®ang SD c¶ n−íc
Trang 321918598 (37,25%)
1629284 (36,82%)
1050211 ( 19,28% )
169329 (7,19%)
338381 (8,52%)
Toàn quốc MN&TDBB
ĐBBB BTB DHNTB TN
ĐNB
ĐBSCL
Đất CSD, sông
suối 30.46%
Đất ở 1.35%
Đất chuyên dùng 66%
Đồ thị 2.4 - Tỷ lệ các loại đất trong tổng DTĐTN cả nước năm 2000
a) Cơ cấu các loại đất theo chỉ tiêu thống kê
b) Tỷ lệ đất đang sử dụng trong tổng quỹ đất tự nhiên của các vùng
Trang 33Tính đến ngày 01/01/2000, diện tích đất đang sử dụng vào các mục đích: nông nghiệp, lâm nghiệp, chuyên dùng, đất ở là 22.896.796 ha, chiếm 69,54%
tổng DTĐTN cả nước (nếu tính cả diện tích sông suối sử dụng tổng hợp thì tổng diện tích đất thực sự đã sử dụng là 23.641.343 ha, chiếm 71,81%) Đất chưa sử
dụng và núi đá còn 9.282.718 ha, chiếm 28,19% tổng quỹ đất
Gần 45% diện tích đất đang sử dụng của cả nước tập trung ở 2 vùng
MN&TDBB 5.545.602 ha (24,22%) và TN 4.397.239 ha (19,21%), khoảng 30%
ở vùng BTB 3.231.471 ha (14,11%) và vùng ĐBSCL 3.632.851 ha (15,87%) ở
ĐBBB diện tích đất đang sử dụng ít nhất, chỉ chiếm 4,84% (1.108.216 ha), tiếp
đến là vùng ĐNB 9,54% (2.185.127 ha) và vùng DHNTB 12,21% (2.796.290 ha) so với tổng diện tích đất đang sử dụng của toàn quốc
So với tổng diện tích tự nhiên của từng vùng thì tỷ lệ diện tích đất đang
sử dụng vào các mục đích được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp như sau: ĐNB
- 92,81%; ĐBSCL - 91,48%; ĐBBB - 87,86%; TN - 80,72%; DHNTB -63,18%; BTB - 62,75%; MN&TDBB - 53,77%
Nếu tổng hợp diện tích của 6 loại đất chính theo như quy định trong Luật
đất đai năm 1993 (trong đó: đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng, chuyên dùng, chưa sử dụng nằm ngoài đô thị và khu dân cư nông thôn) cho thấy tổng quỹ đất
tự nhiên năm 2000 cả nước có cơ cấu như sau:
Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Đất CSD và sông suối, núi đá: 9.742.401 29,59
*) Đánh giá chung hiện trạng sử dụng quỹ đất đai cả nước:
Từ những phân tích đánh giá, có thể đưa ra nhận xét chung về hiện trạng
sử dụng đất đai của nước ta như sau:
- Tính đến ngày 01/01/2000, trong tổng quỹ đất cả nước (32.924.061 ha),
diện tích đất đã được khai thác đưa vào sử dụng theo các mục đích khác nhau là 22.896.796 ha, chỉ chiếm 69,54% Nếu tính cả diện tích sông suối sử dụng tổng hợp thì tổng diện tích đất thực sự đã sử dụng là 23.641.343 ha, chiếm 71,81% tổng quỹ đất Đất trống đồi trọc, đất chưa sử dụng vào sản xuất nông - lâm
nghiệp còn nhiều (9.282.718 ha - bao gồm các loại đất chưa sử dụng và núi đá không có rừng cây), vì vậy tiềm năng đất đai để khai thác đưa vào sử dụng còn
khá lớn - gần 1/3 tổng DTĐTN của cả nước
Trang 34- Dễ dàng nhận thấy, quỹ đất đai của nước ta vốn đã hạn chế lại chưa
được khai thác hết tiềm năng Thêm vào đó, theo nhiệm vụ đặt ra về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá đất nước, cơ cấu các loại đất (đặc biệt là
đất chuyên dùng, đất ở) cũng còn nhiều bất hợp lý
- Với đặc điểm của nước ta có trên 75% đất đồi núi thì tỷ lệ phủ xanh
rừng hiện tại của cả nước vẫn còn thấp (35,16%) so với yêu cầu đảm bảo an
toàn về phòng hộ, bảo vệ thiên nhiên, môi trường và cân bằng sinh thái
2 Biến động quỹ đất đai trong sử dụng
Biến động đất đai được quan sát khách quan theo giá trị thực tăng hoặc thực giảm của từng loại đất Từ các số liệu được xử lý, bóc tách và quy về cùng
chỉ tiêu các loại đất (theo chuẩn chỉ tiêu loại đất) đã tiến hành tổng hợp, phân tích các trị số bình quân tuyệt đối (ha) và tương đối (%) về diện tích biến động
đất đai Kết quả nghiên cứu, phân tích cụ thể các chỉ tiêu có thể đưa ra những
đánh giá về xu hướng chung biến động theo từng loại đất, đây sẽ là một trong những căn cứ để dự báo sử dụng tài nguyên đất
Bảng 2.2: biến động đất đai cả nước từ 1980 - 2000
Biến động tăng (+), giảm (-), ha Loại đất
1980-1985 1985-1990 1990-1995 1995-2000 1980-2000 Tổng diện tích
69.143
51.029
- 246.465 205.341
- 37.931 97.169
- 225.404
444.031 1.399.826 298.842 179.094 -2.547.197
46.194
1.279.610 780.409 261.811 74.796
- 2.350.432
- 244.839
1.803.482
- 291.371 814.043 369.642
- 2.940.635
Đồ thị 2.5 -Biến động đất đai cả nước từ 1980 - 2000
6993.241 6942.212
Trang 353 Biến động một số chỉ tiêu sử dụng tài nguyên đất đai
Bảng 2.3: biến động một số chỉ tiêu sử dụng tài nguyên đất đai
Bình quân DT đất tự nhiên
Bình quân đất nông nghiệp
Bình quân đất cây hàng năm
Bình quân đất lâm nghiệp
Bình quân đất chuyên dùng
1,39 5.517 1.160 942 1.610 128 76 159
1,52 5.078 1.073 819 1.441 149 64 141
1,66 4.506 1.024
771 1.479
174
59
150
1,71 4.314 1.224
803 1.513
201
40
64
1,52 5.091 1.148 885 1.641 157 63 131
Đánh giá chung đặc điểm biến động một số chỉ tiêu liên quan tới đất đai:
Xu hướng biến động đất đai của cả nước và các vùng từ 1980 - 2000 đã
ảnh hưởng ít nhiều đến diễn biến của một số chỉ tiêu liên quan tới đất đai như:
hệ số sử dụng đất, bình quân diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp có rừng, đất chuyên dùng trên một người dân cũng như diện tích các loại
đất ở trên một người dân đô thị hay nông thôn
So với năm 1980 hệ số sử dụng đất bình quân của cả nước năm 2000 tăng
mức xấp xỉ và dưới 1/2 mức của cả nước là: ĐNB 2317m2, ĐBSCL 2462 m2 và
đặc biệt thấp là vùng ĐBBB 852 m2 Riêng vùng TN đạt mức cao nhất 13423
m2, gấp hơn 3 lần so với bình quân cả nước
Diện tích bình quân đất nông nghiệp của cả nước trên một người dân
cũng giảm mạnh qua các thời kỳ từ 1259 m2 năm 1980 xuống còn 1024 m2 năm
1995, sau đó tăng và giữ ở mức 1.224 m2/người vào năm 2000 Trừ vùng TN,
ĐNB, ĐBSCL các vùng còn lại đạt mức thấp hơn nhiều so với bình quân của cả
nước và vùng ĐBBB vẫn là vùng có mức thấp nhất 499 m2/người Bình quân
diện tích đất cây hàng năm của cả nước trên người dân cũng giảm liên tục từ
1088 m2 năm 1980 xuống còn 803 m2 năm 2000
Từ 1980 đến 2000 mức giảm bình quân diện tích đất lâm nghiệp có rừng của
cả nước trên người dân (30,0%) cao gần gấp 10 lần so với mức giảm của đất nông
nghiệp (2,8%) Năm 2000 chỉ tiêu này của cả nước đạt con số 1513 m2/người Tuy
Trang 36nhiên, chỉ có vùng TN đạt mức cao nhất 7375 m2/người, còn ở các vùng ĐBBB và
ĐBSCL là không đáng kể với diện tích tương ứng: 60 và 209 m2/người
Diễn biến chỉ tiêu bình quân diện tích đất chuyên dùng và đất ở trên đầu người qua các năm và giữa các vùng khá phức tạp Đến năm 2000 bình quân trong cả nước đất chuyên dùng đạt 201 m2/người, đất ở đô thị là 40 m2/người dân đô thị, còn đất ở nông thôn 64 m2/người dân nông thôn Cả 3 chỉ tiêu này
của vùng ĐBBB đều đạt mức thấp nhất so với các vùng trong cả nước (tương ứng là: 136, 26 và 62 m 2 /người)
Tóm lại, trong nhiều năm qua, việc phân bố đất đai và dân cư được điều tiết vẫn còn chưa thật hợp lý nên hiệu quả sử dụng đất chưa cao, hệ số sử dụng
đất nhiều vùng còn thấp Mặt khác, dân số ngày càng đông (tăng với tỷ lệ khoảng 2,3%), dẫn đến bình quân đất đai theo đầu người thấp và đang có xu thế
ngày càng giảm, đặc biệt đối với đất nông nghiệp
4 Tiềm năng đất chưa sử dụng
Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá hiện còn 10.027,26 ngàn ha (số liệu năm 2000) Trên 80% tổng diện tích ĐCSD cả nước (chủ yếu đất đồi núi chưa sử dụng) tập trung ở 20 tỉnh, gồm có 8/16 tỉnh MN&TDBB, 6/6 tỉnh BTB,
3/8 tỉnh DHNTB và 3/4 tỉnh TN
Phân bổ quỹ đất chưa sử dụng xếp từ cao xuống thấp theo vùng:
Vùng DT đất CSD, ha % so với DT đất
CSD cả nước
% so với DTTN vùng Cả nước
100,00
49,65 19,49 16,71 10,59 1,51 1,04 1,02
28,19
44,68 35,13 35,06 18,04 3,55 7,62 4,01
Đất bằng chưa sử dụng có 589.374 ha, chiếm 6,33% ĐCSD và 1,79%
tổng DTĐTN toàn quốc, phân bổ ở các vùng như sau:
- DHNTB 180.654 ha (30,65%)
- BTB 115.095 ha (19,53%)
- ĐBSCL 101.768 ha (17,27%)
Trang 37- TN 63.146 ha (10,82%)
- MN&TDBB 56.409 ha (9,57%)
- ĐNB 47.548 ha (8,07%)
- ĐBBB 24.754 ha (4,20%)
Đất đồi núi chưa sử dụng có 7.699.383, chiếm 82,94% ĐCSD và 23,39%
tổng DTĐTN toàn quốc, phân bổ chủ yếu ở 4 vùng:
Đất chưa sử dụng bao gồm 836.674 khoảnh, trong đó 769.489 khoảnh
(92% tổng số khoảnh) có diện tích mỗi khoảnh dưới 20 ha; 67.185 khoảnh (8% tổng số khoảnh) có diện tích mỗi khoảnh lớn hơn 20 ha chiếm 76% diện tích
đất chưa sử dụng
5 Định hướng sử dụng đất lâu dài trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (tầm nhìn đến năm 2020)
Triển vọng sử dụng quỹ đất đai cả nước được phác thảo dựa vào các căn cứ
sau: Cân bằng sinh thái và môi trường; Đã hoàn thành công nghiệp hoá (khoảng năm 2020); Đảm bảo an toàn lương thực (với mức trên 300 kg thóc/ng/năm); Dân
số khoảng 97 triệu người; Tỷ lệ dân số đô thị đạt khoảng 45 - 50%
Khi đó lãnh thổ nước ta với tổng diện tích đất tự nhiên 32,9 triệu ha được
sử dụng theo hướng:
- Đất nông nghiệp: 10,0 triệu ha 30,4%
- Đất lâm nghiệp: 18 triệu ha 54,7%
- Đất chuyên dùng(*): 2,7 – 3,0 triệu ha 8,2%
- Đất đô thị(**): 0,4 triệu ha 1,2%
- Đất khu dân cư nông thôn*: 0,6 triệu ha 1,8%
- Đất chưa sử dụng: 1,4 triệu ha 4,3% (Chủ yếu là sông suối, núi đá trọc) (*) Bao gồm cả đất chuyện dùng trong đô thị và khu dân cư nông thôn
Trang 38(* Đất đô thị và đất khu dân cư nông thôn chỉ tính đất thổ cư và đất xây dựng đô thị, không tính đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp nằm trong ranh giới
đất đô thị và khu dân cư nông thôn)
Sử dụng quỹ đất là một quá trình động để tạo hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội; một phần quỹ đất nông nghiệp được chuyển sang sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội và kinh tế; một phần đất chưa sử dụng được đưa vào sử dụng để bổ sung cho đất nông nghiệp hoặc trực tiếp sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp; cơ cấu sử dụng đất trong từng loại
đất nông nghiệp và phi nông nghiệp cũng chuyển đổi theo nhu cầu của thị trường Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất có thể dự báo được những yếu tố mang tính mục tiêu lâu dài mà chúng ta phải đạt được trong toàn
bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Các dự báo dài hạn về sử dụng quỹ đất đai ở nước ta như sau:
a Khả năng chuyển đất chưa sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp:
Đến năm 2000 còn 10 triệu ha đất chưa sử dụng, trong đó đất chưa sử dụng có thể đưa vào sử dụng cho mục đích nông lâm nghiệp là 8,66 triệu ha, trong đó: đất trồng lúa nước là 98 nghìn ha; đất trồng cây hàng năm khác là 252 nghìn ha; đất trồng cây lâu năm là 562 nghìn ha; đất trồng cỏ là 144 nghìn ha;
đất nuôi trồng thuỷ sản là 91 nghìn ha; đất phát triển lâm nghiệp là 6443 nghìn
ha Như vậy, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có thể chủ
động ưu tiên đất nông nghiệp có vị trí hợp lý để phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, trong đó cần chú trọng bảo vệ đất trồng lúa nước
có năng suất cao, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng
Khi chuyển đất chưa sử dụng sang sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp, cần chú ý đến thực trạng hiện nay là trong tổng số 8,66 triệu ha đất chưa sử dụng có:
- 2,69 triệu ha Nhà nước đã giao cho chủ cụ thể nhưng chưa sử dụng;
- 0,57 triệu ha tự bao chiếm chưa sử dụng;
- 2,29 triệu ha đã được sử dụng nhưng bỏ hoang (chủ yếu là đất nương rẫy luân canh của đồng bào các dân tộc thiểu số)
Tổng diện tích 3 loại trên là 5,55 triệu ha
Khoảng 50% diện tích đất chưa sử dụng của cả nước tập trung tại các tỉnh Miền núi Trung du Bắc bộ thuộc địa bàn các huyện dân cư thưa thớt,
đất đai xấu, cơ sở hạ tầng kém phát triển Diện tích còn lại tập trung ở 3 vùng Bắc Trung bộ (19,5%), Duyên hải Nam Trung bộ (16,7%) và Tây Nguyên (10,6%)
Trang 39b Đảm bảo diện tích lãnh thổ phủ rừng để bảo vệ môi trường:
Để đảm bảo diện tích đất có phủ rừng theo tiêu chuẩn quốc tế và khả năng thực hiện ở nước ta, khoảng 18 triệu ha đất nông nghiệp được phủ rừng nhằm tạo một môi trường trong lành và hệ sinh thái bền vững Đất có rừng phòng hộ và đất có rừng đặc dụng được quy hoạch và bảo vệ nghiêm ngặt trong từng giai đoạn, đất rừng sản xuất và đất trồng cây lâu năm được quy hoạch định hướng và tạo điều kiện để nông dân dễ dàng chuyển đổi cơ cấu cây trồng
c Bảo vệ đất nông nghiệp có năng suất cao, đặc biệt đất chuyên canh lúa:
Nước ta có thể đảm bảo diện tích 10 triệu ha đất nông nghiệp chuyên
canh bao gồm: đất lúa nước duy trì 3,5 - 4,0 triệu ha (khả năng tối đa có thể đạt 4,3 triệu ha), đất trồng cây lâu năm là 3,0 triệu ha; đất trồng cây hàng năm khác
là 2,7 triệu ha Diện tích đất nông nghiệp phải được quy hoạch, chỉnh trang
đồng ruộng nhằm bảo vệ đất chuyên canh lúa có năng suất cao, đất vùng nguyên liệu công nghiệp
d Đảm bảo quỹ đất sử dụng cho mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội:
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi một quỹ đất
đáng kể để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước Tổng quỹ đất này ước tính khoảng
3 triệu ha để thoả mãn các nhu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ, giao thông, văn hoá, y tế, thể dục - thể thao, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ Quy hoạch sử dụng quỹ đất này phải được tính toán chặt chẽ để chủ
động kiểm soát quá trình chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang
đất phi nông nghiệp
đ Đảm bảo quỹ đất phát triển khu dân cư cho tổng số dân với mức sống
có chất lượng cao:
Theo dự báo phát triển dân số, cần để quỹ đất là 1 triệu ha để chỉnh trang các khu dân cư hiện có và phát triển các khu dân cư mới đáp ứng nhu cầu nhà ở, dịch vụ công cộng cho toàn dân với mức sống có chất lượng cao Quy hoạch sử dụng đất phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch đô thị và quy hoạch khu dân cư nông thôn để kiểm soát hoàn toàn quá trình đô thị hoá tự phát
2.2 Thực tiễn công tác xây dựng tài liệu tiền kế hoạch (dự báo)
sử dụng tài nguyên đất đai ở nước ta
Các tài liệu tiền kế hoạch đều mang tính dự báo, có thể coi đây là các sản phẩm của công tác dự báo cho một thời hạn nhất định Trong thực tiễn ở nước
ta, các tài liệu tiền kế hoạch thuộc lĩnh vực sử dụng đất đai qua các thời kỳ
Trang 40được đề cập đến dưới nhiều hình thức khác nhau, chủ yếu ở dạng lồng ghép trong các tài liệu như:
- Các tài liệu tiền kế hoạch mang tính tổng thể (chiến lược, định hướng, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các vùng kinh tế; phân vùng lực lượng sản xuất; chiến lược, định hướng, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực; định hướng, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các cấp huyện, tỉnh )
- Các tài liệu chuyên môn đặc thù (quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, các ngành dưới các dạng và cho thời hạn khác nhau như: sơ đồ, đồ án, cho
10 - 15 năm, 5 năm và hàng năm ).
Những đặc điểm cơ bản của thực tiễn xây dựng các tài liệu tiền kế hoạch
về sử dụng đất đai trong những năm qua ở nước ta được làm rõ dưới đây
2.2.1 Dự báo sử dụng đất trong các tài liệu tiền kế hoạch mang tính tổng thể
1 Vấn đề sử dụng đất trong phân vùng quy hoạch các ngành
Có thể nói trước khi có Luật Đất đai 1987 và 1993, tài liệu tiền kế hoạch
sử dụng đất được đề cập tới như là một phần của quy hoạch phát triển các ngành nông, lâm nghiệp dưới các tên gọi khác nhau
ở miền Bắc vấn đề sử dụng đất có định hướng được đặt ra và xúc tiến từ năm 1962 nhưng chủ yếu là do các ngành chủ quản, các cấp tỉnh, huyện tiến hành và được lồng vào công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp nhưng thiếu sự phối hợp nhiều ngành liên quan và chưa có sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ Trong các văn bản phương hướng phát triển nông - lâm nghiệp cho các vùng lãnh thổ, khía cạnh pháp lý về định hướng sử dụng đất hầu như không có và cũng không được đặt ra
Từ năm 1975, sau khi giải phóng Miền nam, thống nhất đất nước, Hội
đồng Chính phủ đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo phân vùng và quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp Trung ương để chỉ đạo triển khai công tác này trên phạm vi cả nước Bản báo cáo “Phân vùng sản xuất nông - lâm nghiệp và công nghiệp chế biến nông - lâm sản” của cả nước và các vùng kinh tế do Ban chỉ
đạo đưa ra đã được Chính phủ cho phép dùng làm tài liệu để chỉ đạo các tỉnh làm công tác phân vùng và quy hoạch cụ thể ở địa phương Đến cuối năm 1978, tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đều đã được Chính phủ phê duyệt các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản trên địa bàn lãnh thổ của tỉnh
Với trình tự xây dựng từ trên xuống và ngược lại từ dưới lên, kết quả của công tác phân vùng nông lâm nghiệp thời kỳ từ 1976 - 1978 là đã có được hệ thống các phương án phân vùng nông lâm nghiệp bao gồm: