1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài khoa học cấp bộ : Vai trò của văn học đối với công tác tư tưởng trong thời kỳ hội nhập và phát triển ở việt nam

377 674 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của văn học đối với công tác tư tưởng trong thời kỳ hội nhập và phát triển ở Việt Nam
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Minh Lường
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị và Văn học
Thể loại Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 377
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đánh giá và định hướng của các cơ quan chức năng, của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chứng tỏ sự quan tâm thường trực của Đảng và Nhà nước ta đối với văn học nghệ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

[ \ [ \ [ \

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010

VAI TRO ̀ CỦA VĂN HỌC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP VÀ PHÁT

TRIỂN Ở VIỆT NAM (Mã số: B.10 - 32)

Cơ quan chủ trì: HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Hoàng Minh Lường

Khoa Kiến thức Giáo dục đại cương

Thư ký đề tài: TS Trịnh Thị Bích Liên

Khoa Phát thanh – Truyền hình

8256

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010

VAI TRO ̀ CỦA VĂN HỌC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP VÀ PHÁT

TRIỂN Ở VIỆT NAM (Mã số: B.10 - 32)

Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Hoàng Minh Lường

Khoa Kiến thức Giáo dục đại cương

Thư ký đề tài: TS Trịnh Thị Bích Liên

Khoa Phát thanh – Truyền hình

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

MỤC LỤC

2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu 4

5 Phương phỏp nghiờn cứu 8

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 Văn học và cụng tỏc tư tưởng – những vấn đề

1.1 Khỏi niệm văn học và cụng tỏc tư tưởng 9

1.2 Vai trò tỏc dụng của văn học đối với công tác tư tưởng 28

1.3 Ưu thế đặc trưng của văn học trong cụng tỏc tư tưởng 36 1.4 Phỏc thảo về văn học Việt Nam thời kỳ dổi mới và ảnh hưởng

Chương 2 Vai trũ của văn học đối với cụng tỏc tư tưởng

2.1 Hiệu ứng tỏc động tớch cực của văn học đối với cụng tỏc tư

2.2 Những tỏc động tiờu cực của văn học thời kỳ đổi mới và hội

nhập đối với cụng tỏc tư tưởng hiện nay

2.3 Nguyờn nhõn của những thành tựu và hạn chế trong chức năng

giỏo dục tư tưởng của văn học thời kỳ hội nhập phỏt triển

111

Chương 3 Một số định hướng và giải phỏp cơ bản nhằm tăng

cường hơn nữa vai trũ của văn học đối với cụng tỏc tư tưởng

gtrong thời kỳ hội nhập và phỏt triển

133

3.2 Định hướng phỏt triển nền văn học cỏch mạng Việt Nam theo quỹ đạo

tư tưởng của Đảng trong thời kỳ hội nhập phỏt triển 138 3.3 Một số giải phỏp tăng cường vai trũ của cụng tỏc tư tưởng trong giai

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù có tác động trực tiếp

và sâu xa đến đời sống tư tưởng, tình cảm của cộng đồng Từ xưa đến nay văn học luôn đồng hành cùng với lịch sử sinh tồn và phát triển của dân tộc Thời bình, văn học góp phần đắc lực vào công cuộc bình ổn nhân tâm, khuyến dương niềm tự hào dân tộc chân chính, khích lệ khát vọng sống lành mạnh và góp phần nhân đạo hoá con người Khi đất nước có chiến tranh, văn học phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp đánh giặc cứu nước, phò chính trừ tà Trải qua các cuộc chiến tranh vệ quốc hào hùng của dân tộc, văn học nghệ thuật đã cùng với súng gươm, giáo mác đi theo con người Việt Nam ra trận

đánh giặc cứu nước, và chính văn học nhiều khi đã tạo nên sức mạnh chiến thắng phi thường nhờ vào ưu thế “công tâm” đặc biệt của nó Uy lực diệu kỳ

của Bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt, tiếng nói ngoại giao khôn khéo từ các

thông điệp văn chương “có sức mạnh hơn cả 10 vạn quân” của Nguyễn Trãi, những bài thơ, áng văn cháy bỏng nhiệt huyết yêu nước thương nòi của Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Tố Hữu và nhiều nhà thơ, nhà văn cách mạng khác trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mãi mãi là những chứng tích huy hoàng góp phần khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của văn học nghệ thuật trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

Đảng cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã thường xuyên đánh giá rất cao vị trí và vai trò quan trọng của văn học nghệ thuật Vì thế trong bất kỳ thời đoạn lịch sử nào, Đảng ta cũng chủ động nắm lấy văn học và khéo léo sử dụng văn học như một loại vũ khí tư tưởng sắc bén Kể từ sau

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay, cùng với sự khởi sắc về mọi mặt của đất nước, nền văn học cách mạng Việt Nam cũng bước sang

Trang 5

một thời kỳ đổi mới toàn diện cả về nội dung tư tưởng lẫn phong cách nghệ thuật Có được môi sinh thuận lợi từ bối cảnh cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, văn học Việt Nam hơn 20 năm qua đã phát triển với quy mô mạnh

mẽ chưa từng có về nhiều phương diện Văn học thực sự là những trái phá

đột khẩu, mở đường và cổ vũ tích cực cho sự nghiệp đổi mới toàn diện do

Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Song cũng chính cơ chế thị trường và hội nhập đã đặt nền văn học chúng ta đứng trước những điều kiện thách thức mới Bên cạnh luồng văn học chủ lưu tiếp tục bám sát hiện thực cuộc sống cách mạng của cộng đồng, có vai trò to lớn đối với công tác tư tưởng của

Đảng, đó đây đã xuất hiện nhiều xu hướng văn học mới vốn là di sản tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế đa chiều, của xu thế dân chủ mở rộng Các

xu hướng văn học hiện hữu dưới các hình thức sáng tác khác nhau như: hiện

đại, hậu hiện đại, phản tỉnh hiện thực, được phát hành qua nhiều cách thức đa dạng trong đó không thể không nói đến dòng chảy âm thầm, mạnh mẽ trôi nổi trên thị trường rất khó kiểm soát của “văn học mạng” Các dòng chảy văn học mới lạ này đã và đang có những tác động mạnh mẽ theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực đến thị hiếu tiếp nhận của đông đảo người đọc hôm nay Chưa bao giờ trong ý thức tiếp nhận văn học của người đọc lại có những xáo trộn mạnh mẽ, thậm chí hoang mang về tư tưởng như thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay Các cơ quan chức năng về văn hoá văn nghệ bên cạnh việc tổng kết những thành tựu rất đáng ghi nhận của văn học thời kỳ đổi mới cũng

đã nghiêm khắc nêu lên những hiện tượng bất cập của đời sống văn học

đương đại

ý thức rõ vị trí của văn học đối với công tác tư tưởng, đối với công cuộc xây dựng con người mới, Đảng ta đã tích cực chỉ đạo và định hướng sát sao đối với đời sống văn học đương đại thông qua các Nghị quyết của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Chỉ trong vòng một thập niên qua,

Đảng ta đã liên tiếp triển khai tư tưởng lãnh đạo của mình đối với nền văn học bằng các Nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết Trung ương 10 về kiểm

Trang 6

điểm 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII (tháng 7/1998); Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị “Về việc tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới” (tháng 6/2008), Nghị quyết Trung

ương 10 khoá IX (tháng 7/2008) Những đánh giá và định hướng của các cơ quan chức năng, của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chứng tỏ sự quan tâm thường trực của Đảng và Nhà nước ta đối với văn học nghệ thuật trong chức năng thực thi công tác tư tưởng chính trị thời kỳ đổi mới và hội nhập Vai trò của văn học đối với công tác tư tưởng trong bối cảnh hiện nay là rất to lớn, song những thách thức và ngáng cản mới nảy sinh

từ hiện trạng của một giai đoạn văn học đầy rẫy những phức tạp về tư tưởng cũng không phải nhỏ Vì vậy việc hệ thống hoá diễn tiến của đời sống văn học dân tộc trong bối cảnh đổi mới và hội nhập nhằm chỉ rõ những tác động tích cực và cả những khoảng tối ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tư tưởng của cộng đồng là một việc làm cần thiết và bổ ích, góp phần định hướng ý thức tiếp nhận tư tưởng thẩm mỹ của cộng đồng theo hướng lành mạnh và tích cực

Việc chỉ ra các xu hướng tác động của văn học trên cả hai chiều tích cực và tiêu cực đến đời sống công tác tư tưởng trong bối cảnh hội nhập hôm nay không chỉ có ý nghĩa là sự nhận thức và định hướng ý thức tiếp nhận văn học mà còn có giá trị gợi ý cho công tác quản lý, lãnh đạo về mặt nhà nước

đối với văn học nghệ thuật trên tất cả các khâu sáng tác, nghiên cứu, phê bình, thẩm định và thanh lọc các xuất bản phẩm nội sinh cũng như ngoại nhập Tìm hiểu thấu đáo các quy luật tác động của văn học đối với công tác tư tưởng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập thực chất là công việc mang tầm chiến lược về tư tưởng nhằm góp phần tạo dựng không gian văn hoá nghệ thuật dân tộc lành mạnh, đủ sức đối trọng và kháng thể lại các giá trị văn nghệ không tương thích với lý tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa của chúng ta

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Trên thế giới

Các kiến giải sớm nhất về vai trò của văn học đối với công tác tư tưởng chính trị đã được đề cập đến bởi các lãnh tụ cách mạng vô sản như Các Mác,

Ăngghen, Lênin… Cuốn Mác - Ăngghen - Lênin về văn học và nghệ thuật”

(Nxb Sự thật, H 1977) đã hệ thống hoá những ý kiến quan trọng của các lãnh tụ vô sản về văn hoá văn nghệ nói chung trong đó có vai trò của văn học nghệ thuật đối với công tác tư tưởng Trong ý thức về sự sáng tạo nghệ thuật, các lãnh tụ cách mạng vô sản đặc biệt phản bác những động cơ sáng tác văn học “vì mục đích tự thân”, “vì tiền” Các tác gia kinh điển khẳng định: sáng tạo văn học nghệ thuật phải “tiến hành tranh luận, thuyết minh, phát triển và bảo vệ những lợi ích chính trị của Đảng, bác bỏ và đánh bại mọi luận điệu gây hoang mang tư tưởng của đảng đối lập” (C.Mác, Ph.Ăngghen - Toàn tập, tập 4)

ở Liên Xô trước đây, các nhà Lý luận văn học, Mỹ học: Goóc Ky, Gulaiép, Timôphiép, Pospelov… trong các Giáo trình Lý luận văn học và Mỹ học của mình đã ít nhiều đề cập một cách khái quát về vai trò của văn học

đối với đời sống tinh thần, tư tưởng con người

Ở các nước châu Âu vào khoảng giữa thế kỷ XX, các Mỹ học gia tiêu biểu như Lucacs (Hunggari); E.Fischer (áo), R.Graudy (Pháp)…cũng có đề cập đến vị trí của văn học trong đời sống tư tưởng xã hội Nhà nghiên cứu Phương Lựu đã hệ thống hoá một số công trình nghiên cứu với những quan

niệm văn học tiêu biểu của các học giả châu Âu nói trên trong cuốn “Tư

tưởng văn hoá văn nghệ của chủ nghĩa Mác phương Tây (Nxb Thế giới,

H.2007)

2.2 Ở Việt Nam

Những đánh giá khái quát giàu sức thuyết phục về vai trò vị trí của văn học đối với công tác tư tưởng trước hết thuộc về các lãnh tụ Đảng và Nhà

Trang 8

nước, các nhà quản lý văn hoá văn nghệ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Hà Xuân Trường Các công trình tiêu biểu có đề

cập khái quát về vai trò của văn học đối với đời sống tư tưởng như: Văn hoá

văn nghệ cũng là một mặt trận (Hồ Chí Minh, Nxb Văn học, H.1981); “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (Trường Chinh, Nxb Sự thật, H.1974); “Xây dựng nền văn hoá văn nghệ ngang tầm vóc dân tộc ta, thời đại ta” (Phạm

Văn Đồng, Nxb Sự thật, H.1976); “Xây dựng nền văn nghệ lớn xứng đáng với

nhân dân ta, với thời đại ta” (Tố Hữu, Nxb Văn học, H.1983) là những công

trình nghiên cứu khái quát về những vấn đề văn học nói chung và vị trí của văn học đối với công tác tư tưởng nói riêng Với tư cách là người lãnh đạo và quản lý văn nghệ, Hà Xuân Trường có những công trình nghiên cứu khá tập trung về văn hoá văn nghệ trong đó có những khái quát đáng chú ý về vai trò

của văn học đối với công tác tư tưởng như: “Đường lối văn nghệ của Đảng -

vũ khí, trí tuệ, ánh sáng” (Nxb Sự thật, H.1977) hay “Văn hoá văn nghệ trong công tác tư tưởng” (Tạp chí Văn học số 6/1997)

Dưới góc nhìn khái quát, các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc các khoá đều có những đánh giá về vai trò của văn học đối với cách mạng văn hoá tư tưởng, đối với công việc xây dựng con người mới Một số lãnh đạo

Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới như Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, trong các bài phát biểu tại các buổi gặp mặt với giới văn nghệ sĩ cũng có những ý kiến trực tiếp hoặc gián tiếp về thiên chức của văn học đối với đời sống tinh thần con người (Xem Tạp chí Văn học số 2/1997, số 2/1999)

Dưới góc độ lý luận văn học, mục bàn về chức năng giáo dục của văn

học và đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ trong các giáo trình Lý luận văn học

xuất bản ở Việt Nam xưa nay đều có đánh giá khái quát về vị trí của văn học

đối với việc hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng chân chính của con người Các học giả thường quan tâm đến vấn đề này có thể kể

Trang 9

đến các tên tuổi: Thành Duy, Nam Mộc, Phương Lựu, Hà Minh Đức, Trần Văn Bính, Lê Ngọc Trà

Đánh giá chung, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các Nghị quyết Trung ương hay các Văn kiện Đại hội Đảng hoặc các tài liệu Lý luận văn học ở Việt Nam đều mới chỉ bàn về mối quan hệ giữa văn học với tư tưởng

và vị trí của văn học trong công tác tư tưởng một cách khái quát Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay đã được nghiên cứu khá thấu đáo

từ góc nhìn Lý thuyết và Lịch sử văn học Song việc nghiên cứu vai trò của văn học thời kỳ này đối với công tác tư tưởng trong tư cách là đề tài liên

ngành Ngữ văn - Chính trị học công tác tư tưởng thì chưa có công trình nào

đề cập đến một cách có hệ thống

Năm 2007-2008, nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp cơ sở trọng

điểm Học viện Báo chí Tuyên truyền gồm PGS.TS Trần Thị Trâm, TS Hoàng Minh Lường, TS Hà Thị Bình Hoà (do PGS.TS Trần Thị Trâm làm chủ

nhiệm) với đề tài Khai thác vận dụng tri thức văn học trong hoạt động tuyên

truyền đã có đề cập đến vai trò của văn học đối với hoạt động tuyên truyền

(do TS Hoàng Minh Lường viết), nhưng phần này mới chỉ khái quát chút ít

về vị trí của văn học đối với hoạt động tuyên truyền vốn chỉ là một khâu trong hoạt động công tác tư tưởng chứ chưa phải là toàn bộ công tác tư

tưởng Đề tài “Khai thác vận dụng tri thức văn học trong hoạt động tuyên

truyền” hướng tới đối tượng nghiên cứu là hoạt động tuyên truyền với các

loại hình vốn có của nó đã khai thác và vận dụng tri thức văn học ra sao ở

đây văn học được xem như một phương tiện trợ lực cho hoạt động tuyên truyền, chứ không được xem như một đối tượng nghiên cứu trực tiếp Còn đề

tài “Vai trò của văn học đối với công tác tư tưởng trong thời kỳ hội nhập

phát triển” lại xem văn học như một đối tượng nghiên cứu trực tiếp đã có

những hiệu ứng tác động trên cả phương diện tích cực và tiêu cực đến đời sống công tác tư tưởng của chúng ta Trên cơ sở đó đề tài đi tìm các giải

Trang 10

pháp cho việc quản lý, lãnh đạo và thanh lọc đời sống văn học theo định hướng tư tưởng cách mạng do Đảng lãnh đạo Vì vậy xét về lịch sử nghiên

cứu, đối tượng nghiên cứu và cả quy mô phạm vi khảo sát, đề tài Vai trò

của văn học đối với công tác tư trong thời kỳ hội nhập phát triển” chưa từng

được công trình nào ở Việt Nam đề cập đến một cách có hệ thống và toàn diện

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Thống kê, khảo sát toàn diện đời sống văn học Việt Nam hơn 20 năm

đổi mới và hội nhập trên tất cả các xu hướng tư tưởng nghệ thuật (cả xu hướng chính thống và các dòng văn học hải ngoại) và hệ thống các thể loại văn học nhằm xác định các giá trị tư tưởng và hiệu ứng tác động của văn học

đối với đời sống tư tưởng, tình cảm của cộng đồng trong thời kỳ hội nhập

- Trên cơ sở các vấn đề lý luận và thực tiễn đúc kết được từ mối

quan hệ tương tác giữa văn học và công tác tư tưởng, vị trí của văn học đối với tư tưởng chính trị, đề tài đề xuất các phương hướng quản lý, lãnh đạo và

định hướng quá trình sáng tác, nghiên cứu và tiếp nhận văn học theo định hướng công tác tư tưởng chính thống của Đảng

4 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu

Đối tượng nghiờn cứu của đề tài là cỏc tỏc phẩm văn học thời kỳ đổi mới

tiờu biểu thuộc cỏc loai thể văn học khỏc nhau cú hàm chứa cỏc giỏ trị nội dung tư tưởng sõu sắc, tạo những hiệu quả tỏc tới đời sống tư tưởng của cộng đồng dõn tộc trờn cả hai mặt tớch cực và tiờu cực

Pham vi nghiờn cứu của đề tài là cỏc sỏng tỏc văn học thời kỳ đổi mới từ

1986 trở lại đõy Tuy nhiờn để cú căn cứ xỏc thực cho việc đối chiếu và so sỏnh hiệu quả tỏc động tư tưởng của văn học qua cỏc giai đoạn lịch sử, đề tài cũng mở rộng phạm vi khảo sỏt tới cỏc tỏc phẩm văn học thuộc cỏc giai đoạn văn học trước thời kỳ đổi mới

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sứ dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: Khảo sát thống

kê, tổng hợp phân loại, phân tích đánh giá, so sánh đối chiếu…Trong những giới hạn cụ thể, đề tài còn khai thác phương pháp phân tích tác phẩm văn học đối với những tác phẩm có giá trị minh họa thiết thực

6 Câú trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3

chương như sau:

Chương1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa văn

học và công tác tư tưởng

Chương 2: Vai trò của văn học đối với công tác tư tưởng trong thời kỳ

hội nhập phát triển

Chương 3 Một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường

hơn nữa vai trò của văn học đối với công tác tư tưởng trong thời kỳ hội nhập

phát triển

Trang 12

Chương 1 VĂN HỌC VÀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG –NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ

LUẬN CHUNG

1 1 Khái niệm văn học và công tác tư tưởng

1.1.1.Khái niệm văn học

Trong lịch sử mỹ học Đông Tây,khái niệm văn học đã từng được cắt nghĩa,lý giải bằng nhiều quan niệm khác nhau Mỹ hoc Macxit xem văn học là loại hình nghệ thuật ngôn từ ,là một trong những hình thái ý thức xã hội đặc thù thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội Để khái quát bản chất đặc trưng của văn học ,cần lý giải văn học trong mối qun hệ đối sánh với các hình thái ý thức xã hội và các loại hình nghệ thuật khác

Trước hết văn học là một hình thái ý thức xã hội mang bản chất thẩm mỹ

Các hình thái ý thức xã hội đều bắt nguồn từ hiện thực đời sống Mỗi hình thái ý thức xã hội khác nhau sẽ đảm trách những yêu cầu nhận thức, khám phá thế giới nhằm phụng sự cuộc sống của con người theo những quy cách đặc trưng loại hình của riêng mình Đặc trưng nổi bật của các hình thái ý thức xã hội thường được biểu hiện tập trung qua đối tượng phản ánh, nội dung và hình thức chiếm lĩnh hiện thực, phương thức thể hiện riêng biệt của nó…Về những phương diện này, văn học thể hiện những phẩm chất đặc trưng cá biệt rất đáng lưu ý

Nội dung của văn học là thế giới đối tượng đã được nghệ sĩ phản ánh trong tác phẩm văn học Tính đặc thù của nội dung văn học so với

Trang 13

các hình thái ý thức xã hội khác trước hết nằm ở tính đặc thù của thế giới đối tượng mà nhà văn hướng tới khám phá và phản ánh

Có nhiều quan niệm khác nhau về đối tượng của văn học nghệ thuật Các nhà Mỹ học duy tâm khách quan từ Platông đến Hêghen đều coi thế giới vĩnh hằng của Thượng đế, của các ý niệm tuyệt đối - một thế giới sản sinh trước loài người… là đối tượng của văn học nghệ thuật Với họ, sáng tạo nghệ thuật của các nghệ sĩ là những phút giây “thần trợ” và truyền đạt những nội dung thế giới ý niệm cho các nghệ sĩ Những lý giải của Platông về khả năng “nắm bắt được những linh cảm thiêng liêng của thần thánh và đấng tối cao” của người nghệ

sĩ hay quan niệm của Hâyđêgiơ cho rằng “nhà thơ là nửa con người và một nửa thần linh”… đều bắt nguồn từ đó Đây là những quan niệm siêu hình về đối tượng của văn học nghệ thuật

Mỹ học duy tâm chủ quan lại xem đối tượng của văn học nghệ thuật chính là những cảm giác chủ quan, là thế giới nội cảm của cái tôi nghệ sĩ không liên quan gì đến hiện thực đời sống bên ngoài Những luận điểm này khó được chấp nhận, chứa đầy mâu thuẫn vì chẳng có cảm giác chủ quan nào của con người lại không là sự phản ánh của thế giới khách quan

Các Mỹ học gia duy vật đều khẳng định đối tượng của văn học nghệ thuật chính là toàn bộ hiện thực cuộc sống khách quan Secnưsepxki đã từng khẳng định phạm vi của văn học nghệ thuật là

“toàn bộ những gì có trong thực tại” Phạm vi hiện thực rộng lớn ấy cũng là đối tượng khám phá, lý giải của các hình thái ý thức xã hội khác Nhưng văn học có cách khám phá đối tượng theo lối riêng

Trang 14

Hầu hết các hình thái ý thức xã hội khác, đặc biệt là khoa học chú ý đến những “kinh nghiệm thực tiễn”, những quy luật khách quan của đời sống cơ bản tồn tại độc lập với ý thức chủ quan của chủ thể nhận thức Ngược lại văn học lại quan tâm khám phá các “kinh nghiệm quan hệ” (từ dùng của Bôrép) của thế giới hiện thực, đặc biệt

là quan hệ của con người đối với thế giới (bao gồm cả thế giới hữu hình và vô hình) Khi phản ánh đối tượng, văn học không chú ý nhiều đến ý nghĩa khách thể phổ quát của chủng loại sự vật chẳng hạn như đặc điểm cấu trúc và giá trị sử dụng của cái giếng, ngôi nhà, con đường … Văn học chú tâm đến ý nghĩa quan hệ người kết tinh trong các sự vật và hiện tượng Đó là cái giếng làm nơi hò hẹn, ngôi nhà của

ký ức cá nhân, con đường ra trận… Chỉ những sự vật hiện tượng nào

có mang ý nghĩa gắn bó và tương thông sâu sắc với sự sống của con người mới trở thành đối tượng chiếm lĩnh của văn học Đối tượng khách quan trong cái nhìn của văn học không còn mang ý nghĩa là

“vật tự nó” thuần tuý mà ít nhiều đã là “vật cho ta”, có quan hệ gắn bó thân thiết với những nỗi niềm nào đó của chủ thể sáng tạo

Hôm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ

Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ duyên ai?

Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ…?

Trong bài ca dao, thi nhân có nhắc đến cá, nhện, trăng, sao… nhưng các đối tượng khách quan ấy không hiện lên với bản chất sinh vật tự thân của chúng Chúng hiện diện trong tư cách là một thực thể

Trang 15

có nỗi niềm và số phận như con người, gắn bó máu thịt với nội tâm của con người

Văn học cũng miêu tả người nhưng khác với các lĩnh vực khoa học khác thường quan tâm nhiều đến các phương diện sinh học tự nhiên, văn học nhận thức con người trong các mối quan hệ xã hội sinh động với những trạng huống tâm lý, tình cảm giầu ý nghĩa xã hội phổ quát

Rõ ràng văn học cũng như các hình thái ý thức khác đều phản ánh hiện thực nhưng chỉ những bình diện hiện thực nào có quan hệ đời sống xã hội thân thiết với con người mới được văn học chú ý miêu tả Văn học không bao giờ tả chân hiện trạng sự vật như nó vốn có theo lối quay phim, chụp ảnh mà thường chú ý tới những khía cạnh giầu ý nghĩa nhân sinh phổ quát Văn học thường đột phá vào những phạm vi hiện thực gợi lên những nỗi niềm nhân sinh thế sự đầy bất ngờ và ám ảnh trong khi các hình thái ý thức xã hội khác thường quan tâm tới những hiện tượng mang tính quy luật phổ biến:

Để thu sét của trời Người ta nối cột thu lôi vào đất Trái tim con người - nơi chịu nhiều sét nhất Nối vào đâu?

(Vũ Quần Phương)

Khoa học quan tâm đến bản chất vật lý của hiện tượng sấm sét trên bầu trời và gắng gỏi đi tìm các biện pháp loại trừ tác hại của chúng đối với cuộc sống con người Nhưng những liên tưởng tinh nhạy từ chuyện sấm sét của thiên nhiên đến những bất lực của nhân tâm trong viec truy tìm cội nguồn của bi kịch nhân loại như thế thì chỉ có ở lãnh địa văn học người đời mới có thể bắt gặp

Trang 16

Từ những khái quát về sự khác biệt giữa văn học với các hình thái ý thức xã hội khác cho ta thấy: Con người với các mối quan hệ xã hội sinh động đã trở thành đối tượng phản ánh trung tâm trong văn học Lấy con người làm đối tượng chủ yếu để chiêm nghiệm, phản ánh văn học có được điểm tựa để nhìn ra toàn bộ thế giới hiện thực Mọi đối tượng trong thiên nhiên, trong xã hội đều được miêu tả qua trường nhìn nhận và đánh giá của con người “Con người trong đời sống và trong văn nghệ là những trọng tâm giá trị, trọng tâm đánh giá, trọng tâm kết tinh các kinh nghiệm quan hệ”(1) Trong thơ trữ tình phong cảnh, cảnh vật thấm đẫm tình người, tri âm cộng cảm với những nỗi niềm của nghệ sĩ Trong tiểu thuyết, mọi mối quan hệ trong tác phẩm đều thuộc về sự điều khiển, giật dây của các nhân vật và người trần thuật Trong truyện ngụ ngôn, mỗi ứng xử, quan hệ của các “nhân vật” thuộc loài vật đều thấm thía các quan niệm ứng xử của con người…

Điều đáng nói là văn học không phản ánh, miêu tả con người chung chung Con người được phản ánh trong văn học là con người tiêu biểu cho những quan hệ xã hội cụ thể, gắn với những tính cách xác định Con người trong văn học bao giờ cũng mang một nội dung đạo đức nhất định: hiền lành hay dữ dằn, thuỷ chung hay lật lọng, dũng cảm hay hèn nhác, hào phóng hay keo kiệt… Sự khắc hoạ nhân tính trong văn học cũng khác với đạo đức học Đạo đức nhìn nhận con người trong sự gắn bó với các chuẩn mực, các nguyên tắc ứng xử mang tính quy ước chặt chẽ của thể chế hoặc cộng đồng Văn học tiếp cận con người trọn vẹn và linh hoạt hơn thông qua các mối quan hệ cuộc sống sinh động “Văn học khám phá ý nghĩa đạo đức của các tính

Trang 17

cách trong những tình huống éo le, phức tạp nhất trong những trường hợp không thể nhìn thấy một cách giản đơn bề ngoài”(1)

Nội dung văn học không đồng nhất với đối tượng của văn học Nội dung văn học là ý thức về cuộc sống trong tác phẩm khác với đối tượng của văn học vốn là những thực thể tồn tại khách quan trong cuộc sống Sự chuyển hoá từ đối tượng văn học thành nội dung tác phẩm văn học là cả một quá trình suy ngẫm và lao động nghệ thuật kỳ công Phải trải qua và chiêm nghiệm bao trái ngang đau đớn của cuộc

sống, Nguyễn Du mới sáng tạo được kiệt tác Truyện Kiều bất hủ Kiểu

tính cách AQ đã từng ám ảnh Lỗ Tấn nhiều năm, nhà văn mới viết

được AQ chính truyện Trong sáng tạo tác phẩm văn học, loại trừ

trường hợp đối tượng và xúc cảm chợt đến rồi người viết có được tác phẩm ngay, đa phần tác phẩm là kết quả của cả một quá trình nung nấu hiện thực đầy trăn trở, nhà văn mới có thể chưng cất thành những trang viết máu thịt của mình Vì lẽ đó đặc điểm nổi bật nhất của nội dung văn học là khát vọng nồng nàn của chủ thể sáng tạo muốn thể hiện một quan niệm nào đó về chân lý đời sống, về cái chân, cái thiện, cái mỹ trong thế giới hiện thực mà người nghệ sĩ đã từng thể nghiệm

và khát khao bày tỏ, sẻ chia với người đọc Chân lý cuộc sống mà nhà văn muốn thổ lộ ấy bao giờ cũng gắn liền với một cảm hứng mãnh liệt nhằm khẳng định hay phủ định một điều nào đó theo một khuynh hướng tư tưởng nhất định

Tóm lại nội dung văn học là cuộc sống đã được ý thức trong tác phẩm gắn liền với một quan niệm nào đó của chủ thể sáng tạo về chân

lý cuộc sống với những cảm hứng thẩm mỹ và xu hướng đánh giá nhất định Nhận thức rõ tính đặc thù của nội dung văn học so với các hình

Trang 18

thái ý thức khác sẽ ý thức được ưu thế riêng của văn học trong việc đáp ứng các nhu cầu nhận thức thẩm mỹ của xã hội mà trong giới hạn của mình các hình thái ý thức xã hội khác không thể đáp ứng được

Tư duy phản ánh hiện thực và phương thức thể hiện của văn học cũng có những đặc trưng riêng Triết học duy vật biện chứng xác định các kiểu tư duy chủ yếu của con người khi chiếm lĩnh đối tượng, bao gồm: tư duy hành động - trực quan; tư duy hình tượng - cảm tính; tư duy khái niệm - lôgíc Trong sáng tạo văn học, tư duy hình tượng - cảm tính đóng vai trò là cơ sở của tư duy nghệ thuật mặc dù nghệ sĩ có

sự kết hợp linh hoạt nhiều kiểu tư duy khác nhau Các Mỹ học gia tiêu biểu như Hêghen, Bêlinxky, Plêkhanốp, Goócky… đều khẳng định tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, xa rời tư duy hình tượng, văn học

sẽ mất cơ sở để tồn tại Tư duy hình tượng là loại tư duy được xác lập dựa trên cơ sở tiếp xúc cảm tính với đối tượng và làm sống lại toàn vẹn đối tượng đó bằng các thao tác nghe, nhìn, tưởng tượng gián cách Lối tư duy này không tái hiện các sự vật trong trạng thái riêng lẻ, rời rạc mà đặt chúng trong các mối quan hệ, gắn với văn cảnh nên về bản chất thường mang thông tin đa nghĩa Do vậy tư duy hình tượng thường tìm đến các quan hệ của các sự vật cảm tính để diễn tả những

gì trừu tượng, phi cảm tính Chẳng hạn để diễn tả nỗi đau trước cảnh quê hương bị quân giặc tàn phá, Hoàng Cầm đã sử dụng các hình ảnh trực quan, cảm tính, có thể hình dung một cách xác thực:

Đứng bên này sông Sao nhớ tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay

(Bên kia sông Đuống)

Mặt khác khi tái tạo đối tượng phản ánh, loại tư duy này không sao chép một cách bàng quan mà còn bao hàm thái độ của con người

Trang 19

đối với chính đối tượng đó Do đó trong văn học, tư duy hình tượng cùng một lúc vừa tái hiện khách thể lại có thể vừa bộc lộ thái độ của chủ thể Cũng do đặc tính nhận thức đối tượng trong trạng thái gián cách, thông qua tưởng tượng cho nên văn học cho phép tư duy nghệ thuật có thể sử dụng các thao tác hư cấu đối tượng nhằm tác động mạnh mẽ tới người đọc

Có thể xác định các đặc tính cơ bản của tư duy nghệ thuật trong quá trình sáng tác văn học thông qua các quá trình: thể nghiệm, trực giác và hư cấu Khi sáng tạo nghệ thuật, nghệ sĩ muốn chiếm lĩnh đối tượng và trình bày kinh nghiệm quan hệ cần phải dùng thể nghiệm như một sự hoá thân bằng tưởng tượng vào đối tượng để phát hiện những kinh nghiệm mà đối tượng đã trải qua hoặc có thể sảy ra Phlôbe trong tác phẩm Bà Bôvaria khi miêu tả nhân vật uống thuốc độc đã cảm thấy trong miệng mình như có vị thạch tín thực sự Trong thể nghiệm, cá tính sáng tạo của nhà văn đóng vai trò đặc biệt quan trọng Cá tính thể hiện cái nhìn và giọng điệu riêng, thái độ riêng… trong quá trình thâm nhập và khám phá chiều sâu đối tượng phản ánh Nhờ thể nghiệm, tư duy nghệ thuật trở nên phong phú, linh hoạt và rộng mở hơn nhiều so với các hình thức ý thức xã hội khác.Bên cạnh thể nghiệm, trực giác cũng đóng vai trò rất quan trọng trong nhận thức thẩm mỹ về thế giới đối tượng Trực giác là những phán đoán cảm tính trực tiếp, tức thời không có suy lý và không thể chứng minh Trong thơ ca, trực giác giúp nhà thơ có những phát hiện bất ngờ có thể khiến cho người đọc sửng sốt Ngày xưa các nhà Mỹ học duy tâm khách quan thường xem trực giác là những giây phút “thần trợ”, Thiền học lại xem đó là sự

“diệu ngộ” thần kỳ, Phrớt xem đó là sản phẩm của “vô thức tối tăm”… Dưới góc nhìn của tâm lý học hiện đại, trực giác là sự kết hợp các liên

Trang 20

tưởng, ấn tượng để tạo ra những phát hiện tức thời tựa như ánh chớp

về đối tượng mà vẫn đạt được sự uyên thâm kỳ thú Trực giác không truyền dạy cho nhau được Nó chỉ có thể bùng nổ trên cơ sở chủ thể có một vốn sống phong phú, tràn đầy, sự chú ý cao độ và đầy cảm hứng

về đối tượng Câu thơ: “Một tiếng kêu vang lạnh cả trời” của Khuông

Lộ thiền sư thật khó giải thích bằng logíc của phán đoán khoa học và suy lý thực tế Những hình ảnh nghệ thuật, những phát hiện kiệt xuất… thường là kết quả của trực giác nghệ thuật mãnh liệt

Hư cấu nghệ thuật là hoạt động cơ bản của tư duy nghệ thuật khi sáng tác văn học Hư cấu góp phần khái quát, tổng hợp, đúc kết và tổ chức kinh nghiệm của đời sống xã hội bằng cách nhào nặn vốn sống

đã tích luỹ được để tạo ra những hình tượng con người có số phận, tính cách, quan hệ… phản ánh được thực chất của đời sống một cách nghệ thuật Goócky nhấn mạnh: “Không có hư cấu thì không thể và cũng không tồn tại được tính nghệ thuật” Hư cấu nghệ thuật không có nghĩa là tạo dựng cho đối tượng những khía cạnh hư không theo lối bịa đặt mà là tạo ra một sinh mệnh mới, một sức sống mới cho đối tượng thẩm mỹ để chúng trở nên toàn vẹn và lý tưởng hơn so với đời thực Hư cấu là nhằm tạo ra một thế giới nghệ thuật của những con người sao cho hoàn thiện hơn theo ý đồ tư tưởng nghệ thuật của các nghệ sĩ Mức độ và cách thức hư cấu của các nghệ sĩ và thể loại khác nhau cũng có thể sẽ rất khác nhau Cách thức hư cấu nhân vật trong tiểu thuyết của Lỗ Tấn có ý nghĩa phổ biến khi nhà văn “không dùng nguyên một người nào” để làm hình mẫu ổn định mà có sự sâu chuỗi trên cơ sở lựa chọn những nét điển hình của nhiều người mà ghép lại Các nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc đã từng cho rằng trong tiểu

thuyết Tam quốc diễn nghĩa có “bảy phần thực và ba phần hư cấu”

Trang 21

Nhà văn Xô Viết Phêđin sau khi hoàn thành tiểu thuyết bộ hai: Niềm

vui đầu tiên và Mùa hè kỳ lạ cũng đã xác định tỷ lệ hư cấu và sự thực

là 98 và 2 Hư cấu là tư duy nghệ thuật phổ biến song không phải cái

gì cũng có thể hư cấu Có những điều không thể hư cấu như tâm hồn, khuynh hướng tư tưởng, ý nghĩa khách quan của các hiện tượng, chân

lý đời sống và chân lý lịch sử của các tính cách…

Tóm lại, thể nghiệm, trực giác và hư cấu là những mặt quan trọng của tư duy nghệ thuật trong sáng tác văn học Nó khác hẳn với

tư duy hình tượng cảm tính thông thường Hình tượng văn học do đó không giản đơn chỉ là loại hình tượng nghe - nhìn thuần tuý theo lối quay phim chụp ảnh mà là hình tượng tưởng tượng có sức gợi cảm mãnh liệt nhất, có tầm khái quát và sức xuyên thấm lâu bền và sâu sắc nhất Những hình tượng văn học giầu sức sống bao giờ cũng được sáng tạo trên mối tưởng tượng kết hợp hài hoà giữa cái cá thể hoá và khái quát hoá Khái quát hoá nghệ thuật là cách thức giải phóng hình tượng cụ thể cảm tính ra khỏi cái nhất thời, ngẫu nhiên, vụn vặt để hướng tới tầm bao quát sâu rộng về con người và cuộc sống Cách thức khái quát trong khoa học là hình thức rời bỏ cái cụ thể cảm tính Trong văn học, sự khái quát bao giờ cũng gắn liền với những cái cụ thể, kết tinh từ những số phận cụ thể giữa cuộc đời Cá thể là một chủ thể đặt trong các mối quan hệ vì thế muốn khái quát các kinh nghiệm quan hệ phải chú ý tới các cá thể như là trung tâm của các quan hệ đó Việc dựng lên những con người cá thể trong văn học về tên tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, chí hướng… đều đã hàm chứa những quan hệ đời sống nhất định, cung cấp những khả năng khám phá những kinh nghiệm xã hội lịch sử nhất định Các nhân vật thần thoại như Nữ Oa,

Trang 22

Lạc Long Quân, Âu Cơ… mức độ cá thể hoá còn thấp, phạm vi khái quát chủ yếu ở quan hệ chinh phục tự nhiên, cội nguồn dân tộc… Đến Thánh Gióng, An Dương Vương, Tấm Cám… mức độ cá thể hoá đã đa dạng hơn do đó sức khái quát về các quan hệ xã hội đã phong phú và sâu sắc hơn Nhìn chung trình độ cá thể hoá và khái quát hoá trong lịch sử văn học của các dân tộc không ngừng được nâng cao cùng với

sự phát triển đi lên của lịch sử nhân loại

Cách thức cá thể hoá của văn học nghệ thuật rất đa dạng Trong các tác phẩm văn học tự sự dân gian, đối tượng được cá thể hoá theo lối thần kỳ, huyền thoại Văn học trung đại và trào lưu lãng mạn thường cá thể hoá theo lối tuyệt đối hoá một số phẩm chất nào đó của đối tượng Văn học hiện thực cá thể hoá bằng sự miêu tả con người trong các mối quan hệ thường nhật muôn hình muôn vẻ

Trong văn học, khái quát hoá nghệ thuật sâu sắc sẽ giúp người đọc cảm nhận được bản chất xã hội, giai cấp của mỗi con người trong

sự đa dạng phong phú của các tính cách cá thể - “con người này” (Hêghen) Kết quả của sự khái quát hoá và cá thể hoá đã làm cho ý nghĩa của chân lý đời sống, chân lý lịch sử, những khuynh hướng tư tưởng… được thể hiện dưới những dạng thức muôn màu, muôn vẻ, sâu hơn, nhiều mặt hơn so với các công thức khoa học đơn nhất

Kết quả của sự khái quát hoá cao độ trong sáng tác văn học sẽ tạo được những điển hình nghệ thuật Hình tượng điển hình luôn gợi

ra tính chất loại của nó khiến người ta liên tưởng tới cái tương tự với

nó ở ngoài hiện thực cuộc sống Kiều là điển hình của những người tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến Về nguyên tắc: “cái điển hình không phải là cái cá biệt” (Lênin) Nhưng trong điển hình nghệ thuật

Trang 23

thì điển hình đồng thời phải là cái cá biệt, phải là “một cá tính xác định” (Mác) Để có được những điển hình nghệ thuật, nhà văn phải lựa chọn được những nét, những tính cách quan trọng và có ý nghĩa phổ quát trong hiện thực, phải phát hiện được những chi tiết, những quan

hệ có ý nghĩa tiêu biểu nhưng đồng thời cũng phải chạm khắc được hình tượng bằng những nét riêng sinh động nổi bật Do vậy việc cá biệt hoá, cường điệu hoà nhằm làm cho hình tượng nổi bật là yêu cầu không thể bỏ qua của quá trình điển hình hoá Cái vô gia cư, không họ hàng thân thích, không nghề nghiệp xác định, lại lẻo khẻo ốm yếu, nhiều sẹo của AQ là rất cá biệt, song nhờ sự cá biệt ấy mà “phép thắng lợi tinh thần” của người Trung Quốc đương thời mới trở nên nổi bật…

Để điển hình hoá thành công, nhà văn phải có vốn sống phong phú, tư tưởng tình cảm lớn, tài nghệ trác tuyệt, nhạy cảm trước số phận con người và cuộc đời

Xét trên tiêu chí chất liệu của văn học, văn học là nghệ thuật ngôn từ Hình tượng của bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng đều phải gắn liền với một loại chất liệu cụ thể: Hình tượng âm nhạc gắn liền với âm thanh nhịp điệu; hình tượng hội hoạ gắn với đường nét, màu sắc, hình khối; hình tượng vũ đạo gắn với dáng điệu cơ thể, động tác, nhịp điệu… Những chất liệu trên là phương thức tồn tại của hình tượng trong dạng cụ thể - cảm tính mà ta có thể nhận biết được qua các giác quan Với văn học, ngôn từ là chất liệu cơ bản là “yếu tố thứ nhất” (Goócky) để tạo dựng hình tượng văn học Ngôn từ với tư cách

là chất liệu của văn học có những khả năng nghệ thuật đặc biệt.Trước hết ngôn từ trong tác phẩm văn học có khả năng gợi lên những hình tượng nghệ thuật, đưa ta thâm nhập vào thế giới cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng mà ngôn ngữ hàng ngày ít khi đạt được Tính hình tượng

Trang 24

của ngôn từ được thể hiện ở rất nhiều mặt: trước hết do ngôn từ vốn mang tính hình tượng từ trong bản chất nên tính hình tượng thường được nhận ra ở hệ thống các từ loại tượng hình, tượng thanh,… Tiếp theo tính hình tượng của ngôn từ thể hiện ở các phương thức chuyển nghĩa của từ như: ví von, ẩn dụ, nhân hoá … ngoài ra tính hình tượng được tạo ra ở các loại từ gợi ra sự vật hoặc đặc điểm của các đối tượng phản ánh trong các tương quan và quan hệ nhất định Loại này thường gặp ở văn trần thuật, tả cảnh, tả tình, tả chân dung, hành động… Ví dụ

câu thơ trong Truyện Kiều: “Sen tàn cúc lại nở hoa Sầu dài ngày

ngắn, đông đà sang xuân” Không hề có từ “hình tượng” và thủ pháp

“chuyển nghĩa” nào để tạo hình tượng cả Hình tượng trữ tình chỉ được khắc họa thông qua mối tương quan giữa con người với sự đổi thay của không gian và thời gian vật chất thông thường

Khả năng nghệ thuật của ngôn từ còn được thể hiện ở chỗ: bất

cứ lời nói, lời viết nào cũng có thể xem như một chi tiết của đời sống, bộc lộ những sâu kín khác với nội dung trực tiếp của lời nói Câu nói

của Hoàng trong Đôi mắt (Nam Cao): “Tài thật! Tài thật! Tài đến thế

là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo!” không chỉ là lời khen một nhân vật tiểu thuyết mà còn là một bộ phận của ý thức Hoàng, của quan niệm sùng bái cá nhân trong lịch sử Ở đây tính hình tượng nằm trong tính điển hình của lời nói Từ đây ta thấy ngôn từ không chỉ là yếu tố hình thức thuần tuý mà là những phương tiện chứa nội dung

Trong đời sống cũng như trong văn học, không có ngôn từ “vô chủ” không thuộc về một chủ thể phát ngôn nhất định Trong văn học, ngôn từ có khả năng thể hiện nhiều mặt của một hình tượng chủ thể lời nói qua giọng điệu, tư tưởng, tình cảm, văn hoá, địa vị xã hội, sở

Trang 25

trường cá nhân… Nhờ ngôn từ ta có thể nhận ra đặc điểm của hình tượng nhân vật hoặc hình tượng người trần thuật Các từ chín mõm mòm, đỏ lòm lom, bom, chòm, om… trong thơ Hồ Xuân Hương dung chứa điệu tâm hồn gay gắt, bứt rứt của bà Chúa Thơ Nôm Tâm hồn đam mê khát khao giao cảm với đời của Xuân Diệu được ký thác trong các từ: ôm, riết, say, hôn, cắn, nghiền nát, vuốt ve…

Ngôn từ nghệ thuật còn được tổ chức một cách đặc biệt để xây dựng một thế giới hình tượng trọn vẹn, hoàn chỉnh, giầu ý nghĩa khái quát Chẳng hạn đặt ngôn từ trong các tương quan đối lập: xưa - nay, bền vững - thay đổi, cũ - mới, bến - đò, các nghệ nhân dân gian đã diễn tả nỗi niềm xót xa của con người trước sự bội bạc trong tình yêu:

“Cây đa bậc cũ lở rồi Đò đưa bến khác, bạn ngồi chờ ai?”

Do sử dụng ngôn từ (với những hạn chế và thế mạnh đặc biệt) làm chất liệu, văn học có nhiều thuận lợi cơ bản trong việc tác động đến tư tưởng tình cảm của con người

Văn học là một sinh thể phức tạp bao gồm nhiều loại hình,loại thể khác nhau Ở Trung quốc cách phân loại văn học sớm nhất gồm hai loại là thơ và văn xuôi, đến thời Nhà Thanh chia phổ biến làm bốn loại là thơ, văn xuôi, tiểu thuyết, kịch Cách phân loai văn học nhất quán ở Châu Âu xưa nay là ba loại: tự sự, trữ tình, kịch Từ giữa thế

kỷ trước, ở Việt nam cách chia văn học chủ yếu dựa theo lối chia ba của Châu Âu Gần đây có một số đề xuất chia văn học thành năm loại

là tự sự, trữ tình, kịch, ký, chính luận Trong mỗi loại hình lại ôm chứa nhiều thể loại, thể tài khác nhau Chẳng hạn, trong loại tự sự có các thể loại: tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ngụ ngôn, truyện

Trang 26

cười Trong kịch có các thể loại: bi kịch, hài kịch, chính kịch Văn học cũng có thể được chia theo các trào lưu, khuynh hướng, thời đại

Văn học là cuộc sống Ở đâu con người có nhu cầu giao tiếp và thụ hưởng cái đẹp ở đó có văn học Vì vậy văn học có mối quan hệ giăng mắc bền chặt với nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, trong

đó có lĩnh vực công tác tư tưởng

1.1.2 Khái niệm công tác tư tưởng

Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển ngôn ngữ thuộc Viện

ngôn ngữ học (Viện khoa học xã hội Việt nam ) xuất bản 1992 đã giải nghĩa thuật ngữ Tư tưởng như sau:

1.Sự suy nghĩ hoặc ý nghĩ: Tập trung tư tưởng; Có tư tưởng sốt ruột 2.Quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đói với xã hội (nói tổng quát): Tư tưởng tiến bộ, Tư tưởng phong kiến, Đấu tranh tư tưởng 1

Với nội hàm ý nghĩa như trên, khái niệm Tư tưởng hiện diện trên cả hai cấp độ cá nhân và cộng đồng dân tộc (tư tưởng cá nhân, tư tưởng dân tộc) Vốn thuộc phạm trù cái tinh thần, tư tưởng con người

là loại năng lượng luôn luôn vận động trong quá trình đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập Đấu tranh tư tưởng là động lực cho sự nhận thức chân lý và phát triển ở mỗi cá nhân cũng như toàn bộ cộng đồng Cuộc đấu tranh tư tưởng không có hồi kết vì cuộc sống con người chẳng bao giờ khép lại những mâu thuẫn và nghịch cảnh cả trong xã hội cũng như trong cõi lòng riêng tư của mỗi con người Còn mâu thuẫn đối kháng cần đấu tranh, còn những nghịch lý cần điều trần ,phê phán, còn những bí mật cần vén mở con người còn đấu tranh tư

1

Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ,H 1992,tr 1052

Trang 27

tưởng Song để có sự định hướng đúng đắn cho công cuộc nhận thức, khám phá chân lý và đấu tranh đào thải những giá trị tiêu cực trong cuộc sống cộng đòng cũng như trong mỗi cá nhân, thể chế chính trị nào cũng cần có những thiết chế tư tưởng nhất định Thể chế ấy bao gồm cả việc nghiên cứu, truyền bá, bảo vệ và định hướng tư tưởng, đào tạo nhân lực phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ và đấu tranh tư ttưởng Tổ chức thể chế tư tưởng như vậy là đểthực thi chức năng công tác

tư tưởng do lực lượng chính trị thống lĩnh quốc gia dân tộc khởi xướng, quản lý lãnh đạo và điều hành

Lịch sử phát triển của loài người cũng la lịch sử tồn tại và phát triển của công tác tư tưởng Công tác tư tưởng tồn tại và phát triển

”lồng ghép” trong sự tồn tại và phát triển của mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội Lĩnh vực nào xuất hiện những vấn đề tư tưởng cần được soi tỏ để khuyến dương hay phê phán,ở đó cần sự tham chiến của công tác tư tưởng

Tư tưởng là sản phẩm ý thức tồn tại dưới dạng phi vật thể Không ai đong đếm định lượng xác thực sắc thái tư tưởng con người như các sản phẩm vật chất khác Vì thế bản chất của công tác tư tưởng

là loại hình công tác đặc biệt thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội Bản thân các hoạt động tuyên truyền, cổ động - những bộ phận quan trọng cấu thành công tác tư tưởng khi thông qua các hoạt động thực tiễn nhằm tạo dựng các giá trị vật chất hàm chứa ý tưởng tuyên truyền cụ thể như: viết khẩu hiệu, dựng panô, tổ chức mít tinh, biểu dương lực lượng cũng nhằm hướng tới chủ ý quan trọng là tác động vào tinh thần, ý thức của con người Công tác tư tưởng tự nó không mang lại những giá trị vật chất hữu hình phục vụ trực tiếp cho đời sống vật chất thường nhật của con người mà nhằm tác động vào ý thức con người,

Trang 28

cải biến nhận thức và định hướng hành vi, từ đó gián tiếp mang lại cho con người những “lực lượng vật chất” ích dụng thiết thực Quan điểm nổi tiếng của C Mác: “ Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”1 về thực chất là

để khẳng định sức mạnh phi thường của công tác tư tưởng Công tác

tư tưởng là sự trang bị cho con người những công năng tinh thần tiên tiến để họ có thể suy nghĩ và hành động theo hướng Chân, Thiện, Mỹ

1.1.3.Mối quan hệ tương tác giữa văn học và công tác tư tưởng

Trong sáng tạo văn học,cách đánh giá ,giải quyết các vấn đề đặt

ra trong tác phẩm của nhà văn bao giờ cũng dựa trên một lập trường tư tưởng nhất định.Mọi ứng sử của nhà văn trong tác phẩm đều hàm chứa trong đó nhãn quan tư rưởng của một giai cấp Nhà văn không thể đứng ngoài lập trường tư tưởng giai cấp, không thể là một thành viên tồn tại siêu giai cấp

M.Gorky đã từng ví người “nghệ sĩ là ngọn kiếm đầu tiên của một giai cấp” để hàm ý khẳng định vai trò đi tiên phong trong cuộc đấu tranh tư tưởng là thuộc về các nhà văn Hệ tư tưởng và công tác tư tưởng của giai cấp thống trị thời cuộc có vai trò đặc biệt quan trọng đối với văn học Khi mối quan hệ giữa nhà văn và thể chế tư tưởng của quốc gia có được sự thống nhất hài hòa thì ý thức hệ tư tưởng của giai cấp đại diện cho thể chế tư tưởng quốc gia sẽ trực tiếp chi phối và chỉ đạo quá trình sáng tạo của các nhà văn Tư tưởng chủ đạo của thời cuộc trực tiếp qui định ý tưởng khai thác đề tài, triển khai chủ đề, cách thức xây dựng nhân vật, tổ chức kết cấu, ngôn ngữ,cốt truyện Chẳng

1

C.Mác, Ph Ăng ghen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr580

Trang 29

hạn, ở Phương Đông, dưới sự chi phối của ý thức hệ phong kiến, các văn nhân , thi sĩ thường thiên về khai thác các đề tài “cao quý” với những thi liệu “thanh cao” (tứ quý, tứ linh), ngôn từ, chi tiết nghệ thuật giầu mầu sắc ước lệ tượng trưng khác hẳn với những chuẩn mực tư tưởng thẩm mỹ dung dị, dân chủ của quần chúng nhân dân lao động Loại trừ một số trường hợp cá biệt có sự vênh lệch về tư tưởng của nhà văn với tư tưởng thời cuộc(dạng “đứa con hoang” hay “kẻ hành trình lỗi nhịp”), trong lịch sử văn học đa phần các nhà văn đều

cơ bản sáng tác trong tư cách là người đại diện và phát ngôn cho các

tư tưởng thống trị của thời cuộc Vậy là sự tương thông về tư tưởng giữa nhà văn với thời cuộc là một quy luật phổ quát Nó hằn sâu vào trong ý thức sáng tạo của các nhà văn như một định mệnh không dễ gì chối bỏ M.Gorky đã từng khẳng định mạnh mẽ mối quan hệ bền chặt đó: “Nhà văn là lỗ tai, là con mắt, là tiếng nói của một giai cấp nhất định Nhà văn có thể không ý thức về điều đó nhưng bao giờ nhà văn cũng là một bộ phận, là một cảm quan của giai cấp”1

Nhà văn sáng tạo bằng ánh sáng hướng đạo của ý thức hệ tư tưởng của giai cấp mà họ phụng sự Nguồn sáng tư tưởng ấy sẽ giật dây, điều khiển mọi hành vi sáng tạo của nhà văn đến từng câu chữ , qua từng chi tiết nghệ thuật Lý tưởng mà họ tuyên truyền, lý luận mà

họ đề xuất, ý nghĩa tư tưởng nhân sinh mà họ triển khai đều không vượt ra ngoài giới hạn không gian tư tưởng của thể chế chính trị mà họ tôn thờ

Tư tưởng và công tác tư tưởng thời cuộc không chỉ chi phối hành vi sáng tạo của các nhà văn mà còn góp phần định hướng cho cả

ý thức tiếp nhận của đông đảo người đọc tác phẩm văn học.Cho dù

1

M.Gorky: Bàn về văn học Nxb Văn học, H 1965, tập 1, tr217

Trang 30

hiệu quả đọc tác phẩm phụ thuộc nhiều yếu tố như: trình độ văn hóa, nghề nghiệp, cá tính, tuổi tác song lập trường tư tưởng và tình cảm giai cấp vẫn là yếu tố đóng vai trò quyết định Lập trường tư tưởng và tình cảm gai cấp sẽ là nguồn cảm hứng chủ đạo làm điểm tựa cho người đọc soi chiếu tác phẩm theo những xu hướng cụ thể: hoặc biểu dương, khen ngợi hoặc phản bác, chê bai Nếu sáng tác luôn gắn bó mật thiết với tư tưởng thì hành vi đọc của độc giả cũng luôn cần có sự hướng đạo của một nguồn sáng tư tưởng nhất định Khi người đọc được trang bị thấu đáo bởi một tư tưởng tiên tiến, họ sẽ có được tâm thế chủ động trong việc phát hiện và đào thải cái xấu, bênh vực và khuyến dương cái tốt cái thiện Do vậy công tác tư tưởng hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào việc taọ lập sức mạnh đối trọng

tự giác của cộng đồng trước các giá trị văn nghệ tiêu cực Sự đối trọng tích cực của tiềm năng tư tưởng văn hóa tiến bộ bao giờ cũng là lực cản tốt nhất đối với các xu hướng văn học nghệ thuật phản tiến bộ, phản nhân văn Rõ ràng trong những giới hạn nhất định, công tác tư tưởng rất cần phải quan tâm tới dư luận của quảng đại công chúng bạn đọc thông qua các phương pháp điều tra, tiếp cận khoa học tin cậy Từ các kênh tiếp nhận của người đọc, công tác tư tưởng có thể có được những nhận thức và quyết sách chỉ đạo phù hợp đối với đời sống tư tưởng văn hóa của cộng đồng

Văn học tiếp nhận và quảng bá các giá trị tư tưởng tích cực từ quá trình công tác tư tưởng của thể chế chính trị quốc gia nhưng văn học không bao giờ tiếp nhận tư tưởng một cách giản đơn theo lối hô khẩu hiệu hoặc tầm chương trích cú các mỹ từ tư tưởng mà áp đặt hay mệnh lệnh cho người đọc Ở đây có mối quan hệ tương tác hai chiều hết sức linh hoạt và tế nhị Văn học thâu nhận từ quá trình công tac tư

Trang 31

tưởng những nguyờn lý tư tưởng- nghệ thuật để hậu thuẫn trực tiếp cho quỏ trỡnh sỏng tạo, song chớnh quỏ trỡnh sỏng tạo tớch cực của cỏc nhà văn ưu thời mẫn thế nhiều khi lại gúp phần làm cho tầm tư tưởng của thời cuộc trở nờn phong phỳ, tinh tế hơn nhờ khả năng biểu đạt tài hoa của cỏc nghệ sỹ ngụn từ Lịch sử văn minh nhõn loại đó chứng minh tớnh năng động của hỡnh thỏi ý thức xó hội đặc thự này trong việc gúp phần làm giầu cho cỏc hỡnh thỏi ý thức xó hội khỏc trong đú cú tư tưởng chớnh trị Văn học cụ thể húa cỏc dạng thức tư tưởng để người đời cú cơ hội “nhỡn thấy” tư tưởng trong trạng thỏi sinh động và gần gũi nhất Tư tưởng núi chung, cụng tỏc tư tưởng núi riờng khi nhờ vào những hỡnh tượng nghệ thuật đầy ỏm ảnh của văn chương sẽ cú khả năng bỏm rễ bền chặt hơn vào đời sống tinh thần của cộng đồng

Bất kỳ tỏc phẩm văn học nào cũng là sự phỏt ngụn về một vấn đề

tư tưởng, thực hiện chức năng cổ xỳy cho một tư tưởng thiờt yếu nào

đú của cuộc sống và bất kỳ cụng tỏc tư tưởng nào cũng khụng thể khụng bao hàm trong đú nội dung tuyờn truyền và quảng bỏ tư tưởng bằng văn chương Mối quan hệ giữa văn học và cụng tỏc tư tưởng do vậy là mối quan hệ cộng hưởng sức mạnh cho nhau, nương nhờ vào nhau để cựng thực thi nhiệm vụ tuyờn truyền và cổ vũ cho cỏc giỏ trị

tư tưởng chõn chớnh của thời cuộc.Chăm xới cho mối quan hệ này luụn luụn ổn định và hài hũa là trỏch nhiệm quan trọng của những người làm cụng tỏc tư tưởng trong đú cú cả cỏc nhà văn và cỏc chuyờn gia

về cụng tỏc tư tưởng

1.2 Vai trò tỏc dụng của văn học đối với công tác tư tưởng

1.2.1 Văn học hình tượng hóa các nội dung công tác tư tưởng

Khác với các hình thái ý thức xã hội khác vốn thiên về nhận thức thế giới theo phương thức lý tính khái quát, văn học nghệ thuật không

Trang 32

loại trừ sắc thái lý tính nhưng đặc biệt phát huy ưu thế của hình thức nhận thức thực tại thông qua hình tượng cảm tính Thế giới hình tượng trong tác phẩm văn học nghệ thuật là những thực thể tồn tại cụ thể sinh

động mà người đọc có thể hình dung, tưởng tượng thấy một cách xác thực trong quá trình lĩnh hội tác phẩm Trong lịch sử công tác tư tư tưởng,các chủ thể tuyên truyền thường khai thác và vận dụng ưu thế

đặc trưng tạo dựng hình tượng theo lối trực cảm sinh động của văn học

để tác động tình cảm của người tiếp nhận về các nội dung cụ thể của công tác tư tưởng Cuộc hành trình của trí tuệ con người khó có thể tiếp cận chân lý nếu bỏ qua “nẻo đường” khám phá thế giới bằng các hình thức nhận thức cảm tính sinh động Trong điều kiện tư duy hạn chế, mặt bằng dân trí chưa phát triển, cách thức tuyên truyền bằng hình tượng hình ảnh giầu phẩm chất văn học là con đường tối ưu để phổ cập hoá những nội dung tư tưởng trừu tượng, khái quát Đây là cách thức tuyên truyền sinh động, tác động trực quan vào cảm quan nhận thức của đối tượng tiếp nhận Văn học là hình thái ý thức có tiềm năng dồi dào về phương diện này Không phải ngẫu nhiên, hầu hết dụng tâm tuyên truyền cổ động cách mạng của Hồ Chí Minh đều thông qua con đường văn học, nhờ văn học vén mở chân lý cần nhận thức cho

quần chúng cách mạng cỏc truyện viễn tưởng Nhật ký chìm tàu, Giấc

ngủ mười năm… của Người chính là bức tranh lý tưởng về cuộc sống

mới xã hội chủ nghĩa của nhân loại mà các dân tộc bị áp bức đang thiết tha vươn tới hồi đầu thế kỷ XX Dưới hình thức kể chuyện, thông qua các hình tượng nghệ thuật sống động Hồ Chí Minh đã phác vẽ ra những thiên đường lý tưởng giữa trần gian cơ cực để khích lệ ý chí và nghị lực của nhân loại cần lao trong cuộc đấu tranh thoát khỏi chế độ người bóc lột người tàn khốc Tuyên truyền cổ vũ niềm tự hào dân tộc chân chính qua bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước oanh liệt,

Trang 33

Hồ Chí Minh không sử dụng hình thức biện giải theo lối chính luận khoa học hoặc khái lược sự kiện theo tuyến tính thông thường của các

sử gia, Người đã rất linh hoạt khi vận dụng hình thức diễn ca lịch sử dân tộc dưới hình thức thể thơ lục bát quen thuộc để viết “Lịch sử nước ta” – một tác phẩm tuyên truyền nổi tiếng bằng thơ Nhiều tác

phẩm tuyên truyền cách mạng nổi tiếng khác của Người như: Việt Nam

yêu cầu ca (liên quan đến Yêu sách của nhân dân Việt Nam); Địa dư nước ta; Ca đội tự vệ đã vận dụng thuần thực thi pháp thơ ca dân gian

truyền thống, trở thành nơi “diệu ngộ” kỳ thú giữa tư tưởng cách mạng hiện đại và tài hoa biểu đạt sinh động theo lối văn chương Bên cạnh

các tác phẩm: Kinh nghiệm du kích Pháp, kinh nghiệm du kích Tàu, Ca

đội tự vệ là một trong những kỳ công tuyên truyền thông qua con

đường văn học Theo tác giả Lữ Huy Nguyên: “Bài thơ để hát này toát lên một tinh thần cách mạng triệt để, không chỉ nhằm làm cho các buổi huấn luyện quân sự thêm sinh động mà còn có tác dụng rất lớn về mặt tư tửong, người chiến sĩ được nâng cao thêm tinh thần cách mạng tấn công và vũ khí tự vệ trong tay họ cũng trở thành vũ khí tư tưởng

Nó toát lên niềm tin tưởng không gì lay chuyển vào thắng lợi cuối cùng và tất yếu của cách mạng Việt Nam” (1) Rõ ràng tuyên truyền bằng các hình thức biểu đạt theo lối văn học đã giúp cho chủ thể tuyên truyền cụ thể hoá các tư tưởng lý luận trừu tượng một cách sinh động, tác động trực tiếp vào lý trí và tình cảm của người tiếp nhận

Âu Châu vốn có truyền thống biểu đạt tư tưởng dưới hình thức lý luận khái quát giàu màu sắc lý tính, vậy mà trong lịch sử tư tưởng ở

đây, các tư tưởng gia lỗi lạc như: Mông te nhờ, Hai nơ, Lét sing,

Điđơrơ vẫn chủ động nắm lấy sức mạnh văn học và sử dụng văn học

(1)

Lữ Huy Nguyên – Từ tâm huyết cứu nước đến sáng tạo nghệ thuật – Nxb Văn hoá, H, 1990, tr

203

Trang 34

đắc lực trong quá trình phổ cập các thành tựu nghiên cứu khoa học, triết học, mỹ học của mình Cuốn “Essai Môngtênhơ” thực chất là một công trình nghiên cứu và phổ cập các vấn đề triết lý về nhân sinh thế

sự song lại thẫm đấm phẩm chất văn chương ở lối nói, cách viết giàu hình tượng, hình ảnh, giàu khả năng tác động mỹ cảm đối với người đọc

Khác với các nội dung tuyên truyền về văn hoá, văn nghệ, những nội dung tuyên truyền cổ động về các vấn đề chủ trương chính sách,

đường lối chính trị, kinh tế, ngoại giao nhìn chung thường rất trừu tượng và khô khan Người tuyên truyền tài hoa về các lĩnh vực này, ở những chừng mực nhất định, nếu biết “mềm hoá” các thông tin cứng nhắc bằng các khả năng biểu đạt sinh động, họ vẫn tạo dựng được ấn tượng lý thú cho khách thể tiếp nhận Sự xuất hiện đúng lúc đúng chỗ của các thông tin thẩm mỹ văn chương có tác dụng như những giọt nước mát giảm thiểu độ căng lý trí cho người tiếp nhận trước các thông tin trung tính, duy lý nặng nề Thực tế cho thấy, trong hoạt động của các đội thông tin lưu động hiện nay, các chủ thể tuyên truyền thường khéo léo đan cài các tiết mục văn nghệ nhằm hỗ trợ đắc lực cho các nội dung tuyên truyền cụ thể ở những nơi họ đến Nội dung tuyên truyền sẽ trở nên ấn tượng hơn một khi chúng được hình tượng hoá bởi các câu thơ, điệu hát, các trích đoạn chèo, tuồng, tấu, múa… Có thể nói rằng công tác tư tưởng sẽ thực sự có sức cuốn hút tình cảm người tiếp nhận nếu biết phát huy sức mạnh đặc trưng của văn học nghệ thuật Với những nội dung tư tưởng mang sắc tháI trừu tượng kháI quát, hiệu quả tuyên truyền,vận động sẽ hạn chế nếu chủ thể tuyên truyền chỉ đơn nhất dựa vào phương thức tuyên truyền lý trí khô khan theo lối áp đặt cứng nhắc

1.2.2 Văn học góp phần đa dạng hoá phương thức tuyên truyền,vận động và quảng bá tư tưởng

Trang 35

Trên bình diện đặc trưng tư duy sáng tạo, văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù có thiên chức tác động mỹ cảm nổi bật Nhưng dưới góc nhìn hiệu ứng tác động nhận thức đối với xã hội thì văn học ít nhiều mang chức năng tuyên truyền giáo dục đối với con người Trong những điều kiện lịch sử cụ thể, chức năng tuyên truyền, giáo huấn của văn học, đặc biệt được đề cao Thời đại văn học nào cũng có một dòng chảy văn học giáo huấn mạnh mẽ Nhìn vào văn học

có thể hình dung được lý tưởng phụng thờ của cộng đồng dân tộc về một hình mẫu đạo đức, tư tưởng chính trị,… nhất định Thơ Thiền thời

Lý, Trần đóng vai trò chủ âm trong việc bày tỏ nhãn quan tôn giáo của các chủ thể sáng tạo Thơ ca cách mạng tời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh

1930 – 1931 là dòng thơ tuyên truyền đắc lực cho xu thế phản đế bài phong dưới sự lãnh đạo của Đảng Thời kỳ đầu đổi mới đất nước năm

1986, văn học đi tiên phong trong việc tuyên truyền, cổ vũ các nhân tố mới, tạo đà cho sự chấn hưng của công cuộc đổi mới đầy cam go Nhiều tác phẩm văn học thời kỳ đầu đổi mới có ý nghĩa như nhừng trái phá đột khẩu để mở đường cho sự nghiệp đổi mới đất nước toàn diện

(Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc; Người đàn bà quỳ của Trần Khắc; Người đàn ông ôm 7kg đơn của Xuân Ba; Cù lao tràm,

Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn…)

Nói văn học góp phần đa dạng hoá các phương thức tuyên truyền, vận động và quảng bá tư tưởng là nói đến sự đa dạng của chính các phương thức phản ánh đời sống, cách thức tổ chức tác phẩm và hình thức giao tiếp nghệ thuật của chính hệ thống các thể loại văn học mang lại Dường như trong gia đình văn chương nghệ thuật, các thể loại, thể tài văn học đa dạng đến đâu thì kéo theo hệ quả đa dạng đến chừng ấy của các phương thức tuyên truyền, cổ vũ tư tưởng Hệ thống văn học tư liệu, văn học tả chân mở ra sự đa dạng ở các hình thức

Trang 36

tuyên truyền vổ vũ người thật, việc thật những điển hình tiên tiến Hệ thống văn chương thẩm mỹ (hay mỹ văn - La belle Lettre) mở ra chân trời vô tận cho sự tuyên truyền cổ vũ các giá trị chân, thiện, mỹ không chỉ trong thực tại mà cả trong các chiều quá khứ hay tương lai, không chỉ trong đời sống vật chất hữu hình mà cả trong không gian tâm tưởng vô hình, hỗn mang của thế giới nội cảm con người

Với đặc trưng tuyên truyền giáo dục thông qua hình tượng, văn học không có được sức mạnh áp chế như pháp luật, chính xác như khoa học, ràng buộc như đạo đức song bù lại nhận thức chân lý có được từ hình tượng nghệ thuật là nhận thức được kết tinh từ tình cảm máu thịt, vô tư, phi vụ lợi nên có khả năng lưu đọng bền chắc Những áng văn, những vần thơ mang sức mạnh thần kỳ có thể khiến người đời cùng cười, cùng khóc với số phận của các nhân vật hoặc chủ thể trừ tình Vì vậy hiệu quả tuyên truyền bằng văn học cũng tựa như một thứ “thần dược” có sức mạnh khôn lường Hãy thử hình dung trong lịch sử tuyên truyền của nhân loại: nếu thiếu đi sự tồn sinh của văn học thì hành trang các phương tiện tuyên truyền, quảng bá tư tưởng của loài người

sẽ thật giản đơn vì chỉ bó hẹp trong một hệ thống các phương thức tuyên truyền lý trí, áp đặt hoặc khuyến dương, tán thưởng chung chung của pháp luật hoặc đạo đức… Sức mạnh tuyên truyền cổ vũ sẽ giảm thiểu nhường nào nếu thiếu đi những lối nói, cách viết thật sự ám ảnh

và ấn tượng của văn chương, nếu không còn những hình tượng nghệ thuật bất tử nhờ đã chạm, đã khảm vào trong cõi sâu thể phách tâm linh của con người Ở bất kỳ hoàn cảnh lịch sử nào, văn học bao giờ cũng là phương tiện tuyờn truyền và cổ vũ đắc lực cho cụng tỏc tư tưởng của thể chế chớnh trị thời cuộc Thể chế chớnh trị nào khai thỏc tốt hiệu quả của văn học, thể chế ấy dễ cú được cơ hội tạo dựng uy danh và giỏ trị bền vững của mỡnh giữa niềm tin của cả cộng đồng dõn tộc

Trang 37

1.2.3 Văn học góp phần lan toả hiệu ứng tác động của công tác tư tưởng trên những trường diện không hạn định

Như đã nói, công tác tư tưởng dưới thể chế chính trị hay bối cảnh lịch sử nào cũng thấm nhuần tính giai cấp Dưới trường nhìn giai cấp chính thống, công tác tư tưởng của một quốc gia khó có cơ hội tạo dựng được hiệu quả tuyên truyền, cổ vũ tư tưởng của mình đến các quốc gia dân tộc khác trong điều kiện các quốc gia dân tộc đó có thể chế chính trị, thiết chế tư tưởng hay quan niệm đạo đức nhân sinh,pháp luật… trái ngược Văn học không chỉ mang tính chất giai cấp, sinh mệnh của một nền văn học chân chính còn mang tính nhân loại phổ quát Nhân loại tìm thấy các giá trị đồng điệu từ tiếng nói chân, thiện,

mỹ của văn chương Không thể phủ nhận khả năng nối kết tình thân ái

đồng loại của văn chương chân chính Cổ kim Đông Tây Vì vậy tác phẩm văn chương kiệt xuất của dân tộc này cũng chính là tài sản trí tuệ chung của các dân tộc khác trên hoàn vũ Lý do đơn giản là nhân loại có thể khác nhau về sắc tộc, màu da,thể chế chính trị… nhưng lại

có chung khát vọng đam mê sáng tạo và thụ hưởng các giá trị “theo quy luật của cái đẹp” (K Mác) Khám phá giá trị văn chương của một dân tộc, người đọc có thể tiếp nhận cùng lúc nhiều kênh thông tin đa diện về dân tộc đó trên mọi mặt kinh tế, văn hoá, chính trị Cũng như vậy, những thiện tâm ký thác và chia sẻ các giá trị tư tưởng cụ thể của dân tộc này tới một dân tộc khác qua văn học sẽ dễ có cơ hội được lan toả mạnh mẽ, sâu rộng tới tận hang cùng ngõ hẻm của quốc gia khác Truyền bá, cổ xuý cho một điệu múa, một bản nhạc hay một tư tưởng học thuật hoặc tôn giáo nào đó chắc chắn sẽ không thuận lợi như truyền bá một tác phẩm văn nghệ dưới dạng văn bản in ấn hoặc ngày nay thường truyền tải qua mạng internet.Chỉ cần qua thao tác chuyển ngữ,các dân tộc đã có thể tri âm cộng cảm với nhau trong một nỗi

Trang 38

niềm chung Vì vậy hiệu quả tuyên truyền nhờ con đường văn học và bằng hình tượng nghệ thuật sẽ thực sự toả rộng đến vô cùng Chỉ cần bước qua rào cản ngôn ngữ, tác phẩm văn học sẽ chuyên chở nguyên vẹn mọi ý đồ tư tưởng cần tuyên truyền cổ vũ từ dân tộc này đến dân tộc khác một cách nhanh chóng và giản tiện Có thể sẽ có chuyện thanh lọc các nội dung tư tưởng mang nhãn quan chính trị hay đạo

đức… đối lập song những giá trị tư tưởng mang tính nhân loại phổ quát ít nhiều sẽ được người đọc ưu thời mẫn thế chia sẻ, cộng cảm để tình người có cơ hội xích lại gần nhau hơn Có thể trong lịch sử ngoại giao quốc tế, trước khi có mối quan hệ mang tính chất quan phương chính thức về mặt nhà nước, từ rất sớm, các dân tộc, các quốc gia đã tìm đến với nhau, thậm chí sống trong nhau qua những trường đoạn cảm xúc chân thành do con đường giao lưu văn hoá nghệ thuật đem lại (Người Việt biết đến văn hoá nghệ thuật Hy Lạp, các nước ả Rập, Ấn

Độ từ rất sớm trước khi có sự thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với các nước này) Rõ ràng sự tuyên truyền ,quảng bá về văn hoá nghệ thuật đã diễn ra một cách tự nhiên, vô tư trong lịch sử giữa các dân tộc mặc dù giữa các quốc gia có thể chưa hề có những quan hệ ngoại giao chính thức nào Thậm chí ngay cả khi giữa các dân tộc đang còn trong tình trạng đối đầu,chống phá lẫn nhau về chính trị, ngoai giao, quân

sự, kinh tế…, nhưng sự giao lưu ảnh hưởng về văn học nghệ thuật vẫn

có thể vẫn diễn ra bình thường như một nhu cầu hướng thiện không thể nào ngăn cách, phong tỏa Do vậy lấy văn học để tuyên truyền cổ vũ những giá trị tư tưởng nhân văn nhân bản của một dân tộc tới các quốc gia dân tộc khác trên thế giới là một cách mở rộng trường diện tuyên truyền tư tưởng đắc địa Y thức rõ khả năng lan toả về sức mạnh phổ cập rộng rãi của văn học, bấy lâu nay các thế lực thù địch ở hải ngoại vẫn thường ráo riết sử dụng văn học như một phương tiện văn hóa lợi

Trang 39

hại để tiến hành chiến dịch “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng trong nước Nếu không có sách lược và chiến thuật công tác tư tưởng hiệu quả, các loại văn hoá phẩm độc hại ấy sẽ có thể là những liều

“độc dược” giết dần từng tế bào sống trên cơ thể cộng đồng quốc gia dân tộc chúng ta về mặt tinh thần Có thể nói công năng tác động của tuyên truyền,vận động qua văn học không chỉ toả rộng trên trường diện vô hạn về địa lý mà còn có thể săm sới tới mọi ngõ ngách tâm linh trong cõi vi mô thẳm sâu của mỗi con người trong mỗi quốc gia dân tộc nữa

1.3 Ưu thế đặc trưng của văn học trong cụng tỏc tư tưởng

Bản chất đặc trưng của mỗi loại hỡnh nghệ thuật là ở chất liệu kiến thiết nờn hỡnh tượng của nú Chất liệu của mỗi loại hỡnh nghệ thuật sẽ quy định những ưu thế cũng như sự hạn chế của nú trong khả năng phản ỏnh và tỏc động đến con người trong đú cú cụng tỏc tư tưởng Lấy ngụn từ làm chất liệu tạo lập văn bản nghệ thuật,văn học

đó tỏ rừ những ưu thế đặc trưng vượt trội của mỡnh về cong tỏc tư tưởng trong tương quan đối sỏnh với cỏc loại hỡnh nghệ thuật khỏc

1.3.1.Văn học cú ưu thế miờu tả ngụn ngữ và bày tỏ trực tiếp

cỏc khuynh hướng tư tưởng của con người

Văn bản tỏc phẩm văn học là một hệ thống cỏc phỏt ngụn (phỏt ngụn của người trần thuật, nhõn vật kể chuyện, nhõn vật trữ tỡnh…)

Để lưu đọng dấu ấn cỏ nhõn của cỏc chủ thể phỏt ngụn, nhà văn phải

cú ý thức miờu tả những phỏt ngụn ấy Miờu tả và phản ỏnh cỏc hoạt động ngụn từ của con người là một ưu thế vượt trội của văn học so với cỏc loại hỡnh nghệ thuật khỏc Trừ sõn khấu, điện ảnh… vốn khỏ tổng hợp cũn hầu hết cỏc loại nghệ thuật khỏc đều khụng cú chỗ đứng trọn vẹn cho cỏc nhõn vật đang thực thi hoạt động ngụn ngữ của mỡnh

Trang 40

như ở văn học Nhà nghiên cứu Xô Viết nổi tiếng Bakhtin từng khẳng định: “Ngôn từ chẳng những là phương tiện miêu tả, mà còn là đối tượng miêu tả của văn học nữa”(1)

Trước hết nhờ ngôn ngữ, hình tượng các nhân vật văn học được

cá tính hoá sắc nét Sự khoác lác, khoe mẽ của Sở Khanh đã tự phơi trần và lột tả qua lời nói của y với Thuý Kiều:

Nàng đà biết đến ta chăng,

Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi

Sự khôn ngoan nanh nọc của bà Nghị, bản chất hiền lành chất phác song cũng rất kiên quyết trước sự đè nén của chị Dậu… đều đã được hiện hữu sinh động qua sắc độ ngôn ngữ của mỗi nhân vật trong

tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố Cái nhìn của điêu khắc và hội hoạ

dẫu rất sâu sắc, tinh tế nhưng “vô ngôn” Hội hoạ, điêu khắc nói bằng

sự im lặng Âm nhạc gợi lên những tình cảm đa dạng song đó vẫn là những phần “không lời” của hiện thực”(1) Nhờ văn học, ta có thể nghe thấy tiếng nói đặc trưng của mọi tầng lớp người thuộc các thời đại khác nhau Có thể khám phá đặc điểm văn hoá, phong tục, đời sống tình cảm, tư tưởng của các thời đại đã qua nhờ vào các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đẻ từ đó suy nghĩ và chiêm nghiệm về những bài học tư tưởng nào đó Văn học là loại hình nghệ thuật không chỉ tham gia đắc lực vào sự nghiệp chuẩn hoá ngôn ngữ quốc gia mà còn góp phần gìn giữ và phát triển các giá trị tư tưởng của dân tộc về mọi lĩnh vực qua các thời đại

Ngày đăng: 19/04/2014, 18:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w