1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài : Các khuynh hướng cơ bản của lý luận văn học hiện đại trên thế giới và việt nam

320 969 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các khuynh hướng cơ bản của lý luận văn học hiện đại trên thế giới và Việt Nam
Tác giả GsTsKh Bùi Văn Ba, GsTsTrần Đình Sử, PgsTsLa Khắc Hòa, PgsTsKh Nguyễn Nghĩa Trọng, PgsTsLê Lưu Oanh, PgsTsTrần Mạnh Tiến, PgsTsPhùng Ngọc Kiếm, PgsTsNguyễn Văn Dân, PgsTsNgô Văn Giá, PgsTsNguyễn Duy Bắc
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 320
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU: MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU Nếu bản Tóm tắt ngắn gọn lại có kèm theo Phụ lục về kết quả các hoạt động khác, thì bản báo cáo Tổng hợp này tuy có độ dài gần mấy trăm

Trang 1

BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX03/06-10

Đề tài: CÁC KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN

CỦA LÝ LUẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Mã số:KX.03.04/06-10

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chủ nhiệm đề tài:GsTsKh BÙI VĂN BA

Cơ quan chủ trì:ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

7882

22/4/2010

Hà nội 2009

Trang 3

MỤC LỤC:

Mở đầu:Mục đích và phương pháp luận nghiên cứu T.4 PHẦN MỘT: LÝ LUẬN VĂN HỌC THẾ GIỚI THẾ KỶ XX 8

Chương Một:Lý luận văn học Âu Mỹ thế kỷ XX 8

Chương Hai:Lý luận văn học Nga và Đông Âu thời hậu Xô-viết 53

Chương Ba:Lý luận văn học Trung quốc thời Cải cách mở cửa 77

PHẦN HAI:LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX 97

Chương Bốn:Lý luận văn học Việt nam giai đoạn1900-45 98

Chương Năm:Lý luận văn học Việt nam giai đoạn1945-85 128

Chương Sáu:Lý luận văn học Việt nam thời kỳ Đổi mới sau1986 154

PHẦN BA;CÁC GIẢI PHÁP CHO CON ĐƯỜNG HIỆN ĐẠI HÓA LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY 174

Chương Bảy:Xác lập phương hướng Dân tộc-hiện đại trong nghiên cứu lý luận văn học 174

Chương Tám:Xây dựng hệ thống chương trình giảng dạy lý luận văn hoc cho các cấp học (Cử nhân,Thạc sĩ,Tiến sĩ) 216

Kết luận 251-264 Tài liệu tham khảo: Danh mục sách báo 5 thứ tiếng Việt,Trung Nga,Anh,Pháp—20trang)

Trang 4

MỞ ĐẦU: MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

Nếu bản Tóm tắt ngắn gọn lại có kèm theo Phụ lục về kết quả các hoạt động

khác, thì bản báo cáo Tổng hợp này tuy có độ dài gần mấy trăm trang, nhưng lại chỉ

tập trung vào kết quả nghiên cứu của các đề tài nhánh: I)Lý luận văn học thế giới

thế kỷ XX; II)Lý luận văn học Việt nam thế kỷ XX ;III)Các giải pháp cho con đường

hiện đại hóa nền lý luận văn học Việt nam( 1160 trang ) Kết quả nghiên cứu không

thể tách rời với mục đích và phương pháp nghiên cứu, những điều vốn đã được trình bày cặn kẽ cùng với các vấn đề khác trong bản Thuyết minh trước đây, nay chỉ xin

nhắc lai những điểm cần thiết

Hầu như bất cứ nền văn học lớn nào trên thế giới đều vốn có cơ sở lý luận phong phú và sâu sắc của họ.Vốn không thừa hưởng được truyền thống giàu có về thi học,nền văn học của chúng ta hôm nay, tuy đường lối quan điểm là cốt lõi, nhưng không được nghèo nàn, mà phải tiến lên xây dựng cho được một nền lý luận

văn học phong phú mà vững chắc, vừa giữ vững định hướng, vừa hàm chứa cho được những tinh hoa thi học của dân tộc và nhân loại, thì mới đủ sức giải quyết

những vấn đề văn học trong thế kỷ mới,với bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay Tất nhiên tinh hoa thi học của dân tộc và nhân loại là vô cùng, nhưng trước mắt hãy bắt tay từ thế kỷ XX như mục đích và yêu cầu của đề tài này là một bước khởi đầu cực

kỳ quan trọng và bức thiết

Về mặt phương pháp nghiên cứu,thì trước hết không phải ở chỗ tuyên bố suông những phương pháp mới lạ, mà ở chỗ có vận dụng nó một cách thích hợp và hữu hiệu vào đối tượng nghiên cứu hay không? Việc nghiên cứu lý luận văn học hiên nay ở nước ta thường phiến diện và sai lạc chỉ vì không nghiêm túc quán triệt những phương pháp nghiên cứu cơ bản.Cho nên ở đây dù chỉ xem như những thí dụ giản đơn cũng cần lưu ý lai những phương pháp thông dụng như sau:

+ Phương pháp hệ thống: Phải xem đối tượng nghiên cứu như một hệ thống, thì điều sơ khởi là phải khảo sát cho hết những thành phần và những yếu tố cơ bản của nó Thí dụ nói phải tiếp thu tinh hoa lý luận văn học thế giới thì đúng quá,

Trang 5

nhưng thế giới không phải chỉ có phương Tây, mà còn có phương Đông Ngay riêng

lý luận văn học phương Tây trong thế kỷ vừa qua cũng có đến hơn vài mươi trường phái cơ bản Tránh lối xuất phát từ sự dị ứng nào đó đối với tình hình trong nước, rồi tìm được một sự đối lập từ một trường phái nào đó ở phương Tây để thổi phồng bơm to nó lên cho đó hầu như là toàn bộ lý luận phương Tây Thật ra ở phương Tây đâu chỉ có loại lý luận tiếp cận nội tại từ văn bản (Chủ nghĩa hình thức, Phê bình mới, Chủ nghĩa cấu trúc.v.v…), mà còn có nhiều loại hình lý luận tiếp cận văn học

từ hiện thực đến chủ thể sáng tạo cũng như chủ thể tiếp nhận, qua các chuyên ngành xã hội học, tâm lý hoc., văn hoá học.v.v…Không nên lúc nào quên rằng lý luận phương Tây thế kỷ XX lắm trường phái như thế,cho nên trường phái này phê phán trường phái kia là bình thường Cho nên nếu bây giờ chúng ta ca ngợi một chiều trường phái nào đó,thì sẽ liền gặp đối thủ và bị mua cười ngay ở phương Tây

+ Phương pháp lịch sử với yêu cầu tối thiểu là phải xem xét đối tượng nghiên cứu trong sự diễn biến của nó Điều này đòi hỏi phải được quán triệt ở tất cả các cấp độ từ vĩ mô đến vi mô Thí dụ lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX đâu chỉ dừng ở lý luận hiện đại, mà đã diễn biến thành lý luận hậu hiện đại, thậm chí còn đến lý luận “Sau hậu hiện đại”(Beyond postmodernism) Rồi một trường phái như chủ nghĩa cấu trúc cũng đã diễn biến qua “Chủ nghĩa cấu trúc sinh thành” (structuralisme génétique) đến “chủ nghĩa hậu cấu trúc”(Post-structuralisme) Ngay như chỉ lý thuyết về “tâm thức bộ”(psychisme) với kết cấu tâm lý ba tầng của chính S.Freud,nhưng cũng là mang những nội dung khác nhau trước và sau năm 1920.v.v… Có thể thấy nếu không tư duy theo những phương pháp cơ bản,thì sẽ có nguy cơ “sai một ly, đi một dặm”

Tất nhiên những phương pháp cơ bản tỏ ra không đủ đối với một đối tượng nghiên cứu cực kỳ phong phú phức tạp mà mục tiêu lại rất tập trung như đề tài này Tuy ở đây không đặt vấn đề phải trình bày sự đối sánh trực diên, nhưng trong tư duy,buộc người nghiên cứu phải cọ xát, đối chiếu giữa nhiều trường phái lý luận ở nhiều nước khác nhau,lại chú ý hơn những điều bổ ích cho nền văn học Việt nam ngày nay Như thế ở đây phải vận dụng lý thuyết và phương pháp của một chuyên

Trang 6

ngành khoa học còn khá mới mẻ ở nước ta, đó là Thi học so sánh (Comparative poetics) Ở đây chỉ xin nêu mấy điều có thể vận dụng vào đề tài này Một là Thi học

so sánh nội văn hoá (Intracultural comparative poetics) rất phù hợp với việc so sánh

Thi học giữa ta với Trung quốc,cùng ý thức hệ và gần gũi về ngọn nguồn văn hoá Nhưng chớ có phóng đại về sự tương đồng để rồi bệ nguyên si tất cả những gì của Trung quốc, bởi vì ở đây còn có những sự khu biệt về lịch sử và tâm lý dân tộc Thứ

hai là Thi học so sánh xuyên văn hoá (Intercultural comparative poetics) rất thích

hợp với việc so sánh thi học giữa ta với Nga (hiện nay) và nhất là Âu Mỹ, vì khác biệt về ý thức hệ và ngọn nguồn văn hoá Nhưng cũng chớ thổi phồng sự khác biệt,

vì ở đây vẫn có những quy luật chung về tiến trình lịch sử và tâm lý nhân loại, nghĩa

là vẫn có những khía cạnh tương thích trong hấp thu, miễn là phải tinh tế trong việc vượt qua những khác biệt về ngọn nguồn văn hoá và ý thức hệ…

Nói rộng vấn đề ra, thì cần phải thấy thêm đề tài này buộc phải tiếp cận với nhiều hiện tượng lý luận đông tây vốn không thể cùng khuynh hướng quan điểm với chúng ta,thì phương pháp tư tưởng bao trùm là phải như thế nào? Không gì tốt bằng

ra sức học tập thái độ của các tác gia kinh điển đối với các hệ tư tưỏng khác, chẳng hạn đối với triết học Hégel thì vứt bỏ chủ nghĩa duy tâm dù là duy tâm khách quan,nhưng gạn lọc lai “hạt nhân hợp lý” là phép biện chứng Anghen có nói rõ là triết học Hégel mang kết cấu duy tâm” chỉ ở bộ xương và khung tứ chi trong toà kiến trúc của nó; nhưng chỉ cần mọi người không dừng bước trứơc nó một cách vô vị,mà đi sâu vào toà lâu đài sẽ phát hiện ra vô số châu báu mang giá trị dồi dào cho mãi đến ngày nay” Đánh giá chủ nghĩa duy tâm thông minh vẫn tốt hơn chủ nghĩa duy vật ngu xuẩn, Lênin khẳng định: “Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thô lổ, giản đơn, siêu hình, thì chủ nghĩa duy tâm triết học chỉ là một sự ngu xuẩn Trái lại, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì chủ nghĩa duy tâm triết học chỉ là một sự phiến diện thái quá (một sự thổi phồng bơm to) của một trong những đặc trưng, của một trong những mặt, của một trong những giới hạn của nhận thức thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự nhiên, thần

thánhhoá”(Bút ký triết học) Nên chi, nếu đứng vững trên mảnh đất thực tiễn, tước

Trang 7

bỏ đi sự tuyệt đối hoá, thần thánh hoá, do sự phiến diện thái quá tạo nên, thì chủ nghĩa duy vật biện chứng thường thu lại được những”hạt nhân hợp lý” trong chủ nghĩa duy tâm triết học, dù là duy tâm chủ quan hay khách quan Chúng tôi cho rằng những khái niệm như ấn tượng, trực giác,vô thức, hiện sinh.v.v… đều không phải bịa đặt, mà ít nhiều đều có căn cứ, cần phải được “cứu vớt” ra khỏi cái hệ thống mà chúng bị thổi phồng lên Và đúng như Lênin còn nói: “Bác bỏ một hệ thống triết học không có nghĩa là vứt bỏ nó, mà phải phát triển nó tiếp tục Không phải là thay thế nó bằng một cái đối lập phiến diện khác, mà phải đưa nó vào một cái gì đó cao

hơn” (Bút ký triết học) Cứu vớt hạt nhân hợp lý tức là đã’không vứt bỏ…không

thay thế nó bằng một cái đối lập phiến diện khác”, nhưng không phải giữ nguyên, hoặc gán ghép một cách máy móc,mà phải phát triển nó tiếp tục…phải đưa nó vào một cái gì đó cao hơn” Chúng tôi cho rằng trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử, cần đưa các khái niệm như trực giác, vô thức.v.v… vào hệ thông

lý luận văn học của chúng ta, miễn là phải xác định cho đúng vị thế của chúng với

tư cách là những yếu tố trong hệ thống đó Hiển nhiên đây sẽ là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu lâu dài của một tập thể đội ngũ chuyên gia tiếp theo Còn nhiệm vụ của đề tài này chỉ là khái quát sự vận đông của lý luận văn học tk XX của thế giói và Việt nam, trên cơ sở đó có nêu giải pháp thì cũng chỉ có tính chất phương hướng chung mà thôi Tuy nhiên dù chỉ là mô tả, tường thuật, phân tích đối tưọng thì bao giờ cũng tiềm ẩn ở bên sau những khuynh

hướng Do đó, môt khía cạnh quan trọng trong khuynh hướng đó là chỉ vứt bỏ cái hệ

thống bị thổi phòng bơm to có tính chất cực đoan, còn phải ra sức cứu vớt những hạt

nhân hợp lý Hiển nhiên tỉ lệ giữa vứt bỏ với cứu vớt là tuỳ theo đối tượng cụ thể,

không thể theo một chỉ số chung nào

Phương pháp là phải tương ứng với đôí tượng, nhưng vì đề tài này quá rộng,cho nên thật ra có hàm chứa một hệ thông đối tượng khác nhau về cấp độ và bình diện,do đó những khía cạnh phương pháp cụ thể sẽ được hoà tan trong khikhảo sát những đội tượng đó Ở phần Mở đầu này chỉ có thể và cần thiết nêu lên những điều tổng quát nhất mang tính chất phương pháp luận chung mà thôi

Trang 8

PHẦN MỘT LÝ LUẬN VĂN HỌC THẾ GIỚI THẾ KỶ XX

Căn cứ theo hướng dẫn của Bộ, Đề tài nhánh I) này gồm 3 tiểu nhánh là Lý

luận văn học Âu Mỹ thế kỷ XX, Lý luận văn học Nga và Đông Âu sau khi Liên xô

giải thể và Lý luận văn học Trung quốc trong thời Cải cách mở cửa

phần đầu khoảng 2/3 thế kỷ XX mà sau đây sẽ gọi là I) Lý luận văn hoc hiên đại

vẫn phải viết, nhưng chỉ nên ngắn gọn (chỉ 2 chuyên đề), vả chăng lý luận văn học hiện đại phương Tây dù sao cũng đã tương đối quen thuộc ở ta Ngay trong nhóm nghiên cứu chung tôi vốn cũng đã có công trình khá dày dặn về mặt này,nay không nên lặp lại Tất nhiên ngắn gọn không có nghĩa là tóm tắt sơ lược, mà phải có sự khái quát nâng cao về đặc điểm và diễn biến, nhất là về những loại hình cơ bản của

nó Tiếp theo, là phần II) Lý luận văn học hậu hiên đại Tất nhiên giữa lý luận văn

học hiện đại và hậu hiện đai không phải là một hố sâu ngăn cách tuyệt đối và lý luận văn học hậu hiện đại không phải nằm trọn trong hai mươi năm cuối thế kỷ Sự thật

là giữa những năm 60 trở đi đã có sự cài răng lược giữa chúng với nhau Dù sao lý luận văn học hậu hiện đại cũng còn khá mới mẻ ở ta,cần được nghiên cứu một cách

có hệ thống từ đầu (4 chuyên đề) Ngoài ra là phần Lý luận văn học mác-xít phương

Tây (2 chuyên đề) là một trào lưu lớn nhất chạy dài gần suốt thế kỷ, cũng là một loại

lý luận văn học mác-xít có giá trị tham khảo đối với nền Lý luận văn học Mác Lênin của chúng ta

Trang 9

A) LÝ LUẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

I)Đặc điểm và diễn biến của lý luận văn học hiện đại

Thế kỷ XX, khoa học phát triển siêu tốc, và có nhiều biến động xã hội lớn

lao.Ra đời trong bối cảnh như vậy, lý luận văn học hiện đại phương Tây không thể không có những thay đổi sâu rộng,cho nên trước hết cần có khái quát những

đặc điểm chung nhất của nó

1) Một nền lý luận đổi mới triệt để

Có thể nói với hệ thống đồ sộ của mình, mỹ học Hégel tk XIX tập trung nhiều

nhất những thành tựu và truyền thống của mỹ học phương Tây, nhưng cũng tràn đầy tính chất tư biện, lý tính cực đoan Các trường phái lý luận phê bình văn học lớn trong thế kỷ XX đều chống lại tính chất lý tính phi nhân bản, phi thực chứng đó Nhưng tuỳ theo trọng điểm phê phán, mà có thể phân loại tổng quát thành hai khuynh hướng chủ đạo, tất nhiên có chỗ giao thoa nhau là “thiên nhân bản”và “thiên

khoa học”, và đều đã manh nha từ cuối tk XIX Schopenhauer và Nietzsche đã xây

dựng hệ thống triết học và mỹ học duy ý chí (Voluntarism) mở đầu cho khuynh hướng xuất phát từ con người sinh tồn thực tế với những trạng thái hoặc yếu tố tâm lý của nó, để xây dựng những khái niệm hạt nhân của hệ thống triết học hoặc mỹ học phi lý tính chống lại Hégel Từ đây các trào lưu lý luận phê bình “thiên nhân bản” dồn dập ra đời đầu tk XX: chủ nghĩa trực giác của H Bergson với khái niệm hạt nhân

“trực giác”, phân tâm học của Freud với khái niệm hạt nhân là “vô thức bản năng”, tâm phân học của K.G.Zung với khái niệm hạt nhân là “vô thức tập thể”.v.v Mặt khác, cũng ngay giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa thực chứng của A.Comte lại phê phán khía cạnh tư biện siêu hình của Hégel,chủ trương xây dựng lại triết học dựa trên sự khảo sát thực chứng mang tính chất khoa học chủ nghĩa (scientiste) Trường phái văn hoá - lịch sử của H.Taine là dựa trên cơ sở triết học này, cho rằng những động lực chung cho sự phát triển văn hoá nghệ thuật bao gồm chủng tộc, môi trường ,thời điểm và đều là những thứ có thể khảo chứng được Nhưng tư tưởng thực chứng này

Trang 10

đến tk XX đã diễn biến thành hai dạng Dạng thứ nhất là thực chứng từ kinh nghiệm, thí dụ chủ nghĩa kinh nghiệm tự nhiên của J.Dewey, cơ sở triết học của trường phái lý luận phê bình thực dụng chủ nghĩa v.v… Dạng thứ hai là thực chứng

từ ngôn ngữ, thí dụ chủ nghĩa logic thực chứng, cơ sở triết học của trường phái lý

luận phê bình Ngữ nghĩa học v.v …

2) Một nền lý luận phong phú và đa dạng

Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX gắn bó với những loại triết

học khác nhau: chủ nghĩa trực giác, chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng luận v.v Nhưng cũng có nhiều trường phái đặt cơ sở lý thuyết từ tâm lý học, xã hội học, ngôn ngữ học v.v Mặt khác, lý luận phê bình phương Tây thế kỷ XX rất gắn bó với thực tiễn sáng tác, như trường phái phân tâm học đối với loại sáng tác “dòng ý thức” siêu thực v.v…Tiếp cận từ nhiều ngành khoa học, lại gắn bó với thực tiễn sáng tác, cho nên lý luận phê bình phương Tây thế kỷ XX mang một nội dung cực kỳ phong phú Thí dụ vấn đề bản thể của văn học nghệ thuật được triển khai trong nhiều quan hệ khá toàn diện.với chủ thể nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật và công chúng nghệ thuật v.v… Mỗi một vấn đề lại hàm chứa không biết bao nhiêu là kiến thức, hình thành nên

những thuật ngữ, những khái niệm mới mẻ Như về công chúng văn học, thì có người

đọc tiềm ẩn, người đọc mạo danh, người đọc hư cấu, người đọc ý hướng, tầm đón,

tiền lý giải, dung hợp tầm nhìn v.v…

3)Một nền lý luận phát triển không ngừng

Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX cực kỳ phong phú ngay ở cấp độ trường phái cũng đã đến mấy mươi,ngang bằng số lượng với mấy ngàn năm

Số lượng nhiều như thế có nghĩa là không những được triển khai phong phú trong không gian đồng đại, mà còn diễn biến nhanh chóng trong thời gian lịch đại Ngay những trường phái lớn như chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa cấu trúc cũng chỉ cực thịnh trên dưới mười năm, sau đó cũng bị thay thế dần Dù sao đã phát triển dồn dập, thì tất yếu có tình trạng gối đầu, đan xen, cho nên trừ giai đoạn manh nha, có tính chất “tiền thân” vào cuối thế kỷ XIX, còn lý luận phê bình trong hàng chục thập

kỷ qua, rất khó phân đoạn rạch ròi Tuy nhiên vẫn có thể tạm hình dung thành ba

Trang 11

giai đoạn, mỗi giai đoạn gồm trên dưới ba thập kỷ như sau:

a)Giai đoạn ba mươi năm đầu thế kỷ

Lý luận văn nghệ ba mươi năm đầu này phát triển rất đa dạng, tạo nên một cảnh tượng “bách gia tranh minh” với các trường phái như chủ nghĩa biểu hiện của B.Croce, chủ nghĩa trực giác của B.Bergson, chủ nghĩa hình thức Nga của Jakobson và Sklovsky, phân tâm học của S.Freud, tâm phân học của K.G.Jung, ngữ nghĩa học của I.A.Richards v.v…Tuy nhiên trong cái muôn màu muôn vẻ

đó, cũng có thể thấy ngay trong giai đoạn này, người ta thường tập trung vào chủ thể sáng tạo, và thiên về phương diện phi lý tính Về bản thể nghệ thuật, nhiều kiến

giải có xu hướng thiên về hình thức hơn v.v…

b)Giai đoạn từ đầu những năm 30 đến đầu những năm 60

Ngoài một số trường phái cũ vẫn tiếp tục phát triển,nhiều trường phái mới

chính thức xuất hiện như: Mỹ học phân tích, Hiện tượng luận, Chủ nghĩa hiện sinh Chủ nghĩa thực dụng, Mỹ học phân tích,trường phái Gestalt v.v , mà nếu tổng hợp lại sẽ thấy dồi dào phong phú hơn các giai đoạn khác Hơn nữa chính trong ba mươi năm này, tỉ lệ các trường phái gây ảnh hưởng sâu rộng nhất như Mỹ học phân tích, Hiện tượng luận, Chủ nghĩa hiện sinh, Chủ nghĩa cấu trúc v.v… cũng chiếm tỉ lệ nhiều nhất, chứng tỏ đây là giai đoạn cực thịnh của lý luận văn nghệ hiện đại

phương Tây thế kỷ XX

c) Giai đoạn từ cuối những năm 60 đến nay

Nếu vượt khung thế kỷ, phân chia theo tính chất của thời đại, thì lý luận văn nghệ phương Tây hiện đại cũng gồm ba giai đoạn và cũng trọn một thế kỷ, nhưng bắt đầu từ giai đoạn manh nha vào nửa sau thế kỷ XIX đến hết giai đoạn hai Tiếp

theo giai đoạn ba này là quá độ sang thời kỳ hậu hiện đại (Post – modern) tương

ứng với xã hội hậu công nghiệp, và chủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác nghệ

thuật Nói quá độ tức là vẫn còn tình trạng”cài răng lược”, giao thoa, tất nhiên càng

về sau, thì lý luận hậu hiên đại mới độc chiếm hẵn luận đàn: chủ nghĩa giải cấu trúc,chủ nghĩa lịch sử mới, chủ nghĩa hậu thực dân,chủ nghĩa nữ quyền.v.v sẽ giành

Trang 12

cho phần II) Lý luận văn học hậu hiện đại Dù sao giai đoạn này vẫn mang những

động hướng chung trên bình diện lý thuyết, trước hết là từ sáng tác đến tiếp nhận Điều này rõ nhất trong Mỹ học tiếp nhận, nhưng còn bàng bạc trong Giải thích học,

Xã hội học văn học, Chủ nghĩa giải cấu trúc Tiếp theo là từ bản thể đến quan hệ của nghệ thuật với xã hội chính trị bên ngoài: Chủ nghĩa cấu trúc sinh thành, Xã hội học văn học Dường như qua đây, có sự hồi quy trên một mức độ nào đó với lối tiếp cận nghệ thuật từ những quan hệ bên ngoài

II)Các loại hình cơ bản của lý luận văn học hiện đại

Có thể tạm khái quát lý luận văn học hiện đại phương Tây thành bốn loại

hình cơ bản - tiếp cận văn học từ hiện thực xã hội, từ chủ thể nhà văn, từ văn bản

và từ bạn đọc,tất nhiên không tránh khỏi sự giao thoa giữa nhau cũng như những hiện tượng cá biệt ngoại lệ

1)Loại hình tiếp cận văn học trong quan hệ với hiện thực xã hội

Không nên ngộ nhận rằng trong lí luận văn học hiện đại phương Tây không

có loại hình tiếp cận văn học từ xã hội Nó không những tiếp tục phát triển xã hội học văn học vĩ mô vốn có, mà còn sáng tạo ra xã hội học văn học vi mô rất mới mẻ

a) Xã hội học văn hoc vĩ mô.Thật ra mối quan hệ giữa văn học và hiên thực,tác

dụng xã hội của văn hoc đã được chú ý ngay từ thời Aristote Đến đầu thế kỷ XIX, hiện thực xã hội không phải chỉ là một vế trong mối quan hệ với văn học,mà đã biến thành một một mũi tiếp cận để nghiên cứư văn học nghệ thuật và Xã hội học văn học mới ra đời Truyền thống này đã được tiếp tục phát triển trong lý luân văn hoc hiên đại, tất nhiên là với những quan điểm và biến thái khác nhau Mở đầu và có tính chất quá độ là trường phái Văn hoá lịch sử của Hypolyte Taine như đã nói ở trên Nửa đầu tk 20, Chủ nghĩa thực dụng trong Mỹ học của J.Dewey thì cho rằng thẩm mỹ và nghệ thuật chẳng qua là sự chưng cất những kinh nghiêm trong thực tiễn đời sống Chủ nghĩa hiên sinh thật ra cũng gắn chặt văn học với hiện thực đời sống, chẳng qua là chủ trương trước hết phải tái hiện tồn tại thực tế của con người.v.v…

Trang 13

b) Xã hội học văn học vi mô - Trường phái Bordeaux

Đây không phải chỉ là tiếp cận văn học từ xã hội, mà hơn thế nữa là còn phải dùng những kí thuật và phương pháp xã hội học để nghiên cứu văn học Nó chỉ ra đời vào nửa sau thé kỷ XX mà tiêu biểu là trường phái Bordeaux của R.Escarpit

Khái niệm trung tâm của trường phái này là sự thật văn học, bao gồm nhà văn,sách

báo và bạn đọc theo các khâu sản xuất,truyền bá và tiêu thụ Về sản xuất văn học, R.Escarpit tập trung vào vấn đề nhà văn,và cho thấy danh hiệu nhà văn được xác nhận phổ biến ở khoảng bốn mươi tuổi Còn một thế hệ nhà văn thường theo chu kỳ

ba mươi năm Phân biệt nhà văn theo vùng địa văn hoá cũng là cần thiết và có ý nghĩa Về truyền bá văn học, R.Escarpit tập trung vào khâu xuất bản và phát hành

Sự hình thành nhà xuất bản là cả một quá trình.Ban đầu nơi in ấn đóng luôn vai trò xuất bản,đến cuối thế kỷ XVI mới tách ra, nhưng cũng phải đến nửa sau thế kỷ XVIII, thì nhà xuất bản mới hình thành với chức năng tổng hợp R.Escarpit nêu ra khái niệm “vòng phát hành” nhằm hướng công viêc xuất bản cho sát đối tượng Nó

có nhiều bình diện, như về giới tính và về giai cấp.v.v , nhưng quan trọng nhất là

“vòng công chúng’’ và “vòng văn nhân”.Cái trước trình độ thấp, nhưng số lượng nhiều thường bị nhà xuất bản khai thác vì lợi nhuận Cái sau trình độ cao, nhưng số lượng ít, lợi nhuận thấp Về tiêu thụ văn học, R.Escarpit có nhận xét rằng nhà văn không thể biết đích xác bạn đọc thực tế của mình là ai,và nói chung là họ khác xa với mong muốn của người viết Sự đồng cảm của người đọc, tất nhiên là do đồng cảnh trước tiên, nhưng lắm khi nó còn vượt qua cả phạm vi giai câp, dân tộc và thời đại Đọc để lánh xa xã hội cũng là một “sự thực văn hoc” và không phải đều xấu.v.v… Tất cả những điều nói trên không phải là kết quả của việc biện giải thuần

lý thuyết, mà là do điều tra thống kê đưa lại

2) Tiếp cận văn học từ chủ thể sáng tạo

a) Chủ nghĩa duy ý chí (Voluntarism) A Schopenhauer cho rằng ý chí là

nguyên nhân đem lai mọi tội ác và khổ đau trên trần thế,bởi vì nó đã thôi thúc con người phấn đấu không ngừng trước những mục tiêu không bao giờ thoả mãn

Trang 14

Nhưng nếu A Schopenhauer muốn diệt dục để tránh khổ đau,thì trái lại, F.W Nietzche biết nhìn thẳng vào khổ đau, hoan nghênh, thậm chí yêu quý khổ đau,chủ trương hãy vật lộn với khổ đau như một dịp được bộc lộ ý chí về sức mạnh trong sinh mệnh của mình để thể nghiệm cho được niềm vui nhân thế.Và văn học nghệ thuật rất đắc dụng trong việc bộc lộ những cách nhìn nói trên

b) Chủ nghĩa biểu hiện (Expressionism) B Croce xem tác phẩm nghệ thuật là

kết quả của tư duy trực giác sản sinh ra một ý tượng cá biệt có giá trị thẩm mĩ (đẹp hoặc xấu) Là một loai hoạt động nhận thức,trực giác đối lập với mọi hoạt động thực tiễn…Nghệ thuật đã là trực giác,mà trực giác lại là dựa vào nguyên dạng của nó để

lý giải thành môt sự nhận thức chiếu thẳng,cho nên nghệ thuật không thể là một hoat động mưu lợi Nghệ thuật cũng không thể khởi nguồn từ ý chí Ý chí lưong

thiện có thể trở thành một người tốt,nhưng không thể thành một nghệ sĩ

c) Chủ nghĩa trực giác (Intuitivism) Đến H.Bergson thì trực giác đã biến thành

một thứ triết học hoàn chỉnh Ông phân biệt cuộc sống bên ngoài và cuộc sống bên trong với “cái đà sống”, và con người với “cái tôi bề mặt” và “cái tôi bề sâu” Vì nhu cầu mưu sinh, lí trí và tình cảm con người bình thường chỉ dừng lại ở cuộc sống bên ngoài với những “cái tôi bề mặt” theo những lợi ích thiết thực, do đó không nhận thức được toàn diện thực tại Nhưng chính “cái đà sống”, “cái tôi bề sâu” mang “tính cá thể đích thực, dù vô ích” mới làm nên vẻ đẹp Và chỉ có nghệ sĩ với năng lực trực giác mới có thể thâm nhập được vào vẻ đẹp đó

d) Phân tâm học (Psychoanalysis) S.Freud và môn đệ cho rằng tác phẩm nghệ

thuật chẳng qua là kết quả của việc thăng hoa những ẩn ức tính dục trong vô thức,

và nghệ sĩ là người trong tâm tưởng luôn luôn bị ám ảnh bởi loại dục năng đó Chỉ những ai, nhất là nữ giới, không thoả mãn được nhu cầu mạnh mẽ đó, thì mới có điều kiện trở thành nghệ sĩ Bởi vì tính dục của họ bị dồn nén, ẩn ức, như nước sông

bị đập chắn, phải tìm chỗ thoát bớt ra bằng cách chuyển hoá sang hoạt động nghệ thuật Tác phẩm nghệ thuật, do đó, chẳng qua là những hình ảnh tượng trưng cho sự chuyển dịch bản năng tính dục đó

Trang 15

e) Tâm phân học (Analytical psychology) Khác với S.Freud,K.G.Jung cho

rằng trong vô thức bản ngã không phải chỉ có tính dục và nó chỉ là một lớp tâm lí rất mỏng nằm ngay dưới ý thức, có khả năng chuyển hoá rất nhanh thành ý thức, song

đó cũng chỉ là vô thức cá thể Bên dưới đó còn có lớp “vô thức tập thể” cực dày, bắt nguồn từ những kinh nghiệm lịch sử của chủng tộc và nhân loại, thậm chí còn có gốc gác cả đến những hoạt động nguyên thuỷ tiền nhân loại Chính đây mới là những nhân tố mơ hồ u u minh minh, nhưng rất thâm căn cố đế quyết định hành vi con người K.G.Jung không phủ nhận văn học có thể biểu hiện ý thức và vô thức cá thể, nhưng cho đó là “loại hình tâm lí” không đáng đề cao Văn học chân chính và vĩ đại phải là “loại hình ảo giác” khởi nguồn từ vô thức tập thể, có gốc gác sâu xa

từ thời tiền sử như Thần khúc, Faust, Zarathoustra nói như thế v.v…

Ngoài ra, lý thuyết của chủ nghĩa tượng trưng và tâm lý học “hoàn hình”

(Gestalt) cũng thuộc vào loại hình này

2) Tiếp cận văn học từ hình thức và cấu trúc của văn bản tác phẩm

a) Chủ nghĩa hình thức (Formalism) Chủ nghĩa hình thức cho rằng văn học là

một thế giới độc lập, có những quy luật nội tại riêng biệt Trong tác phẩm văn học hiển nhiên cũng có hiện thực, tư tưởng, tâm lí, triết lí, nhưng đó cũng chỉ là những chất liệu, phải được nhào nặn lại Cũng chính vì thế mà đối tượng đích thực của nghiên cứu văn học không phải là toàn bộ tác phẩm văn học, mà theo Jakobson chỉ

là tính văn học trong đấy mà thôi Và cái làm cho những tác phẩm ngôn từ trở thành

văn học, chính là hình thức Và hình thức, do đó, không phải là phương tiện, mà là mục đích Nhưng hình thức trong văn học không phải chỉ là hình tượng, mà là ở những thủ pháp nghệ thuật cùng sự sắp xếp nó làm sao có thể đem lại cho người ta những cảm xúc mới lạ V.Sklovsky gọi đó là “sự lạ hoá” (Estrangement)

b) Trường phái Ngữ nghĩa học (Sémantics) I.A.Richards phân biệt hai

loại:ngôn ngữ ký hiệu, kể cả chỉ danh sự vật (Symbolic language) với ngôn ngữ khơi gợi tình cảm (Evocative language) Sử dụng loại trước thì sự đắn đo tất yếu phải là tính chính xác của ký kiệu hoá và tính chân thực của sự chỉ danh,nói chung

Trang 16

là tính khả chứng Còn sử dụng loại sau, thì sự đắn đo tất yếu phải là tính chất của thái độ và tình cảm được khơi gợi nên Đã chỉ khơi gợi thì không tránh khỏi mơ hồ,

đa nghĩa Nhưng đa nghĩa không phải là vô nghĩa, càng không phải là nghĩa vô cùng, vô tận, mà nó vẫn có nghĩa với những giới han nhất định, được xác đinh môt cách sác xuất bởi những ngữ cảnh Nhưng ngữ cảnh không phải chỉ là văn cảnh trong văn bản, mà còn có ngữ cảnh ngoài văn bản, đó là hoàn cảnh phát ngôn,bao gồm cả những sự việc đồng hiện vói văn bản, thậm chí là đã xảy ra trong quá khứ, miễn là có liên quan đến một khía cạnh nào đó với ngôn ngữ trong văn bản mà người đọc có thể liên tưởng đến Tác phẩm văn thơ chan chứa những ngôn ngữ khơi gợi tình cảm như vậy

c) Phê bình mới (New criticism) Trường phái này xem đối tượng của phê

bình là bản thân tác phẩm, trọng điểm của phê bình là hình thức , và phương pháp

phê bình là giải thích ngôn ngữ Nhưng khái niệm then chốt của Phê bình mới là văn

bản Song nếu chủ nghĩa cấu trúc tuy cũng đột xuất lên khái niệm văn bản, nhưng

đặt trọng điểm ở việc tổ chức, sắp xếp, kết cấu, thì Phê bình mới đặt trọng điểm của văn bản ở sự đan dệt ngôn từ đấy ẩn ý qua những ngữ cảnh nhất định Phê bình mới kiên quyết phản đối lấy động cơ và ý đồ của nhà văn làm căn cứ đánh giá tác phẩm và

cho đó là hội chứng ngộ nhận ý đồ Nhà văn muốn nói và nói được bao giờ cũng có một khoảng cách, có khi là quá xa Cũng vậy, phê phán hội chứng ngộ nhận cảm thụ,

các nhà phê bình mới cho rằng nếu cứ chú tâm vào cảm thụ của người đọc, thì đã lẫn lộn giữa tác phẩm văn học với những tác động của nó

d) Chủ nghĩa cấu trúc(Structuralism).Xem tác phẩm văn học chẳng qua là một

loại mô thức của việc viết văn, căn cứ thuần tuý trên những quy phạm và nguyên tắc văn học, theo những cách tổ hợp khác nhau của các yếu tố mà cấu tạo nên.Yếu tố phải là những yếu trong quan hệ, nó chỉ được xác định ý nghĩa qua những sai biệt hoặc đối lập trong toàn bộ cấu trúc Nhà văn cũng được gọi là “chủ thể”, nhưng hoàn toàn không chịu trách nhiệm về những ý đồ của mình Chủ nghĩa cấu trúc rất chú ý thể loại tự sự, và dần dần xây dựng nên chuyên ngành tự sự học(Narratologie)

Trang 17

Họ đã vận dụng những lí thuyết và phạm trù ngôn ngữ học, nghiên cứu những tầng cấu trúc và phương thức trần thuật, những quan hệ giữa tác giả và người trần thuật, giữa cốt truyện với sự thực lịch sử, giữa cốt truyện với giọng điệu, v.v…nhằm xây dựng nhưng mô thức về các vấn đề “câu chuyện do ai kể” và “kể như thế nào”

Ngoài ra, ký hiệu học văn học cũng thuộc vào loại hình này

4) Tiếp cận văn học trong quan hệ với người đọc

a)Phê bình theo phản ứng bạn đọc(Reader Reponse Criticism) Ngay từ những

năm 20 của thế kỉ XX ở Hoa Kỳ đã manh nha và hình thành dần trường phái “Phê bình theo phản ứng của bạn đọc” mà người tiêu biểu là J.Culler Ông có vận dụng lí thuyết “ngữ pháp nội tại” trong ngôn ngữ học cho rằng một người hiểu được một thứ tiếng (ngữ âm, cú pháp, từ vựng) thì sẽ hiểu ngay được một diễn ngôn của thứ tiếng ấy, còn trái lại thì chỉ còn thấy đấy là một chuỗi âm thanh vô nghĩa Cũng vậy,

có thể nói đến một “ngữ pháp văn học” Chính năng lực này mới làm cho người đọc thấy một văn bản có ý nghĩa và kết cấu của tác phẩm văn học

b)Giải thích học (Hermeneutics) Khác với Giải thích học cổ điển tk XVIII,

XIX chỉ có tính chất nhận thức luận chuyên đi tìm nguyên ý của tác giả, đến giữa tk

XX, Heidegger cho rằng Giải thích học hiện đại phải trở thành một loại bản thể luận.Điều đó trước hết có nghĩa rằng trong quá trình lý giải đối tượng, đồng thời cũng bộc lộ bản chất hiện tồn của chủ thể giải thích, hơn nữa trên thực tế, nó là “tiền kết cấu” tất yếu gia nhập vào kết quả khám phá ra bản chất hiện tồn của đối tượng giải thích Tán thành khái niệm “tiền kết cấu” của Heidegger,Gadamer cho đó là

“thiên kiến hợp pháp” Ông nói mỗi một người đều tồn tại trong một thời đại với truyền thống lịch sử và văn hoá nhất định, lại chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh riêng, làm sao mà tránh khỏi thiên kiến, một sản phẩm tất yếu của lịch sử cá nhân Bởi thế khi đọc tác phẩm văn học, bao giờ họ cũng có trước một “dự kiến ý nghĩa” Qua đối thoại sẽ đạt được một “sự dung hợp tầm nhìn” giữa chủ thể và đối tượng giải thích

c) Mỹ học tiếp nhận (Receptive esthetics) cho rằng nếu văn học tồn tại vì xã

hội, thì cần phải xem xét tác động cụ thể của nó qua công chúng bạn đọc ra sao Bất

kì người đọc nào cũng có “tầm đón” riêng của mình, hình thành trên cơ sở kinh

Trang 18

nghiệm sống, trình độ văn hoá, tính cách và khí chất của riêng mình, cho nên sự tiếp nhận sẽ là muôn màu muôn vẻ Tuy nhiên sự tiếp nhận sẽ quy về hai trục chính

Tiếp nhận ngang là của những người đọc, hoặc nhóm người đọc và giai tầng xã hội

khác nhau đối với cùng một tác phẩm trong một thời điểm lịch sử nhất định Tiếp

nhận dọc là tình hình tiếp nhận qua các thời đại với cùng một tác phẩm Với tinh

thần trên ông đã chủ trương viết lịch sử tiếp nhận văn học là chủ yếu, chứ không dừng ở lịch sử sáng tác văn học Nếu H.R.Jauss nghiên cứu sự tiếp nhận vĩ mô, thì Wolfgang Iser nghiên cứu sự tiếp nhận vi mô, nghĩa là chỉ tập trung nghiên cứu vấn

đề tiếp nhận trong một hoạt động đọc cụ thể bao gồm văn bản và người đọc Ông xem văn bản như một “kết cấu vẫy gọi”, trước hết bao gồm “những điểm trắng” để người đọc đến lấp đầy “Kết cấu vẫy gọi” còn mang “tính phủ định”, tức là “những khoảng cách” về tư tưởng ít nhiều có tác dụng khiêu khích với những quan niệm vốn có về các mặt chính trị, triết lí, đạo đức, thẩm mĩ v.v… Ngoài ra “kết cấu vẫy gọi” còn chứa đựng “người đọc tiềm ẩn” (implied reader), tức là bóng dáng người đọc trong mong muốn mà chắc chắn khó trùng khớp với người đọc trong thực tế Bất kì hoạt động đọc nào cũng không thể thoát li thời điểm, tách rời được sự đối thoại với quá khứ và tương lai, do đó phải luôn luôn thay đổi điểm nhìn, tạo nên cho được một “trường nhìn lưu động” Đọc tác phẩm là giao lưu, nhưng không phải giao lưu trực diện, không có phản hồi để đối chứng, cho nên không thể nói có chuyện đúng sai.Ngoài ra,phân biệt sản phẩm nghệ thuật do nghệ sĩ tạo nên với tác phẩm nghệ thuật đã được công chúng thưởng thức trong quan niêm của J.Dewey cũng thuộc loại hình này

B)LÝ LUẬN VĂN HỌC HẬU HIỆN ĐẠI

I)Những bậc tiên phong của tư duy hậu hiện đại

Lâu nay về lý luận hậu hiện đại, chúng ta thường nhắc đến những nhà lý luận

giải cấu trúc R.Barthes và J.Derrida cùng các nhà nghiên cứu phê bình văn hoá hậu hiện đại I.Hassan, J.F.Lyotard,J.Harbemas, J.Baudrillard, F Jameson v.v , mà chưa

Trang 19

chú ý đầy đủ đến J.Lacan và M.Foucault,những người tiên phong của tư duy hậu

hiện đại với một hệ thống luận điểm rất đáng lưu ý

1) Jacque Lacan: Vô thức, ngôn ngữ, chủ thể

a) Cấu trúc ngôn ngữ của vô thức J.Lacan đã phê phán quan niệm “cái biểu

đạt” với “cái được biểu đạt” gắn chặt như hai mặt trên một tờ giấy của F Saussure ,

và khẳng định chúng nằm trong những bình diện độc lập với nhau Cái biểu đạt thật

ra không biểu đạt cái gì xác định, nó tự do phiêu dạt, còn cái được biểu đạt cũng luôn chuyển động Cái biểu đạt, có nghĩa là đã diễn đạt ra được rồi, thì chính là ý thức,còn cái được biểu đạt thì chính là cái vô thức chưa biết.Vận dụng ngôn ngữ học vào phân tâm học chính là giải thích cái vô thức bằng cái biểu đạt có tính ý thức Nói vô thức có cấu trúc ngôn ngữ bởi vì nó ẩn tàng ở nơi sâu kín trong tâm linh của con người, tất yếu mang ý nghĩa của một loai ngôn ngữ nội tại Lacan khẳng định vô thức cũng giống như những ẩn dụ hoăc hoán dụ trong ngôn ngữ, có thể căn cứ vào ngữ cảnh (context) để giải thích Ngôn ngữ của cái biểu đạt tuy là có ý thức, nhưng

là ý thức nhằm che đậy cái được biểu đạt là những dục vọng vô thức bên trong với

tư cách là những động lực luôn luôn có ý hướng muốn chi phối, bôc lộ, cho nên tất yếu sẽ tạo nên những khoảng trống, những độ vênh, những chỗ nhấn trong dây chuyền của cái biểu đạt Tính hệ thống của những điều này làm nên cấu trúc ngôn ngữ của cái vô thức

b) Chủ thể manh nha và song hành cùng vô thức.Trong hệ thống lý thuyết của

J.Lacan có một khái niệm quan trọng là‘’giai đoạn hình ảnh trong gương”.Trẻ con mấy tháng tuổi chưa có cảm giác hoàn chỉnh về chính thân thể của mình, xem tay chân như những vật thể bên ngoài, nghĩa là gần như hoàn toàn vô thức Khi trẻ con chừng sáu tháng thấy ảnh trong gương di động theo bản thân thì rất thích thú, liền

bò tới sát gương sờ soạng lên ảnh như muốn biết đây là ai, rồi vô cùng hoan hỉ dần dần cảm thấy được đó chính là mình Đó là bước quá độ đầu tiên từ vô thức chuyển sang ý thức, nhưng chưa phải là ý thức hoàn toàn, bởi vì ảnh trong gương vẫn là ảo ảnh, chứ đâu phải là bản thân đích thực của trẻ Thật ra khái niêm “hình ảnh trong gương” của J.Lacan cũng có tính chất ẩn dụ Theo nghĩa rộng nó chính là một “kẻ

Trang 20

khác” rất thiết thân, qua họ, có thể nhận biết thêm bản thân mình J.Lacan gọi “hình ảnh trong gương” là “thế giới tưởng tượng” theo nghĩa trẻ con tưởng là thật một điều không có thật Nói theo danh từ là trẻ con đã đem cái được biểu đạt là mình gán ghép trên cái biểu đạt là hình ảnh trong gương, và do đó, chủ thể vẫn lẫn quất trong thế giới vô thức Nhưng chả bao lâu, trẻ con biết nói, và thế là giai đoạn hình ảnh trong gương được tiếp nối bằng giai đoạn ngôn ngữ, và J.Lacan cho rằng “thế giới tưởng tượng” bắt đầu chuyển hoá sang “thế giới tựơng trưng”.Vì ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, nhờ đó con trẻ ngày càng biết đươc xiết bao điều trong thế gian rộng rãi bao la Nghĩa là con trẻ đã đi dần vào đời sống văn hoá xã hội, qua đó xác định được bản thân với ý thức đầy đủ, nhưng vẫn không thoát khỏi vô thức J.Lacan đã chứng minh điều này ngay trong trường hợp con người tự nói về mình Khi chúng ta nói “Tôi là thế nào, tôi làm gì v.v…” và đều ngộ nhận rằng “Tôi” là đại biểu cho bản thân trăm phần trăm Vận dung ngôn ngữ học hiện đại, J.Lacan cho rằng con người thường ngộ nhận “chủ thể trong ngôn từ” (tức chủ ngữ trong câu nói) với”chủ thể phát ngôn” Khi chúng ta nói: “Tôi thế này, thế kia…”.thì trên thực

tế, chúng ta đã lùi lại một bước, gián cách bên ngoài, để tả hoặc kể “Tôi” như thế nào mà thôi, chứ không phải trực tiếp bộc lộ hoặc biểu hiện gì cả “Tôi’ vẫn là chủ ngữ trong câu nói, nhưng trong ngữ cảnh, thực tế đó trở thành tân ngữ Việc nhầm lẫn giữa chủ thể trong ngôn từ với chủ thể phát ngôn này rất phổ biến, ngay cả Descartes với câu: “Tôi tư duy tức tôi tồn tại” Nếu quả thực là mình đang suy nghĩ, thì không thể nào đồng thời có thể lộ diện tả và kể lại những điều mình đang suy nghĩ Còn nếu đang đứng ra tả và kể lại những điều mình suy nghĩ, thì có nghĩa là mình đang không tư duy gì thêm nữa, chỉ thuật lại nhũng cái vốn đã được tư duy rồi Cho nên, Lacan đã chữa lại câu của Descartes thành: “Tôi tư duy thì tôi không tồn tại,Tôi tồn tại thì tôi không tư duy” Sự nhầm lẫn rất tự nhiên và sâu rộng như vậy, chứng tỏ vô thức tồn tại ngay trong ngôn ngữ, một sản phẩm tất yếu và vĩnh hằng của xã hội loài người.Và xưng tôi, nhưng không phải đang là tôi thực sự và trọn vẹn, chứng tỏ cái biểu đat không phải tương ứng với cái được biểu đạt theo quan

Trang 21

niệm của chủ nghĩa cấu trúc, và tư tưởng của J.Lacan đã góp phần mở đầu cho chủ nghĩa giải cấu trúc

c)Phương pháp lột trần những trá hình chủ quan J.Lacan không có chuyên

luận bàn về văn học nghệ thuât, nhưng tư tưởng của ông nhiều khi gây tác dụng khá trực tiếp đến lĩnh vực này Chẳng hạn sự nhầm lẫn một cách vô thức giữa cái Tôi với tư cách chủ ngữ trong câu nói với cái Tôi với tư cách chủ thể phát ngôn nói trên

đó giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt giữa tác giả với nội dung tác phẩm ngay ở chủ nghĩa lãng mạn và thơ trữ tình là những phương pháp và thể loai thường xuất hiên đại từ Tôi Đặc biệt vì cho vô thức luôn song hành với ý thức, cho phê bình phân tâm học chẳng qua là “phương pháp lột trần những trá hình chủ quan”, Lacan thường chú ý hiện tượng vì để lừa người mà phải tự lừa mình Để thuyết minh điều

này, J.Lacan nêu lại hai cảnh có phần trùng lặp trong Lá thư bị đánh cắp của E.Poe

Qua đây, ông lưu ý đến ba cái nhìn khác nhau Đó là cái nhìn không thấy gì của hoàng đế Cái nhìn thứ hai là của hoàng hậu, chỉ nhìn được một người không nhìn thấy gì, cho nên cứ chủ quan để ngỏ cái mình cần giấu Thứ ba là cái nhìn của người thấy luôn được một người khác giả vờ bỏ ngỏ cái cần giấu, đó là thượng thư Nhưng

đó là trong cảnh đầu, song đến cảnh sau, thì thượng thư lại biến thành loại người thứ hai Vì trước đó, cảnh sát trưởng có đến lục lọi phòng ông ta, mà không phát hiện được lá thư để ở sọt giấy bên cạnh lò sưởi, cho nên cứ chủ quan để luôn ở đấy Nhưng chính lúc thượng thư biến thành loại người thứ hai, thì liền có người khác là thám tử đóng vai trò người thứ ba Thì ra người ta có thể che giấu trong từng nơi từng lúc, chứ trong tương quan và qúa trình, tất yếu sẽ bị lộ J.Lacan cũng lưu ý trong truyện của E.Poe không nói rõ thư do ai viết, nội dung nói gì.v.v….Nhưng điều đó không quan trọng, bởi vì đích thị do ai viết, nội dung xác định như thế nào, thì cũng trở nên đa nghĩa, bởi vì nó sẽ có những ý nghĩa khác nhau đối với hàng loạt người từ hoàng đế, hoàng hậu, thượng thư, đến thám tử và cảnh sát trưởng Có thể thấy cách phân tích của J.Lacan đã mở đường cho chủ nghĩa giải cấu trúc,vì đã chứng minh một cái biểu đạt không tương ứng với một cái được biểu đạt, mà vô

cùng đa nghĩa

Trang 22

2) Michel Foucault: Tri thức, quyền lực, trách nhiệm

a) Vấn đề hệ hình tri thức:Đây là một hệ thống phán đoán giá trị tự hình thành

trong một thời kỳ nhất đinh, hay nói giản dị hơn là “nhận thức chung của cộng đồng’’ trong một thời đại nhất định Nó sẽ căn cứ theo hàng loạt tiêu chuẩn để cấu tạo ra tri thức Nó là cái gì gần như vô thức bao trùm lên từng thời đại,khiến cho cùng môt hiện tượng lại được nhận biết rất khác nhau M.Foucault đã khảo sát rất sâu vào lịch sử, nhận thấy hoá ra các giai đoạn khác nhau có những cách nhìn không thống nhất về các hiên tượng như điên cuồng, bệnh hoạn, phạm tội.v.v…Hệ hình tri thức không những có tác dụng trong việc nhận thức chân lý, nhận thức bản chất

sự vật,mà thậm chí còn có tác dụng trong việc xác nhận bản thân sự vật đó xuất hiện hay chưa, có tồn tại hay không? Thí dụ đã có tác phẩm thì hiển nhiên là phải có người sáng tác, tức là tác giả, nhưng trong thi học cổ trung đại phương Tây không

hề có khái niệm này Bởi vì trong hệ hình tri thức cổ đại chưa có quan niệm về cá nhân, cá tính, tự ngã

b) Quyền lực với tri thức.M.Foucault vận dụng tư tưởng này khảo sát vào lịch

sử và nhận thấy rằng từ tri thức, lý tính đến chế độ xã hội v.v., tất cả những thứ có

vẻ tự nhiên nhi nhiên này chẳng qua là do quyền lực, những sức mạnh thống trị thông qua hình thái ý thức thể hiện trong hệ thống ngôn ngữ mà tạo nên Trong công

trình Giáo huấn và trừng phạt, ông đã khảo sát tỉ mỉ từ nhà tù, trường học, trại lính

đến bệnh viện, công xưởng v.v., nhận thấy giới quyền thế đã đặt ra chế độ thưởng phạt, hiển nhiên là phạm nhân, học sinh, binh lính, bệnh nhân, thợ thuyền đều nhất nhất tuân theo Nhưng quan trọng hơn là chính họ đã cảm thấy những điều luật thưởng phạt ấy là hiển nhiên, như vốn trời đất sinh ra đã như thế Thế rồi, họ gần như tự nguyện biến mình thành một bộ phận hữu cơ trong guồng máy quyền

lực.Theo M.Foucault, giai cấp tư sản ngày nay rất chú ý vừa cải tiến vừa tuyên truyền rất có hiệu quả cho chế độ tư bản dù có bóc lột thì giai cấp công nhân vẫn thấy là hợp lý Lập luận của M.Foucault phảng phất tính chất mác-xít, nhưng không nên lẫn lộn Bởi vì ông không bao giờ đặt ra vấn đề truy nguyên cơ sở của quyền lực là từ đâu, vì quan niệm rằng lịch sử bao gồm vô cùng nhiều những nhân tố phức

Trang 23

tạp, tương tác trong các dạng tụ họp, ly tán, trùng lặp và rất khó duy nhất quy về

nhân tố kinh tế, dù là chỉ xét đến cùng! Không chỉ có tài phiệt, mà còn có quân phiệt

và học phiệt v.v…

c) Trách nhiệm với tri thức và quyền lực.Cùng với tri thức và quyền lực,trách

nhiệm cũng là một trọng điểm nghiền ngẫm và suy tư của M Foucault Mặc dù

trong từng lúc có thể đột xuất lên một khía cạnh nào đó, nhưng xét trong cả quá

trình nghiên cứu bất kỳ vấn đề gì thì tư duy của M.Foucault đều được đồng hành bởi

ba phương diện đó Đối với bất cứ đối tượng nghiên cứu nào, ông cũng cũng nêu ra

ba câu hỏi: Tôi biết (savoir) được cái này là thế nào? Tôi có thể (pouvoir) làm được

gì? Tôi phải (devoir) làm ra sao? Trách nhiệm cũng như tri thức và quyền lực đều là

sự cấu thành đặc thù trong một không thời gian nhất đinh, chứ không phải là những

nguyên lý phổ biến Như thế, tri thức, quyền lực hay trách nhiệm đều có điều kiện

Nhưng bất cứ điều kiện nào cũng là điều kiện trong những điều kiện nhất định, nó

mang tính lịch sử đặc thù, nhưng không tất yếu, không thể tranh cãi (apodictique),

mà còn có vấn đề (problématique) chưa dứt Bất kỳ một giải pháp nào trong lịch sử

cũng không thể chuyển dịch sang hoàn cảnh lịch sử khác, nhưng có thể có một số

vấn đề thẩm thấu (empiéter) hoặc xuyên thấm (pénetrer) đến tất cả các giai đoạn

lịch sử

Tri thức, quyền lực và trách nhiệm tương tác qua lai, và không thể thiếu bất

cứ khâu nào Tri thức mặc dù không thể tác động trực tiếp và có hiệu quả với công

cuộc cải tạo thế giới, nhưng thiếu nó, thì không thể nào thực hiện quyền lực và đảm

nhận trách nhiệm Còn nếu không có quyền lực, thì tri thức và trách nhiệm chỉ là nói

suông hoặc ảo tưởng Nếu không có trách nhiệm, thì những chủ thể tri thức hoặc kẻ

cầm quyền có thể biến thành nô lệ hoặc vật hy sinh cho tri thức và quyền lực, và từ

đó tri thức chẳng qua là vô tri vô thức, quyền lực cũng thành vô quyền và bất lực Nói J.Lacan và M.Foucault là những nhà lý luận tiền phong của chủ nghĩa hậu

hiện đại, như thế cũng hàm ý rằng tư duy và quan niệm của họ đã trở thành vũ khí lý

thuyết cho chủ nghiã hậu hiện đại, như Lacan đối với chủ nghĩa giải cấu trúc,

Foucault đối với chủ nghĩa lịch sử mới.v.v…

Trang 24

II)Khái quát và tranh luận về văn hoá hậu hiện đại

Trực tiếp khái quát từ thực tiễn văn hoá và xã hội hậu hiện đại, tất nhiên

không tránh khỏi tranh luận với nhau, mà măc dù tỉ lệ có khác nhau, nhưng chắc

chắn sẽ không có ai tuyệt đối đúng hoặc sai

1) Ihab Hassan: Tính hướng nội không xác định

I.Hasssan dùng khái niêm “tính hướng nội không xác định”(indetermanence)

để hình dung đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiên đại, một loại văn hoc mà ý nghĩa cùng quá trình hình thành của nó chỉ gói trong văn bản không thể được giải thích bằng thế giới hiện thực bên ngoài Ông cho rằng nếu những sản phẩm của chủ nghĩa hiện đại có cấu trúc chỉnh thể, có chiều sâu, nhằm một mục đích nhất định v.v…, thì ở chủ nghĩa hậu hiện đại lại là những thứ phân giải, có tính chất bề mặt, và chỉ

để chơi.v.v…

2) Jean Francois Lyotard: Hoài nghi siêu tự sự

Vận dụng luận điểm “Ý nghĩa là ở cách dùng” của L.Wittgenstein, J.F Lyotard cho rằng những khái niệm mà ngôn ngữ hình dung, thật ra không có một ý nghĩa cố định, vì nó phải phụ thuộc vào ý đồ cùng cách sử dụng của chủ thể phát ngôn Cho nên không phải ngẫu nhiên mà người ta thường cho tự sự nào cũng chẳng qua là một loại ngụ ngôn hoặc truyền kỳ, không thể đem lai tri thức đích thực Ngày nay, bất cứ một loại khoa học kỹ thuật tối tân nào cũng gắn liền với ngôn ngữ cả như truyền thông, điều khiển học, máy tính kỹ thuật số Cho nên những loại tri thức nào khó được mã số hoá thì dần dà sẽ bị đào thải Khoa học nhân văn rất khó điện toán hoá, cho nên tiền đồ khá là mờ mịt Thật ra kho thông tin của máy tính cũng không mang tính đồng chất, những tri thức mà nó sáng tạo ra cũng có thể xung đột nhau.Trong tình hình đó chỉ có vai trò của những tiểu tự sự mới có thể làm chỗ dựa Phải thấy tiêu chuẩn của tri thức hậu hiện đại phải là dị chất, nghĩa là rất khác nhau

và mỗi thứ chỉ đúng trong những phạm vi nhất đinh

3)Tranh luận với Lyotard, J.Habermas bảo vệ tính hiện đại

J.Habermas khẳng đinh giai cấp tư sản thời Khai sáng đã sản sinh mạnh mẽ

Trang 25

những thứ có giá trị nhất của tính hiên đại như tự do dân chủ, hoạt động giao lưu, nhận thức chung về lý tính Nhưng do truyền thống triết học lấy chủ thể làm trung tâm; rồi muốn thoả mãn ngày càng nhiều nhu cầu bản thân trong xã hội tiêu dùng, chủ thể đó không ngừng vượt ra bên ngoài, cho nên chỉ chú tâm vào công cụ và thủ đoạn mà quên đi cái chân thiện và chính nghĩa Để khắc phục mặt trái của nó, J.Habermas chủ trương thay thế triết học chủ thể thuần tuý bằng triết học giữa các chủ thể được đăc trưng bởi hoạt động giao lưu giữa các chủ thể, sẽ hình thành được

sự nhận thức chung một cách tự nguyện, từ đó lý tính giao lưu sẽ bổ sung chỗ bất cập của lý tính Khai sáng, ngăn chặn được sự thoái lui thành lý tính mang tính chất công cụ… Nhưng J.F.Lyotard đã nói thẳng không thể nào thông qua giao lưu để đạt đến nhận thức chung Bởi vì tri thức được diễn đạt bằng ngôn ngữ, mà ngôn ngữ là một trò chơi, các luật chơi lai khó thông lưu với nhau Bất cứ sự nhận thức chung nào chẳng qua cũng chỉ là một trạng thái, một phương thức trong qúa trình, chứ không phải là mục đích Ngày nay chúng ta chỉ có thể trông cậy ở loại tri thức đa nguyên vói nhiều chân lý khác nhau J Habermas đó phản kích lại cho rằng J.F.Lyotard né tránh tính phổ biến và đại tự sự là đã đánh mất tiêu chuẩn phân biệt phải trái cùng động lực nội tạị trong việc phê phán xã hội Chính vì không đem những mô thức nhận thức khác nhau giữa khoa học đạo đức và nghệ thuật phối hợp thành một chỉnh thể lý tính hoá, làm cho cuộc sống tan ra thành từng mảnh, giao phó cho một số nhà chuyên môn ứng phó, khiến cho mỗi cá thể mất đi cái mỹ cảm cao đẹp của chỉnh thể văn hoá, nảy sinh ra những tâm thế hoang đường rồi cô kết lại thành cái gọi là chủ nghĩa hậu hiên đại

4)Jean Baudrillard: Ký hiệu, Sự bùng nổ bên trong…

Theo J.Baudrillard, trong xã hội tiêu dùng, hàng hoá xô bồ đựơc tượng trưng bằng những hệ thông ký hiệu phồn tạp Ban đầu người ta còn liên tưởng đến mối quan hệ giữa ký hiệu với hiện thực, nhưng về sau quên dần hiên thực, tiến đến chỗ

tư duy hoàn toàn bằng ký hiệu Những hình tượng giả phỏng hình thành từ ký hiệu

hay mô hình, J.Baudrillard gọi đó là phóng thực (hyperreality) Từ đây xảy ra hiên

tượng là có khi người ta lại căn cứ vào những hinh tượng giả phỏng siêu thực này để

Trang 26

tạo ra hiện thực ngoài đời, như Hoa kỳ ngày nay phát triển ngày càng gíống với công viên Disneyland Như thế trong xã hội đương đại, ranh giới giữa hiện thực và phi hiện thực ngày càng mơ hồ Mặt khác, nếu xã hội hiện đại mang tinh chất “bùng

nổ ra ngoài” (explosion), thì xã hội hậu hiện đại mang tính chất “bùng nổ từ trong” (implosion) “Bùng nổ ra ngoài” là sản xuất hàng hoá, tư bản, kỹ thuật, thậm chí biên giới quốc gia ngày càng phát triển mở rông, các lĩnh vực xã hội, diễn ngôn, giá trị ngày càng phân hoá, tăng thêm Trái lại, “bùng nổ từ trong” là mọi giới thuyết về các giai cấp,các loại hình thái ý thức, các hình thức văn hoá, đều nổ tan, rồi hợp thành trong dòng chảy mà nổi lên trên bề mặt rất hỗn độn không có phân biệt gì

giữa nhau nữa

5) F.Jameson: Lô-gic văn hoá của chủ nghĩa tư bản hậu kỳ

F.Jameson chia chủ nghĩa tư bản ra ba thời kỳ: “chủ nghĩa tư bản thị trường, chủ nghĩa đế quốc hoặc lũng đoạn, và thời kỳ trước mắt chúng ta là chủ nghĩa tư bản đa quốc gia” Và tương ứng với từng thời kỳ là chủ nghĩa hiện thưc, chủ nghĩa hiên đại, chủ nghĩa hậu hiên đại Khái quát về mặt triết học, F.Jameson cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại là một loại “hậu triết học” ra sức tuyên bố thiên chức và sứ mệnh

là không còn đi tìm chân lý nữa Bởi vì xã hội hậu hiện đại là xã hội do “người khác dẫn đường”, lý luận không còn là quyền uy để đưa ra các chuẩn mực, mà chỉ với thái độ hoài nghi tiến hành phủ định không ngừng, không thảo luận những mệnh đề

về giá trị, mà chỉ bàn bạc hiệu quả của ngôn từ qua những ngữ cảnh.Từ đó ông khái quát ba đặc điểm của văn hoá nghệ thuật hậu hiện đại như sau:

a)”Giả tượng”(similacrum) được phục chế bằng máy móc: Xét về mặt hình

thức thẩm mỹ nghệ thuật, thì những hình tượng và phong cách có tính sáng tạo đã được thay thế bằng “ giả tượng” chủ yếu được phục chế bằng máy móc Văn bản nghệ thuật là sự dồn ghép những yếu tố vô quan, mối liên hệ giữa cái biểu đạt và cái

được biểu đạt bị mờ hoá

b)Thiếu cảm xúc chiều sâu (depthlesness): Xét về mặt nội hàm giá trị nghệ

thuật, thì sản phẩm văn hoá hậu hiện đại cả lý luận lẫn sáng tác, chỉ nổi lên trên bề mặt, thiếu những cảm xúc về chiều sâu Chủ nghĩa hiện thực tuy có thể mô tả một

Trang 27

cách lạnh lùng, nhưng “khuynh hướng lại toát ra từ tình thế và kết cấu”(Engels), nghĩa là có chiều sâu bên trong Chủ nghĩa hiên đại chan chứá những lo âu và bất

an, nghĩa là vẫn hàm chứa cái chiều sâu là sự nỗ lực tự vệ cho bản thân F.Jameson viết: “Các lý thuyết gia ngày nay đều nói rằng chúng ta không cần bàn luận mô thức chiều sâu nào cả, chỉ cần thảo luận cõi bề mặt,hành vi thực tiễn của con người và văn bản tác phẩm”

c)Thương phẩm hoá, đại chúng hoá.Xét từ cơ chế sản xuất văn hoá, thì các sản

phẩm văn hoá nghệ thuật hậu hiên đại đều mang tính chất thương phẩm hoá, đại chúng hoá F.Jameson nói: “Hình thức thương phẩm hoá đó tồn tại khắp chốn trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật và vô thức.Văn hoá đó hoàn toàn đại chúng hoá, khoảng cách giữa văn hoá cao nhã và thông tục, giữa thuần văn học và tạp văn học

đang dần mất đi”

III)Chủ nghĩa giải cấu trúc và chủ nghĩa tân lịch sử

1) Chủ nghĩa giải cấu trúc

Vạch ra mâu thuẫn nội tại trong hệ thống lý luận vốn có của chủ nghĩa

cấu trúc, bằng cách phân giải hoặc tháo rời các cấu trúc, chủ nghĩa giải cấu trúc

(deconstructionisme) với hai học giả tiên biểu là R Barthes và J Derrida

a)Roland Barthes Mở đầu bằng S/Z, những công trình lý thuyết sau những

năm 70, R.Barthes cho rằng với tư cách là phù hiệu ngôn ngữ, “cái biểu đạt” không phải là biểu đạt duy nhất một “cái được biểu đạt”, mà có thể còn tương ứng với nhiều “cái được biểu đạt” khác nữa, bởi vì có sự chuyển hoá từ “cái được biểu đạt” thành “cái biểu đạt” Chính vì thế, mà nội dung văn bản tác phẩm không phải chỉ bao hàm những điều do hệ thống “cái biểu đạt” của nó xác định, mà còn bao hàm luôn những cái mà hệ thống biểu đạt đó khơi gợi nên, tạo ra những không gian tưởng tượng của bạn đọc để tiến hành sự tái sáng tạo đối với tác phẩm, đem lại niềm

vui thích cho họ Trong Niềm vui văn bản (1973), ông chia ra làm hai loai: nếu

người đọc tiếp xúc nội dung của văn bản phù hợp với phong tục tập quán và truyền

Trang 28

thống văn hoá, thì sẽ có được “niềm vui thích thông thường”,nhưng nếu nó đột phá

và làm lay chuyển hệ thống hình thái ý thức của bản thân,thì sẽ rất “hoan hỉ”

Mặt khác, R.Barthes khẳng định rằng tuyệt đối không thể có loại “bạn đọc thanh bạch” chỉ căn cứ trên giấy trắng mực đen để lý giải văn bản tác phẩm “Phê bình bản thể” thuần tuý trên văn bản là “loại phê bình không thành thực”.Từ những

lý do nói trên, chủ nghĩa giải cấu trúc rất coi trọng vai trò năng động sáng tạo của người đọc Nhà văn và tác phẩm chỉ tồn tại trong bạn đọc: “Racine tồn tại trong việc đọc Racine” (Dubrovsky) Nhà phê bình lại càng phải không được bị động trước tác phẩm, giải thích nó một cách tiêu cực, mà phải tích cực cấu tạo thêm ý nghĩa cho nó Mọi sự đọc, do đó, không bao giờ sai, trái lại chính nó đã kéo dài thêm tuổi thọ cho tác phẩm R.Barthes nêu ra phương pháp “phân cắt tác phẩm”, cụ thể là tách nó ra thành “những khối tạo nghĩa”, từng “đơn vị đọc” (lexies), không theo một nguyên tắc cứng nhắc nào cả Có thể là một số từ, một số câu, thậm chí có khi là nửa câu, miễn là qua đó, có thể phát hiện được những nghĩa chồng chất bên trong Nhưng không phải để rồi cuối cùng rắp khớp chúng lại, mà là nhằm mục đích cuối cùng là nhằm chứng minh tác phẩm văn học không hề là một cấu trúc thống nhất, khép kín,

mà là một hệ thống lỏng lẻo, đa tầng, đa chiều

Từ đó, theo Roland Barthes, đối với nhà phê bình, tác phẩm văn học không phải là “để đọc”, mà là “để viết” Loại trước dễ hiểu, loại sau rất khó Nhưng theo ông, tác phẩm văn học đích thực không nên là “để đọc” (lisible), mà là để có thể

“viết lại được” (scriptible), nó có thể biến thành một “không gian du lịch” cho ngòi bút của nhà phê bình.Ông cũng cho rằng những loại tác phẩm “có thể viết lại” này thường là loại văn học hiện đại chủ nghĩa, tức là những “loại tiểu thuyết không có tiểu thuyết, thơ mà không có thơ, tiểu luận mà không có bình luận, cái viết ra mà không có bút pháp, sự sản xuất mà không có sản phẩm, sự cấu trúc hoá mà không có cấu trúc”, qua đó chỉ bắt gặp “một giải ngân hà của những cái biểu đạt” mà thôi

b) Jacque Derrida Có thể khái quát lý thuyết của ông, theo các mặt sau:

1o) Phủ nhận quan niệm ngôn ngữ là trung tâm Ông phê phán tư tưởng phương Tây

vốn cho rằng ngôn ngữ có thể biểu đạt trung thành và hoàn mỹ hiện thực và tư

Trang 29

tưởng Trước hết ông cho rằng khi một sự vật nào đó được ngôn ngữ, kể cả ngôn ngữ viết trong tác phẩm văn học biểu đạt, thì sự vật đó đã trở thành quá khứ, không còn nguyên dạng nữa Đặc biệt mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn tự, tức là ngôn ngữ viết cũng như mối quan hệ giữa linh hồn bên trong và thể xác bên ngoài chỉ là tương đối Ngôn ngữ viết có năng lực và quy luật sinh thành riêng của nó Ngôn ngữ học văn tự nghiên cứu cấu trúc và quy luật riêng của loại ngôn ngữ này.Như thế văn học càng cách bức hiện thực và tư tưởng

2o)Từ sai biệt đến kéo dài (Differance): F Saussure cho rằng ngôn ngữ được cấu

tạo bằng sự khác biệt giữa những ký hiệu J.Derrida lại thấy thêm ở ngôn ngữ một

sự vận động song trùng, vừa khác biệt vừa kéo dài (và mở rộng nữa) Cái trước là vận động trong không gian, cái sau là vận động trong thời gian Ông lập luận rằng, nếu quả bất kỳ một sự biểu đạt nào, ý nghĩa của nó cũng được xác định trong sự khác biệt với vô số ý nghĩa trong khả năng tuyển chọn, thì cũng có nghĩa là nó không có được căn cứ tuyệt đối để bộc lộ, và do đó không tránh khỏi sự kéo dài và

mở rộng Điều đó dẫn đến tính vô hạn về lý giải của người đọc và nhà phê bình

3o) “Ngược xuôi tán phát” (Dissémination) Jacques Derrida muốn nói rằng do hiện

tượng “sai biệt đến kéo dài mở rộng” về hàm nghĩa, cho nên thật ra văn bản tác phẩm không hề có một trung tâm nào, do đó không nhất thiết phải đọc theo một trình tự nhất định, mà có thể tháo tung và đảo lộn cấu trúc của nó So với ngay cả Roland Barthes (trong giai đoạn sau) chủ trương “phân cắt tác phẩm”, thì quan niệm này của Jacques Derrida lại càng cực đoan hơn nhiều Cũng khác với Roland Barthes chia tác phẩm ra hai loại “dễ đọc” và “khó đọc”, Derrida lại chia cách đọc

ra làm hai Cách “đọc dễ” hiểu ngay văn bản tác phẩm, nhưng đem lại cho người ta những cảm nhận sai lầm Chính vì thế mà ông chủ trương phải vươn đến cách đọc khác là “kéo dài và mở rộng”, “ngược xuôi tán phát” như trên đã nói, để qua sự hoài

nghi và siêu thoát mà nắm bắt ý nghĩa của tác phẩm

2) Chủ nghĩa lịch sử mới ( New historicism)

Chủ nghĩa hình thức, Phê bình mới và nhất là chủ nghĩa cấu trúc chỉ coi trọng ngôn ngữ, xem văn bản tác phẩm chỉ là một kiểu tổ chức lời văn, một cấu trúc tự

Trang 30

thân.v.v , mặc dù có nhiều khám phá, nhưng không tính đến việc biểu hiện và phản ảnh nhân tâm thế sự gì cả, cái cấu trúc văn bản tác phẩm ấy, đến lúc phải tự phá vỡ, phải đươc phân giải Chủ nghĩa giải cấu trúc ra đời lại cho rằng “cái biểu đạt” thật ra chỉ biểu đạt một “cái biểu đạt” khác mà thôi; cấu trúc văn bản tác phẩm, do đó chỉ sản sinh ra “một dải ngân hà của cái biểu đạt”, nghĩa là ai muốn hiểu sao tuỳ thích Cấu trúc khép kín lại thì bế tắc, phải phân giải ra thì phiêu diêu vô định, tuy rất khác nhau, nhưng chung một gốc là đều tách rời tác phẩm văn học ra khỏi bối cảnh lịch

sử xã hội.Chính những lý thuyết gia của chủ nghĩa giải cấu trúc đã có những thoáng băn khoăn về điều này: “Văn học hay lịch sử ?”(R.Barthes); “Phải vượt qua chủ nghĩa hình thức” (G.Hartman) Thế là vào cuối thế kỷ trước, chủ nghĩa hậu hiên đại

đã dần dần bộc lộ cái xu thế phải trả văn học về với nơi chôn nhau cắt rốn của nó, tức là phải gắn văn học với lịch sứ xã hội mà xem xét Nhưng về quê cũ không theo lối mòn xưa, tức là không theo chủ nghĩa lịch sử vốn có dựa trên quyết định luận khách quan Trái lại chủ nghĩa lịch sử mới lại đặt nền tảng trên mối quan hệ giữa chủ thể với lịch sử

Chịu ảnh hưởng quan niệm của M.Foucault, S.Greenblatt cho rằng trong mối quan hệ giữa văn học và lich sử có bao hàm mối quan hệ giữa nhân vật văn học với

hệ thống “quyền lực” trong hiện thực lịch sử Nhân tính cùng mọi sự nhào nặn chúng đều nằm trong hệ thống diễn ngôn của phong tục, tập quán, truyền thống, tức

là bị chi phối bởi một hệ thống văn hoá mang những ý nghĩa đặc thù, dựa vào sự biến đổi tương tác với nhau được khống chế từ những khả năng trừu tượng đến những sự vật lịch sử cụ thể, từ đó sáng tạo nên được những cá tính nhất định của thời đại Văn học không những không rong chơi bên ngoài hệ thống diễn ngôn văn hoá, mà trái lại, đã trở thành lực lượng trung kiên của nó, phát huy được những chức năng đặc biệt theo ba phương thức liên quan với nhau Đó là sự thể hiện những hành động cụ thể của những nhà văn nhất định, là sự biểu hiện những mã chủ cấu thành hành vi quy phạm của tác phẩm văn học, và cuối cùng là sự quan sát phản tỉnh đối với những mã chủ đó Như thế, văn học không đơn thuần phản ảnh hiện thực xã hội,mà còn tác động ngược lại đối với xã hội, thể hiện từ động cơ sáng tác của nhà

Trang 31

văn, khuynh hướng của tác phẩm và cả trong sự tiếp nhận chủ động của người đọc

Do đó ở đây không có hiện thực lịch sử thuần tuý, mà là xuyên thấm mối quan hệ tương tác giữa chủ thể với lịch sử

Nghiên cứu văn học cũng vậy, không chỉ là câu chuyện khảo cổ, mà là sự cộng minh nhân tính, không chỉ thuần tuý trình bày phương diên lịch sử, mà phải xuyên thấm sâu sắc phương diện chủ thể Qua đây có thể thấy mấy điều như sau : Một là, đi sâu vào bất cứ văn bản văn học riêng biệt nào cũng không thể chỉ dừng lại

ở ngôn ngữ văn tự, mà phải “không ngừng trở về với thể nghiệm cá nhân và hoàn cảnh đặc thù”, trở về với cái gốc lịch sử của nhân tính,với tính thống nhất nguyên sơ của sự tạo hình nhân cách cái Tôi, với “tâm cảnh đồng nhất” có thể đạt đến giữa cá thể với công đồng…Điều này là để phân biệt với chủ nghĩa hình thức, những điểm tiếp theo sau lại để phân bịêt với chủ nghĩa lich sử cũ Hai là, bất kỳ sự lý giải nào đối với tác phẩm quá khứ đều không thể vượt qua cái hố ngăn cách của lich sử để có thể tìm đến cái gọi là “nguyên ý”.Trái lại, sự giải thích đối với bất cứ văn bản nào cũng là sự đối thoại giữa hai thời đại, hai cõi tâm linh, cũng có nghĩa là sự giải thích lại ý nghĩa được hiểu trước kia của văn bản, bởi vì mọi thứ lịch sử đều có thể trở thành lịch sử đương đại Điều này có bóng dáng quan niệm “dung hợp tầm nhìn” của Gadamer Ba là, lý giải văn bản tác phẩm nào cũng phải trở về với cái ngữ cảnh lịch sử, đồng thời cũng tức là trở về với cái kết cấu của “diễn ngôn quyền lực” lúc bấy giờ Như thế phải làm sáng tỏ mối quan hệ ngôn ngữ bản thân với ngôn ngữ quyền lực, giữa sự “biểu trưng” của sinh mệnh bản thân với vận mệnh bị ngôn ngữ quyền lực áp chế Cho nên đi sâu vào văn bản tác phẩm văn học quá khứ, phải làm sáng tỏ đâu là ý thức của tác giả bị đồng hoá bởi hình thái ý thức chủ đạo, đã đánh mất đị sự tỉnh táo đáng lẽ phải được kiên trì, song vẫn còn giữ được tư tưởng, ý nghĩa, chủ đề của kinh nghiệm cá nhân, đâu là những biểu hiện của cơ cấu quyền lưc áp chế trong văn bản, hơn nữa phải nỗ lực tìm đến những rạn nứt tư tưởng, những ý tưởng mới lạ nảy sinh trong sự đối kháng của những phép tắc tâm linh cá thể với cơ cấu của hình thái ý thức.Triển khai vấn đề như vậy chăc chắn sẽ tạo ra

Trang 32

một trường diện rộng rãi cho sự cộng hưởng đối với tâm linh của con người hiên đại Rõ ràng quan niệm này có chịu ảnh hưởng của M.Foucault

Có thể thấy nghiên cứu phê bình theo chủ nghĩa tân lịch sử đã vượt qua cái mô thức tư duy đối lập nhị nguyên của các tư trào cấp tiến tả khuynh phương Tây, chuyên chống đối phủ nhận một chiều đối với hình thái ý thức quan phương, ngôn ngữ quyền lực, văn hoá thống trị v.v , trái lai biết xem xét ngoài quan hệ đối kháng, còn có những sách luợc giao thoa như cầu đồng, lợi dụng, hoá giải, thoả hiệp v.v Nếu đơn giản hoá một chiều phương diện xung đột, đấu tranh, mâu thuẫn, thì

sẽ không nhận chân chính xác sự diễn biến phức tạp quanh co ở cả hai phương diện sinh thành và cấu trúc của các sản phẩm văn hoá trong lịch sử

IV) Phê bình nữ quyền và Phê bình hậu thực dân

Chủ nghĩa tân lịch sử đánh dấu sự chuyển biến trong lòng chủ nghĩa hậu hiện đại, từ giải cấu trúc không những quay về với lịch sử, mà còn với xã hội (Phê bình

nữ quyền), với chính trị (Phê bình hậu thực dân)

1)Phê bình nữ quyền (Feminist criticism)

Phê bình nữ quyền chỉ trích Phê bình truyền thống trên ba mặt cho rằng nó đã lấy kinh nghiệm của nam giới làm cơ sở, bỏ qua hàng loạt sáng tác của nữ văn sĩ, nếu có đề cập đến, thì chỉ xem họ là nhà văn thông thường như nam văn sĩ, mà quên

đi giới tính của họ Trên cơ sở khẳng định kinh nghiệm văn học và kinh nghiệm xã hội của nữ giới, họ nghiên cứu đánh giá lại toàn bộ văn học sử, phát hiện lại địa vị

và giá trị của những nữ văn sĩ với những phương thức sáng tác đặc thù trong sự đối sánh với nam giới Họ chủ trương, vô luận nam hay nữ, hãy “lấy thân phận của phụ

nữ để đọc” tác phẩm văn học, mới phát hiện hết những hạn chế và thiên kiến của lối phê bình nam quyền, mới phát hiện toàn diện những vấn đề tiềm ẩn cả hai mặt văn học và chính trị Đây là những nội dung khái quát nhất, còn thật ra Phê bình nữ quyền diễn biến rất phức tạp theo từng thập kỷ theo ba dạng thái không tách rời, nhưng mang trọng điểm khác nhau như sau:

Trang 33

a)Phê bình về hình tượng phụ nữ (Women’s image criticism).Thịnh hành

vàonhững năm 60 với những cây bút tiêu biểu như T Moi, E Showalter, K Millett,

A Kolodny Lấy tư cách là giới tính thứ hai, loại phê bình này, đọc lại những sáng tác và phê bình văn học liên quan đến hình ảnh phụ nữ, vạch rõ địa vị thứ phụ của

phụ nữ trong văn học Về mặt sáng tác, đó là những hình tượng giả không tương

hợp với tính cách và hoàn cảnh của phụ nữ trong thực tế - nếu không phải là những

thiên sứ ngây thơ, đáng yêu, xinh đẹp, vô tư và vô tri, thì là những yêu nữ xấu xí, tư

lợi, phức tạp, nguy hiểm v v…, đằng nào thì cũng là phản ảnh những nhu cầu và thiên kiến của nam giới đối với nữ giới Trong phê bình cũng bộc lộ thói coi thường phụ nữ, thí dụ có người phân loại những hình tượng nữ nhân vật trong sáng tác của

W Faulkner thành bò cái và chó cái v.v…Cùng vạch trần xã hội đen tối, nhưng tác phẩm của nam văn sĩ được gọi là “hiện thực” sâu sắc, còn nếu tác giả là nữ thì bị nhận xét là “tàn nhẫn”, “lòng dạ sắt đá” Nếu một nữ tác giả nào được khen, thì cũng chẳng qua là vì có bút pháp nam tính v.v… Nhà phê bình E.Showalter gọi đây

là chứng ghét nữ (misogyny) trong văn học Nó có những căn nguyên sâu xa và dai

dẳng trong lịch sử, văn hoá của xã hội phu quyền

b)Phê bình lấy phụ nữ làm trung tâm (Women-centered criticism).Thịnh hành

vào những năm 70, mang màu sắc quá khích của độc tôn nữ quyền Ngoài những cây bút trước kia như S Gilbert v.v…, giai đoạn này còn có những người tiêu biểu như P M Spacks v.v… Muốn độc tôn, họ phải phủ nhận triệt để không những nam quyền, mà cả nam giới Họ phản đối ngay cả mối giao hoan thần thánh giữa hai giới.Chả là trước đây S de Bauvoir đã nêu vấn đề nữ đồng tính luyến ái (lesbianism) Kế thừa điều này, bấy giờ A Rich kiến nghị phải xem trò luyến ái khác giới “như một chế độ chính trị để phân tích và nghiên cứu” Họ phê phán bất

cứ thứ lý thuyết nào liên quan đến tính ưu việt và ưu thế của nam tính, kể cả lý thuyết của S Freud, chả là nhà phân tâm học này có nêu ra khái niệm “chứng ganh

tỵ dương vật” (penis envy).Bà K Millett cho đó là thứ lập luận hoàn toàn xuất phát

từ bản vị nam giới để đo lường, giới thuyết cái gọi là khiếm khuyết thiên định của

nữ giới (Chính trị giới tính) Họ lên án gay gắt sự thao túng của nam quyền trong

Trang 34

văn học Chả thế mà cây bút (pen) không những về hình dáng mà cả về phương diện

từ nguyên cũng có gốc gác từ dương vật (penis) Đả phá như vậy, Phê bình lấy phụ

nữ làm trung tâm đã tiến lên xây dựng môn Thi học nữ tính tìm nguồn (Female

poetics of affiliation) Tìm nguồn là tìm về những giá trị mẫu quyền xa xưa, ở đó chỉ

có sự dưỡng dục, vỗ về, thân ái phi bạo lực, đối lập với tinh thần của Thi học nam tính hàm chứa những mầm mống của cạnh tranh và xâm lược Họ còn thiết lập môn

Mỹ học nữ tính (Female aesthetics) với chủ trương “mang ý thức nữ tính vận dụng

vào văn học, ngôn ngữ, quan niệm, giá trị…” vì nó “ưu việt hơn thế giới lý tính của đàn ông” (E Showalter)

c) Phê bình nhận diện (Identity criticism) Xuất hiện từ những năm 80 trở đi

với những cây bút như M Eaglaton, L Robinson.v.v… Nói nôm na nhận diện là

nhìn nhận cho toàn diện thân phận của người phụ nữ Nỗi đau khổ của tuyệt đại

đa số người phụ nữ cụ thể ở ngoài đời, đâu phải chỉ là vấn đề giới tính Bởi vì một lẽ giản đơn là có nhiều loại phụ nữ khác nhau, có phụ nữ da trắng và da màu,

có nữ công nhân và bà chủ tư sản, mà chưa chắc các bà đều thích đồng tính luyến

ái Nỗi đau khổ của một nữ công nhân da đen chắc chắn chủ yếu không vì phải yêu đương khác giới M Eagleton cho rằng: “Đọc những sách báo của Phê bình

nữ quyền, thường thấy xuất hiện sự chật hẹp và một chiều rất cực đoan, phản ảnh nhu cầu của những phụ nữ da trắng trong tầng lớp trung lưu Xét về mặt lý luận, nền chính trị duy vật cần đề xuất những khả năng đích thực cho những phụ nữ da màu, những nữ công nhân, và cả những người nữ đồng tính luyến ái, cùng bất cứ dạng tổ hợp nào của ba loại đó Một khi nhà phê bình tin rằng chủng tộc, giai cấp

và khuynh hướng giới tính hợp thành được một phần quan trọng trong sáng tác, thì có thể xuất hiện một loại phê bình vừa nhận rõ sự khác biệt, nhưng không chỉ

của một nhóm nhỏ đặc quyền mà đại diện được cho đại đa số” (Lý luận văn học

nữ quyền) Theo tinh thần này, từ đây, khuynh hướng Phê bình nữ quyền của

người da đen phát triển mạnh mẽ nhất là ở Hoa Kỳ

2) Phê bình “hậu thực dân” (Post-colonial criticism )

Trang 35

a) Phê bình “hậu thực dân” là gì? Không phải Phê bình theo mà là đối với

chủ nghĩa hậu thực dân Sau Đại chiến II, hệ thống thuộc địa dần dần tan rã Nhưng dần dần người ta phát hiện ra rằng chủ nghĩa đế quốc vẫn nuôi dưỡng mưu đồ bá quyền trên những đất nước vừa mới được giải phóng ra khỏi ách thuộc địa này bằng mọi phương sách, trong đó văn hoá giữ một vai trò tiên phong, và đó là chủ nghĩa hậu thực dân.Từ đây có những phát ngôn phản kích của các học giả không những ở các nước thế giới thứ ba như G.C Spivak, người Ấn Độ v.v mà ngay cả ở chính quốc như J Tomlinson người Anh v.v Đặc biệt phải kể đến F Jameson, nhà mỹ học mác-xít nổi tiếng của Hoa Kỳ cho rằng các nước Âu Mỹ, tự cho ý thức hệ của mình là ưu việt có giá trị toàn thế giới, giữ quyền chủ đạo trong việc truyền bá và cưỡng chế văn hoá vào các nước thế giới thứ ba, làm cho văn hoá truyền thống ở những xứ sở này rơi vào địa vị phụ thuộc, lép vế và biến chất F Jameson chủ trương phải để cho văn hoá truyền thống ở thế giới thứ ba được “đối thoại” bình đẳng với văn hoá Âu Mỹ, trở thành một bộ phận xứng đáng trong nền văn hoá nhân loại đa trung tâm và nhiều màu sắc v.v Có thể thấy Phê bình hậu thực dân tuy có một mục tiêu đấu tranh thống nhất, nhưng rất rộng rãi về cả hai mặt địa lý và tư tưởng

b) Quan niệm của E.W.Said Tiêu biểu nhất của Phê bình hậu thực dân là E.W

Said với công trình tiêu biểu là Chủ nghĩa phương Đông (Orientalism, New York: Pantheon, 1978) vì chiều sâu lịch sử và học thuật của nó.E.W Said cho rằng Chủ

nghĩa phương Đông có ba hàm nghĩa Nghĩa thứ nhất, vốn dùng để chỉ danh một

ngành khoa học, và dần dần được thay thế bằng thuật ngữ “Đông phương học” (Oriental Studies) Nghĩa thứ hai, chỉ một phương thức tư duy khác với phương Tây

về cả hai mặt bản thể luận và nhận thức luận Nghĩa thứ ba quan trọng nhất, “chủ nghĩa phương Đông” chỉ hàng loạt quy phạm chung của phương Tây đối xử với phương Đông Phương Đông được miêu tả và bình luận theo những quy phạm đó,

và nó tác động ngay đến khi phương Đông tự nói về mình Qua những quy phạm đó, quan hệ Đông Tây toàn là quan hệ giữa ảnh hưởng và bị ảnh hưởng, giữa chi phối

và chịu chi phối, giữa cho và nhận v.v “Chủ nghĩa phương Đông” theo nghĩa này

Trang 36

đã chứa chất những “huyền thoại về phương Đông” vô tri, thiên kiến và quái dị E.W Said viết: “Tất cả những điều đó của chủ nghĩa phương Đông đều vô quan với phương Đông: Sở dĩ phương Đông còn có ý nghĩa là hoàn toàn được quyết định bởi phương Tây, chứ không phải bởi chính bản thân phương Đông Quan niệm này được tô đậm là nhờ vào mọi loại kỹ xảo biểu hiện của phương Tây… Thường mỗi người phương Tây, bất luận họ nói những gì về phương Đông, thì xét đến cùng họ vẫn đích thực là người theo chủ nghĩa đế quốc và lý thuyết chủng tộc trung tâm”

“Chủ nghĩa phương Đông” theo nội dung như vậy là một vũ khí tư tưởng của chủ nghĩa hậu thực dân, nhằm ngăn cản sự trỗi dậy của thế giới thứ ba theo con đường thực sự độc lập, tự chủ, văn minh và giàu mạnh E.W Said còn phát hiện ra một động cơ tâm lý của những kẻ sáng tạo ra những “huyền thoại về phương Đông” vô tri, thiên kiến và quái dị là nhằm khoả lấp, giải trừ những mặc cảm thua kém trước

những nền văn minh cổ đại rực rỡ ở phương Đông

Tất nhiên không nên vơ đũa cả nắm, còn có những cách phát ngôn và thực thi

“chủ nghĩa phương Đông” theo các lập trường khác nữa Có một số người gốc gác huyết thống ở thế giới thứ ba, nhưng đã trở thành những trí thức cao cấp ở Âu Mỹ, trước mặt phương Tây họ không tránh khỏi mặc cảm mất gốc, nhưng quay nhìn về quê hương phương Đông, thì họ lại mang đầy cảm xúc ưu việt của người phương Tây E.W Said chỉ châm biếm thoáng qua họ là những “quả chuối” (ngoài vàng trong trắng) Ông chỉ lưu ý thêm một loại “chủ nghĩa chủng tộc cực đoan”mà ông không đồng tình Họ bộc lộ một chủ nghĩa chủng tộc ở phương Đông, mang tính chất khép kín, bài ngoại, khoét sâu thêm mâu thuẫn xung đột giữa văn hoá Đông Tây Điều lý thú là họ thường trương chiêu bài của E.W Said, ra sức trích dịch hoặc

phỏng dịch biến công trình Chủ nghĩa phương Đông của ông thành Chủ nghĩa phản

phương Tây! Thật ra ông chỉ chống lại loại chủ nghĩa phương Đông của chủ nghĩa

thực dân đế quốc luôn hạ thấp những giá trị văn hoá phương Đông, nhưng chính là

để xây dựng một chủ nghĩa phương Đông chân chính nói đúng những giá trị vốn có của phương Đông trong sự hợp thành những giá trị chung của nhân loại

Trang 37

C) LÝ LUẬN VĂN HỌC MÁC-XÍT PHƯƠNG TÂY

I)Chủ nghĩa Mác phươngTây và các trào lưu văn học tk XX

1)Lịch sử và cấu trúc của chủ nghĩa Mác phương Tây

a) Quá trình hình thành và diễn biến Sau thất bại của các cuộc cách mạng vô

sản ở Trung và Tây âu, với tư cách một nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Hung, G

Lukacs đã viết hàng loạt bài báo sau tập hợp lại trong cuốn Lịch sử và ý thức giai

cấp (1923), nêu lên kiến giải riêng của mình và bị Lê nin phê phán là: “bệnh ấu trĩ

tả khuynh trong phong trào Cộng sản”, nhưng đã đặt viên đá tảng đầu tiên cho chủ nghĩa Mác phương Tây (Western marxism) G.Lukacs khẳng định sở dĩ cách mạng thất bại là do “nguy cơ từ mặt ý thức của giai cấp vô sản”, không biết phát huy tính năng động chủ quan Đây là di hại do “chủ nghĩa kinh tế” của Đệ nhị quốc tế cho rằng thành bại của cách mạng là do điều kiện kinh tế quyết định, phải đợi cho điều kiện kinh tế chín muồi, thì thắng lợi của cách mạng sẽ tự khắc đến Di hại này còn bắt nguồn gián tiếp từ trong “phép biện chứng tự nhiên” của Anghen và phản ánh luận của Lê nin Phản ánh luận chỉ thiên về sự phản ánh thụ động, còn Phép biện chứng tự nhiên đã làm lu mờ vai trò chủ quan của con người, bởi vì phép biện

chứng chỉ có thể có giữa chủ thể và khách thể trong lịch sử xã hội mà thôi, và đây là quan niệm vốn có của Hégel Như thế cần phải giải thích lại chủ nghĩa Mác bằng nguồn gốc triết học của nó là phép biện chứng của Hégel rất đề cao vai trò của chủ thể của con người Cho nên một đặc điểm đầu tiên của chủ nghĩa Mác phương

Tây là chủ nghĩa Mác kiểu Hégel

Năm 1932, lần đầu tiên, tác phẩm Bản thảo kinh tế triết học năm 1844 được

công bố toàn văn, các nhà mác- xít phương Tây đua nhau chú thích và giải thích,

nhưng toàn khai thác những điều có lợi cho họ.Bản thảo được viết trong thời

trẻ,Mác chỉ căn cứ theo quy luật của phép biện chứng trong lịch sử để luận bàn về

tính tất yếu của chủ nghĩa cộng sản mà thôi Hơn nữa trong Bản thảo này, những

vấn đề triết học chỉ triển khai xoay quanh vấn đề con người và có tuyên bố rõ chủ

Trang 38

nghĩa cộng sản là chủ nghĩa nhân đạo triệt để nhất, từ đây những nhà mác- xít phương Tây đã tập trung khai thác vấn đề nhân bản, xem đó là những vấn đề cơ bản

trong triết học của Mác Chủ nghĩa Mác phương Tây, do đó được xem là Chủ nghĩa

Mác nhân đạo

Những nhà mác-xít phương Tây còn cho rằng “Khi gặp…những vấn đề mà một

số lý thuyết của Mác chưa thể giải đáp, thì chúng tôi…dùng những điều mà các nhà

lý luận tư sản hiện đại nói để bổ sung và hoàn thiện chủ nghĩa Mác” (A.Schmidt) Thí dụ tại sao đại đa số nhân dân Đức lại ũng hộ Hitler như vây? Họ đã vận dụng tâm lý học vô thức của S Freud,cho rằng ngay đông đảo tầng lớp tiểu tư sản hiển nhiên cũng muốn bảo vệ quyền lợi của mình, luôn luôn ám ảnh trong vô thức một thứ quyền lực, một loại “quyền uy được nội tại hoá”,từ đó đã thăng hoa thành một

sự phục tùng vô điều kiện đối với loại “quyền uy bên ngoài” của ách độc tài.Cách giải thích này là một trong những biểu hiện đầu tiên về sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác với phân tâm học, hay nói rộng ra là với tư tưởng hiện đại phương Tây vì về sau, nó càng hàm chứa nhiều xu hướng khác nữa Không phải chỉ có chủ nghĩa Mác-phân tâm của M Marcuse và A Fromm, mà còn có chủ nghĩa Mác-hiện sinh của J

P Sartre và M.Ponty, chủ nghĩa Mác-thực chứng của L.Coletti, chủ nghĩa Mác-cấu

trúc của L.Althusser.v.v…Chủ nghĩa Mác phương Tây, do đó là chủ nghĩa Mác cởi

mở Hê tư tưỏng này còn tiếp tục diễn biến rõ thêm qua những kiến giải và thái độ

đối với những hiện tương sau chiến tranh thế giới thứ hai như sự phát triển siêu tốc của khoa học kỹ thuật, phong trào tạo phản của thanh nhiên và sinh viên,nguy

cơ sinh thái v.v.Điều này sẽ khái quát vào tư tưởng chính trị và triết học tiếp theo

b)Tư tưởng triết học Chủ nghĩa Mác phương Tây xuất phát từ nguyên lý tính

chủ thể thuần tuý, rồi đem vận dụng nó vào xã hội và tư duy, mà trước hết là vào thiên nhiên.Vốn Mác chỉ cho rằng trong thiên nhiên có một bộ phận được nhân hoá Nhưng chủ nghĩa Mác phương Tây dựa vào điều này cho “thiên nhiên nhân hoá” là tất cả.Sự ngộ nhận ở đây không những chỉ ở chỗ không thấy “thiên nhiên nhân hoá” chưa phải là toàn bộ thiên nhiên, mà còn không nhận rõ “thiên nhiên nhân hoá” chỉ

Trang 39

là “thiên nhiên thứ hai”, chứ không phải mang tính thứ nhất như thiên nhiên vốn có.Nó cũng chỉ mang tính chất xã hội, chứ không phải “hoàn toàn thuộc phạm trù xã

hội” như G Lukacs đã nói.Họ còn nêu ra lý thuyết “tính tổng thể” để giải thích sự

phát triển xã hội, với tư cách là một hệ thống phức tạp, xem nhẹ tác dụng của cơ sở kinh tế Họ cũng nêu ra “phép biện chứng chủ khách thể”, nhưng nhấn mạnh chỉ riêng tính khuynh hướng được chi phối bởi tác dụng năng động của con người.Họ thường dùng chủ nghĩa nhân đạo, nêu lên mâu thuẫn giữa xã hội với nhân tính,và cho đó là mâu thuẫn cơ bản trong xã hội hiện đại

Về mặt nhận thức luận, chủ nghĩa Mác phương Tây cho rằng tiền đề của phản ánh luận Lênin là đã đem tách rời thực tại và tư duy,mà thật ra trong thực tại diễn biến, thì đã có tư duy tham gia vào đấy rồi: “Khi mà trong tương lai chân lý được sinh thành còn chưa ra đời vì còn cần sự sáng tạo, khi mà trong tính khuynh hướng với tư cách sự vật mới còn dừng ở chỗ đang thực hiện (do sự giúp đỡ của ý thức

chúng ta), thì vấn đề tư duy có phản ánh đúng hay không chẳng có ý nghĩa gì.“(Lịch

sử và ý thức giai cấp)

c) Tư tưởng chính trị xã hội.Do công cuộc cơ khí hoá và tự động hoá đang hình

thành,chủ nghĩa Mác phương Tây cho rằng nếu căn cứ vào hai tiêu chí là cùng khổ

và lao động nặng nhọc mà Mác nêu ra vào thế kỷ XIX, thì đến thế kỷ XX không còn giai cấp vô sản,mà chỉ còn giai cấp công nhân,không những lao động chân tay mà cả trí óc nữa Và cũng vì khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng,nhiều nhà tư bản phải thuê chuyên gia làm giám đốc để quản lý xí nghiệp, không còn giữ được vai trò như trước Mặt khác do lương cao,lại dần dà tích luỹ được nhiều cổ phiếu, các nhà quản lý cũng thành giai cấp tư sản mới, biên độ của giai cấp tư sản thống trị cũng

được nới rộng

Mặc dù nói trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản đã thay đổi, nhưng chủ

nghĩa Mác phương Tây, trước sau vẫn nhất quán phê phán lên án những nguy cơ của nó.Có điều nguy cơ về kinh tế khủng hoảng mà Mác nêu ra trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do không còn phù hợp nữa, mà theo họ thì lại là những nguy cơ

Trang 40

khác.Trước hết là “thuyết nguy cơ bái vật giáo” của H.Marcuse Ông cho rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại vì lợi nhuận đã tạo ra những “nhu cầu giả tạo”, thực hành

“chính sách cưỡng bức tiêu thụ”, dẫn dụ con người theo đuổi hưởng thụ vật chất vô hạn độ ,biến thành nô lệ của vật,làm tha hoá bản chất con người Hoặc thuyết “nguy

cơ sinh thái” của B.Agger cho rằng trong thời Mác sống, hoàn cảnh thiên nhiên mới được khai thác như nguồn nguyên liệu vô tận Nhưng ngày nay, vì lợi nhuận không bao giờ thừa, nền sản xuất tư bản đã tiến đến hai loại thái quá:sản xuất và tiêu thụ Kết quả là các nguồn năng lượng bị cạn kiệt, thiên nhiên bị tàn phá, dẫn đến nguy

cơ sinh thái nghiêm trọng cho chính xã hội tư bản

Cuối cùng về hiệu ứng chính trị xã hội của cách mạng khoa học kỹ thuật,trước hết sẽ làm cho hai chế độ xã hội xích gần và cuối cùng dung hợp nhau.Thứ hai, sự phát triển của khoa học kỹ thuật là tỉ lệ nghịch với sự trau dồi nhân tính,vì phải triệt

để hình thức hoá, ký hiệu hoá, với những lô- gíc lạnh lùng của những thao tác trong thế giới hàng hoá, xa lánh dần việc tu dưỡng tâm hồn đạo đức Thứ ba, do tự động hoá, số người lao động giảm đi nhiều, nhưng lợi nhuận lại tăng vọt, cho nên thuyết giá trị thặng dư của Mác đã không còn đúng nữa v.v…

d)Tư tưởng văn hoá văn nghệ.Tư tưởng văn hoá văn nghệ của chủ nghĩa Mác

phương Tây vô cùng phong phú và phức tạp Điều này có liên quan ít nhiều đến tính chất kinh viện của chủ nghĩa Mác phương Tây với tư cách là một trào lưu tư tưởng, chứ không phải là một tổ chức xã hội chính trị Tất nhiên thế hệ đầu của các nhà Mác-xít phương Tây có tham gia hoạt động thực tiễn, nhưng khi gặp phải thất bại chung hoặc trở ngại riêng trên con đường chính trị, thì đã rút lui về con đường nghiên cứu trước tác G.Lukacs thì sau thất bại của cách mạng Hung đã sống lưu vong và hoạt động học thuật là chính A.Gramsci, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Ý, sau khi bị tù, thì cũng chuyên trước tác trong hoàn cảnh hoàn toàn bị cô lập với cuộc đấu tranh bên ngoài v.v… Điều này cũng còn góp phần hình thành trọng điểm riêng trong hoạt động học thuật của họ.Không phải hoàn toàn rời bỏ những vấn đề kinh tế và chính trị, nhưng chủ nghĩa Mác phương Tây tập trung nghiên cứu

Ngày đăng: 19/04/2014, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Aristote. Nghệ thuật thơ ca Nhiều ng−ời dịch, nxb Văn học, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Nhà XB: nxb Văn học
2. Hegel. Mĩ học. 2 tập, Phạn Ngọc dịch. Nxb Văn học, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học
Nhà XB: Nxb Văn học
3. Bakhtin M. Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh C− dịch, Tr−ờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
4. Bakhtin M. Những vấn đề thi pháp Đoxtoievxki, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân V−ơng Trí Nhàn dịch, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đoxtoievxki
5. Bakhtin M. Sáng tác của Francoi Rabelais và nên văn hoá dân gian trung cổ và phục h−ng. nxb KHXH, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác của Francoi Rabelais và nên văn hoá dân gian trung cổ và phục h−ng
Nhà XB: nxb KHXH
6. Antoine Compagnon. Bản mệnh của lí thuyết. Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào dịch, nxb ĐHSP, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản mệnh của lí thuyết
Nhà XB: nxb ĐHSP
7. Lotman Ju. Cấu trúc văn bản nghệ thuật. Trần Ngọc V−ơng, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thuỷ dịch. ĐHQG Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc văn bản nghệ thuật
8. Roland Barthes. Độ không của lối viết, Nguyên Ngọc dịch, nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Nhà XB: nxb Hội nhà văn
9. Roland Barthes. Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, nxb Tri thức, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những huyền thoại
Nhà XB: nxb Tri thức
12. Hà Minh Đức. Tác phẩm văn học, nxb GD, Hà Nội, 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học
Nhà XB: nxb GD
13. Hà Minh Đức. Loại thể văn học, nxb GD, Hà Nội,1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại thể văn học
Nhà XB: nxb GD
14. Hà Minh Đức và Bùi Văn Nguyên. Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại. KHXH, Hà Nội, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại
15. Hà Minh Đức. Mác, Ang ghen Lênin bàn về văn học nghệ thuật, nxb Sự thật, Hà Nội, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác, Ang ghen Lênin bàn về văn học nghệ thuật
Nhà XB: nxb Sự thật
16. Trịnh Bá Đĩnh. Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, nghiên cứu và dịch thuật, nxb Văn học Trung tâm quốc học, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Nhà XB: nxb Văn học Trung tâm quốc học
17. Tr−ơng Đăng Dung. Tác phẩm văn học nh− là quá trình. nxb KHXH, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học nh− là quá trình
Nhà XB: nxb KHXH
18. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương. Lí luận văn học, vấn đề và suy nghĩ.nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học, vấn đề và suy nghĩ
Nhà XB: nxb Giáo dục
19. Thomas Kuhn. Cấu trúc của cuộc cách mạng khoa học, Chu Lan Đình dịch, nxb Tri thức Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc của cuộc cách mạng khoa học
Nhà XB: nxb Tri thức Hà Nội
20. Kundera Milan. Tiểu luận, Nguyên Ngọc dịch, nxb Văn hoá thông tin, TT Đông Tây, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận
Nhà XB: nxb Văn hoá thông tin
21. Kundera Milan. Nghệ thuật tiểu thuyết, nxb Đà Nẵng, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tiểu thuyết
Nhà XB: nxb Đà Nẵng
22. Tzvetan Todorov. Thi pháp văn xuôi, Đặng Anh Đào, Lê Hòng Sâm dịch, nxb ĐHSP Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn xuôi
Nhà XB: nxb ĐHSP Hà Nội

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w