1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH, THANH CHÂU, ĐỖ TỐN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

118 1,6K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Không Gian Làng Quê Trong Truyện Ngắn Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn
Tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 572 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Phạm Thị Thu Hương với luận án: “Ba phong cách truyện ngắntrữ tình Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh” đã có những nghiên cứu rấtcông phu về đặc điểm phong cách truyện ngắn Thanh Tị

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

I Lý do chọn đề tài 1

II Lịch sử vấn đề 2

III Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu 9

IV Phương pháp nghiên cứu 10

V Đóng góp của luận văn 10

VI Cấu trúc luận văn 11

CHƯƠNG I - KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT, KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRƯỚC 1945 VÀ ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ THANH TỊNH, THANH CHÂU, ĐỖ TỐN 12

1 Không gian nghệ thuật và không gian làng quê trong văn học Việt Nam trước 1945 12

1.1 Không gian nghệ thuật 12

1.2 Không gian làng quê trong văn học Việt Nam trước 1945 14

2 Con đường sáng tác của ba tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn 22

2.1 Tác giả Thanh Tịnh 22

2.2 Tác giả Thanh Châu 24

2.3 Tác giả Đỗ Tốn 25

CHƯƠNG II - ĐẶC TRƯNG KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG TRUYỆN NGẮN TRỮ TÌNH THANH TỊNH, THANH CHÂU, ĐỖ TỐN 28

1 Không gian làng quê – một vẻ đẹp của quê hương đất nước 28

1.1 Không gian thiên nhiên thơ mộng trữ tình 28

1.2 Cảnh quê tàn tạ, hiu hắt, u buồn nhưng đầy ân tình 37

1.3 Khung cảnh rộn ràng của phong tục tập quán nơi quê nhà 53

Trang 2

2 Không gian làng quê – nơi biểu hiện của khát khao tìm về nguồn cội và

là biểu tượng cho nguồn cội 59

3 Không gian làng quê – nơi gửi gắm những cảm xúc về một tình yêu trong sáng 67 CHƯƠNG III - MỘT SỐ NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG TRUYỆN NGẮN TRỮ TÌNH THANH TỊNH, THANH CHÂU, ĐỖ TỐN 82

1 Không gian làng quê được miêu tả sống động, chân thực và đầy chi tiết 82

2 Không gian làng quê được miêu tả bằng giọng văn nhẹ nhàng, thấm nỗi buồn hoài thương 94 KẾT LUẬN 109 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

1 Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, văn họcViệt Nam phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá Chỉ trong một thờigian ngắn (từ 1930 đến 1945), văn học giai đoạn này đã đạt được những thànhtựu phong phú, rực rỡ trên nhiều lĩnh vực, đồng thời làm thay đổi diện mạonền văn học nước nhà

Trong giai đoạn văn học 1930-1945, truyện ngắn là thể loại có sự pháttriển nhảy vọt và có đóng góp quan trọng cho tiến trình hiện đại hoá nền vănhọc dân tộc Đặc biệt, loại hình truyện ngắn trữ tình đã phát triển thành mộtdòng riêng với đội ngũ các nhà văn hết sức đông đảo: Nhất Linh, Hoàng Đạo,Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Thanh Châu,Ngọc Dao, Nguyễn Xuân Huy, Đỗ Tốn, Tuy nhiên, các công trình nghiêncứu trước đây mới chỉ tập trung vào một số nhà văn mà tên tuổi của họ đãđược khẳng định như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh Mặt khác, có

những nhà văn “nếu ta đọc kỹ, nghiền ngẫm, sẽ thấy họ có những đóng góp

nhất định vào sự phát triển truyện ngắn dân tộc thời hiện đại” [52] như

Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn và rất nhiều tác giả khác lại chưa được tìmhiểu một cách đúng mức Bởi vậy, chọn ba tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu,

Đỗ Tốn, chúng tôi mong muốn hướng tới mục đích nhận diện thêm một sốcây bút trong dòng truyện ngắn trữ tình, đồng thời khẳng định vị trí và nhữngđóng góp của họ cho dòng truyện ngắn này

2 Trong văn học Việt Nam, “làng quê” là một đề tài quen thuộc, đã đivào sáng tác của rất nhiều các nhà văn, nhà thơ Ở giai đoạn văn học 1930 -

1945, đề tài này cũng trở thành mối quan tâm lớn của rất nhiều tác giả, trong

đó có ba tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn Có thể thấy, cả ba nhà vănnày đều có xuất thân từ làng quê và sự tương đồng trong khuynh hướng sáng

Trang 4

tác nên trong sáng tác của họ có rất nhiều những trang viết về con người, cảnhvật quê hương.

3 Có thể thấy, từ trước đến nay, không gian làng quê chủ yếu đượcnghiên cứu trong sáng tác của các nhà văn hiện thực như Nam Cao, Ngô Tất

Tố, Nguyễn Công Hoan, Bởi vậy, khai thác đề tài “không gian làng quê”trong truyện ngắn của ba nhà văn Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn, chúngtôi mong muốn đem đến một cái nhìn khác về đề tài này của các nhà văn viếttheo khuynh hướng lãng mạn Qua đó, chúng tôi muốn khẳng định con đườngđưa văn học đến với tính hiện đại không chỉ tập trung ở một số nhà văn tiêubiểu Có thể nói, đây vừa là cuộc chạy tiếp sức, vừa là cuộc chạy đồng đội đãđưa nền văn học của chúng ta có một bước đột phá quan trọng trong một thờigian ngắn ngủi

II Lịch sử vấn đề

1 Các ý kiến đánh giá về truyện ngắn của tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn

1.1 Những ý kiến đánh giá về truyện ngắn của tác giả Thanh Tịnh

Những ý kiến đánh giá về Thanh Tịnh tập trung chủ yếu vào hai tậptruyện ngắn của ông là “Quê mẹ” và “Ngậm ngải tìm trầm” Tập truyện “Quêmẹ” được xuất bản năm 1941, ra mắt bạn đọc với lời tựa của Thạch Lam Nhàvăn Thạch Lam đã dành cho tác phẩm những lời ca ngợi thật đẹp Ông nhận

ra : “Thanh Tịnh có lẽ là nhà văn đầu tiên ở miền Trung đã trình bày các mối

dây liên lạc nối ông với đồng nội, quê hương”[38] Nhà văn cũng chỉ ra đặc

trưng cốt truyện của Thanh Tịnh “chỉ là những việc xảy ra trong đời thường

ngày của các nhân vật vẫn sống trong các làng bến rải rác theo dọc sông hay

bỏ nơi ấy đi làm ăn phương xa”[38].

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan khi nghiên cứu về Thanh Tịnh đã đưa

ra nhận xét: “Thứ tình cảm ở tiểu thuyết Thanh Tịnh là thứ tình cảm êm dịu,

nhẹ nhàng, thứ tình cảm của những người dân quê hồn hậu Trung Kì diễn ra

Trang 5

trong khung cảnh sông nước đồng ruộng” [46] Theo Vũ Ngọc Phan: “hầu hết những truyện ngắn của Thanh Tịnh chỉ rặt những cái đầy thơ mộng, đầy huyền ảo” Bởi Thanh Tịnh, tác giả của những truyện ngắn “thơ mộng, huyền

ảo” ấy là một thi sĩ

Một nhà nghiên cứu khác là Thế Phong lại cảm nhận truyện ngắn

Thanh Tịnh ở góc độ: “Văn ông nhẹ nhàng, buồn gợi cảm dĩ vãng Đôi khi

hướng về quá vãng sâu đậm… những kỉ niệm ấu thơ gợi qua giọng văn trầm buồn” [62].

Sau này, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành

Khung … đều thống nhất cho rằng: “Mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh là một

bài thơ”, trong đó “nhiều truyện của Thanh Tịnh có khuynh hướng lãng mạn

rõ rệt”, còn “một số truyện khác lại có khuynh hướng hiện thực: một chủ nghĩa hiện thực trữ tình”.

Bên cạnh những ý kiến đánh giá về truyện ngắn của Thanh Tịnh, còn

có một số bài viết, luận văn, luận án khác nghiên cứu về những tác phẩm củaông Tác giả Phạm Thị Thu Hương với luận án: “Ba phong cách truyện ngắntrữ tình Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh” đã có những nghiên cứu rấtcông phu về đặc điểm phong cách truyện ngắn Thanh Tịnh, đặc biệt ở thế giớinhân vật và chất thơ trong truyện ngắn của nhà văn

Trong một số các bài nghiên cứu, đề tài “làng quê” trong truyện ngắnThanh Tịnh cũng được một số tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá

Bài viết của tác giả Lưu Khánh Thơ đăng trên “Tạp chí sông Hương”(số 141) đã nêu lên những đặc điểm rất riêng của truyện ngắn Thanh Tịnh:

“Đặc trưng lớn nhất trong nghệ thuật truyện ngắn của Thanh Tịnh là ông thường miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật bằng cảm giác “Cái tôi” của tác giả khiêm nhường đứng đằng sau những con người bình thường và nhỏ

bé “Cái tôi” của những cảm giác, cảm xúc mơ hồ, thoáng qua rất khó nắm

Trang 6

bắt Những trạng thái tâm lý của nhân vật ít khi được bộc lộ một cách trực tiếp, cụ thể mà thường được thể hiện nhẹ nhàng, kín đáo Thanh Tịnh tập trung sự chú ý của mình vào đời sống nội tâm của nhân vật, đặc biệt là những xao động bất chợt, những giây lát gặp gỡ tình cờ mà làm khuấy động

cả một nếp sống thường ngày bình lặng” [54].

Bên cạnh các ý kiến, các công trình nghiên cứu về truyện ngắn ThanhTịnh, cũng đã có một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra chất “đồng quê” trongtruyện ngắn của Thanh Tịnh Khi viết lời tựa cho tập truyện ngắn “Quê mẹ”,Thạch Lam là người phát hiện ra chất “đồng quê” trong truyện ngắn của ông:

“Thanh Tịnh đã muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để ca hát những đám mây, những làn gió lướt bay trên đồng, ca hát những vẻ đẹp thôn quê”[38] Thanh Tịnh là nhà văn của tình thương mến nên trên từng

trang viết “Quê mẹ”, ông đã trải những sợi tơ của lòng mình về cảnh người

quê hương: “Có lẽ linh hồn người ở đấy còn nhiều màu sắc khác nhưng tác

giả chỉ tả có cái vẻ êm ả, nên thơ Tâm hồn ưa thích những cái gì vừa đẹp đẽ, vừa nhè nhẹ, tác giả không lách đi sâu, nhưng dừng lại ở một làn gió, ở một cái thoảng hương của hoa cỏ bốn mùa” [38] Thạch Lam còn phát hiện ra

tình cảm với quê hương ở Thanh Tịnh là một thứ tình yêu mộc mạc, pha chút

buồn rầu nhưng lại rất đằm thắm, tha thiết: “Đó là tiếng nói của những tâm

hồn quê mùa kia, bài ca hát của đất nước ở một miền đồng ruộng nhờ tác giả

mà nhịp điệu và giọng buồn đến thấm thía chúng ta” [38].

Trong bài viết: “Thanh Tịnh và những trang viết nặng tình quê mẹ”,

nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ đã chỉ ra rằng: “Tập Quê mẹ man mác tình

quê hương, tình người Từng trang viết của ông thấm đượm hương vị làng quê, một làng miền Trung với những vẻ đẹp thanh bình, êm ả nhưng cũng không hiếm những cảnh đời khổ đau ngang trái Những trang văn làm sống dậy trước mắt người đọc khung cảnh êm đềm, thơ mộng của một làng quê.

Trang 7

Làng Mỹ Lý nhỏ bé nằm kế bên một dòng sông đã trở thành một địa chỉ quen thuộc, một biểu trưng nghệ thuật của tình yêu quê hương” [54].

1 2 Những ý kiến đánh giá về truyện ngắn Thanh Châu

Nhà văn Thanh Châu khởi đầu sự nghiệp văn chương của mình bằngnhững mẩu chuyện thời sự hàng ngày in trên báo Sau đó, ông cộng tác chặtchẽ với tờ Tiểu thuyết thứ bảy “Trong bóng tối” (1936) và “Hoa ti gôn”(1937) là hai tập truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Thanh Châu Khi đánh giá

về tập truyện ngắn “Trong bóng tối”, nhà nghiên cứu Phan Diễm Phương đã

viết:“Trong bóng tối là tập truyện ngắn đầu tay của Thanh Châu nhưng đã

vạch ra một đường hướng mà các tác giả sẽ còn tiếp tục phát huy Đó là những truyện không thật có chuyện, chủ yếu diễn tả suy nghĩ, tâm trạng của các nhân vật Họ phần lớn là những người thuộc tầng lớp tiểu tư sản thị dân

mà tác giả có điều kiện tiếp xúc, hiểu biết” [61] Đặc biệt, với truyện ngắn

“Hoa ti gôn”, Thanh Châu đã khẳng định được tiếng nói riêng trên văn đànvăn học Việt Nam những năm 30 và bắt đầu được dư luận chú ý Nhận xét về

truyện ngắn này của Thanh Châu, nhà văn Bùi Hiển viết: “truyện ngắn “Hoa

ti gôn” của Thanh Châu (7/1937) đã góp hương sắc và tiếng nói riêng biệt của mình, giản dị đến mức mộc mạc, chân tình, sâu lắng, thoáng chút buồn

êm dịu, thiết tha Thanh Châu kiên trì đi theo con đường ấy, không bao giờ mãnh liệt, công phá Ngòi bút ông chỉ tựa hồ lời thủ thỉ tâm tình, nhắn nhủ hoặc nhắc nhở rằng mỗi con người chúng ta, giữa cái cảnh đời trần trụi, khốn khó này, ít ra còn có một vật báu sở hữu, đó là một trái tim, một linh hồn” [30].

Trong Từ điển văn học (Bộ mới, 2004), khi so sánh Thanh Châu với

Thạch Lam, nhà nghiên cứu Văn Tâm đã nhận xét: “Đọc Thanh Châu, độc

giả bắt gặp phảng phất không khí một số dòng viết của Thạch Lam (Tà áo lụa), Hồ Dzếnh (Cơn giông), Tô Hoài (Trên bãi), Nam Cao (Đi nghỉ mát)”

Trang 8

[62] Đồng thời nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong truyện ngắn

của ông: “Văn Thanh Châu còn thiếu chất thơ man mác như Thạch Lam, nỗi

u hoài đầy ám ảnh của Hồ Dzếnh, nụ cười ngán ngẩm ý vị của Tô Hoài, sự sắc lạnh, sâu xa của Nam Cao Cốt truyện của ông còn đơn giản” [61] Tuy

nhiên những điểm mạnh, điểm sáng trong văn Thanh Châu cũng được nhà

nghiên cứu Văn Tâm nhấn mạnh: “Bù đắp lại, truyện ngắn của ông thường

chứa đựng những yếu tố tinh thần khả thủ: tâm trạng xót xa trước những kiếp người bất hạnh, thái độ tán thành đức hy sinh, lòng chung thuỷ…Truyện Thanh Châu có khả năng giúp con người hướng thiện”.

Nghiên cứu về truyện ngắn Thanh Châu, tác giả Văn Giá cũng có

những đánh giá riêng: “Cây bút văn xuôi Thanh Châu là một hồn văn lãng

mạn từ trong cốt tuỷ, văn ông bao giờ cũng là một sự lắng nghe, rượt đuổi, cố nắm bắt và thể hiện cho bằng được những cung bậc tinh tế, vi diệu của tâm hồn…Văn ông từ chối thứ hiện thực xã hội xô bồ, nhem nhuốc, lắm khi bạo liệt của văn chương hiện thực…Thanh Châu chuyên đi vào những trạng thái tâm hồn nhân vật, mà ở trong một truyện ngắn ông gọi là tâm cảnh (Tà áo lụa)”[68] Còn nhà văn Tô Hoài lại nhận định: “Những gì nhà văn viết ra, sống được theo năm tháng thì không có tuổi”

Về đề tài “làng quê” trong sáng tác của Thanh Châu, trong Từ điển vănhọc (bộ mới), các nhà nghiên cứu đã chỉ ra thế giới nhân vật, đặc biệt là đờisống nghèo khổ về vật chất và bi kịch về tinh thần của con người làng quê

trong các tác phẩm của ông: “Trong các truyện ngắn, vừa, và dài của Thanh

Châu viết trước 1945 xuất hiện giới công chức, nghệ sĩ sang trọng,… nhưng nói chung tác giả thường nói về đời sống dân trung lưu, thị xã, thị trấn, dân nghèo cư ngụ ngoài rìa thành phố, ở nhà ổ chuột, ăn “cơm đầu ghế”, mưu sinh bằng các nghề lặt vặt: cắt tóc, buôn thúng bán mẹt, làm xiếc rong …”.

Trang 9

Đặc biệt trong sáng tác của Thanh Châu, nhà văn thường quan tâm đến những thân phận người phụ nữ bất hạnh trong hôn nhân và tình yêu [62]

1.3 Những ý kiến đánh giá về truyện ngắn Đỗ Tốn

So với hai tác giả Thanh Tịnh và Thanh Châu, Đỗ Tốn viết ít hơn cả

“Hoa vông vang” cũng là tập truyện ngắn duy nhất ông để lại Tuy nhiên,truyện ngắn của ông cũng được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá Khiviết lời tựa cho tập truyện ngắn “Hoa vông vang” của Đỗ Tốn, Nhất Linh, nhàvăn của nhóm Tự lực văn đoàn đã có những nhận xét hết sức tinh tế về Đỗ

Tốn: “Xem những truyện trong tập Hoa vông vang, tôi không thể không đem

Đỗ Tốn ra so sánh với một tác giả viết truyện khác: Thạch Lam Tôi thấy hai nhà văn này có nhiều chỗ giống nhau và tôi tin Đỗ Tốn sẽ là Thạch Lam thứ hai trong văn giới chúng ta”[53].

Trong lời giới thiệu cho tập truyện ngắn “Hoa vông vang” (Nhà xuất

bản Đồng Tháp năm 1989, GS.Lê Trí Viễn đã nhận xét: “Cái khéo, cái chắc

của ngòi bút thì đáng ghi nhận Cá tính sáng tạo đã hằn lên khá rõ Câu chữ

có khi còn tì vết nhưng tâm hồn thực sự có sức vang ngân” [67].

Trong Từ điển tác phẩm văn xuôi từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1945,

mục viết về tập truyện ngắn “Hoa vông vang” của Đỗ Tốn, tác giả Bích Thu

đã đánh giá: “Hoa vông vang là tập truyện đầu tay của Đỗ Tốn nhưng tác giả đã có một bút pháp già dặn, từng trải nhất là ở cách bố cục, cách dẫn truyện, cách miêu tả chi tiết Đỗ Tốn cũng tỏ ra tài hoa, tả tình, tả cảnh với những xúc cảm man mác, bâng khuâng Lời văn trong Hoa vông vang cũng nhẹ nhàng mà thấm thía với những nhận xét tinh vi về tâm hồn con người”

[60]

Trong Từ điển văn học (bộ mới), mục viết về tác giả Đỗ Tốn, tác giả

Phạm Thị Thu Hương đã nhận xét: “Hoa vông vang là những truyện không

có chuyện, trong đó tác giả sử dụng bút pháp gợi nhiều hơn tả, viết bằng cảm

Trang 10

giác nhiều hơn là bằng ý nghĩ Tâm hồn nhạy cảm và ít nhiều còn non dại của tuổi hoa niên đã giúp nhà văn cảm nhận thật tinh tế và sâu sắc mùi vị của đồng quê cùng những biến đổi mơ hồ, khó nắm bắt trong thế giới nội tâm con người”[62].

Lúc khác, tác giả lại viết: “Mặt khác, Đỗ Tốn lại có sự già dặn của một

người đã sống nhiều, trải nhiều khi viết về những cảnh đời, những kiếp người mòn mỏi, tàn lụi đi theo thời gian Nhiều khi chỉ bằng những chi tiết ngỡ như không có gì nhưng Đỗ Tốn đã gửi gắm vào đó những chiêm nghiệm độc đáo

về cuộc đời, về tình yêu Đồng thời, qua những trang viết nhẹ nhàng, đôi khi chập chờn và lỏng lẻo, Đỗ Tốn lại bộc lộ tình yêu sâu nặng, thấm thía với quê hương, xứ sở”[62].

Những nghiên cứu về truyện ngắn của Đỗ Tốn nói chung rất hiếm hoi

và lại càng hiếm hơn những ý kiến tìm hiểu, khai thác về không gian làng quêtrong truyện ngắn của ông nói riêng Ý kiến của các nhà nghiên cứu trong Từđiển văn học (Bộ mới) có lẽ là ý kiến duy nhất có sự khám phá gợi mở về bứctranh làng quê trong truyện ngắn của Đỗ Tốn Đỗ Tốn sáng tác tập truyện

ngắn khi còn rất trẻ, bởi vậy các nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng: “Tâm hồn

nhạy cảm và ít nhiều còn non dại của tuổi hoa niên đã giúp nhà văn cảm nhận thật tinh tế và sâu sắc những màu sắc, mùi vị của đồng quê cùng những biến đổi mơ hồ khó nắm bắt trong thế giới nội tâm của con người” [62].

Đồng thời, các nhà nghiên cứu còn chỉ ra: “Nhiều khi chỉ bằng những chi tiết

ngỡ như không có gì như hình ảnh “cây na bên vại nước trước căn bếp mà khói đang nặng nề chui ra từ mái rạ” (Một kiếp sống), hay hình ảnh loài hoa vông vang “đang kín đáo cúp lại trong gió chiều êm đềm…để sớm mai lại nở” (Hoa vông vang), Đỗ Tốn đã gửi gắm tình yêu quê hương sâu sắc ý nhị trong tâm hồn” [62].

Trang 11

Như vậy, truyện ngắn của các tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốncũng ít nhiều đã được nghiên cứu riêng lẻ trong một số công trình Tuy nhiên,chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu đề tài “Không gian làng quê”trong sáng tác của ba nhà văn này Vì vậy, đây chính là mảnh đất mà từ đóchúng tôi vừa làm sáng rõ phong cách trữ tình lãng mạn của các nhà văn, vừacho thấy một mảng đề tài thể hiện niềm rung cảm, tình yêu tha thiết với quêhương đất nước của những nhà trí thức thời Pháp thuộc

III Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tiến hành nghiên cứu đề tài “Không gian làng quê trongtruyện ngắn Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn” thể hiện qua những sáng tácviết trước năm 1945

2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu khảo sát trên ba tập truyện ngắn:

Quê mẹ - Thanh Tịnh (1941, NXB Đời nay)

Trong bóng tối – Thanh Châu (Ngô Ngọc Trương xuất bản, Hà Nội, 1936).Hoa vông vang – Đỗ Tốn (NXB Đời nay, Hà Nội, 1945)

Ngoài ba tập truyện ngắn này, luận văn còn sử dụng thêm một số tácphẩm của các tác giả được sáng tác trước năm 1945 hay được in rải rác trênbáo chí Đồng thời trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn khảo sát thêmmột số truyện ngắn của các tác giả khác trong dòng truyện ngắn trữ tình như:Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Nguyễn Xuân Huy,… hoặc các tác phẩm của các tácgiả văn học hiện thực để làm đối sánh

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Không gian làng quê trong truyện ngắn Thanh Tịnh,Thanh Châu, Đỗ Tốn”, luận văn hướng tới mục đích nhận diện thêm một số

Trang 12

cây bút của dòng truyện ngắn trữ tình và làm nổi bật cái nhìn riêng của cácnhà văn khi viết về đề tài làng quê

IV Phương pháp nghiên cứu

Do mục đích, yêu cầu và phạm vi nghiên cứu nên luận văn chỉ sử dụngmột số phương pháp nghiên cứu sau:

1 Phương pháp phân tích chứng minh

Luận văn sử dụng phương pháp này để phân tích, chứng minh các luậnđiểm thông qua các tác phẩm của ba nhà văn Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn

2 Phương pháp so sánh

Luận văn sử dụng phương pháp so sánh sẽ giúp chúng tôi chỉ ra nhữngđiểm riêng của ba cây bút khi viết về cùng một đề tài với các nhà văn kháctrong dòng truyện ngắn trữ tình và các tác giả của các dòng truyện ngắn khác

3 Phương pháp tổng hợp khái quát

Trên cơ sở phân tích để làm sáng rõ các luận điểm nghiên cứu, sau mỗithao tác chúng tôi tiến hành tổng hợp các phần lại với nhau, khái quát thànhnhững điểm chung nhất để đem đến cho độc giả cái nhìn bao quát nhất về vấn

đề được đặt ra

Các phương pháp này có liên quan chặt chẽ và có ý nghĩa bổ trợ nhau,được sử dụng phối hợp linh hoạt trong quá trình nghiên cứu

V Đóng góp của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về “Không gian làng quê” trongtruyện ngắn trữ tình của ba tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn Thôngqua việc phân tích truyện ngắn trữ tình của ba nhà văn và so sánh với cáctruyện ngắn của các tác giả khác trong cùng dòng truyện ngắn trữ tình giaiđoạn 1930-1945, luận văn chỉ ra những điểm riêng của ba nhà văn khi viết vềlàng quê Đồng thời thông qua bức tranh làng quê trong truyện ngắn của ba nhà

Trang 13

văn, chúng tôi hướng đến một cái nhìn khác về tình yêu quê hương đất nướccủa các nhà văn theo khuynh hướng lãng mạn Từ đó, luận văn khẳng địnhnhững đóng góp của họ cho sự phát triển của thể loại truyện ngắn nói chung vàdòng truyện ngắn trữ tình nói riêng.

VI Cấu trúc luận văn

Chương I: Không gian nghệ thuật, không gian làng quê trong văn họcViệt Nam trước 1945 và đôi nét về tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn

Chương II Đặc trưng không gian làng quê trong truyện ngắn trữ tìnhThanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn

Chương III Một số nghệ thuật miêu tả không gian làng quê trongtruyện ngắn trữ tình Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn

Trang 14

CHƯƠNG I - KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT, KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRƯỚC 1945 VÀ ĐÔI NÉT VỀ

TÁC GIẢ THANH TỊNH, THANH CHÂU, ĐỖ TỐN

1 Không gian nghệ thuật và không gian làng quê trong văn học Việt Nam trước 1945

1.1 Không gian nghệ thuật

Trong văn học, không gian nghệ thuật là một trong những yếu tố quantrọng tạo nên hình thức của thế giới nghệ thuật Theo “Từ điển thuật ngữ văn

học” thì “không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ

thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [24] Trong Thi pháp học, GS.Trần Đình

Sử lí giải thêm: “Không gian nghệ thuật là một phạm trù của hình thức nghệ

thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian …và không có nhân vật nào không có một nền cảnh nào đó” [49] Không gian nghệ thuật là phương thức

tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Không gian nghệ thuật trở thànhphương tiện chiếm lĩnh đời sống, “mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật” Và

sự miêu tả, trần thuật bên trong tác phẩm văn học bao giờ cũng xuất phát từmột điểm nhìn, ta xác định được vị trí của chủ thể trong không - thời gian, thểhiện ở phương hướng nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định Khônggian nghệ thuật có bốn đặc trưng cơ bản:

1 Không gian nghệ thuật mang tính chủ quan

2 Ngoài không gian vật thể có không gian tâm tưởng

3 Không gian nghệ thuật có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ củabức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự

4 Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tácphẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng mà còn cho thấy quan niệm về thế

Trang 15

cấp sơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu các loạihình của các hình tượng nghệ thuật

Như vậy, không gian nghệ thuật là một hình thức, một kiểu tư duy nghệthuật của nhà văn, qua đó bộc lộ quan niệm, thái độ của nhà văn về hiện thựcđời sống Chính đặc điểm này đã phân biệt không gian nghệ thuật với nhữngkhông gian khác chỉ là nơi tồn tại mà không phải là không gian nghệ thuật.Trong mỗi tác phẩm văn học, khi câu chuyện về một số phận, một hiện tượnghay một sự việc nào đó được kể lại, nhà văn thường phải đặt nó trong một bốicảnh không gian, thời gian nhất định Có thể là không gian của một conđường, một dòng sông, một cánh đồng hay một ngôi nhà,… Nhưng bản thânnhững không gian vật thể đó chưa phải là không gian nghệ thuật nếu nókhông ngầm chứa bên trong hình tượng nghệ thuật nhằm biểu hiện mô hìnhthế giới về con người Do đó, không thể đồng nhất không gian trong tác phẩmvăn học với không gian địa lí, không gian vật lí được bởi: “Không gian nghệthuật là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người đang sống, đang cảmthấy vị trí, số phận mình ở trong đó Không gian nghệ thuật gắn liền với quan

niệm về con người và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy” Và “không gian

nghệ thuật có thể xem là một không quyển của tinh thần bao bọc cảm thức của con người, là hiện tượng tâm linh nội cảm, chứ không phải hiện tượng địa lí và vật lí” [48].

Mỗi nhà văn là một cá tính sáng tạo Bởi vậy không gian nghệ thuậtcũng bị chi phối bởi cá tính, cảm quan sáng tác của mỗi nhà văn, là nhữngkhông gian mang tính chủ quan để biểu đạt cảm nhận riêng của nhà văn vềcon người, cuộc sống Mỗi nhà văn có cách kiến tạo không gian nghệ thuậtriêng nên không gian nghệ thuật trong văn học rất phong phú, phụ thuộc vào

cá tính sáng tạo và sở trường của mỗi tác giả Trong không gian nghệ thuật,bên cạnh không gian vật thể tạo thành thứ ngôn ngữ đặc trưng biểu đạt tư

Trang 16

tưởng, cá tính sáng tạo, phong cách của mỗi nhà văn, còn có không gian tâmtưởng Không gian tâm tưởng chính là không gian diễn ra bên trong người kểtruyện hay nhân vật Nó có tác dụng khắc sâu tính cách nhân vật, giúp ngườiđọc hiểu rõ hơn về thế giới tâm hồn con người Qua không gian tâm tưởng,người đọc có thể hiểu hơn về con người, xã hội, thời đại mà nhà văn miêu tả.Không gian vật thể và không gian tâm tưởng có mối quan hệ chặt chẽ và có

sự tác động qua lại lẫn nhau như Nguyễn Du đã từng viết: “Cảnh nào cảnhchẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Truyện Kiều)

Tóm lại, không gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật có vai tròquan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, tư tưởng chủ đề của tácphẩm Không gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học, làphương tiện chiếm lĩnh đời sống, là mô hình nghệ thuật về cuộc sống Nhà

nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng: “Quan trọng nhất là xem xét không gian

nghệ thuật như một quan niệm về thế giới và con người như một phương thức chiếm lĩnh thực tại, một hình thức thể hiện cảm xúc và khái quát tư tưởng thẩm mĩ”[49] Điều này rất quan trọng khi đi sâu tìm hiểu, khám phá thế giới

nghệ thuật trong mỗi sáng tác của mỗi nhà văn

1.2 Không gian làng quê trong văn học Việt Nam trước 1945

Quê hương làng cảnh Việt Nam là một đề tài lớn xuyên suốt trong nềnvăn học dân tộc Ở mỗi thời kì văn học, các nhà văn, nhà thơ đều viết về đềtài này và ít nhiều trong số họ đã đạt được những thành công nhất định Bởiđất nước Việt Nam gắn với nền nông nghiệp lúa nước, hơn 80% dân số lànông dân đã sống ngàn đời sau lũy tre làng với những thuần phong mỹ tục vànhững nếp sinh hoạt văn hóa cổ truyền Tất cả những gì thuộc về thiên nhiên,con người đậm chất Việt đều được thể hiện rõ nhất trong những trang viết vềtình yêu quê hương đất nước, tình nghĩa xóm làng hay những nét đẹp củanhững con người chốn quê mùa: mộc mạc, hồn nhiên, chân chất cùng với bao

Trang 17

nếp sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc của mỗi vùng miền Từ xưa đếnnay, từ văn học dân gian đến văn học viết, quê hương, làng cảnh, con ngườiViệt Nam đều được tái hiện rất đẹp, rất chân thực

Trong nền văn học dân gian, đặc biệt thể ca dao, có riêng một mảng thơnói về tình yêu quê hương đất nước Ở đó những bức tranh phong cảnh của tất

cả các vùng miền trên quê hương đất Việt đều được các tác giả dân gian táihiện rất sinh động Người đọc có thể bắt gặp hình bóng quê hương mình trongmỗi dáng hình ngọn núi, con sông Những bức tranh thiên nhiên rất đẹp vềthiên nhiên, con người Việt Nam trong ca dao đã thể hiện niềm tự hào về vẻđẹp non sông gấm vóc và tình yêu quê hương đất nước thiết tha sâu nặng củamỗi tâm hồn mỗi người con đất Việt Bởi vậy, khi đi xa quê hương, dù ởchân trời góc bể nào, trái tim mỗi người vẫn luôn hướng về quê hương, vẫnluôn nhung nhớ thiết tha những bóng hình yêu dấu: “Anh đi anh nhớ quê nhà/Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai giãi nắng dầm sương/ Nhớ aitát nước bên đường hôm nao”

Đến văn học viết, trước hết là giai đoạn văn học trung đại, cũng cókhông ít những nhà thơ, nhà văn viết về làng quê Việt Nguyễn Trãi là mộttrong những tác giả tiêu biểu Bên cạnh những bài thơ thể hiện lòng yêu nước,thương dân tha thiết “đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”, Nguyễn Trãi còn

có những vần thơ rất hay, rất đẹp về cảnh vật thiên nhiên nơi thôn dã Cuộcsống bình dị chốn quê nhà đã khơi nguồn cảm hứng cho Nguyễn Trãi viết nênnhững vần thơ về quê hương Những cảnh vật, sự vật thiên nhiên chốn quê vànhững công việc của một “lão nông chi điền” đi vào trong thơ ông một cách tựnhiên qua những bài thơ như Thuật hứng 24, Thuật hứng 13: “Ao cạn vớt bèocấy muốn/ Đìa thanh phát cỏ ương sen”(Thuật hứng 24), “Một cày một cuốcthú nhà quê/Áng cúc chen lan vãi đậu kê” (Thuật hứng 13) cùng với một lốisống giản dị, thanh bạch: “Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh/Áo bô quen cật vận

Trang 18

thênh thang”(Mạn thuật) Tuy nhiên, khung cảnh làng quê trong thơ NguyễnTrãi chưa thực sự hiện lên một cách sinh động, rõ nét Ẩn sâu trong những bàithơ viết về thiên nhiên làng quê vẫn nỗi buồn, nỗi sầu về thời thế của thi nhân,

đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu Ngô Thời Đôn: “Làng quê trong thơ

Nguyễn Trãi chỉ là cái chấm đánh dấu thời gian, cuộc sống còn lặng lẽ chơ vơ quá, ẩn tàng trong nó chút lo sợ về cơn ác mộng vừa qua” [17]

Nối tiếp nhà thơ Nguyễn Trãi, những tác giả ở thế kỉ sau Nguyễn Du,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát cũng có những vần thơ viết về làng cảnhViệt Tuy nhiên cảnh làng quê trong thơ họ vẫn chưa phải là đề tài chủ đạo vàvẫn mang đậm tính ước lệ của văn học trung đại Đến thơ văn NguyễnKhuyến, hình ảnh về làng quê Việt Nam đã bắt đầu lên với những nét thânthuộc, gần gũi hơn Thiên nhiên thôn quê của Nguyễn Khuyến không phải lànhững bức tranh rộng lớn mà đôi khi chỉ là những hình ảnh nhỏ bé, thânthuộc, bình dị của quê hương, xứ sở: một ao thu nhỏ lạnh, một ngõ trúc xanh,một khoảng trời thu xanh ngắt, một cánh đồng nước lụt hay một mảnh vườnnhỏ sau nhà, tiếng trẻ thơ bi bô học bài hay cảnh tất bật lo toan của người dântrong mùa lụt lội Tuy nhiên những vần thơ của Nguyễn Khuyến lại chịu sựchi phối của nỗi buồn chung thời đại và nỗi buồn riêng của một nhà nho thấtthế Bởi vậy ẩn sâu trong những vần thơ về làng quê của ông là nỗi buồn thế

sự sâu kín Đó cũng chính là lời nhận xét của GS.Nguyễn Đình Chú về bức

tranh làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến: “Bức tranh làng quê này đại thể có

hai mảng: cảnh vật của đất trời và cuộc sống con người Cảnh đất trời thì thanh xơ, xinh đẹp đáng yêu biết bao nhưng phơn phớt một sắc buồn toả ra từ nỗi buồn thời thế của Nguyễn Khuyến ở buổi ấy Còn cuộc sống con người thì tiêu điều, xơ xác quá đỗi” [12] Mặc dù vậy, những bài thơ viết về quê hương

của Nguyễn Khuyến vẫn là những sáng tác hết sức tiêu biểu khiến ông trở

thành “Nhà thơ của làng cảnh quê hương Việt Nam” (Xuân Diệu) Như vậy,

Trang 19

trong giai đoạn văn học trung đại, các tác giả đã phần nào đề cập đến khungcảnh thiên nhiên làng quê Tuy nhiên thơ ca trung đại vì chịu sự chi phối lớncủa thi pháp thơ Đường với bút pháp ước lệ tượng trưng nên những bức tranh

về không gian làng quê vẫn chưa thực sự hiện lên sáng rõ

Trong nền văn học hiện đại, đề tài làng quê được tiếp tục triển khai vàthực sự trở thành đề tài nổi bật trong các sáng tác của các nhà văn, nhà thơ.Nền văn học giai đoạn này có sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn học phương Tây,với lực lượng sáng tác chủ yếu là các trí thức Tây học, đặc biệt sự cởi trói vềcái tôi cá nhân đã khiến cho văn học có sự phát triển mạnh mẽ, tiến theo conđường hiện đại hoá Ở mọi thể loại văn học, đề tài về làng quê đã được khaithác một cách triệt để với những đặc điểm rất riêng trong từng dòng, từng tràolưu văn học Thơ ca giai đoạn này, đặc biệt là phong trào thơ mới đã pháttriển mạnh mẽ mà mỗi bước phát triển đều gắn liền với những tên tuổi tác giảtiêu biểu Và chỉ đến giai đoạn này, thơ viết về làng quê mới thực sự trở nênphong phú Bởi mỗi nhà thơ đều có một quê hương Những hình ảnh thânthuộc về quê nhà yêu dấu luôn ghi sâu trong tâm thức mỗi người và trở thànhnguồn cảm hứng vô tận cho thi ca Hơn nữa vẻ đẹp bình dị, êm đềm củakhung cảnh làng quê rất phù hợp với thẩm mỹ sáng tác của các nhà thơ mới

Vì vậy trong sự nghiệp sáng tác của bất kì nhà thơ nào trong giai đoạn này, tacũng có thể bắt gặp một đôi bài hay một đôi câu hay nhất về làng quê Cácnhà thơ như Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Tế Hanh,… tuy không viết nhiều về làngquê nhưng cảm hứng về quê hương cũng có vị trí quan trọng trong sáng táccủa họ Người đọc chắc hẳn sẽ không bao giờ quên vẻ đẹp của không gianthiên nhiên xứ Huế qua bức tranh về khu vườn thơ mộng, trữ tình trong “Đâythôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử): “Sao anh không về chơi thôn Vỹ / Nhìn nắnghàng cau nắng mới lên / Vườn ai mướt quá xanh như ngọc / Lá trúc che ngangmặt chữ điền”, một con sông quê gọi bao kỉ niệm tươi sáng về quê hương

Trang 20

trong thơ Tế Hanh : “Quê hương tôi có con sông xanh biếc / Nước gươngtrong soi tóc những hàng tre / Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè / Toả nắngxuống dòng sông lấp loáng” (Nhớ con sông quê hương) hay một cảnh chiềugợi buồn trong “Tràng Giang” của Huy Cận: “Nắng xuống trời lên sâu chótvót / Sông dài trời rộng bến cô liêu” Đặc biệt, trong phong trào thơ mới xuấthiện đầu những năm ba mươi đã hình thành nên một dòng thơ viết về làng quêvới những tên tuổi tiêu biểu như Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính,Nguyễn Nhược Pháp,…Những vần thơ viết về thiên nhiên quê hương đấtnước của các nhà thơ này hết sức tươi sáng, thường gắn với nếp sinh hoạt củangười nông dân ở mỗi miền quê góp phần thêu dệt nên một bức hoạ tươi đẹp

về làng cảnh quê hương Việt Nam Trong thơ của Đoàn Văn Cừ, làng quêViệt Nam hiện lên với những khung cảnh thiên nhiên đầy tinh khôi của mộtbuổi sáng đồng quê qua bài thơ “Chợ Tết”: “Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnhnúi / Trên con đường viền trắng mép đồi xanh /…/ Tia nắng tía nhảy hoàitrong ruộng lúa / Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh / Đồi thoa son nằmdưới ánh bình minh” Gắn với bức tranh cảnh quê tươi đẹp ấy là cảnh sinhhoạt vui tươi, nhộn nhịp của con người làng quê: “Lũ trẻ con mải ngắm bứctranh gà / Quên cả chị bên đường đang đứng gọi/ Mấy cô gái ôm nhau cười rũrượi / Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa” (Chợ Tết) Nhận xét về thơ

Đoàn Văn Cừ, các nhà nghiên cứu trong “Từ điển văn học” viết: “Những bài

Chợ tết, Đám cưới mùa xuân, Đám hội, Đường về quê mẹ…có những màu sắc tươi tắn, hình ảnh sinh động, ngộ nghĩnh về cảnh vật và sinh hoạt làng quê” [62] Trong các nhà thơ viết về làng quê, Nguyễn Bính có lẽ là nhà thơ

tiêu biểu nhất Ông là một nhà thơ rất “chân quê” và đã mang đến cho thơ camột hồn thơ đậm chất quê Trong Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình văn học

Hoài Thanh đã nhận xét rằng: “… Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ưa

sống trong tình quê mà ít chú ý đến cảnh quê” Cái “tình quê” trong thơ

Trang 21

Nguyễn Bính là tình người hồn hậu, ấm áp, đầy chân tình giữa những conngười sống trong cộng đồng làng quê: tình nghĩa xóm giềng, tình thân giađình Cái tình quê trong thơ ông rất chân tình, tha thiết, nhuốm đẫm cả cảnhvật: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi / Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn”(Người hàng xóm), “Em ơi em trở lại nhà / Vườn dâu em đốn, mẹ già emchăm” Chính cái tình quê thấm đẫm trong cảnh vật ấy đã khiến cho làng quêtrong thơ Nguyễn Bính có một vẻ đẹp rất riêng, khác biệt với các nhà thơcùng thời, một vẻ đẹp vừa hiện thực vừa lãng mạn Có thể thấy, nhân vậttrong thơ Nguyễn Bính rất đông đúc: người mẹ, người chị, người em, ngườihàng xóm, cô láng giềng, cô lái đò…Mỗi bài thơ của ông như một câu chuyện

về con người, cuộc sống nơi quê nhà Điều này cũng tạo cho nhà thơ chân quê

một thế giới nghệ thuật riêng như PGS.TS Lê Quang Hưng có nhận xét: “Thế

giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính đầy ắp sự việc và phong phú nhân vật Không một thi sĩ thơ mới lãng mạn nào đem lại cho ta cảm giác đầy đủ, sung mãn trên phương diện này như Nguyễn Bính Rất nhiều bài thơ của ông nếu nhẩn nha kể, có thể “tóm tắt cốt truyện” được” [22] Như vậy trải qua một

thời gian dài phát triển, thơ ca viết về làng quê có sự phát triển, đạt nhiềuthành tựu và đã kết tinh nhiều nhất trong phong trào thơ mới cùng nhữnggương mặt nhà thơ tiêu biểu Những bức tranh về làng quê trong sáng tác củacác nhà thơ mới không chỉ gợi lên niềm tự hào về cảnh đẹp non sông xứ sở

mà còn chứa đựng những tình cảm yêu nước sâu kín trong mỗi tâm hồn nhàthơ trong thời đại bấy giờ

Bên cạnh sự phát triển của đề tài làng quê trong thơ ca, nền văn xuôihiện đại Việt Nam cũng có những thành tựu đặc sắc về đề tài này Văn xuôiviết về làng quê kết tinh thành tựu tiêu biểu hơn cả trong thể loại tiểu thuyết

và truyện ngắn Hồ Biểu Chánh là nhà văn ghi danh đầu tiên ở thể loại vănxuôi quốc ngữ đầu thế kỉ XX với những trang viết miêu tả thành công cảnh

Trang 22

vật, con người cùng lối sống của người nông dân qua những tác phẩm: Khócthầm, Con nhà nghèo, Con nhà giàu Tuy còn nhiều hạn chế trong nghệthuật xây dựng truyện nhưng những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đã mởđường tiên phong cho các nhà văn trong trào lưu văn học hiện thực phê phánsau này tiếp tục khai thác đề tài về làng quê, nông thôn Việt Nam Những tácgiả như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,…khi khai thác đề tàilàng quê đã có những khám phá riêng, để lại những tác phẩm xuất sắc khi xâydựng thành công những nhân vật điển hình như chị Dậu, Chí Phèo Bức tranhlàng quê mà các nhà văn hiện thực xây dựng nên trong tác phẩm của họ là bứctranh hết sức tăm tối, đầy bi kịch, chết chóc, là môi trường phi nhân tính đẩycon người tới những bước đường cùng, trở nên bần cùng hoá và lưu manhhoá Khung cảnh làng quê Việt Nam trong những đêm dài trước cách mạngluôn tiêu điều, xơ xác, chứa đầy âm khí chết chóc cùng với đêm tối bao phủ,với nhưng âm thanh ai oán của những tiếng khóc hờn, âm thanh đáng sợ củatiếng trống thúc sưu thúc thuế Còn cuộc sống của người nông dân nơi làngquê luôn sống trong vòng luẩn quẩn của cái nghèo đói, trong nỗi sợ hãi, trongnhững định kiến hẹp hòi Thân phận của họ là thân phận con sâu cái kiến, củalớp người dưới đáy xã hội Chính sự áp bức tàn khốc của giai cấp thống trịnơi làng quê đã đẩy chị Dậu vào cảnh bần cùng phải bán con, bán chó để cứuchồng Những người như Chí Phèo, vẫn còn le lói nơi đáy sâu tâm hồn mộtđốm sáng nhân tính còn sót lại trong hình hài quỷ dữ cũng không còn conđường quay trở lại bởi định kiến tàn nhẫn của người đời Bởi vậy số phận của

họ kết thúc trong bi thảm, vây quanh chị Dậu là đêm tối mịt mùng, còn vâyquanh Chí Phèo vẫn là những lời đay nghiến dù anh đã đi đến giới hạn tậncùng của sự sống là cái chết bi thảm Nếu nhân vật người nông dân trong sángtác của Ngô Tất Tố, Nam Cao thường có kết cục bi thảm thì số phận ngườinông dân trong sáng tác của nhà văn Kim Lân dường như đã hé rạng một

Trang 23

tương lai mới tươi sáng hơn Họ cũng rơi vào hoàn cảnh khốn cùng của cáiđói, nằm cận kề giữa ranh giới của sự sống và cái chết nhưng cuối cùng nhàvăn đã tìm ra cho họ một con đường giải thoát khỏi số phận bất hạnh Bởi vậynhững truyện ngắn của Kim Lân buồn nhưng không bi lụy Có thể nói, cácnhà văn hiện thực đã dựng lên một bức tranh nghệ thuật tương đối toàn diện

về bức tranh làng quê Việt Nam trước cách mạng tháng Tám một cách chânthực, sinh động và đầy ám ảnh

Từ đầu những năm ba mươi, trong nền văn học hiện đại Việt Nam,khuynh hướng lãng mạn đã phát triển thành trào lưu lãng mạn chủ nghĩa Đó

là khuynh hướng thẩm mỹ chú trọng đề cao cái Tôi cá nhân được giải phóng

về mặt tình cảm, cảm xúc để thể hiện những khát vọng mơ ước Nó đề cao cáiTôi cá nhân, đề cập đến quan hệ riêng tư, những số phận cá nhân có mối bấthoà với thực tại nên thường tìm cách thoát khỏi hiện thực bằng cách đi sâuvào thế giới nội tâm, thế giới mộng ước Khuynh hướng coi nỗi buồn cái đauchính là cái đẹp nên thường nói đến những chuyện thất tình, nỗi cô đơn, cảnhbiệt ly và cái chết Bởi vậy các nhà văn trong khuynh hướng này thường tậptrung sáng tác về các đề tài tình yêu, thiên nhiên, tôn giáo Những thành tựunổi bật của trào lưu này được kết tinh ở tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, sau

đó là văn xuôi trữ tình của các tác giả Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh,Thanh Châu, Nguyễn Xuân Huy, Đỗ Tốn… Văn xuôi viết về làng quê củanhững cây bút trong Tự lực văn đoàn thường miêu tả bức tranh làng quê trong

sự giao thoa giữa hai luồng tư tưởng, hai lối sống phong kiến và hiện đại, dânchủ Đó còn là sự tấn công mạnh mẽ vào thành trì kiên cố của những quanniệm, lễ giáo phong kiến kiềm toả cái tôi tự do sống, tự do yêu đương của mỗi

cá nhân trong Nửa chừng xuân (Khái Hưng), Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạncủa Nhất Linh, Làm lẽ của Mạnh Phú Tứ Riêng với nhà văn Thạch Lam, ônglại có hướng viết rất riêng về làng quê Truyện ngắn của ông lại là bức tranh

Trang 24

cuộc sống buồn tẻ, tù đọng, mòn mỏi, quạnh hiu của người nông dân trướcCách mạng (Hai đứa trẻ, Cô hàng xén…) Thạch Lam viết về những ngườinông dân (những bà mẹ tảo tần, những con người tha phương cầu thực, nhữngngười dân xóm chợ…) với tất cả niềm cảm thương chân thành Một số trangviết của Thạch Lam mang hơi hướng hiện thực chủ nghĩa thì bức tranh làngquê trong truyên ngắn của ông hiện lên cũng thật đau đớn tàn khốc với: Nhà

mẹ Lê, Hai lần chết, Đói Tuy nhiên, trong không ít những tác phẩm củaThạch Lam, không gian làng quê hiện lên đầy thơ mộng trữ trình với mảnhvườn đầy ngọt ngào hương hoa hoàng lan hay ánh trăng (Dưới bóng hoànglan, Đêm sáng trăng), hay vùng đất bên những bến sông ủ ấp mối tình sâu kínmột thời tuổi trẻ (Bên kia sông) Có thể nói trong văn xuôi lãng mạn ViệtNam 1930-1945, thiên nhiên là một đề tài mà các nhà văn lãng mạn rất quantâm Thiên nhiên trong các sáng tác lãng mạn thường gắn liền với tình yêu đôilứa Bởi vậy khi viết về không gian làng quê thì không gian vườn, dòng sông,bến nước không chỉ là không gian đặc trưng cho làng quê mà nó còn là điểmhẹn tuyệt vời của lứa đôi Đây là một trong những không gian quê mà ngườiđọc sẽ bắt gặp trong rất nhiều các sáng tác của ba nhà văn Thanh Tịnh, ThanhChâu, Đỗ Tốn Không gian vườn, không gian dòng sông bến nước không chỉ lànhững bức tranh thiên nhiên hết sức tươi đẹp về quê hương mà nó còn là khônggian của đôi lứa, của tình yêu Qua bức tranh không gian thiên nhiên thơ mộngtrữ tình về làng quê, các tác giả thể hiện kín đáo một niềm tự hào, một tình yêuthiên nhiên nối dài thành tình yêu đất nước

2 Con đường sáng tác của ba tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn 2.1 Tác giả Thanh Tịnh

Thanh Tịnh (1911-1988) là một nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của xứ Huế.Trên bước đường nghệ thuật của mình, nơi ông thử sức đầu tiên là lĩnh vực

Trang 25

thơ ca Nhưng chính những trang viết về “quê mẹ” với những cảnh làng quê,con người đậm chất Huế mới làm nên tên tuổi Thanh Tịnh.

Thanh Tịnh sinh ra và lớn lên ở vùng ngoại ô xứ Huế, bên cạnh dòngsông Hương thơ mộng, trữ tình Dòng sông quê hương xứ Huế với vẻ đẹpthanh tĩnh, mộng mơ gắn liền với những câu hát mái nhì mái đẩy đã thấmđẫm trong những lời hát ru với tâm hồn nhà văn từ khi còn nhỏ Chính vẻ đẹpcủa cảnh vật, con người, truyền thống văn hoá của riêng quê hương xứ Huế đãtrở thành cội nguồn sáng tạo vô tận cho con đường nghệ thuật của nhà văn.Điều đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến những truyện ngắn của Thanh Tịnh saunày khi mỗi truyện ngắn của ông đều mang đậm những nét thân thuộc về cảnhvật, con người nơi ông đã gắn bó suốt thời thơ ấu Những truyện ngắn viết vềlàng quê của Thanh Tịnh lại hay miêu tả những con sông quê hương êm đềmchảy giữa đôi bờ xanh biếc, tạo nên không gian đặc trưng trong tác phẩm củaông Hơn nữa, miền quê Thanh Tịnh ở còn gần với ga xép Như vậy ngôi làng

mà nhà văn sống ở giữa không gian bên này là dòng sông thơ mộng êm chảy

và sóng đối phía bên kia lại là nhà ga với đường ray xe lửa Chính sự sóng đốicủa hai không gian này dường như đã trở thành một nguyên mẫu rất tự nhiên

đi vào những truyện ngắn trong “Quê mẹ”

Sinh thời, khi còn đi học, Thanh Tịnh còn đặc biệt rất thích truyện ngắncủa hai nhà văn Pháp An-phông-xơ Đô-đê và Mô-pát-xăng Chính sự đam mênhững tác phẩm của hai nhà văn này có lẽ đã hình thành nên cho nhà văn saunày một khuynh hướng thẩm mỹ trong sáng tác, theo khuynh hướng lãng mạnĐồng thời, người đọc dễ dàng nhận ra bóng dáng sự ảnh hưởng của nhữngtruyện ngắn của Thanh Tịnh từ các nhà văn này trong cách xây dựng nhân vậttruyện là cậu bé xưng “tôi”, kể lại những câu chuyện về ngày thơ ấu Bởidòng tiểu thuyết viết về thời thơ ấu cũng là một khuynh hướng của văn họcphương Tây hiện đại Ở điểm này, nhà văn Thanh Tịnh có sự gặp gỡ với

Trang 26

Thạch Lam Truyện ngắn của hai nhà văn đều xây dựng lên hình tượng nhânvật “tôi” thường ngoái nhìn lại quá khứ thông qua những câu chuyện được kểlại bằng những hồi ức và kỉ niệm, đặc biệt là kỉ niệm thời thơ ấu.

Thanh Tịnh sinh ra và lớn lên trên quê hương xứ Huế nhưng một nửaquãng thời gian cuộc đời sau này, ông lại chủ yếu công tác và sinh sống ở HàNội và không có mấy dịp trở lại thăm quê cũ Sâu thẳm trong tâm hồn ngườicon xứ Huế ấy vẫn là nỗi niềm thương nhớ sâu nặng với quê hương, vẫn khaokhát cháy bỏng một lần được trở về thăm quê

Truyện ngắn của Thanh Tịnh viết về làng quê xứ Huế với con người,cảnh vật in đậm dấu ấn vùng đất thơ mộng trữ tình đã tạo nên một nét riêngtrong phong cách văn xuôi Thanh Tịnh Trong lời tựa tập Quê mẹ xuất bảnlần đầu tiên, nhà văn Thạch Lam, cây bút truyện ngắn xuất sắc trước Cáchmạng đồng thời là một người bạn của Thanh Tịnh đã có những lời nhận xét

thật tinh tế và chính xác: “Thanh Tịnh có lẽ là nhà văn đầu tiên ở miền Trung

đã trình bày các mối dây liên lạc nối ông với đồng nội quê hương, những dây liên lạc nhẹ như tơ đờn ngày thu, nhưng không vì thế mà kém phần vương vít

và quyến luyến Ông đã muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để ca hát những vẻ đẹp của đời thôn quê” [38] Có thể nói quê hương là

nguồn cội cho những sáng tác của tác giả “Quê mẹ” Những trang viết củaông luôn chan chứa ý vị tươi đẹp và thơ mộng như chính con người, tạo vậtquê hương đã truyền cho trang văn sức sống Ngoài tập truyện ngắn “Quêmẹ”, Thanh Tịnh còn viết một số tập truyện ngắn và dài khác: Hai chị em(1942), Xuân và Sinh (1944) Thanh Tịnh còn làm thơ, viết kịch và là ngườikhai sinh ra thể loại độc tấu Tuy nhiên, những trang viết hay nhất và hấp dẫnnhất, khiến độc giả nhớ về Thanh Tịnh nhiều nhất vẫn là những trang viếtđậm tình quê hương trong “Quê mẹ”

2.2 Tác giả Thanh Châu

Trang 27

Nhà văn Thanh Châu (1912- 2007), tên thật là Ngô Hoan, quê ở Nghệ

An Thuở thiếu thời, nhà văn sống tại quê ngoại ở xứ Thanh Bởi vậy có nhiều

ý kiến cho rằng chính mảnh đất ông sống gắn bó thời thơ ấu ấy với cảnh sôngnước, bờ bãi, cánh đồng đã có ảnh hưởng lớn đến những sáng tác về làng quêcủa tác giả sau này, đồng thời hình thành nên bút danh Thanh Châu của ông

Thanh Châu chỉ có một thời gian ngắn sống tại quê hương xứ Thanhtrong những tháng ngày thơ ấu Khi lớn lên, ông rời quê đi học ở Vinh và HàNội Có lẽ sự xa cách với quê hương - nơi gắn bó suốt một thời thơ ấu đã hìnhthành cho Thanh Châu một nguồn cảm hứng để viết về quê hương, về nỗi nhớquê da diết cháy bỏng mà ông luôn háo hức như cậu bé mỗi lần được trở lạithăm quê như trong truyện ngắn “Về quê” của ông

Sinh thời, nhà văn có một mối duyên tình với một cô gái xứ Thanhnhưng không thành Mối tình dang dở ấy có lẽ cũng đã khơi nguồn cảm hứng

vô tận cho những sáng tạo nghệ thuật của Thanh Châu Nhà văn thường viết

về đề tài tình yêu Thanh Châu tập trung đi sâu khai thác những bi kịch nhữngngười phụ nữ bị lỡ dở trong tình yêu với những ám ảnh sâu đậm về nhữngmối tình đầu mà cả cuộc đời họ luôn còn vương vấn cho đến tận lúc cuối đời:

“Sâm (Cái ngõ tối), Thuỷ (Vườn Chanh), chị Hai Tích (Trên bãi), Mai Hạnh(Hoa ti gôn), Hằng (Tội ngoại tình), Xuyến (Rồi Xuyến đi qua)

Về truyện ngắn: Tập truyện ngắn “Trong bóng tối” (1936) là tập truyện

mà từ khi ra đời đã được đánh giá là có cá tính và phong cách riêng Sau tập

“Trong bóng tối”, Thanh Châu còn viết một số tập truyện khác: Hoa tigôn,Cái ngõ tối Đặc biệt, với truyện ngắn “Hoa ti gôn”, Thanh Châu đã bắt đầuđược dư luận chú ý bởi đó là câu chuyện tình yêu được viết một cách rất nhẹnhàng, ngọt ngào, pha chút ngậm ngùi, nuối tiếc

2.3 Tác giả Đỗ Tốn

Trang 28

Đỗ Tốn (1920-?) tên thật là Đỗ Đình Tốn, quê gốc ở Hà Nội Sau năm

1954, Đỗ Tốn chuyển vào miền Nam sinh sống rồi mất tại Sài Gòn Ông làtác giả của tập truyện ngắn “Hoa vông vang” (viết năm 1942, tại Quảng Châu,Trung Quốc, NXB Đời nay, Hà Nội, 1945), Ả hầu, Hai quả mận (xuất bản tạiSài Gòn)

Đỗ Tốn là nhà văn viết không nhiều, nói một cách khác là ông viết rất

ít “Hoa vông vang” (1945) là tập truyện ngắn đầu tiên và cũng là duy nhất

mà nhà văn để lại, gồm có tám truyện ngắn: Điệu thu ca, Một kiếp sống,Duyên số, Chú tôi, Hoa vông vang, Giáo huấn, Định mệnh, Tình quê hương.Trong lời ngỏ với một người bạn về quá trình hoàn thành tập truyện ngắn này,những lời tâm sự chân thực về những giây phút trước ngọn đèn, trang giấy cóthể lí giải cho sự nghiệp chỉ dừng lại ở số lượng rất ít những tập truyện củaông Ông nhận ra rằng “có những giây phút mà tâm hồn căng tưởng muốnđứt, trong những phút thật không thích hợp chút nào với công việc viết văn

yên tĩnh đó” Nói về tập truyện ngắn “Hoa vông vang”, ông cho rằng: “Tuy

đây là thành công đầu tiên trong đời em, nhưng khi viết gần xong em mới chợt nhận thấy đó không phải là con đường em nên đi giữa lúc tuổi trẻ bồng bột này…Lòng trai thay đổi mà lòng em cũng thay đổi lắm”[60].

Tuy nhiên Đỗ Tốn là nhà văn có một sự trải đời nhiều Những điều này

có ảnh hưởng lớn đến những sáng tác của ông khi nhà văn viết rất hay vềcảnh quê và tình quê của những con người trên quê hương, đặc biệt là tìnhyêu quê hương và tình yêu đôi lứa

Cho dù viết không nhiều so với các tác giả khác cùng thời nhưng tậptruyện ngắn “Hoa vông vang” cũng là một thành công để người đọc có thểnhớ về một Đỗ Tốn - “Thạch Lam thứ hai của nền văn học nước nhà” như lờinhận xét của nhà văn Nhất Linh

Trang 29

Có thể thấy, một đặc điểm chung cả cả ba nhà văn Thanh Tịnh, ThanhChâu, Đỗ Tốn là có tuổi thơ gắn bó thân thiết với mảnh đất quê hương Bởivậy, những cảnh vật, cuộc sống của con người quê hương đã trở thành mộtnguồn chất liệu phong phú để các nhà văn sáng tác

Hơn nữa, cả ba nhà văn đều là những trí thức Tây học, chịu sự ảnhhưởng lớn từ những tư tưởng phương tây được tiếp xúc trong quá trình họctập, kết hợp với tâm hồn giàu xúc cảm là một yếu tố quan trọng để các nhàvăn đi theo khuynh hướng sáng tác lãng mạn Và những tác phẩm của cả banhà văn vì thế mà đậm chất trữ tình

Trang 30

CHƯƠNG II - ĐẶC TRƯNG KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG TRUYỆN NGẮN TRỮ TÌNH THANH TỊNH, THANH CHÂU, ĐỖ TỐN

1 Không gian làng quê – một vẻ đẹp của quê hương đất nước

1.1 Không gian thiên nhiên thơ mộng trữ tình

Đất nước Việt Nam vốn gắn bó mật thiết với nền nông nghiệp Cũngchính nền nông nghiệp đó đã tạo nên cho quê hương, con người Việt Namnhững không gian vô cùng quen thuộc Trong những không gian đó, gần gũivới chúng ta hơn cả là không gian của dòng sông, bến nước, của đồng lúa,nương dâu hay những mảnh vườn thân thuộc Những cảnh vật thiên nhiên ấy

đã xuất hiện trong những sáng tác truyền miệng của các tác giả dân gian khivăn học viết chưa ra đời Và cho đến tận bây giờ, chúng vẫn là một đề tàithường thấy trong sáng tác của các nhà văn nhà thơ Cả ba nhà văn ThanhTịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn đều có quãng đời thơ ấu sống gắn bó với làng quê.Bởi vậy những cảnh vật của làng quê đã in đậm dấu ấn trong kí ức của họ,đồng thời là cội nguồn không bao giờ vơi cạn khi các nhà văn viết về quêhương Người đọc cũng dễ dàng nhận thấy hình bóng cảnh vật quê hươngmình qua những trang viết của các nhà văn Đó là những cánh đồng lúa chínvàng óng, những triền đê xanh mượt cỏ non hay cảnh những đứa trẻ mụcđồng chăn trâu thổi sáo, lùa đàn trâu về trong chiều hoàng hôn sắp tắt Tất cảnhững cảnh vật ấy đều gợi lên trong lòng người những cảm xúc thật dịu nhẹ,thật bình yên và luôn làm trái tim thổn thức và nỗi nhớ cồn cào cháy bỏngtrong tâm hồn Đối với mỗi nhà văn, những vùng quê với cảnh vật thiên nhiênhiện lên trong trang viết của họ là những nét đẹp rất riêng Nếu trong truyệnngắn của Thanh Tịnh, đó là không gian của làng Mỹ Lý thường gắn vớinhững dòng sông thơ mộng thì Thanh Châu, Đỗ Tốn lại đặc biệt quan tâmmiêu tả vẻ đẹp nên thơ của những mảnh vườn nơi quê hương

Trang 31

Trong truyện ngắn của Thanh Châu, không gian làng quê thường gắnvới những bức tranh đẹp về những khu vườn trong mùa hoa nở: hoa chanh(Vườn Chanh), một giàn hoa ti gôn hoa ti gôn (Hoa ti gôn) hay cụm hoa tóctiên (Nếp nhăn trên trán) Trong truyện ngắn “Vườn Chanh” của Thanh Châu,bức tranh cảnh vật của làng quê hiện lên qua không gian của mảnh vườnchanh trong mùa hoa nở Đó là khu vườn tại trại ấp của một người chú mànhân vật chọn làm nơi “ở ẩn” của mình trong mấy tháng nực Trại ấp mangmột cái tên thật nên thơ “Vườn Chanh” chỉ bởi nơi đây “trồng nhiều chanhhơn các giống cây cối khác” Và nhân vật đã đến đúng vào thời khắc đẹp nhấtcủa vườn chanh khi mảnh vườn đang vào mùa hoa nở “Vườn Chanh” trongmùa hoa chanh nở là một bức tranh thật thơ mộng về chốn thôn quê Chính vẻđẹp của không gian thiên nhiên ấy đã mang đến cho nhân vật những cảm giácthư thái, hài lòng về cuộc sống thanh tĩnh chốn thôn quê Sống ở “VườnChanh”, nhân vật đã có dịp phát hiện những điều rất thú vị về cái chất sốngmãnh liệt của vạn vật, cỏ cây trong khu vườn: “Ban đêm mùi lá cây, mùi đất,mùi ao bèo ở thôn quê làm tôi ngây ngất như một hơi rượu mạnh Ban đêm,hình như hoa cỏ mới thật là đua sống Ta thấy chúng nở nang ra, tỉnh táo rahơn cả ban ngày Hình như chúng sợ phí mất một giây khắc sống của cái đờihoa cỏ ngắn ngủi" Khi miêu tả sức sống mãnh liệt của thiên nhiên, vạn vậttrong “Vườn Chanh”, nhà văn lại lựa chọn thời điểm không gian “đêm” Cóthể thấy, không gian buổi chiều hay đêm tối thường gợi lên cảm giác về nỗibuồn da diết, bâng khuâng, hay sự mòn mỏi trong tâm trạng con người Cònđối với cảnh vật, bóng tối, đêm tối thường là không gian gợi lên sự tàn lụi,héo úa hay sự huỷ diệt nào đó Nhưng vạn vật thiên nhiên trong “VườnChanh” lại bất chấp cả thời gian, lại “đua sống” với tất cả sức sống mãnh liệtnhất để kéo dài sự sống Những từ ngữ miêu tả cảm giác “hình như” thườnggợi Nhưng cảm giác về những điều mơ hồ, khó nắm bắt ấy lại giúp nhân vật

Trang 32

dường như khám phá ra sức sống tiềm ẩn mãnh liệt của thế giới hoa cỏ trongvườn chanh trong không gian bóng tối phủ đầy Lấy không gian của cái chết,cái tàn lụi, héo úa để làm bật lên sự sống của thiên nhiên sự vật là nghệ thuậtmiêu tả thiên nhiên độc đáo của Thanh Châu trong “Vườn Chanh” Bức tranhthiên nhiên vườn chanh vì thế là vẻ đẹp của sự sống tận độ, chiến thắng cảbóng tối, ngày tàn Thiên nhiên “Vườn Chanh” trong buổi chiều, bóng tối vìthế không mang đến sự u buồn mà gợi lên trong lòng người một niềm tin, mộtniềm hy vọng, một tình yêu mãnh liệt với sự sống, với cuộc đời dù cuộc đời

có thể mong manh, ngắn ngủi như “đời hoa cỏ” Tất cả những vẻ đẹp ngáthương của hoa chanh và sức sống mãnh liệt của vạn vật trong “khu vườnthanh tĩnh” ấy đã thực sự mang đến một chất sống mới cho tâm hồn nhân vật

Nó còn có có sức mạnh khiến nhân vật có những đổi thay mạnh mẽ trong suynghĩ và tâm hồn: “Tôi nghĩ rằng một ngôi nhà đã thay đổi chủ, lẽ tự nhiêncũng thay đổi cả linh hồn Nhưng thực sự, chỉ có tôi là thay đổi, sau khi tôi rời

bỏ chốn này” Và “những cuộc dạo chơi trong cảnh hoàng hôn thê lương củaVườn Chanh đã ghi dấu vết đậm đặc trong tôi hồi đó”, đã khiến nhân vật “lúcnào cũng tưởng nhớ đến tự do và quãng rộng”

Còn trong truyện “Hoa ti gôn”, khu vườn hiện lên trong ấn tượng củangười hoạ sỹ trẻ tuổi là khu vườn của một ngôi nhà cũ trông ra dáng biệt thựvới hàng rào cây cối xanh um tùm Phía bên trong là một giàn hoa ti gôn vớimột thiếu nữ đang đứng trên ghế cao, với tay lên những dây hoa đỏ trên giànnứa Chỉ một vài nét chấm phá ấy thôi nhưng những ấn tượng về khu vườnvới người thiếu nữ tươi trẻ bên giàn hoa ti gôn cũng mang lại cho nhân vậthay chính người đọc những ấn tượng đẹp

Ở “Nếp nhăn trên trán”, khu vườn nhà thân thuộc hiện ra từ khung cửa

sổ nhỏ với “làn gió thoang thoảng làm rung rinh những ngọn lá trên cây, làmrung rinh những lá tóc tiên ở giàn hoa cạnh cửa sổ lá rủ rườm rà, xanh mượt”

Trang 33

Với một loạt các tính từ miêu tả “thoang thoảng, rung rinh, rườm rà, xanhmượt”, nhà văn đã làm nổi bật vẻ đẹp thiên nhiên non tơ, chứa đựng một chấtsống dào dạt của thiên nhiên sự vật Không gian vườn với vẻ đẹp của thiênnhiên tạo vật ấy lại rất phù hợp để nhà văn miêu tả những cảm xúc, nhữngrung động ngập ngừng kín đáo của cô gái trong tình yêu mỗi khi cô đứng yênlặng ngoài cửa sổ ngắm nhìn người cô thầm thương nhớ Có thể thấy, điểmchung trong các truyện của Thanh Châu từ “Vườn Chanh”, “Hoa Ti gôn” đến

“Nếp nhăn trên trán”, khu vườn đều hiện lên rất đẹp và thường gắn với nhữngcảm xúc rất trong sáng của các nhân vật trong tình yêu lứa đôi

Không gian làng quê trong truyện ngắn của Đỗ Tốn lại hiện lên ở vẻđẹp tinh khôi của khu vườn trong một ngày nắng đẹp Không gian vườn vớitiếng chim ca, với làn gió nhẹ, với màu sắc cỏ cây, hoa lá và phảng phấthương thơm của các loài hoa Gắn với vườn quê còn là hình ảnh thân thuộccủa những bờ ao nhà, gợi lên một không gian thanh tĩnh, bình yên Khungcảnh ao quê với “những bậc đá mòn, làn nước trong khẽ gợn sóng, những látre,… lá trúc rơi không thành tiếng” (Điệu thu ca) hay “mùi bờ ao lành lạnhvới hơi bùn mát nhạt” cũng đủ để Huân cảm nhận được “cái mát êm đềmtrong vẻ tĩnh mịch của bờ ao quê” hay gợi lại cho Ninh “bao nhiêu kỉ niệm xaxôi ngày nhỏ” (Tình quê hương) Có thể nói, lần đầu tiên trong văn học ViệtNam, thiên nhiên làng quê lại được miêu tả một cách sinh động và chân thựcđến thế ở truyện ngắn của Đỗ Tốn nói riêng và truyện ngắn của các nhà vănlãng mạn nói chung

Vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên trong khu vườn của Thanh Châu, Đỗ Tốncũng mang những nét tươi sáng giống với khung cảnh vườn trong các sáng táccủa các nhà văn lãng mạn cùng thời khác như Thạch Lam, Nguyễn XuânHuy Không gian vườn ấy đã tạo nên một màu sắc riêng, góp vào bức tranh

Trang 34

thiên nhiên rộng lớn cảnh vườn tược đầy tươi sáng trong những vần thơ củacác thi sĩ thơ mới như Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính

Có thể thấy, những bức tranh về cảnh vườn tược trong sáng tác củaThanh Châu, Đỗ Tốn đều hiện lên trong những khoảnh khắc đẹp nhất củangày hay là lúc vạn vật trỗi dậy sức sống mạnh mẽ nhất, màu lá xanh nhất,màu hoa tươi nhất và hương thơm nồng nhất Bởi vậy những bức tranh vềcảnh vườn trong truyện ngắn của hai tác giả luôn luôn tràn đầy sức sống mãnhliệt và tươi sáng, gây ấn tượng đẹp với người đọc

Một nét đặc biệt, không gian vườn trong sáng tác của hai tác giả luônluôn được miêu tả gắn với sự xuất hiện của những cô gái thôn quê, hồn nhiên,trong sáng như Nhàn (Tình quê hương), người chị họ (Điệu thu ca) trongtruyện của Đỗ Tốn hay Lý (Nếp nhăn trên trán), Mai Hạnh (Hoa ti gôn), Thuỷ(Vườn Chanh) trong truyện ngắn của Thanh Châu Chính vẻ đẹp của những

cô gái quê trong những khu vườn càng tạo nên cho không gian thiên nhiênmột vẻ thơ mộng, hữu tình và làm nảy nở trong tâm hồn các nhân vật trongcuộc gặp gỡ giữa không gian thơ mộng ấy biết bao cảm xúc về lòng yêu đời,yêu cuộc sống Những truyện ngắn của Đỗ Tốn với sự gặp gỡ của các nhânvật trữ tình trong không gian khu vườn thơ mộng, hoà quyện trong mùi thơmcủa hoa thảo mộc dân dã khiến người đọc liên tưởng đến truyện ngắn “Dướibóng hoàng lan” của Thạch Lam với cặp nhân vật Thanh – Nga trong khuvườn thơm ngát mùi hoàng lan, vấn vương như một mối tình còn ủ ấp, giấukín của đôi trẻ

Bên cạnh không gian vườn gắn bó thân thiết với người dân quê thìdòng sông, bến nước cũng là một không gian hết sức thân thuộc Dòng sôngvới nét đẹp dịu dàng, thơ mộng, trữ tình mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng chomảnh đất, con người xứ Huế đã trở thành không gian làng quê rất đặc trưngtrong những sáng tác của tác giả Thanh Tịnh

Trang 35

Vẻ đẹp của không gian làng quê trong truyện ngắn Thanh Tịnh trướchết là vẻ đẹp của những dòng sông đầy thơ mộng, trữ tình Trong truyện ngắncủa tác giả “Quê mẹ”, những dòng sông xứ Huế luôn lặng lẽ, êm chảy quanhững bến bờ, làng xóm bình yên Ở bất cứ thời khắc nào trong ngày, dòngsông cũng mang những vẻ đẹp rất riêng Đó là vẻ đẹp của cảnh sông nướcbình yên, nên thơ trong một buổi chiều vàng nắng: “Một buổi chiều vàng rộngmênh mông Trên dòng sông hẹp, hai chiếc thuyền như cố theo nhau ráo riết.Chiếc trước nhỏ dáng mảnh khảnh mình thon chỉ được một cánh buồm nâuhình tam giác Chiếc sau trông mạnh mẽ, gỗ láng và mui cao Phía trước lại cóhai cánh buồm uốn phồng thật cong như nuốt gió Hai chiếc thuyền cứ thongthả lướt nhẹ trên dòng sông cách nhau chừng vài trăm thước” (Tình trong câuhát) Hay đó là vẻ đẹp thanh tĩnh, thơ mộng của những đêm trăng trên sông:

“Trăng hôm ấy sáng vằng vặc Bờ cây, bụi lát bên sông óng ả và láng mướtnhư nhung Và cả dòng sông cũng lờ đờ, lười như không muốn chảy…Nướcsông đọng những vũng trăng sáng, và lâu lâu lắm mới thay sắc những đámmây trắng bạc Những bóng hàng cây trên đường chạy dọc theo bờ sông inxuống nước sừng sững như ngủ lặng từ lâu” (Bến ma) Tất cả những bứctranh sông nước nên thơ ấy đã thể hiện sự quan sát rất tinh tế, sự gắn bó, tìnhyêu tha thiết với quê hương của nhà văn Thanh Tịnh

Trong truyện ngắn của Thanh Tịnh, dòng sông chảy qua làng Mỹ Lý làkhông chỉ là dòng sông xứ Huế đẹp mộng mơ ở khung cảnh thiên nhiên màcòn làm say lòng người khi gắn liền với những câu hò mái nhì mái đẩy ngọtngào, sâu lắng, tha thiết Đây cũng là một đặc trưng rất riêng của cảnh sôngnước xứ Huế và con người trong truyện ngắn của ông Trên dòng sông ấy, từbao đời nay, các chàng trai cô gái vẫn nhờ dòng sông chuyên chở giúp tiếnglòng riêng tư thầm kín gửi vào trong những câu hát đưa duyên tình tứ mà kínđáo, ý nhị Trước thiên nhiên quen thuộc và hoang sơ, họ cất tiếng hát để giãi

Trang 36

bày tâm hồn mình một cách say sưa qua một câu hò làm quen hay lời đưaduyên tình tứ “Câu hát trên sông” là một cách kết nối, một kênh giao tiếp đầy

tế nhị mà hữu tình, trở thành “một lẽ chung của khách thuyền bè trên sôngnước” Khi gặp gỡ câu hát, điệu hò “là lối giới thiệu thầm của hai tâm hồn xa

lạ, hay mẩu chuyện đời góp nhặt trao đổi cho nhau nghe Vì dầu không biếtmặt nhau nhưng giọng hò và điệu tứ họ đã quen nhau rất chặt” Câu hát, điệu

hò trong cảnh gặp gỡ giữa mênh mông sông nước sẽ mang lại cho họ mộtngười bạn đường để “giữa cảnh đêm hôm, họ sẽ đem câu hát ra hỏi chuyệnnhau cho sông đỡ dài, đêm đỡ vắng”, hay may mắn hơn nhờ những điệu hò,câu hát làm quen mà họ lại tìm được hạnh phúc của đời mình (Tình trong câuhát) Tuy nhiên câu hát, điệu hò không chỉ là những lời làm quen, lời đưaduyên tình tứ hay thể hiện lòng yêu đời, vui say với cảnh vật mà đôi lúc nó lànơi nhân vật gửi gắm những tâm tình buồn đau, ai oán Tiếng hát, điệu hò củanhững “linh hồn cô độc” trên dòng sông vì thế vang lên không du dương,trầm bổng, ấm cúng như ta vẫn tưởng mà nó khiến cả không gian sông nướcbỗng trở nên một cảnh hắt hiu, buồn vắng và chịu một sự đè nén đầy u uất

Đó là tiếng hò “não nùng như oán khóc” của Đạt kể từ khi người vợ yêuthương mất đi khiến anh rơi vào cảnh cô độc, lẻ bầy trên sông nước (Tìnhtrong câu hát) Hay đó là tiếng hát như “một nỗi oán hờn chắp nối lại nhau”của cô gái với con thuyền xuất hiện đầy hư ảo trên sông vào canh ba: “Tiếnghát của cô lái thuyền canh ba…chỉ biết âm u, sầu thảm trong âm thanh huyềnhoặc Và điệu hát không nên lời để dung hoà với nỗi căm hờn không bậttiếng Khúc hát chỉ huyền huyền trong sương nhạt hay vọng lên nhè nhẹ nhưbay”(Bến ma) Trong một cuộc trò chuyện, nhà văn Nguyễn Minh Châu đãđặt câu hỏi với tác giả “Quê mẹ”: “Thưa anh Thanh Tịnh, xứ Huế, vùng quêrất thân quen của đời văn của anh, đất hẹp, sông ngắn, vậy sao mà tiếng hátdài vậy? Thuyền đi một dặm nước mà vẫn chưa gieo xong một tiếng “Hờ ơ”

Trang 37

Thanh Tịnh đã lý giải về những trang viết luôn đầy ắp những giọng hò, câuhát của mình: “Phần lớn thơ văn của tôi đều bắt nguồn từ trong giọng hò, câuhát trên sông quê Vì giọng hò này nhẹ nhàng, man mác, tả nỗi nhớ nhung bồihồi, xao xuyến nhưng cũng rất lưu luyến sôi nổi, lại đượm buồn, nỗi buồn xaxăm Vì sự thật tiếng hò ấy, khúc tâm tư ấy, không chỉ nói với người lướt trênsông, với người rải rác hai bên bờ mà chính là nói với mình Cho nên “hờ …ơ” có khi dài như một dải lụa điều, như một tà áo nối, như tiếng chuông chùahay tiếng thở dài.” Những truyện ngắn của Thanh Tịnh với những điệu hò,câu hát vang lên trong không gian sông nước mênh mông, chứa đựng nhữngmối tâm tình rất riêng về cảnh ngộ, số phận của mỗi nhân vật đã làm layđộng, ám ảnh lòng người.

Làng quê Việt Nam nào cũng có một dòng sông Mỗi dòng sông lạimang vẻ đẹp riêng của vùng quê và người dân vùng ấy Nếu như vẻ đẹp làngquê xứ Huế Thanh Tịnh hiện lên qua vẻ đẹp thơ mộng của những con sônggắn với những câu hát mái nhì, mái đẩy thì làng quê xứ Thanh của ThanhChâu lại hiện lên với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp gắn với cảnh sinh hoạtbình dị của những người dân quê Lần theo những nét vẽ từ kí ức qua trí nhớcủa nhân vật tôi về con sông quê thời thơ bé, những mảnh ghép về cảnh thiênnhiên quê hương hiện lên thật tươi sáng, thân thuộc, gần gũi Một cảnh sôngquê êm đềm với “những cồn cát trắng chạy dài theo dọc bờ sông, có đàn chimngốc đen phơi mình sưởi nắng” hay cảnh bờ bãi hai bên sông với “những bãidâu thưa lá, những bãi rau hay thuốc lá tốt tươi, những cái bến nước làng cóbậc đá xanh” Và đặc biệt sự xuất hiện của những người quê nơi bến nước

“đàn bà con gái hay ra gánh nước, đãi đậu, vo gạo thổi xôi, hay gội đầu tắmgiặt nốt ngày trước tết” càng làm cho bức tranh sông quê thêm gần gũi, ấm

áp Thông qua hồi ức của nhân vật tôi, Thanh Châu đã làm nổi bật được vẻ

Trang 38

đẹp rất riêng của dòng sông và cảnh vật nơi quê hương xứ Thanh mà cả mộtthời thơ ấu nhà thơ đã gắn bó

Khác với các nhà văn hiện thực khi miêu tả về làng quê, các nhà vănlãng mạn nói chung, ba nhà văn Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn nói riêng ítchú ý đến không gian xã hội mà thường chú ý đến vẻ đẹp của không gianthiên nhiên Không gian thiên nhiên làng quê cũng thường là những khônggian thiên nhiên thơ mộng, êm đềm khác hẳn với không gian thiên nhiên thôráp, xù xì mà các nhà văn hiện thực thường mô tả chân thực như nó vốn có.Chính sự khác nhau về khuynh hướng sáng tác của các nhà văn giữa các dòngvăn học đã tạo nên sự phong phú của bức tranh không gian làng quê trong nềnvăn học 30-45 Đối với các nhà văn sáng tác theo khuynh hướng hiện thực thìkhông gian thiên nhiên làng quê được miêu tả để phơi bày nỗi vất vả, cựcnhọc của con người trong cuộc sống bất công, ngang trái Bởi vậy, gắn vớilàng quê thường là những cảnh vật tiêu điều, xơ xác, ảm đạm gắn với cái đói,cái chết như bức tranh buổi chiều trong “Vợ nhặt” của Kim Lân, mảnh vườntrong “Lão Hạc” của Nam Cao Có khi cảnh làng quê lại là những không gianthiên nhiên hết sức khắc nghiệt của nắng nóng, mưa giông, bão tố trong

“Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan), Giông Tố (Vũ Trọng Phụng) Tuynhiên, trong sáng tác của các nhà văn hiện thực không thiếu những cảnh thiênnhiên tươi đẹp Đó là không gian của những đêm trăng Nhưng không gianđêm trăng ấy lại hoàn toàn không mang chất thơ như người đọc thường thấytrong sáng tác của các nhà văn lãng mạn Nó cũng không hoà điệu với tâmhồn con người mà đối lập với tâm trạng con người, hay là một khung cảnhđầy hiểm nguy đang rình rập con người Đó là những cảnh đêm trăng trong

“Tắt đèn” của Ngô Tất Tố hay trong “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng Ngượclại, trong các tác phẩm của các nhà văn lãng mạn, không gian thiên nhiênthường là nơi thể hiện cảm xúc lãng mạn, bay bổng của tâm hồn con người

Trang 39

Không gian ấy thường là không gian của sự hoài cổ, của nỗi nhớ trong tâmhồn những con người mang một tình yêu tha thiết đối với quê hương, giađình Bởi vậy có thể hiểu vì sao những bức tranh về không gian làng quêtrong truyện ngắn của Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn hầu hết là nhữngkhông gian thơ mộng, bình yên khiến lòng người say đắm và níu bước châncon người trở về như không gian vườn, dòng sông, bến nước

Như vậy, bức tranh thiên nhiên làng quê với cảnh vườn tược, sông nước

là những không gian rất đặc trưng khi các tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, ĐỗTốn viết về làng quê của mình Những khung cảnh thiên nhiên đó đã tạo nênmột bức tranh thu nhỏ về cảnh quê hương đất nước Việt rất gần gũi, thân thuộc

và tươi đẹp, chan chứa biết bao tình cảm gắn bó với làng quê của các tác giả vàkhơi gợi tình yêu, niềm tự hào về quê hương cho mỗi tâm hồn

1.2 Cảnh quê tàn tạ, hiu hắt, u buồn nhưng đầy ân tình

Khung cảnh tàn tạ, hiu hắt, u buồn là nét đặc trưng của bức tranh làngquê trong các truyện ngắn hiện thực trước cách mạng Tuy nhiên trong sángtác của các nhà văn lãng mạn cũng có những nét vẽ hiện thực về khung cảnh,cuộc sống của người nông dân nơi làng quê nghèo Thạch Lam là một trongnhững nhà văn lãng mạn tiêu biểu của Tự lực văn đoàn Tuy nhiên bên cạnhnhững truyện ngắn đậm chất trữ tình thì có nhiều truyện của ông lại mang hơihướng hiện thực rất rõ Thạch Lam miêu tả bức tranh làng quê đầy ám ảnh vềcuộc sống nghèo khổ, mòn mỏi của những người nông dân nơi phố huyệntrong “Hai đứa trẻ”, hay không gian chợ quê tiêu điều xơ xác với những đứatrẻ quê nghèo ăn mặc rách rưới, co ro trong “Gió lạnh đầu mùa” Trong truyệnngắn trữ tình của Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn, bên cạnh những bứctranh làng quê tươi đẹp, làm mê say lòng người bởi, các tác giả cũng cónhững khám phá riêng về một khuôn hình khác của không gian làng quê Đó

là bức tranh cảnh vật với những nét vẽ trầm buồn Tuy nhiên, bức tranh u

Trang 40

buồn về làng quê trong các sáng tác của các nhà văn lãng mạn lại mang mộtdụng ý nghệ thuật riêng, một ý nghĩa riêng không giống với mục đích xâydựng không gian làng quê của các nhà văn hiện thực Vẻ tàn tạ, xơ xác củabức tranh làng quê trong những truyện ngắn của Ngô Tất Tố, Nguyễn CôngHoan, Nam Cao thường được xây dựng để làm nổi bật tình cảnh khốn khổ,nghèo đói của người nông dân ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng nhằmthể hiện thái độ tố cáo hiện thực xã hội phong kiến đương thời của các nhàvăn Đối với các nhà văn lãng mạn nói chung, ba nhà văn Thanh Tịnh, ThanhChâu, Đỗ Tốn nói riêng thì bức tranh đó lại thể hiện tâm trạng, cảm xúc nuốitiếc của con người trước sự tàn phai, đổi dời của những cảnh xưa cũ Đó làkhông gian chứa đựng một nỗi hoài niệm u hoài về một dĩ vãng tươi đẹp đãtàn phai trong hiện thực Bởi vậy, khi xây dựng kiểu không gian u buồn này,điểm chung giữa ba tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn là các nhà vănđều xây dựng nên hai khung cảnh về làng quê trong quá khứ và hiện tại nhưhai bức tranh cảnh vật trong sự đối sánh và đối lập nhau để làm nổi bật tưtưởng của tác giả khi viết về làng quê Bức tranh về cảnh làng quê trong quákhứ bao giờ cũng mang vẻ đẹp nhộn nhịp, sôi động của một thời huy hoàng

mà dường như đã hoàn toàn mất dấu trong khung cảnh làng quê hiện tại.Trong truyện ngắn của Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn, cảnh vật u buồn,hiu hắt của làng quê được miêu tả từ không gian rất rộng cả một làng đếnkhông gian hẹp hơn là những ngôi nhà Tuy nhiên, mỗi tác giả lại miêu tả sựphai tàn của không gian làng quê theo một điểm nhìn không gian riêng

Trong truyện ngắn của Thanh Tịnh, sự tàn tạ hiu hắt của cảnh làng quêđược miêu tả ở một không gian rộng là cả một làng Trong “Một làng chết”,nhân một chuyến về quê thăm mẹ, Tâm dịp thăm lại làng Đồng Yên xưa.Trong trí nhớ của Tâm, bức tranh về làng quê trong quá khứ hiện lên đầy tươiđẹp Đó là khung cảnh về “một làng vừa rộng lớn, vừa phồn thịnh nhất vùng

Ngày đăng: 19/04/2014, 17:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên An, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú (1992), Tác giả văn học Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyên An, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
2. Vũ Tuấn Anh, Lê Thị Dục Tú (2006) (Tuyển chọn và giới thiệu), Thạch Lam về tác gia - tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam về tác gia - tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Lại Nguyên Ân (biên soạn) (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
5. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn, Lý luận tác gia và tác phẩm, Tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn, Lý luận tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
6. Ngô Vĩnh Bình (1991), “Thanh Tịnh qua giai thoại”, Báo Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Tịnh qua giai thoại”, "Báo Quân đội nhân dân
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Năm: 1991
7. Ngô Vĩnh Bình (2001), “Thanh Tịnh như tôi biết”, Báo Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Tịnh như tôi biết”
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Năm: 2001
8. Ngô Vĩnh Bình (2006), Thanh Tịnh, văn và đời (Biên soạn và sưu tầm), Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Tịnh, văn và đời
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 2006
9. Thanh Châu (1936), Trong bóng tối, Ngô Ngọc Trương xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong bóng tối
Tác giả: Thanh Châu
Năm: 1936
10. Trương Chính (1939), Dưới mắt tôi, Nxb Thuỵ Ký, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới mắt tôi
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Thuỵ Ký
Năm: 1939
11. Trương Chính, Phan Cự Đệ (1990), Tác phẩm văn học Việt Nam 1930- 1945, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học Việt Nam 1930-1945
Tác giả: Trương Chính, Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1990
12. Nguyễn Đình Chú (1998), “Nguyễn Khuyến với thời gian”, Tạp chí văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến với thời gian”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1998
14. Trần Ngọc Dung (1992), Ba phong cách truyện ngắn thời kì đầu những năm 1930-1945: Nguyễn Công Hoan - Thạch Lam - Nam Cao, Luận án PTS Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba phong cách truyện ngắn thời kì đầu những năm 1930-1945: Nguyễn Công Hoan - Thạch Lam - Nam Cao
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Năm: 1992
15. Nguyễn Đức Đàn (1958), “Mấy vấn đề về Nhất Linh và Khái Hưng - hai nhà văn tiêu biểu của Tự lực văn đoàn”, Tạp chí văn học, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về Nhất Linh và Khái Hưng - hai nhà văn tiêu biểu của Tự lực văn đoàn”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Năm: 1958
16. Nguyễn Văn Đấu (2001), Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại, Luận án Tiến sĩ Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Đấu
Năm: 2001
17. Ngô Thời Đôn (2000), Giá trị nhân văn trong Thương sơn thi tập, Luận án TS Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị nhân văn trong Thương sơn thi tập
Tác giả: Ngô Thời Đôn
Năm: 2000
18. Nguyễn Đăng Điệp (2001), Giọng điệu trữ tình, Luận án Tiến sĩ khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2001
19. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức (sưu tầm, tuyển chọn), Truyện ngắn Khái Hưng, Nxb Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Khái Hưng
Nhà XB: Nxb Hải Phòng
20. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (1998), Văn học Việt Nam (1900-1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900-1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
21. Hà Minh Đức (1994) (Chủ biên), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
24. Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi (1999) , Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w